Nhà Tây Sơn: Quang Toản[5/9/1793-30/1/3/1794]
Hồ Bạch Thảo
Về việc thông thương buôn bán giữa hai nước, trước kia có thỏa thuận rằng nhà Thanh mở hai cửa ải Thủy Khẩu và Bình Nhi; phía An Nam mở hai chợ Mục Mã và Kỳ Lừa nhận hàng; nay An Nam lại xin mở thêm chợ Hoa Sơn tại Thất Khê, Lạng Sơn :
“Ngày 1 tháng 8 năm Càn Long thứ 58 [5/9/1793]. Quyền Tổng đốc Lưỡng Quảng, Tuần phủ Quách Thế Huân tấu:
‘Việc thông thị buôn bán với An Nam đã tâu lên và chuẩn cho sử dụng hai quan ải Bình Nhi (1) và Thủy Khẩu (2); thương nhân nước này xây chợ tại phố Mục Mã trấn Cao Bằng buôn bán; quan ải Du Thôn (3) cho xây chợ tại phố Kỳ Lừa trấn Lạng Sơn buôn bán. Mở hai thương hiệu Thái Hòa, Phong Thịnh; đặt Ngao trưởng (4), Thị trưởng mỗi nơi một người; lại có Bảo hộ, Giám đương mỗi chổ một viên. Nay cứ theo viên Đồng tri Long Châu Vương Phủ Đường bẩm xưng nước này mới lập thêm phố trạm tại vùng Hoa Sơn (5) trấn Lạng Sơn để đón thương nhân từ ải Bình Nhi đến buôn bán. Sau khi hạch hỏi cùng xét tờ bẩm, bèn sai viên Đồng tri ở gần điều tra thêm. Lại nhận phúc thư của viên Quốc vương như sau:
Các thương nhân xuất khẩu qua cửa ải Bình Nhi, dùng đường thủy đến Hoa Sơn trước, hành trình chỉ khoảng hai trăm dặm. Vả lại vùng phụ cận Hoa Sơn thôn trang trù mật, lập thêm phố thị, dân và thương nhân cả hai đều có lợi. Các chức Thị trưởng, Giám đương theo ngạch đã có sẵn tại Kỳ Lừa, chỉ cần phái đến mà thôi. Ngoài ra khách thương ai muốn sử dụng đường bộ đến Mục Mã thì tùy tiện.
Bọn thần tra xét sự việc, thực nhân tình hình tại chỗ mà thích nghi, hiện đã bàn bạc hai bên, chuẩn cho đặt thêm phố trạm.’
Nay thông báo để hay biết.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1434, trang 1-2)
Tiếp theo Tuần phủ Quảng Tây Trần Dụng Phu tâu rằng Quốc vương Nguyễn Quang Toản xin dâng gộp hai lễ cống tạ ơn; nhưng Vua Càn Long chỉ nhận một phần tượng trưng:
“Ngày 3 Quí Hợi tháng 10 năm Càn Long thứ 58 [6/11/1793]. Lại dụ rằng; Trần Dụng Phu tâu:
‘Cung kính dâng tờ biểu văn tạ ơn của Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Toản; trong biểu văn xưng rằng viên Quốc vương xin đem 2 phần cống lần trước, gộp làm kỳ cống lần sau, để trình tiến một lần. Có nên chấp thuận như vậy hay không, xin đợi chiếu chỉ để thi hành.’
