Việt Nam cuộc chiến cần thiết – Bài 1

Lý giải lại cuộc chiến thảm khốc nhất của Hoa Kỳ

Michael Lind

Trần Quang Nghĩa dịch

LỜI NÓI ĐẦU

Không, người Mỹ không biết chiến đấu. Đặc biệt là sau Chiến tranh Triều Tiên, họ đã mất khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô lớn. Họ đang đặt hy vọng vào bom nguyên tử và sức mạnh không quân. Nhưng người ta không thể chiến thắng một cuộc chiến với điều đó. Người ta cần bộ binh, và họ không có nhiều bộ binh; bộ binh họ có rất yếu. Họ đang chiến đấu với Hàn Quốc nhỏ bé, và mọi người đã khóc ở Hoa Kỳ. Điều gì sẽ xảy ra nếu họ bắt đầu một cuộc chiến tranh quy mô lớn? Sau đó, có lẽ, tất cả mọi người sẽ khóc.

-JOSEPH STALIN nói với CHU ÂN LAI, ngày 20 tháng 8 năm 1952

Hoa Kỳ có dân số 200 triệu người, nhưng không thể chịu đựng được chiến tranh.

MAO TRACH ĐÔNG nói với PHẠM VĂN ĐỒNG, NGÀY 17 THÁNG 11 NĂM 1968

 

Lời Nói Đầu

Đã tìm cách tránh kết cục này, Hoa Kỳ bỗng thấy mình rơi vào cuộc chiến.

Trận địa này là một bán đảo nghèo khó gần một khu vực công nghiệp lớn, mà Hoa Kỳ đã cam kết theo đuổi một liên minh quân sự lâu đời. Kẻ thù là một nhà độc tài cộng sản đã khéo léo vận dụng chủ nghĩa dân tộc trong nỗ lực đoàn kết tất cả các thành viên trong nhóm sắc tộc của mình thành một quốc gia mở rộng duy nhất nằm dưới sự cai trị của chế độ cộng sản-dân tộc. Chế độ của nhà độc tài, phớt lờ tối hậu thư của Hoa Kỳ và các đồng minh, vẫn tiếp tục tài trợ cho một cuộc chiến tranh cường độ thấp chống lại cư dân của một lãnh thổ láng giềng mà những người theo chủ nghĩa dân tộc-cộng sản tìm cách đặt dưới quyền kiểm soát của họ.

Địa hình nhiều cây cối và núi non thuận lợi cho những người theo chủ nghĩa dân tộc-cộng sản.

Trong suốt lịch sử, khu vực này đã bị xâm lược nhiều lần bởi các thế lực ngoại bang và thường chuốc lấy thất bại. Tổng thống Hoa Kỳ và các cố vấn của ông, sửng sốt trước số lượng binh sĩ được yêu cầu mà Lầu Năm Góc ước tính,  đã nhiều lần gác lại kế hoạch gửi lực lượng bộ binh binh  tới.

Tuy nhiên, chính quyền tin rằng điều gì đó phải được thực hiện. Nếu Hoa Kỳ để cho chế độ cộng sản-dân tộc chủ nghĩa làm nhục mình, thì uy tín quân sự của Hoa Kỳ sẽ bị hủy hoại nghiêm trọng. Liên minh khu vực do Hoa Kỳ lãnh đạo có thể tan rã khi các quốc gia trong khu vực mất niềm tin vào sự bảo vệ của Hoa Kỳ. Trên khắp thế giới, cả kẻ thù và đồng minh đều có thể coi sự rút lui của Mỹ là dấu hiệu của sự bất lực về quân sự hoặc thiếu quyết tâm chính trị. Danh tiếng của Hoa Kỳ về sức mạnh và quyết tâm, cơ sở xếp hạng của nó trong hệ thống phân cấp khu vực và toàn cầu,  ở mức lâm nguy.

Tổng thống miễn cưỡng ra lệnh ném bom quê hương của nhà độc tài theo chủ nghĩa dân tộc-cộng sản, hy vọng rằng chỉ riêng sức mạnh không quân sẽ buộc nhà độc tài phải từ bỏ chiến dịch xâm lược của mình. Mặc dù đa số người Mỹ ban đầu ủng hộ việc đánh bom, còn những phe chỉ trích tổng thống cáo buộc ông tiến hành chiến tranh vi phạm Hiến pháp. Một số nhà báo và trí thức cực tả  hàng đầu đã tố cáo vụ đánh bom là hành động vô đạo đức của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. “Những người theo chủ nghĩa hiện thực” trên báo chí và học viện, bác bỏ tầm quan trọng của uy tín quân sự của Hoa Kỳ như một yếu tố trong chính trị thế giới, tuyên bố rằng không có lợi ích sống còn nào của Mỹ bị đe dọa ở khu vực nghèo nàn và ngoại vi này của thế giới. Một số người bảo thủ tố cáo những hạn chế trong nỗ lực quân sự là bằng chứng cho tính điên rồ khi cố gắng tiến hành một “cuộc chiến tranh vì tự do”.

