Nhà Tây Sơn: Quang Toản[5/9/1793-30/1/3/1794]
Hồ Bạch Thảo
Chú họ của Cựu hoàng Lê Chiêu Thống là Lê Duy Trị trốn sang Trung Quốc, các quan tại Lưỡng Quảng cùng Vua Càn Long bàn định cho an sáp tại tỉnh Giang Nam:
“Ngày 30 tháng giêng năm Càn Long thứ 59 [1/3/1794]. Tổng đốc Lưỡng Quảng Giác La Trường Lân, Tuần phủ Quảng Tây Trần Dụng Phu tâu rằng:
‘Chú họ của Lê Duy Kỳ, bà con thân chịu tang chung là Lê Duy Trị, cùng Trương Ðình Quyến từ An Nam, cải trang cạo tóc xin đầu thuận, xin được an trí. Tra xét tên Di này thuộc họ Lê, chi phái gần, không tiện đuổi về nước này, rồi sinh hấn khích. Nếu lưu tại Lưỡng Quảng, cương vực giáp giới; nếu người trong nước nghe tin con cháu họ Lê trốn vào nội địa, thì cũng không thành sự thể.’
Vua phê rằng nhận xét đúng. Lại tâu:
‘Trước đây thời Lê Duy Kỳ đầu thuận nội địa, những người tùy tòng đều cho an sáp tại các xứ như Chiết Giang, Giang Ninh.’
Phê đúng. Lại tâu:
‘ Nay chủ tớ Lê Duy Trị chỉ có 2 người, xin theo tiền lệ giải đến Giang Nam [Giang Tô, An Huy] cho an sáp.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Cho làm như vậy.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1445, trang 15-16)
Vua Càn Long căn dặn Tổng đốc Giang Nam Thư Lân sai thuộc hạ lưu tâm kiểm tra, không để cho hai người này cấu kết với những người An Nam đã an sáp tại đây rồi gây sự:
“Ngày 16 tháng 6 năm Càn Long thứ 59 [12/7/1794]. Lại dụ:
Theo lời tâu của Trần Dụng Phu:
‘Người chú họ gần của Lê Duy Kỳ là Lê Duy Trị mang tùy tòng Trương Ðình Quyến đến đầu thuận, điều tra thì không có lý do gì đặc biệt; đã tuân theo chiếu chỉ sai người đem bọn Lê Duy Trị đến Giang Nam và báo rõ cho Thư Lân sắp xếp an sáp.’
Lê Duy Trị là bà con gần với Lê Duy Kỳ họ Lê, xin đầu thuận nội địa. Tuy điều tra thì không có lý do đặc biệt, nhưng cũng không nên cả tin. Ðất Giang Nam trước đây từng an sáp người nhà Lê cũ, yên tĩnh đã lâu; không thể để cho bọn chúng thông đồng, gây sự phiến động. Nay truyền dụ Thư Lân, sau khi Lê Duy Trị được giải đến, cho an sáp ỗn thỏa, và sức thuộc hạ lưu tâm kiểm tra, không để cho gây sự, như mới thỏa đáng.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1455, trang 3-4)
Do Vua Tây Sơn gửi biểu văn sang nhà Thanh tâu rằng họ hàng nhà Lê không có người nào tên là Lê Duy Trị, nên được lệnh đem hai người đến kinh sư điều tra thêm. Lê Duy Trị khai nguyên tên là Lê Duy Phổ; cho gặp mặt mẹ Cựu hoàng Lê Chiêu Thống và thân nhân hoàng tộc nhà Lê, thì đều xác nhận là bà con. Sau đó Vua Càn Long gửi chiếu thư cho Quốc vương Nguyễn Quang Toản, nói rõ sự việc:
“Ngày 22 tháng 10 năm Càn Long thứ 59 [14/11/1794]. Lại dụ các Quân cơ đại thần:
Ngày hôm này Ủy viên từ Giang Ninh [Nam Kinh] đem 2 người Lê Duy Trị, Trương Ðình Quyến giải tới. Lệnh Quân cơ đại thần tra hỏi rõ ràng, khai rằng y nguyên tên là Lê Duy Phổ, cùng chung tằng tổ [ đời cố], thuộc vai chú Lê Duy Kỳ; lại cầm bút khai phổ hệ chi phái, cùng tình hình [những người] tỵ nạn đầu thuận, tương đối rõ ràng. Lại ra lệnh cho mẹ Lê Duy Kỳ và Lê Duy An nhận diện, xác minh bọn này; lúc gặp thì ôm đầu khóc, xét lời nói và sắc mặt thì không phải là giả dối. Vậy Lê Duy Phổ thuộc thân tộc họ Lê, không còn nghi ngờ gì nữa.
