
HARLES ALLEN
Trần Quang Nghĩa dịch
6 Cái bóng dài của Horace Hayman Wilson

Cái gọi là Great Tope ở Sanchi, với các chi tiết, được William Murray vẽ và được James Prinsep khắc để in trên Tạp chí của Hội Châu Á Bengal năm 1837.
Pháo đài cổ Jaffna, nằm ở cực bắc Sri Lanka, từng được cho là pháo đài kiên cố nhất châu Á. Ngày nay, nó chỉ còn là đống đổ nát sau khi hứng chịu bom đạn từ đất liền, biển cả và trên không. Ban đầu, nó được người Bồ Đào Nha xây dựng để kiểm soát các tuyến đường biển dẫn đến và đi từ Quần đảo Gia vị ở Đông Ấn, bao gồm cả đảo Lanka mà họ đổi tên thành Ceilao, từ tên địa phương Sinhalana hay ‘Vùng đất Sư tử’. Năm 1658, những người Bồ Đào Nha sống sót sau cuộc vây hãm của Colombo đã tìm được nơi ẩn náu tạm thời tại đây trước khi bị những người cai trị mới, Vereenigde Oost-Indische Compagnie, người Anh gọi là Công ty Đông Ấn Hà Lan, trục xuất khỏi đảo. Người Hà Lan tiếp tục củng cố các công sự, vì vậy khi người Anh tiếp quản vào năm 1796, họ chẳng còn gì để làm ngoài việc thay đổi lá cờ.
Pháo đài Hà Lan vẫn được bảo tồn tuyệt vời cho đến khi cuộc nổi dậy do lực lượng ly khai, thường được gọi là Hổ Tamil, phát động vào tháng 7 năm 1983, phát triển thành nội chiến. Jaffna và pháo đài của nó đã trở thành chiến trường của một số cuộc giao tranh ác liệt nhất, hai lần đổi chủ trong diễn biến của một cuộc chiến tranh kéo dài và cay đắng, cuối cùng chỉ kết thúc vào tháng 5 năm 2009.
Đâu đó giữa đống đổ nát là ngôi mộ của Thiếu tá George Turnour, con trai út của một bá tước người Ireland, Lord Winterton. George Turnour đã tham gia chiến dịch chiếm Jaffna từ tay người Hà Lan với tư cách là trung úy trong Trung đoàn Bộ binh 73 và ở lại làm phụ tá pháo đài. Ông đã kết hôn với con gái của một quý tộc Pháp tị nạn, và vào tháng 3 năm 1799, con trai của họ, cũng tên George, chào đời tại Pháo đài Jaffna. Cậu bé ở lại đây vài năm trước khi được gửi sang Anh để học hành. Người cha vẫn ở lại.
Khi người Anh chiếm được hòn đảo, họ đã Anh hóa Ceilao thành Ceylon (Tích Lan). Nó có thể đã trở thành một phần thuộc địa của Công ty Đông Ấn nếu không có sự do dự của chính phủ Anh, ngày càng bực bội vì không thể kiềm chế các Toàn quyền của mình ở Ấn Độ. Vì vậy, Ceylon trở thành một thuộc địa của hoàng gia với chính quyền riêng, Cơ quan Dân sự Ceylon, may mắn có vị thống đốc đầu tiên là Ngài Frederick North. Giống như người đương thời ở Ấn Độ, Hầu tước Wellesley, North là một quý tộc và từng học tại Eton và Christ Church, Oxford, và mặc dù không có tham vọng như Wellesley, ông chia sẻ quan điểm của Wellesley rằng những nhà quản lý giỏi nhất là những người có khát vọng hợp tác với người bản xứ thay vì áp đặt lên họ. Trong số đó có nhà thực vật học người Pháp Joseph de Joinville, người nước ngoài đầu tiên nghiên cứu Phật giáo ở Ceylon, và bản thân Đại úy George Turnour, người từng giữ chức vụ cai quản địa phương tại Jaffna và các vùng lân cận cho đến khi qua đời vào năm 1813 ở tuổi bốn mươi lăm.
Một thành viên có năng lực khác của chính quyền North là luật sư Alexander Johnston, Tổng chưởng lý đầu tiên của Ceylon và sau này là Chánh án, một người uyên bác nhưng lại không thể thốt ra nổi một câu khi hai hoặc ba câu là đủ. Johnston, với một số lý do, có thể được coi là câu trả lời của Ceylon cho Ngài William Jones. Ông đã trải qua thời thơ ấu cho đến năm mười một tuổi ở Madras và Madurai, và có giai đoạn đã được Colin Mackenzie dạy kèm một cách không chính thức, điều này có thể giải thích tại sao khi trưởng thành ở Ceylon, người ta nói rằng ông có một “sự tò mò vô độ về Tamil Saivism (một chi phái Ấn Độ giáo) và Phật giáo Tích Lan”. Với tư cách là Tổng Chưởng lý, ông đóng vai trò chủ chốt trong việc bãi bỏ nạn buôn bán nô lệ trên đảo và thiết lập chế độ xét xử bằng bồi thẩm đoàn, đồng thời mở đường cho giáo dục phổ cập. Giống như Jones ở Calcutta, ông quyết tâm rằng luật pháp địa phương phải có chỗ đứng trong hệ thống tư pháp và vì mục đích này, ông đã nghiên cứu “tất cả các luật tục của các tôn giáo và đẳng cấp khác nhau ở Tích Lan, trước khi bắt tay soạn thảo Bộ Luật Tích Lan.
Trong quá trình thúc đẩy cải cách, Johnston đã kết thân với một cựu chủ nô tên là Rajah Pakse, người được cho là có quyền lực nhất trên đảo. Khi Johnston cần sự hợp tác của các vị trưởng lão trong Tăng đoàn Phật giáo, chính Rajah Pakse đã đứng ra can thiệp thay mặt ông và sau đó đã tìm được cho ông ba bản thảo được cho là chứa đựng ‘tài liệu xác thực nhất còn tồn tại về nguồn gốc của tôn giáo Budhu, về giáo thuyết của nó, về sự du nhập của nó vào Tích Lan và về những ảnh hưởng về mặt đạo đức và chính trị mà những giáo thuyết đó đã tạo ra đối với chính quyền bản địa’.
Hai trong số những văn bản này được viết bằng tiếng Sinhalese (ngày nay là tiếng Sinhala) nhưng văn bản thứ ba được Johnston gọi là Mahavansi, nhưng chính xác hơn Mahavamsa, hay ‘Biên niên sử các Triều đại Vĩ đại’, được viết bằng tiếng Pali nguyên bản. Khi Ngài Alexander Johnston rời Ceylon nghỉ hưu vào năm 1819, những món quà này ông đã mang theo mình.