Khi việc ném bom ban đầu không thể thay đổi chính sách của kẻ thù, áp lực buộc tổng thống phải tung quân trên bộ tăng lên. Tổng thống, một chính trị gia quan tâm đến cơ chế cải cách trong nước hơn là chính sách đối ngoại, đã cân nhắc các lựa chọn của mình. Thoái lui vào thời điểm này sẽ dẫn đến sự sỉ nhục tàn khốc cho Hoa Kỳ, với những hậu quả trên toàn thế giới không thể lường trước được nhưng có thể rất nghiêm trọng. Còn leo thang chiến tranh bằng cách tung bộ binh vào sẽ có nguy cơ dẫn đến một thảm bại đẫm máu và một phản ứng chính trị dữ dội. Mọi lựa chọn đều có khả năng xảy ra thảm họa.

Đây là mô tả về tình huống mà Tổng thống Bill Clinton phải đối mặt vào mùa xuân năm 1999, sau khi Hoa Kỳ và các đồng minh NATO của họ bắt đầu ném bom Serbia với mục tiêu buộc nhà độc tài Nam Tư Slobodan Milosevic đồng ý trao quyền tự trị cho sắc tộc Albania chiếm đa số ở tỉnh Kosovo thuộc Nam Tư. Đó cũng là mô tả tình thế tiến thoái lưỡng nan của Tổng thống Lyndon Johnson vào mùa xuân và mùa hè năm 1965, khi thất bại của Mỹ trong các cuộc ném bom chống lại miền Bắc nhằm ngăn cản chế độ độc tài cộng sản của Hồ Chí Minh từ bỏ cuộc chiến tranh cấp thấp chống lại miền Nam Việt Nam đã trở nên rõ ràng. Trong mỗi trường hợp, điều đe dọa đối với Hoa Kỳ là uy tín của nước này với tư cách là cường quốc quân sự thống trị toàn cầu và sự tồn tại của một liên minh khu vực— NATO trong trường hợp chiến tranh Balkan, Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) trong trường hợp cuộc xung đột ở Đông Dương. (Trên thực tế, SEATO đã giải thể, khi Hoa Kỳ bỏ rơi Đông Dương để cộng sản xâm chiếm từ năm 1973 đến năm 1975.)

Cả Slobodan Milosevic và Hồ Chí Minh đều là những nhà độc tài cộng sản đã thao túng chủ nghĩa dân tộc của nhân dân  họ – Milosevic phục vụ cho giấc mơ của ông ta về một Đại Serbia thống trị liên bang Nam Tư cũ, Hồ phục vụ cho giấc mơ về một nước Việt Nam thống nhất thống trị toàn bộ Đông Dương. Cả Milosevic và Hồ đều thúc đẩy các mục tiêu của họ bằng cách hỗ trợ các chiến dịch du kích khủng bố ở các quốc gia khác. Milosevic đã vũ trang, cung cấp và chỉ đạo các đơn vị bán quân sự người Serb tham gia giết người hàng loạt và thanh trừng sắc tộc ở Bosnia, Kosovo và các vùng khác của Nam Tư cũ; Hồ vũ trang, cung cấp và chỉ đạo du kích Việt Cộng ở Nam Việt Nam, Lào và Campuchia tiến hành chiến tranh chống lại các lực lượng quân sự và cảnh sát Nam Việt Nam và sát hại hàng chục ngàn quan chức và thường dân Miền Nam. Trong cả hai trường hợp, các cuộc chiến tranh cường độ thấp do các nhà độc tài theo chủ nghĩa dân tộc-cộng sản phát động đã tạo ra làn sóng người tị nạn như thủy triều. Hàng trăm nghìn người không phải là người Serbia đã bị buộc phải rời bỏ nhà cửa của họ ở các vùng khác nhau của Nam Tư cũ do cuộc thanh trừng sắc tộc của người Serbia. Gần một triệu cư dân miền Bắc Việt Nam chạy trốn khỏi ách cai trị của Hồ Chí Minh vào những năm 1950, và sau cuộc chinh phục miền Nam Việt Nam của cộng sản vào những năm 1970, hơn hai triệu người khác đã liều mạng chạy trốn khỏi đất nước. Trong hai nhà lãnh đạo cộng sản-dân tộc chủ nghĩa, Milosevic kém chuyên chế; chế độ Serbia của ông ít đàn áp hơn nhiều so với chế độ của Hồ Chí Minh. Chính quyền sau này là một chế độ độc tài nghiêm khắc theo chủ nghĩa Stalin, không dung thứ cho bất cứ bất đồng chính kiến ​​hay trí thức nào và đã hành quyết tàn nhẫn hơn mười nghìn dân làng Bắc Việt trong vài tháng chỉ vì họ là địa chủ hoặc nông dân giàu có và do đó là “kẻ thù giai cấp”, theo giáo điều của chủ nghĩa Mác-Lê.

