Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Vua Quang Toản (Bài 1)

Nhà Tây Sơn: Quang Toản  [11/2/1793-5/9/1793]

Hồ Bạch Thảo

Hay tin vua Quang Trung mất, vua Càn Long lập tức sai Thành Lâm sang phúng điếu với mật lệnh dò xét tình hình nội bộ nước ta, cùng ra lệnh cho Phúc Khang An từ tỉnh Tứ Xuyên đến biên giới gấp; với ý đồ chờ nước ta có biến, sẽ ra tay can thiệp. Nhưng ngoài mặt thì giả nhân nghĩa gửi thơ Ngự chếphúng điếu và ban sắc phong cho Nguyễn Quang Toản làm Quốc vương An Nam:

“Ngày 22 tháng Giêng năm Càn Long thứ 58 [4/3/1793]. Dụ các Quân Cơ Đại thần, cứ lời tấu của Quách Thế Huân:

‘Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình đã mất tại Nghĩa An [Nghệ An] vào tháng 9 năm ngoái, Thế tử Nguyễn Quang Toản 15 tuổi, tạm quyền quốc sự; định trong vòng tháng giêng sai Bồi thần cung kính dâng biểu văn cùng tiến cống v.v..’

Xem tờ tấu rất lấy làm thương tiếc, Quốc vương nước này mất vào tháng 9 năm ngoái, viên Di mục báo tin hơi chậm, chắc lúc này đã làm lễ tống táng, nên điển lệ lúc lâm chung không kịp thi hành. Nay làm bài thơ điếu, sai viên Tri đạo Thành Lâm đến Nghĩa An, làm lễ phần hóa (1) trước mồ Nguyễn Quang Bình, lại lấy từ ngân khố tỉnh Quảng Tây ra 3000 lượng bạc, kèm một tượng Phật, cũng sai Thành Lâm mang đến tế điện và thưởng cấp để tỏ lòng thể tuất. Con Nguyễn Quang Bình là Nguyễn Quang Toản trước đây đã được phong Thế tử, tự nhiên đáng được làm Phiên thần; nay lệnh Thành Lâm truyền chỉ phong Nguyễn Quang Toản An Nam Quốc vương. Các sắc thư, bào phục đợi sau khi viên Sứ thần Ngô Thời Nhiệm đến kinh đô sẽ theo lệ ban cấp cho lệnh mang về.

 Nguyễn Quang Bình ngưỡng vọng uy linh của Thiên triều cai trị đất An Nam. Nước này mới lập, lòng người chưa hẳn được mười phần ổn định, huống hồ anh em không hòa mục, Nguyễn Nhạc tại Quảng Nam, không khỏi có ý đồ dòm ngó. Còn Ngô Văn Sở tuy là người đã từng giúp sức thời khởi sự, nhưng đã chắc gì đáng tin cậy. Nguyễn Quang Toản tuổi còn nhỏ, nên hiện nay mọi việc trong nước giao cho Ngô Văn Sở quản lý; sợ y nhân chủ còn nhỏ, trong nước có kẻ nghi ngờ, bèn âm mưu việc bất trắc, hoặc làm chuyện bức hiếp chuyên quyền cũng chưa định được. Nay Trần Dụng Phu đem chỉ dụ này hiểu thị mật cho Thành Lâm rằng sau khi đến Nghệ An, chớ động thanh sắc, hãy bí mật dò tìm quan sát. Nếu như Ngô Văn Sở quả thực thủy chung như nhất, lo việc nước cho Nguyễn Quang Toản, Trẫm đáng ưu đãi tưởng lệ; nếu hành động có nhiều điều ngang ngược, Thành Lâm hãy dùng phương tiện trạm dịch tâu gấp, đợi Trẫm liệu biện. Ngoài việc ban chỉ dụ riêng cho Phúc Khang An từ Tứ Xuyên di
chuyển gấp đến Việt Tây [Quảng Tây] để lo việc trấn áp  bên ngoài; hãy mang dụ này từ 600 dặm [hỏa tốc 300 km. một ngày] cấp tốc truyền cho Trần Dụng Phu cùng Thành Lâm, lại dụ Quách Thế Huân để hay biết.

Thơ Ngự chế phúng điếu Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình:

Ngoại bang lệ dĩ khiển bồi thần,

Triển cận tùng vô chí kỷ thân.