Trước đây biểu văn của Nguyễn Quang Toản xưng rằng e bọn này do Thổ mục mạo danh đầu thuận, hiển nhiên là giả tạo; nay đặc cách ban sắc dụ huấn thị rõ ràng. Bọn Tổng đốc nhận được, lập tức sai phái viên mang đến trấn Nam Quan, vẫn ra lệnh cho Thành Lâm ban cấp.
Sau khi phụng mệnh, lệnh đợi viên Quốc vương tiếp nhận xong, tâu phúc đáp ra sao; hoặc y tâu trình đầy đủ, viên Tổng đốc tiếp nhận được, thì cấp tốc tâu lên. Ngoài ra đem Lê Duy Phổ,Trương Ðình Quyến 2 người đến Kim Giản gần đó, cho nhập vào Tá lãnh họ Lê để cho an sáp. Ðem dụ này truyền để hay biết.
Sắc dụ Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Toản rằng:
‘Trước đây theo lời tâu của Tổng đốc Lưỡng Quảng Trường Lân rằng nước An Nam trình tiến biểu văn, xưng rằng ‘Tra khắp nước không có người nào tên là Lê Duy Trị, những người trong họ Lê cũng không có sự bôn đào. Sợ rằng dư đảng bọn Thổ mục nước này là Nồng Phúc Tấn, Hoàng Văn Ðồng mạo xưng để xin đầu thuận; khẩn xin tra cứu.’ Trẫm nhân đó sai Ngự tiền đại thần Phúc Trường An tra hỏi Nguyễn thị, mẹ của Lê Duy Kỳ, cùng bọn Lê Duy An; thì chúng cùng xưng rằng y là anh em họ gần, cũng không phải tên là Lê Duy Trị; như vậy biểu văn trước của ngươi không phải là sai sự thực, đáng được giáng chỉ dụ khen thưởng. Lại ra lệnh cho Tổng đốc, Tuần phủ Giang Nam đem Lê Duy Trị, bị an sáp tại tỉnh này, đến kinh đô. Qua Trẫm ra lệnh, Quân cơ đại thần tra hỏi thêm được biết Lê Duy Trị vốn tên là Lê Duy Phổ, từng được phong là Giao Quận công, thuộc vai chú của Lê Duy Kỳ, hai người cùng chung cố nội; bèn ra lệnh khai trình phổ hệ, kê khai rất chi tiết. Lại ra lệnh cho mẹ Lê Duy Kỳ cùng Lê Duy An nhận mặt, cả hai bên đều biết nhau; vậy Lê Duy Phổ là bà con gần của nhà Lê, không còn nghi ngờ gì nữa.
