Vài tên hồ và sông thuộc lưu vực Trường Giang

650px-Map_of_the_Yangtze_River

Trần Vy

Dù người Việt có phủ lên Prei Nokor, Mi Sâr, Long Hôr… lớp áo Hán như Tân Bình, Định Tường, Vĩnh Long… thì những tên gọi Sài Gòn, Mỹ Tho, Long Hồ… vẫn tồn tại bền vững trong hệ thống địa danh khu vực hoặc trong ký ức dân gian.

Vùng Nam Trung nguyên cũng thế, dù địa danh Hán đã được xác lập từ ngàn năm trở lên, thay vì chỉ ba trăm năm như Nam Việt, vẫn còn những dấu tích có thể nhận ra dù phải tốn ít nhiều công sức. Dưới đây, xin giải thích một vài địa danh có nguồn gốc Nam Á ở lưu vực Trường Giang.

  1. Hồ Bà Dương 鄱阳

Xưa có tên đầm Bành Lễ, hay còn gọi là Bành trạch. Hình dạng và vị trí hồ dịch chuyển theo thời gian, tùy thuộc nhiều vào dòng chảy sông Dương Tử.

Hồ Bà Dương, còn gọi là Phàn Dương hay Phồn Dương, từng chứng kiến trận thủy chiến quyết định vận mệnh Trung Hoa giữa Trần Hữu Lượng (1316 – 1363) và Chu Nguyên Chương (1328 – 1398) diễn ra vào năm 1363. Quân Minh cưỡi thuyền nhẹ đã đánh bại đội lâu thuyền chậm chạp của Đại Hán, giết được Hán vương. Thắng lợi giúp Ngô Quốc công khống chế đồng bằng Trường Giang, hình thành cơ sở hậu cần vững mạnh để bắc tiến trục xuất nhà Nguyên về đồng cỏ. Ngày nay, Bà Dương nổi tiếng là nơi hội tụ của các loại chim di trú mà phần lớn là sếu trắng.

1

Sếu hồ Bà Dương (https://bit.ly/3sIKkGu)

Bà 鄱: tên quận và hồ thuộc tỉnh Giang Tây

Âm Hán cổ theo Zhengzhang: /*baːl/ (baal)
Âm Hán trung cổ theo Zhengzhang: /bua/ (bua)

Dương 阳: đối với âm, ánh sáng, mặt trời, phía nam núi hoặc phía bắc sông, họ người… 

Âm Hán cổ theo Zhengzhang: /*laŋ/ (lang)
Âm Hán trung cổ theo Zhengzhang: /jɨɐŋ/ (yưang)

Vậy người Hoa Hạ cổ gọi hồ Bà Dương là hồ “baalang”.

  1. Đầm Bành

Bành 彭: tên nước cổ, họ người, gần, bên…

Âm Hán cổ theo Zhengzhang: /*braːŋ/ (braang)
Âm Hán trung cổ theo Li Rong: /bɐŋ/ (bang)

Vậy người Hoa Hạ cổ gọi đầm Bành là đầm “braang”.

“Bà Dương” hay “Bành” đều không rõ nghĩa vì chúng chỉ là phiên âm Trung Hoa của một địa danh thuộc ngôn ngữ phi Hoa. Địa danh đó có thể là baalang hay braang. Hai từ chỉ khác nhau ở dấu nhấn, một nhấn ở âm tiết đầu của từ song tiết và một lướt qua tổ hợp phụ âm đầu để nhấn mạnh phần nguyên âm của từ đơn tiết. Có vẻ chúng được thực hiện bởi hai nhóm người Hoa khác nhau, về không gian hoặc thời gian, dựa vào duy nhất một sở cứ.

