Lịch Sử Việt Nam Thời Tự Chủ : Vua Lê Chiêu Thống [1787-1789]- Bài 5

Lê Chiêu Thống [1787-1789]

Hồ Bạch Thảo

Căn cứ vào Thanh Thực Lục, đạo quân xâm lăng do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy đến Chi Lăng vào ngày 7 tháng 11 năm Càn Long 53 [4/12/1788], chuẩn bị vượt sông Cầu vào buổi hoàng hôn 16 tháng 11 [13/12/1788]. Riêng sông Thương nằm giữa 2 địa điểm nêu trên, sau khi vượt qua, còn phải tốn thì giờ củng cố vị trí phòng thủ tại núi Tam Tằng; nên có thể ước tính thời gian vượt sông Thương vào khoảng ngày 10 tháng 11 [7/12/1788]. Tại đây quân Thanh kết bè vượt sông, quân Tây Sơn rút lui hầu như không chống cự:

Ngày 2 tháng Chạp năm Càn Long Thứ 53 [28/12/1788].

Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị tấu trình về tình hình tiến quân tiễu trừ giặc phỉ tại An nam; nay dụ quân cơ Đại thần: quan binh kỳ này đánh giặc, Tôn Sĩ Nghị chia binh ra cùng tiến, khiến quân giặc không thể lợi dụng đánh đằng sau…. Ra lệnh chặt tre làm bè, giúp đại quân tiến thẳng qua sông Thọ Xương [sông Thương], dư đảng giặc bèn bỏ chạy…” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1318, trang 3-4)

Theo Khâm Định Việt Sử, tướng Tây Sơn Phạm Văn Lân mang quân vượt sông Cầu, đánh doanh trại quân Thanh tại Tam Tằng nhưng thất bại; trong khi đó quân Thanh dùng kỳ binh vượt sông Cầu thành công, bèn thừa thắng đuổi dài:

Sau khi phá vỡ luôn được mấy cánh quân của Tây Sơn, quân Thanh tiến lên chiếm đóng núi Tam Tằng [huyện Việt Yên, Bắc Giang]. Văn Lân, nhân đang đêm, xông pha rét lạnh, lén vượt sông Nguyệt Đức [sông Cầu], vây doanh trại Tôn Sĩ Nghị. Nhưng trận thế của Sĩ Nghị vững chắc, không lay chuyển, đồng thời súng hỏa sang (1) của quân Thanh lại cùng bắn ra: giặc [Tây Sơn] không đến gần được. Trương Sĩ Long, tiên phong quân Thanh, xung phong giết giặc. Cung tên của hai cánh quân tả dực và hữu dực nhà Thanh lại bắn châu vào: quân giặc bị chết vô kể. Trước đó, Sĩ Nghị ra quân kỳ [quân đột kích] , do phía thượng lưu, vượt qua sông, đánh úp doanh trại Thị Cầu. Trông thấy trong trại bốc lửa, giặc cả sợ, phải vượt lũy mà chạy. Quân Thanh thừa thắng, ruỗi dài, cả phá được giặc. Văn Lân chạy về Thăng Long.” (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, tập 2, trang 839)

Sử Trung Quốc mô tả vào ngày 16 tháng 11 [13/12/1788] quân Thanh sử dụng chiến thuật ám độ vượt sông Cầu; Tổng binh Trương Triều Long điều quân đi vòng vượt sông, đột kích đằng sau trại; khiến quân Tây Sơn thua chạy; Tôn Sĩ Nghị bèn mang đại quân càn quyét, thuộc hạ bắt được tướng tướng Tây Sơn trá hàng là Trần Danh Bình, rồi đem giết:

Ngày 6 tháng Chạp năm Càn Long thứ 53 [1/1/1789].

