Chiến dịch Bình Lỗ & Trận đại phá quân Tống trên sông Hữu Ninh

Lê Đắc Chỉnh

Bài viết nhân dịp kỷ niệm 1040 năm (981 – 2021) chiến thắng Bình Lỗ và phát tích lần đầu của bài thơ Nam Quốc Sơn Hà.

  1. KHÁM PHÁ BÍ  MẬT VỀ TÒA THÀNH VÀ CHIẾN DỊCH BÌNH LỖ

Bình Lỗ là tên một thành cổ được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam, nhờ có thành này mà năm 981 Lê Đại Hành  đã đánh tan được quân Tống [1]. Theo sách Thiền Uyển Tập Anh (TUTA), trong truyện “Đại sư Khuông Việt”, khi 3 vạn quân Tống thiện chiến chuẩn bị “đến quấy nước ta” vua (Lê Đại Hành) biết rõ việc đó, liền sai sư (Khuông Việt) đến bàn thờ cầu đảo” [2]. Qua truyện này cho thấy ngay từ giữa năm 980 đại sư Khuông Việt đã được vua bí mật cử lên phía  bắc nghiên cứu kế sách phá Tống và xây dựng ở đây một trận địa mai phục. Địa danh này khi đó còn là một nơi hẻo lánh, về sau lại do biến động của lịch sử, nhà Tiền Lê sớm sụp đổ (chỉ trị vì 29 năm) và nhà Lý lên thay (trị vì tiếp 215 năm) nên trận phá Tống năm 981 bị quên lãng. Vì thế mãi 320 năm sau (năm 1300),  trước khi lâm chung Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn mới hé lộ cho vua Trần Anh Tông biết chiến công này. Tại đây nhà Tiền Lê đã cho “xây thành Bình Lỗ”  nhờ  đó  “mà phá được quân Tống” [3].

Gần đây các nhà nghiên cứu đã xác định thành Bình Lỗ được xây dựng trên một gò đất cao ở bờ nam sông Cà Lồ, có độ cao trên 8 m so với mặt nước biển. Gò đất này có mặt bằng dạng hình móng ngựa, đường kính khoảng 700m, tọa độ địa lý là 21o23’ vĩ  độ Bắc và 10591’ kinh tuyến Đông [4].  Đối chiếu trên bản đồ xuất bản năm 1927,  tại  điểm cột mốc gần cửa sông Cà Lồ, có ghi cao độ ở đây là 5 m. Qua kiểm tra hai bên bờ đoạn sông từ Đò Lo đến cửa sông Cà Lồ cho thấy đều thấp hơn, không có nơi nào cao như gò đất nêu ở trên (Hình 2).

Thành Bình Lỗ mở hướng chính Nam, hơn 2/3 chu vi nằm gọn trong vòng ôm của dòng chảy sông Cà Lồ, tạo thành một con hào thiên nhiên bảo vệ  vững chắc. Lòng sông Cà Lồ rộng bình quân 50m, nước không sâu lắm, về mùa khô chỉ dao động  từ 1,00-2,50m. Khoảng cách từ tòa thành đến cửa sông Cà Lồ ngày nay chỉ cách nhau khoảng 2 km. Với điều kiện dòng sông và địa hình ở đây nên trong các sử liệu cổ đều ghi Đại Cồ Việt đã dùng cách “đóng cọc ngăn sông”  từ bờ này sang bờ kia (không giống kiểu đóng cọc ở sông Bạch Đằng) và xây dựng tại đây một pháo đài kiên cố tên là Bình Lỗ, vừa dễ phòng thủ lại khó tấn công. 

  1. TRẬN PHÁ  TỐNG NĂM 981 QUA SỬ LIỆU

Ngày nay các nhà nghiên cứu đã tìm thấy 7 quyển sách cổ sử của nước Việt, trong đó đều ghi về trận đại phá quân Tống năm 981 trên một con sông.

Trước tiên là sách TUTA [2], xuất hiện khoảng trước năm 1228 (cuối thời nhà Lý, đầu thời nhà Trần).  Đây là quyển sách cổ nhất, có độ tin cậy khá cao, chuyên ghi lại các tông phái Thiền học và sự tích của các vị Thiền sư. Truyện “Đại sư Khuông Việt” đã chép:  “Một lần Sư đi chơi núi Vệ Linh ở quận Bình Lỗ, thích phong cảnh vắng đẹp, bèn muốn lập am để ở”. Ngày nay được biết núi Vệ Linh thuộc thôn Vệ Linh, xã Phù Ninh (Sóc Sơn, Hà Nội). Sách này ghi tiếp: “Năm Thiên Phúc thứ 1 (981), binh Tống đến quấy nước ta. Vua biết rõ việc đó, liền sai Sư  đến bàn thờ cầu đảo.

Quân giặc kinh hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh , lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn tan vỡ “.  Qua đó có thể đoán rằng thành Bình Lỗ thuộc quận Bình Lỗ xưa,  tương ứng với  huyện Sóc Sơn ngày nay  và trận đánh đã xảy ra trên một con sông có tên là Hữu Ninh

1

Hình 1: Lê Đại Hành đại phá quân Tống trên sông Hữu Ninh

Tiếp theo là 6 quyển sách cổ sử khác cũng ghi về trận đánh  năm 981. Đó là: 

  • Việt Điện U Linh Tập (VĐULT) [5] xuất bản năm 1329, trong đó có “Bài ký sự tích Sóc Thiên Vương”. Truyện này chép: “Lúc bấy giờ …hai bên chưa đánh nhau, quân Tống tự nhiên kinh hãi, kéo lui đóng ở Chi Giang, lại gặp sóng cả gió to, giao xà nổi dậy, quân đều kinh sợ mà bỏ chạy “. 
  • Việt Sử Lược (VSL) [6], xuất bản năm 1377, chép rằng: “Vua tự làm tướng đi chống Tống, sai người cắm cọc ngăn sông. Quân Tống lui giữ Ninh GiangVua sai trá hàngđể dụ Nhân Bảo. Quân Tống bị thua, ta bắt chém được Nhân Bảo”.
  • Đại Việt Sử Lược (ĐVSL) [7], nhiều tập xuất bản từ 1377 đến 1388, chép tương tự như VSL, cụ thể như sau:` “Vua tự làm tướng đem quân ra chống cự. Vua cho cắm cọc cứng dưới sông. Quân Tống rút về giữ mặtNinh GiangVua sai người sang trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo. Quân Tống thua trận, Hầu Nhân Bảo bị bắt và bị chém”.
  • Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) [8], kỷ nhà Tiền Lê, mục Đại Hành hoàng đế, xuất bản năm 1697 cũng chép:  “Vua tự làm tướng đi chặn giặc, sai quân sĩ đóng cọc ngănsông Chi Lăng . Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, đem chém” .
  • Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (KĐVSTGCM) [9] xuất bản năm 1884 thời vua Tự Đức (nhà Nguyễn) thì ghi như sau: “Khi quân Tống kéo đến sông Chi Lăngnhà vua sai người trá hàng, dụ bắt được Nhân Bảo, đem chém” .
  • Việt Nam Sử Lược (VNSL) [10], xuất bản năm 1919, là bộ sử đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, các sử liệu trước nó đều bằng chữ Hán. Sách này chép: “Bấy giờ lục quâncủa bọn Hầu Nhân Bảo tiến sang đến Chi Lăng (thuộc Ôn Châu, Lạng Sơn), vua Đại Hành sai người sang trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo đến chỗ hiểm bắt chém đi”.

Vậy là cả 7 quyển sách cổ sử đều chép về một chiến thắng chống Tống năm 981 nhưng lại đưa ra 4 cái tên sông khác nhau. Đó là sông Hữu Ninh, Chi GiangNinh Giang ,  sông Chi Lăng . Đáng chú ý là các sách này không nhắc gì về  chiến thắng trên sông  Bạch Đằng (năm 981) mà các sách sử phổ thông của nước ta thường ghi như vậy.

  1. GIẢI ẢO  VỀ  4 CÁI TÊN SÔNG TRONG CHIẾN DỊCH  BÌNH LỖ

Nếu xét 4 cái tên sông nêu ở trên, chúng ta có thể phủ nhận ngay khi xưa không có con sông nào (hay đường bộ nào) có tên như vậy xuyên qua từ Lạng Sơn (nơi có ải Chi Lăng) đi về phía Nam. Trong Tống sử cũng không thấy nhắc đến trận đánh nào xảy ra vào năm 981 ở Chi Lăng thuộc Lạng Sơn.

Theo bài “Vì sao không tìm thấy thành Bình Lỗ” [11], trong đó cho biết vì kiêng húy vua đầu triều đại  Lê Trung Hưng (1533 – 1789) tên là Lê Duy Ninh, nên người chép sử đã đổi Ninh (寧)   thành Lăng (稜). Riêng chữ  Hữu  (友) và chữ Chi (支) do tự dạng giống nhau nên đã bị chép nhầm Hữu thành Chi. Nghĩa là sông Chi Lăng (支稜) ở ĐVSKTT chính là sông Hữu Ninh          (友寧) ở TUTA. 