Trước đây nhân An Nam đường sa xa xôi, đã ra lệnh cho viên Tuần phủ báo tin cho Nguyễn Quang Toản không cần lại sai sứ đến kinh đô tạ ơn, nếu như đã khởi hành, thì trên đường cho trở về; những đồ cống phẩm, cũng cho mang về, không phải tiến trình. Nay lại căn cứ theo biểu tạ ơn của viên Quốc vương, khẩn thiết xin thu 2 phần cống phẩm, trình tiến theo lệ cống để biểu đạt tâm thành; tấm lòng và lời lẽ rất thành khẩn, thấy được sự cung thuận. Nay ra lệnh cho Trần Dụng Phu tái thông báo cho viên Quốc vương rằng trước đây bị biện cống phẩm 2 phần, đã có chỉ dụ lệnh mang trở về, tức 1 phần cũng không trình lên. Nay đại Hoàng đế nghĩ đến việc viên Quốc vương hai, ba lần cầu khẩn, cho trình tiến một phần , đủ để biểu đạt lòng thành. Viên Quốc vương hãy kính tuân chỉ dụ, chỉ đưa một phần theo lệ trình tiến; không nên gửi biểu khẩn xin thêm nữa.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1438, trang 5-6)
Tại miền Nam vào cuối tháng 5 năm Quí Sửu [6/8-7/7/1793], Nguyễn Vương điều thuyền tiến đóng tại cửa biển Thị Nại [thành phố Qui Nhơn, Bình Định]; sai Võ Tánh đem quân đánh lấy đồn Tây Sơn ở chợ Thị Nại.
Tháng 6 [8/7-6/8/1793], Võ Tánh đánh vỡ quân địch ở cầu Tân Hội [huyện Tuy Phước, Bình Định]; quân Tây Sơn lui về Úc Sơn [thành phố Qui Nhơn, Bình Định], giữ chỗ hiểm đặt quân phòng thủ. Quân Chúa Nguyễn tiến đến cánh đồng Bình Thịnh, Nguyễn Nhạc sai con là Nguyễn Văn Bảo đem quân tinh nhuệ và voi đực ra khỏi thành đánh, bị thua. Vừa gặp bộ binh của bọn Tôn Thất Hội theo hai đường Hà Nha và Cù Mông [thành phố Qui Nhơn, giáp Phú Yên] kéo đến; Nguyễn Văn Bảo bèn đặt liền đồn trại từ Thổ Sơn đến Úc Sơn [thành phố Qui Nhơn, Bình Định] để chống quân ta.
Vương mật bảo Tôn Thất Hội ở gò Phú Quý [huyện Tuy Phước, Bình Định], dùng dân phụ cận dọn gai chặt cây giả cách làm đường sạn đạo, rồi đến đêm cùng Nguyễn Văn Thành dẫn quân ngậm tăm ngầm vượt Kỳ Sơn [huyện Tuy Phước, Bình Định], họp với đạo quân Võ Tánh để đánh úp sau lưng địch. Đương lúc chẳng ngờ, quân Tây Sơn và voi tán loạn, giày xéo lẫn nhau, chết không xiết kể. Lại sai Vũ Văn Lượng đem quân Tả chi đánh vào trước đồn Úc Sơn [thành phố Qui Nhơn, Bình Định], phóng lửa đốt trại lán. Thuộc nội cai đội Lê Văn Duyệt đem quân lên núi xông đánh. Quân địch thua chạy, tịch thu súng ống khí giới rất nhiều; tướng Tây Sơn Nguyễn Văn Bảo, bọn Đô đốc Đào Văn Hổ lui về thành Quy Nhơn. Các đồn Tây Sơn ở Phú Trung, Tân An [huyện Tuy Phước, Bình Định], Lam Kiều, Thạch Yển đều mất, nhờ đó quân Chúa Nguyễn thủy bộ thông nhau.
Hạ lệnh chiêu an, sai Cai bạ tri Trường Đà là Nguyễn Tử Châu đem 20 người túc trực xem xét các quân thủy bộ, có kẻ nào phạm cấm cướp bóc, bị dân tố cáo, xét đúng thì dùng ngay quân pháp để xử, không đợi phải bẩm lên.
Bắt những đinh tráng tại hai dinh Phú Yên và Bình Khang [Ninh Hòa, Khánh Hòa], mỗi người đều đem một tháng lương, đi theo Lưu thủ Nguyễn Văn Nhân và Cai bạ Lê Đăng Khoa đến quân thứ để chia đóng đồn. Lại hạ lệnh cho Bình Khang chiêu tập những binh ngạch súng giỏi bắn đại bác theo quân đánh giặc.
Sai Nguyễn Văn Trương quản 20 chiếc binh thuyền tiến đóng ở bãi biển xã Phường Mới để ngăn chặn thuyền giặc.