Dụ: cứ lời tấu của Tôn Sĩ Nghị ghi trong tập sớ rằng đại binh sau khi qua sông Thọ Xương bèn tiến gấp đến sông Thị Cầu, bọn giặc đồn trú tại sườn núi đối diện sông khá đông, phòng ngự kiên cố. Vào ngày 16 tháng 11 [13/12/1788] lúc hoàng hôn, quan quân đặt nhiều khẩu pháo bắn sang bên kia sông, lại sai dân quân làm ra vẻ lo ráp cầu nổi về phía bên phải để vượt sông; khiến giặc dồn nỗ lực để chống cự. Mật lệnh Tổng binh Trương Triều Long mang 2000 quân đi về hướng trái khoảng 20 dặm bí mật vượt sông [ám độ]; quan binh di chuyển bằng bè để cướp cầu, rồi tiến thẳng. Đoàn quân ám độ của Trương Triều Long đi vòng đến đằng sau trại giặc, bọn giặc mất cả hồn vía bỏ trại mà chạy. Đại quân vượt qua sông Thị Cầu, chia binh đánh giết; dọc theo bờ và trên sông thây chất gần đầy, tổng số khoảng hơn 1000; lại bắt sống hơn 420 tên, đều bị chính pháp chém đầu thị chúng! Con đường đến Gia Quan [Gia Lâm] được Du kích Trương Thuần mang quân càn quét, bắn chết một tên đầu mục đội mũ đỏ, giết mấy chục tên, bắt sống 13 tên. Phó tướng Khánh Thành, Thủ bị Lê Trí Minh phục kích tại đường hiểm yếu, bắt sống tên đầu hàng mà lại làm phản là Trần Danh Bính, cùng viên Chỉ huy ngụy Lê Đình, Nội vệ ngụy Túc Toàn…..” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1318, trang 9-13)

Kể từ khi vượt sông Cầu; 3 ngày sau vào rạng ngày 19 tháng 11 [16/12/1788] quân Thanh đến bờ phía bắc sông Hồng, xãy ra giao tranh nhỏ. Các viên Tổng binh ra lệnh tìm kiếm thuyền bè, đến canh năm [3giờ-5giờ sáng] ngày 20 [17/12/1788] đổ bộ sang bờ phía nam, tức thành Thăng Long:

Ngày 9 Bính Tân tháng Chạp năm Càn Long thứ 53 [4/1/1789]

Dụ Quân Cơ Đại thần: Tôn Sĩ Nghị gửi về một tập tấu về việc quan binh hai ngày liền thừa thắng đánh giết, hiện đã vượt qua sông Phú Lương [sông Hồng] khắc phục thành nhà Lê. Việc làm đáng khen, bút tả không hết. Tấu thư xưng:

 ‘Rạng sáng ngày 19 [16/12/1788] đến sông Phú Lương, trước hết tìm thuyền nhà nông cùng bè tre chở quan binh hơn 100 người đánh nhau với giặc tại giữa sông năm sáu lần, giết rất nhiều, lại đoạt được một chiếc thuyền của giặc. Nhân thuyền bè đã bị giặc chiếm trước, tre gỗ ở dọc bờ sông cũng bị chặt tận, không có phương tiện để có thể vượt sông ngay được. Đợi đến lúc trời tối, tìm được thêm thuyền bè, cùng với chiếc thuyền đoạt được của giặc, ước lượng có thể dùng cho trên 200 người vượt sông. Bèn ra lệnh Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng đốc suất quan binh hơn 300 người vào canh năm [3giờ-5giờ sáng] ngày 20 [17/12/1788] xông thẳng sang bờ bên kia.”….( Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1318, trang 23-26)

Đến thành Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị đặt quân doanh tại cung Tây Long sát bờ sông. Vào canh hai cùng ngày [21 giờ-23 giờ] Vua Lê Chiêu Thống từ huyện Lương Tài [Bắc Ninh] đến nơi, được Tôn Sĩ Nghị truyền chỉ phong làm Quốc vương. Chiêu Thống khóc lóc từ chối, lấy cớ lăng tẩm tổ tiên còn nằm trong vòng Tây Sơn kiểm soát, nên xin tạm hoãn. Sĩ Nghị thoái thác, bảo đó là mệnh lệnh Vua Càn Long, nên đành phải chấp thuận:

Nhà Thanh sách phong nhà vua làm An Nam quốc vương. Trước kia, Sĩ Nghị xuất quân, vua Thanh giao cho sách văn và ấn chương, rồi dụ bảo Nghị khi đã khôi phục được kinh đô thì phong ngay cho Lê Tự Tôn làm An Nam quốc vương để ràng buộc lấy lòng người. Đến đây, Nghị tuyên bố mệnh lệnh, chọn ngày làm lễ sách phong. Nhà vua khóc lóc cho rằng lăng tẩm còn sa vào trong phạm vi của giặc, chính mình chưa được đến tận nơi bái yết, vậy xin hãy tạm hoãn lại ít lâu. Nghị trả lời: ‘Những lời tự quân nói đó thực ra là từ chỗ chí tình, nhưng Hoàng đế đã có mệnh lệnh rồi, không thể chần chừ để lâu được. Vậy há nên vì tình riêng mà nhàm lời xin hoãn lại?’. Nhà vua bất đắc dĩ phải nhận làm lễ chịu phong.” (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, tập 2, trang 841)

Sau khi thành Thăng Long được khôi phục, Vua Chiêu Thống bèn hạ lệnh thăng chức cho bầy tôi đi hộ giá:

– Phạm Đình Dữ lên Thượng thư bộ Lại.

– Lê Duy Đản và Vũ Trinh lên Tham tri chính sự.

 – Nguyễn Đình Giản lên Thượng thư bộ Binh, tri Xu mật viện sự.

– Nguyễn Duy Hiệp và Chu Doãn Lệ lên đồng tri Xu mật viện sự.

 – Trần Danh Án, lên Phó đô ngự sử.

 – Lê Quýnh lên Trung quân đô đốc, tước Trường phái hầu. Ngoài ra những người khác đều được thăng chức cao thấp khác nhau.

Lại sai trị tội những người hàng Tây Sơn:

 – Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích đều truất làm dân.

– Nguyễn Hoãn bị bãi mất tước quận công.

– Phan Lê Phiên bị giáng xuống Đông Các học sĩ.

– Mai Thế Uông bị giáng xuống Tư huấn.

Phạm Như Tụy (2) Trấn thủ Tuyên Quang, và Dương Bành (3) Phò mã, đều bị bắt và giết chết; vì trước kia, khi quân Tây Sơn kéo đến, Tụy đầu hàng trước tiên, lại bắt em Vua là Lê Duy Trù đưa cho Tây Sơn làm hại; còn Bành thì hướng dẫn quân Tây Sơn đuổi theo bức bách nhà Vua . Bấy giờ Ngô Tưởng Đào, Hiến sát phó sứ Kinh Bắc, vì có công giúp nhà vua, cũng được bổ dụng, nhưng Tưởng Đào lấy cớ già, từ chối không nhận chức và dâng sớ rằng:

Vận trời đang gian truân, không ngờ bây giờ lại được trông thấy ánh sáng của mặt trời và mặt trời đó thực là phúc vô cùng của xã tắc. Nhưng việc binh cốt phải lanh lẹ chớp nhoáng, nếu cơ hội có thể nắm lấy để làm thì cần gì cứ phải một mực ̣a vào ngoại binh, động một tý thì chậm trễ đến hàng tuần. Hiện nay, quân cần vương các lộ, ai chẳng muốn sẵn sàng liều chết để chiến đấu? Bây giờ quân giặc đã rút lui thì ta nên đem đại quân đuổi theo ngay khiến cho quân giặc điên cuồng không rãnh để tính toán mưu đồ gì cả. Thế là làm như sấm vang không kịp bịt tai. Hai xứ Thanh Nghệ nghe biết tin ấy, chắc cũng sẽ hưởng ứng cả. Văn Huệ xa cách ở phía nam Hoành Sơn [núi làm ranh giới Quảng Bình, Hà Tĩnh], bọn Văn Sở lâm vào thế cô, không có cứu viện, tình thế bị ngăn cách, đường đất không thông đồng. Như vậy không quá mười ngày chúng sẽ có thể bị bắt đấy. Một khi vây cánh của Văn Huệ bị cắt rồi thì có thể lần lượt quét sạch sào huyệt của hắn nữa. Cái cơ dấy nghiệp trung hưng chính là ở đó, ta không nên bỏ lỡ“.

Nhà vua cùng bọn cận thần trao đỗi bàn luận, ai nấy đều cho là phải; bèn sai Lê Quýnh đến nói với Sĩ Nghị, nhưng Sĩ Nghị cho là không nên.