Bất chấp những điểm tương đồng này, các cuộc chiến tranh của Mỹ ở bán đảo Balkan và Đông Dương khác nhau ở một khía cạnh cơ bản. Chiến tranh Nam Tư không phải là cuộc chiến ủy nhiệm giữa các cường quốc. Mặc dù Nga phản đối cuộc chiến của NATO chống lại người Serb và cung cấp một số hỗ trợ hạn chế cho chế độ Milosevic, nước Nga thời hậu cộng sản, bị cắt xén, nghèo khó và yếu kém sau sự sụp đổ của Liên Xô, đã không tận lực đánh bại chính sách của Mỹ ở Balkan. Tình hình hoàn toàn khác vào những năm 1960. Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến ủy nhiệm giữa Hoa Kỳ, Liên Xô – lúc đó đang phát triển nhanh chóng về sức mạnh quân sự, sự tự tin và uy tín – và Trung Cộng. Bất chấp sự cạnh tranh giành quyền lãnh đạo khối các quốc gia cộng sản, Liên Xô và Trung Quốc đã hợp tác để hỗ trợ nỗ lực của Miền Bắc nhằm tiêu diệt Miền Nam, để thúc đẩy các cuộc cách mạng cộng sản ở Đông Dương và, nếu có thể, ở Thái Lan, và để làm bẽ mặt Hoa Kỳ. Vào những năm 1990, Serbia là một cường quốc quân sự hạng ba thiếu sự bảo trợ của các cường quốc. Vào những năm 1960, Miền Bắc được bảo vệ khỏi cuộc xâm lược của Mỹ, và được Liên Xô và Trung Quốc trang bị vũ khí và phòng không tối tân, những nước sau này đã gửi hàng trăm nghìn quân để hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Hồ Chí Minh từ năm 1965 đến năm 1968. Đến cuối những năm 1970, cộng sản Việt Nam, sau khi thôn tính Miền Nam, chiếm đóng Campuchia và đoạn tuyệt với và đánh bại Trung Quốc trong chiến tranh biên giới, sở hữu quân đội lớn thứ ba thế giới và cai trị khu vực vệ tinh quan trọng nhất của đế chế Liên Xô bên ngoài Đông Âu. Vào thời điểm Chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ đang tham gia vào một cuộc đấu tranh tuyệt vọng trên toàn thế giới với hai trong số ba quốc gia toàn trị hùng mạnh và máu lạnh nhất trong lịch sử; năm 1999, Hoa Kỳ không phải đối mặt với thách thức đáng kể nào đối với vị thế bá chủ toàn cầu của mình bởi một liên minh cường quốc khác.

Vậy là các cuộc chiến tranh của Mỹ để bảo vệ Kosovo và Miền Nam Việt Nam chủ yếu khác nhau ở khía cạnh này: Tình thế Việt Nam  lâm nguy hơn – hơn rất nhiều.