Cũng trong thời gian này, những nhà truyền giáo Tin Lành đầu tiên đã đến đảo. Trong số đó có Mục sư William Buckly Fox, một tín đồ Giám Lý, người chuyên dịch các bài giảng Kinh Thánh sang tiếng địa phương và vì mục đích này, ông đã biên soạn một cuốn Từ điển Ceylon – các ngôn ngữ Bồ Đào Nha, tiếng Singalese và tiếng Anh, xuất bản năm 1819. Khi trở về Anh năm 1823, Fox được Johnston tuyên bố là “học giả tiếng Pali và tiếng Singhalese giỏi nhất châu Âu hiện nay”. Nhưng làm thế nào ông có được kiến thức về tiếng Pali – nếu thực sự ông có thể đọc được tiếng Pali – vẫn còn là một bí ẩn, bởi vì tiếng Pali vào thời điểm đó là một ngôn ngữ khó hiểu như tiếng Phạn ở Ấn Độ trước khi có bước đột phá của Wilkins-Halhead, mặc dù trong trường hợp này, chính các nhà sư Phật giáo Tích Lan đã từ chối chia sẻ bí mật của mình. Tuy nhiên, chính Fox là người mà Johnston đã tìm đến khi quyết định ba tác phẩm tiếng Ceylon của ông nên được xuất bản bằng tiếng Anh.
Bản dịch được cho là của Fox về Biên niên sử các Triều đại Vĩ đại đã được xuất bản chính thức tại Anh vào năm 1833 với tập đầu tiên của bộ Mahavansi, Raja-Ratnacari và Raja-vali, hình thành nên The Sacred and Historical Books of Ceyland. Tuy nhiên, cái tên duy nhất xuất hiện trên trang bìa tựa sách là tên của nhà xuất bản Edward Upham, người đã qua đời vào năm trước – và để làm cho mọi chuyện thêm rối ren, chính Mục sư Fox cũng qua đời chỉ vài tháng sau khi cuốn sách ra mắt. Vì những lý do chưa bao giờ được giải thích, bản dịch của Fox đã thu hút rất ít sự chú ý của công chúng ở Anh. Có thể người ủng hộ chính của dự án, Ngài Alexander John- ston, đã bắt đầu nghi ngờ. Tuy nhiên, sự thật đây vẫn là bản dịch tiếng Anh đầu tiên được xuất bản của sử thi Sri Lanka, Biên niên sử các Triều đại Vĩ đại – mặc dù nó gần như chắc chắn được dịch từ bản tiếng Sinhalese dịch từ một bản sao không hoàn chỉnh tiếng Pali gốc.
Đáng chú ý hơn nữa, bản dịch này nêu rằng trong những ngày đầu tiên của lịch sử hòn đảo, đã tồn tại một mối liên hệ chặt chẽ giữa một nhà vua Lanka, được dịch giả biên niên sử gọi là ‘Petissa Đệ Nhị’, và một vị vua Ấn Độ, ‘Vua Darmasoca của Jambu-dwipa [lục địa Ấn Độ]’. Hai vị vua này đã ‘sống trong tình hữu nghị và yêu thương nhau.’ Họ đã trao đổi quà cáp và thư từ, và vua Ấn Độ Darmasoca đã viết thư cho Petissa nói rằng ông tuân giữ các giới luật của ‘Budhu’ và mong muốn vua Lanka cũng làm như vậy. Hậu quả của tình bạn hoàng gia này có vẻ rất sâu sắc, vì trong thời gian trị vì của hai vị vua này, Phật giáo đã được thiết lập ở Lanka, làm thay đổi toàn bộ tiến trình lịch sử của hòn đảo đó.
Để chứng minh tầm quan trọng của liên minh này, những người biên soạn Biên niên sử Triều đại Vĩ đại đã dành nhiều chương cho các vị vua Ấn Độ đã cai trị Magadha từ thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho đến triều đại của Vua Darmasoca. Thật vậy, chương thứ năm của biên niên sử được dành toàn bộ để ghi chép về triều đại của Darmasoca, bắt đầu bằng câu chuyện về sự lên ngôi của ông nội Chandragupta với sự giúp đỡ của Bà la môn Chanakya, rất giống với những gì được ghi lại trong vở kịch thơ tiếng Phạn “Chiếc Nhẫn Dấu Ấn của Quan Đại Thần” do Ngài William Jones dịch. Chương này tiếp tục mô tả việc con trai của Chandragupta là Bindusara đã chỉ định con trai cả của mình, Hoàng tử Sumana, làm người kế vị. Nhưng trong số 99 người con khác của Vua Bindusara có một người con trai tên là Priyadase. Theo tóm tắt của Fox, hoàng tử Priyadase này khi còn trẻ đã được cha gửi đến thành phố Wettisa [Vidisha], nơi anh ‘kết hôn với công chúa, tên là Wettisa, thuộc hoàng tộc Sacca [Sakya] … và trở thành vua của thành phố Udeny [Ujjain]: anh có một con trai và một con gái với Hoàng hậu Wettisa này. Vì vị vua này rất hưng thịnh trong mọi mặt nên được phong là Hoàng tử Asoca.’
Đoạn văn duy nhất này đã thiết lập một mối liên hệ rõ ràng mà không ai vào thời điểm đó nhận thấy, đó là con trai cả của Vua Bindusara với hoàng hậu thứ hai được đặt tên là ‘Priyadase’ nhưng sau này được gọi là ‘Asoca’. Như đã được Fox tóm tắt, chính Hoàng tử Priyadase/Asoca này đã chiếm đoạt ngai vàng Magadha cho riêng mình sau cái chết của vua cha. Sau đó, anh trai ông, Hoàng tử Sumana, ‘đã gây chiến với vị vua mới, tên là Asoca xứ Cusumepura, và Asoka là người chiến thắng. Vị vua này trở thành vị vua tối cao của toàn cõi Jambu-Dweepa.’