Chúng tôi quan niệm rằng trước khi nhóm nói tiếng proto Austronesian tiến vào Hoa Nam từ phía Đông, các bộ lạc proto Austroasiatic đã sinh sống rải rác từ Trường Giang đến Cửu Long, tức từ /*kroːŋ/ (âm Hán cổ của giang) đến /*k-roːŋ/ (âm proto Vietic của sông/cửu long). Người mới tới chen vào giữa, chia cắt khối thổ dân thành hai nhóm Bắc và Nam. Nhóm Bắc bị Hoa Hán tiêu diệt, đồng hóa, hoặc bị biển người đang khao khát mở rộng không gian sinh tồn xua đuổi khỏi địa bàn truyền thống. Số AA Bắc sống sót chạy dần về Nam nhập vào cộng đồng AA bản địa. Sau công nguyên, nhóm Austronesian, lúc này đã chuyển hóa thành Kra-Dai, một lần nữa chen vào giữa khối AA còn lại ở phương Nam, tách họ thành hai nhóm Đông và Tây như hiện giờ.

Hãy xem xét các âm Mon-Khmer dưới đây:

Proto Mon-Khmer (Bahnaric, Katuic, Khmuic): /*bla[a]ŋ/ (blaang) = một loài chim ồn ào
Proto Katuic: /*blieŋ/ (bliêng) = một loại chim
Proto Palaungic: /*pliiŋ/ (pliing) = chim nhạn
Bahnar [Kontum/Pleiku] (Bahnaric): /bəlaaŋ/ (bơlaang) = chim có lông dựng đứng trên đầu
Sre [Koho] (Bahnaric): /bərlaŋ/ (bơrlang) = chim choi choi, rất ồn ào
Laven [Jru’] (Bahnaric): /pəlaːŋ/ (pơlaang) = chim nhỏ
Bru [TS] (Katuic): /phali̤aŋ/ (phaliang) = chim đầu trắng
Pacoh (Katuic): /parlaːŋ/ (parlaang) = chim én
Kammu-Yuan (Khmuic): /raːŋ/ (raang) = chim hét nhạc (loài Garullax)
Kammu-Yuan (Khmuic): /plàːŋ/ (plaang) = chim cổ lam (loài Erithacus)
Riang (Palaungic): /pleŋ/ (plêng) = chim nhạn
Kinh Việt (Vietic): bồ nông(1)

Mỗi sắc tộc dùng âm blaang, hay dị thể của nó, để chỉ một loài chim đặc thù tại địa bàn cư trú của cộng đồng, tuy nhiên, âm proto Mon-Khmer lại không chỉ định giống chim nào cả. Như thế, có thể hiểu nghĩa cổ của hồ Bà Dương là hồ Chim, đầm Bành là đầm Chim. Hai ngàn năm trước, hoặc xưa hơn nữa, hồ đã là trạm dừng của chim di trú y như hiện tại. Ở Việt Nam, chúng ta quen gọi các địa điểm như vậy là tràm chim.

  1. “Lễ” trong đầm “Bành Lễ 彭蠡”

Lễ 蠡: cái môi (vá), mọt gỗ…

Âm Hán cổ theo Zhengzhang: /*reːlʔ/ hoặc /*ro:l/ (rêêlh) hoặc (rôôl)
Âm Hán trung cổ theo Li Rong: /lie/ hoặc /lua/ (liê) hoặc (lua)

Các âm Mon-Khmer
Proto Mon-Khmer [Mon, Khmer, South Bahnaric, Viet-Muong]: /*kriəlʔ/ (kriơlh) = cò, hạc, sếu
Khmer (Khmeric): /kriəl/ (kriơl) = sếu
Stieng (Bahnaric): /kriɛːl/ (krieel) = sếu
Biat (Bahnaric): /[klaːŋ] krɛːu/ (klaang kreeu) = sếu
Mon (Monic): /krea/ (krêa) = sếu
Kinh Việt (Vietic): sếu

Người Hoa đã ghi lại âm chỉ chim “sếu” của các bộ lạc Mon-Khmer cổ tương đối chính xác. Dù họ không thẩm được yếu tố “k” trong tổ hợp phụ âm đầu nhưng vẫn rất tinh tế khi nhận ra phụ âm cuối “l” hoặc “lʔ”. Có tộc như Khmer hay Stieng nay vẫn duy trì âm chỉ “sếu” gần như nguyên bản; có tộc như Biat (Stieng), Mon hay Kinh Việt lại đánh mất phụ âm “l/lʔ”, giống láng giềng phương Bắc.

