
Hồ Bạch Thảo
Nội dung trong chỉ dụ trước Vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị trở về kinh; chức Tổng đốc Lưỡng Quảng bị khuyết giao cho Phúc An Khang thay thế. Nay lại nhấn mạnh rằng Sĩ Nghị phải trú đóng tại trấn Nam Quan lo giải quyết các việc quan trọng, chờ Phúc Khang An đến, bàn giao xong xuôi, mới được rời nhiệm sở:
“Ngày 26 tháng Giêng năm Càn Long thứ 54 [20/2/1789]
… Viên Tổng đốc trú đóng tại trấn Nam Quan hãy lo việc triệt binh và tuần phòng biên giới cho ổn thỏa, đợi Phúc Khang An tới nơi trình bày với y sự việc kỹ lưỡng, rồi bàn giao để về kinh. Nếu Tôn Sĩ Nghị lúc này trên đường từ trấn Nam Quan đến Quảng Đông, khi nhận được chỉ dụ này hãy quay trở lại Nam Quan để lo liệu mọi việc, chớ đừng để tâm hoang mang ý loạn, không dốc tâm giải quyết được những sự việc quan trọng, phụ tấm lòng thương xót của Trẫm….”(Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1321, trang 24-26)
Tiếp đến Càn Long ra chỉ dụ gợi ý rằng nếu Vua Quang Trung tỏ ra hối tội; sau khi thỉnh cầu ba bốn lần, sẽ tùy cơ sắp xếp thiết lập bang giao cho xong công việc:
“Ngày 26 tháng Giêng năm Càn Long thứ 54 [20/2/1789].
…Nguyễn Huệ chỉ là tên đầu mục nước An Nam, so sánh hiện nay đất nước ta toàn thịnh, nếu tập trung nhiều binh lực, bốn bề hội tiễu, thì việc phá sào huỵệt của bọn chúng cũng không khó. Nhưng nước này vốn nhiều lam chướng, cũng giống như Miến Điện vậy, lấy được đất này không đủ để giữ, lấy được dân này cũng không đủ để làm tôi, hà tất lại dùng binh lực và tiền lương tiêu phí vào chốn nóng nực vô dụng này! Vậy việc tiến đánh bọn Nguyễn Huệ lúc này không phải là không thể làm được, nhưng xét về các mặt thiên thời, địa lợi, nhân sự đều không đáng ra tay. Tôn Sĩ Nghị mới bị thua, uy tín bị tổn thương, không tiện tiếp tục giữ chức Tổng đốc, Phúc Khang An mới bình định xong giặc phỉ Đài Loan, tiếng tăm vang dội; nay phong tước Tổng đốc Lưỡng Quảng. Không riêng gì Nguyễn Huệ nghe Tôn Sĩ Nghị làm hỏng việc bị giải nhiệm, nay cử vị trọng thần quen chiến trận đến trấn nhậm, ắt sẽ mang đại binh tiến đánh, trong lòng y sẽ run sợ; mà dân ta ở nơi biên giới, thấy Phúc Khang An tới đó, nhắm có thể nương dựa được, lòng người sẽ trở nên trấn tĩnh. Phúc Khang An sau khi đến trấn Nam Quan, nếu Nguyễn Huệ nghe tiếng sợ hãi, đến quan ải chịu tội xin hàng, Phúc Khang An nên la mắng, không thể vội vàng chấp nhận; chờ khi thành tâm hối tội, thỉnh cầu ba bốn lần, sẽ tùy cơ ứng phó để cho xong công việc.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1331, trang 27-28)
Thanh Thực Lục xác nhận vào ngày 22 tháng giêng năm Càn Long thứ 54 [16/2/1789] Vua Quang Trung sai Thông sự mang biểu đến ải Nam Quan, nhưng biểu văn bị bọn Tôn Sĩ Nghị cho người ném trả lại. Có lẽ Vua Càn Long sợ việc ném trả biểu, khiến tuyệt đường liên lạc giữa hai bên, nên sai tân Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An, trên đường đến nhậm chức, gửi hịch cho Vua Quang Trung rằng nếu muốn xin hàng để thiết lập bang giao, trước hết phải đưa các quan binh tống xuất, trói những người đã giết các Đề Trấn đem hiến, như vậy y mới có thể tâu thay để xin đại Hoàng đế mở lượng khoan hồng:
“Ngày 3 Canh Dần tháng 2 năm Càn Long thứ 54 [27/2/1789].
Nguyên Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị cùng Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh tâu rằng: Vào ngày 22 tháng giêng [16/2/1789], viên Di mục tỉnh Lạng Sơn sai Thông sự trình biểu văn, xưng là Nguyễn Huệ tình nguyện đầu thuận và nạp cống; sợ Thiên triều không chấp nhận, nên sai Thông sự đến trước để dâng biểu. Bọn thần thấy rằng Nguyễn Huệ chưa tống xuất quan binh trở về, mà đã vội dâng biểu xin làm phiên thần; như vậy y làm việc này chỉ để thử chúng ta mà thôi, nên đem biểu văn ném trả lại, và tiếp tục đề phòng quan ải.