Nguyễn Nhạc sai tướng là đô đốc Đẩu đem 4.000 quân giữ thành tại núi Càn Dương [thành phố Qui Nhơn, Bình Định] cùng với thành Quy Nhơn làm thế dựa nhau.
Vương thân đốc cấm binh cùng các tướng tiến đánh. Quân Tây Sơn dựa chỗ cao bắn súng, đạn tuôn ra như mưa, quân Nguyễn không thể tiến được. Có Trần Công Hiến người Quảng Ngãi xin bí mật vào trong thành giặc để làm nội ứng. Vương chấp thuận, lại sai Nguyễn Đức Xuyên tới trước thành gọi binh giữ thành của giặc mà bảo rằng :
“Nay các thành đã bị quân Vương lấy được cả, thế của Nhạc khốn bách, phải lui giữ cô thành. Đại binh bốn mặt vây đánh, chẳng mấy ngày sẽ hạ được. Các người muốn vì tên Đẩu giữ thành này để tự chuốc lấy chết hay sao ?”
Binh lính nghe nói, không bắn súng nữa; quân Nguyễn thúc trống reo hò tiến lên. Hiến xung đột ở trong thành nên quân địch chạy tán loạn. Đẩu trốn thoát, bắt được chỉ huy Trí đem giết, còn bao nhiều đều tha cả; Trí trước đây giữ phủ Bình Khang tàn ngược với nhân dân mọi người đều oán, nên kể tội rồi giết.
Trong trận này, quân Nguyễn thu được đại bác đồng và gang 35 cỗ, thuyền biển hơn 80 chiếc, voi ba thớt, gạo lương một kho, cá mắm một kho, súng tay và khí giới không xiết kể. Hiến được trao chức Cai cơ, sai về Quảng Ngãi mộ được hơn 700 người thổ binh bổ làm chi Hiệu nghĩa.
Quân dân Quảng Ngãi đều xin Vương tiến quân ra, họ hứa sẽ làm nội ứng. Vương truyền dụ rằng :
“Những người trung nghĩa đời nào chẳng có ! Các ngươi chán Vương Mãng nhớ họ Lưu, tấm lòng ấy thật đáng khen.
Vả nay quân nhà vua thẳng đến Quy Nhơn, đã dẹp yên miền ấy và bốn mặt vây thành. Tên Nhạc kia tình trạng cũng như Côn Dương (6) nước ngập, binh sĩ tự tan, như cung Tuyên Thất(7) lửa bùng, trơ nhìn chờ chết. Ta sẽ sai một đạo quân đến cứu sống phủ các ngươi để chặt cánh tay phải của giặc và để yên ủi lòng dân. Các ngươi nên hiệp lực đồng tâm, khi nghe tin quân đến thì ứng theo ngay. Quan quân thì quay giáo đánh đàng sau, dân chúng thì chém cây làm khí giới, một là để trả ơn cho đất nước, một là để rửa hận cho cha anh. Thấy nghĩa làm ngay, thành công hẳn được. Các ngươi gắng lên”.
Sai các đạo quân Tôn Thất Hội, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành tiến sát đến ngoài thành Quy Nhơn lập trại bao vây. Nguyễn Nhạc sai bọn đô đốc Đào Văn Hổ đóng đồn ở các xứ Dê Phụ, Ngạc Trì, Tam Tháp để cùng chống cự.
Vương muốn dùng phép “thả diều phóng lửa” của nước Tây Phương để đốt thành. Nhưng lại lo cho nhân dân trong thành, phần nhiều bị địch ức hiếp bắt theo, sợ khi thành cháy vạ lây, nên không nỡ. Sắc cho các quân không nên đánh gấp, để cho dân tự ra.