Trẫm phủ ngự trong ngoài, đối xử chung một lòng nhân; trước đây họ Lê thần phục Thiên triều đã hơn một trăm năm, bởi vậy lúc mẹ con Lê Duy Kỳ đến đầu thuận, Trẫm gia ơn an sáp. Sau khi Lê Duy Trị đầu thuận nội địa, đã cho an sáp tại Giang Ninh; rồi biểu văn của ngươi cho rằng sợ y thuộc dư đảng của Nồng Phúc Tấn, Hoàng Văn Ðồng mạo xưng, nên giải bọn y về kinh đô. Nếu như thực sự mạo xưng, thì cho gửi trở về nước ngươi. Nay tra vấn rõ, Lê Duy Trị vốn tên là Lê Duy Phổ, cũng không phải là dư đảng của hai họ Nùng, Hoàng; nên lý không thể trả về nước ngươi, để cho ngươi xử trị. Còn dư đảng của hai họ Nùng, Hoàng, ắt còn tại nước ngươi; tự ngươi cho tìm kiếm xử trị. Ngoài ra thủ hạ của bọn Lê Duy Phổ tại An Nam, nên xử trí như thế nào, do nước ngươi lo liệu. Nói tóm lại, cha ngươi nhận ơn sâu của Trẫm, được phong tước Vương để trông coi phên dậu; ngươi kế thừa cơ nghiệp, cần giữ lãnh thổ an ninh, kính cẩn thận trọng, ngưỡng thừa ân quyến. Những người thuộc chi gần họ Lê, đã được Thiên triều an sáp, không thể trở lại nước ngươi sinh sự, ngươi không cần phải lo điều này. Dụ ngươi một cách rõ ràng khắc thiết, kính cẩn phụng thừa Trẫm mệnh, tăng cung thuận gấp bội, không để mất nghiệp cũ, được hưởng ân đức. Ðặc dụ.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1463, trang 15-17)
Tại miền Nam vào tháng giêng năm Giáp Dần [31/1-1/3/1794], chưởng dinh Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức về đến Diên Khánh, dâng biểu xin cùng với bộ thuộc lưu lại để giúp Đông cung. Nguyễn Vương khen, sai đem tặng áo mùa xuân, nhưng sau lại triệu về Gia Định.
Tuần biển Phú Yên bị giặc biển Tề Ngôi cướp mất 7 chiếc thuyền; Vương xuống dụ nghiêm trách, sai đưa hết thuyền về Diên Khánh.
Cấm quan quân không được bán ngựa cho người nước ngoài, trái lệnh không kể ngựa tốt hay xấu, đều bị tội chết.
Tháng 2 [2/3-30/3/1794], ban áo mùa xuân cho Thượng đạo tướng quân Nguyễn Long, Lưu thủ Phú Yên Nguyễn Văn Nhân, Hiệu úy Tả chi Vũ Văn Lượng và các tướng hiệu. Lại lấy ở kho 10 cây gấm đoạn, đem đến Diên Khánh bảo Đông cung rằng nếu như có tù trưởng người Đê đến yết kiến thì ban cấp cho.
Tháng 3 [31/3-28/4/1794], quân Tây Sơn thuộc phe Nguyễn Quang Toản sai tướng là Thái úy Nguyễn Văn Hưng và Tổng quản Trần Quang Diệu đem quân thủy quân bộ vào thành Quy Nhơn [Bình Định]. Vương truyền dụ cho Đông cung Cảnh chỉnh đốn tướng sĩ, phòng bị nghiêm mật. Đông cung dâng biểu:
“Quân lấy lương ăn làm đầu, nay lương quân ở Diên Khánh chỉ đủ dùng một
tháng, sợ thiếu”.
Vương liền sai chỉ huy dinh Tiên phong Nguyễn Văn Thành thống lĩnh binh thuyền chở hơn 4 vạn phương gạo [ phương= 30 lít]; nhưng đến Vũng Tàu ngược gió chưa tiến được. Lại sắc cho Lưu thủ Bình Thuận Nguyễn Văn Tánh theo đường bộ chở 3.000 phương gạo kho đi suốt ngày đêm, để kịp chi phát.
Sai Cai cơ chi Túc vệ là Nguyễn Văn Lợi đem quân sở thuộc và quân chi Kiến Võ đi Bình Thuận thay cho Nguyễn Văn Tánh, chia đi tuần phòng các đường thủy đường bộ trọng yếu.
Hơn 60 thuyền Tây Sơn đậu ở hòn Đồi Mồi, chợt bị bão, một chiếc thuyền cùng 25 binh sĩ dạt vào cửa Tiểu [Tiền Giang], bị bắt giải đến Gia Định.
Tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Hưng đem 40.000 quân bộ xâm phạm Phú Yên. Lưu thủ Nguyễn Văn Nhân báo cho thành Diên Khánh; Đông cung ra lệnh cố giữ để chờ viện binh. Nhân cho rằng quân ít không chống nổi, cùng với Vũ Văn Lượng, Mạc Văn Tô, Nguyễn Đức Thành rút lui. Chợt có tin gián điệp báo rằng quân Tây Sơn đi đường núi xuống Ba Ngòi [Cam Ranh] để triệt đường lương quân nhà Nguyễn; Đông cung bèn sai bọn Nhân đến Mai Nương [huyện Ninh Phước, Ninh Thuận] để phòng bị. Việc tâu lên, Vương giục Nguyễn Văn Thành đốc suất các thuyền lương tiến vào Bình Thuận, vẫn điều hai chi Túc Uy và Kiến Võ cứ chở gạo lương đến thành Diên Khánh.
Tháng 4 [29/4-28/5/1794], tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu đem thủy binh vào cửa biển Nha Trang; bộ binh của Nguyễn Văn Hưng cũng đến Bình Khang; họp quân tiến sát thành Diên Khánh, vây ba mặt.
Đông cung triệu Vũ Văn Lượng về thành chống giữ, sai Nguyễn Văn Nhân đóng đồn Long Cương [Gò Rồng], Mạc Văn Tô và Nguyễn Đức Thành đóng đồn ở Ba Ngòi, Nguyễn Long đóng đồn ở Thượng đạo, để chặn đường không cho địch thông viện. Quân Nguyễn Văn Thành đến, bèn cùng Nhân tiến đóng ở các xứ Phong Lộc và Cầu Dài [Trường Kiều]. Tây Sơn đánh thành liền mấy ngày; súng trong thành bắn ra, quân địch chết và bị thương rất nhiều. Vua nghe tin, bèn thân cử đại binh đi đánh, sai chạy dụ cho Đông cung rằng :
“Giặc cậy đông mà kiêu, không đáng lo. Con nên cùng các tướng giữ thành cho vững, không bao ngày nữa đại binh sẽ tới. Nếu bỏ thành ấy thì từ Chánh phó tướng trở xuống đều lấy quân pháp trị tội”.
Sai Chưởng Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức, Lễ bộ Nguyễn Đô, Tham mưu Nguyễn Thái Nguyên, Hộ bộ Phan Thiên Phước, Hình bộ Nguyễn Văn Nghị ở lại trấn giữ Gia Định, kiêm coi các việc binh dân bốn dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Trấn Định, Vĩnh Trấn; Vệ úy vệ Ban trực hữu Tô Văn Đoài quản quân các vệ để phòng giữ thành Gia Định.
Vương thân đem thủy quân cứu viện. Sai Chưởng Tiền quân Tôn Thất Hội điều bát dinh Tiền thủy làm tiên phong, Chưởng Hậu quân Võ Tánh điều bát dinh Hậu thủy làm hậu tập, thuộc nội cai cơ Võ Di Nguy thống suất dinh Trung thủy để hộ giá, Hộ bộ Trần Đức Khoan, tham tri Nguyễn Văn Mỹ và Nguyễn Kỳ Kế đi theo trông coi việc lương.
Thuyền Vương tiến đến vũng Diên [Khánh Hòa], nhìn xa thấy thuyền của Tây Sơn ở Hòn Chông; đạo quân Tôn Thất Hội đuổi theo không kịp, bèn đóng lại Vũng Tàu Phan Rang.
Tây Sơn nghe tin đại binh đến, tức thì giải vây Diên Khánh, quân thủy chạy về Quy Nhơn, quân bộ lui về Phú Yên. Vương được tin liền sai Nguyễn Văn Thành đem quân theo Đông cung đánh đuổi, để Nguyễn Đức Thành ở lại giữ thành Diên Khánh.