Riêng Tôn Sĩ Nghị tâu Vua Càn Long rằng đường vào sào huyệt Tây Sơn tại Quảng Nam  đến trên hai ngàn dặm, lương thực và quân lính chuẩn bị chưa đầy đủ; Vua Lê Chiêu Thống thuộc loại thiếu khả năng không trợ giúp được gì, thời tiết mưa nhiều, chướng lệ xãy ra; nên xin tạm hoãn binh:

Ngày 19 tháng Chạp năm Càn Long thứ 53 [14/1/1789].

…Theo lời tâu của Tôn Sĩ Nghị ‘Thành nhà Lê cách sào huyệt của giặc tại Quảng Nam hơn 2000 dặm, mà Lê Duy Kỳ thuộc loại không có khả năng, không lo liệu được việc đóng thuyền và mướn phu. Số lính Tôn Sĩ Nghị tiếp tục điều, cùng các loại lương thực cũng chưa đưa ra khỏi quan ải; chờ khi quân và lương có đầy đủ, sẽ từ thành nhà Lê tiến đánh. Lần này gặp mùa xuân mưa nhiều, địa phương An Nam có nhiều chướng lệ, sợ quan binh không quen thủy thổ dễ sinh ra bệnh tật thì lại càng bất tiện.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1319, trang 6-9)

Bấy giờ luôn năm mất mùa, đói kém, nhất là năm nay lại càng quá lắm. Quân lính nhà Thanh đóng ở kinh thành càn rỡ cướp bóc; dân chúng lại càng chán ghét. Triều đình đốc thúc lương quân, các châu và huyện đều không cung ứng. Nhà vua bèn sai các quan trong triều chia nhau làm việc này; dân chúng có người đến nỗi phải khóc lóc mà dâng nộp; bao nhiêu lương và tiền mà triều đình thu được của dân đều đem cung đốn cho quân Thanh hết sạch. Còn vài vạn người vừa nghĩa binh các đạo vừa ưu binh Thanh Nghệ thì đều chịu đói đi theo việc binh nhung; do đó lòng người lại càng chia rẽ tan tác.

Nhà vua lại có tính hẹp hòi, khắc nghiệt. Trong họ tôn thất có người phụ nữ lấy tướng giặc, đang có mang, cũng bị nhà vua sai mổ bụng chết. Lại sai chặt chân ba người chú họ, quăng ra chợ trong cung. Khi từ Quảng Tây trở về đến thành Thăng Long, Thái hậu nghe biết những việc làm ngang ngược của nhà Vua, chỉ thưởng hay phạt một chiều theo tình cảm riêng mình yêu hay ghét, bà nổi giận nói:

 “Trải bao cay đắng, ta mới cầu xin được quân cứu viện sang đây, nước nhà phỏng chừng chịu được bao phen phá hoại bằng cách đền ơn báo oán thế này! Thôi diệt vong đến nơi rồi!”

Rồi bà gào khóc, không chịu vào cung. Bầy tôi theo hầu là Nguyễn Huy Túc, phải khuyên giải mãi, Thái hậu mới thôi.

Về phía quân Thanh, Tôn Sĩ Nghị đã tâu rằng đường vào sào huyệt Tây Sơn xa xôi hiểm trở, cần chuẩn bị kỹ, nên chưa thể tiến ngay được. Vua Càn Long bèn ra chỉ dụ chỉ cần tiến một đoạn; nếu như Nguyễn Huệ cho người cam kết nhận tội xin tha, thì cũng chấp nhận:

Ngày 20 tháng Chạp năm Càn Long thứ 53 [15/1/1789].