Năm chương tiếp theo của Biên niên sử Triều đại Vĩ đại được dành riêng cho mối quan hệ thân thiết giữa Vua Petissa II của Lanka và Vua Asoca của Ấn Độ, trong những năm cuối đời của ông. được gọi là Darmasoca. Trong chương cuối, triều đại 44 năm của Vua Asoca đã được tóm tắt trong một đoạn văn ngắn gọn:
Đầu tiên, ông đã chinh phục kẻ thù của mình và trị vì bốn năm mà không làm lễ đăng quang; và sau khi được trao vương miện, ông đã cứu giúp 60.000 kẻ mạo danh trong ba năm; và vào năm thứ tư sau khi được trao vương miện, ông đã được đại sư Niggroda cải đạo và đi theo tôn giáo của Đức Phật… và ông cũng bắt đầu xây dựng 84.000 ngôi chùa trong cùng năm đó, với chi phí là 96 kelles vàng, và ông đã hoàn thành những ngôi chùa này trong vòng ba năm. Vào năm thứ sáu sau khi lên ngôi, ông đã thuyết phục con trai mình, Mihindu, và con gái mình Sangamitrah, làm nhà sư và ni sư… Vào năm thứ mười bảy, ông đã đã cho biên soạn Kinh luật Phật, và đã khôi phục chúng về đúng tính thuần khiết ban đầu. Vào năm thứ mười tám sau khi được trao vương miện, ông đã gửi cây con chiết ra từ cây thiêng đến Ceylon.
Vào năm thứ mười hai sau việc này, ông đã chủ trì làm lễ tang cho Hoàng hậu Asandimitrah, đích thân hỏa thiêu bà ấy. Vào năm thứ tư sau sự kiện này ông lại một lần nữa kết hôn với một hoàng hậu trẻ tên là Tissahraccah. Vào năm thứ ba của cuộc hôn nhân thứ hai, Hoàng hậu Tissahraccah đã vì tâm địa độc ác mà đâm một gai nhọn gọi là mandoe vào thân cây thánh để giết chết nó, sau đó ông chỉ trị vì được bốn năm.
Câu chuyện đáng chú ý này lần đầu tiên được in ấn tại Anh vào năm 1833 và bị bỏ qua. Tuy nhiên, thông báo về sự xuất hiện của nó đã được công bố tại Ceylon, nơi tin tức này giáng một đòn mạnh vào một công chức trẻ tuổi của Ceylon tên là George Turnour.
George Turnour đã trở về quê hương vào năm 1820, khi mới hai mươi tuổi, là một học viên sĩ quan Công chức Ceylon và đã trải qua sáu năm đầu tiên với tư cách là một viên chức hành chính cấp dưới ở nhiều vị trí khác nhau trong và xung quanh Colombo, thủ phủ của hòn đảo. Sau đó, ông được thăng chức làm Đại diện Chính phủ tại tỉnh Saffragan, với trụ sở chính đặt tại thị trấn Ratnapura, một trung tâm văn hóa Phật giáo của người Sinhalese. Lúc đó, Turnour đã hoàn toàn quen thuộc với tiếng nói và chữ viết Sinhalese, nhưng lại chưa quen với ngôn ngữ gốc Pali, ngôn ngữ chính được dùng để viết kinh điển Phật giáo trên đảo. Bất chấp sự phản đối của các nhà sư địa phương, Turnour bắt đầu học tiếng Pali và chỉ trong vòng một năm sau khi đến, ông đã đọc được thứ ngôn ngữ cổ xưa này. Trong quá trình học tập, ông tình cờ nghe nói đến một văn bản tiếng Pali rất được trân quý nhưng ít được đọc, đó là Mahavamsa, được cho là ghi chép chi tiết về triều đại của 54 vị vua Lanka của Triều đại Vĩ đại – có tước hiệu Mahavamsa – và 111 vị vua của Sulavamsa hay Tiểu Triều đại.
Việc tìm một bản sao của Biên niên sử Triều đại Vĩ đại này không phải là vấn đề, vì hầu hết các tu viện trên đảo đều sở hữu những gì họ tuyên bố là bản sao chính thức. Vấn đề là văn bản đã bị che phủ bởi quá nhiều lời ngoa dụ huyền hoặc đến nỗi ngay cả những người giỏi tiếng Pali nhất cũng không thấu hiểu được.
Khi nghe về cuộc tìm kiếm của Turnour, một nhà sư Phật giáo tên là Gallé đã đến gặp ông và giải thích rằng điều cần thiết là phải có một tika hay “lời bình” có thể được vận dụng cho bài thơ để làm sáng tỏ nó và biến nó thành một câu chuyện mạch lạc. Sau đó, Gallé bắt tay vào việc tìm kiếm một lời bình như vậy, và cuối cùng đã tìm thấy một bản sao trong tu viện đá cổ Mulkirigalla.gần Tangalle ở phía nam Ceylon.
Với lời bình này và một bản sao xác thực của Biên niên sử Triều đại Vĩ đại từ cùng nguồn tu viện, Turnour giờ đây đã có thể cắt ngang dòng chữ dài dòng để đi thẳng vào vấn đề: một câu chuyện mạch lạc về lịch sử Phật giáo của Lanka trải dài trong hơn hai nghìn năm. Turnour cũng phát hiện ra rằng để biên soạn phần đầu tiên của lịch sử đất nước, các tác giả của Biên niên sử Triều đại Vĩ đại đã dựa trên một biên niên sử trước đó được gọi là Dipavamsa, hay ‘Biên niên sử Đảo’, sau đó được Turnour mô tả là ‘biên bản lịch sử chính ở Ceylon bao gồm … lịch sử của Ceylon từ năm 543 trước Công nguyên đến năm 301 sau Công nguyên’.
Theo yêu cầu của Turnour, Gallé bắt đầu cuộc tìm kiếm thứ hai, và kết quả là phát hiện ra một bản sao của Biên niên sử Đảo.
Được trang bị tài liệu này, vào năm 1827, George Turnour bắt tay thực hiện bản dịch tiếng Anh chính xác của Biên niên sử Triều đại Vĩ đại, một dự án mà ông thường xuyên phải gác lại vì nhiệm vụ chính thức đưa ông từ Ratnagiri đến Tamankudawa và sau đó đến Kandy, nơi ông giữ chức vụ ủy viên doanh thu trong bốn năm từ năm 1828 đến năm 1832.
Lần đầu tiên Turnour biết về bản dịch Biên niên sử Triều đại Vĩ đại của Mục sư Fox là khi ông đọc một bài viết trong Biên bản Giao dịch của Hội Hoàng gia Châu Á dưới dạng ‘Nhận xét của Đại úy J. J. Chapman thuộc Hội Hoàng gia Châu Á về Thành phố cổ Anarajapura hay Anaradhepura và Đền thờ trên đồi Mehentale ở Ceylon’, xuất bản năm 1834. Trong chuyến đi săn ở vùng hoang dã rộng lớn tạo nên đồng bằng trung tâm phía bắc Kandy, Đại úy Chapman đã có cơ hội khám phá một loạt các khu bảo tồn và phế tích nhân tạo trải dài hàng dặm. Chỉ riêng những hồ nước, ông tuyên bố, đã “cạnh tranh được với các công trình đáng kể nhất của thời cổ đại”, cho thấy “lượng dân cư và sự thịnh vượng vượt trội hơn hẳn so với hiện tại”. Một đặc điểm nổi bật khác của cảnh quan đổ nát này là một số mô gò gạch hình chuông, tất cả đều bị chôn vùi trong bụi rậm, một số cao hơn 250 bộ.