Tháng 5 [29/5-26/6/1794], thuyền Vương tiến đóng ở cửa biển Xuân Đài [huyện Sông Cầu, Phú Yên], sai Võ Tánh đem quân đánh giặc ở chợ Hội An [Phú Yên], quân Tây Sơn thua, lùi giữ Thị Dã [huyện Vân Canh, Bình Định]. Vương điều Tánh rút, rồi sai Nguyễn Văn Thành kiêm quản quân Nguyễn Long, Võ Văn Lượng, Mạc Văn Tô, Nguyễn Văn Tánh, Nguyễn Văn Lợi do các xứ Hà Nha [huyện Vân Canh, Bình Định], An Tượng ở thượng đạo mà đánh sau lưng địch, vẫn theo lệnh tiết chế của Đông cung.
Thuyền Vương đến cửa biển Thị Nại, tiến đánh Bình Định lần thứ hai. Mặt trận khác, sai Tôn Thất Hội lãnh quân các vệ đánh các bảo Tiêu Cơ, Mai Nương [huyện Ninh Phước, Ninh Thuận], đều lấy được. Quân Tây Sơn thua chạy, tịch thu hơn 40 cỗ đại bác và khí giới không xiết kể. Phía quân Nguyễn Phó tướng Tiền quân Nguyễn Văn Thư bị trúng đạn chết; Hội sai Cai cơ Nguyễn Đình Đắc đuổi theo tới núi Tam Tòa, bắt được 800 quân địch.
Tổng quản Trần Quang Diệu và Đổng lý giặc là Nguyễn Văn Thận từ Diên Khánh rút về, đem 8.000 quân chia đóng ở Nhạn Châu [Bãi Nhạn], Sâm áo [Vũng Sâm]; bị đánh giết và bị thương rất nhiều.
Thủy quân Nguyễn chặn ngang cửa biển. Thái úy Tây sơn là Nguyễn Văn Hưng, Thống lĩnh Nguyễn Văn Chân ở trong cửa biển chẹn chỗ hiểm chống giữ. Riêng Hộ giá Nguyễn Văn Huấn giữ chợ Vân Sơn [huyện Vân Canh, Bình Định] và Điểm kiểm Trấn Viết Kết giữ đồn Hà Nha [huyện Vân Canh, Bình Định] để chống bộ binh Nguyễn. Đông cung dâng biểu xin chia đường tiến đánh; Vương dụ rằng :
“Thủy binh giặc đương khốn với ta, tiến lui đều khó. Thủy thua thì bộ cũng thua theo, việc gì mà lo. Con nên ra lệnh cho Nguyễn Văn Thành cùng các tướng tùy địa thế đặt đồn bảo ở khoảng La Thai và Hà Nha, lại đặt thêm trọng binh ở Cù Mông [thành phố Qui Nhơn, giáp Phú Yên], hễ giặc tiến thì ta lùi, giặc lùi thì ta tiến, làm thế “bạng duật tương trì”, chờ khi ta phá được thủy binh giặc thì bấy giờ sẽ đánh úp lấy thành Quy Nhơn, dễ như trở bàn tay vậy”.
Tháng 7 [27/7-24/8/1794], sai truyền dụ cho quan Lưu trấn Gia Định phái chở gạo lương ra chứa ở Diên Khánh.
Vương từ Bình Định rút về cửa biển Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa], vào thành Diên Khánh; Nguyễn Văn Thành tháp tùng. Để Nguyễn Văn Trương ở lại kiêm quản binh thuyền hai vệ Ban trực hậu và Tuyển phong hậu đóng giữ địa đầu tỉnh Phú Yên, Trương Phước Luật kiêm quản binh thuyền ba vệ Ban trực tả, Ban trực hữu, Tuyển phong tiền, đóng giữ Vũng Lấm [huyện Sông Cầu, Phú Yên]. Sai Nguyễn Long và Võ Văn Lượng giữ Phú Yên, Mai Tiến Vạn và Nguyễn Văn Nguyện giữ Thạch Thành [huyện Tuy Hòa, Phú Yên].
Miễn việc bắt lính tại Phú Yên, nếu ai tòng quân thì được miễn sưu thuế; cho sửa đắp thành Diên Khánh.