Do kết quả sự can thiệp của Hoa Kỳ vào vùng Balkan, giả định rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam là một lầm lạc, một giả định vốn được chia sẻ bởi nhiều nhà phê bình trong các lĩnh vực chính trị, không còn hợp lý nữa. Hai lần trong vòng 35 năm, các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ đã can thiệp quân sự quy mô lớn vào một cuộc nội chiến ở một khu vực ngoại vi nhằm chứng tỏ uy tín của Hoa Kỳ với tư cách là một cường quốc quân sự và một nhà lãnh đạo liên minh. Khi tính đến Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam không giống như một ngoại lệ mà giống như một phần tử trong một loạt các cuộc chiến tranh hạn chế tương tự của Mỹ (còn về cuộc chiến 1999, Chiến tranh vùng Vịnh có vẻ như là ngoại lệ đối với chuẩn mực được thiết lập bởi các cuộc chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam và Nam Tư). Cho dù sự can thiệp của Mỹ vào Kosovo cuối cùng có đạt được mục tiêu hay không, một điều chắc chắn là cuộc tranh luận về Chiến tranh Việt Nam tại Hoa Kỳ sẽ không bao giờ như trước nữa.

Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975, nó đã có một cuộc sống thứ hai như một biểu tượng trong chính trị Hoa Kỳ. Đối với cánh tả cực đoan, chiến tranh là biểu tượng cho sự sa đọa của Hoa Kỳ và tội ác của “chủ nghĩa đế quốc tư bản”. Đối với những người theo chủ nghĩa tân biệt lập và “những người theo chủ nghĩa hiện thực” của cánh tả tự do, cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Dương là một sai lầm bi thảm và không cần thiết, đã phát sinh bởi sự kiêu ngạo của Mỹ và nỗi lo sợ  thái quá về mối đe dọa từ Liên Xô và Trung Cộng đối với lợi ích của Mỹ. Những người bảo thủ cũng có quan điểm chính thống của họ về cuộc xung đột. Họ đã cùng với nhiều sĩ quan quân đội chia sẻ lập luận rằng Hoa Kỳ có thể đã đạt được một chiến thắng nhanh chóng và quyết định ở Đông Dương, nếu các nhà hoạch định chính sách dân sự nhu nhược của chính quyền Kennedy và Johnson không “trói tay” quân đội Hoa Kỳ và “từ khước cho phép giới quân sự đánh thắng.”

Một quan điểm đã bị thiếu trong cuộc tranh luận về Chiến tranh Việt Nam. Phe chính trị được biết đến như những người chống cộng theo chủ nghĩa tự do hoặc những người theo chủ nghĩa tự do trong Chiến tranh Lạnh, được nhận diện trong chính quyền Truman, Kennedy và Johnson, đã không còn tồn tại như một lực lượng trong nền chính trị Hoa Kỳ vào những năm 1970, là do sự tái tổ chức đảng phái nhiều hơn là do Chiến tranh Việt Nam. Một nhóm các nhà hoạch định chính sách và nhà tư tưởng tự do thời Chiến tranh Lạnh trước đây đã tìm cách lấy lòng những người phản chiến cánh tả và tự do, những người đang lên ngôi trong đảng Dân chủ sau năm 1968. Trong số này có McGeorge Bundy quá cố và anh trai William (người, như một phần trong chiến dịch  phục hồi địa vị chính trị bản thân, gần đây đã viết một cuốn sách gay gắt chỉ trích cách Nixon và Kissinger tiến hành cuộc chiến mà nhà Bundy đã giúp khởi xướng). Cựu bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara không chỉ công khai từ bỏ việc ủng hộ cuộc chiến trong cuốn sách Nhìn lại quá khứ mà còn chịu đựng sự lạm dụng của các quan chức của chế độ độc tài Việt Nam trong chuyến hành hương bẽ mặt tới Việt Nam năm 1997. Một nhóm khác gồm những người theo chủ nghĩa tự do thời Chiến tranh Lạnh trước đây đã gia nhập lực lượng phe bảo thủ chống Liên Xô, duy trì sự ủng hộ của họ đối với Chiến tranh Lạnh trong khi từ bỏ chủ nghĩa tự do ủng hộ lao động của họ trong nền chính trị đối nội. Do đó, số lượng những người theo chủ nghĩa tự do thời Chiến tranh Lạnh chưa được tái cấu trúc đã giảm dần trong những năm 1970 và 1980, khiến những người cánh tả cực đoan, những người theo chủ nghĩa tự do cánh tả và những người bảo thủ dễ dàng tham gia vào các cuộc thảo luận về Chiến tranh Việt Nam và chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong những năm 1960, để biếm họa và phỉ báng các Tổng thống Kennedy và Johnson và các cố vấn của họ mà không sợ bị phản bác.