Tháng 7 [7/8-4/9/1793], Vương đích thân đôn đốc binh thuyền tiến đến cửa biển An Dụ [huyện Hoài Nhơn, Bình Định]. Sai bọn Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Thiện chia quân làm ba đạo tiến đánh các đồn Lại Dương và Bản Dương [đều thuộc huyện Hoài Nhơn, Bình Định], quân Tây Sơn vỡ chạy, quân Nguyễn bắt được 30 chiếc thuyền biển mới đóng, còn thuyền sai, thuyền chiến cùng gỗ ván thì đốt cháy hết. Tướng Tây Sơn là bọn Đô đốc Trung dũng đạo Nguyễn Công Thái, Cai bạ kiêm Công bộ Trần Văn Thái, Vệ úy các vệ Hổ hầu Hổ dực Nguyễn Văn Chinh, chỉ huy Đào Văn Lương và Nguyễn Văn Phát, đem hơn 300 quân đến đầu hàng.
Quản sáu đạo Quảng Ngãi là Nguyễn Tiến Lộc, Trần Công Chủ đến cửa quân xin theo; đều trao cho chức Chưởng cơ, theo dinh Trung quân sai phái.
Lại cho Nguyễn Đức Thiện làm Khâm sai thuộc nội cai cơ, quản chi Hiệu nghĩa, tiến giữ sông Trà Khúc [Quảng Ngãi], phàm những quan và binh ứng nghĩa trong hạt đều dưới quyền quản hạt.
Vương lại đem quân trở về cửa biển Thị Nại, rồi đến cầu Thạch Yển [thành phố Qui Nhơn, Bình Định] hạ lệnh cho quân các đạo dùng hỏa xa đại bác(8) đánh thành Quy Nhơn. Quân Tây Sơn trong thành còn hơn 10.000 người, Nguyễn Nhạc cố giữ, đánh mãi không hạ được thành. Quân Chúa Nguyễn lại đánh đồn Dê Phụ, bắt được Đô đốc Đào Văn Hổ, các tướng tá đều hàng; quân địch ở Ngạc Trì nghe tin sợ chạy.
Sai Cai cơ là Phùng Văn Nguyệt, Tham luận Lê Đình Kiêm đốc thúc thu tô thuế phủ Quy Nhơn. Sai Hình bộ Nguyễn Văn Nghị tra xét những quân thủy bộ phạm pháp.
Tháng 8 [5/9-4/10/1793], quân Nguyễn vây thành Quy Nhơn đã lâu, Nguyễn Nhạc thế cùng, sai người báo cấp với Phú Xuân; Vua Nguyễn Quang Toản sai thuộc hạ là Thái úy Nguyễn Văn Hưng, Hộ giá Nguyễn Văn Huấn, Tư lệ Lê Trung, Tư mã Ngô Văn Sở đem bộ binh 17.000 người, voi 80 thớt cùng Đô đốc Hố và Chưởng cơ Thiêm đem hơn 30 chiếc binh thuyền, điều đại binh vào cứu viện. Bộ binh tới sông Trà Khúc [Quảng Ngãi] đánh nhau với quân ta. Chưởng cơ Trần Ngọc Chử chết ở trận, Nguyễn Đức Thiện lui giữ đèo Cung Quăng [chỗ tiếp giới Quảng Ngãi và Quy Nhơn]. Tin báo lên, Vương sai Nguyễn Văn Thành thống lĩnh hơn 8.000 quân các vệ tiến Bến Đá [Thạch Tân], chia đóng ở các ngả đường trọng yếu Sa Lung [Lòng Cát] và Hôn Cốc [Hang Tối], Đô đốc Nguyễn Kế Nhuận đem chi Hùng Võ, Nguyễn Công Thái đem chi Hiệu Trung, đều theo Thành điều khiển. Vương dụ rằng :
“Việc đánh giặc Quảng Ngãi giao cả cho khanh. Phải làm thế nào để ngoài thì ngăn được quân giặc, trong thì giữ được nhân dân, mới xứng trách nhiệm can thành”(9).
Lại nói:
“Trong bọn hàng tướng có Nguyễn Công Thái là người trọng hậu, lão luyện về việc binh, khanh nên khéo đối xử, đừng coi như mọi người”.