Vậy sông Hữu Ninh ở đâu ?

Theo truyện “Hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt” trong sách “Lĩnh Nam Chích Quái” [12] cho biết: “Vào năm Tân Tỵ (981)… Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ (là đoạn sông Cà Lồ gần Đò Lo ngày nay) cự địch, hai bên đối đầu cầm cự”. Rồi một đêm nhà vua “mộng thấy một người dẫn đoàn âm binh áo trắng từ phía nam Bình Giang mà tới, một người dẫn đoàn âm binh áo đỏ từ phía bắc sông Như Nguyệt mà lại, cùng xông vào đánh trại giặc”.

Sau này các nhà nghiên cứu xác định Bình Giang là một cái tên cũ của sông Cà Lồ  hay còn gọi là sông Bình Lỗ [4]. Phía nam Bình Giang tức phía nam sông Cà Lồ. Còn phía bắc sông Như Nguyệt là đoạn sông Cầu bắt đầu từ cửa sông Cà Lồ ngược lên phía bắc của con sông này. Đối chiếu trên bản đồ (Hình 2) và so sánh với thực địa khu vực cho thấy  trận đánh Tống năm 981 đã xảy ra ở đoạn hạ lưu của sông Cà Lồ . Vậy sông Hữu Ninh chính là đoạn hạ lưu của con sông này. 

Còn hai cái tên Chi Giang (VĐULT) hay sông Chi Ninh (ĐVSL), nếu thay chữ Chi bằng chữ Hữu sẽ được Hữu Giang (tức sông bên phải) và sông Hữu Ninh (tức sông bên phải của sông Ninh). Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc [13], thì sông Ninh chính là một cái tên cũ của sông Cầu ngày nay.

ĐVSL chép sự kiện quân Tống “rút về giữ mặt Ninh Giang” vẫn rất đúng, bởi vì khi đó quân Tống rất sợ hãi do nhánh sông Hữu Ninh 1 đã bị bịt kín. Chúng buộc phải rút theo nhánh sông Hữu Ninh 2 để giữ lối thoát ra sông Cầu (tức sông Ninh). Cho nên nghĩa của đoạn này cũng vẫn là “rút về giữ sông Hữu Ninh” như trong TUTA.

Còn sông Chi Lăng trong KĐVSTGCM, do xuất bản sau ĐVSKTT gần 2 thế kỷ (1697 – 1884) và cũng dùng 2 chữ Chi Lăng, thì đó là do chép theo ĐVSKTT mà thôi.  Riêng VNSL thì hiểu sai hoàn toàn, vì trong ĐVSKTT và KĐVSTGCM vẫn là một con sông, nhưng đến VNSL tác giả lại gán luôn con sông này thành địa danh Chi Lăng của tỉnh Lạng Sơn. Vì thế phần lớn người đọc ngày nay cho rằng trận đánh Tống năm 981 đã xảy ra ở Chi Lăng (Lạng Sơn) và quân Đại Cồ Việt đã chém được đầu Hầu Nhân Bảo ở ngay ải Chi Lăng giống như Lê Lợi chém Liễu Thăng  vào năm 1427 cũng ở nơi này. Đặc biệt  VNSL viết bằng tiếng Việt nên các sách phổ thông nước ta đều chép theo cái sai này.

Qua phân tích ở trên cho phép khảng định trận phá Tống năm 981 ghi trong 7 quyển sách cổ sử đều xảy ra trên một con sông duy nhất, đó là sông Hữu Ninh.

  1. CHIẾN DỊCH BÌNH LỖ & TRẬN PHÁ TỐNG TRÊN SÔNG HỮU NINH

Có thể khảng định chiến dịch Bình Lỗ bắt đầu từ nửa cuối năm 980 khi Lê Đại Hành cử sư Khuông Việt bí mật lên phía bắc xây dựng trận địa mai phục ở Bình Lỗ và kết thúc vào khoảng tháng 5/981. Theo sử liệu, ban đầu lực lượng của Đại Cồ Việt còn nhỏ bé (ở Hoa Lư chỉ có 3 ngàn thiên tử quân), lại thiếu kinh nghiệm nên  quân Tống  đã thắng 2 trận liền [14]:

  • “Ngày Tân Mão tháng Chạp năm Thái Bình hưng quốc thứ 6 (30/1/981), Giao Châu hành doanh (Bộ chỉ huy quân Tống) nói phá quân giặc trên vạn, chém được 2.345 đầu giặc”.
  • “Ngày Kỷ Mùi tháng ba niên hiệu Thái Bình hưng quốc thứ 6 (28/4/981), Giao Châu hành doanh tâu rằng: Phá được quân giặc 15.000 người ở cửa sông Bạch Đằng, chém được hơn 1.000 thủ cấp, thu được 200 chiến hạm và hàng vạn áo giáp, binh khí”.

Tuy nhiên ngay sau trận ngày 28/4/981, quân Tống bỗng nhiên đại bại và phải rút về nước. Các sách Tống sử đều đã thừa nhận:

  • “Nhân Bảo bị giặc vây đánh rất hăng, quân viện đến cứu không kịp, nên Nhân Bảo bị giết chết ở giữa sông” [15]. Hay:
  • “Nhân Bảo đem vạn quân xông vào trước bị thế giặc rất mạnh, viện quân phía sau đến cứu không kịp, trận thế bị vây hãm, Nhân Bảo bị loạn quân giết chết quẳng xác xuống sông” [16].

Trong 7 quyển sách cổ sử nêu ở trên thì 5 quyển cho biết ”Vua sai quân đánh giả hàng”  để dụ Nhân Bảo. Nghĩa là trận ngày 28/4/981 ở Bạch Đằng có thể chỉ là trận đánh giả hàng, bởi vì ngay sau đó quân Đại Cồ Việt còn rất mạnh, vẫn đủ sức đánh tan 3 vạn quân Tống  và ngay năm sau (982) còn kéo quân vào Nam đánh phá Chiêm Thành. 

Vậy là quân Tống đã ngược dòng sông Bạch Đằng đuổi theo quân Đại Cồ Việt, vượt qua cả khu vực Đại Than (tức Phả Lại) và đến Bình Lỗ ( tức vùng cửa sông Cà Lồ ngày nay).  Do cố đuổi bắt Lê Đại Hành đang thua chạy ở phía trước, Hầu Nhân Bảo đã vượt lên rất nhanh để lập công lĩnh thưởng nên đã vào sâu trong sông Hữu Ninh 1 (tức sông Cà Lồ) mà không biết.  Cùng sa vào trận địa phục kích này có cả một “vạn quân” Tống [16]. Trong khi đó đại quân của hắn do phải hành quân trên một đoạn đường sông rất dài, bắt được nhiều tù binh và thu nhiều chiến lợi phẩm, nên chỉ muốn dừng lại nghỉ ngơi và ăn mừng chiến thắng.

2

Hình 2: Những dấu tích của trận đánh Tống trên sông Hữu Ninh năm 981

Ngược lại đạo tiền quân do Hầu Nhân bảo chỉ huy tiến sâu vào và gặp ngay thành Bình Lỗ và chiến lũy “ngăn sông” ở trước mặt. Chúng hoàng hốt vội rút lui nhưng không kịp. Đúng lúc đó một đạo quân của Đại Cồ Việt quay lại bịt kín cửa sông[12].  Hơn 1 vạn quân Tống bị vây chặt trong đoạn sông Hữu Ninh. Chúng phải liều chết xông lên đánh thành Bình Lỗ nhưng bị chống trả quyết liệt phải rút lui. Ngày nay tại chân gò cao còn để lại cái tên Ngòi Ác (nơi sông Cà Lồ tách ra thành 2 nhánh tạm gọi là Hữu Ninh 1 và Hữu Ninh 2) như một minh chứng của trận chiến ác liệt năm nào. Kết quả là “quân giặc kinh hãi” phải “ rút về giữ sông Hữu Ninh“. Nhánh sông Hữu Ninh 2 nhỏ hơn nay đã bị vùi lấp do quá trình khai phá đất đai và trị thủy ở các triều đại sau. Tuy nhiên tại đây vẫn còn để lại nhiều dấu tích, chạy dài đến 3 km từ gò đất cao đến bờ sông Cầu ở cuối làng Như Nguyệt. Trên khúc sông này “Nhân Bảo bị giặc vây đánh rất hăng” và  “bị giết chết ở giữa sông “.

Kết quả của cuộc xâm lược năm 980/981 là Hầu Nhân Bảo và Chu Vị bị giết chết tại trận. Thủ cấp của Hầu Nhân Bảo được binh sĩ Đại Cồ Việt đem về để lĩnh thưởng, trên đường qua huyện Chu Diên (khu vực Đan Phượng ngày nay) thì dân chúng xúm đến xem [17]. Cùng với tên chủ tướng, hàng ngàn xác giặc trôi theo dòng nước chảy theo hướng ra sông Cầu và được thu gom về  đoạn cuối của nhánh Hữu Ninh 2, nay để lại tại đây một nấm mồ chung chạy dài gần 1 km có  tên là Bờ Xác (Hình 3).