Dụ Quân Cơ Đại thần rằng: Nguyễn Huệ chỉ là một tên Thổ tù An Nam, chắc không dám xâm phạm biên giới của Thiên triều, chỉ mượn việc dâng biểu để thử lòng chúng ta mà thôi, nay chỉ ném biểu trả lại, không đủ để y chấn động sợ hãi mà kiên định sự hối tội đầu thuận. Phúc Khang An nhận được chỉ dụ này, phải cấp tốc khởi hành đến trấn Nam Quan lo liệu mọi việc. Phúc Khang An có kinh nghiệm việc binh, lại vừa bình định xong bọn giặc phỉ tại Đài Loan, uy danh rạng rỡ. Nay Phúc Khang An hãy truyền hịch cho Nguyễn Huệ rằng:
‘Viên Tổng đốc Lưỡng Quảng tiền nhiệm họ Tôn vốn là quan văn, không rành việc quân lữ, nên khi mang binh ra khỏi quan ải, không nhận rõ thực hư, nghe lời người bản xứ bảo rằng Nguyễn Huệ và bè đảng đã rút hết về sào huyệt; khi trú đóng tại thành nhà Lê lại không lưu tâm trinh sát đề phòng, nên mắc vào gian kế của ngươi. Nhân vì Tôn Tổng đốc lo liệu công việc không tốt, nên đại Hoàng đế cách chức cho về kinh, bèn điều Bản Bộ đường vào chức vụ này. Bản Bộ đường từng xuất sư đánh Kim Xuyên (1), bình định giặc Hồi, đảm nhiệm chức Tổng đốc Thiểm Tây và Cam Túc. Năm trước bọn giặc Đài Loan nổi dậy, Bản Bộ đường phụng mệnh vượt biển tiễu trừ, bắt sống toàn bộ bọn đầu mục, dẹp tan nhanh chóng. Các ngươi sống nơi cùng tịch góc biển, chưa từng nghe việc Bản Bộ đường dẹp Kim Xuyên, còn như Đài Loan và An Nam thông thương đường biển, há lẽ việc bản bộ đường bình định giặc phỉ tại Đài Loan các ngươi chưa từng nghe?
Việc ngươi Nguyễn Huệ, trước đây gây hấn với họ Lê; cũng do cái thế giữa ngươi và họ Lê không thể cùng tồn tại, Thiên triều cũng không xét thêm về việc này. Còn việc Tôn Tổng đốc mang quân xuất quan, các ngươi dám tụ tập chống cự; rồi ngấm ngầm quấy nhiễu, làm tổn thương đến quan binh và các đại viên Đề Trấn [Đề đốc, Trấn thủ]; càng đắc tội với Thiên triều, khó mà tha được. Nay Nguyễn Huệ đã biết tội lớn, sai người đến quan ải hối tội xin hàng, mà trước đó lại không chịu tống xuất quan binh trở về. Việc tổn thương đến quan binh tội khó mà tha; đến như Đề Trấn đại viên bị các ngươi giết, tội lại càng thêm lớn. Nếu không mang những người đã giết các quan binh Đề Trấn ra chính pháp, thì sao mà tha nổi!
Nguyễn Huệ nếu muốn xin hàng, trước hết phải đưa các quan binh tống xuất, trói những tên đã giết các Đề Trấn đem hiến, như vậy Bản Bộ đường mới có thể tâu thay để khẩn cầu đại Hoàng đế ra ân mở lượng khoan hồng. Nay Nguyễn Huệ chỉ sai người dâng biểu, lại không đem quan binh cùng các người làm tổn thương đến các Đề Trấn ra dâng hiến, thì rõ ràng chỉ muốn thử bụng Thiên triều mà thôi.
Bản Bộ đường xuất thân từ quân lữ, không thể so sánh với Tôn Tổng đốc là một văn nhân, chưa từng biết đến việc binh; nay phụng mệnh đến đây, chỉ biết hỏi tội và thảo phạt. Nếu Nguyễn Huệ không lo sửa đổi ngay, chỉ sai người đến thử, Bản Bộ đường sẽ tâu lên đại Hoàng đế, thống suất đại binh, chia bốn lộ hội tiễu, để quét sạch sào huyệt, bắt đầu sỏ; một khi uy trời vung qua [một loại vũ khí thời xưa] lên, sẽ tẩy sạch không để sót, thì khi đó chẳng còn hối được nữa.’
Hãy dùng lời hịch dụ nghiêm khắc, khiến Nguyễn Huệ thấy Thiên triều không chuẩn sự qui thuận và sợ hãi uy danh, sẽ sai người mang quan binh trở về. Cho trải qua ba bốn lần khẩn cầu, lúc này Phúc Khang An sẽ tuân theo chỉ dụ trước, tùy cơ tấu xin chiếu chỉ để lo liệu ….” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1332, trang 7-11)
Sử Việt Nam Đại Nam Liệt Truyện (1) chép việc Vua Quang Trung dâng biểu do bởi viên Tri đạo Tả Giang Đạo Thang Hùng Nghiệp mớm lời; nội dung tờ biểu quá cứng rắn, nên Thang Hùng Nghiệp không dám nhận:
“Vừa gặp Binh bị đạo Tả Giang là Thang Hùng Nghiệp đưa thư, đại lược nói:
‘Lê Duy Kỳ bỏ nước mà trốn, Thiên triều quyết không đem nước An Nam cho y nữa. Hãy thừa lúc trước khi chưa vâng ban dụ chỉ, ủy thác người gõ cửa quan kêu xin ngõ hầu có thể ngưỡng cầu ân điển.’
Huệ được thư ấy, biết người nhà Thanh muốn giảng hòa thì trong lòng coi thường họ; bèn sai tướng là Hô Hổ Hầu đệ tờ biểu yêu cầu làm Vua nước An Nam, bài biểu như sau:
‘Thần vốn là kẻ áo vải ở Tây Sơn thừa thời cơ cử sự. Năm Bính Ngọ [1786] dấy binh diệt họ Trịnh trả nước cho họ Lê. Vua Lê trước tạ thế, thần lại tôn lập Tự tôn Lê Duy Kỳ nối ngôi. Lê Duy Kỳ là người dâm dật bạo ngược, bề tôi trong nước cũng như nhân dân đều chạy đến tố cáo với thần, xin vì họ ra quân trừ hoạn.
“Năm Đinh Vị [1787] thần sai một tiểu tướng [Vũ Văn Nhậm] đem binh hỏi tội kẻ tả hữu đã giúp bạo quân làm xằng, thì Lê Duy Kỳ từ xa trông thấy đang đêm chạy trốn tự chuốc lấy cái lo sợ.