Đây là những tàn tích còn lại của thành phố cổ Anuradhapura, vốn đã được biết đến từ nhiều năm trước nhưng phần lớn vẫn chưa được khám phá. Chapman đã vô cùng kinh ngạc trước những gì ông chứng kiến và học hỏi từ các nhà sư của ngôi chùa duy nhất còn hoạt động tại Anuradhapura, một công trình kiến trúc khiêm tốn gắn liền trực tiếp với một trong những truyền thuyết lâu đời nhất của hòn đảo: cây Bồ Đề linh thiêng, mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tọa thiền bên dưới đã giác ngộ và dường như đã được vận chuyển một cách thần kỳ từ Ấn Độ đến hòn đảo. Chapman được cho biết rằng đây không phải là phép lạ mà là sự thật lịch sử, như đã được ghi chép trong biên niên sử cổ xưa của hòn đảo, Biên niên sử Triều đại Vĩ đại, mà ông hiện đang trích dẫn. Ông đã đọc bản dịch của Fox ở giai đoạn hiệu đính và được nhà xuất bản cho phép trích dẫn.
Chúng ta chỉ có thể tưởng tượng George Turnour đã cảm thấy thế nào khi lần đầu tiên nhìn thấy một văn bản bằng tiếng Anh, một văn bản mà ông dành gần sáu năm biên dịch, phần lớn thời gian đó trôi qua trong sự cô lập và “không nhận được sự đồng cảm nào từ những người xung quanh đối với những nỗ lực của mình”. Bản thân ông vừa mới xuất bản một bản tóm tắt về Biên niên sử Triều đại Vĩ đại trên Niên giám Ceylon năm 1833, nhưng đó chỉ là một bản phác thảo, và nó không gây được nhiều sự chú ý bên ngoài Ceylon. Phản ứng của ông là từ bỏ kế hoạch xuất bản bản dịch Biên niên sử Triều đại Vĩ đại của mình.
Trong hai thập kỷ trước, quân đội của Công ty Đông Ấn đã tiếp tục tiến sâu hơn vào nội địa Ấn Độ trong một loạt các chiến dịch: chống lại người Maratha và các băng đảng cướp bóc được gọi là Pindaris ở miền trung Ấn Độ, phía nam và phía tây đồng bằng sông Hằng; và chống lại người Gorkha ở Nepal dọc theo chân dãy Himalaya. Chính trong hàng ngũ của họ, mà lượt khám phá tiếp theo đã được thực hiện.
Vào tháng 3 năm 1814, hai đoàn quân tiến vào Bắc Bihar với lệnh đánh đuổi quân Nepal trở lại chân núi Himalaya. Đường hành quân của họ đi qua cột trụ đá ở Lauriya-Araraj, được Trung úy J. Harris thuộc Trung đoàn Bộ binh số 24 ghi lại cho hậu thế bằng một bức tranh màu nước. Một hiệp ước hòa bình sau đó được ký kết, yêu cầu quân Nepal phải giao Bắc Bihar cho Công ty Đông Ấn và chấp nhận sự hiện diện của một thường trú nhân người Anh tại Kathmandu.
Năm 1818, một khám phá đáng chú ý hơn đã diễn ra ở miền trung Ấn Độ khi một lực lượng quân sự do Đại tá Henry Taylor chỉ huy đóng trại dưới một ngọn đồi nhỏ, tròn trịa, ở vùng nông thôn trống trải phía đông bắc Bhopal, không xa làng Bhilsa (ngày nay là Vidisha). Ngọn đồi này được người dân địa phương gọi là chaitya giri, hay “đồi đền thờ”, nhưng ngày nay được gọi đúng hơn là Sanchi. Theo phong tục, các sĩ quan của Taylor kết thúc một ngày bằng một chuyến săn bắn để làm phong phú chiếc nồi. Khi leo lên đỉnh đồi Sanchi, họ thấy bị bao quanh bởi phế tích của một số công trình kiến trúc bằng gạch và thạch cao được bảo tồn tốt đến kinh ngạc, một loại kiến trúc thường được gọi là tope (bảo tháp), một biến thể của stupa tiếng Phạn và thupa tiếng Pali. Tope lớn nhất trong số này có hình dạng bán cầu.
Mái vòm được bao quanh bởi một lối đi dành cho đoàn rước, nằm gọn trong một lan can đá đỏ đồ sộ. Lan can này được chia thành bốn góc phần tư bởi các lối vào ở các điểm chính, mỗi góc được trang trí bằng một cổng vòm được chạm khắc tinh xảo. Ba trong số những cổng vòm tráng lệ này vẫn còn tồn tại và được phủ kín trên mọi bề mặt bằng ‘những tác phẩm điêu khắc hoàn thiện tinh xảo’.
Ít nhất ba sĩ quan đã quay trở lại để thực hiện các phác họa những gì ban đầu họ cho là một ngôi đền Kỳ na giáo, một trong số đó là Trung úy John Bagnold của Trung đoàn Bộ binh Bản địa Bengal số 14 – nhận thấy rằng một số hình ảnh bằng đá nằm rải rác tại địa điểm này dường như đã bị cố tình làm hỏng. Tuy nhiên, chính những cổng vòm tráng lệ của di tích trung tâm mới là thứ thu hút sự chú ý của Bagnold. Trên một bản vẽ như vậy, ông đã liệt kê những hình ảnh chính được thể hiện:
Một con hổ có cánh… những con voi kéo một người nữ ngồi sau. . . những con linh dương có cánh … … và voi … devee [nữ thần] được voi tắm …. một bánh xe hoặc mặt trời
trên bệ thờ … những hình người trên sư tử đang phủ phục … biểu tượng của Tòa nhà & 2 cây … cây và đám đông người thờ cúng… đám rước ở trung tâm một chiếc xe do bốn con ngựa kéo một đám đông có vũ trang đứng xung quanh nó … Một devee trên một hoa sen ….bánh xe hoặc mặt trời .. . 2 người nữ đang thờ cúng … những hình người trên lưng bò tót … Tòa nhà được bao quanh bởi những người thờ cúng … người nữ dưới gốc cây … một số người có gậy trên vai … nhiều vị thần phía dưới là đoàn người thờ cúng… bốn con voi đỡ một bánh xe.