3

Hình 3:  Bờ Xác , mồ chôn quân Tống chết trong trận Bình Lỗ ở xã Tam Giang (Yên Phong, Bắc Ninh)

Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt làm tù binh. Quân Biện chạy trốn ngược dòng sông Cầu, đến Vũ Nhai (Thái Nguyên) thì bị người dân bắt nộp cho nhà vua. Lưu Trừng và  Giả Thực khi về nước liền bị giết bêu đầu ở chợ Ung Châu. Tôn Toàn Hưng bị hạ ngục rồi chết. Trần Khâm Tộ, Hác Thủ Tuấn và Thôi Lượng đều bị  trách phạt, giáng chức. Còn Vương Soạn sau bị bệnh rồi chết.  Trận phá Tống năm 981 được lưu lại trong nhiều truyền thuyết, dã sử và để lại tiếng vang trong lòng nhân dân đến tận ngày hôm nay.

  1. VÙNG CỬA SÔNG CÀ LỒ CÒN LƯU GIỮ NHIỀU DẤU TÍCH VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỊCH SỬ CỦA NHÀ TIỀN LÊ

Dọc nhánh sông Hữu Ninh 2 ngoài cái tên Ngòi Ác, Bờ Xác nêu ở trên còn có  Cầu Cửa Ma (nơi diễn ra trân đánh đẫm máu nhất lúc bấy giờ) , Đầm Lâu (nơi các binh sĩ Đại Cồ Việt nằm mai phục nhiều tháng trời), Đình Mừng (nơi các binh sĩ ăn mừng sau chiến thắng).

Sự tích Thánh Tam Giang [18] là một truyện dã sử xảy ra vào khoảng giữa thế kỷ 6. Tại thôn Ngọc Hà (xã Xuân Giang, huyện Sóc Sơn), nơi có thành Bình Lỗ, nay còn để lại dấu tích một số bức tường cổ bằng đất của một tòa thành xưa có tên là Thành Phủ do Trương Hống và Trương Hát cho xây dựng.  Nơi đây đã từng là căn cứ kháng chiến cũ của hai vị anh hùng họ Trương.  Vì thế mà bài thơ Nam quốc sơn hà  luôn được gắn với tên của hai ông. Thành Bình Lỗ chính là nơi phát tích lần đầu của bài thơ Nam quốc sơn hà [19].

Biết rằng trước khi được tôn lên làm vua Lê Hoàn đã là tướng của 10 đạo quân (Thập đạo tướng quân) . Ông có công lớn trong việc dẹp loạn và thu phục 12 xứ quân (trong đó có đến 5 xứ quân là người gốc Trung Hoa mới di cư xuống).  Cho nên mặc dầu lúc đó ở Hoa Lư chỉ có 3 ngàn thiên tử quân, ông vẫn bình tĩnh tự làm tướng dẫn đầu hành quân lên phía bắc chống nhau với  giặc.  Dọc đường ông được nhân dân hết lòng ủng hộ. Vì thế, theo PGS Trần Bá Chí,  Đại Cồ  Việt  đã huy động được 10 vạn người tham gia chiến dịch phá Tống ở Bình Lỗ. Quá trình phát triển của đội quân này đã được nhân dân xây dựng thành hình ảnh người anh hùng trong truyền thuyết Thánh Gióng [20].

  1. Ý NGHĨA CỦA CHIẾN THẮNG BÌNH LỖ

Cuộc kháng chiến chống Tống năm 980/981 thắng lợi trọn vẹn, Lê Đại Hành đã lợi dụng điều kiện địa hình sông ngòi của nước ta, bố phòng hợp lý khiến cho quân Tống không dùng được kế đánh nhanh thắng nhanh. Ông lại thực thi có hiệu quả thuật công tâm và kế trá hàng làm cho các tướng Tống không lường trước được.

Chiến thắng Bình Lỗ để lại kinh nghiệm vô cùng quý báu về chiến tranh nhân dân, bảo vệ nền độc lập nước nhà. Đó còn là bài học của một nước nhỏ nếu biết đoàn kết toàn dân và có người lãnh đạo sáng suốt thì nhất định sẽ đánh thắng được đế quốc to, dù chúng lớn hơn gấp nhiều lần.

Trong quá trình bảo vệ nhà nước Đại Cồ Việt non trẻ, nhân dân ta đã đúc kết kinh nghiệm và  xây  dựng thành công một công trình phòng thủ nổi tiếng, đó là thành Bình Lỗ. Ngoài ra trong cuộc kháng chiến này còn xuất hiện một áng thơ bất hủ, đó là bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”.  Hy vọng hai kiệt tác, đó là hình ảnh người anh hùng Thánh Gióng và bài thơ Nam quốc sơn hà sẽ sống mãi với các thế hệ người dân nước Việt. 

4

Nay làng mạc trên gò đất cao và vết tích của tòa thành cổ không còn (Hình 4a,b,c,d). Nhiều di vật có liên quan đến lịch sử bị lấy mất  hoặc bị phá hủy. Vì những lợi ích nhỏ trước mắt (như lấy đất làm gạch), các cấp quản lý ở địa phương đã buông lỏng và quên mất lợi ích lớn có giá trị cho ngàn năm sau của cả dân tộc.

Sau nhiều lần bị đào bới, đã làm các lớp địa tầng của gò đất cao lộ ra. Qua đó càng khảng định  địa chất và long mạch nơi đây rất tốt, có mạch nước ngầm trong và mát không bao giờ cạn. Trên mặt đất, xưa kia xung quanh và trên gò đất cao luôn có nhiều cây cối xum xuê, nhiều công trình khang trang thậm chí nguy nga và nhất là có gió mát quanh năm, làm cho nơi này không chỉ là nơi có long mạch tốt  mà còn hội tụ nhiều khí thiêng. Chả thế mà từ cuối thế kỷ 17 đến năm 1954 nhiều cha cố phương Tây, biết là đất tốt nên đã chọn gò đất cao này để xây dựng thành một xứ đạo lớn, thu hút đông đảo bà con xứ đạo đến làm lễ và thăm viếng. 

Thành Bình Lỗ vốn là công trình được xây dựng cách ngày nay hơn 1000 năm để ngăn chặn các đạo quân từ phương bắc. Do nơi có long mạch và địa thế tốt nên luôn giành thắng lợi.  Nay tòa thành đã và đang bị xâm hại nặng nề (Hình 4a,b,c,d), ảnh hưởng không tốt đến long mạch của Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội cũng như lịch sử và vận khí của cả quốc gia.

Thật là tiếc, vì lợi ích rất nhỏ mà các cấp chính quyền nơi đây của Thủ đô đã vô tình xâm phạm mảnh đất thiêng của tổ tiên trong một thời gian khá dài, nay lại muốn quên đi trách nhiệm của mình trong việc quản lý di tích lịch sử quý hiếm này thì không thể được. Dù sao lỗi này phải sửa, long mạch nơi này nhất định phải được hàn gắn lại, chỉ có như vậy trang sử  hào hùng “huyền thoại Nam quốc sơn hà” của nước Việt  đã bắt đầu cách đây 1040 năm mới có thể viết tiếp.

THAM KHẢO

[1]  Bình Lỗ.Bách khoa toàn thư mở.

 https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_L%E1%BB%97

[2]  Thiền Uyển Tập Anh. Đại sư Khuông Việt.

http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-vn/con-nguoi-vn/7211-Khuong-Viet-Dai-su.html

[2]   Đại sư Khuông Việt. Sách Thiền Uyển Tập Anh. Bản điện tử, trang 21/22.

http://www.thuvienhaiphu.com.vn/datafile1/BE015404.pdf

[3]  Đại Việt sử ký toàn thư. Quyển VI, Kỷ Nhà Trần, Anh Tông Hoàng Đế. Trang 210. Nxb Khoa Học Xã Hội (Hà Nội) ấn hành (1993) hoặc Bản điện tử.

https://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt11.html

[4] Đi tìm thành Bình Lỗ của nhà nước Đại Cồ Việt.

https://nghiencuulichsu.com/2018/04/03/di-tim-thanh-binh-lo-cua-nha-nuoc-dai-co-viet/

[5] Bài ký sự tích Sóc Thiên Vương, sách Việt Điện U Linh Tập. Lý Tế Xuyên, bản sớm nhất năm 1329. Bản điện tử, trang 91.