Dụ tiếp: Trước đây đã từng dụ Tôn Sĩ Nghị rằng nếu như Nguyễn Huệ trốn xa, cần phải nhiều thời gian mới đánh bắt được, thì không đáng để binh lực nội địa đóng lâu nơi nóng nực hoang dã, lập kế đánh bắt bọn trốn tránh cho thuộc quốc. Hôm qua căn cứ vào lời tâu của Tôn Sĩ Nghị rằng đường tới Quảng Nam xa xôi hiểm trở, không thể tiến ngay để thâm nhập được. Nay lại ra chỉ dụ cho Tôn Sĩ Nghị chỉ cần tiến một một đoạn, nếu như Nguyễn Huệ sợ không ra, nhưng cho người cam kết xin hàng, nhận tội cầu xá thì cũng xong việc. Rồi nhân thừa dịp tuần tra đồn trạm biên giới, rút quân về Lưỡng Quảng….” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1319, trang 11)

Không kể việc phải tăng cường quân lính, Tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh ước tính việc xâm lăng sào huyệt Tây Sơn tại Quảng Nam,  nhu cầu dân phu điều hành các trạm lương đến trên mười vạn người. Thấy nhiều trở ngại nên Vua Càn Long đề xuất việc triệt binh:

Ngày 21 tháng chạp năm Càn Long thứ 53 [16/1/1789].

Cứ lời tấu của Tôn Sĩ Nghị ngày hôm qua rằng đất Quảng Nam xa xôi hiểm trở, đại binh khó có thể thâm nhập ngay được. Đã giáng chỉ lệnh Tôn Sĩ Nghị chỉ nên tiến sơ một đoạn rồi tìm cách chiêu hàng. Vạn nhất nếu giặc Nguyễn sợ hãi ra cam kết nhận tội khất hàng, thì cũng coi như đủ xong việc. Lại ra chỉ dụ cho Tôn Vĩnh Thanh thám thính tin tức về việc Tôn Sĩ Nghị triệt binh, đem công việc điều thêm về dân phu, ngựa, đình chỉ ngay. Nay duyệt lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh thì nhu cầu dân phu cho các trạm lương đến trên mười vạn người, tỉnh nhà [Quảng Tây] khó mà chuẩn bị nổi, tất phải nhờ Quảng Đông gánh dùm. Xem tình hình như vậy, từ thành nhà Lê đến Quảng Nam đường sá xa xôi, có nhiều trở ngại rất khó mà lo liệu, nên cũng không cần rầm rộ trưng điều các xứ, gây lắm hao phí.

Nay truyền Tôn Sĩ Nghị, ngay khi tiếp được chỉ dụ này, nếu đã từ thành nhà Lê khởi trình tiến binh, tức làm việc tuần tra biên giới, rồi sấn cơ hội triệt binh. Nếu vì lương thực không đủ nên chưa triệt binh, viên Đốc cần dụ viên Quốc vương chấn tác tự cường, lo mọi việc cho ổn thỏa; rồi chấn chỉnh biên phòng cùng mang quân về Lưỡng Quảng; một mặt báo với quân Vân Nam cũng đồng thời triệt thoái.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1319, trang 12-13)

Tổng đốc Vân Quý Phú Cương cũng tâu rằng từ Vân Nam đến thành Thăng Long đã cho xây 40 đài trạm; nếu tiếp tục tới Quảng Nam phải tăng thêm 53 đài trạm. Số quan binh của tỉnh Vân Nam không đủ để sai khiến, phải điều thêm từ tỉnh Quí Châu; riêng số dân phu phải thuê mướn cũng không dưới 10 vạn tên. Vua Càn Long đành phải nghĩ đến việc triệt binh, lại còn e ngại đạo quân Vân Nam nếu rút lui theo đường Tuyên Quang, Hưng Hóa có thể không được an toàn, Đề đốc Ô Đại Kinh nên điều quân theo Tôn Sĩ Nghị rút về Quảng Tây, rồi do đường bộ đến Vân Nam:

Ngày 27 tháng Chạp năm Càn Long thứ 53 [22/1/1789].