Thủy binh Tây Sơn đóng ở cửa biển Đại Áp. Vương sai Cai cơ Trương Phước Luật quản hơn hai chục chiếc binh thuyền đến đánh Thái Cần [Dung Quất, Quảng Ngãi], cướp được 7 chiếc thuyền lương của địch, thừa thắng đến cửa Đại áp [huyện Núi Thành, Quảng Nam] đốt thủy trại khiến Đô đốc Hố phải rút về Đại Chiêm [Cửa Đại, Quảng Nam], bộ binh lui giữ sông Vệ. Nguyễn Văn Thành xin tiến đánh, Vương dụ rằng :
“ Binh pháp nói : trước hãy đứng ở chỗ không có thể thắng, để đợi khi có thể thắng; hãy giữ vững mình rồi sau mới đánh người. Hãy bền giữ đồn trại, không nên đánh gấp, đợi lúc cô thành đã nhổ được rồi sẽ hợp sức đuổi dài, thế mới là mưu hay vạn toàn”.
Vương thấy quân ta bắt được nhiều thuyền biển của địch, bèn ra lệnh cho các quan cai quản thủy quân cứ theo ngạch thủy quân cũ ở hai phủ Quy Nhơn và Phú Yên, ghi hết vào sổ để sung bổ thủy quân.
Sai Lưu thủ Nguyễn Văn Nhân trở về Phú Yên đắp đồn La Thai, dựng kho tạm trữ thóc thuế để sẵn lương thực cho quân.
Có tên lính giặc từ sông Vệ [Quảng Ngãi] đến đầu hàng, quân tiền du Lục đạo cướp lấy của, lại cắt cả tai. Vương nghe tin, sai chém kẻ phạm tội để răn; lại dụ Nguyễn Văn Thành rằng :
“Nó dù là đảng giặc mà biết bỏ chỗ tối tới chỗ sáng như thế, há không động được lòng người sao mà lại cắt đứt con đường chạy lại của người ta ? Vả quân Lục đạo chưa quen kỷ luật, từ nay nên lấy quân các vệ làm tiền du, quân Lục đạo làm hậu ứng. Phàm có quân hay tướng giặc quy hàng, tức thì đưa đến hành tại, không được ngăn trở quấy nhiễu”.
Tháng 9 [5/10-3/11/1793], vua thứ hai nước Xiêm La cùng với đại tướng là Phi Nhã Chất Tri đem quân sang giúp ta, quân bộ 5 vạn đóng ở Nam Vang, chiến thuyền 5 trăm đậu ở Hà Tiên, rồi sai sứ mang thư đến Gia Định. Quan lưu trấn dùng lễ vật khoản đãi rồi đưa sứ giả đến nơi Vương đóng quân. Vương sai trả lời thoái thác, đại lược nói tiết trời gần mùa gió bấc, đường thủy không tiện; do đó quân Xiêm bèn kéo về.
Nguyễn Quang Toản phát thêm viện binh do đường thượng đạo Sa Lung kéo vào, thế quân rất thịnh. Vương thấy quân ta vây thành phải chống giặc hai mặt, mà tướng sĩ thì lâu ngày mỏi mệt, lại gặp mùa mưa, bèn ra lệnh cho các tướng rút quân về.
Thuyền Vương từ cửa Thị Nại về đóng ở cửa Xuân Đài [huyện Sông Cầu, Phú Yên]; Võ Tánh, Nguyễn Văn Trương đều đem thủy binh đi theo.
Sai Tôn Thất Hội dùng bộ binh ở lại trấn thủ Phú Yên, Nguyễn Huỳnh Đức quản hai chi Túc Oai và Kiến Võ giữ trung đạo La Thai, Nguyễn Long cai quản chi Chấn Võ giữ thượng đạo Thạnh Thành, Vũ Văn Lượng và Nguyễn Văn Nhân quản 36 chiếc sai thuyền giữ hạ đạo Vũng Lấm [huyện Sông Cầu, Phú Yên]; toàn bộ đều do Hội điều bát.
Thuyền Vương đến cửa biển Nha Phu [Ninh Hòa, Khánh Hòa]. Đắp bảo Mông Phụ [Gò Xoài] ở Bình Khang; Vương đến xem, đắp xong sai Nguyễn Văn Thành giữ.
