
Trần Quang Nghĩa dịch
7 Bậc thang của Prinsep

Cảnh sông Hằng nhìn từ Benares. Một bản in thạch bản của James Prinsep dựa trên một bức vẽ được thực hiện trong mười năm ông sống tại Benares với tư cách là Trưởng phòng Kiểm định của Xưởng đúc tiền EICO trong thành phố. (Trích từ Benares Illustrated của Prinsep)
Từ năm 1992, một cây cầu dây văng thanh lịch đã bắc qua sông Hooghly, nối liền vùng ngoại ô Howrah và thành phố Kolkata, trước đây là Calcutta. Chính thức được gọi là Vidyasagar Sethu nhưng thường được gọi là ‘cầu Hooghly thứ hai’, cây cầu được đặt theo tên của Ishwar Chandra Vidyasagar, một nhân vật quan trọng trong thời kỳ Phục hưng Bengal. Ở đầu cầu phía nam (Kolkata), cầu vượt của nó chạy dọc theo các pháo đài phía tây và cổng nước của Pháo đài William, thành trì EICO cũ, ngày nay là trụ sở của Bộ Tư lệnh Miền Đông của Quân đội Ấn Độ. Đây là nơi tọa lạc của Trường Cao đẳng Pháo đài William của Lord Wellesley và là nơi Vidyasagar trở thành học giả tiếng Phạn hàng đầu vào năm 1841, khi đó mới 21 tuổi và đã nổi tiếng về học thức. Trong khi Vidyasagar tiếp tục theo đuổi những mục tiêu lớn lao hơn, thì trường cao đẳng đã suy tàn, mặc dù nó vẫn tồn tại như một trung tâm giáo dục dưới hình thức Trường Công lập Kendriya Vidyalaya.
Cũng bị che khuất bởi cầu và cầu vượt là một đài tưởng niệm khác của quá khứ: một công trình kiến trúc kỳ lạ theo phong cách Palladio (kiến trúc sư người Ý, thế kỷ17), gồm nhiều cột trụ cổ điển đỡ lấy mái bằng. Nó tọa lạc trên vị trí từng là bến tàu, nơi những người Anh trẻ tuổi đến Bengal tìm kiếm vận may,
được đưa lên bờ từ những con tàu neo đậu trên sông. Sau khi được xây dựng, nó được sử dụng như một loại cổng chào không chính thức của Ấn Độ, chào đón các phó vương và các vị chức sắc khác đến thăm, đặc biệt nổi bật trong các chuyến thăm của hoàng gia vào các năm 1875, 1905 và 1910. Nhưng đó chưa bao giờ là mục đích ban đầu của công trình. Điều này được thể hiện bằng dòng chữ đúc bằng đồng nằm trên một mặt của tòa nhà. Chúng viết: ‘Được dựng lên để vinh danh JAMES PRINSEP bởi đồng hương của ông’ – ký tự ‘S’ cuối cùng đã bị rơi ra cách đây vài năm và không bao giờ được lắp lại. Không rõ ngày tháng, nhưng người ta cho rằng đài tưởng niệm này được dựng lên vào năm 1843.

Một tấm bưu thiếp từ những năm 1860, cho thấy đài tưởng niệm James Prinsep tại bến tàu hoặc nơi đổ bộ bên bờ Sông Hoogly.
Những năm tháng sau đó chẳng mấy tốt đẹp với cả nhân vật chính lẫn đài tưởng niệm ông. Khu vực ban đầu được gọi là Prinsep’s Ghat (Bậc thang xuống bờ nước của Prinsep), sau đó được gọi là Princep Ghat, và thậm chí là Princes Ghat. Thật ra, nhà ga nhỏ bên bờ sông ngày nay được gọi là Princep Ghat. Nếu địa điểm này có được biết đến thì đó chỉ là một tàn tích lãng mạn thường được dùng làm bối cảnh cho các ảnh quảng cáo hoặc quay phim.
Điều đó đã thay đổi trong thập kỷ qua nhờ vào những nỗ lực của INTACH, một cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm gìn giữ và bảo tồn di sản quốc gia Ấn Độ. Mặc dù thiếu kinh phí, INTACH đã góp phần thay đổi nhận thức ở Ấn Độ rằng các di tích gắn liền với người Anh đã ra đi là không xứng đáng được bảo tồn. Trong trường hợp đài tưởng niệm Prinsep, INTACH đề xuất rằng nơi đây sẽ trở thành một địa điểm tuyệt vời cho các sự kiện văn hóa, một đấu trường nơi các truyền thống bản địa của Ấn Độ có thể hòa quyện với quá khứ thuộc địa của mình. Vào tháng 1 năm 2008, tầm nhìn đó đã trở thành hiện thực với lễ hội múa Prinsep Ghat đầu tiên, được thực hiện nhờ sự hỗ trợ của một ngân hàng quốc tế và thiện chí của Quân đội Ấn Độ.
Chính tại đây, James Prinsep, lúc đó mới 20 tuổi, đã từ tàu lên bờ vào tháng 9 năm 1819 và gần đúng 20 năm sau đó được khiêng xuống sông trên một chiếc cáng để bắt đầu hành trình trở về nhà, nhưng ‘hoàn toàn là một con người kiệt quệ….Tâm trí kéo căng quá mức …. tràn ngập trong nỗi u sầu…. cơ thể chìm đắm trong cơn suy sụp.’
Prinsep không bao giờ hồi phục tâm trí hay sức khỏe và qua đời tại Anh vào tháng 4 năm 1840. Nhưng dù cái chết của ông có bi thảm đến đâu, 20 năm bận rộn của Prinsep ở Ấn Độ cũng được tận hưởng trọn vẹn, và ông đặc biệt may mắn khi có những bạn đồng hành tốt trong nhóm ba thanh niên Anh kiệt xuất, sinh ra chỉ cách nhau vài tháng vào đầu thế kỷ, và ông là người trẻ nhất, đã cùng nhau thay đổi tiến trình nghiên cứu Ấn Độ. Mặc dù có chung sở thích, trao đổi thư từ và ảnh hưởng lẫn nhau, cả ba chưa bao giờ thực sự gặp mặt trực tiếp.
George Turnour là người lớn tuổi nhất trong ba người, chỉ hơn vài tháng tuổi. Người có thâm niên tiếp theo là Brian Houghton Hodgson, người đã gia nhập hàng ngũ công chức của EICO tại Calcutta vào năm 1818. Cấp trên của Hodgson sớm nhận ra rằng tình trạng sức khỏe yếu ớt của ông không thể nào kham nỗi với thời tiết nóng bức của Ấn Độ và ông được bổ nhiệm làm Trợ lý Chính trị và Thư ký cho Đại sứ Anh tại Kathmandu, Nepal. Ông đã ở lại đây gần như không nghỉ ngơi trong suốt 26 năm tiếp theo, ban đầu là cấp dưới nhưng từ năm 1829 trở đi là Công sứ.
Người trẻ nhất trong ba người và là người cuối cùng đến phương Đông là James Prinsep, sinh ra ở Bristol, cha ông đã kiếm được một gia tài ở Bengal nhưng lại mất hết ở Anh, kết quả là anh được nuôi dưỡng trong hoàn cảnh eo hẹp như vậy đến nỗi có thời gian anh và em trai đã cùng chia sẻ một cái quần lững. Với cặp mát xanh, nước da nhợt nhạt, mái tóc vàng hoe, dáng người mảnh khảnh và với cá tính mà em gái Emily mô tả là ‘tính rụt rè bẩm sinh….và bẽn lẽn trong lời nói’, chàng thiếu niên James có vẻ khó có thể là một thiên tài.
Vì thị lực kém buộc phải từ bỏ việc học kiến trúc anh ấy đã từ chối lời tuyển dụng làm công chức tập sự ở Ấn Độ và cuối cùng được nhận vào làm ở Xưởng Đúc tiền Bengal của EICO. Tại đây, Prinsep đã học được tất cả những kỹ năng cần thiết của một nhà luyện kim dưới sự hướng dẫn của Horace Hayman Wilson, Trưởng phòng Kiểm định của Xưởng đúc tiền Calcutta, một nhà Phạn ngữ xuất sắc và là nhân vật nòng cốt của Hội Châu Á.

Chàng thanh niên 20 tuổi James Prinsep thuyết trình tại Calcutta về những tiến bộ khoa học mới nhất với ‘một loạt các thí nghiệm ấn tượng nhất’. (Bản in thạch bản từ một bức chân dung của George Chinnery, 1820)
Mười tám tháng sau, Prinsep được điều động đến thượng nguồn để quản lý Xưởng Đúc tiền thứ hai của EICo tại Benares, nơi ông đã vận dụng kiến thức khoa học của mình vào việc điều tra dân số thành phố và vẽ bản đồ chi tiết đầu tiên về thành phố. Ông cũng trau dồi kỹ năng kiến trúc của mình trong một loạt các công trình kỹ thuật dân dụng đầy tham vọng, bao gồm việc xây dựng một cây cầu ba vòm, khôi phục nền móng của thánh đường Hồi giáo lớn do Vua Aurangzeb xây dựng bên bờ sông Hằng và xây dựng một đường hầm ngầm sâu để thoát nước từ một đầm lầy lớn ở trung tâm Benares và trở thành trung tâm của hệ thống thoát nước mới của thành phố. Prinsep cũng là một nghệ sĩ tài năng, và những kỹ năng mà ông đã phát triển ở Benares về kỹ thuật khắc và in thạch bản đã giúp ích rất nhiều cho ông trong những năm sau này.