“Năm Mậu Thân [1788] thần tiến đến Đô thành lại ủy thác cho Lê Duy Cận, con vua Lê trước làm Giám quốc, đã sai sứ giả gõ cửa quan (2) đem đầy đủ tình hình trong nước tâu lên, nhưng mẹ của Lê Duy Kỳ đã sang trước ở ải Đẩu Áo gửi thân xin cứu viện.
“Tôn Sĩ Nghị lấy địa vị đại thần ở biên cương lại vì cớ tiền của và nữ sắc đem tờ biểu chương của thần xé ném xuống đất làm nhục Sứ giả, ý muốn động binh dấy quân.
“Không biết việc đó quả do Đại Hoàng đế sai khiến hay do Tôn Sĩ Nghị vì một người đàn bà sai khiến mong lập công nơi biên cương mà cầu lợi lớn.
“Hãy lấy nhân sĩ giáp binh của một dãy bờ biển này cũng không đáng một phần muôn của triều đình Trung Quốc. Nhưng bị khe sâu ở phía trước, cọp dữ ở phía sau, tâm tình nhân dân sợ chết mất mà đều lo phấn đấu.
“Thần không tránh cái tiếng ném chuột vỡ đồ, bèn lấy đinh tráng của năm ba ấp đem theo, ngày mồng 5 tháng giêng [30/1/1789] năm nay tiến đến Đô thành mong cùng Tôn Sĩ Nghị một lần yết kiến, hoặc được lấy châu ngọc lụa là thay cho thuẫn giáo, chuyển xe binh làm hội áo quần [ ý chỉ cảnh hòa bình thay cho chiến tranh].
“Nhưng binh của Tôn Sĩ Nghị ra đón đánh trước, mới một lần giao phong đã bỏ chạy rã rời tứ tán. Những quân chạy trốn tại thôn trang ngoài thành lại bị nhân dân quanh thành giết chết gần hết.
“Thần lúc vào thành ngăn cấm không được giết càn, nhất thiết đều đưa đến Đô thành, tất cả hơn 800 tên, thần đã cấp cho lương thực.
“Trộm nghĩ, nước của thần từ nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần trở lại, đời đời đổi không phải chỉ một họ [làm vua]. Hễ có khả năng làm bực trọng thần ở phương nam thì những người ương trồng phải vun bồi cho, chỉ là rất công bình rất nhân đức mà thôi.
“Cúi nghĩ Đại Hoàng đế đặt mình vào địa vị trời, thi hành giáo hóa thuận lẽ tự nhiên tha thứ cho thần cái tội đón đánh Tôn Sĩ Nghị, lượng cho thần lòng thành đã lắm lần gõ cửa quan trần tấu, cho thần làm An Nam Quốc vương để có sự nắm giữ toàn cõi. Thần kính cẩn sai sứ đến triều khuyết vâng lệnh làm phiên thần nộp cống cùng đem những người hiện còn lại cho về, giao nạp để tỏ lòng chí thành.
“Này, đường đường là triều đình Thiên tử lại đi so hơn thua với nước rợ nhỏ thì ắt là muốn cùng khốn binh sĩ, lạm dụng vũ lực hầu sướng khoái cái lòng tham lam tàn bạo thì thật cái lòng của Thánh thượng không nhẫn.
“Trong muôn một nếu can qua nối tiếp không dứt, tình thế đến nỗi nào thì thật không phải do thần muốn, mà thần cũng không dám biết nữa.’
Thang Hùng Nghiệp tiếp thấy cả kinh, nói với Sứ giả Hô Hổ Hầu rằng:
“Nay không phải hai nước đánh nhau, sao hành sự toàn một giọng giận dữ? Nói như thế là muốn cầu phong tước, hay muốn gây mối can qua chăng?”
Thang Hùng Nghiệp trả tờ biểu không chịu đề đạt lên.”
Trên đường đến Lưỡng Quảng nhậm chức, Tổng đốc Phúc Khang An tâu lên Vua Càn Long về cách xử sự của y đối với An Nam, quyết không ham công đưa quan quân xông vào nơi lam chướng; nhưng phải làm khó đến cùng cực, thì mối cảm tạ của nước này mới nẩy ra. Nhà Vua bằng lòng, cho rằng đã nắm được điểm chính:
“Ngày 27 tháng 2 năm Càn Long thứ 54 [23/3/1789].
Công tước Hiệp Biện Đại Học sĩ Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An tâu: Sự việc tại An Nam, Tôn Sĩ Nghị dũng mạnh buổi đầu, nhưng lầm lỡ sau đó; lần này thần đến nơi, lo nuôi dưỡng quân uy, giữ quốc thể làm trọng. Còn bọn Nguyễn Huệ nghe nội địa mang bốn đạo quân tiến đánh, tất sẽ mau đến quan ải xin qui phục. Thần không thể chấp nhận cầu xin một cách dễ dàng, đợi cho sự lo sợ đến cùng cực, thì mối cảm tạ mới nẩy ra, lúc đó sẽ xét theo tình hình mà trần tấu; lại quyết không ham công ưa bành trướng, đưa quan quân xông vào nơi lam chướng. Thần sau khi phụng chỉ bèn giao trách nhiệm Tổng đốc Mân Triết cùng ấn tín cho Phủ thần xử lý, khởi hành từ Quảng Đông ngày đêm đi gấp.
Dụ các Quân Cơ Đại thần: Xét lời tâu, đã nắm được điểm chính…”(Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1323, trang 913)
Vào ngày mồng 9 tháng 2 [5/3/1789] Vua Quang Trung sai hai viên quan Nguyễn Hữu Điều và Vũ Huy Phác mang biểu văn đến Quảng Tây, Tôn Sĩ Nghị tâu lên. Vua Càn Long cũng muốn giải quyết cho êm chuyện, nhưng xét sự tổn thất tại thành Thăng Long quá lớn, nên cần phải làm khó để rửa mặt, chưa thể bằng lòng chấp nhận ngay được:
“Ngày 28 Ất Mão tháng 2 năm Càn Long thứ 54 [24/3/1789].