Dụ Quân Cơ Đại thần: Trước đây Tôn Sĩ Nghị cùng Tôn Vĩnh Thanh tâu rằng từ thành nhà Lê đến Quảng Nam hơn hai ngàn dặm, đường sá hiểm trở, tiếp vận lương thực gian nan, cần phải lập hơn 50 đài trạm, mướn phu hơn 10 vạn tên. Xem xét tình hình như vậy nên có biện pháp riêng, ra lệnh cho Tôn Sĩ nghị tính toán để cho triệt binh mau. Nay Phú Cương tâu rằng từ cửa khẩu Vân Nam đến thành nhà Lê đã xây 40 đài trạm, nếu tiếp tục tới Quảng Nam phải tăng thêm 53 đài trạm. Số quan viên của tỉnh Vân Nam không đủ để sai khiến, phải điều thêm từ tỉnh Quí Châu; riêng số dân phu phải thuê mướn cũng không dưới 10 vạn tên, rầm rộ trưng điều phí tổn không biết bao nhiêu mà kể. Huống hồ số dân phu tại tỉnh Quảng Tây khó mộ, nên đã yêu cầu tỉnh Quảng Đông mộ giúp thêm, như vậy tỉnh này làm sao có thể giúp Vân Nam vận chuyển được!

….Quân lính tỉnh Vân Nam hiện đang tới thành nhà Lê, nếu theo đường Tuyên Quang, Hưng Hóa triệt thoái, phải lưu ý rằng xứ này không phải là đất nội địa, lại cách Quảng Nam không xa, dọc đường không thể không gia tăng đề phòng. Quảng Tây, Vân Nam giáp giới; quân Vân Nam nên rút lui theo đường Quảng Tây, rồi do đường bộ rút về Vân Nam thì không lo bị tổn thất. Nếu Tôn Sĩ Nghị cùng Ô Đại Kinh định cho đại quân Vân Nam triệt thoái theo đường Quảng Tây, thì nên cho đạo quân này tháp tùng đạo quân Quảng Tây để cùng triệt thoái. Nhớ thông báo cho Phú Cương về số quân đóng tại vùng Đô Long để phòng thủ biên giới, hãy rút về Vân Nam. Đừng nghĩ rằng Tuyên Quang, Hưng Hóa đã thu phục, không tiện bỏ đi mà không phòng thủ, để đạo quân đơn độc đóng tại đó lâu ngày rồi đi đến lầm lỡ. Nếu Tôn Sĩ Nghị và Ô Đại Kinh bàn bạc xét thấy đạo quân Vân Nam nên rút lui theo đường Tuyên Quang, Hưng Hóa tiện hơn thì Trẫm cũng không khăng khăng là không thể được. Nói tóm lại, do viên Tổng đốc trù hoạch cho vẹn toàn, chỗ nào thuận tiện thì đi theo chỗ đó, bất tất vì chỉ dụ này rồi sinh ra câu nệ. (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1319, trang 27-30)

Tình hình đạo quân Vân Nam, Đề đốc Ô Đại Kinh và Thổ mục Hoàng Văn Đồng đã chiếm Tuyên Quang vào ngày 16/1/1789, rồi tiếp tục tiến xuống Sơn Tây. Riêng Tổng đốc Phú Cương phúc tấu đã rút lui về Đô Long (4), bấy giờ vùng đất này vẫn thuộc An Nam do Hoàng Văn Đồng cai quản; nên Vua Càn Long cẩn thận hơn, bắt Phú Cương phải rút lui vào nội địa:

Ngày 12 tháng Giêng Năm Càn Long thứ 54 [6/2/1789].

Dụ Quân Cơ Đại thần: Theo lời phúc tấu của Phú Cương: hiện tại vấn đề trù biện tiếp tế vận lương đã có nền nếp, lập tức tuân theo chiếu chỉ rút lui về Đô Long cùng miền duyên biên trú đóng, làm thế thanh viện từ xa cho Ô Đại Kinh.

Quan quân Lưỡng Quảng phái đến dẹp giặc tại An Nam đã nhận được chỉ dụ, lệnh Tôn Sĩ Nghị tức tốc triệt hồi. Số quân Vân Nam triệt hồi đã giao cho Tôn Sĩ Nghị ước lượng nên rút theo con đường Quảng Tây, hoặc vẫn dùng con đường Tuyên Quang để về Vân Nam. Căn cứ lời tâu của Ô Đại Kinh, vào ngày 21 tháng 12 năm ngoái [16/1/1789], quan binh tới Tuyên Quang sắp xếp trong một, hai ngày rồi khởi trình đến thành nhà Lê. Đến ngày hôm nay chắc viên Đề đốc đã diện kiến Tôn Sĩ Nghị, hai bên sẽ thảo luận kỹ càng nên triệt binh theo hướng nào, quân Vân Nam không còn phận sự đến Quảng Nam hội tiễu; vùng Đô Long cũng không cần đóng quân để làm thế thanh viện. Vậy Phú Cương không có việc gì nơi biên cảnh, nay ra lệnh viên Tổng đốc rút quân trở về nội địa để lo việc địa phương, không cần trú lâu tại Đô Long nữa. Dụ này được truyền theo độ khẩn 500 dặm 1 ngày [250 km.]” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1320, trang 14)