Lòng nhiệt thành mà Prinsep dồn hết tâm sức vào mọi dự án cải thiện thành phố đã giúp ông có được bạn bè ở mọi tầng lớp trong cộng đồng, đến nỗi vào năm 1830, khi hai phe phái chính [Digambaras và Svetambaras, phái trước chủ trương không mặc y phục, phái sau mặc y phục trắng và không chủ trương hành xác] trong cộng đồng Kỳ Na giáo tranh chấp, họ đã tìm đến ông để xin giúp đỡ. Cuộc tranh cãi của họ xoay quanh việc hài cốt của phái nào được chôn cất bên trong đài tưởng niệm mái vòm lớn đứng ngay bên ngoài ranh giới thành phố Sarnath. Vấn đề này có thể được giải quyết nếu ông sử dụng khả năng kỹ thuật của mình để mở cửa cấu trúc, ‘để có thể xác định được thánh tượng bên trong thuộc về phái nào (Digambari hay Swetambari). Chỉ riêng việc tôi rời khỏi Benares đã không cho phép tôi thỏa mãn sự tò mò của họ vào năm 1830.’ Yêu cầu của những người theo đạo Kỳ Na giáo đã đến quá muộn – nhưng nó không bị lãng quên.
Trong khi đó ở Kathmandu Brian Hodgson đã sử dụng thời gian rảnh rỗi của mình để theo đuổi một loạt các hoạt động trí tuệ vô cùng hấp dẫn. Sự thù địch của giới cai trị Nepal đối với kẻ thù cũ của họ, và điều mà Hodgson coi là “sự ghen tức của người dân trước bất kỳ hành vi xúc phạm nào đến những điều thiêng liêng của họ bởi một người châu Âu” đã khiến cho suốt thời gian ở Nepal, Hodgson gần như là một tù nhân trong khuôn viên của Khu định cư Anh ở ngoại ô Kathmandu. Ông đã vượt qua hạn chế này bằng cách tuyển dụng một số lượng lớn người dân Nepal và đào tạo họ trở thành nhà nghiên cứu và nghệ sĩ của ông, tất cả đều do ông tự bỏ tiền túi chi trả.
Một trong những đối tượng nghiên cứu đầu tiên của Hodgson là Phật giáo được thực hành ở Thung lũng Kathmandu. Điều này đã dẫn ông đến Amrita Nanda Bandya, “một Phật tử uyên bác nhất, lúc bấy giờ và cả bây giờ, đang sống ở đất nước này”, và đã sớm xung đột với chính học giả của Hodgson, một Bà-la-môn đến từ Benares, sau khi Amrita Nanda mang đến cho Hodgson một văn bản Phật giáo công kích “giáo thuyết về đẳng cấp của Bà La Môn giáo’. Một kết quả từ mối quan hệ lâu dài và màu mỡ của họ là một bộ sưu tập ngày càng phong phú các kinh điển Phật giáo cổ xưa được viết bằng tiếng Phạn do Amrita Nanda thu thập để đáp lại yêu cầu của Hodgson về thông tin việc thực hành Phật giáo ở Nepal.
Thông qua Amrita Nanda Hodgson biết rằng cư dân bản địa của Thung lũng Kathmandu, người Newar, là một trong những người đầu tiên cải sang đạo Phật, và nhiều ngôi đền Hindu ở Kathmandu và các thị trấn lân cận thực chất là các tu viện Phật giáo, hầu hết đều là những công trình đổ nát được xây dựng xung quanh một sân trong với một mái vòm trung tâm được gọi là chaitya, tương đương với bảo tháp, được trang trí bằng cả tượng Phật và các vị thần Hindu. Các họa sĩ địa phương của Hodgson đã được giao nhiệm vụ vẽ những công trình này, dẫn ông đến kết luận rằng trong số những chaitya này những chaitya đơn giản nhất là những chaitya sớm nhất, đặc biệt là những chaitya ở trong và xung quanh thị trấn Patan, được gán cho Sri nama Miora, ‘Bậc tôn kính tên là Maurya’, hoặc cho Dharmarajya, ‘Đấng Pháp Vương’.

Một trong năm bảo tháp cổ được cho là do Vua Ashoka xây dựng tại thành phố Patan ở Thung lũng Kathmandu. Được vẽ bởi một họa sĩ người Nepal của William Hodgson, dòng chú thích bằng chữ viết tay của Hodgson có nội dung: “Ipi Thuda Vihar và Chaitya [tu viện và bảo tháp] tại Patan trong Thung lũng Nepal. Được xây dựng vào năm thứ 1000 của thời đại Kali bởi Sri Nama Miora [bậc tôn kính tên là Maurya].” (Hội Hoàng gia Châu Á)
Từ năm 1820 đến năm 1823, Brian Hodgson đã gửi không dưới 218 bản thảo tiếng Phạn đến Hội Á Châu ở Calcutta, nơi chúng được Tiến sĩ Wilson thừa nhận rồi lại bị phớt lờ. Không nản lòng, Hodgson tiếp tục cung cấp thêm các bộ sưu tập kinh điển Phật giáo, bao gồm hai bộ kinh điển Tây Tạng hoàn chỉnh về văn học Phật giáo, được gọi là Kanjur. Một lần nữa, ông nhận được phản hồi thờ ơ. Sau đó, ông bắt tay vào việc tận dụng những tài liệu còn sẵn có, và thành quả đầu tiên của chúng đã xuất hiện trên Nghiên Cứu Châu Á vào năm 1828 dưới tiêu đề ‘Thông báo về Ngôn ngữ, Văn học và Tôn giáo của các Bauddhas (Phật tử) ở Nepal và Bhot [Tây Tạng]’.
Đây là bài tiểu luận đầu tiên trong số 14 tiểu luận được Hodgson xuất bản về chủ đề Phật giáo, và ông rất hài lòng khi nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt từ nhà Đông phương học người Pháp nổi tiếng Eugène Burnouf, lúc bấy giờ là chuyên gia hàng đầu châu Âu về ngôn ngữ Pali. Một tình bạn được vun đắp qua thư từ và nhiều văn bản tiếng Phạn khác tiếp theo. Sự hào phóng không cần nhắc nhở này không làm vừa lòng các đồng hương của Hodgson nhưng nó thúc đẩy Burnouf lao vào học tiếng Phạn, và đỉnh cao là việc ông xuất bản vào năm 1844 tác phẩm bản lè Introduction à l’histoire du Bouddhisme Indien (Giới thiệu Lịch sử đạo Phật Ấn Độ), có lẽ là tác phẩm có ảnh hưởng nhất về Phật giáo được xuất bản vào thế kỷ thứ mười chín.
Đầu óc hẹp hòi của Horace Hayman Wilson – vì chính sự không hành động của Wilson đã khiến Hodgson thất vọng – cũng làm hỏng sự nghiệp của học giả lập dị nhất, Csoma de Koros người Hungary, người đã dành nhiều năm du hành khắp Trung Á để tìm kiếm nguồn gốc ngôn ngữ Hungary trước khi định cư tại một tu viện Phật giáo ở Ladakh để học tiếng Tây Tạng. Năm 1824, de Koros đề nghị cung cấp miễn phí thành quả nghiên cứu của mình về ngôn ngữ và văn học Tây Tạng cho Hội Châu Á, một đề nghị mà ông đã lặp lại vào năm 1827. Wilson đã từ chối cả hai lời đề nghị. Sau đó ba năm nữa nghiên cứu trong cô tịch ở Zanskar, ông đã biên soạn từ điển và ngữ pháp Tây Tạng đầu tiên, de Koros đã làm đơn đến EICo để xin phép vào Ấn Độ. May mắn thay, đơn này đến bàn làm việc của Toàn quyền Lord Bentinck, người nhận ra giá trị của công việc của de Koros như một trợ thủ đắc lực cho mậu dịch và sắp xếp để ông và những bản thảo của ông được chào đón tại Hội Châu Á. Tại đó ông được trao một bậc lương công chức nhỏ và được đưa vào làm việc cạnh Wilson trong việc lập danh mục bộ sưu tập các tác phẩm tiếng Phạn và tiếng Tây Tạng của Brian Hodgson. Điều này thuận lợi vì cho phép de Koros và Hodgson tiếp tục trao đổi thư từ vốn đã bắt đầu khi de Koros vẫn còn ở Zanskar. Tuy nhiên, thái độ thù địch của Wilson đối với người Hungary vẫn tiếp diễn và ông từ chối phê duyệt việc xuất bản cuốn Từ điển và Ngữ pháp Tây Tạng-Anh và Anh-Tây Tạng của de Koros với lý do chi phí cao.