Cựu Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị tâu: Vào ngày mồng 9 tháng 2 [5/3/1789] Nguyễn Huệ sai hai viên Di mục Nguyễn Hữu Điều và Vũ Huy Phác mang biểu văn đến dâng, thần sai Tri đạo Tả Giang Thang Hùng Nghiệp ra trước quan ải hiểu dụ. Mở biểu văn ra duyệt, thấy lời lẽ cung thuận, tuy nhiên vẫn chưa tống xuất hết quan binh của ta, nên có ý muốn bác; kính cẩn đợi huấn thị để tuân hành.
Dụ các Quân Cơ Đại thần: Nguyễn Huệ đã tụ tập đám đông đến quấy phá, khiến các quan binh cùng Đề Trấn đại viên bị tổn thất, lại càng đắc tội với Thiên triều, khó mà tha được. Nay đất nước ta toàn thịnh, kho tiền chứa trữ đầy đủ, mang binh tiến đánh, thành công cũng không khó. Hiện nay các đại viên cầm quân, am tường về quân sự, từng hành quân lâu năm đều có sẵn; ngân khố hiện tại trữ hơn 6000 vạn lạng bạc, nếu tiêu đi 3000 vạn lạng cũng không tiếc; riêng Trẫm biện lý công việc thì hàng ngày cần cù, không phải vì già nua mà sợ công việc. Chỉ nghĩ đến địa phương An Nam đất đai thủy thổ ác liệt, vốn nhiều chướng lệ; thực không muốn binh mã, tiền lương phải tiêu phí vào mảnh đất vô dụng này, xét về sự lý thực không đáng làm to chuyện. Nhưng Nguyễn Huệ đắc tội với Thiên triều, tuy đã sai Di mục hai lần mang biểu tới quan ải, cũng chưa thể bằng lòng chấp nhận sự kêu xin ngay được…” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1323, trang 41-42)
Sau khi sứ giả An Nam đến dâng biểu, Vua Càn Long lại cho soạn sẵn hịch dụ chờ khi Phúc Khang An đến quan ải thì giao cho An Nam. Nội dung hịch dụ khoe thành tích đánh dẹp của Khang An; đòi phải đem nạp những người đã giết các Ðề đốc, Trấn thủ tại thành Thăng Long để trị tội chết. Rồi hù dọa rằng nếu không tuân, chỉ có cách là thống suất đại binh, chia đường tiến đánh:
“Ngày 7 tháng 3 năm Càn Long thứ 54 [2/4/1489]. Dụ các Quân cơ đại thần:
‘Nguyễn Huệ đối với quan binh ta không dám giết hại, tập trung tại thành nhà Lê để nuôi dưỡng; sau khi bị Tôn Sĩ Nghị bác biểu văn bèn đem quan binh tống xuất, chứng tỏ còn biết lo sợ uy trời. Nhưng Tôn Sĩ Nghị vừa mới bị thất trận, uy vọng đã tổn thất; riêng Phúc Khang An chắc lúc này đã tới ải Nam Quan, lệnh Phúc Khang An hãy ban hịch dụ Nguyễn Huệ rằng:
‘Việc này do Tôn Sĩ Nghị là quan văn, không rành về binh sự, đưa đến việc biện lý không tốt, hiện được chỉ dụ đưa Tôn Sĩ Nghị đến kinh đô; chức Tổng đốc Lưỡng Quảng khuyết, bổ Bản bộ đường đến nhậm chức.
Bản bộ đường theo việc binh đã lâu, trước đây Thổ ty Lưỡng Kim Xuyên tự coi là hiểm xa, ngoan cố làm điều gian; Bản bộ đường từng mang quân đến đánh, bình định toàn đất Kim Xuyên, cắt tai Tố Nặc Mộc Tăng Cách đem hiến. Năm ngoái bọn Lâm Sảng Văn cho rằng Ðài Loan cách trở trùng dương, tụ tập dân chúng làm loạn; Bản bộ đường mang quân vượt biển đánh bắt, chỉ trong tuần bắt sống bọn Lâm Sảng Văn, chiếu pháp luật trừng trị. Ngươi, Nguyễn Huệ, tại nơi hoang tịch Quảng Nam, đối với việc Kim Xuyên hoặc có thể đã nghe; riêng Ðài Loan có đường biển thông thương với Quảng Nam, việc Lâm Sảng Văn chắc ngươi đã hiểu rõ.
Ngươi là Thổ tù An Nam, to gan dám kháng cự Thiên binh, giết hại đại viên Ðề, Trấn, tội hết sức nặng; nay đem quan binh trả về, cũng không chuộc hết tội lỗi, phải đem những người đã giết hại các quan Ðề, Trấn (3) , trói giải đến để trị tội chết. Nhà ngươi nếu không tuân phụng đem hiến, Bản bộ đường chỉ có cách là thống suất đại binh, chia đường tiến đánh. Hãy suy nghĩ lực lượng của Thiên triều như thế nào, và tự xét các ngươi chỉ là con bọ ngựa ngông cuồng mà thôi!’
“ Hãy dụ một cách nghiêm khắc như vậy; khi Nguyễn Huệ tiếp nhận hịch văn của Phúc Khang An, sẽ đem hiến những người giết hại các quan Ðề, Trấn; Phúc Khang An lại tâu lên đầy đủ, đợi Trẫm giáng chỉ để tuân hành. Nếu như Phúc Khang An chưa đến nơi, Tôn Sĩ Nghị đã mang biểu văn khác của Nguyễn Huệ tâu lên, Trẫm sẽ xét ngay và giáng chỉ tường tất chỉ thị, để theo đó mà làm; riêng hịch này hãy đình chỉ phảt hành để chờ hiểu dụ sau.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1324, trang 14-15)
Hịch dụ trước chưa kịp gửi đi thì phía An Nam sai người đem các quan binh bị bắt cho trở về; và bảo rằng những người giết các Đề, Trấn nhà Thanh, đã đem trị tội. Vua Càn Long chiếu theo tin tức vừa cập nhật, bèn cho soạn hịch dụ mới bảo rằng lời nói “đã đem những người giết hại quan binh ra trị tội” không đủ tin; nên Tổng đốc Phúc Khang An không thể giúp tâu thay lên Vua được:
“Ngày 9 tháng 3 năm Càn Long thứ 54 [4/4/1789].