Tháng 8 [25/8-23/9/1794], Vương thấy Đông cung đóng lâu tại Diên Khánh, bèn sai đem tướng sĩ dinh Tả quân về Gia Định trước.
Tháng 9 [24/9-23/10/1794], Nguyễn Vương đem quân về Gia Định, để Chưởng hậu quân Võ Tánh ở lại trấn giữ thành Diên Khánh. Qua sự thỏa thuận với Vương, người Xiêm đưa vua nước Chân Lạp là Nặc Ấn về nước. Trước kia Ấn bị người Chà Và [Java] đánh, phải chạy sang Xiêm; đến nay Xiêm đưa Ấn về nước, rút Chiêu Thùy Biện về giữ Bắc Tầm Bôn [Battambang, Cambodia]. Ấn sai sứ đến tạ ơn;Vương sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn và Vệ úy Lê Thành Lý đem các thứ gấm đoạn ban thưởng, lại cho 4.000 hộc thóc, 800 phương gạo.
Vua Thủy Xá mới lên ngôi, sai người đến thượng đạo Phú Yên thông hiếu, xin làm phiên thuộc. Bọn Nguyễn Long và Võ Văn Lượng tâu lên; Vương sai ban cho 2 chiếc áo gấm và những vật như cồng [chiêng] thau.
Lấy Đặng Trần Thường làm Hữu tham tri Lại bộ. Thường là người Chương Đức [huyện Chương Mỹ, Hà Tây], đỗ sinh đồ triều Lê, gặp loạn phải ẩn tích. Mùa đông năm ngoái [1793] cùng người đồng quận ở Thanh Oai [Hà Tây] là Nguyễn Bá Xuyến vượt biển đến. Khi qua thành Diên Khánh, vái Đông cung Cảnh mà nói rằng :
“Chưa gặp được vua nên không dám lạy”
Đông cung hậu đãi. Khi đến nơi, Vương giục dẫn vào yết kiến, hỏi về sự thế ở Bắc Hà, Thường trình bày mọi điều đều hợp ý. Trong chiến dịch Thị Nại, Thường đi theo bàn việc quân. Nguyễn Bá Xuyên cũng được làm cai đội, sai trở về Bắc Hà chiêu dụ hào kiệt.
Tháng 10 [24/10-22/11/1794], tướng Tây sơn Tổng quản Trần Quang Diệu và Tư lệ Lê Trung đem quân thủy bộ lại xâm phạm Phú Yên. Nguyễn Long và Võ Văn Lượng lui đóng giữ Bình Khang. Võ Tánh đem sự việc báo lên, xin một mình chống giữ cả mặt ấy và sai bọn Long về Gia Định. Vương chấp nhận và dụ rằng :
“Quân địch ở xa lại, lợi ở đánh chóng. Khanh nên bền giữ, lấy mình thong thả đợi nó mệt nhọc. Đó là kế sách vạn toàn. Phải nên cẩn thận”.
Dựng thêm kho tạm ở hai đạo Phố Hài [thị xã Phan Thiết, Bình Thuận] và Ma Li [huyện Bắc Bình, Bình Thuận]. Sai Bình Thuận thu trước thóc thuế năm Ất Mão [1795] xay thành gạo 3.000 phương [1 phương khoảng 30 lít], chứa ở kho Phố Hài ; chở 2.000 phương gạo lương ở Gia Định đem chứa ở kho Ma Li.
Tháng 11 [23/11-21/12/1794] Ban quần áo cho Hậu quân dinh Võ Tánh và các tướng sĩ dưới quyền cùng dụ rằng :
“Tướng sĩ dinh ngươi là nanh vuốt của ta đó. Mới rồi tiến đánh Thị Nại, ngày mặc giáp sắt, đêm cầm giáo lạnh, trải 5, 6 tháng mà việc vua không lỗi. Huống lại đóng giữ biên đình đã lâu, xông pha sương tuyết, khó nhọc như thế, rất đáng nên khen thưởng. Đặc biệt ban cho quần áo để tỏ ý vua tôi như một”.