Tuy nhiên, vào năm 1832, tình trạng tắc nghẽn do Wilson tạo ra trong nhiệm kỳ dài của ông với tư cách là Tổng Biên tập Hội Châu Á cuối cùng cũng kết thúc khi ông đảm nhận chức danh Giáo sư Boden mới được thành lập tại Khoa Phạn ngữ tại Oxford. Hai năm trước đó, James Prinsep đã đến với ông tại Calcutta với tư cách là Phó Trưởng phòng Kiểm định, và được ông ta đề cử làm thành viên của Hội Châu Á. Sau đó, hai người đã hợp tác viết một bài báo cho Nghiên Cứu Châu Á về các đồng tiền trong bảo tàng của Hội Châu Á, tập trung vào chữ viết trên một số đồng tiền vàng và bạc, ‘một số giống với ký tự trên cột đá Feroz Shah ở Delhi, và trên các cột khác’. Bài viết được minh họa bằng bốn tấm bản khắc tiền xu, một số được tướng đánh thuê người Ý Ventura, thu thập được từ cuộc khai quật Bảo tháp Manikyala, một địa danh nổi tiếng bên cạnh Sadak-e-Azam hay ‘Đại lộ’ (sau này được gọi là Đường Grand Trunk) chạy từ Peshawar đến Calcutta.
Những bản khắc này là tác phẩm của James Prinsep, và sự tham gia của ông đã dẫn dắt ông đến với việc tự mình nghiên cứu tiền xu Ấn Độ. Hai bài báo được xuất bản về tiền xu La Mã và Hy Lạp được tìm thấy ở Ấn Độ đã sớm được tiếp nối bởi các bài báo khác về tiền xu Ấn Độ, mỗi bài đều dần chứng minh uy tín ngày càng tăng của Prinsep trong một lĩnh vực tiền tệ học mà hầu như chưa ai biết đến. Không giống như Wilson và những người tiền nhiệm của ông, Prinsep không có bất kỳ kiến thức cổ điển hay kỹ năng ngôn ngữ nhưng ông bù đắp những thiếu sót này bằng cách áp dụng phương pháp khoa học, một tác phong nghiêm ngặt làm nền tảng cho mọi công trình của ông.
Sự hợp tác của Prinsep với vị tiền bối đã đưa ông vào trung tâm của Hội Châu Á. Vài tháng sau, ông đã chấp nhận đề nghị của Wilson về việc kế nhiệm mình làm Tổng Biên tập của Hội. Một cuộc chuyển giao quyền lực kép sau đó đã diễn ra khi Prinsep đảm nhiệm cả chức vụ Trưởng phòng Kiểm định tại Xưởng Đúc tiền Calcutta và chức vụ Tổng Thư ký của Hội Châu Á. Ngay sau khi được bầu vào vị trí thứ hai, Prinsep đã bắt tay vào việc khẳng định vị trí của mình với năng lượng đã làm nên tính cách ông những năm tháng ở Benares. Một trong những hành động đầu tiên của ông là đề xuất Csoma de Koros làm thành viên danh dự, sau đó ông tìm được chỗ ở cho người Hungary tại Hội, tăng gấp đôi lương của ông và đảm bảo kinh phí xuất bản hai cuốn sách của ông. Prinsep cũng mời một thư ký bản xứ từ Cao đẳng Fort William, Babu Ramkomal Sen, làm thư ký riêng cho mình, là người Ấn Độ đầu tiên giữ một chức vụ được công nhận trong Hội. Mặc dù phản đối những người theo chủ nghĩa hiện đại do nhà cải cách người Bengal Ram Mohun Roy lãnh đạo, Sen là một nhà nghiên cứu tiếng Phạn tài ba và sau này trở thành hiệu trưởng của Cao đẳng Phạn ngữ Calcutta.
Mối quan tâm chính của Prinsep là khôi phục lại Hội Châu Á. Hội này giờ đây đổi tên thành Hội Châu Á Bengal (ASB), trong khi những tập sách đồ sộ của Hội Châu Á thời kỳ đầu được thay thế bằng những trang khổ octavo dễ đọc hơn của Tạp chí Hội Châu Á Bengal (JASB), từ nay được xuất bản hàng tháng. Prinsep tự bổ nhiệm mình làm biên tập viên của JASB và trong số đầu tiên đã phát động một lời kêu gọi, một sự lặp lại có chủ đích lời kêu gọi của Sir William Jones và Henry Colebrooke, tất cả ‘các nhà tự nhiên học, hóa học, khảo cổ học, ngữ văn học và các nhà khoa học ở khắp châu Á’ hãy đoàn kết nỗ lực và “cam kết ghi lại những quan sát bằng văn bản và gửi đến Hội Châu Á ở Calcutta’.
Đó là một nỗ lực được tính toán kỹ lưỡng nhằm đưa phong trào Phương Đông học thoát khỏi chủ nghĩa chủ bại mà các thành viên của nó đã rơi vào trong thập kỷ trước đó, và nó đã có hiệu quả, khởi đầu cho một vòng tiến bộ thứ hai trong nghiên cứu về người Ấn Độ thậm chí còn ấn tượng hơn vòng đầu tiên – được thực hiện nhờ sự kết hợp hài hòa giữa một Jones thứ hai ở trung tâm và một số học giả xuất chúng ở ngoại vi, trải dài từ Brian Hodgson ở một đầu tiểu lục địa cho đến George Turnour ở đầu kia. Nhưng chính James Prinsep mới là người dẫn dắt mọi bước tiến, không còn là một “kẻ rụt rè bẩm sinh”như một thập kỷ trước nữa, mà là một nhà lãnh đạo đầy cảm hứng. “Bản thân ông là linh hồn của lòng nhiệt huyết”, một trong những người ngưỡng mộ ông, nhà thực vật học Tiến sĩ Hugh Falconer, đã viết, “ông đã truyền một phần tinh thần của mình vào mỗi nhà nghiên cứu ở Ấn Độ; ông đã lôi cuốn mọi người quan sát và viết lách; họ cảm thấy như thể ông đang quan sát và trông chừng họ; và niềm vui đơn thuần khi được tham gia vào sự đồng cảm của ông và giao tiếp với ông, tự nó đã là phần thưởng đủ cho nhiệm vụ điều tra vất vả và khổ sở.’
Thời điểm thật hoàn hảo. Bài viết chung đầu tiên về những đồng tiền trong bộ sưu tập của Hội Châu Á đã khơi dậy một làn sóng thư từ, phần lớn đến từ Punjab và Afghanistan: từ lực lượng đánh thuê nước ngoài như các tướng lĩnh người Ý và Pháp Ventura và Court; những người lữ hành như Trung úy Alexander ‘Bokhara’ Burnes, Tiến sĩ James Gerard và Tiến sĩ Martin Honingberger, và những nhà thám hiểm như người Mỹ được cho là đến từ Kentucky tự xưng là Charles Masson nhưng danh tính thực sự của ông là James Lewis, một lính đào ngũ từ quân đội EICO, được truyền cảm hứng đến thăm Afghanistan bởi những báo cáo về những bức tượng khổng lồ ở Bamiyan.
Thư từ này đã được chứng minh bằng bằng chứng hữu hình dưới dạng tiền xu bằng vàng, bạc và đồng, xác nhận quan điểm của James Tod rằng nền cai trị của người Macedonia ở Bactria và Gandhara cổ đại đã nhường chỗ cho một nền văn minh ‘Ấn-Scythia’ năng động không kém, đã lan rộng sâu vào miền bắc Ấn Độ và đã tiếp nhận Phật giáo. Thực tế, bản thân Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ khắp khu vực đó trong nhiều thế kỷ trước khi Hồi giáo xâm lược. Viết thư cho James Prinsep từ bên kia Đèo Khyber tại Jalalabad vào tháng 12 năm 1833, Tiến sĩ Gerard đã báo cáo về sự tồn tại của hàng chục “ngôi tháp” tương tự như những ngôi tháp được tìm thấy ở Punjab. Những ngôi tháp này được tìm thấy “dọc theo sườn núi” giữa Kabul và Jalalabad và “được dựng lên dày đặc trên cả hai bờ sông Kabul”. Được người dân địa phương gọi là “nhà ma”, khi mở ra, chúng sẽ chứa tiền xu, đồ trang sức và thánh tích, nhưng lại không tiết lộ nhiều về người đã xây dựng chúng. ‘Cho dù chúng ta xem chúng như cùng thời với triều đại Hy Lạp’, Gerard suy đoán, ‘hoặc của những satrap sau này xuất phát từ tàn tích của vương quốc đó, những suy nghĩ tương tự lại tái diễn, những gợi ý tương tự nảy sinh: Những vị vua này là ai?’
Trong khi đó, tại Punjab, tướng Claude Auguste Court, thuộc lực lượng đánh thuê người Pháp, được thuê để tái thiết kế lực lượng pháo binh của quân đội Maharaja Ranjit Singh theo đường lối của Pháp, đã dành thời gian rảnh rỗi của mình để khai quật các bảo tháp nhằm kiếm tiền xu và di vật và ghi nhận các di tích cổ khác trong số đó có một tảng đá lớn gần làng Shahbazgarhi trên rìa Thung lũng Peshawar giáp với dãy núi Swat – ‘một tảng đá có những dòng chữ khắc gần như bị thời gian xóa nhòa’. Rơi vào cái bẫy cũ khi liên kết dòng chữ khắc với Alexander và những người kế vị Macedonia của ông, Court đã cố gắng nhưng không giải mã được dòng chữ khắc ‘Hy Lạp’ của tảng đá.