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2019/11/viet-dien-u-linh-tap-ly-te-xuyen.pdf

 [6] Việt sử lược. Trần Quốc Vượng dịch. Bản điện tử, trang 61. 

http://www.sugia.vn/portfolio/detail/986/viet-su-luoc.html

http://www.sugia.vn//assets/file/viet_su_luoc_2523.pdf

 [7]  Đại Việt sử lược. Quyển I. Khuyết danh (1377 – 1388). Bản điện tử, pdf.  trang 30.

https://quangduc.com/images/file/gpdtq37d1AgQAJhF/dai-viet-su-luoc-khuyet-danh.pdf

[8]  Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển I, Nhà Tiền Lê, Đại Hành Hoàng Đế. Trang 66. Hoặc Bản điện tử:   https://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt06.html

 [9]  Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (KĐVSTGCM). Bản đầu tiên năm 1884.  Bản điện tử, trang 89.

https://quangduc.com/images/file/_voL837d1AgQANJp/kham-dinh-viet-su-thong-giam-cuong-muc-quoc-su-quan-trieu-nguyen.pdf

 [10]  Việt Nam Sử Lược.  Trần Trọng Kim, năm 1919. Bản điện tử, trang 37.

https://quangduc.com/images/file/oOduVYLd1AgQABwg/viet-nam-su-luoc-tran-trong-kim.pdf

[11]   Vì sao không tìm thấy thành Bình Lỗ.  https://nghiencuulichsu.com/2019/01/03/vi-sao-khong-tim-thay-thanh-binh-lo/

[12]  Truyện Hai vị thần ở Long Nhãn – Như Nguyệt, sách Lĩnh Nam Chích Quái, Trần Thế Pháp.  Bản điện tử, pdf, trang 82.

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2010/11/linhnamchichquai_march18_2015.pdf

[13]  Nguyễn Vinh Phúc. Lê Đại Hành và Sóc Thiên Vương. Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn. Bản điện tử (16):  

 https://www.quansuvn.net/index.php/topic,5197.150.html

[14]  Lý Đào: Tục tư trị thông giám trường biên. q. XXII. Sđđ. Tờ 2b

[15] Tống sử liệt truyện. Giao Chỉ truyện. Sđđ. q. 488. 

[16]  An Nam chí của Cao Hùng Trưng. Hay : Nguyễn Hữu Tâm: Đại thắng mùa xuân 981… qua một số thư tịch của Trung quốc.   https://www.quansuvn.net/index.php/topic,5197.70.html

[17]  Sách Sự thực loại uyển (事實類苑) của Giang Thiếu Ngu (江少虞) thời Nam Tống (1127/1279) dẫn từ Tương Sơn dã lục (湘山野錄) cho biết: “Nhân Bảo bị người Giao Chỉ bắt, chém bêu đầu ở huyện Chu Diên  (仁寶為交趾所擒,梟首於朱鳶縣,宜然也)”.

[18]  Thánh Tam Giang. Bách khoa toàn thư mở.

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1nh_Tam_Giang

[19]  Thành Bình Lỗ – nơi phát tích lần đầu của bài thơ Nam quốc sơn hà.

http://nguoilambao.vn/thanh-binh-lo-noi-phat-tich-lan-dau-bai-tho-nam-quoc-son-ha-n23105.html

[20]  Truyền thuyết Thánh Gióng và bí mật của con sông Hữu Ninh

https://nghiencuulichsu.com/2020/09/08/truyen-thuyet-thanh-giong-va-bi-mat-cua-con-song-huu-ninh/

                                                                                                                    

  1. KHÁM PHÁ BÍ  MẬT VỀ TÒA THÀNH VÀ CHIẾN DỊCH BÌNH LỖ

Bình Lỗ là tên một thành cổ được ghi nhận trong lịch sử Việt Nam, nhờ có thành này mà năm 981 Lê Đại Hành  đã đánh tan được quân Tống [1]. Theo sách Thiền Uyển Tập Anh (TUTA), trong truyện “Đại sư Khuông Việt”, khi 3 vạn quân Tống thiện chiến chuẩn bị “đến quấy nước ta” vua (Lê Đại Hành) biết rõ việc đó, liền sai sư (Khuông Việt) đến bàn thờ cầu đảo” [2]. Qua truyện này cho thấy ngay từ giữa năm 980 đại sư Khuông Việt đã được vua bí mật cử lên phía  bắc nghiên cứu kế sách phá Tống và xây dựng ở đây một trận địa mai phục. Địa danh này khi đó còn là một nơi hẻo lánh, về sau lại do biến động của lịch sử, nhà Tiền Lê sớm sụp đổ (chỉ trị vì 29 năm) và nhà Lý lên thay (trị vì tiếp 215 năm) nên trận phá Tống năm 981 bị quên lãng. Vì thế mãi 320 năm sau (năm 1300),  trước khi lâm chung Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn mới hé lộ cho vua Trần Anh Tông biết chiến công này. Tại đây nhà Tiền Lê đã cho “xây thành Bình Lỗ”  nhờ  đó  “mà phá được quân Tống” [3].

Gần đây các nhà nghiên cứu đã xác định thành Bình Lỗ được xây dựng trên một gò đất cao ở bờ nam sông Cà Lồ, có độ cao trên 8 m so với mặt nước biển. Gò đất này có mặt bằng dạng hình móng ngựa, đường kính khoảng 700m, tọa độ địa lý là 21o23’ vĩ  độ Bắc và 10591’ kinh tuyến Đông [4].  Đối chiếu trên bản đồ xuất bản năm 1927,  tại  điểm cột mốc gần cửa sông Cà Lồ, có ghi cao độ ở đây là 5 m. Qua kiểm tra hai bên bờ đoạn sông từ Đò Lo đến cửa sông Cà Lồ cho thấy đều thấp hơn, không có nơi nào cao như gò đất nêu ở trên (Hình 2).

Thành Bình Lỗ mở hướng chính Nam, hơn 2/3 chu vi nằm gọn trong vòng ôm của dòng chảy sông Cà Lồ, tạo thành một con hào thiên nhiên bảo vệ  vững chắc. Lòng sông Cà Lồ rộng bình quân 50m, nước không sâu lắm, về mùa khô chỉ dao động  từ 1,00-2,50m. Khoảng cách từ tòa thành đến cửa sông Cà Lồ ngày nay chỉ cách nhau khoảng 2 km. Với điều kiện dòng sông và địa hình ở đây nên trong các sử liệu cổ đều ghi Đại Cồ Việt đã dùng cách “đóng cọc ngăn sông”  từ bờ này sang bờ kia (không giống kiểu đóng cọc ở sông Bạch Đằng) và xây dựng tại đây một pháo đài kiên cố tên là Bình Lỗ, vừa dễ phòng thủ lại khó tấn công. 

  1. TRẬN PHÁ  TỐNG NĂM 981 QUA SỬ LIỆU

Ngày nay các nhà nghiên cứu đã tìm thấy 7 quyển sách cổ sử của nước Việt, trong đó đều ghi về trận đại phá quân Tống năm 981 trên một con sông.

Trước tiên là sách TUTA [2], xuất hiện khoảng trước năm 1228 (cuối thời nhà Lý, đầu thời nhà Trần).  Đây là quyển sách cổ nhất, có độ tin cậy khá cao, chuyên ghi lại các tông phái Thiền học và sự tích của các vị Thiền sư. Truyện “Đại sư Khuông Việt” đã chép:  “Một lần Sư đi chơi núi Vệ Linh ở quận Bình Lỗ, thích phong cảnh vắng đẹp, bèn muốn lập am để ở”. Ngày nay được biết núi Vệ Linh thuộc thôn Vệ Linh, xã Phù Ninh (Sóc Sơn, Hà Nội). Sách này ghi tiếp: “Năm Thiên Phúc thứ 1 (981), binh Tống đến quấy nước ta. Vua biết rõ việc đó, liền sai Sư  đến bàn thờ cầu đảo.

Quân giặc kinh hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh , lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn tan vỡ “.  Qua đó có thể đoán rằng thành Bình Lỗ thuộc quận Bình Lỗ xưa,  tương ứng với  huyện Sóc Sơn ngày nay  và trận đánh đã xảy ra trên một con sông có tên là Hữu Ninh.