Hầu hết mọi thứ do người Mỹ viết về Chiến tranh Việt Nam trong một phần tư thế kỷ qua đều tuân theo một trong ba kịch bản của chủ nghĩa cánh tả cực đoan, chủ nghĩa tự do chống Chiến tranh Lạnh hoặc chủ nghĩa bảo thủ. Mỗi trường phái trong số ba đảng phái này dường như đều có bằng chứng hỗ trợ cho những định kiến ​​​​của mình, trong khi bỏ qua bằng chứng đi ngược lại với chúng. Những cuộc tranh luận mang tính nghi thức này có thể đã tiếp tục trong một hoặc hai thế hệ nữa. Nhưng hai diễn biến lịch sử giờ đây khiến có thể đánh giá lại các kết quả tranh luận kéo dài 30 năm về Chiến tranh Việt Nam.

Diễn biến đầu tiên là sự kết thúc Chiến tranh Lạnh và hậu quả của nó, bao gồm sự sụp đổ toàn cầu của chủ nghĩa cộng sản và sự sắp xếp lại nền chính trị thế giới xung quanh Hoa Kỳ với tư cách là cường quốc quân sự bá chủ. Chỉ bây giờ mới có thể xem Chiến tranh Lạnh một cách tổng thể và đánh giá chiến lược ngăn chặn toàn cầu của Hoa Kỳ đã dẫn đến các cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ để bảo vệ Hàn Quốc và Nam Việt Nam, cũng như chính quyền bảo hộ của Hoa Kỳ đối với Đài Loan – “ba mặt trận,” theo Mao Trạch Đông, nơi khối cộng sản đụng đầu khối Mỹ ở Đông Á.

Diễn biến thứ hai là sự sụp đổ của cánh tả cực đoan ở Bắc Mỹ và Tây Âu với tư cách là một lực lượng chính trị (chủ nghĩa tả khuynh chỉ tồn tại lác đác trong các học viện và báo chí). Trong những năm 1960 và 1970, uy thế lên cao của cánh tả cực đoan trong các đảng tự do và dân chủ xã hội của phương Tây – Đảng Dân chủ ở Hoa Kỳ, Đảng Lao động Anh và Đảng Dân chủ Xã hội Đức –  đã khiến các cử tri phương Tây chuyển sang các đảng bảo thủ, chống cộng sản. dưới sự lãnh đạo của Ronald Reagan, Margaret Thatcher, và Helmut Kohl. Những khó khăn kinh tế của nền dân chủ xã hội Thụy Điển, xảy đến ngay sau sự sụp đổ của Liên Xô, đã làm mất uy tín của chủ nghĩa Mác phương Tây cũng như phương Đông và cho phép xuất hiện một phe trung tả mới, ôn hòa hơn, được mô tả bằng các thuật ngữ khác nhau là “Con đường thứ ba” hoặc “Trung tâm mới” mà biểu tượng là Tổng thống Bill Clinton và thủ tướng Anh Tony Blair. Gần đây nhất là Chiến tranh vùng Vịnh, mà đa số áp đảo đảng viên Đảng Dân chủ trong Quốc hội đã bỏ phiếu chống, các cuộc tranh luận về chính sách đối ngoại ở Hoa Kỳ là trận đọ sức giữa những người cánh tả chống Mỹ và những người theo chủ nghĩa tự do chủ trương biệt lập chống lại những người bảo thủ theo chủ nghĩa can thiệp.

Nhưng cuộc chiến NATO do Hoa Kỳ lãnh đạo sau đó ở Balkan, được nhiều người theo chủ nghĩa tự do hậu thuẫn và bị phản đối bởi một số người bảo thủ, đã giúp phục hồi tính hợp pháp của việc Mỹ can thiệp quân sự cho nhóm người Mỹ trung tả.

Những diễn biến này trong chính trị toàn cầu và chính trị phương Tây đã trợ giúp hoàn thành cuốn sách này, điều không thể được thực hiện vào những năm 1970 hoặc 1980. Trong cuốn sách này, tôi xem xét Chiến tranh Việt Nam trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh đã kết thúc, từ góc độ ôn hòa, có thiện cảm với các nhà hoạch định chính sách thời Chiến tranh Lạnh hơn góc độ của những người chỉ trích họ ở cả cánh tả lẫn cánh hữu.