Đối với một sĩ quan cấp cao của Bagnold, Thiếu tá William Franklin, điểm thu hút chính dường như là những cảnh được chạm khắc trên cổng vào phía nam của kiến trúc bây giờ được gọi là Đại Bảo Tháp. Cổng này đã sụp đổ, để lại những cột trụ và xà ngang được trang trí bị gãy và nằm rải rác trên mặt đất, khiến chúng dễ tiếp cận hơn những cổng khác. Franklin ngồi xuống vẽ bức tranh toàn cảnh được mô tả trên một trong những thanh đầm khung cửa này, hoàn toàn không biết rằng đó là một mảnh ghép quan trọng trong bức tranh ghép hình Asoka. Bức vẽ của ông cho thấy một vị vua ngồi trên cỗ xe ngựa kéo đang tiến đến một tượng đài có hình dạng khá giống mái vòm của Nhà thờ Thánh Paul với một cặp thiên thần lơ lửng phía trên. Phía bên kia, một số đàn ông và phụ nữ đội khăn xếp cầu kỳ dường như đang cúi chào tượng đài.

‘Các tác phẩm điêu khắc tại Đền Jeyne ở tỉnh Malwah năm 1820 sau Công nguyên’; Bức tranh màu nước của Thiếu tá William Franklin dựa trên bức vẽ được thực hiện trong chuyến thăm Sanchi trước đó của ông. (Hội Hoàng gia Châu Á)
Cũng trong năm 1818 đó, một viên chức hành chính trẻ tuổi tên là Andrew Stirling đã có một khám phá hoàn toàn khác biệt tại quận Bhubaneswar ở Orissa, trên bờ biển phía đông của tiểu lục địa giữa Calcutta và Visakhapatnam. Trong khi thi hành nhiệm vụ chính thức, Stirling đã đến một ngọn đồi tên là Khandagiri, cách thành phố linh thiêng Bhubaneshwar của Ấn Độ giáo năm dặm về phía tây. Nơi đây được bao phủ bởi những hang động đá, nhiều hang động do các nhà khổ hạnh theo Kỳ Na và Ấn Độ giáo trú ngụ. Họ đã kể cho Stirling nghe rằng “nơi này có nguồn gốc từ thời Đức Phật, và nơi đây từng là nơi cư ngụ cuối cùng của Hoàng hậu của Vua Lalat Indra Kesari nổi tiếng, một người ủng hộ Phật giáo”. Nửa đường lên đồi, trên một bờ đá nhô ra của động đá tự nhiên được người dân địa phương gọi là Hathigumpha hay “Hang Voi”, Stirling phát hiện một bề mặt rộng 4,5 mét và cao 3 mét đã được san phẳng và đánh bóng để tạo nền cho một bản chữ khắc dài mười bảy dòng. Ông báo cáo với Tổng Thanh tra, Đại tá Colin Mackenzie. “Các Bà-la-môn nhắc đến dòng chữ khắc này với vẻ rùng mình ghê tởm”, Stirling viết, “và nhắc đến Budh Ka Amel, hay thời kỳ Phật giáo hưng thịnh, và thậm chí còn ngần ngại khi nói về vấn đề này. Tôi cũng đã cố gắng vô ích khi yêu cầu những người theo đạo Kỳ Na trong vùng giải thích.’
Vài tháng sau phát hiện của Stirling, Colin Mackenzie đã đích thân đến xem bản chữ khắc trong Hang Voi và ngay lập tức nhận ra chữ viết “có nét chữ giống hệt như trên các cột trụ ở Delhi”. Dưới sự chỉ đạo của ông, Stirling đã sao chép lại dòng chữ, lưu ý rằng đó chính là loại ký tự
hiện đang ghi chép lại một số di tích cổ nằm rải rác khắp Ấn Độ: ‘Bất kỳ độc giả nào mất công so sánh dòng chữ Khandgiri với dòng chữ trên cột đá Firoz Shah ở Delhi, trên cột đá ở Allahabad, trên cột đá Bhim Sen, ở Sarun, một phần bản khắc Elephanta và Ellora, sẽ thấy rằng các ký tự đều giống hệt nhau.’
Ẩn mình trong cùng lời kể của Stirling là một tham chiếu về một cột đá khổng lồ mà ông nhìn thấy bên trong ngôi đền Hindu Bhaskareshvara ở Bhubaneshwar. Stirling cho rằng ngôi đền được xây dựng xung quanh cột đá, mà ông mô tả là cao 12 mét. Khi lingam Bhaskareshvara được báo cáo lần nữa vào những năm 1880, nó đã teo tóp lại chỉ còn là một gốc cột, cao không quá 1,2 mét. Ý nghĩa của nó có lẽ đã bị lãng quên nếu không có việc phát hiện ra đầu và vai của một con sư tử đá trong một cái hố chỉ cách đền Bhaskareshvara mười hai mét về phía bắc vào năm 1929, tiếp theo là việc tìm thấy một chóp chuông bằng đá và các mảnh vỡ của một ngôi đền trụ đá từ một bể chứa nước cũ cách Bhaskareshvara hai dặm về phía tây. Những điều này càng củng cố thêm cho tuyên bố rằng tất cả đều là các bộ phận của cùng một cột trụ đá, từng đứng trên địa điểm giờ do ngôi đền Bhaskareshvara chiếm giữ. Thái độ nhạy cảm của các nhà chức trách ngôi đền đã ngăn cản vấn đề này đi xa hơn.
Colin Mackenzie luôn có ý định xuất bản một tác phẩm lớn về bảo tháp Amaravati và nhiều thứ khác nữa, dựa trên kho tàng các bản thảo, tiền xu, tượng, tấm đồng khắc chữ, bản vẽ và bản sao các bản khắc mà ông và các trợ lý của ông đã tích lũy được trong nhiều năm. Nhưng ông đã lâm bệnh khi đến thăm Hang Voi Stirling trên Đồi Khandagiri. Khi thời tiết nóng bức năm 1821 ập đến, ông được khuyên nên hít thở không khí biển, và đúng lúc đang đi thuyền xuôi dòng sông Hoogly hướng về Vịnh Bengal, Colin Mackenzie đã qua đời. Ông hưởng thọ 61 tuổi.