Tiếp theo là 6 quyển sách cổ sử khác cũng ghi về trận đánh  năm 981. Đó là: 

  • Việt Điện U Linh Tập (VĐULT) [5] xuất bản năm 1329, trong đó có “Bài ký sự tích Sóc Thiên Vương”. Truyện này chép: “Lúc bấy giờ …hai bên chưa đánh nhau, quân Tống tự nhiên kinh hãi, kéo lui đóng ở Chi Giang, lại gặp sóng cả gió to, giao xà nổi dậy, quân đều kinh sợ mà bỏ chạy “. 
  • Việt Sử Lược (VSL) [6], xuất bản năm 1377, chép rằng: “Vua tự làm tướng đi chống Tống, sai người cắm cọc ngăn sông. Quân Tống lui giữ Ninh GiangVua sai trá hàngđể dụ Nhân Bảo. Quân Tống bị thua, ta bắt chém được Nhân Bảo”.
  • Đại Việt Sử Lược (ĐVSL) [7], nhiều tập xuất bản từ 1377 đến 1388, chép tương tự như VSL, cụ thể như sau:` “Vua tự làm tướng đem quân ra chống cự. Vua cho cắm cọc cứng dưới sông. Quân Tống rút về giữ mặtNinh GiangVua sai người sang trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo. Quân Tống thua trận, Hầu Nhân Bảo bị bắt và bị chém”.
  • Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) [8], kỷ nhà Tiền Lê, mục Đại Hành hoàng đế, xuất bản năm 1697 cũng chép:  “Vua tự làm tướng đi chặn giặc, sai quân sĩ đóng cọc ngănsông Chi Lăng . Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, đem chém” .
  • Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (KĐVSTGCM) [9] xuất bản năm 1884 thời vua Tự Đức (nhà Nguyễn) thì ghi như sau: “Khi quân Tống kéo đến sông Chi Lăngnhà vua sai người trá hàng, dụ bắt được Nhân Bảo, đem chém” .
  • Việt Nam Sử Lược (VNSL) [10], xuất bản năm 1919, là bộ sử đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, các sử liệu trước nó đều bằng chữ Hán. Sách này chép: “Bấy giờ lục quâncủa bọn Hầu Nhân Bảo tiến sang đến Chi Lăng (thuộc Ôn Châu, Lạng Sơn), vua Đại Hành sai người sang trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo đến chỗ hiểm bắt chém đi”.

Vậy là cả 7 quyển sách cổ sử đều chép về một chiến thắng chống Tống năm 981 nhưng lại đưa ra 4 cái tên sông khác nhau. Đó là sông Hữu Ninh, Chi GiangNinh Giang ,  sông Chi Lăng . Đáng chú ý là các sách này không nhắc gì về  chiến thắng trên sông  Bạch Đằng (năm 981) mà các sách sử phổ thông của nước ta thường ghi như vậy.

  1. GIẢI ẢO  VỀ  4 CÁI TÊN SÔNG TRONG CHIẾN DỊCH  BÌNH LỖ

Nếu xét 4 cái tên sông nêu ở trên, chúng ta có thể phủ nhận ngay khi xưa không có con sông nào (hay đường bộ nào) có tên như vậy xuyên qua từ Lạng Sơn (nơi có ải Chi Lăng) đi về phía Nam. Trong Tống sử cũng không thấy nhắc đến trận đánh nào xảy ra vào năm 981 ở Chi Lăng thuộc Lạng Sơn.

Theo bài “Vì sao không tìm thấy thành Bình Lỗ” [11], trong đó cho biết vì kiêng húy vua đầu triều đại  Lê Trung Hưng (1533 – 1789) tên là Lê Duy Ninh, nên người chép sử đã đổi Ninh (寧)   thành Lăng (稜). Riêng chữ  Hữu  (友) và chữ Chi (支) do tự dạng giống nhau nên đã bị chép nhầm Hữu thành Chi. Nghĩa là sông Chi Lăng (支稜) ở ĐVSKTT chính là sông Hữu Ninh          (友寧) ở TUTA. 

Vậy sông Hữu Ninh ở đâu ?

Theo truyện “Hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt” trong sách “Lĩnh Nam Chích Quái” [12] cho biết: “Vào năm Tân Tỵ (981)… Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ (là đoạn sông Cà Lồ gần Đò Lo ngày nay) cự địch, hai bên đối đầu cầm cự”. Rồi một đêm nhà vua “mộng thấy một người dẫn đoàn âm binh áo trắng từ phía nam Bình Giang mà tới, một người dẫn đoàn âm binh áo đỏ từ phía bắc sông Như Nguyệt mà lại, cùng xông vào đánh trại giặc”.

Sau này các nhà nghiên cứu xác định Bình Giang là một cái tên cũ của sông Cà Lồ  hay còn gọi là sông Bình Lỗ [4]. Phía nam Bình Giang tức phía nam sông Cà Lồ. Còn phía bắc sông Như Nguyệt là đoạn sông Cầu bắt đầu từ cửa sông Cà Lồ ngược lên phía bắc của con sông này. Đối chiếu trên bản đồ (Hình 2) và so sánh với thực địa khu vực cho thấy  trận đánh Tống năm 981 đã xảy ra ở đoạn hạ lưu của sông Cà Lồ . Vậy sông Hữu Ninh chính là đoạn hạ lưu của con sông này. 

Còn hai cái tên Chi Giang (VĐULT) hay sông Chi Ninh (ĐVSL), nếu thay chữ Chi bằng chữ Hữu sẽ được Hữu Giang (tức sông bên phải) và sông Hữu Ninh (tức sông bên phải của sông Ninh). Theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc [13], thì sông Ninh chính là một cái tên cũ của sông Cầu ngày nay.

ĐVSL chép sự kiện quân Tống “rút về giữ mặt Ninh Giang” vẫn rất đúng, bởi vì khi đó quân Tống rất sợ hãi do nhánh sông Hữu Ninh 1 đã bị bịt kín. Chúng buộc phải rút theo nhánh sông Hữu Ninh 2 để giữ lối thoát ra sông Cầu (tức sông Ninh). Cho nên nghĩa của đoạn này cũng vẫn là “rút về giữ sông Hữu Ninh” như trong TUTA.

Còn sông Chi Lăng trong KĐVSTGCM, do xuất bản sau ĐVSKTT gần 2 thế kỷ (1697 – 1884) và cũng dùng 2 chữ Chi Lăng, thì đó là do chép theo ĐVSKTT mà thôi.  Riêng VNSL thì hiểu sai hoàn toàn, vì trong ĐVSKTT và KĐVSTGCM vẫn là một con sông, nhưng đến VNSL tác giả lại gán luôn con sông này thành địa danh Chi Lăng của tỉnh Lạng Sơn. Vì thế phần lớn người đọc ngày nay cho rằng trận đánh Tống năm 981 đã xảy ra ở Chi Lăng (Lạng Sơn) và quân Đại Cồ Việt đã chém được đầu Hầu Nhân Bảo ở ngay ải Chi Lăng giống như Lê Lợi chém Liễu Thăng  vào năm 1427 cũng ở nơi này. Đặc biệt  VNSL viết bằng tiếng Việt nên các sách phổ thông nước ta đều chép theo cái sai này.

Qua phân tích ở trên cho phép khảng định trận phá Tống năm 981 ghi trong 7 quyển sách cổ sử đều xảy ra trên một con sông duy nhất, đó là sông Hữu Ninh.

  1. CHIẾN DỊCH BÌNH LỖ & TRẬN PHÁ TỐNG TRÊN SÔNG HỮU NINH

Có thể khảng định chiến dịch Bình Lỗ bắt đầu từ nửa cuối năm 980 khi Lê Đại Hành cử sư Khuông Việt bí mật lên phía bắc xây dựng trận địa mai phục ở Bình Lỗ và kết thúc vào khoảng tháng 5/981. Theo sử liệu, ban đầu lực lượng của Đại Cồ Việt còn nhỏ bé (ở Hoa Lư chỉ có 3 ngàn thiên tử quân), lại thiếu kinh nghiệm nên  quân Tống  đã thắng 2 trận liền [14]:

  • “Ngày Tân Mão tháng Chạp năm Thái Bình hưng quốc thứ 6 (30/1/981), Giao Châu hành doanh (Bộ chỉ huy quân Tống) nói phá quân giặc trên vạn, chém được 2.345 đầu giặc”.
  • “Ngày Kỷ Mùi tháng ba niên hiệu Thái Bình hưng quốc thứ 6 (28/4/981), Giao Châu hành doanh tâu rằng: Phá được quân giặc 15.000 người ở cửa sông Bạch Đằng, chém được hơn 1.000 thủ cấp, thu được 200 chiến hạm và hàng vạn áo giáp, binh khí”.

Tuy nhiên ngay sau trận ngày 28/4/981, quân Tống bỗng nhiên đại bại và phải rút về nước. Các sách Tống sử đều đã thừa nhận:

  • “Nhân Bảo bị giặc vây đánh rất hăng, quân viện đến cứu không kịp, nên Nhân Bảo bị giết chết ở giữa sông” [15]. Hay:
  • “Nhân Bảo đem vạn quân xông vào trước bị thế giặc rất mạnh, viện quân phía sau đến cứu không kịp, trận thế bị vây hãm, Nhân Bảo bị loạn quân giết chết quẳng xác xuống sông” [16].

Trong 7 quyển sách cổ sử nêu ở trên thì 5 quyển cho biết ”Vua sai quân đánh giả hàng”  để dụ Nhân Bảo. Nghĩa là trận ngày 28/4/981 ở Bạch Đằng có thể chỉ là trận đánh giả hàng, bởi vì ngay sau đó quân Đại Cồ Việt còn rất mạnh, vẫn đủ sức đánh tan 3 vạn quân Tống  và ngay năm sau (982) còn kéo quân vào Nam đánh phá Chiêm Thành. 