Như thế, có thể hiểu đầm Bành Lễ là đầm Chim Sếu.

  1. Đầm Vân Mộng

Cụ Đỗ Thành, qua bài viết “Đụn Tiên – Động Đình hồ – 洞庭湖”, cho rằng “mộng 雲” trong đầm Vân Mộng là ký tự ghi lại một âm tiếng Sở vốn có nghĩa “vùng nước mênh mông”. Cụ cho biết đó là thông tin phổ biến bởi các công ty du lịch, được trích từ thư tịch cổ như Sử Ký, Nhĩ Nhã, Châu Lễ. Theo cụ, âm nguyên thủy của người Sở dùng để chỉ “vùng nước mênh mông” là “bưng” và người Việt hiện nay cũng phát âm giống hệt như thế. Nhiều địa phương ở Trung Hoa dùng phụ âm “m” thay vì “b” vì phương ngôn ở các nơi đó khuyết âm vị này. Dưới đây, xin làm rõ hơn phát hiện của cụ Đỗ theo hướng khơi mở những từ thuộc ngữ hệ Nam Á, theo thiển kiến, vốn là ngôn ngữ của một phần cư dân nước Sở. 

Mộng 夢: mơ mộng, tham vọng, ước vọng, khát vọng, mục đích…

Âm Hán cổ:
Theo Zhengzhang: /*mɯŋs/ (mưngs)
Theo Baxter-Sagart: /*C.məŋ-s/ (-mơngs)(2)

Cụm đồng nguyên Mon-Khmer:
Proto Mon-Khmer [Mon, Khmer, Katuic, West Bahnaric]: /*[d]baŋ[ ]/ ([d]bang[]) = đầm, hồ
Proto Mon-Khmer [Khasi, Viet-Muong]: /*[d]buuŋh/ ([d]buungh) = đầm, hồ, vũng
Chong [of Chantaburi] (Pearic): /kapʰa̤ŋ/ (kaphang) = đầm lầy
Chong [Samre] (Pearic): /spâŋ/ (spang) = đầm lầy
Ngeq (Katuic): /tawaːŋ/ (tawaang) = bùn, đầm
Bru [TS] (Katuic]: /rapa̤ŋ/ (rapang) = chằm, bãi lầy, đầm lầy
Kui (Katuic):/(th)phàŋ/ (thphang) = ao
Khmer (Khmeric): /bəŋ/ (bơng) = hồ, ao, đầm, phá
Surin Khmer (Khmeric): /tpiaŋ/ (tpiang) = đầm lớn
Khmer (Khmeric): /trɑpeaŋ/ (trapêang) = ao tự nhiên, đầm, phá
Khmer (Khmeric): /bɤŋ/ (bâng) = hồ, ao, đầm
Kinh Việt (Vietic): /bɯŋ/ (bưng) = bưng (như vô bưng, bưng biền), đầm lầy, đất ngập nước
Stieng (Bahnaric): /trəbaːŋ/ (trơbaang) = hồ
Khasi (Khasic): /pung/ (pung) = hồ, ao
Lawa Bo Luang (Palaungic): /mbəiɲ/ (mbơinh) = đầm lầy

Có lẽ “bưng” do người Việt tiếp thu từ tiếng Khmer khi thiên di vào đồng bằng Cửu Long vì “bưng” theo nghĩa đầm lầy khá nhạt nhòa trong phương ngữ Bắc bộ.(3) Kinh Việt thường dùng nhiều từ đồng nguyên khác để chỉ một vùng nước như: vụng, vũng, bọng. Dễ nhận thấy tất cả đều là hậu duệ của âm /*[d]buuŋh/.