Với mọi báo cáo hiện trường được in trên JASB, Prinsep đã đính kèm những ghi chú của riêng mình, dựa trên sự hiểu biết sâu sắc hơn về các triều đại cai trị Ấn Độ thời kỳ đầu, nhờ vào số lượng tiền xu Ấn Độ ngày càng tăng. Những đồng tiền tinh xảo nhất trong số này được lấy cảm hứng từ các mẫu Địa Trung Hải do các phó vương Macedonia của Alexander Đại đế giới thiệu lần đầu tiên và được các hậu duệ của họ ở Bactria và vùng Gandharan tiếp tục phát triển: mặt trước đồng tiền khắc chân dung vua chúa, mặt sau có hình người hoặc động vật, và chữ Hy Lạp ở một hoặc cả hai mặt. Nghiên cứu của Prinsep cho thấy những đồng tiền Bactria sau này vẫn mang các ký tự Hy Lạp chính xác ở mặt trước nhưng lại có chữ viết khác ở mặt sau, bề ngoài hai loại chữ trông giống nhau nhưng rõ ràng liên quan đến một ngôn ngữ khác. Chữ viết này cũng có một số, nhưng không phải tất cả, các ký tự được tìm thấy trên cột đá Firoz Shah và các chữ khắc trên đá do Thiếu tá Tod tìm thấy ở Girnar và Andrew Stirling tại Khandagiri ở Orissa.
Chỉ sau này Prinsep mới nhận ra rằng thứ mà ông gọi là chữ viết ‘Gandhara’ thực chất là một ngôn ngữ hoàn toàn riêng biệt – ngày nay được gọi là Kharosthi – với chữ viết riêng và thường được viết từ phải sang trái. Thật vậy, trong một trong những bài viết cuối cùng của mình, ông tuyên bố rằng ông đã xác định được gần một nửa số phụ âm của ngôn ngữ chưa được biết đến này và ba nguyên âm của nó. Nửa thế kỷ nữa trôi qua trước khi các nhà ngôn ngữ học nhận ra rằng chữ Kharosthi chủ yếu dựa trên tiếng Aramaic, ngôn ngữ viết và nói chính thức của đế chế Ba Tư. Phải mất thêm một thế kỷ nữa người ta mới hiểu rằng bảng chữ cái Brahmi của triều đại Maurya thực chất là một sự phát triển từ chữ Kharosthi, được cải tiến để diễn đạt tốt hơn các âm vị của tiếng Ấn Độ.
Một loại tiền đúc khác thậm chí còn khó hiểu hơn: những đồng xu nhỏ thuộc loại mà Đại tá Colin Mackenzie cho thấy đã được sử dụng trên khắp Ấn Độ: ‘Chúng có hình dạng không đều,’ Prinsep viết, ‘như hình vuông, góc cạnh, tròn, bầu dục, v.v. Chúng không có chữ khắc, thường khá đơn giản và trong mọi trường hợp chỉ có một vài biểu tượng không rõ ràng và khó hiểu.’
Những biểu tượng này bao gồm sư tử và voi, nhưng hầu hết có vẻ cơ bản hơn, chẳng hạn như mặt trời tỏa sáng hoặc chữ thập. Một biểu tượng đặc biệt thu hút sự chú ý của Prinsep: ‘một tòa nhà hình kim tự tháp, có ba tầng các sura tròn, chóp nhọn hoặc mái vòm … Nó có thể được dùng để miêu tả một ngọn đồi thiêng nào đó,’ ông đề xuất, trong một phỏng đoán hết sức tinh tế. Nghiên cứu sâu hơn đã dẫn ông đến kết luận đúng đắn – rằng những gì ngày nay được gọi là tiền xu có dấu đục lỗ hẳn phải là tiền đúc sớm nhất của Ấn Độ. Prinsep tiếp tục cho rằng những đồng tiền thô sơ và tương đối dễ sản xuất có dấu đục lỗ này hẳn đã nhường chỗ cho kiểu Hy Lạp, như được các nhà cai trị Hy Lạp-Bactria và những người kế tiếp Scythia và Kushan sử dụng. Trên thực tế, chúng vẫn tiếp tục được đúc trong suốt thời kỳ đó.
Người giúp Prinsep phân loại tiền xu là một kỹ sư cấp dưới nhiệt tình tên là Alexander Cunningham, người đã đến Calcutta vào năm 1833 khi còn là khóa sinh quân sự 19 tuổi và thấy mình vô dụng trong khi chờ đợi nhiệm vụ đầu tiên.
Khi được phái lên vùng nông thôn đến Benares hai năm sau đó, Cunningham vẫn tiếp tục thư từ với Prinsep cho đến khi Prinsep qua đời. ‘Ngay cả ở khoảng cách này,’ Cunningham viết bốn thập kỷ sau, ‘tôi vẫn cảm thấy những lá thư của ông ấy có sức mạnh chinh phục được sự đồng cảm nồng nhiệt nhất của tôi trong mọi khám phá của ông ấy, và tính tình vui vẻ và hào phóng của ông ấy vẫn truyền tải được sự nhiệt tình dễ lây lan như vậy.’
Phần lớn các thư từ này liên quan đến sở thích chung với tiền xu Ấn Độ, nhưng Prinsep còn bận việc dang dở liên quan đến đại bảo tháp Sarnath. Theo yêu cầu và với chi phí của Prinsep, Cunningham đã thuê một đội công nhân và sau khi kiểm tra để đảm bảo không có nhóm tôn giáo nào bị xúc phạm, ông đã dựng một con dốc gỗ dẫn lên đỉnh của công trình cao 43 mét, ngày nay được gọi là Đại bảo tháp Dharmekh (xem hình dưới).

Bắt đầu từ tháng 1 năm 1835, ông và công nhân đã đi xuống đường hầm qua trung tâm của tháp, một công việc mất nhiều thời gian hơn dự đoán vì cấu trúc hóa ra là được xây dựng bằng các khối đá giữ chặt nhau bằng kẹp sắt. Chỉ khi đào xuống một độ sâu 110 bộ công việc mới trở nên dễ dàng hơn vì ở đây vật liệu đá đá nhường chỗ cho gạch phẳng lớn. Việc đào bới sau đó tiếp tục cho đến khi họ chạm tới đất nền của cấu trúc mà không mang lại kết quả nào. ‘Như vậy là kết thúc việc khai thông tòa tháp lớn của tôi,’ Cunningham viết, ‘sau 14 tháng lao động và với chi phí hơn 500 rupee’, tất cả những gì ông có để chứng minh là một tấm bia khắc chữ từ thời Gupta (330–550 CN) được phát hiện ở giai đoạn đầu của cuộc khai quật.

Các bản khắc của James Prinsep trên nhiều đồng tiền khác nhau được tìm thấy tại hai địa điểm cổ đại, Behat và Kanouj, ở đồng bằng sông Hằng, bao gồm một số đồng tiền ngày nay được gọi là đồng tiền có dấu đục lỗ. (ví dụ: góc dưới bên phải, số 22). Biểu tượng ‘stupa’ có thể được nhìn thấy ở mặt sau của một số đồng xu (số 1, 5, 8 và 22). (JASB, Tập III, tháng 5 năm 1834).
Tuy nhiên, trong quá trình khai quật, Cunningham đã trở nên thân thiết với một ông già từng tham gia vào hoạt động khai thác đá tại địa điểm được Jonathan Duncan báo cáo vào năm 1795. Điều Cunningham được cho biết là hoạt động đào bới đã phá hủy hoàn toàn một bảo tháp thứ hai lớn bằng công trình còn lại. Tuy nhiên, nó cũng làm lộ ra một căn phòng ngầm chứa đầy tượng đá, được che phủ vội vàng vì sợ quấy nhiễu tà ma. Ông lão đã dẫn Cunningham đến nơi, và các công nhân của ông đã khai quật được một kho báu gồm “khoảng 60 bức tượng và phù điêu ở tư thế thẳng đứng, tất cả đều được xếp chồng lên nhau trong một không gian nhỏ hơn ba mét vuông. Tất cả đều là tượng Phật và đã được cố tình che giấu. Từ lớp tro bụi dày đặc phủ lên các phát hiện của mình, Cunningham kết luận rằng một trận hỏa hoạn thảm khốc đã chấm dứt sự hiện diện của Phật giáo tại địa điểm này.
Sau đó, nhiệm vụ kêu gọi và Cunningham được lệnh đi gia nhập đội ngũ nhân viên của Toàn quyền với tư cách là một phụ tá. Ông chỉ kịp sắp xếp khoảng 20 bức tượng có dòng chữ khắc để vận chuyển xuôi dòng đến Hội Châu Á ở Calcutta. Phải mất bốn năm sau, ông mới có thể trở về Benares, và được biết rằng theo lệnh của thẩm phán thành phố, ngài Davidson, 40 bức tượng còn lại cùng với 50 xe đẩy đá chạm khắc đã bị ném xuống sông Barna để làm đê chắn sóng cho cây cầu sắt đầu tiên của thành phố. Vụ phá hoại này đã để lại ấn tượng sâu sắc cho Cunningham, người những năm sau này trở thành gần như bị ám ảnh trong nỗ lực kêu gọi bảo vệ các di tích cổ xưa.