Đặt nhà trạm và kho tạm từ Bình Thuận vào Nam, cho đến trạm Hưng Phước [Bà Rịa]
Sai Võ Tánh quản năm vệ Ban Trực tả, hữu, Tuyển Phong tả, hữu và Long Võ, cùng bệnh binh các vệ và các tướng sĩ mới đầu hàng, đi chiến thuyền về Gia Định trước, Nguyễn Văn Trương đem thủy quân đậu ở cửa biển Cù Huân [Nha Trang, Khánh Hòa] để đợi Nguyễn Vương.
Vương thấy bảo cũ Hoa Bông địa thế tốt, đánh hay giữ đều tiện, bèn sai các quân và điều động 3.000 dân Bình Thuận, 1.000 dân Thuận Thành khởi đắp trọn một tháng thì xong, gọi là thành Diên Khánh, tức là tỉnh lỵ Khánh Hòa ngày nay. Thành cao 1 trượng [4 mét], chu vi hơn 510 trượng [510 . 4 = 2.040 mét], mở sáu cửa, đông và nam đều có một cửa, tây và bắc đều hai cửa, trên cửa có lầu, bốn góc có cồn đất.
Triệu Lưu thủ Bình Khang là Nguyễn Thoan và Ký lục là Đặng Hữu Đào đến hành tại, lưu Cai bạ Nguyễn Y Mân hiệp theo Nguyễn Văn Thành để biện lý các việc ở dinh.
Nguyễn Nhạc chết; các tướng Tây Sơn Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Văn Huấn thuộc phe Nguyễn Quang Toản ép Nguyễn Nhạc mà giữ lấy thành, Nhạc tức giận phát bệnh chết. Quang Toản phong cho con Nhạc là Nguyễn Văn Bảo làm Hiếu công, cắt huyện Phù Ly [ Phù Mỹ, Bình Định] cho làm thực ấp. Văn Bảo rất bất bình, mẹ Bảo nói khích rằng :
“Mở mang bờ cõi đều là công của cha mày, nay Quang Toản cho mày ăn lộc một huyện, thà chết còn hơn chịu nhục”.
Tháng 10 [4/11-2/12/1793], Tôn Thất Hội dâng biểu nói :
“Mùa mưa lụt, nước sông Đà Diễn [sông Đà Rằng, thị xã Tuy Hòa, Phú Yên] chảy gấp, sợ quân giặc lấn vào, tiến thoái đều khó, xin lùi về sông Bàn Thạch [huyện Tuy Hòa, Phú Yên] mà đóng”.
Vương quở trách rằng :
“Hiện nay đối với xã tắc và nhân dân, mối lo của ta tức là mối lo của khanh vậy. Đất Phú Yên là nơi đứng mũi chống giặc, được khanh ở đó ta mới yên lòng. Thế mà khanh là Đại tướng trấn nơi trọng yếu, thấy giặc nhòm ngó mà đã sợ không dám tiến, lại vô cớ muốn lui quân, chẳng phải là tự mình tỏ ra hèn yếu để cho giặc cười sao. Huống chi thượng đạo thì có Nguyên Long, hạ đạo thì có Nguyễn Văn Nhân, đủ giúp đỡ nhau. Nếu giặc đến mà chống không nổi, bấy giờ lui cũng chưa muộn. Nay nếu sợ giặc mà muốn lánh thì đem đầu về hiến, tự có tướng khác thay ngay! Ta nghe khanh ở trong quân ngày đêm say mềm, nếu quân giặc biết, há chẳng hỏng việc ư ? Lại nghe quân sĩ xuống làng cướp phá, không ngăn cấm được, lỗi ấy ở ai ? Phép đáng trị nặng, nhưng e người ta bàn tán nên hãy tạm tha. Từ nay phải nghiêm thêm tướng lệnh mà giữ yên lấy dân trong hạt…., để xứng với trách nhiệm được ủy thác”.
Tù trưởng dân tộc thiểu số Đồng Hương ở phủ Bình Khang đến hành tại bái yết; ban cho y phục, cho lệ theo Cai cơ Nguyễn Văn Quế, trở về thượng đạo, tập hợp dân đặt đồn phòng giữ.