Tháng 11 nhuần [22/12/1794-20/1/1795] Quân địch lấn vào địa đầu Bình Khang, Võ Tánh báo lên; Vua dụ rằng :
“Nay đương mùa gió bấc, giặc nhân thuận gió đem quân thủy bộ vào cướp, ý giặc là ở Diên Khánh. Thành này chứa lương thực và chiến cụ nhiều, chính là làm kế cố thủ. Nếu giặc xông đến thì cần phải thận trọng, giặc khéo đánh thì ta khéo giữ, dẫu có trăm chước nhử ta cũng chớ nên khinh động; đợi lâu ngày, giặc sinh trễ nải, thừa cơ đánh úp tất phải phá được”.
Bèn sai lưu thủ Bình Thuận là Nguyễn Văn Tánh đem quân Kiến Võ đi Diên Khánh theo Võ Tánh sai khiến, Cai cơ Nguyễn Văn Lợi đem quân chi Túc uy thay giữ Bình Thuận; Nguyễn Văn Hào và Nguyễn Văn Chấn trấn Thuận Thành, đem quân gốc Chiêm Thành đi phòng ngự miền thượng đạo.
Sai Chưởng cơ Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức điều bát bộ binh, quản Tiên phong Nguyễn Văn Thành làm phó, thẳng tiến đến Phan Rang để làm thanh ứng ở xa với thành Diên Khánh, Hiệu úy Mạc Văn Tô và Cai cơ Nguyễn Văn Lợi đều thuộc dưới quyền. Lại sai thu 5.000 phương gạo nạp ở Thuận Thành chứa ở kho Mai Nương [huyện Ninh Phước, Ninh Thuận] để cấp cho quân.
Tổng quản Tây Sơn là Trần Quang Diệu đem quân đánh thành Diên Khánh; Tư lệ là Lê Trung lấn vào Du Lai, chặn đường tiếp viện của Bình Thuận. Quân Nguyễn Văn Tánh không tiến được, phải kéo về; Vương nghe tin, cho lệ theo Nguyễn Huỳnh Đức điều khiển. Sai Hiệu úy Tiền chi Trung quân là Nguyễn Văn Đắc quản 10 chiếc binh thuyền đóng giữ ở Vũng Tàu [Phan Rang].
Tháng chạp [21/1-18/2/1795] tướng Trần Quang Diệu cắt đứt đường lấy nước của thành Diên Khánh; Võ Tánh điều quân đánh. Quân địch ập sát vào để lên thành, bị súng trên thành bắn chết rất nhiều; phía ngoài đắp lũy cao vây bốn mặt. Tánh cố giữ, lại nhân địch sơ hở cho quân ra đánh úp, bắt được Đô đốc là Định, quân địch hàng nhiều. Tây Sơn càng đánh gấp; trong thành thiếu muối, quân lính ăn uống rất khổ. Tánh lấy điều trung nghĩa mà khuyến khích, mọi người đều liều chết chống cự . Bèn sai cảm tử, nhân đêm lọt vây ra ngoài dâng biểu báo tin.
Khi nhận được biểu, Vương rất mừng, hỏi rõ tình hình rồi khen rằng :
“Tướng sĩ như thế dẫu người đời xưa cũng không hơn, thực là may lớn cho nhà nước”.
Bèn ban dụ cho Võ Tánh:
“Đạo làm đại tướng, quý ở mưu trí mà không quý ở sức mạnh, không tham thắng nhỏ mới được công to. Kế ngày nay chém tướng nhổ cờ không bằng đóng quân giữ vững, đợi giặc hao mòn, chờ ta chỉnh đốn binh thuyền định ngày thẳng tiến, bấy giờ trong ngoài giáp đánh, thừa thế đuổi dài, một mẻ lưới thì bắt hết, đó là thượng sách. Nên cẩn thận”.