James Prinsep luôn ghi nhận sự giúp đỡ mà ông nhận được từ người cộng tác trẻ tuổi của mình. Tuy nhiên, chính trí tuệ uyên bác của ông mới là điều quan trọng. Trong suốt sáu năm, ông đã viết một loạt bài báo ngày càng uyên bác về tiền xu của người Ấn Độ, mỗi bài đều được minh họa bằng những bức khắc của riêng ông, tất cả đã cùng nhau đặt nền móng cho ngành cổ tệ học Ấn Độ đến tận thời kỳ hậu Gupta, thành tựu này bị lu mờ bởi công trình sau này của ông về tiếng Phạn nguyên ngữ. Nhưng nó chính là thành tựu đã dẫn đến một thành tựu khác, bởi vì chính việc khắc chữ trên các đồng tiền Ấn Độ đã dẫn Prinsep đến các chữ khắc trên cột trụ Firoz Shah và các cột trụ và đá khác.
Prinsep ban đầu không biết đến những nỗ lực của Sir William Jones, Henry Colebrooke và những người khác, tất cả đều được ghi chép trung thực trong những tập đầu của Nghiên cứu Châu Á – và sau đó đã bị lãng quên. Tuy nhiên, trong thời gian ở Benares, ông đã đến thăm pháo đài ở Allahabad và vô cùng thất vọng khi thấy nắng mưa làm xói mòn những chữ viết trên cột trụ gãy nằm ngay bên trong cổng pháo đài. ‘Tôi không thể nào nhìn thấy cột trụ kỳ lạ nằm ở Allahabad đang dần mục nát mà không muốn giữ lại một bản sao đầy đủ của những dòng chữ khắc trên đó,’ ông viết
‘Hoàng đế Moghul Jehangir hẳn hả hê khi khắc tên mình và dòng dõi kiêu hãnh đè ngang qua ngay giữa bản chữ cổ xưa nhất – người Anh hẳn đã lên án hành động báng bổ như vậy, nhưng sự thờ ơ thụ động của chính họ đã chứng tỏ chỉ trong vài năm ngắn ngủi thậm chí còn tàn phá hơn cả hành động man rợ của bạo chúa Hồi giáo. ‘
Càng tìm hiểu sâu về vấn đề này, Prinsep càng trở nên tò mò về bí ẩn của chữ viết chưa được giải mã trên cột trụ đổ đó, một chữ viết mà giờ đây ông gọi là ‘Số 1’. Ông đã viết thư cho một trong người liên lạc của mình ở Allahabad, Trung úy Thomas Burt thuộc Trung đoàn Công binh Bengal, và chỉ vài tuần sau đã nhận được một bộ bản vẽ, mà ông đã khắc và xuất bản trên số tháng 3 của JASB năm 1834. Bài viết đó đã ngay lập tức nhận được phản hồi từ Brian Hodgson ở Kathmandu, người mà thư của ông đã được Prinsep đọc trước cuộc họp của Hội Châu Á Bengal vào tháng 5.
Hodgson bắt đầu bằng một lời phàn nàn, rằng vài năm trước ông đã gửi cho Horace Wilson những bức vẽ về cái mà ông gọi là cột trụ Mattiah (ngày nay được biết đến nhiều hơn với tên gọi là cột Lauriya-Nandangarh), mà ông đã nhìn thấy trong những chuyến đi về Nepal, cùng với một bản sao của dòng chữ cổ trên đó. Tiến sĩ Wilson đã không trả lời. Bây giờ, ông đính kèm bản vẽ của hai trụ cột khác. Đây là ba trụ cột đã được tìm thấy và ghi chép trong những lần trước bởi John Marshall, Cha Marco della Tomba và những người khác.
Brian Hodgson và Csoma de Koros mỗi người đã độc lập chứng minh rằng bảng chữ cái Tây Tạng dựa trên chữ viết Sanskrit. Hodgson sau đó đề xuất với Prinsep rằng “Số 1” của ông có lẽ là một dạng chữ viết sơ khai của cùng một ngôn ngữ: “Khi chúng ta xem xét tính phổ biến rộng rãi trên khắp các vùng Ấn Độ của những ký tự này, chúng ta khó có thể nghi ngờ nguồn gốc của chúng là từ Deva Nagari, và kết luận cũng đáng chú ý rằng ngôn ngữ này là tiếng Phạn.’
Được trang bị với các bản sao ‘Số 1’ của Trung úy Burt từ Allahabad và bộ bản sao ‘Số 1’ của Hội Châu Á từ cột trụ Firoz Shah được Đại úy Hoare sao chép bốn thập kỷ trước đó, James Prinsep hiện bắt đầu xác định xem điều này có đúng hay không. Ông bắt đầu bằng việc phân tích tỉ mỉ bảng chữ cái: ‘Tôi nhanh chóng nhận ra rằng mỗi bộ thủ đều có năm biến tố chính, tất cả đều giống nhau, tương ứng về bản chất với năm dấu nguyên âm của chữ Phạn cổ số 2. Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ chứng minh rằng bảng chữ cái này thuộc họ Phạn, bất kể ngôn ngữ là gì.’
Năm biến tố mà Prinsep đoán chừng – hóa ra đúng – là tương ứng với năm nguyên âm cơ bản ‘a’, ‘e’, ’i’, ‘o’, ‘u’ trong tiếng Phạn và các ngôn ngữ gốc Ấn-Âu khác. Sau khi vẽ một biểu đồ hiển thị tất cả các bộ thủ cùng với các biến tố của chúng, ông nhận thấy rằng 29 bộ thủ được sử dụng ít hơn so với các ngôn ngữ hiện đại dựa trên tiếng Phạn, nhưng điều này có thể dự đoán được nếu đây là một hình thức ban đầu. Ông tiếp tục làm nổi bật một nhóm 15 ký tự cụ thể, mà ông quan sát thấy chúng đều lặp lại y hệt nhau ở phần đầu của hầu hết mọi đoạn văn bản.
Niềm tin của Prinsep rằng nhóm 15 ký tự này sẽ là nền tảng của “Số 1” càng trở nên mạnh mẽ hơn khi ông tìm lại được bản sao bản chữ khắc trên cột trụ Mattiah của Brian Hodgson, trong đó mỗi phần cũng bắt đầu bằng cùng nhóm 15 ký tự đó. Nhưng sau đó, khi ông xem xét ba bộ bản sao từ cột trụ Allahabad, Delhi và Bihar, khi đặt cạnh nhau, ông đã có một khám phá còn đáng kinh ngạc hơn nữa: “Cụ thể là cả ba bản chữ khắc đều giống hệt nhau. Do đó, toàn bộ bản chữ khắc ở Bettiah được ghi đúng từng chữ một trong bản chứ khắc của cột trụ Feroz, được in trên bốn ảnh chụp liên tiếp nhau trong tập thứ bảy của Nghiên cứu Châu Á [bản sao của Đại úy Hoare]; và tất cả những gì còn lại của bản chữ khắc Allahabad cũng có thể được dễ dàng truy nguyên trong cùng hình chụp”. Chữ in nghiêng là của Prinsep.
Prinsep tiếp tục suy đoán về ý nghĩa của khám phá này: ‘Liệu chúng có đánh dấu cuộc chinh phạt của một vị raja chiến thắng nào đó hay không; liệu chúng có phải là những cột mốc ranh giới cho lãnh thổ của ông ta hay không; hay liệu chúng có mang tính chất tôn giáo, mang văn bản nào đó quan trọng từ các kinh thiêng liêng Phật giáo hoặc Bà la môn giáo, thì câu hỏi chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng bằng cách khám phá ra ngôn ngữ này.’
Việc công bố bức thư của Hodgson và phản hồi của Prinsep trong ấn bản tháng 10 năm 1834 của JASB đã gây ra một làn sóng phấn khích trong số độc giả của tạp chí, sự phấn khích này càng tăng lên khi bản sao tận mắt do Hodgson thực hiện về dòng chữ khắc trên một cột khác ở Bắc Bihar (ngày nay được gọi là cột Lauriya-Araraj) cũng được Prinsep chỉ ra là giống hệt với ba bộ còn lại: ‘Vì vậy, hiện chúng tôi đang sở hữu bốn bản sao của cùng một bản chữ khắc, ba trong số đó hoàn hảo, đó là Delhi, Matthiah, và bản hiện tại, còn bán ở Allahabad thì bị cắt xén.’
Những tiết lộ này đã dẫn Prinsep đi tìm thêm các ví dụ về văn bản số 1. Ông đã đăng lại trong JRAS lời kể của Đại úy Edward Fell về chuyến thăm Đại Bảo tháp ở Sanchi, ban đầu được xuất bản trên Tạp chí Calcutta năm 1819, cùng với lời kêu gọi thêm các bản vẽ từ Sanchi và, quan trọng hơn, là bản sao của các dòng chữ khắc của nó.