Dụ các quân cơ Đại thần: Cứ theo lời tấu hôm qua của Tôn Sĩ Nghị rằng Nguyễn Huệ cho người đem các quan binh còn kẹt lại trở về, có thể đến quan ải trong ngày. Đã có chỉ dụ bảo Phúc Khang An truyền hịch cho Nguyễn Huệ; lại e rằng trước khi Phúc Khang An đến nơi Tôn Sĩ Nghị lại chuyển biểu văn khác [của Nguyễn Huệ] tâu lên, nên ra lệnh cho tạm thời đình hoãn gửi, để đợi hịch dụ khác.
Nay được biết khi viên Di mục của nước này [Sứ giả của vua Quang Trung] đến, Tôn Sĩ Nghị sai Thang Hùng Nghiệp nói rằng Tôn Sĩ Nghị đã phụng chỉ về kinh, Phúc Khang An sẽ đến đây trong một vài ngày; đợi lúc Phúc Khang An tới sẽ tâu thay; những lời này hợp với chỉ dụ trước. Xem những biểu văn của Nguyễn Huệ lời lẽ rất cung kính, biết sợ hãi hối tội; y liên tiếp khất hàng trong thời gian ngắn; nên cần phải trì hoãn làm khó, để kiên định lòng thành nội phụ và sự hối tội. Nếu trước kia Tôn Sĩ Nghị hứa với viên Di mục bằng lòng chuyển tấu, thì khi biểu văn tới nơi phải nên truyền hịch dụ đáp lại. Nay Tôn Sĩ Nghị sai Thang Hùng Nghiệp bảo rằng đợi khi Phúc Khang An tới đây hãy khẩn cầu để xin tấu thay; vậy lần này đáp với viên Di mục bất quá nói rằng đây chỉ là ý riêng của Thang Hùng Nghiệp. Những biểu văn được xem, do Tôn Sĩ Nghị mở ra từ phó bản, không cần phải truyền hịch trả lời.
Nay ra lệnh Phúc Khang An hãy tuân theo chiếu chỉ mới đây để truyền hịch cho Nguyễn Huệ rằng:
“Ngươi vốn là viên Thổ tù nước An Nam nhưng dám kháng cự quan binh, giết hại các quan Đề Trấn đại viên, tội rất lớn. Nay tuy đã ba lần đến xin hàng, lại đem trả lại những quan binh chưa trở về, nhưng vẫn chưa đủ chuộc tội. Ngươi bảo rằng đã đem những người giết hại quan binh ra trị tội, lời nói đó không đủ tin; nên Bản Bộ đường không tiện thay ngươi để tâu lên. Nếu ngươi không chịu đem những người giết quan binh ra, thì chỉ có cách là thống suất đại binh, chia các lộ cùng tiến đánh; nếu chưa diệt hết bọn ngươi quyết không dừng!….” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1324, trang 22-24)
Từ chỗ đòi hỏi phải giải giao những người giết các viên Đề, Trấn cho nhà Thanh trị tội, nay Vua Càn Long xuống nước bỏ qua; dặn Phúc Khang An khi truyền hịch dụ cho Vua Quang Trung nên mở một con đường; chỉ bắt bẻ qua loa rằng biểu văn dùng từ chưa ổn, nếu tình và từ thành khẩn y sẽ giúp tâu lên:
“Ngày 12 tháng 3 năm Càn Long thứ 54 [7/4/1789].
Lại dụ: Mới đây Phúc Khang An tâu rằng đã tiếp được chỉ dụ, nên sẽ không điều binh tiến đánh. Nay Trẫm tường tất truyền dụ thêm: Nước An Nam nhỏ như viên đạn, nếu Thiên triều điều động đại binh phân lộ tiến đánh, thì sẽ bình định lập tức không mấy khó khăn. Nhưng điều động đại binh, thâm nhập tiến đánh, thì không những quân ta chịu lao khổ, mà dân chúng nước này cũng phải chịu đựng tên đạn. Trong, ngoài đối xử giống nhau, dân trong nước và di địch cũng đều là con đỏ (4), lòng Trẫm không nỡ làm như vậy. Huống trước kia Miến Điện giữ người của ta là Dương Trọng Anh không cho trở về, nhưng vì thủy thổ nơi đó quá ác liệt, nên cũng bỏ qua không đánh. An Nam và Miến Điện khí hậu giống nhau, mà Nguyễn Huệ sợ hãi Thiên triều, trong biểu văn lời lẽ hết sức cung thuận, xưng là đưa những người đã giết các quan Đề Trấn ra trị tội, lại đưa các quan binh còn kẹt lại trở về hết. Cách xử sự như vậy so với việc làm ngu ngốc trước kia của y thực sai biệt.