Vân 雲: mây, nhiều, họ người

Âm Hán cổ:
Theo Zhengxhang: /*ɢun/ (gun)
Theo Baxter-Sagart: /*[ɢ]ʷə[n]/ (gwơn)

Các âm Mon-Khmer:
Proto Khmuic: /*kuŋ/ (kung) = làng, địa điểm cư trú
Proto Palaungic: /*kuuŋ/ (kuung) = làng, địa điểm cư trú
Palaung (Palaungic): /kuŋ/ (kung) = thị trấn, nước
Tampuan (Bahnaric): /khṳm/ (khum) = nhóm làng, xóm, khóm
Pacoh (Katuic): /kṵŋ/ (kung) = làng kết nghĩa
Mon (Monic): /kwan/ (kuan) = làng
Thavung (Vietic): /kawə̂ːn/ (kawơn) = làng
Muong [Son La] (Vietic): /kwe:l/ (kwêêl) = làng quê

Vậy có thể giả định “Vân Mộng” là từ ban đầu dùng để chỉ các điểm cư trú xung quanh đầm, hoặc dập dềnh trên mặt đầm, lâu dần mới trở thành tên vùng nước. Nó có cấu thành và mang ý nghĩa tương tự “xóm đầm” trong tiếng Việt Nam. “Xóm Đầm” là địa danh tồn tại ở nhiều nơi như Thừa Thiên-Huế, Hà Nội, Thái Nguyên…. Hoặc, nói theo ngôn ngữ Vietic thì /*[ɢ]ʷə[n]//*C.məŋ-s/ là /kawə̂ːn//bɯŋ/ = xóm bưng. Hiện nay, “Xóm Bưng” vẫn hiện diện tại huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh hoặc huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương…(4)

  1. Hồ Động Đình 洞庭

Động 洞: lỗ, hang, xuyên qua…

Âm Hán cổ:
Theo Zhengzhang: /*doːŋs/ (đôôngs)
Âm Hán trung cổ:
Theo Zhengzhang: /duːŋX/ (đuung)

Cụm đồng nguyên Mon-Khmer:
Proto Mon-Khmer (Khmer, Bahnaric, Katuic, Palaungic): /kloːŋ/ (klôông) = nước lưu niên
Stieng (Bahnaric): /kloːŋ/ (klôông) = chỗ sâu trong dòng suối, hồ trong đầm lầy
Bru (Bahnaric): /klɔŋ/ (klong) = trũng nước, rãnh nước sâu
Sedang (Bahnaric): /loŋ/ (lông) = đầm lầy
Mnong [Rolom] (Bahnaric): /tuː dɔːŋ/ (tuu đoong) = ao hồ
Thavung (Vietic): /nɔ̂ːŋ/ (noong) = đầm lầy
Lawa (Palaungic): /nduŋ/ (nđung) = hồ, ao
Riang [Sak] (Palaungic): /nɔŋ/ (nong) = hồ tự nhiên
Khsing-Mul (Khmuic): /lɔ:ŋ/ = hồ
Chong [of Chantaburi] (Pearic): /kaduːŋ/ (kađuung) = hồ, giếng  

Hậu thân tương ứng với /*doːŋs/ âm Hán cổ hay /kloːŋ/ proto Mon-Khmer có lẽ là âm “lung” chỉ vùng đất trũng ngập nước trong tiếng Việt, ví dụ như các địa điểm Lung Tràm (Phong Điền-Cần Thơ), Lung Nia (Giồng Riềng-Kiên Giang), Lung Ngọc Hoàng (Phụng Hiệp-Hậu Giang)…

Đình 庭: sân, nhà lớn, sân trước, tòa án, trán.