Trong cuộc hành quân chiếm thành Thăng Long, đạo quân thứ 3 do viên Tri Điền châu Sầm Nghi Đống chỉ huy theo hướng Mục Mã, Cao Bằng, qua Thái Nguyên, đến thành Thăng Long; được Vua Càn Long chấp nhận lời xin của Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị, thưởng cho mũ Hoa Linh. Vào dịp Tây Sơn đại phá quân Thanh, Nghi Đống thua trận phải thắt cổ tự tử:

Ngày 16 tháng Giêng năm Càn Long thứ 54 [10/2/1789]

Lại dụ: Tôn Sĩ Nghị tâu rằng lúc đại binh vượt sông Phú Lương [Hồng Hà] có 5 viên võ quan gồm Thủy Sư Tham tướng Hứa Đình Tiến, các Đô ty Phú Tang A, Lô văn Khôi, Thiên tổng Vương Thành Kiệt, Bả tổng Trương Chấn Tường, người thì hăng hái tranh tiên vượt sông, kẻ thì tại bờ giết giặc rất dũng cảm; lại có Phó tướng Đức Khắc Tinh Ngạch, Du kích Vương Đàn, Quảng Đông Phòng thủ La Định Châu, Nghiêm Thủ Điền, Quảng Tây Tá tạp Cao Đình Khu, Vương Phương Duy làm việc tại quân doanh, lo liệu mọi việc khẩn yếu hết sức cố gắng; Tri Điền châu Sầm Nghi Đống mang quan binh Thổ tiến đánh  theo hướng Mục Mã, Cao Bằng để chia thế giặc, ra sức tảo thanh con đường qua tỉnh Thái Nguyên. Danh sách kể trên gồm 10 viên văn, võ; 1 viên Thổ Tri châu có thể ban thưởng mũ Hoa Linh được chăng?

Chiếu theo điều xin nay ban thưởng mũ Hoa Linh cho Đức Khắc Tinh Ngạch, Hứa Đình Tiến, Vương Đàn, Nghiêm Thủ Điền, Sầm Nghi Đống…..”(Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1321, trang 1-4)

Vua Càn Long nhận tờ tâu của Ô Đại Kinh vào ngày 20 tháng giêng năm Càn Long thứ 54 [14/2/1789], thông thường lính chạy trạm theo lối hỏa tốc về kinh mất khoảng 22 ngày, như vậy gửi đi vào khoảng giáp tết. Trong tờ tấu Đề đốc Ô Đại Kinh cho biết đã gặp Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị tại thành Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị cho biết có ý định dời trại, tiến quân quan sát tình hình, Ô Đại Kinh cũng muốn nhân dịp chiêu dụ Tây Sơn. Y định của bọn đầu sỏ xâm lăng chỉ mới nằm trong đầu óc chưa kịp thực hiện, thì ngày mồng năm tết, đại quân của Vua Quang Trung rầm rộ kéo vào thành Thăng Long tiêu diệt chúng:

Ngày 20 tháng giêng năm Càn Long thứ 54 [14/2/1789]