Chính vào thời điểm này, George Turnour đã tham gia cuộc tranh luận từ tiền đồn xa xôi của ông ở Ceylon. Điều gì đã thúc đẩy ông tiếp tục công việc với Biên niên sử Triều Đại Vĩ đại của hòn đảo này không được biết rõ, nhưng sau vài tháng suy ngẫm, ông đã gửi cho James Prinsep ở Calcutta một bài viết ngắn về tầm quan trọng của Biên niên sử Triều Đại Vĩ đại một bản ghi chép chính xác về Phật giáo thời kỳ đầu. Cho rằng nó không mấy quan trọng, James Prinsep đã vô tình chuyển tiếp nó cho người thầy cũ của mình, Giáo sư H. H. Wilson, ở Oxford để xin ý kiến. Prinsep sau đó đã thêm những bình luận này dưới dạng chú thích phê phán cao vào bài viết của Turnour khi nó xuất hiện trên JASB vào tháng 9 năm 1836.
Wilson từng là một nhà tài trợ của hai tập của bộ The Mahavansi, Raja-Ratnacari và Raja-vali, hình thành nên Sách Thiẻng và Lịch sử của Ceylon, được dịch bởi Mục sư William Fox. Ông ta không có thời gian cho lập luận cốt lõi của Turnour, cho rằng chính Biên niên sử Triều Đại Vĩ đại đã chứng minh vai trò chính của Vua Ashoka của Maurya trong công cuộc phát triển đạo Phật, cả ở Ấn Độ và vượt ra ngoài biên giới Ấn Độ, sau khi tự mình cải sang đạo Phật. Điều này là vô lý, Wilson tuyên bố. Người ta biết rõ Ashoka là một người tôn thờ thần Shiva của Ấn giáo, và bên cạnh đó, đức tin của Asoka chỉ là vấn đề ít quan trọng, khi bản thân ông hoàng có thể là một nhân vật lý tưởng. Hơn nữa, Biên niên sử Triều đại Vĩ đại là một tài liệu hoàn toàn không đáng tin cậy khi so sánh với các văn bản Bà-la-môn như Puranas và biên niên sử của nhà thơ Kalhana về các vị vua của Kashmir, Dòng sông các Vị Vua.
Lời công kích công khai này không được Turnour chấp nhận. Ông kêu gọi Hội Châu Á Bengal hỗ trợ ông trong việc xuất bản bản dịch hai mươi chương đầu của Biên niên sử Triều đại Vĩ đại. Có lẽ vì mối quan hệ thân thiết với Wilson, Prinsep đã chuyển lời kêu gọi này đến Mục sư William Mill, Phó Chủ tịch Hội Châu Á – hóa ra là một bước đi khôn ngoan, bởi vì mặc dù là người theo Nhất thể giáo và là hiệu trưởng của Trường Cao đẳng Giám mục mới thành lập ở Calcutta, Mill là một người nghiên cứu tiếng Phạn và là một học giả chân chính trong lĩnh vực của mình.
Đọc bản thảo của Turnour, Mill vô cùng kinh ngạc và không nghi ngờ gì rằng, như Turnour khẳng định, Biên niên sử Triều đại Vĩ đại là một tác phẩm cổ xưa và có tầm quan trọng to lớn như một tài liệu nguồn. Nó không chỉ ra đời trước Puranas vài thế kỷ mà còn cho thấy mọi dấu hiệu của một biên niên sử về các sự kiện chân thực hơn nhiều Mặc dù Biên niên sử Triều đại Vĩ đại tập trung vào Ceylon, Mill tuyên bố rằng nó là nguồn sử liệu quý giá nhất từng được biết đến liên quan đến lịch sử Ấn Độ trước cuộc xâm lược của người Hồi giáo. Hơn nữa, nó còn làm nổi bật “mối liên hệ đặc biệt thú vị giữa lịch sử Tích Lan trước Công nguyên với lịch sử Magadha – một mối liên hệ mở rộng đến ngôn ngữ mà Biên niên sử Triều đại Vĩ đại đã được viết.
Ngôn ngữ đó là tiếng Pali, mà Turnour đã chỉ ra là ‘không gì khác ngoài tiếng Magadha Prakrit – dạng thức cổ điển của Bihar cổ đại’. Dường như tiếng Pali và tiếng Phạn đều bắt nguồn từ cùng một nguồn: tiếng Magadhan Prakrit.
Sự ủng hộ rõ ràng của Mục sư Mill dành cho Turnour đã dẫn đến một cuộc họp của Hội Châu Á Bengal được tổ chức tại Calcutta vào ngày 4 tháng 1 năm 1836, tại đó những người có mặt đã bỏ qua lập trường của Giáo sư Wilson và bỏ phiếu ‘ủng hộ sự bảo trợ của Chính phủ Ấn Độ cho việc in sách Turnour như được yêu cầu. Khoản tài trợ này đã giúp cuốn “Tóm tắt Lịch sử Ceylon, Biên soạn từ Biên niên sử Bản địa: và Hai mươi Chương đầu tiên của Mahawanso” của George Turnour được Nhà xuất bản Cotta Church Mission Press tại Ceylon xuất bản vào cuối năm đó, kèm theo lời giới thiệu trong đó tác giả đã bác bỏ toàn diện nhiều tuyên bố của Wilson và những người khác trong các nghiên cứu của họ về lịch sử Ấn Độ thời kỳ đầu.
Turnour đã chứng minh được rằng nguồn sử liệu ban đầu của Biên niên sử Triều đại Vĩ đại, Dipavamsa hay ‘Biên niên sử Đảo’, chứa đựng những ghi chép lâu đời nhất được biết đến về cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Cồ Đàm và sự phát triển tiếp theo của cộng đồng Phật giáo ở Ấn Độ và Tích Lan trong khoảng bảy thế kỷ. Đây là một góc nhìn rất khác về các sự kiện lịch sử vốn từ trước đến nay chỉ được nhìn nhận từ góc độ các tác giả Bà-la-môn – một góc nhìn trực tiếp thách thức phiên bản lịch sử Ấn Độ của họ.
Biên niên sử Triều đại Vĩ đại trước hết là lịch sử của Giáo hội Phật giáo trên đảo Lanka nhưng nó bao gồm các sự kiện trên đất liền từ thời Đức Phật, được hỗ trợ hữu ích bằng hệ thống niên đại kép: một dựa trên những năm kể từ khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch, một dựa trên những năm kể từ khi quốc vương trị vì lên ngôi. Do đó, Năm 0, năm Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt theo Phật lịch là năm thứ tám triều đại vua Ajatasatru (A Xà Thế) xứ Magadha (Ma-kiệt-đà). Đúng một thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt, Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần thứ hai đã diễn ra, vào năm thứ mười triều đại vua Kalasoko, sau đó 10 người con trai của ông đã trị vì trong 22 năm trước khi nhường ngôi cho chín anh em Nanda, người cuối cùng là Dhana Nanda, bị quan đại thần Bà La Môn Chanakya lật đổ.
‘Sau khi xử tử ông ta,’ Turnour đã viết trong bản dịch của mình –
Chanako phong làm vua cai trị toàn cõi Jambudipo [Ấn Độ], một hậu duệ của triều đại Moriyan, được phú cho những đức tính cao quý và nhân từ, tên là Chandragutto. Ngài trị vì ba mươi bốn năm. Con trai ngài, Bindusara, trị vì hai mươi tám năm. Bindusara có 101 con trai với các bà mẹ khác nhau. Trong số đó, Asoko [tiếng Pali là Ashoka, từ đây được dịch là Ashoka để tránh nhầm lẫn], nhờ lòng sùng đạo và trí tuệ siêu phàm, ngài đã trở thành bậc toàn năng. Sau khi giết chết một trăm anh em trai, trừ một người, sinh ra từ những bà mẹ khác nhau, ông đã một mình trị vì toàn cõi Jambudipo. Nên biết rằng, từ sau khi Đức Phật qua đời và trước khi Ngài lên ngôi, 218 năm đã trôi qua.
Nói cách khác, Ashoka đã được tấn phong làm vua của Magadha 218 năm sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập diệt.
Bản dịch của Turnour tiếp tục cung cấp chi tiết về sự trỗi dậy của vua Ashoka. Do có tin đồn rằng ngài âm mưu giết cha mình và chiếm lấy ngai vàng, nên Ashoka bị phái đi cai quản vương quốc Avanti, với kinh đô đặt tại Ujjain. Trên đường đi, Ashoka dừng chân tại Vidisha và gặp một thiếu nữ xinh đẹp tên là Devi, con gái của một thương gia. Ngài cưới nàng làm vợ, và sau đó nàng có thai với ngài và sinh ra một bé trai kháu khỉnh tại Ujjeni, tên là Mahindo [Mahinda trong tiếng Phạn, và sau này sẽ được gọi như vậy]. Hai năm sau, nàng sinh một con gái, tên là Samghamitta [Sanghamitta trong tiếng Phạn].’
Mười năm sau, khi đang làm phó vương cho vua cha ở Ujjain, Ashoka nhận được tin vua Bindusara sắp băng hà. Ngài vội vã trở về kinh thành Pataliputra và ngay khi về tới đã vội vã đến bên giường bệnh của vua cha: ‘Ngay khi vua cha băng hà, ngài chiếm lấy kinh đô cho riêng mình và giết chết người anh cả của mình tại thành phố lừng lẫy đó, rồi cướp ngôi vua.’