Quản Hậu thủy dinh là Bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn, Hiệu úy Hữu chi Trung quân là Nguyễn Văn Nhân sung Chánh phó sứ sang Xiêm. Trước đó Tây Sơn Nguyễn Quang Toản sai sứ đem vàng bạc lễ hậu, cầu thông hiếu với Xiêm, làm kế “hòa xa đánh gần”. Người Xiêm biết ý, vừa gặp sứ nhà Nguyễn đến, bèn đem hết việc nói cho biết. Lại nói :
“Nếu nay bắt sứ ấy đưa cho Nguyễn Vương giết thì giặc cũng không hết, chi bằng nhân kế làm kế khiến cho giặc tin, Phú Xuân tất không đề phòng”.
Nhân hẹn ngày cất quân; Xiêm theo đường núi đánh mặt sau, quân Nguyễn do đường thủy đánh mặt trước; Phú Xuân [Huế] đã lấy được thì Quy Nhơn không đánh cũng vỡ. Sứ về báo; Vương bèn sai bọn Nhàn sang ước hẹn ngày phát quân. Vừa lúc nước Xiêm có việc với Miến Điện, nên không thực hiện được; bọn Nhàn bèn trở về.
Tư lệ Tây Sơn là Lê Trung đánh cướp bảo Phan Rí [bắc Bình Thuận]. Bọn Nguyễn Huỳnh Đức lui về Phố Hài [thị xã Phan Thiết, Bình Thuận] , đem việc báo lên. Vua dụ sai Nguyễn Huỳnh Đức đem hết quân bộ thuộc về giữ Ma Li [huyện Bắc Bình, Bình Thuận], Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Tánh, Mạc Văn Tô vẫn ở lại Phố Hài để chống giặc. Vua răn bảo rằng :
“Nếu giặc đến mà không địch nổi thì từ từ đặt phục binh mà rút lui. Nếu chưa gặp giặc mà đã lui trước để giặc khinh thì có quân pháp đó”. Sau đó quân Tây Sơn tiếp tục uy hiếp.
Vào mùa đông [1794], Tư khấu Tây Sơn là Vũ Văn Dũng giết Thái sư Bùi Đắc Tuyên tại Huế. Đắc Tuyên là cậu Vua Nguyễn Quang Toản; sau khi Vua Quang Trung mất, được phó thác giúp Quang Toản. Đắc Tuyên lên nhiếp chính, độc tài sống chết nằm trong tay, nên các tướng nhiều người oán. Đắc Tuyên sai Ngô Văn Sở thay Vũ Văn Dũng điều bát việc quân tại Bắc Thành, rồi triệu Dũng về. Bấy giờ Trung thư Trần Văn Kỷ bị Đắc Tuyên xử tội đồ, đày ra trạm Mỹ Xuyên [huyện Phong Điền, Thừa Thiên]. Khi Vũ Văn Dũng từ Bắc Thành về, Kỷ bèn đón Dũng nói hết tình trạng Đắc Tuyên chuyên chế lộng quyền, dặn Dũng dùng kế mà giết. Dũng đến Phú Xuân, bàn mưu với Thái úy Nguyễn Văn Hưng và Hộ giá Nguyễn Văn Huấn tuyên bố là ra cánh đồng phía nam để tế cờ, nhân đêm đem đồ đảng vây Đắc Tuyên ở chùa Thiền Lâm [ huyện Hương Thủy, Huế], nơi Đắc Tuyền dùng làm dinh để ở. Nhưng hôm đó Đắc Tuyên có việc, vào ngủ ở phủ Quang Toản. Dũng bèn dời quân đến vây phủ, Quang Toản bất đắc dĩ phải bắt Đắc Tuyên đưa cho Dũng. Dũng cho dìm chết; riêng con Đắc Tuyên là Đắc Thận và bè đảng hơn mười người đều bị Dũng giết. Dũng sai làm tờ chiếu giả lệnh cho Tiết chế Nguyễn Quang Thùy đóng gông giải Ngô Văn Sở về Kinh, rồi đem giết. Dũng lại sai Nguyễn Văn Huấn dẫn quân vào thành Quy Nhơn, giả danh tiếp viện, nhưng lập mưu để cướp binh quyền của Lê Trung và Trần Quang Diệu.