HOA KỲ tham chiến ở Việt Nam vì địa chính trị, và thất bại trong cuộc chiến vì chính trị trong nước. Trong trường hợp này, tôi đưa ra hai lập luận chính trong cuốn sách này, một về địa chính trị, và một về chính trị nội bộ của Mỹ thời Chiến tranh Lạnh. Lập luận về địa chính trị là trong hoàn cảnh của Chiến tranh Lạnh, và đặc biệt là trong hoàn cảnh của những năm 1960, Hoa Kỳ có lý khi tiến hành một cuộc chiến tranh hạn chế để bảo vệ miền Nam Việt Nam và các nước láng giềng chống lại khối cộng sản. Lý lẽ về chính trị nội bộ của Hoa Kỳ là Chiến tranh Việt Nam không phải là nguyên nhân gây chia rẽ duy nhất. Thay vào đó, cuộc xung đột ủy nhiệm cụ thể thời Chiến tranh Lạnh này đã phơi bày các mối chia rẽ có từ trước về vấn đề khu vực, sắc tộc và chủng tộc trong lập trường đối ngoại – những mối chia rẽ quen thuộc có từ các cuộc chiến trước đây của Mỹ vào thế kỷ 19 và 20.

Hai chủ đề địa chính trị và chính trị nội bộ có mối liên hệ với nhau bởi vấn đề chi phí, của cải và xương máu, của chính sách Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ. Trong cả hai cuộc chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam, cán cân quyền lực giữa những người theo chủ nghĩa can thiệp và những người theo chủ nghĩa biệt lập trong Quốc hội Hoa Kỳ và công chúng nói chung được giữ vững bởi “số phiếu của nhóm cử tri không trung thành với một đảng cố định” nhạy cảm với số thương vong. Trong những năm 1960 và 1970, Hoa Kỳ không thể làm quá ít ở Đông Dương, vì sợ thất bại thảm hại trong Chiến tranh Lạnh—một cuộc đấu tranh để kiểm tra thần kinh cũng như kiểm tra sức mạnh. Đồng thời, Hoa Kỳ không thể làm quá nhiều ở Đông Dương, vì sợ làm suy yếu sự ủng hộ của công chúng trong nước, trước hết là để bảo vệ mặt trận Đông Dương, và sau đó là chiến lược Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ nói chung. Sự lựa chọn giữa uy tín toàn cầu và sự đồng thuận trong nước đã gây tác động lên các nhà lãnh đạo Mỹ vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970 bởi cái giá phải trả cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam, chủ yếu là cái giá phải trả cho sinh mạng người Mỹ, mặc dù giá phải trả cho mạng sống người dân Đông Dương và cái giá phải trả cho cơ sở hạ tầng quân sự toàn cầu của Mỹ và quyền bá chủ tài chính của nó cũng là các nhân tố rất quan trọng.

Vì vậy, đây là câu chuyện tôi phải kể về Chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ cần phải leo thang chiến tranh vào giữa những năm 1960 để bảo vệ uy tín của Hoa Kỳ với tư cách là một siêu cường, nhưng Hoa Kỳ cũng cần phải từ bỏ cuộc chiến sau năm 1968 để bảo toàn sự đồng thuận chính trị trong nước vì lợi ích của Chiến tranh Lạnh trên các mặt trận khác. Đông Dương xứng đáng tiến hành một cuộc chiến tranh, nhưng chỉ là một cuộc chiến tranh có giới hạn—nhưng không phải là cuộc chiến tranh có giới hạn mà Hoa Kỳ đã thực sự tiến hành.

Lập luận được đưa ra ở đây về cơ bản khác với một sự đồng thuận mới và sai lầm về chủ đề Chiến tranh Việt Nam, vốn đã trở nên có ảnh hưởng trong những năm gần đây. Lập luận đó cho rằng việc can thiệp vào Đông Dương là một sai lầm, nhưng một khi Mỹ đã can thiệp thì lẽ ra phải sử dụng vũ lực vô giới hạn để nhanh chóng giành được thắng lợi hoàn toàn. Sự hấp dẫn về mặt chính trị của sự đồng thuận mới nổi này là rõ ràng. Mặc dù nó không mang lại điều gì cho cánh tả cực đoan, nhưng nó lại nhượng bộ những người tự do cánh tả “theo chủ nghĩa hiện thực” (vốn được thừa nhận là đã đúng về chiến lược của Hoa Kỳ) và những người bảo thủ chủ chiến (vốn được thừa nhận là đã đúng về chiến thuật của Hoa Kỳ). Là một công thức tu từ có thể “chữa lành vết thương của Việt Nam”, sự tổng hợp mới xuất hiện này có nhiều chất lượng hấp dẫn. Thật không may, đối với cách đánh giá về Chiến tranh Việt Nam nó lại sai, và đối với mức độ ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, nó thật nguy hiểm.