Âm Hán cổ:
Theo Zhengzhang: /*l’eːŋ/ (lêêng)
Âm Hán trung cổ:
Theo Zhengzhang: /deŋ/ (đêng)

Các âm Mon-Khmer:
Nyaheun (Bahnaric): /kleːŋ/ (klêêng) = đầm, ao
Lavi (Bahnaric): /kleːŋ/ (klêêng) = đầm, ao
Laven [Jru’] (Bahnaric): /kleːɲ/ (klêênh) = đầm, hồ
Mon (Monic): /deaŋ/ (đêang) = đất ngập nước
Semai (Aslian): /ɹʌdaŋ/ (răđang) = rừng ngập mặn
Lamet [Nkris] (Palaungic): /tɨŋ/ (tưng) = hồ

“Đình /*l’eːŋ/” gợi nhớ âm “lềnh” trong tiếng Việt chỉ trạng thái nước dâng cao, cũng gần gũi với “lênh” trong triều cường lênh láng chỉ trạng thái nước tràn khắp. Cùng gốc với cụm từ Mon-Khmer bên trên có thể gồm thêm danh từ “láng”, vốn được Kinh Việt dùng để chỉ vùng đất ven sông thường xuyên ngập nước. Ví dụ như các địa điểm Láng Thọ (Quận 4-Sài Gòn), Láng Le (Bình Chánh-Sài Gòn), Láng Tròn (Giá Rai-Bạc Liêu), Láng Sen (Tân Hưng-Long An)… Nếu để ý sẽ thấy Láng Le có cấu trúc và ngữ nghĩa chẳng khác gì Đầm Bành Lễ.

Vậy Động Đình là vùng đất của Lung Láng.

6. Quân Sơn

Quân Sơn là tên hòn đảo trong hồ Động Đình.

Quân 君: nhà cai trị, lãnh chúa, ông hoàng, anh (của anh)….

Âm Hán cổ:
Theo Zhengzhang: /*klun/ (klun)
Âm Hán Trung cổ:
Theo Zhengzhang: /kɨun/ (kưun)

Âm Hán cổ của “quân” tương đương với klun của người Riang [Lang] thuộc ngữ chi Palaungic. Âm Hán trung cổ lại tương đương với kon của người Danaw cùng ngữ chi. Hai âm này đều có nghĩa là “đảo”. Chúng xuất hiện trong tiếng Việt dưới hình thức côn lôncồn, đồng nghĩa “đảo”. Tất cả đều là hậu thân hay biến thể của âm proto Mon-Khmer /*tkɔɔʔ/ (tkooh). Như vậy, có thể giả định rằng Quân Sơn = Núi Núi = Đảo Đảo = Núi Đảo. Tên gọi Quân Sơn giống hệt tên gọi Côn Sơn tại nước ta.

2

Quân Sơn (https://bit.ly/3ELzP7J)

  1. Sông Tương :

Âm Hán cổ:
Theo Zhengzhang: /slaŋ/ (slang)
Âm Hán trung cổ:
Theo Zhengzhang: /sɨɐŋ/ (sưang)

Tương giang gắn liền với huyền thoại về hai phi tử của Đế Thuấn là Nga Hoàng và Nữ Anh. Tương truyền, Đế Thuấn qua đời tại Thương Ngô khi đang tuần thú phương Nam. Hai bà vợ bần thần bên sông khóc chồng suốt nhiều ngày, nước mắt rơi xuống các bụi tre khiến lớp cật của chúng trở nên lốm đốm. Sau cùng, vì quá sầu muộn, cả hai gieo mình tự trầm. Nga Hoàng và Nữ Anh được dân địa phương tôn làm “Tương thủy thần”. Tre có thân lốm đốm được gọi là Tương phi trúc hay Tương trúc.