Vậy là quân Tống đã ngược dòng sông Bạch Đằng đuổi theo quân Đại Cồ Việt, vượt qua cả khu vực Đại Than (tức Phả Lại) và đến Bình Lỗ ( tức vùng cửa sông Cà Lồ ngày nay).  Do cố đuổi bắt Lê Đại Hành đang thua chạy ở phía trước, Hầu Nhân Bảo đã vượt lên rất nhanh để lập công lĩnh thưởng nên đã vào sâu trong sông Hữu Ninh 1 (tức sông Cà Lồ) mà không biết.  Cùng sa vào trận địa phục kích này có cả một “vạn quân” Tống [16]. Trong khi đó đại quân của hắn do phải hành quân trên một đoạn đường sông rất dài, bắt được nhiều tù binh và thu nhiều chiến lợi phẩm, nên chỉ muốn dừng lại nghỉ ngơi và ăn mừng chiến thắng.

2

Hình 2: Những dấu tích của trận đánh Tống trên sông Hữu Ninh năm 981

Ngược lại đạo tiền quân do Hầu Nhân bảo chỉ huy tiến sâu vào và gặp ngay thành Bình Lỗ và chiến lũy “ngăn sông” ở trước mặt. Chúng hoàng hốt vội rút lui nhưng không kịp. Đúng lúc đó một đạo quân của Đại Cồ Việt quay lại bịt kín cửa sông[12].  Hơn 1 vạn quân Tống bị vây chặt trong đoạn sông Hữu Ninh. Chúng phải liều chết xông lên đánh thành Bình Lỗ nhưng bị chống trả quyết liệt phải rút lui. Ngày nay tại chân gò cao còn để lại cái tên Ngòi Ác (nơi sông Cà Lồ tách ra thành 2 nhánh tạm gọi là Hữu Ninh 1 và Hữu Ninh 2) như một minh chứng của trận chiến ác liệt năm nào. Kết quả là “quân giặc kinh hãi” phải “ rút về giữ sông Hữu Ninh“. Nhánh sông Hữu Ninh 2 nhỏ hơn nay đã bị vùi lấp do quá trình khai phá đất đai và trị thủy ở các triều đại sau. Tuy nhiên tại đây vẫn còn để lại nhiều dấu tích, chạy dài đến 3 km từ gò đất cao đến bờ sông Cầu ở cuối làng Như Nguyệt. Trên khúc sông này “Nhân Bảo bị giặc vây đánh rất hăng” và  “bị giết chết ở giữa sông “.

Kết quả của cuộc xâm lược năm 980/981 là Hầu Nhân Bảo và Chu Vị bị giết chết tại trận. Thủ cấp của Hầu Nhân Bảo được binh sĩ Đại Cồ Việt đem về để lĩnh thưởng, trên đường qua huyện Chu Diên (khu vực Đan Phượng ngày nay) thì dân chúng xúm đến xem [17]. Cùng với tên chủ tướng, hàng ngàn xác giặc trôi theo dòng nước chảy theo hướng ra sông Cầu và được thu gom về  đoạn cuối của nhánh Hữu Ninh 2, nay để lại tại đây một nấm mồ chung chạy dài gần 1 km có  tên là Bờ Xác (Hình 3).

3

Hình 3:  Bờ Xác , mồ chôn quân Tống chết trong trận Bình Lỗ ở xã Tam Giang (Yên Phong, Bắc Ninh)

Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị bắt làm tù binh. Quân Biện chạy trốn ngược dòng sông Cầu, đến Vũ Nhai (Thái Nguyên) thì bị người dân bắt nộp cho nhà vua. Lưu Trừng và  Giả Thực khi về nước liền bị giết bêu đầu ở chợ Ung Châu. Tôn Toàn Hưng bị hạ ngục rồi chết. Trần Khâm Tộ, Hác Thủ Tuấn và Thôi Lượng đều bị  trách phạt, giáng chức. Còn Vương Soạn sau bị bệnh rồi chết.  Trận phá Tống năm 981 được lưu lại trong nhiều truyền thuyết, dã sử và để lại tiếng vang trong lòng nhân dân đến tận ngày hôm nay.

  1. VÙNG CỬA SÔNG CÀ LỒ CÒN LƯU GIỮ NHIỀU DẤU TÍCH VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỊCH SỬ CỦA NHÀ TIỀN LÊ

Dọc nhánh sông Hữu Ninh 2 ngoài cái tên Ngòi Ác, Bờ Xác nêu ở trên còn có  Cầu Cửa Ma (nơi diễn ra trân đánh đẫm máu nhất lúc bấy giờ) , Đầm Lâu (nơi các binh sĩ Đại Cồ Việt nằm mai phục nhiều tháng trời), Đình Mừng (nơi các binh sĩ ăn mừng sau chiến thắng).

Sự tích Thánh Tam Giang [18] là một truyện dã sử xảy ra vào khoảng giữa thế kỷ 6. Tại thôn Ngọc Hà (xã Xuân Giang, huyện Sóc Sơn), nơi có thành Bình Lỗ, nay còn để lại dấu tích một số bức tường cổ bằng đất của một tòa thành xưa có tên là Thành Phủ do Trương Hống và Trương Hát cho xây dựng.  Nơi đây đã từng là căn cứ kháng chiến cũ của hai vị anh hùng họ Trương.  Vì thế mà bài thơ Nam quốc sơn hà  luôn được gắn với tên của hai ông. Thành Bình Lỗ chính là nơi phát tích lần đầu của bài thơ Nam quốc sơn hà [19].

Biết rằng trước khi được tôn lên làm vua Lê Hoàn đã là tướng của 10 đạo quân (Thập đạo tướng quân) . Ông có công lớn trong việc dẹp loạn và thu phục 12 xứ quân (trong đó có đến 5 xứ quân là người gốc Trung Hoa mới di cư xuống).  Cho nên mặc dầu lúc đó ở Hoa Lư chỉ có 3 ngàn thiên tử quân, ông vẫn bình tĩnh tự làm tướng dẫn đầu hành quân lên phía bắc chống nhau với  giặc.  Dọc đường ông được nhân dân hết lòng ủng hộ. Vì thế, theo PGS Trần Bá Chí,  Đại Cồ  Việt  đã huy động được 10 vạn người tham gia chiến dịch phá Tống ở Bình Lỗ. Quá trình phát triển của đội quân này đã được nhân dân xây dựng thành hình ảnh người anh hùng trong truyền thuyết Thánh Gióng [20].

  1. Ý NGHĨA CỦA CHIẾN THẮNG BÌNH LỖ

Cuộc kháng chiến chống Tống năm 980/981 thắng lợi trọn vẹn, Lê Đại Hành đã lợi dụng điều kiện địa hình sông ngòi của nước ta, bố phòng hợp lý khiến cho quân Tống không dùng được kế đánh nhanh thắng nhanh. Ông lại thực thi có hiệu quả thuật công tâm và kế trá hàng làm cho các tướng Tống không lường trước được.

Chiến thắng Bình Lỗ để lại kinh nghiệm vô cùng quý báu về chiến tranh nhân dân, bảo vệ nền độc lập nước nhà. Đó còn là bài học của một nước nhỏ nếu biết đoàn kết toàn dân và có người lãnh đạo sáng suốt thì nhất định sẽ đánh thắng được đế quốc to, dù chúng lớn hơn gấp nhiều lần.

Trong quá trình bảo vệ nhà nước Đại Cồ Việt non trẻ, nhân dân ta đã đúc kết kinh nghiệm và  xây  dựng thành công một công trình phòng thủ nổi tiếng, đó là thành Bình Lỗ. Ngoài ra trong cuộc kháng chiến này còn xuất hiện một áng thơ bất hủ, đó là bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”.  Hy vọng hai kiệt tác, đó là hình ảnh người anh hùng Thánh Gióng và bài thơ Nam quốc sơn hà sẽ sống mãi với các thế hệ người dân nước Việt. 

4

Nay làng mạc trên gò đất cao và vết tích của tòa thành cổ không còn (Hình 4a,b,c,d). Nhiều di vật có liên quan đến lịch sử bị lấy mất  hoặc bị phá hủy. Vì những lợi ích nhỏ trước mắt (như lấy đất làm gạch), các cấp quản lý ở địa phương đã buông lỏng và quên mất lợi ích lớn có giá trị cho ngàn năm sau của cả dân tộc.

Sau nhiều lần bị đào bới, đã làm các lớp địa tầng của gò đất cao lộ ra. Qua đó càng khảng định  địa chất và long mạch nơi đây rất tốt, có mạch nước ngầm trong và mát không bao giờ cạn. Trên mặt đất, xưa kia xung quanh và trên gò đất cao luôn có nhiều cây cối xum xuê, nhiều công trình khang trang thậm chí nguy nga và nhất là có gió mát quanh năm, làm cho nơi này không chỉ là nơi có long mạch tốt  mà còn hội tụ nhiều khí thiêng. Chả thế mà từ cuối thế kỷ 17 đến năm 1954 nhiều cha cố phương Tây, biết là đất tốt nên đã chọn gò đất cao này để xây dựng thành một xứ đạo lớn, thu hút đông đảo bà con xứ đạo đến làm lễ và thăm viếng. 