Phúc Khang An truyền hịch dụ Nguyễn Huệ, trong sự nghiêm khắc nên mở một con đường. Nên dụ rằng ngươi hối tội cầu hàng, nhưng trong biểu văn dùng từ cũng chưa ổn, Bản Bộ đường đáng phải bác trả lại. Nếu tình và từ thành khẩn, lập ngôn cung thuận, sẽ giúp ngươi trần tấu, để đợi chỉ tuân hành. Theo thể chế của Thiên triều, việc phong đất và chức tước cho các đại viên không phải là chuyện nhỏ, không dám không tâu rõ lên trên; một khi ngươi có lòng thành có thể cầu xin Thánh Thiên tử soi xét. Truyền dụ minh bạch như vậy, bọn Nguyễn Huệ không thấy tuyệt vọng, tất sẽ khẩn thiết khất hàng; đợi đến lúc có thể chấp nhận được, Phúc Khang An xét tình hình tấu lên, rồi Trẫm sẽ ước lượng một lần nữa, để giáng chỉ thi hành.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1325, trang 33-34)
Đoàn quân Thanh sang xâm lăng nước ta, nếu tính cả binh phu có đến mấy chục vạn tên; tính đến ngày 30 tháng giêng năm Càn Long thứ 54 [24/2/1789] đám tàn quân thua chạy, do bởi quân Tây Sơn không truy bắt, về đến quan ải gồm năm ngàn mấy trăm tên. Số tướng hiệu bị giết gồm Đề đốc Hứa Thế Hanh; Tổng binh Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng, Lý Hóa Long; Tham tướng Dương Hưng Long, Vương Tuyên, Anh Lâm; Phó tướng Na Ðôn Hành; Du kích Minh Quế,Trương Thuần, Vương Ðàn, Trương Hội Nguyên, Lưu Việt; Ðô ty Ðặng Vĩnh Lượng; Thủ bị Lê Trí Minh. Thổ tù Điền Châu Sầm Nghi Đống và 2 viên quan văn: Tri huyện Viên Thiên Lục, Kinh lịch phủ Trương Thành đều bị hại.
Ngoài ra có một số lính tại doanh Quảng Tây, nhân lạc đường từ An Nam chạy sang Vân Nam; sau khi quan lại tại Vân Nam thẩm vấn, bèn cho trở về tỉnh cũ.
Lại còn số tù binh do Vua Quang Trung sai người đem đến quan ải, vào khoảng dưới 1.000 tên, liệt kê qua văn kiện như sau:
“Ngày 17 Giáp Tuất tháng 3 năm Càn Long thứ 54 [12/4/1789].
Dụ các quân cơ Đại thần: Lần trước Nguyễn Huệ tống xuất hơn 500 quan binh trở về, lại xưng còn 200 người đang lục tục tiến đến quan ải; lại tống xuất thêm 39 binh phu; như vậy còn hơn 100 người chưa tống xuất. Cứ bảo sẽ lục tục tống hồi, vậy hiện tại có hay không đưa đến thêm? Phúc Khang An hãy điều tra minh bạch rồi tâu đầy đủ….”( Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1325, trang 1-3)
Riêng cánh quân Vân Nam tương đối an toàn; ngoài 1 viên Thiên bả và 10 tên lính thất lạc, số còn lại trở về Vân Nam:
“Ngày 8 tháng 2 năm Càn Long thứ 54 [4/3/1789]. Tổng đốc Vân Quí Phú Cương tâu:
‘ Tỉnh Vân Nam điều quan binh đến An Nam, đã triệt thoái trở về. Toàn số trở về cửa khẩu, duy tùy tòng viên Ðề đốc Ô Ðại Kinh đến thành nhà Lê, có quân lính và Thiên bả gồm 1 viên Cử nhân võ bị hiệu lực, 1 viên Ngoại ủy và 10 tên lính bị kẹt lạc phía sau vẫn chưa đến…” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1322, trang 18)
Riêng bọn phu mỏ theo đi đánh, lúc rút lui vẫn còn mang ý định chống lại Tây Sơn, trái với chính sách của nhà Thanh bấy giờ; nên Vua Càn Long tỏ ra hậm hực hài tội phu mỏ trước kia trốn ra khỏi nước không xin phép , và ra lệnh bọn quan lại phải thu xếp cho ổn thỏa đừng để rắc rối với nhà Tây Sơn:
“Ngày 1 tháng 3 năm Càn Long thứ 54 [27/3/1789]
….Còn như bọn xưởng dân, trước kia trốn ra khỏi nước không xin phép vốn là người có tội, nhưng vì tình nguyện đi đánh giặc nên được tha. Khi đại binh đi đánh, bọn xưởng dân chỉ đi theo đám đông, chưa thấy đoạt được thành tích nào nổi bật. Nay công việc tại An Nam có nên đánh hay không do ta quyết định, chẳng vì bọn xưởng dân tình nguyện đánh giặc, rồi các ngươi có hành động thiếu suy nghĩ. Tuy nhiên bọn xưởng dân đã từng theo quan binh đánh trận, nay lại không chịu theo Nguyễn Huệ, không nỡ để chúng bị sát hại, vậy nên lo liệu cách nào cho ổn thỏa.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1324, trang 1-3)
Với ý định thiết lập bang giao với Vua Quang Trung, Càn Long trở mặt coi rẽ vua Lê Chiêu Thống, không cho gặp, chỉ cho cơm ăn để sống mà thôi. Lại nhận thấy Vua Chiêu Thống cùng gia đình ở tại Nam Ninh quá gần biên giới, sợ lâu ngày người trong nước ra vào đưa tin tức, gây chuyện lôi thôi với Tây Sơn nên bắt dời đến tỉnh thành Quế Lâm, giao cho viên Tuần phủ ước thúc dòm ngó:
“Ngày 27 tháng giêng năm Càn Long thứ 54 [21/2/1789].