3

Tre đốm (https://bit.ly/3FOthX2)

Câu chuyện giúp chúng ta đoán được rằng thời xưa khu vực sông Tương có nhiều tre. Các bức họa Tiêu Tương dạ vũ thường thể hiện cảnh cành tre hoặc bụi tre trong hoặc sau cơn mưa.(5)

Nên biết thần sông Tương thời Khuất Nguyên (340 TCN – 278 TCN) chưa phải là hai góa phụ Nga Hoàng – Nữ Anh mà là một cặp vợ chồng hẹn nhau rồi lỡ dịp. Trong Cửu Ca, nhà thơ bị phóng trục có các bài Tương quânTương phu nhân đề cập hai vị thần này. Có vẻ cặp đôi vốn gốc bản địa, ít thông cảm với luồng cư dân xa lạ nên người Hoa Hạ đã tạo ra hai vị thần mới. Dù sao đi nữa, giao tiếp với đồng hương cũng dễ dàng hơn.

Từ rất lâu người Hán đã không còn hiểu “tương/slang” có nghĩa gốc là gì. Trong tiềm thức Trung Hoa, Tương chỉ là tên một dòng sông, một vùng đất, hoặc một phương ngôn. Nhưng trong tiềm thức Austroasiatic, tương phải có nghĩa riêng trước khi người Hoàng Hà đến. Chúng ta xét cụm đồng nguyên dưới đây:   

Proto Mon-Khmer [South Bahnaric, Khmuic, Khasic]:/*rsiəŋ/ (rsiơng) = tre, mây
Proto Katuic: /*sraŋ/ (srang) = tre rừng
Proto Khmuic: /*rsaːŋ/ (rsaang) = các loại tre
Ngeq (Katuic): /saraŋ/ (sarang) = tre
Pacoh (Katuic): /ʔataaŋ/ (hataang) = một loại tre
Khmu (Khmuic): /rhaaŋ/ (rhaang) = tre
Riang [Sak] (Palaungic): /rɤŋ/ (râng) = tre
Khmer (Khmeric): /srɤŋ/ (srâng) = một loại tre

Bên trong khối ngôn ngữ Nam Á, hiện tượng hoán chuyển âm vị đã xảy ra. Bahnaric và Khmuic dùng “rs”, Katuic và Khmeric dùng “sr”. Về phía người Sinitic, gần như thông lệ, họ dùng phụ âm “l” để ghi nhận “r” của tộc khác. Nếu chỉ căn cứ thuần ngôn ngữ, ta có thể cảm nhận rằng các bộ lạc sinh sống dọc sông Tương phải có huyết thống gần gũi với các nhóm nói tiếng Katuic và Khmeric. Về phía Kinh Việt, /sraŋ/ có khả năng biến thành “luồng”, còn /rsaːŋ/ có khả năng hóa thành “giang”.   

Như thế, sông Tương nghĩa nguyên thủy là sông Tre, tỉnh Tương (Hồ Nam) có nghĩa là tỉnh Tre. Vị thần núi xinh đẹp trong bài Sơn Quỷ của Khuất Nguyên thậm chí sinh sống trong một rừng tre dầy đặc khuất cả ánh mặt trời. Hiện nay, diện tích “trúc hải” của Hồ Nam đạt hơn một triệu mẫu, đứng thứ nhì toàn Trung quốc. Riêng về tên gọi, tre đốm tiếng Hán mang cấu tạo đẳng lập song ngữ ngộ nghĩnh kiểu Quân Sơn, Tương trúc = tre tre = trúc trúc = tre trúc.

4

Thần núi: Dư xử u hoàng hề chung bất kiến thiên
Ta ở trong rừng tre âm u hề mãi không thấy bầu trời
(https://bit.ly/32BTU3o)

Với cách định danh theo kiểu mẫu “Sông Tre” chúng ta có “Suối Tre” ở Đồng Nai, “Suối Lồ ô” ở Bình Dương và Ninh Thuận… Người Việt cảm thấy chữ Tre chưa đủ thơ mộng nên đã đặt tên cho một vùng đất Việt theo kiểu cầu kỳ hơn là Bến Tre.