Nhờ những nỗ lực của bạn bè và người hâm mộ, bộ sưu tập của Mackenzie đã được mua lại từ người góa phụ trẻ của ông với giá phi thường 10.000 bảng Anh vào thời điểm đó, người mua là Horace Hayman Wilson, hành động theo chỉ dẫn của Công ty Đông Ấn. Nhưng mối quan tâm duy nhất của Wilson nằm ở các văn bản tiếng Phạn cổ điển, vốn chiếm phần lớn trong số 1500 bản thảo của Mackenzie. Phần còn lại, bao gồm 152 tập bản thảo và bản dịch, 2.630 bản vẽ và 6.218 đồng xu, được cất giữ trong tầng hầm của Hội Châu Á, nơi chúng được phép mục nát trong nhiều thập kỷ trước khi được gửi đến bảo tàng của Công ty Đông Ấn tại trụ sở chính ở London trên phố Leadenhall. Nhiều tài liệu trong số này đã bị mối mọt phá hoại, nhưng một trong số còn sót lại là bản sao chép bản chữ khắc trên một tảng đá phía trên một hố nước ở vùng nông thôn giữa thủ phủ quận Bellary và Kurnool thuộc Quận Madras, được Colin Mackenzie thu thập trong thời gian ông làm giám định viên vùng Madras vào những năm 1790. Tầm quan trọng của dòng chữ khắc này chỉ được công nhận vào năm 1946, khi tài liệu này lọt vào mắt xanh của một nhà nghiên cứu, và ông này đã chuyển giao chi tiết cho chuyên gia văn bia chính phủ Ấn Độ. Nhờ những chỉ dẫn đính kèm trên bản sao, dòng chữ khắc gốc trên đá đã được tìm thấy vào năm 1952, dẫn đến việc phát hiện ra một Chỉ dụ Đá Nhỏ của Ashoka cho đến nay vẫn chưa được biết đến.
Một nạn nhân khác của tầm nhìn xa của William Jones là Thiếu tá James Tod, người trong suốt 18 năm phục vụ với tư cách là Đặc vụ Chính trị tại khu vực lúc bấy giờ được gọi là Rajputana (nay là Rajasthan) đã tích lũy được một bộ sưu tập chỉ đứng sau Colin Mackenzie. Mối quan tâm chính của Tod là các gia tộc Rajput cầm quyền ở miền Trung Ấn Độ, nhưng trong những năm cuối đời, ông bắt đầu sưu tầm tiền cổ, thậm chí còn thuê các đặc vụ vào mùa mưa đi đến Mathura và các thành phố khác nằm ven sông Hằng để ‘thu thập tất cả những gì được đưa ra ánh sáng bởi tác động của nước, đồng thời phá bỏ những nền móng cũ và san phẳng những bức tường mục nát. Bằng cách này, tôi đã tích lũy được khoảng 20.000 đồng tiền, đủ mọi mệnh giá.’
Năm 1823, Tod được khuyên nên rời khỏi Ấn Độ vì lý do sức khỏe. Ông quyết định đi xuống Bombay bằng một con đường vòng vèo dẫn đến những ngôi đền Kỳ na giáo nổi tiếng trên ngọn núi thiêng Girnar thuộc bán đảo Kathiawar ở bờ biển phía tây. Tại đây, trên sườn núi thấp hơn, ông và đoàn tùy tùng đã bắt gặp ‘một khối đá granit đen khổng lồ hình bán cầu’ có hình dạng khá giống một con voi đang quỳ, gần như toàn bộ bề mặt được bao phủ bởi chữ khắc.
‘Tượng đài tưởng niệm đang được đề cập’, Tod lưu ý, ‘được chia thành các ngăn hoặc hình song song, bên trong có các dòng chữ khắc bằng ký tự cổ điển thông thường. Mỗi chữ cái dài khoảng hai inch, được tạo hình đối xứng nhất, và được bảo quản hoàn hảo, tôi có thể gọi nó là một cuốn sách; vì tảng đá được bao phủ bởi những ký tự này, đồng đều đến mức chúng ta có thể yên tâm tuyên bố rằng tất cả những ký tự thuộc loại cổ xưa nhất, mà tôi gọi là “ký tự Pandu”, là tác phẩm của một người. Nhưng người đàn ông này là ai?

Tảng đá chỉ dụ Girnar. Một thạch bản do Đại úy Markham Kittoe khắc, dựa trên bản vẽ của Trung úy Postans, và được xuất bản trên JASB năm 1837.
Giống như Stirling và Mackenzie ở Bhubaneshwar, Tod ngay lập tức bị ấn tượng bởi sự tương đồng giữa chữ viết với ‘dòng chữ khắc trên các cột trụ ở Delhi’. Với sự giúp đỡ của phiên dịch viên theo đạo Kỳ Na, ông đã chép lại hai phần văn bản.
Thông báo của Tod gửi đến Thư ký Hội Châu Á về khám phá của mình đã không nhận được bất kỳ phản hồi nào. Điều này đặc biệt đáng tiếc, vì Andrew Stirling vừa tự bỏ tiền xuất bản một bài tường thuật minh họa về dòng chữ khắc Hang Voi của ông được phát hiện tại Khandagiri, Orissa, trên bờ biển phía đông. Kết quả là, phải mất ba mươi năm trôi qua, người Ấn mới nhận thức được mối quan hệ mật thiết giữa hai dòng chữ khắc trên đá ở hai phía đối diện của tiểu lục địa Ấn Độ.
Tod mang theo toàn bộ bộ sưu tập của mình khi trở về Anh, nơi ông viết một bài báo đột phá về tiền xu Hy Lạp hóa của Ấn Độ. Tuy nhiên, ông tỏ ra bối rối trước chữ viết trên các đồng tiền của các triều đại bản địa kế vị người Hy Lạp cai trị vùng tây bắc Ấn Độ. ‘Các ký tự có dáng vẻ của chữ Hy Lạp tỉnh lỵ thô thiển,’ Tod viết. ‘Chúng thuộc về các vị vua Parthia và các vị vua Ấn-Scythe, có chủ quyền trong lưu vực sông Ấn, không thể có sự nghi ngờ.’ Bài viết này Tod không in trong tạp chí Các Nghiên cứu Châu Á nhưng trong những kỷ yếu đầu tiên của một hội học thuật mới được thành lập ở Anh, được cho là bổ sung cho Hội Châu Á, nhưng theo mọi nghĩa thực tế là một bộ phận cạnh tranh.