Lại dụ: Lê Duy Kỳ vốn là người không có khả năng, mấy lần chạy trốn không giữ được đất. Nay đã được sắc phong làm Quốc vương lại bỏ nước trốn lánh, nếu xét theo quan chức tại nội địa thì đáng cách chức trị tội. Tương lai nếu có cầu khẩn xin chiêm cận, xét y không xứng đáng đến kinh khuyết, chỉ coi như người dân nơi biên giới, cho cơm ăn để sống mà thôi. Vả lại Nam Ninh quá gần biên giới, sợ lâu ngày người trong nước y ra vào đưa tin tức, gây nên chuyện lôi thôi. Nên đem Lê Duy Kỳ, mẹ và con cùng đám tùy tùng đến an sáp tại tỉnh thành Quế Lâm, tại đó viên Tuần phủ ở gần có thể ước thúc dòm ngó, xem ra có vẻ ổn thỏa hơn. Nay truyền dụ cho Tôn Sĩ Nghị, Tôn Vĩnh Thanh tra xem có một công ốc nào bỏ trống, cấp cho Lê Duy Kỳ và quyến thuộc cư trú, cùng ước lượng cấp cho lương thực đủ để sống.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1321, trang 30)
Tại miền Nam, vào dịp tết năm Canh Tuất [1789], Nguyễn Vương Phúc Ánh tưởng thưởng cho các tướng sĩ thuộc quân thứ Ba Xắc [Sóc Trăng] đang đánh dẹp quân Tây Sơn; ban dụ rằng :
“Thờ vua lấy trung vốn là chức phận của người làm tôi, mà sai bề tôi lấy lễ cũng là đạo của người làm vua. Nay gặp buổi xuân hòa, muôn vật đều được vui tươi, nghĩ đến các ngươi ở mãi chốn nhung trường, dầu sương giãi tuyết, gian nan như thế, công lao như thế, muốn hậu đãi nhau há lại tiếc sao! Song vì đất nước mới khôi phục, tài sản chưa dồi dào, lấy gì mà thưởng cho thỏa lòng được? Nay đặc sai Trung sứ đem cho các ngươi một nghìn quan tiền và các thứ chè bánh để tỏ tình cam khổ cùng nhau”.
Vào tháng giêng [26/1-24/2/1789] Thái bảo Tây Sơn Phạm Văn Tham ở Ba Xắc [Sóc Trăng] đem binh thuyền toan vượt biển về Quy Nhơn. Vua sai Lê Văn Quân, Tôn Thất Hội, Võ Tánh, Nguyễn Văn Trương hợp quân để đánh. Bọn Quân thúc quân thẳng tiến, đánh vào Hổ Châu [huyện Trà Ôn, Vĩnh Long], khiến quân Tây Sơn tán loạn, Tham lại lùi về giữ Ba Xắc.
Bộ tướng của Tham có người tên là Thanh Hàm là tướng cũ của Nguyễn Vương. Từ khi Sài Gòn thất thủ, đầu hàng Tây Sơn, Tham tin dùng, sai đóng đồn ở ngoài; cùng với tướng Nguyễn Vương là Nguyễn Văn Mân đối lũy với nhau. Thanh Hàm với Mân là người quen biết cũ, ngày thường ra khỏi đồn gặp nhau. Hàm bảo Mân rằng :
“Trước tôi làm tôi của Vương, nay làm tướng Tây Sơn, sự thể đến lúc này, chỉ có đợi chết mà thôi, khanh thử vì tôi tính xem”.
Mân nói :
“Khanh đầu hàng là thế bất đắc dĩ thôi. Nay giặc như cá trong lưới, khanh không sớm liệu, một mai bị bắt còn mặt mũi nào mà nhìn thấy Vương nữa”.
Thanh Hàm nói :
“Tội tôi nặng, sợ Vương không dung”.
Mân nói :
“Vương như trời đất cha mẹ, cái gì lại chẳng dung. Khanh đừng ngờ. Chuyển họa làm phước như trở bàn tay.”
Thanh Hàm nói :
“Khanh hãy vì tôi xin mệnh lệnh, tôi nguyện đem cả đồn này để hiến, không phải nhọc sức tướng sĩ nữa”.
Mân nhận lời, luôn đêm ấy vào yết kiến để báo việc ấy; Vương chấp thuận. Mân tức thì báo cho Thanh Hàm. Sáng ngày mai Vương đến lũy của Mân, Thanh Hàm vào yết kiến, lạy rạp xuống đất xin chịu tội. Vương vỗ về yên ủi, sai về đồn trước, cho Mân đem đại binh theo sau; đến cửa đồn kéo quân thẳng vào, quân Tây Sơn tán loạn. Phạm Văn Tham lui về sông Cổ Cò, bộ hạ là Tham đốc Trần Hiếu Liêm, Chỉ huy Nguyễn Chuẩn đem thủy binh từ cửa biển Mỹ Thanh đến giúp. Nguyễn Vương tự đốc binh thuyền đón đánh, Chuẩn thua chết, Hiếu Liêm đem bộ thuộc đầu hàng. Tham nghe tin sợ quá, thế đã cùng bách, quân viện ở ngoài lại không có, nên đến cửa quân xin hàng. Vương tha tội cho, trao cho chức Tiên phong đô đốc dinh Trung quân, giải tán bộ khúc chia vào các quân.
Định lệ thuế cảng và lễ cho những thuyền buôn của người Thanh; phân biệt tiền thuế các thuyền Hải Nam, Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Thượng Hải. Như thuyền Thượng Hải tiền thuế 3.300 quan; lễ cai tàu sa mặc mát 15 tấm, hàng tơ màu 25 tấm, tiền đãi cơm 100 quan.
Nguyễn Huỳnh Đức từ đất Tây Sơn, trốn sang Xiêm, rồi về Gia Định. Huỳnh Đức là người Kiến Hưng, Trấn Định [Định Tường], sức mạnh tuyệt vời, người ta vẫn khen là hổ tướng. Nguyễn Vương từng đánh nhau với Tây Sơn bị thua, phải thúc ngựa để tránh giặc, Huỳnh Đức chạy theo kịp. Chợt ngựa Vương sa lầy mà quân giặc sắp tới sau chân, Huỳnh Đức lội xuống bùn mang Vương lên bờ, rồi lại ra sức dắt ngựa ra khỏi bùn lầy, rước Vương lên ngựa.