Ngoài việc xem xét Chiến tranh Việt Nam từ góc độ hậu Chiến tranh Lạnh, một trong những mục đích của cuốn sách này là làm sáng tỏ lịch sử. Tôi đề cập đến những huyền thoại chính về Việt Nam do cánh tả cực đoan và tự do loan truyền vào thời điểm chiến tranh và được lặp đi lặp lại trong ba thập kỷ sau đó. Khi xem xét hồ sơ lịch sử, người ta thấy rằng:

  • Hồ Chí Minh không phải là nhà ái quốc Việt Nam với chủ nghĩa Mác chỉ là một lớp sơn hời hợt; giống như Kim Nhật Thành của Bắc Triều Tiên và Pol Pot của Campuchia, Hồ vừa là một người theo chủ nghĩa dân tộc vừa là một người theo chủ nghĩa Mác-Lê giáo điều, mà chế độ chuyên chế tàn bạo và khánh kiệt của ông rập khuôn theo Liên Xô của Stalin và Trung Cộng của Mao.
  • Hồ không phải là nhà lãnh đạo quốc gia hợp pháp duy nhất ở Việt Nam; ông và cấp dưới của mình nhận thấy cần phải xử tử, ám sát, bỏ tù và đày ải các nhà lãnh đạo quốc gia không cộng sản và những người bất đồng chính kiến ​​ở cả hai miền Nam Bắc Việt Nam.
  • Hồ không phải là một Tito Đông Nam Á có thể tạo ra một nước Việt Nam thống nhất trung lập giữ khoảng cách bằng nhau với Moscow, Bắc Kinh và Hoa Kỳ trong những năm 1940 hoặc 1950; có phe thân Liên Xô và thân Trung Quốc trong nội bộ Việt Nam, nhưng không có phe thân phương Tây. Hoa Kỳ đã không bỏ lỡ cơ hội kết thân với Hồ vào năm 1945 hoặc 1950 hoặc 1954 hoặc 1956.
  • Miền Nam không vi phạm luật pháp quốc tế khi từ chối tham gia cuộc tổng tuyển cử năm 1956.
  • Vụ sát hại Tổng thống Diệm của Miền Nam trong cuộc đảo chính do Mỹ chấp thuận vào năm 1963 đã không phá hỏng khả năng hòa giải giữa hai Miền Bắc và Nam.
  • Cuộc nổi dậy ở Miền Nam không phải là một cuộc nổi dậy tự phát chống lại chính quyền yếu kém; mặc dù có nhiều người Miền Nam không cộng sản tham gia, cuộc chiến tranh du kích đã được Hà Nội kiểm soát từ đầu đến cuối.
  • Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ nghiêm túc về một chính phủ liên hiệp cho Miền Nam hay cho cả nước, ngoại trừ như một bước đệm để chuyển đổi sang chế độ cộng sản; mồm mép về một chính phủ liên minh chỉ là một mánh khóe tuyên truyền dàn dựng nhằm đánh lừa những người theo chủ nghĩa tự do và cánh tả phương Tây. (Và đã lừa được.)
  • Chế độ Miền Nam không sụp đổ vào năm 1975 chỉ vì nó tham nhũng và bất hợp pháp. Nó rơi vào tay xe tăng Bắc Việt do Liên Xô trang bị chỉ vì Hoa Kỳ, vốn đã giữ lại quân đội ở Hàn Quốc để bảo vệ một chế độ độc tài tương đối tham nhũng và chuyên chế, lại bỏ rơi các đồng minh của mình ở Miền Nam .

Ở một mức độ đáng chú ý, các nhà hoạt động chống Chiến tranh Việt Nam đã sử dụng lại cả tuyên truyền chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa biệt lập từ các phong trào phản chiến trước đây của Mỹ. Ví dụ, phần lớn tuyên truyền chống Diệm và ủng hộ Hồ Chí Minh lặp lại quan điểm của cánh tả phỉ báng Tưởng Giới Thạch của Trung Quốc và Lý Thừa Vãn của Hàn Quốc và lý tưởng hóa Mao Trạch Đông; chỉ có tên của các cá nhân và quốc gia là đã được thay đổi. Nhiều huyền thoại “bỏ lỡ cơ hội” khác nhau về quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam lần đầu tiên được lan truyền trong bối cảnh quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc cộng sản vào những năm 1940. Ảnh hưởng của truyền thống theo chủ nghĩa biệt lập lâu đời ở Hoa Kỳ thể hiện rõ ràng trong các lập luận cho rằng các tên bạo chúa phản trắc Johnson và Nixon là những kẻ gây chiến tranh ở nước ngoài gây nguy hiểm cho Hiến pháp Hoa Kỳ – các lập luận gần giống với các lập luận chống lại các tổng thống thời chiến trước đây, bao gồm Polk, Wilson, Roosevelt và Truman.