Cơ quan mới này là Hội Hoàng gia Châu Á của Anh và Bắc Ireland (RAS), được thành lập năm 1823 sau một cuộc họp được tổ chức tại nhà riêng của Henry Colebrooke ở London. Kể từ khi nghỉ hưu ở Ấn Độ, ông đã tập hợp quanh mình một nhóm ‘những người Ấn’ đã nghỉ hưu khác, những người cùng chia sẻ sở thích nghiên cứu phương Đông với ông. Tại cuộc họp khai mạc của RAS, được tổ chức tại Quán rượu Thatched House trên phố St James vào ngày 7 tháng 6 năm 1823, Henry Colebrooke đã làm theo gương người thầy của mình, Ngài William Jones, khi đọc ‘bài phát biểu’ về mục tiêu của hiệp hội mới, tuyên bố rằng vì nguồn gốc của nền văn minh phương Tây hiện đại sẽ được tìm thấy ở Châu Á và thành tựu của Anh như một quyền lực thế giới mắc nợ đối với đất nước Ấn Độ rất nhiều, vì vậy Anh có nghĩa vụ hoàn trả khoản nợ này. Điều này bao gồm công việc nghiên cứu về châu Á ở mọi khía cạnh của nó.
Trong số nhiều người nổi tiếng có mặt trong dịp đó có nhà Phạn học tiên phong Charles Wilkins, luật gia Ceylon Sir Alexander Johnston và Đại tá đã nghỉ hưu James Tod, người đã đồng ý làm Thủ thư đầu tiên của Hội Châu Á Hoàng gia (RAS). Mối quan tâm đầu tiên của Tod là viết bộ Biên niên sử và Cổ vật Rajasthan đồ sộ gồm hai tập, mất gần năm năm. Sức khỏe yếu sau đó đã khiến ông không thể hoàn thành cuốn Du hành Tây Ấn, cuốn sách chỉ được xuất bản bốn năm sau khi ông qua đời vào năm 1835. Điều này có nghĩa là việc phát hiện đáng chú ý của Todd về dòng chữ khắc trên đá Girnar vẫn chưa được biết đến cho đến năm 1839.
Không có tài liệu nào trong hồ sơ của cả Hội Châu Á lẫn RAS cho thấy sự rạn nứt giữa hai tổ chức học thuật này. Thật vậy, có thể lập luận rằng việc thành lập RAS ở Anh năm 1823 là để đáp trả trực tiếp việc thành lập Société Asiatique (Hội Châu Á) ở Pháp năm 1822, và việc có hai hội cùng quan tâm đến châu Á thì tốt hơn là chỉ có một hội. Nhưng có những dấu hiệu cho thấy sự lạnh nhạt rõ rệt giữa hai hội, một là thông báo ngắn gọn trên tạp chí của hội cũ rằng họ đã bác bỏ đề xuất của hội mới về việc đổi tên thành “Hội Châu Á Bengal” và gia nhập RAS, hai là ghi chú trên tạp chí đầu tiên của RAS rằng bản sao các mục tiêu của hội đã được gửi đến các Chủ tịch Madras và Bombay của Công ty Đông Ấn – nhưng không gửi đến Bengal.
Bất chấp những khác biệt, hai bộ phận học thuật này đã đoàn kết phản đối quá trình Anh hóa đang dần dần lan rộng khắp Ấn Độ, dưới áp lực của phong trào Phúc âm và các nhà cải cách khác. Lord Hastings và Lord Wellesley, cả hai đều là thành viên sáng lập của RAS – và những người kế tiếp họ với tư cách là các Toàn quyền, đã kiên quyết chống lại những lời lẽ hung hăng của giáo phái Claphamite và quyết tâm của giáo phái này nhằm thay thế “nạn mê tín đen tối và đẫm máu của Ấn Độ với ảnh hưởng tốt đẹp của ánh sáng và chân lý Kitô giáo’. Nhưng với việc thông qua Đạo luật Ấn Độ năm 1813, những người theo đạo Tin Lành đã đạt được mục đích của họ. Calcutta trở thành một giáo phận và các nhà truyền giáo bắt đầu đổ xô đến. ‘Mép mỏng của cái nêm được chèn vào thành trì của chế độ thờ ngẫu tượng, sức mạnh của chân lý đã đưa nó về đúng chỗ’, đó là cách một sử gia Tin Lành đương thời đã nói, sử dụng những từ ngữ chẳng khác gì đến từ một sử gia Hồi giáo viết từ nhiều thế kỷ trước. ‘Kinh thánh giờ đây được phân phối công khai. Sự khoan dung không còn dành cho Ấn Độ giáo và các hình thức thờ ngẫu tượng khác nữa.’
Giết trẻ sơ sinh gái, chế độ nô lệ và sati (thiêu sống góa phụ trên giàn hỏa táng của chồng) giờ đây đã bị pháp luật cấm, nhưng những cải cách như vậy đi kèm với sự khinh miệt ngày càng tăng đối với văn hóa Ấn Độ nói chung. Trong một công văn do Ban Giám đốc Công ty Đông Ấn ở London viết, vào năm 1821, gửi đến Lord Hastings (đang trong nhiệm kỳ thứ hai với tư cách là Toàn quyền), Hastings đã được cảnh báo rằng “khi chỉ dạy kiến thức Ấn Độ giáo hay Hồi giáo, các vị tự ràng buộc mình vào việc dạy rất nhiều điều phù phiếm, không ít điều hoàn toàn tai hại, và một phần nhỏ còn lại tính thiết thực được khuyến khích theo bất kỳ cách nào”. Chín năm sau, Ban Giám đốc đề xuất rằng “chương trình giáo dục phương Đông” nên được thay thế bằng tiếng Anh: ‘Chúng tôi cho rằng việc tạo điều kiện và khuyến khích một số lượng lớn người bản xứ có được kiến thức toàn diện về tiếng Anh là hết sức nên làm, vì chúng tôi tin rằng tính thanh cao và tinh thần tốt đẹp hơn của văn học châu Âu chỉ có thể phát huy hết tác dụng đối với những người đã quen thuộc với chúng bằng ngôn ngữ gốc.’ Các nhà phương Đông học và đồng minh của họ ở cả Anh và Ấn Độ đã kịch liệt phản đối những động thái này, nhưng số lượng của họ rất ít và ngày càng ít hơn sau mỗi thập kỷ trôi qua.