Thành Bình Lỗ vốn là công trình được xây dựng cách ngày nay hơn 1000 năm để ngăn chặn các đạo quân từ phương bắc. Do nơi có long mạch và địa thế tốt nên luôn giành thắng lợi.  Nay tòa thành đã và đang bị xâm hại nặng nề (Hình 4a,b,c,d), ảnh hưởng không tốt đến long mạch của Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội cũng như lịch sử và vận khí của cả quốc gia.

Thật là tiếc, vì lợi ích rất nhỏ mà các cấp chính quyền nơi đây của Thủ đô đã vô tình xâm phạm mảnh đất thiêng của tổ tiên trong một thời gian khá dài, nay lại muốn quên đi trách nhiệm của mình trong việc quản lý di tích lịch sử quý hiếm này thì không thể được. Dù sao lỗi này phải sửa, long mạch nơi này nhất định phải được hàn gắn lại, chỉ có như vậy trang sử  hào hùng “huyền thoại Nam quốc sơn hà” của nước Việt  đã bắt đầu cách đây 1040 năm mới có thể viết tiếp.


THAM KHẢO

[1]  Bình Lỗ.Bách khoa toàn thư mở.

 https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_L%E1%BB%97

[2]  Thiền Uyển Tập Anh. Đại sư Khuông Việt.

http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-vn/con-nguoi-vn/7211-Khuong-Viet-Dai-su.html

[2]   Đại sư Khuông Việt. Sách Thiền Uyển Tập Anh. Bản điện tử, trang 21/22.

http://www.thuvienhaiphu.com.vn/datafile1/BE015404.pdf

[3]  Đại Việt sử ký toàn thư. Quyển VI, Kỷ Nhà Trần, Anh Tông Hoàng Đế. Trang 210. Nxb Khoa Học Xã Hội (Hà Nội) ấn hành (1993) hoặc Bản điện tử.

https://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt11.html

[4] Đi tìm thành Bình Lỗ của nhà nước Đại Cồ Việt.

https://nghiencuulichsu.com/2018/04/03/di-tim-thanh-binh-lo-cua-nha-nuoc-dai-co-viet/

[5] Bài ký sự tích Sóc Thiên Vương, sách Việt Điện U Linh Tập. Lý Tế Xuyên, bản sớm nhất năm 1329. Bản điện tử, trang 91.

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2019/11/viet-dien-u-linh-tap-ly-te-xuyen.pdf

 [6] Việt sử lược. Trần Quốc Vượng dịch. Bản điện tử, trang 61. 

http://www.sugia.vn/portfolio/detail/986/viet-su-luoc.html

http://www.sugia.vn//assets/file/viet_su_luoc_2523.pdf

 [7]  Đại Việt sử lược. Quyển I. Khuyết danh (1377 – 1388). Bản điện tử, pdf.  trang 30.

https://quangduc.com/images/file/gpdtq37d1AgQAJhF/dai-viet-su-luoc-khuyet-danh.pdf

[8]  Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển I, Nhà Tiền Lê, Đại Hành Hoàng Đế. Trang 66. Hoặc Bản điện tử:   https://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt06.html

 [9]  Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (KĐVSTGCM). Bản đầu tiên năm 1884.  Bản điện tử, trang 89.

https://quangduc.com/images/file/_voL837d1AgQANJp/kham-dinh-viet-su-thong-giam-cuong-muc-quoc-su-quan-trieu-nguyen.pdf

 [10]  Việt Nam Sử Lược.  Trần Trọng Kim, năm 1919. Bản điện tử, trang 37.

https://quangduc.com/images/file/oOduVYLd1AgQABwg/viet-nam-su-luoc-tran-trong-kim.pdf

[11]   Vì sao không tìm thấy thành Bình Lỗ.  https://nghiencuulichsu.com/2019/01/03/vi-sao-khong-tim-thay-thanh-binh-lo/

[12]  Truyện Hai vị thần ở Long Nhãn – Như Nguyệt, sách Lĩnh Nam Chích Quái, Trần Thế Pháp.  Bản điện tử, pdf, trang 82.

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2010/11/linhnamchichquai_march18_2015.pdf

[13]  Nguyễn Vinh Phúc. Lê Đại Hành và Sóc Thiên Vương. Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn. Bản điện tử (16):  

 https://www.quansuvn.net/index.php/topic,5197.150.html

[14]  Lý Đào: Tục tư trị thông giám trường biên. q. XXII. Sđđ. Tờ 2b

[15] Tống sử liệt truyện. Giao Chỉ truyện. Sđđ. q. 488. 

[16]  An Nam chí của Cao Hùng Trưng. Hay : Nguyễn Hữu Tâm: Đại thắng mùa xuân 981… qua một số thư tịch của Trung quốc.   https://www.quansuvn.net/index.php/topic,5197.70.html

[17]  Sách Sự thực loại uyển (事實類苑) của Giang Thiếu Ngu (江少虞) thời Nam Tống (1127/1279) dẫn từ Tương Sơn dã lục (湘山野錄) cho biết: “Nhân Bảo bị người Giao Chỉ bắt, chém bêu đầu ở huyện Chu Diên  (仁寶為交趾所擒,梟首於朱鳶縣,宜然也)”.

[18]  Thánh Tam Giang. Bách khoa toàn thư mở.

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1nh_Tam_Giang

[19]  Thành Bình Lỗ – nơi phát tích lần đầu của bài thơ Nam quốc sơn hà.

http://nguoilambao.vn/thanh-binh-lo-noi-phat-tich-lan-dau-bai-tho-nam-quoc-son-ha-n23105.html

[20]  Truyền thuyết Thánh Gióng và bí mật của con sông Hữu Ninh

https://nghiencuulichsu.com/2020/09/08/truyen-thuyet-thanh-giong-va-bi-mat-cua-con-song-huu-ninh/

7 thoughts on “Chiến dịch Bình Lỗ & Trận đại phá quân Tống trên sông Hữu Ninh

  1. Cách đây hàng ngàn năm, địa hình nơi được coi là thành ”Bình Lỗ ” chắc chắn là khác biệt …Lịch sử Việt Nam quá nhiều huyền ảo…lời truyền….

  2. Cách đây hàng ngàn năm, địa lý nơi được ngờ là thành ” Bình Lỗ ” chắc chắn đã khác xa bây giờ..hoặc khong tồn tại. Lịch sử Việt Nam quá nhiều huyền hoặc, tin đồn, tương truyền…kiêng kị…

    • Vị trí thành Bình Lỗ nêu trong bài này trước năm 1954 chính là vị trí của một làng công giáo có tên là Trung Nghĩa, đã được nâng lên là một xứ đạo ngang với xứ đạo bắc Ninh và Nội Bài. Năm 1954, ngay sau khi quân Pháp rút khỏi các đồn bốt xung quanh, tôi và một vài thanh niên đã vào làng này. Đó là một làng trù phú, có nhà thờ nguy nga, còn nhiều nhà xây tương đối kiên cố, nhiều cây cối um tùm, các lối ra vào được bảo vệ khá chắc chắn. Khi Họ Lê Việt Nam tổ chức khảo sát, được người dân ở đây báo cáo lại là họ tìm thấy nhiều vật liệu cổ, do không hiểu nên đã làm hư hại hoặc bán đi. Họ còn tìm thấy khoảng 20 cây cọc gỗ đường kính trung bình khoảng 20 cm, dài trung bình 7 m, nằm sâu dưới lớp bùn đất đáy sông Cà Lồ 1,5 m chảy quanh thành này. Vị trí thành này là có thực, chúng tôi con cả một báo cáo về đợt khảo sát này. Hiện trạng ngày nay là do làng Ngọc Hà và xã Xuân Giang, huyện Sóc Sơn buông lỏng quản lý, mới tạo ra rất gần đây thôi.

      • Để biết Xứ đạo Trung Nghĩa (nằm ở vị trí thành Bình Lỗ) xin vào xem bài “Trung Nghĩa” của tác giả Hoàng Ngọc Lê là người của xứ đạo này “https://www.angelfire.com/nb/hoang/TrungNghia.htm”.