Sau Huỳnh Đức thế cùng, bị Tây Sơn bắt được. Tây Sơn yêu là người có sức mạnh nên dùng. Huỳnh Đức lòng vẫn bùi ngùi không vui. Chợt một đêm nằm mê, gọi tên Văn Huệ mà chửi. Các tướng giặc muốn giết, nhưng Bắc bình vương Nguyễn Huệ ngăn rằng : “Nói mơ thì có tội gì?” rồi tha và lại cho thêm châu báu, muốn gây cảm tình; nhưng Huỳnh Đức cuối cùng vẫn không theo. Khi Bắc bình vương ra Bắc; lưu Huỳnh Đức ở lại theo Trấn thủ Nguyễn Văn Duệ giữ Nghệ An. Duệ là tướng của Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, vốn không thích Bắc bình vương. Huỳnh Đức biết ý ấy, bàn thầm với Duệ lẻn theo đường núi về Quy Nhơn để hợp với Nhạc, mà mình thì nhân lúc hở sẽ về với bản triều. Duệ cho là phải, tức thì bỏ Huệ, đem hơn 5.000 quân sở bộ theo đường núi mà về Nam, sai Huỳnh Đức dẫn 500 quân thân tùy đi trước. Đi được hơn một tuần, Huỳnh Đức sai người đến tạ Duệ rằng :
“Kẻ sĩ ai cũng có chủ, Duệ không phụ Tây Sơn cũng như Huỳnh Đức không phụ chúa cũ. Nếu Duệ có biết Tây Sơn là ngụy, chúa cũ của tôi là chính thì nên cùng đi với tôi đến hàng để cùng nhau hưởng giàu sang”.
Duệ biết Huỳnh Đức muốn lừa mình, giận lắm, muốn lừa mà giết đi. Lập tức cho lệnh tiễn đến triệu và nói rằng :
“Lời khanh nói rất hợp ý ta, nên dừng lại cùng nhau họp mặt nói chuyện, để quyết việc theo hay không”.
Huỳnh Đức được tin báo, cười bảo rằng:
“Việc theo hay không là do trấn thủ quyết định, cần gì phải họp mặt mà bàn nữa”.
Lại sợ chậm thì Duệ bắt được, tức thì nhân đêm tối đi đường khác, qua Vạn Tượng [Lào], đường lối quanh quất, quân sĩ hết lương, tình thế rất nguy ngập. Nhờ các bộ lạc Lào đem cho lương khô, mới đến được Xiêm La. Khi đến Xiêm thì Nguyễn Vương đã về nước, Vua Xiêm muốn giữ ở lại. Huỳnh Đức bực lắm, trước mặt vua Xiêm bày tỏ hết mọi nỗi vất vả và nói :
“Nếu giữ lại thì chỉ có chết mà thôi”.
Khí uất bừng bừng, rồi thổ ra một hòn máu. Vua Xiêm thấy là người trung nghĩa rất tôn trọng. Mùa thu năm Mậu thân [1787], Vương đã khôi phục Gia Định, nghe tin Huỳnh Đức ở Xiêm, sai người đem lương thực cấp cho, nay đến Gia Định. Vào yết kiến, Vương yên ủi, rồi trao cho chức Trung dinh giám quân chưởng cơ.
Tháng 2 [25/2-26/3/1789], Nguyễn Vương trở về Sài Gòn, lưu Lê Văn Quân và Võ Tánh ở lại trấn thủ Ba Xắc [Sóc Trăng]. Ốc Nha Ốc người Chân Lạp, theo Tây Sơn giữ các xứ Trà Vinh và Mân Thít [Vĩnh Long] nghe tin Phạm Văn Tham hàng thì trốn chạy đến Cần Thơ; bị bộ tướng của Quân là Cai cơ Nguyễn Văn Phong bắt được. Hơn 1.500 người Chân Lạp ra hàng, sai ghi vào sổ, mỗi người phải nộp 10 hộc thóc để cấp lương quân.
Vương cho rằng việc làm ruộng đương cần, mà trâu bị chết dịch nhiều, cho nên cấm giết. Kẻ nào phạm cấm này, quan thì xử bãi chức, dân thì xử 100 roi và sung dịch phu. Lại thấy rằng tổng Kiến Hòa thuộc dinh Trấn Định [Định Tường] nhiều ruộng bỏ hoang, nhà nước cấp trâu để cày, nếu bị dịch chết thì không bắt đền.
Tháng 3 [27/3-24/4/1789], triệu Lê Văn Quân và Võ Tánh về Sài Gòn. Sai Già Tri Giáp người Chân Lạp coi phủ Ba Xắc. Vương thấy dân Chân Lạp khi theo khi phản, khó có người cai trị ngăn giữ, mà Giáp vốn được quan địa phương tôn phục, cho nên đặc cách ban mệnh.
Bãi phủ binh tức lính địa phương giữ các đồn ở Phiên Trấn [Gia Định] về làm ruộng; dụ rằng :
“Trước đây bờ cõi chưa yên, việc quân đương bận, phủ binh chia nhau đóng đồn, khó nhọc chẳng phải một ngày. Nay uy vua lan rộng, đảng nghịch dẹp yên, nơi rậm rạp đã không quân ẩn nấp, chốn gia đình nên có thú vui vầy. Vậy tinh binh ở đồn thì tạm để lại phòng thủ, còn phủ binh hết thảy cho về”.
Chú thích:
- Đại Nam Chính Biên Liên Truyện, Nhà Tây Sơn, trang 147 -151.
2.Xem Thanh Thực Lục, bản dịch của Hồ Bạch Thảo, Hà Nội: NXB Hà Nội, 2019, tập 1, trang 244.
3.Ðề, Trấn: các chức Ðề đốc, Trấn thủ, như bọn Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long.
4.Con đỏ: dịch chữ “xích tử”, ý chỉ nâng niu như con nhỏ mới sinh.
Khi Bên Thắng Cuộc “làm” Sử, nó đẹp dể sở lun
ThíchThích