Vào thời điểm này, những thông tin mới lại bắt đầu lan truyền trong các giới quân sự về các hang động chứa đầy những bức tranh kỳ diệu ở biên giới phía đông của Bombay Presidency. Những lời đồn đại cuối cùng đã được xác nhận vào năm 1824 khi một trung úy kỵ binh trẻ, James Alexander thuộc Trung đoàn Lancers số 16, trở về trung đoàn của mình với tin tức về một địa điểm như vậy: tại Ajanta, cách Aurangabad khoảng 60 dặm về phía đông bắc. Anh ta đã xin nghỉ phép để đi săn và phớt lờ những cảnh báo của địa phương, đã đi vào hẻm núi đầy hổ bên dưới thị trấn Ajanta cùng với một hướng dẫn viên địa phương. Chẳng mấy chốc, anh ta thấy mình đang ở trên sàn của một đấu trường tự nhiên được hình thành bởi một khúc quanh lớn của sông Waghewa. Phía trên là một chuỗi 26 hang động được đục đẽo từ đá bazan đen, nằm trên vách đá hai tầng, trông như những dãy buồng trong một đấu trường.
Leo lên vách đá, Alexander và người hướng dẫn của anh đã đến được tầng dưới của hang động, chỉ có dơi trú ngụ. Cành cây nằm ở vị trí thuận tiện đã giúp Alexander lên tầng trên, nơi những hang động lớn nhất và được trang trí công phu nhất đã được đào. Rõ ràng là chúng đã bị bỏ hoang hàng thế kỷ. “Tôi không nghi ngờ gì những hang động này được một đoàn thể tu sĩ nào đó đến ẩn cư”, chàng kỵ binh trẻ sau này nhận xét. Anh đã thấy một điều gì đó khá tương tự những hang động Kanheri nổi tiếng nằm ở ngoại ô Bombay. Nhưng điều khiến những hang động này khác biệt chỉ trở nên rõ ràng khi anh bắt đầu khám phá bên trong chúng dưới ánh sáng của một cành cây đốt sáng làm đuốc. Tường và trần của hầu hết mọi hang động đều được trang trí bằng những bức tranh có chất lượng đáng kinh ngạc, ‘thể hiện trang phục, thói quen sinh hoạt, hoạt động, diện mạo chung và thậm chí cả những nét đặc trưng của người bản địa Ấn Độ có lẽ cách đây hai nghìn hoặc hai nghìn năm trăm năm, được bảo quản tốt và có màu sắc rực rỡ, và thể hiện bằng những sắc thái sống động, trong đó màu đỏ nhạt là phổ biến nhất, những thổ dân tóc xoăn của Phật giáo, những người đã bị đuổi khỏi Ấn Độ đến Ceylon do sự xuất hiện của Bà la môn giáo’.

(Trên) Bên trong Hang động số 10 ở Ajanta, có niên đại từ thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Được mô phỏng theo một phòng cầu nguyện có mái bằng gỗ, đây là hang động đầu tiên được đục vào đá ở hẻm núi Waghewa. Một bản in thạch bản của Thomas Dibdin được tái hiện trong cuốn Minh họa từ các Đền thờ Đá Ấn Độ của James Fergusson, 1845.

Một vị vua được các hoàng hậu và phi tần vây quanh. Một bức vẽ của James Burgess về một phần bức tranh tường trong cùng Hang động 10, trích từ cuốn Bản vẽ gốc từ các Đền thờ Phật giáo bằng Đá ở Ajanta của ông. (APAC,
Với khám phá này, Trung úy Alexander đã mở toang một cửa sổ vào quá khứ để lộ ra một thế giới sáng ngời với các vị thần, á thần và những sinh vật bằng xương bằng thịt thấp kém, mọi khía cạnh sống và chết của họ đều được miêu tả, từ nhà vua trong hậu cung cho đến vị ẩn sĩ độc nhất.
trong rừng rậm: những cảnh tình yêu và chiến tranh, chiến thắng và nghịch cảnh, hào nhoáng và nghèo đói – mỗi cảnh tượng đông đúc đều trở nên chân thực hơn nhờ các chi tiết về kiểu tóc, trang phục, đồ trang sức, dụng cụ, vũ khí, nhạc cụ và nhiều thứ khác nữa. Nhiều bức tranh mang nội dung tôn giáo rõ ràng, khắc họa hình ảnh Đức Phật đội hào quang đang thiền định, giảng dạy và nằm dài, luôn được các sinh vật lơ lửng trông chừng, có thể được hiểu là các vị thần, nhưng hình ảnh nổi bật nhất là hình ảnh những người đàn ông và phụ nữ để ngực trần với vẻ đẹp và sự duyên dáng đặc biệt: những vị vua mắt buồn ôm chặt hoa loa kèn trong một tay và phi tần trong tay kia; những hoàng hậu và công chúa cưỡi voi hoặc được các nữ tỳ chiều chuộng, cười khúc khích và buôn chuyện khi họ làm nhiệm vụ.
Tin tức về khám phá của Trung úy Alexander ban đầu chỉ giới hạn trong giới quân sự và 5 năm tiếp theo, địa điểm này vẫn không bị xáo trộn.
Bí mật phi thường của Ajanta cuối cùng đã được tiết lộ với toàn thế giới khi bài giảng của Alexander dành cho các sĩ quan đồng nghiệp của ông tại Học viện Quân sự Sandhurst vào tháng 8 năm 1828 được tái bản vào năm 1830 trong tập thứ hai của Kỷ yếu Hội Hoàng gia Châu Á của Anh và Ireland, cơ quan chính thức của RAS sau đó không lâu được đổi tên thành Tạp chí Hội Hoàng gia Châu Á (JRAS).
Khoảng sáu tháng sau bài giảng của Trung úy Alexander tại Sandhurst, Đại úy Gresley và ông Ralph đã đến thăm các hang động Ajanta, mang về những bản sao các dòng chữ khắc trên tường hang động “và được các học giả Benares và Thư ký Cao đẳng ở đó xem một cách thờ ơ”. Ông Ralph cũng ghi lại một dòng ý thức sống động về những gì họ đã thấy, sau này trở thành chủ đề của một “cuộc trao đổi thư từ vô cùng sống động và đầy màu sắc”. Ai là người bên kia trong cuộc trao đổi thư từ này vẫn chưa rõ ràng nhưng một tài liệu tham khảo sau đó cho thấy ông Ralph đã cố gắng nhưng không thành công trong việc thu hút sự quan tâm của Ban Biên tập Hội Châu Á.
Phải đến năm 1837, thông tin đầu tiên về hang động Ajanta mới được công bố tại Ấn Độ, dưới dạng bài tường thuật đầy màu sắc của ông Ralph. Bài viết này xuất hiện trên Tạp chí của Hội Châu Á Bengal, cơ quan ngôn luận mới của Hội Châu Á, nay được cách tân thành Hội Châu Á Bengal và đặt dưới sự quản lý hoàn toàn mới, cuối cùng đã thoát khỏi cái bóng quá lớn của Horace Hayman Wilson.