Bốn năm trôi qua trước khi vị thế của Ashoka trên cương vị người cai trị Magadha đủ vững chắc để ngài chính thức được tấn phong làm vua. Ngài bổ nhiệm em trai mình là Tisso (Tissa trong tiếng Phạn), cùng mẹ sinh ra, làm phó vương. Tuy nhiên, tính cách bạo lực của Ashoka khiến ngài bị gán cho biệt danh Candasoka, tức “Ashoka Nộ khí”. Sau đó, ngài bắt đầu có những nghi ngờ về tôn giáo. Cha ngài, vua Bindusara, là “người theo đức tin Bà-la-môn và đã chu cấp (cúng dường) vật dụng bố thí cho 60.000 Bà-la-môn, một thực hành mà Ashoka tuân thủ trong ba năm cho đến khi hành vi ‘đáng khinh bỉ’ của bọn người Bà la môn tại triều đình khiến ngài ra lệnh cho đại diện của mọi tôn giáo bản xứ đến trước mặt ngài từng người một để ngài có thể đặt câu hỏi với họ về giáo lý của đức tin họ. Trong khi việc kiểm tra đang tiến hành thì mắt ngài bất chợt bắt gặp dáng vẻ tự tại của một nhà sư trẻ đi ngang phía dưới khung cửa sổ. Nhà sư trẻ tên là Nigrodha, hóa ra là đứa con trai mồ côi của thái tử Sumana, anh cả cùng cha khác mẹ của Ashoka, người mà Ashoka đã giết chết trong quá trình giành ngôi báu. Đặt Nigrodha ngồi trên ngai vàng, Ashoka tra hỏi cậu về các vấn đề thuộc giáo lý Phật giáo cho đến khi ngài tin chắc rằng đây chính là đức tin chân chính – “và khi vị chúa tể của trái đất đã nghe nhà sư trẻ nói, ngài bị chinh phục bởi giáo lý của Bậc Chiến Thắng Tối thượng [tức là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni]”.
Ashoka bây giờ trở thành một upasaka hay ‘cư sĩ Phật tử tại gia’, bọn thầy tu Bà La Môn bị trục xuất khỏi triều đình và 60.000 tu sĩ Phật giáo thay thế vị trí của họ. Vị đại lão sư hàng đầu của thời đại, Moggalliputta Tissa (Mục Kiền Liên Tứ Đế Tu), trở thành sư phụ của Vua Ashoka và luôn là nhân vật ảnh hưởng nhất trong suốt cuộc đời của Ashoka cho đến khi Đại sư viên tịch vào năm trị vì thứ 26 của Ashoka.
Biết rằng có 84.000 ngàn pháp môn về giáo lý của Đức Phật, Vua Ashoka ra lệnh xây dựng bảo tháp và các cơ sở tu viện ở 84.000 địa điểm. Bên ngoài kinh đô Pataliputra, ngài cho xây dựng Ashokarama, một quần thể tu viện lớn mang tên ngài. Việc xây dựng các tu viện này mất ba năm và để kỷ niệm đại công trình hoàn thành mỹ mãn , Ashoka tổ chức một lễ hội lớn, ban tặng nhiều quà tặng quý giá cho Giáo hội Phật giáo. Vào đúng ngày lễ hội, ngài đến thăm Ashokarama của mình và công bố Dharmasoko – tiếng Phạn Dharmashoka, hay ‘Ashoka của Phật Pháp’:
Ngày hôm đó, vị vua vĩ đại, mặc đầy đủ trang sức, cùng với các cung nữ, các cận thần và được bao quanh bởi vô số quân lính, đã đi đến arama của mình, như thể đang chẻ đôi mặt đất. Giữa đám đông, ngài đứng, cúi chào các vị huynh đệ đáng kính. Trong hội chúng, có tám mươi kotis [triệu] tỳ kheo,… và chín mươi lần một trăm ngàn tỳ kheo ni … Những nhà sư và ni sư này đã thực hiện phép lạ được gọi là ‘vén màn thế giới’ với mục đích là để vua Dharmashoka có thể được cải đạo. Trước đây, ngài được gọi là Candashoka, vì những hành vi xấu xa của mình; sau này ngài được xưng tụng là Dharmashoka vì những nghiệp lành của mình.
Đại sư Moggaliputta Tissa ghi nhận lòng hảo tâm vô bờ bến của nhà vua đối với Tăng đoàn Phật giáo, nhưng giải thích rằng một phương tiện tốt hơn để tích lũy công đức là cho phép hai người con của ngài, Mahinda và Sanghamitta, xuất gia. Lúc đó, Mahinda 20 tuổi, còn em gái 18 tuổi. Lễ xuất gia của hai người diễn ra vào năm thứ sáu của vua Dharmashoka sau ngày đăng quang. Người em trai Tissa của Dharmashoka sau đó xin phép được đi tu và được chấp thuận một cách miễn cưỡng.
Vận mệnh của Phật tử giờ đây được cải thiện đáng kể, nhờ lòng hảo tâm của Dharmashoka. Nhưng thành công này lại thu hút những kẻ “ngoại đạo” mang theo giáo lý sai lầm của riêng họ, gây ra sự hỗn loạn lớn trong cộng đồng Phật giáo và khiến Moggaliputta Tissa gọi họ là ‘một thứ cặn bã kinh khủng của tôn giáo, giống như một vết loét’. Những vụ ly giáo này kéo dài bảy năm và cuối cùng buộc nhà vua phải hành động. Tuy nhiên, sư phụ của ngài đã đi ẩn tu bảy năm ở dãy Himalaya, nên vua Dharmashoka cử một trong những vị đại thần của mình đến Ashokarama với lệnh giải quyết một cuộc tranh chấp cụ thể, dẫn đến một sự cố khiến một số nhà sư bị sát hại.
Vô cùng đau khổ, vua Dharmashoka sai người đi triệu Moggaliputta Tissa, vị đại sư cuối cùng phải cắt đứt việc ẩn tu khi nhà vua phái một con thuyền ngược sông Hằng đến đón người. Sau đó, Ashoka triệu tập toàn bộ tăng lữ Phật giáo đến tham dự một đại hội đặc biệt bên cạnh Ashokarama. Mỗi vị sư được yêu cầu thuyết giảng giáo lý theo trường phái của mình, sau đó 60.000 người đã bị trục xuất vì là dị giáo. Dưới sự chỉ đạo của Moggaliputta Tissa, những nhà sư còn lại đã thành công trong việc biên soạn ‘một bộ kinh điển chân chính của chánh pháp’. Sự kiện quan trọng này – sau đó được gọi là Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Phật giáo lần thứ ba – kéo dài chín tháng và kết thúc vào năm thứ 17 của triều đại Dharmashoka.
Trong khi đó, tại “kinh đô lừng danh Anuradhapura, trên đất Lanka tươi đẹp”, vua Mutasiwo của Lanka đã băng hà sau 60 năm trị vì. Con trai thứ hai của ông lên ngôi và lấy hiệu là Dewananpiatisso hay “Tisso, người được các vị thần yêu mến” (Devanamapiyatissa trong tiếng Phạn, và từ nay về sau vẫn giữ nguyên dạng này). Ngài quyết định rằng không ai xứng đáng nhận được món quà châu báu hơn người bạn của mình là vua Dharmashoka. Để hộ tống số châu báu, ngài sai cháu trai là Maha Aritto, người đã đi biển bảy ngày và sau đó bảy ngày nữa bằng đường bộ đến Pataliputra để dâng tặng vua Dharmashoka. Vua Magadhan đáp lại bằng những món quà của riêng mình, bao gồm nước thiêng từ sông Hằng, ‘một trinh nữ hoàng gia vô cùng duyên dáng’ và ‘160 xe thóc từ những đồng lúa trên đồi được mang xuống bởi những con vẹt’.
Cùng với những tặng vật này, Dharmashoka gửi tặng món quà là ‘lời khuyên bảo chân thành’: “Ta đã quy y Đức Phật, tôn giáo của Ngài, và tăng đoàn của Ngài: Ta đã tự nguyện trở thành một tín đồ theo tôn giáo của hậu duệ Thích Ca. Hỡi nhà cai trị, hãy thấm nhuần thân tâm người bằng chân lý vững chãi của sự hiểu biết các phước báu tối thượng này, với đức tin chân thực, ngươi cũng hãy an trú trong sự cứu rỗi này.’
Tiếp theo cuộc tiếp xúc tôn giáo đầu tiên này giữa hai vị vua là một dự án truyền giáo đầy tham vọng hơn nhiều, được ghi chép trong Biên niên sử Triều đại Vĩ đại không phải do Ashoka thực hiện mà là do vị sư thầy của ông là Moggaliputta Tissa, người đã cử các nhà truyền giáo đến khắp mọi miền của tiểu lục địa Ấn Độ và xa hơn nữa. Dự án này bao gồm một phái đoàn gồm năm vị đại lão, do Mahinda của Vua Dharmashoka dẫn đầu, được gửi đi về phương nam với chỉ thị: ‘Hãy thiết lập tôn giáo tuyệt vời của Bậc Chiến thắng [tức là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni] tại vùng đất Lanka xinh đẹp.’
Biên niên sử Triều Đại Vĩ đại dành nhiều trang cho chuyến đi của Mahinda đến Lanka, diễn ra khi Mahinda đã xuất gia được 12 năm. Trước khi lên đường đến Lanka, Mahinda đến Vidisha để từ biệt mẹ, cùng đoàn tùy tùng của mình giờ đây bao gồm cả Sumano, con trai của em gái Sanghamitta. Bà mẹ, Devi, được mô tả là đang sống trong một tu viện ở Chetiyagiri, hay “Đồi Bảo Tháp”, và vô cùng vui mừng khi gặp lại người con trai yêu dấu của mình.