  3. Văn hiến thông khảo (文憲通考) của người thời Nguyên (元) là Mã Đoan Lâm (馬端林) dẫn Quế Hải Ngu hành chí (桂海虞衡志) của người thời Nam Tống (南宋) là Phạm Thành Đại (范成大) chép:

    今安南國地接漢九真、日南諸郡。及唐驩、愛等州,東南薄海接占城,占城,林邑也。東海路通欽、廉,西出諸蠻,西北通邕州。在邕州東南隅,去左江太平寨最近。自寨正南行至桄榔、花步,渡富良、白藤兩江,四程可至。又自寨東南行,過丹特羅小江,自諒州入六程可至。自右江溫潤寨則最遠。由欽州渡海一日至,歷代為郡縣,國朝遂在化外,丁氏、黎氏、李氏代擅其地。熙寧閒,乾德初立,其大臣用事,嗾之叛。八年,遂入寇,陷邕、欽、廉三州。朝廷命郭逵等討之,賊驅象拒戰,官軍以大刀斬象鼻,象奔,自蹂其徒,大兵乘之,賊潰,乘勝拔桄榔縣。知縣,交主之婿,逃伏草閒,窺見王師獲賊,擘食之,以為天神。歸報其主,曰:「茍可逃命,子孫勿犯大朝。」大軍次富良江,去都護府四十里,殺偽太子,擒其大將。乾德大懼,奉表乞降。會北兵多病瘴,乃詔赦交趾,還其五州。

    Nước An Nam [An Nam quốc (安南國)] ngày nay là tiếp nhận từ đất các quận Cửu Chân (九真)-Nhật Nam (日南) thời Hán (漢) và các châu Hoan (驩)-Ái (愛) thời Đường (唐). Phía đông nam kề biển giáp nước Chiêm Thành (占城). Nước Chiêm Thành là nước tiếp nối nước Lâm Ấp (林邑) thời xưa vậy. Đường biển phía đông thông với các châu Khâm (欽)-Liêm (廉). Phía tây kề với các bản mường người Man (蠻), phía tây bắc thông với Ung châu (邕州). Nước này ở phía đông nam của Ung châu, cách trại Thái Bình [Thái Bình trại (太平寨)] gần nhất. Từ trại Thái Bình của miền Tả Giang (左江) đi về phía chính nam đến các huyện Quang Lang (桄榔)-Hoa Bộ (花步), vượt sông hai con sông Phú Lương (富良)-Bạch Đằng (白藤), cả thảy bốn ngày thì có thể đến nơi (chỉ kinh đô). Lại từ trại Thái Bình đi về phía đông nam, qua sông nhỏ Đan Đặc La (丹特羅) đến Lạng châu (諒州) rồi vào kinh đô nước ấy thì sau ngày là đến nơi. Từ trại Ôn Nhuận [Ôn Nhuận trại (溫潤寨)] của miền Hữu Giang (右江) mà đi thì xa nhất. Từ Khâm châu (欽州) vượt biển thì một ngày là đến nơi. Sau các đời [nhà Hán-Đường] làm quận huyện, đến thời quốc triều (nhà Tống) thì bèn ở ngoài vòng lễ hóa (chỉ ngoài vòng nội thuộc), các họ Đinh (丁)-Lê (黎)-Lý (李) thay nhau chiếm giữ nước ấy. Giữa những năm Hi Ninh (熙寧), vua nước ấy là Càn Đức (乾德) mới lên ngôi, đại thần nắm quyền, xúi vua nước ấy làm phản. Năm Hi Ninh thứ tám [năm 1075], người nước ấy bèn vào đánh cướp, hãm ba châu Ung (邕)-Khâm (欽)-Liêm (廉). Triều đình sai bọn Quách Quỳ (郭逵) đánh nước ấy, giặc xua voi đánh chống, quan quân dùng dao lớn chém vòi voi, voi chạy lại tự dẫm xéo lên quân ấy, đại quân ruổi theo đánh tới, quân giặc tan vỡ, thừa thắng đánh chiếm được huyện Quang Lang. Tri huyện (知縣) là con rể của vua nước Giao (交) [tức nước Giao Chỉ (交趾), người thời Tống gọi nước ta nước An Nam hoặc Giao Chỉ, hoặc gọi tắt là Giao] trốn nấp ở trong bụi cỏ, lén nhìn thấy quan quân bắt được quân giặc, phanh ra mà ăn thịt, cho rằng quan quân là ‘thần trời’, về báo cho vua nước ấy rằng:

    – “Hãy trốn đi thôi, bảo với con cháu là đừng xâm phạm thiên triều nữa!”

    Đại quân đến sông Phú Lương, còn cách Đô hộ phủ (都護府) bốn mươi dặm [bấy giờ nước ta tuy đã độc lập nhưng kinh đô vốn là thành cũ thời Đường nên xưng như thế], giết Thái tử (太子) và bắt được Đại tướng (大將) của bọn ngụy (chỉ quân ta). Càn Đức cả kinh, dâng biểu xin hàng. Vừa lúc quân bắc [chỉ quân Tống] phần nhiều nhiễm chướng lệ, triều đình bèn hạ chiếu bãi binh ở Giao Chỉ, đem năm châu đã đánh lấy được trả về cho nước ấy [tức các châu Quảng Nguyên (廣源), Tô Mậu (蘇茂)…]

    _____________

    Từ thời Tống ở đã có đường bộ hành quân vào Giao Chỉ. Trong đó có con đường từ trại Thái Bình [thuộc thành phố Sùng Tả (崇左) tỉnh Quảng Tây nước Trung Hoa ngày nay], qua huyện Quang Lang [tỉnh Lạng Sơn nước ta ngày nay] và đất Hoa Bộ (花步) trước khi vượt qua hai con sông lớn là Phú Lương [tức sông Cầu ngày nay] và sông Bạch Đằng [có lẽ chỉ thượng lưu của sông Bạch Đằng là sông Đuống]. Vậy thì tên đất Hoa Bộ ở đâu đó trên chặng đường bộ qua tỉnh Lạng Sơn hướng đến sông Cầu và sông Đuống mà thôi.

    Hoa Bộ là địa địa điểm đóng quân của quân Tống thời xưa. Giữa những năm Thái Bình Hưng Quốc (太平興國], bọn Hầu Nhân Bảo (侯仁寶) đi trước, bọn Tôn Toàn Hưng (孫全興) đóng quân bảy ngày ở Hoa Bộ để đợi quân thủy của bọn Lưu Trừng (劉澄). Quân thủy từ Khâm châu vào nước ta phải vào cửa qua sông Bạch Đằng rồi vào sông Đuống. Suy ra đất Hoa Bộ phải ở gần sông Đuống để dễ tập họp quân của hai đường thủy-bộ vậy.

    • Rất cám ơn bạn Tích Dã. Đúng là cái tên Hoa Bộ, vị trí của nơi này còn chưa rõ. Khi đưa cái tên này vào đây tôi dựa vào bài viết “Bình Lỗ. Bách khoa toàng thư mở”, trong đó có đoạn: Nhận rõ vị trí quan trọng của thành Bình Lỗ cũ, trong cuộc chiến tranh Tống Việt lần thứ hai năm 1077, Lý Thường Kiệt đã cho xây dựng phần trọng điểm của phòng tuyến sông Cầu ở khu vực này. Tại đây Quách Quỳ đã hai lần cho quân Tống vượt sông và Lý Thường Kiệt cũng cho quân Đại Cồ Việt tiến đánh tiêu diệt gần hết cánh quân của Triệu Tiết, nhờ đó đã sớm kết thúc được chiến tranh.Trận quyết chiến xảy ra trên cánh đồng làng Tiếu Mai, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa. Đến nay còn để lại nhiều dấu tích, trong đó có các gò xác và một ngôi chùa xây trên cánh đồng Xác. Ngôi chùa cũng mang tên là chùa Xác, được xây dựng lên để cầu vong cho linh hồn quân Tống khỏi bơ vơ nơi đất khách quê người. Sau này chùa Xác được đổi tên thành An Lạc Tự [9]. Tài liệu tham khảo số [9] chỉ ghi là “Lịch sử Hà Bắc, Tập 1, 1986, tr 87”, thú thực tôi chưa tra cứu được. Rất mong bạn bổ xung thêm.

      • Xin lỗi còn thiếu một đoạn trích dẫn: “Về phía Đông Bắc của ngã ba Xà, bên tả ngạn sông Cầu có một làng tên là làng Sổ, thuộc huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang. Các cụ trong làng lý giải tên làng là do quân Tống tàn phá coi như không còn làng – làng bị xóa sổ. Trên đường rút chạy của quân Tống qua đây chúng đã đốt phá làng mạc, tàn sát nhân dân vô tội để trả thù. Sau cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất thắng lợi làng mới tái lập lại và đặt tên là làng Sổ để ghi nhớ sự kiện bi thương. Thời Lê Nguyễn, làng Sổ lại đổi tên thành làng Ba Lỗ. Tên Ba Lỗ được lý giải như sau: phía Tây Nam làng là ngã ba Xà và thành Bình Lỗ do Lê Đại Hành xây dựng. Quân Tống bị đại bại trên khúc sông Cà Lồ gần ngã ba Xà, nơi có thành Bình Lỗ. Có một tiền nhân của làng lấy chữ Ba của ngã ba Xà và chữ Lỗ của thành Bình Lỗ ghép lại thành Ba Lỗ đặt tên cho làng để ghi dấu ấn lịch sử thời Tiền Lê, trong đó có công sức của dân làng Sổ.” Trong đoạn này có nhắc đến vị trí thành Bình Lỗ do Lê Đại hành cho xây dựng.

Nhận xét về phan huy quynh Hủy trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s