  1. Sông Cám

Âm Hán cổ:
Theo Baxter-Sagart: /*k[o]mʔ/ (kômh)
Theo Zhengzhang: /*kluːms/, /*kromʔ/ (kluums), (krômh)

Âm Hán trung cổ:
Theo Zhengzhang: /kuŋH/ (kung)

Sông Cám hình thành chủ yếu từ hai nhánh là sông Cống và sông Chương. Sông Cống phát xuất từ núi Vũ Di, sông Chương từ núi Nhiếp Đô đều thuộc địa phận tỉnh Giang Tây. Sông Cám chảy theo hướng Nam Bắc đổ vào hồ Bà Dương rồi vào Trường giang.

Người Hoa bình thường xem “Cám ” như tên đất, tên sông hoặc tên giọng nói. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng “Cám” do hai chữ Chương 章 và Cống 貢 hợp thành. Thuyết khác lại bảo “Cám” chỉ một giống người khổng lồ lông lá, đen đúa, tay dài, gót chân ngược. Thuyết thứ nhất thiếu thuyết phục vì danh xưng “Cống” chỉ xuất hiện vào đời Đường trong khi tên Cám đã có từ lâu, từ trước khi đế quốc Tần ra đời. Thuyết thứ nhì dù kỳ quái nhưng có vẻ là thực, là phóng ảnh sợ hãi về một hiện tượng dị thường.

Sông Cám nằm trong đất Ngô Việt thời Xuân Thu. Khi Việt đánh bại Ngô, nước Sở thừa cơ lấn chiếm khu vực phía bắc tỉnh Giang Tây nay. Khu vực phía Nam còn trong ảnh hưởng Việt mất nốt vào tay Sở năm 333 TCN. Năm 223 TCN, Tần thôn tính Sở, đặt phần lớn Cám-Bà đại địa thành quận Cửu Giang. Ở Nam Xương, bên bờ đông sông Cám, tòa gác Đằng vương lừng danh được Lý Nguyên Anh, em Đường Thái tông Lý Thế Dân, dựng lên vào năm 653. “Đằng vương các tự” do Vương Bột (650 – 676) sáng tác nhân dịp mừng hoàn thành tu sửa tòa lầu là tác phẩm nổi tiếng mà ai sành văn học cổ Trung Hoa đều biết.

Các âm Mon-Khmer:
Cua (Bahnaric): /klum/ (klum) = sương mù, che phủ
Ngeq [Kriang] (Katuic): /lum/ (lum) = che phủ bởi sương khói
Katu (Triw] (Katuic]: /plum/ (plum) = bao phủ bởi sương khói
Katu [An Diem] (Katuic]: /gəm/ (gơm) = nhiều mây
Khmer (Khmeric): /rɔhəm/ (rohơm) = nhiều mây
Riang (Palaungic): /pəʔəm/ (pơhơm) = mây, nhiều mây
Thavung (Vietic): /Ɂahôːm/ (hahôôm) = nhiều mây

Như vậy, Cám giang là dòng sông có nhiều “yên ba giang thượng”. Thời cổ đại, khi mật độ rừng còn đậm đặc, có lẽ mặt nước thường chìm khuất trong chướng khí hoặc sương mù.

5

Gác Đằng vương bên sông Cám
(https://bit.ly/3EQxNDc)

Giống người to lớn có thể là thành viên của các bộ lạc Nam Á trốn vào núi sâu khi Ngô rồi Việt sụp đổ. Họ bị thoái hóa sau thời gian dài sống cách biệt với nhân loại mới đang xâm chiếm đồng bằng. Phô diễn hình thức hoang sơ, đáng sợ chẳng gì khác hơn là thái độ của những cá thể kiêu hãnh muốn chối bỏ nền văn minh lạ lẫm. Trong tiếng Mon cổ, người Campuchia được gọi là /krom/ (krôm); trong tiếng Pear và Chong hiện đại, người Campuchia được gọi là /kraom/ (kraôm). Nghĩa là, có khả năng một bộ lạc Nam Á nào đó mang danh xưng “Cám”. Tuy nhiên, tương quan giữa Nam Á và /*k[o]mʔ//*kromʔ/ không vững chắc, cần thêm nhiều chứng cứ khác. Câu chuyện tương tự cũng lưu truyền ở miền Nam Việt Nam. Thời chiến tranh, có tin đồn râm ran về việc quân đội Mỹ bắt được loại sinh vật giống hệt người khổng lồ Cám trên rừng Trường Sơn. Cơ sở để phát sinh huyền thoại Trường Sơn quá giống cơ sở để phát sinh huyền thoại sông Cám, Kinh Việt thay thế Chiêm Thành cũng giống như Sở-Tần thay thế Ngô-Việt.