Dụ các Quân Cơ Đại thần: Đại binh tiễu trừ giặc tại An Nam mấy lần đoạt chiến thắng, thu phục thành nhà Lê, phong Lê Duy Kỳ làm An Nam Quốc vương; Ô Đại Kinh mang quân Vân Nam theo hướng Tuyên Quang đã đến thành nhà Lê hội họp với Tôn Sĩ Nghị. Đất đai nhà Lê lấy lại hoàn toàn, Thiên triều làm công việc ‘vỗ về nước nhỏ, nối dòng kế vị’ đến chỗ hoàn thiện; coi như xong có thể rút quân. Đã mấy lần giáng chỉ dụ cho Tôn Sĩ Nghị ước lượng tình hình để cấp tốc triệt hồi. Nay đọc tờ tấu của Ô Đại Kinh cho biết Tôn Sĩ Nghị định dời trại, tiến quân quan sát tình hình. Hoặc nhân Ô Đại Kinh đang muốn chiêu dụ Nguyễn Huệ, Tôn Sĩ Nghị điều quân ra vẻ tiến để ra uy, khiến giặc sớm ra đầu hàng. Nhưng phía nam thành nhà Lê đường sá hiểm trở, chuyển lương khó khăn; những số lương thực định chuyển từ trong nội địa, cùng quan binh điều thêm Tôn Sĩ nghị đã tâu xin đình chỉ; tấu sớ gần đây viên Tổng đốc này cũng không đề cập đến lương thảo. Nay nếu dời trại tiến quân, đợi Nguyễn Huệ ra đầu hàng, không khỏi kéo dài ngày tháng, số lương thực cần dùng sợ không tiếp tế kịp. Nay truyền cho Tôn Sĩ Nghị, hãy tính toán số lương thực tồn kho so với số lượng quan binh dùng hàng ngày, cùng dự trù cung cấp dọc đường khi triệt binh, không để cho thiếu hụt mới được. Nếu trước khi chiếu chỉ này tới, có tin về việc Nguyễn Huệ ra đầu hàng thì tốt. Nếu không, Tôn Sĩ Nghị cần tuân theo chỉ dụ trước tức tốc triệt binh, cùng báo cho Ô Đại Kinh để cùng triệt một lần; không thể vì kế sách chiêu hàng rồi cho đại binh đóng lâu ở nước này, để đến nỗi thiếu hụt lương thực.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 1321, trang 8-9)

Tại miền Nam vào tháng 10 [29/10-27/11/1788], sau khi tái chiếm Gia Định Nguyễn vương Phúc Ánh ra lệnh cấm đánh bạc. Phàm văn khế nợ đánh bạc từ trước đều bỏ; ai mở sòng chứa bạc, xét thực thì gia tài người chủ sòng bị sung công; thu tiền mặt ở sòng và thu mỗi người đánh bạc 10 quan để thưởng cho người cáo giác. Những người phạm đều bị xử 100 roi và làm dịch phu 3 năm.

Bắt đầu đặt phủ binh tức lính địa phương tại 4 dinh: Phiên Trấn [Gia Định] Trấn Biên [Biên Hòa], Trấn Định [Định Tường ] , Vĩnh Trấn [Vĩnh Long] ; cho thực hiện tại Phiên Trấn trước, Vương dụ dân chúng rằng :

Dân là gốc của nước, binh là để giữ dân. Từ khi vận nước gian truân, người gặp khốn khổ, nhân dân mong ta như con mong mẹ, nay mới bắt đầu khôi phục nên cần vỗ yên nuôi nấng để hả lòng dân mong đợi. Nhưng giặc chưa dẹp xong mà số quân lại ít, không thể không tìm cách chế ngự, nên hãy tạm tòng quyền theo việc cũ nhà Chu nhà Đường, không việc thì cày ruộng, có việc thì làm binh. Các tổng xã thôn phường các ngươi đều phải ghi số dân đệ nộp, kén những người đinh tráng, lấy một nửa lập làm phủ binh, kết thành thập và ngũ để phòng việc gấp mà đánh giữ. Ngày sau việc quân bớt bận sẽ đều cho về nghỉ ngơi. Bọn ngươi nên thể lòng ta, đừng nên nghi sợ”.

Chú thích:

1.Hỏa sang: sang còn đọc là thương; hỏa sang là một loại súng trường.

2.Phạm Như Tụy: Người xã Phúc Dương, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh, đỗ Tạo sĩ.

  1. Dương Bành: Người xã Phong Phú, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh.
  2. 4. Đô Long: trước kia thuộc Việt Nam, sau hoà ước Pháp Thanh năm 1885 sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc, hiện nay là thị xã Đô Long thuộc huyện Mã Quan, Vân Nam.

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này