Trong phần đề cập đến chính trị trong nước của cuốn sách này, tôi chứng minh sự liên tục phi thường giữa phong trào phản đối Chiến tranh Việt Nam và các phong trào phản đối chiến tranh khác – cả hai những hoạt động trước đó, như các phong trào phản đối sự can thiệp của Hoa Kỳ trong Thế chiến I và II, và những hoạt động tiếp theo, như chiến dịch đóng băng hạt nhân và phản đối Chiến tranh vùng Vịnh. Điều đáng chú ý nhất là sự liên tục trong thái độ của khu vực đối với chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Việc đảng Dân chủ từ bỏ chủ nghĩa tự do thời Chiến tranh Lạnh của Truman, Kennedy và Johnson để chuyển sang chủ nghĩa tân cô lập được biểu tượng bởi George McGovern và Frank Church có thể được giải thích gần như hoàn toàn bằng sự chuyển đổi trên cơ sở khu vực của đảng từ miền Nam Hoa Kỳ hậu thuẫn can thiệp và chủ chiến sang vùng Greater New England, khu vực của Hoa Kỳ gắn liền với lịch sử nước Mỹ với tính nghi ngờ giới  quân đội và sự thù ghét đối với các cuộc chiến tranh của người Mỹ.

Chắc chắn một điều: Sẽ có “những Việt Nam” trong tương lai nước Mỹ, được xác định  hoặc là các cuộc chiến tranh mà mục tiêu của Hoa Kỳ là chứng minh uy tín quân sự của mình trước kẻ thù và đồng minh, hơn là để bảo vệ lãnh thổ của Mỹ, hoặc là các cuộc chiến trong đó kẻ thù từ chối sử dụng các chiến thuật cho phép quân đội Hoa Kỳ hưởng lợi từ lợi thế của mình trong chiến tranh quy ước công nghệ cao. Cuộc chiến ở Kosovo phù hợp với cả hai cách xác định này. Chuẩn bị cho các cuộc chiến vì uy tín và các cuộc chiến phi quy ước của thế kỷ 21 sẽ đòi hỏi cả các nhà lãnh đạo và công chúng ở Hoa Kỳ và các nước đồng minh phải hiểu những gì Hoa Kỳ đã làm sai ở Việt Nam – và, không kém phần quan trọng, để thừa nhận những gì Hoa Kỳ đã làm đúng.

One thought on “Việt Nam cuộc chiến cần thiết – Bài 1

  1. Bài viết hay, tuy nhiên nói rằng; …”Chế độ Miền Nam không sụp đổ vào năm 1975 chỉ vì nó tham nhũng và bất hợp pháp. Nó rơi vào tay xe tăng Bắc Việt do Liên Xô trang bị chỉ vì Hoa Kỳ, vốn đã giữ lại quân đội ở Hàn Quốc để bảo vệ một chế độ độc tài tương đối tham nhũng và chuyên chế, lại bỏ rơi các đồng minh của mình ở Miền Nam” (stop) => thiết tưởng cần phải xem xét lại;
    – Vì thời VNCH cho dù có tham nhũng như cũng chỉ giới hạn!
    – Ngược lại, tham nhũng dưỡi chế độ csvn hiện nay trở thành quốc nạn vô phương cứu chữa, vì nó tham nhũng từ trên xuống dưới và ngược lại, tham nhũng có hệ thống và có ô dù trong cơ chế!
    => Rất đáng buồn, khi Mỹ, thay vì lắng nghe ông Diệm, và cộng tác với ông Diệm trong việc ổn định xã hội và chống cộng hữu hiện theo kinh nghiệm địa phương, thì Mỹ đã xúi giục, tạo cơ hôi, và tung tiền mua chuộc “Đảo chính” và sát hại ông Diệm! Phải chăng đó là cái giá mà Mỹ phải trả với hơn 58’000 sinh mạng binh lính, và nhân dân VN phải gánh chịu hậu quả bi đát dưới ách csvn hiên nay???

    Thích

Bình luận về bài viết này