Vì vài nhóm Austroasiatic cho đến nay vẫn kém cỏi so với các cộng đồng Kra-Dai hay Nam Đảo nên nhiều người nghĩ rằng chủ nhân lưu vực Trường giang, vốn từng đạt mức phát triển áp đảo cả vùng nội địa, không thể nói thứ tiếng thuộc ngữ hệ Nam Á. Nếu suy diễn như thế thì có thể giả thiết rằng đội ngũ tạo ra Astra Zeneca ở London phải nói một thứ tiếng phi Ấn Âu, bởi có nhóm thuộc ngữ hệ này, ở Ahmedabad hay Gujarat, vẫn đang tin là phân bò khắc chế được virus SARS-CoV-2.

Chú thích:

(1) “Chim” tiếng Malay là “burung”, gần giống tiếng Việt “bồ nông”.
(2)
“C.” là phụ âm của tiền âm tiết nói chung (pre-syllabic consonant).
(3)
Tỉnh Hòa Bình cũng có một địa danh là “Xóm Bưng”. Không rõ “Bưng” nơi đây có đồng nghĩa với “bưng” miền Tây hay không.

(4) Vân Mộng còn giải thích được bằng tiếng Thái Lan: กว๊าน /kwáan/ = hồ, đầm – บึง /bʉŋ/ = đầm lầy lớn
Vậy Vân Mộng /*[ɢ]ʷə[n]//*C.məŋ-s/ hay /kwáan//bʉŋ/ là từ ghép đẳng lập dùng để chỉ một khu vực toàn đầm, hồ. Nếu quả thật ngày xưa Vân và Mộng là hai đầm khác nhau thì giải thích theo tiếng Thái có phần hợp lý hơn.

(5) Do các bức họa cổ đều có bản quyền nên không đưa vào bài viết được. Bạn đọc có thể vào các trang https://bit.ly/3EsR7Gzhttps://bit.ly/3poiugE để xem tranh Tiêu Tương dạ vũ của Sin Yun-bok (1758 – 1858) và Wang Yuanqi (1642 – 1715).

Tài liệu tham khảo:

Baxter-Sagart. Baxter-Sagart Old Chinese reconstruction, version 1.1 (20 September 2014). Bản pdf https://bit.ly/3EsoSYu
Đỗ Thành. “Đụn Tiên – Động Đình hồ – 洞庭湖”. Bản điện tử https://bit.ly/3JhFCW0
Sagart, Laurent. Old Chinese Phonology: a sketch. Bản pdf https://bit.ly/3JlYTp9
Shorto, Harry. A Mon-Khmer comparative dictionary. Edited by Paul Sidwell et al. Published by Pacific Linguistics, Research School of Pacific and Asian Studies, The Australian National University, Canberra Act 0200, Australia (2006). Bản pdf https://bit.ly/3wIGUSJ

Ghi chú:

– Các dữ liệu về ngôn ngữ được truy xuất từ http://sealang.net; http://zdic.net; http://en.wiktionary.org/wiki.
– Cách đọc phiên bằng chữ quốc ngữ chỉ tạm gần đúng. Để có khái niệm về phục dựng âm Hán cổ có thể xem mục Reconstructions of Old Chinese tại https://bit.ly/32k0ETo


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s