Truy lục các tướng sĩ chết vì việc nước ở hai phủ Diên Khánh và Bình Khang; hỏi rõ con cái anh em, chọn lấy một người thân nhất, biên rõ họ tên, làm sổ chuyển nộp, để tùy công mà lục dụng.
Triệu Nguyễn Văn Thành về giữ Diên Khánh, Nguyễn Huỳnh Đức thay giữ Bình Khang.
Vương đem quân về Gia Định, khi thuyền ra biển, gió to nổi lên; thuyền hộ tống của Tham tri Hộ bộ Nguyễn Đức Chí và Cai đội túc trực Lưu Văn Trung bị lật chìm; Vương bèn ra lệnh cho các quân lên bộ mà về.
Khiến Khâm sai cai cơ Trần Phước Chất sang Xiêm báo tin thắng trận. Tặng Phật vương một chiếc thuyền rồng, hai cây hoa vàng bạc, mười lạng ký nam, sáp ong và đường cát đều 500 cân; tặng Vua thứ hai 2 cây hoa vàng bạc, sáp ong và đường cát đều 500 cân.
Tổ chức những quân thất lạc trở về và các tướng sĩ mới hàng làm ba vệ Uy võ, Trung kích và Tiền kích dinh Hậu quân, lấy Khâm sai cai cơ Võ Di Minh làm chánh vệ vệ Uy Võ.
Đổi vệ Thần sách làm quân Thần sách; các đội Ban trực tiền, tả hữu, hậu làm bốn vệ tiền, tả, hữu, hậu; các đội Ban trực tuyển phong tiền, tả, hữu, hậu làm bốn vệ tiền, tả, hữu, hậu; các đội Túc trực làm vệ Túc trực, đều lệ vào quân Thần sách.
Tháng 11 [3/12/1793-1/1/1794], Vương thấy quân cấm vệ theo đi đánh trận đã lâu ngày, ra lệnh cho chia làm hai phiên để nghỉ ngơi, cứ 15 ngày một hạn, hết hạn lại đến hàng ngũ.
Lấy thuộc nội cai đội là Thái giám Lê Văn Duyệt làm thuộc nội vệ úy. Duyệt là người Chương Nghĩa [huyện Tư Nghĩa], phủ Quảng Ngãi, sinh ra thiếu bộ phận sinh dục, lúc đầu sung làm chức Thái giám, từng đem quân ra trận, trầm mặc đánh giỏi. Đến nay vì tòng chinh có công, được trao chức này.
Đặt vệ Hùng võ quân Thần sách, lấy người quê ở Bắc Hà thuộc ba đội của vệ Ban trực tuyển phong hậu bổ sung vào. Lấy Thuộc nội nội cai đội Nguyễn Đức Xuyên làm Vệ úy, Trần Văn Huy làm Phó vệ úy.
Tổ chức quân Lục đạo Quảng Ngãi làm ba đội Trung võ, Tả võ, Hữu võ hiệu Quảng Vũ dinh Trung quân, lấy Khâm sai cai cơ đội Trịnh Quang Chiêu làm trưởng hiệu để quản suất.
Sai Cai đội Quàng Nói Vè và đội trưởng Pa Đơ Chê người Âu Châu sang thành Goa, thuộc địa của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và xứ Malacca, Mã Lai, tìm mua khí giới.
Triệu Nguyễn Văn Thành về. Sai Đông cung Cảnh trấn thành Diên Khánh, cho Giám mục Bá Đa Lộc đi theo. Khiến Phó tướng Tả quân Phạm Văn Nhân, Giám quân Trung dinh Tống Phước Đạm, Lưu thủ cai cơ quản suất Trấn Định là Mạc Văn Tô, Cai cơ đạo Tân Châu là Nguyễn Đức Thành cùng các tướng sĩ đi theo để điều bát. Khi sắp đi Vương dụ Đông cung rằng :
“Đất Diên Khánh bốn mặt đều là chiến trường, dân chúng lầm than lắm rồi. Ta ngày đêm vất vả, nếm đủ đắng cay mới giành được miếng đất ấy. Con nên chuyên tâm, trong giữ yên dân, ngoài lo chống giặc, để đáp tấm lòng mong mỏi của dân và khiến quân giặc phải sợ. Con phải gắng làm như chính ta trông thấy”.