Sau một tháng ở tu viện của mẹ mình trên Đồi Bảo Tháp, Mahinda và đoàn tùy tùng của sư khởi hành đến Lanka – không phải bằng đường bộ hay đường biển mà bằng cách vân du trên không trung, và đáp xuống một đỉnh núi tại trung tâm hòn đảo. Vua Devanamapiyatissa của đảo Lanka tiếp đón các nhà truyền giáo tại Mihintale và cùng với hoàng tộc và triều đình đã quy y Phật giáo. Vài chương sau, Sumano được yêu cầu trở về Pataliputra để cầu xin xá lợi của Đức Phật từ ông bác của mình là vua Dharmashoka. Sumano trở về Magadha và thấy Dharmashoka đang thờ phụng cây Bồ Đề tại Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng). Sau khi nhận được bình bát của Đức Phật từ bác của mình, Sumano tiếp tục lên đường đến dãy Himalaya để thu thập thêm hai xá lợi Phật: một mảnh xương đòn và một răng nanh hàm trên. Những xá lợi quý giá này được thỉnh đến Lanka và được vua Devanamapiyatissa an táng trong một bảo tháp lớn được xây dựng cho mục đích này tại Anuradhapura.
Yêu cầu tiếp theo của Vua Devanamapiyatissa là một nhánh cây con Bồ đề thiêng liêng, được truyền đạt đến Dharmashoka từ con gái của ông là Sanghamitta, hiện là một Đại Ni sư của Giáo hội Phật giáo mới tại Lanka. Nhà vua vô cùng lo lắng không biết làm thế nào để thực hiện việc này mà không làm tổn hại đến cây Bồ đề, nhưng rồi cũng thực hiện một nghi lễ phức tạp, kết thúc bằng việc ngài cắt một cành chiết trên cây Bồ Đề, cho vào chậu và đặt lên một chiếc thuyền buồm đi biển do Sanghamitta trông coi. Sau đó, thuyền xuôi dòng sông Hằng ra biển, trong khi nhà vua và quân đội hành quân qua đất liền bảy ngày trước khi gặp lại thuyền tại cảng Tamalitta (Tamralipti trong tiếng Bengal ngày nay). Tại đây, một nghi lễ cuối cùng được cử hành trước khi nhà vua lội xuống biển đến tận cổ để đặt cành cây chiết lên boong thuyền và nói lời từ biệt: “Sau khi nói vậy, vị maharaja (đại vương) đứng trên bờ biển, hai tay giơ lên; và, nhìn theo nhánh cây bồ đề đang rời đi, nước mắt rơi trong nỗi thương tiếc. Trong nỗi đau đớn khi phải chia tay nhánh cây bồ đề, Dharmashoka buồn bã, khóc lóc và than thở trong tiếng nức nở, lên đường trở về thủ đô của mình.’
Sau khi trồng cây Bồ Đề trong khu vườn Anuradhapura, vua Lanka đã noi gương người hàng xóm bằng cách xây dựng các bảo tháp và tu viện trên khắp hòn đảo của mình. “Vì lợi ích tâm linh của người dân Lanka, Dewanamapiyatissa đã thực hiện những công trình này”, Biên niên sử Triều đại Vĩ đại viết, “trong năm đầu tiên trị vì; và hoan hỉ ban phát lòng nhân từ của mình, trong suốt cuộc đời, ông đã thực hành nhiều phước báu cho mình. Ông trị vì trong 40 năm, 8 năm sau khi ông qua đời, con trai của Dharmashoka là Mahinda, ‘ánh sáng của Lanka’, cũng viên tịch.
Từ thời điểm này trở đi, Biên niên sử Triều đại Vĩ đại không còn nhiều điều để nói về các sự kiện trên nội địa Ấn Độ ngoại trừ một đoạn văn mơ hồ ở phần bắt đầu chương thứ 20, kể về việc vào năm thứ 30 của triều đại Vua Ashoka, hoàng hậu theo đạo Phật Asandhimitra của ngài qua đời, và bốn năm sau ông tái hôn:
Dharmashoka, dưới ảnh hưởng của dục vọng xác thịt, đã phong làm hoàng hậu, một thị nữ của người vợ cũ. Năm thứ ba kể từ ngày đó, con người độc ác và phù phiếm này, chỉ nghĩ đến nhan sắc của chính mình, nói: “Vị vua này, đã bỏ bê ta, chỉ dành hết tâm trí cho cây Bồ Đề” – trong cơn phẫn nộ, bà ta đã tìm cách hủy hoại cây Bồ Đề vĩ đại bằng nanh tẩm độc của loài cóc. Vào năm thứ tư kể từ sự kiện đó [tức là sau khi Hoàng hậu Asandhimitra băng hà, tức là ba mươi bảy năm sau khi Ashoka lên ngôi], vị vua tài giỏi Dharmashoka đã hoàn thành số phận của kiếp nhân sinh.
Bản tóm tắt này ám chỉ rằng hoàng gia của vua Ashoka không mấy yên ổn trong những năm cuối đời. Ba mươi năm sau lễ tấn phong, hoàng hậu Phật giáo yêu quý của ngài qua đời. Bốn năm sau, ngài chọn một trong những thị nữ của người vợ quá cố làm hoàng hậu mới. Người này ghen tị với lòng sùng đạo của chồng mình đến nỗi vào năm thứ ba mươi bảy sau ngày đăng quang, bà ta tìm cách hủy hoại cây Bồ Đề. Vua Ashoka qua đời không lâu sau đó, nhưng ngài đã không nhận được những lời tán dương mà Biên niên sử Triều đại Vĩ đại đã dành cho con trai hay con gái của ngài khi họ qua đời. Sự thất vọng gần như hiện rõ. Đồng minh và hình mẫu vĩ đại của Vua Devanamapiyatissa đã khởi xướng phong trào Phật giáo ở Lanka, nhưng rồi vào cuối đời, ngài lại buông xuôi và để sự nghiệp Phật giáo đi xuống.
Với cái chết của Dharmashoka, Biên niên sử Triều đại Vĩ đại mất hết hứng thú với các vấn đề trên nội địa. Ấn Độ với tư cách là Jambudvipa chỉ xuất hiện một lần nữa, khi một vị vua Sri Lanka sau này xây dựng một bảo tháp xá lợi mới tại Anuradhapura và mời các nhà sư Phật giáo từ khắp Ấn Độ và các nơi khác đến tham dự lễ khánh thành. Theo Biên niên sử Triều đại Vĩ đại, hàng ngàn nhà sư đã đến tham dự từ Rajgir, Isipatana, tu viện Jetavana ở Sravasti, tu viện Mahavana ở Vaishali, Kosambi, Ashokarama ở Pataliputra, Kashmir, Pallavabhogga, ‘Alasanda [Alexandria] thành phố của người Hy Lạp [có lẽ là Kandahar ngày nay]’, ‘núi rừng Vinjha’, tu viện Bodhimanda, ‘vùng đất Vanavasa’ và ‘tịnh xá Kelasa vĩ đại’. Có vẻ như một thế kỷ sau khi Vua Dharmashoka băng hà, Phật giáo vẫn phát triển mạnh mẽ ở cả Lanka và lục địa Ấn Độ.
Tác phẩm của George Turnour đã chứng minh một cách không thể chối cãi rằng Vua Ashoka không chỉ là người thiết lập Phật giáo ở Lanka mà còn là một nhân vật quan trọng trong lịch sử Ấn Độ, người có quyền lực tối cao trải rộng khắp tiểu lục địa và ảnh hưởng của ngài với tư cách là người truyền bá Phật giáo đã vượt ra ngoài biên giới. Và đối với những ai quan tâm, điều này cung cấp một manh mối quan trọng về lý do tại sao quần thể bảo tháp tại Sanchi có thể có một ý nghĩa đặc biệt trong câu chuyện Ashoka. Biên niên sử Triều đại Vĩ đại đã ghi chép về người vợ đầu tiên của Ashoka là Devi, người mà ngài đã gặp lần đầu tiên ở Vidisha, sau đó đã về sống ở Chetiyagiri, ‘Đồi Bảo tháp’, được đặt tên như vậy vì ‘ phức hợp tu viện tuyệt vời Chetiya’ do chính bà cho xây dựng lên. Chính từ đây mà con trai cả của họ sư Mahinda đã cùng các nhà truyền giáo khác lên đường truyền bá giáo lý Phật giáo đến Lanka. Có một số ngọn đồi gần thị trấn Vidisha, nhưng ngọn đồi gần nhất là ngọn đồi ngày nay được gọi là Sanchi. Dường như đây chính là lời giải thích tại sao địa điểm Phật giáo đặc biệt này lại trở thành đối tượng được chú ý đặc biệt cả trong và sau thời Ashoka.
Với những tiết lộ của Turnour, sân khấu đã được thiết lập cho những gì sẽ là màn cuối cùng của bí ẩn về cột trụ vàng Firoz Shah: một kết thúc đầy kịch tính sẽ đến dưới hình thức một tiết lộ kép.