Lại nói :
“Đế vương từ xưa chưa ai là không học. Thế cho nên Thái Giáp làm được cháu hiền của Vua Thang, Thành Vương làm được vua giỏi của nhà Chu, cũng đều nhờ học mà nên đức. Khi việc binh rỗi con nên vâng theo sư phó, chăm đọc kinh sách, khiến cho sự học được sáng tỏ, nghiệp đức được tiến lên. Đến như đối với xung quanh thì nên gần người ngay thẳng, xa kẻ gian tà, thế mới gọi là sáng suốt biết người. Ra đi nên kính nhớ lấy”.
Lại dụ Phạm Văn Nhân và Tống Phước Đạm giúp đỡ Đông cung, định nghiêm tướng lệnh, tự cai cơ trở xuống, không tuân mệnh thì chém.
Triệu Nguyễn Huỳnh Đức về, khiến lưu những quân Chân Lạp, Chà Và [Java] do Đức cai quản, ở lại Diên Khánh để sung sai phái.
Triệu Tôn Thất Hội về, khiến Vũ Văn Lượng và Nguyễn Long Hiệp với Lưu thủ Nguyễn Văn Nhân cùng giữ Phú Yên.
Đông Cung Cảnh đến Diên Khánh, lại sai Mạc Văn Tô và Nguyễn Đức Thành đi Phú Yên hội đồng với bọn Vũ Văn Lượng trù tính việc quân.
Bắc cầu qua sông Vàm Cỏ [Long An], sai Trương Phước Luật trông nom công việc.
Tháng 12 [2/1-30/1/1794], lấy Cai cơ phó Tiền chi Tiền quân Nguyễn Tiến Lượng quản đạo Kiên Giang, Cai cơ đốc chiến Nguyễn Khoa Cương quản hai đạo Tân Châu [An Giang] và Châu Đốc [An Giang], Cai cơ Tiền chi Hậu thủy dinh là Nguyễn Bình quản đạo Cần Giờ [Sài Gòn], kiêm hai đạo Vũng Tàu [Bà Rịa, Vũng Tàu] và Đồng Tranh [Sài Gòn].
Dân Xiêm đói, xin mua gạo ở Kiên Giang [Rạch Giá], quản đạo Nguyễn Tiến Lượng đem việc tâu lên. Vương nói :
“Nước ta với nước Xiêm vốn có tình láng giềng tốt với nhau, dân Xiêm cũng như dân ta, sao nỡ thấy người ta đói kém mà không thương?”.
Bèn ra lệnh bán gạo.
Chú thích:
1.Bình Nhi: Theo Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quí Đôn, Bình Nhi là cửa ải quan trọng ở tây bắc biên giới tỉnh Lạng Sơn và Trung Quốc.
2.Thủy Khẩu: Theo Vân Đài Loại Ngữ, cửa Thủy Khẩu là một cửa khẩu quan trọng ở tỉnh Cao Bằng.
3.Du Thôn: Cửa ải ở thôn Du Thôn, xã Bảo Lâm, châu Văn Uyên; nay thuộc huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn. Theo Phương Đình Dư Địa Chí, phàm giao tống công văn (việc thường) và khách thương đi lại giữa ta và Trung Quốc đều do cửa này.
4.Ngao trưởng: tức Trưởng kho.
5.Hoa Sơn: phố Hoa Sơn, thuộc Thất Khê, huyện Tràng Định, Lạng Sơn.
- 6. Côn Dương: tên một huyện thời Hán, nay thuộc tỉnh lỵ tỉnh Hà Nam. Xưa vua Quang Vũ nhà Đông Hán đánh bại quân Vương Mãng ở đó.
- Tuyên Thất: cung của nhà Ân; khi Vũ Vương đánh được Trụ, bắt treo cổ giết ở cung này.
- 8. Hỏa xa đại bác: đại bác của người Âu Châu, có bánh xe di động như xe.
9.Can thành : tức can qua và thành quách, chỉ vũ khí và thành để bảo vệ đất nước