Nạp khoản tối gia lai ngọc khuyết,

Hoài nghi kham tiếu đại kim nhân.

Thu trung thượng ức y quan túc,

Tất hạ thành như phụ tử thân.

Thất tự bất năng bãi ai thuật,

Liên kỳ trung khổn xuất trung chân.

 

DỊCH NGHĨA

Nước ngoài có lệ sai Bồi thần,

Việc triều cận, Quốc vương chưa hề đích thân đến.

Nộp cống tốt đẹp nhất là Quốc vương đến kinh khuyết,

Đáng cười cho triều trước bị ngờ vực, nên đem người vàng đến thay.

Trong mùa thu trước nhớ Quốc vương áo mũ chỉnh túc,

Ân cần ôm gối (2), thân mật như cha con.

Thơ bảy chữ không nói hết lòng xót xa của Trẫm,

Thương lòng trung thành phát xuất tự đáy lòng.

Ban cho Thế tử Nguyễn Quang Toản được thế tập (3) làm Quốc vương An
Nam, sắc phong như sau:

Trẫm duy: Chia đất phong tước, là qui mô lớn của các đời; sửa lễ làm chư hầu, phên dậu phải chọn người hiền đức. Gánh việc lớn cần bầy tôi, mở nước trọng ở tề gia (4); tiếng khen tại chốn sân rồng, lòng trung dựa vào chữ hiếu; rạng rỡ thay thành mệnh, đưa lời giáo huấn  ban hành.

Nước An Nam ở nơi viêm nhiệt, họ Nguyễn ngươi xuất thân từ thứ dân; gặp lúc họ Lê tàn không giữ  nước, với sức tạo dựng mới dành được bang. Vạn dặm đến sân đình, đích thân dựa vào núi dâng lời chúc; một lòng luyến kinh khuyết, hàng năm rong ruổi tiến biểu văn.  Ðang lúc tốt tươi phương trưởng, thì đột nhiên tin cáo phó đến. Bèn ban thơ thất ngôn làm lời viếng lâm chung, sai sứ từ phương xa đến để phong chức nối dõi.

Ngươi Nguyễn Quang Toản thông minh tuấn tú, bản chất hàm hòa; chốn sân đình từng được dạy làm tôi, làm con; hướng về đấng chí tôn, đáng được tắm gội ơn mưa móc.

Ngày trước ban ân, ấn tỷ sáng ngời thế nghiệp; nay kế chức gánh vác bởi con cô. Thời hợp thuần phong, chủ tể ai bằng do trưởng tử [con đầu]; ơn sâu mưa móc ban phiên thuộc phong hầu. Nay phong ngươi làm An Nam Quốc vương, ban cho sắc mệnh.

Y hy! Cho dù sông biến thành đai áo, núi thành đá mài (5) lòng trời chỉ có phúc thiện để trường tồn. Nếp nhà rạng vẻ cơ cầu (6) phúc đức nối cha ông càng tốt thịnh; Vương hãy chiếu cố kẻ nghèo hèn, lòng quì hướng về kinh khuyết; tự răn nơi ăn ở ra vào, ngày đêm cần mẫn; cốgắng trau dồ tín nghĩa hòa mục, cẩn thận coi sóc lãnh thổ, đời đời dốc lòng trung trinh, thường nhận ân quyến. Khâm thử! Trẫm mệnh không thay thế!” (Cao Tông Thực Lục quyển 1421, trang 15-17)

Bấy giờ Phúc Khang An đang đến miền tây tỉnh Tứ Xuyên để liệu biện việc biên giới tại Khuyếch Nhĩ Khách [Nepal]. Công việc tuy quan trọng, nhưng Vua Càn Long ra lệnh điều đến Quảng Tây gấp; dù mẹ y đang bị bệnh cũng không được ghé về thăm. Càn Long tiên liệu Vua Quang Trung đột ngột mất, An Nam ắt có nội biến; bèn dùng Phúc Khang An là một chiến tướng, lại rành về tình hình An Nam để mưu thực hiện ý đồ xâm lăng:

“Ngày 22 tháng Giêng năm Càn Long thứ 58 [3/4/1793]. Phúc Khang An lo liệu công việc tại Khuếch Nhĩ Khách [Nepal], trải qua nhiều gian khổ, thành tích tốt đẹp. Dự định sau khi mọi việc hoàn thành, lệnh Phúc Khang An đến kinh đô bệ kiến, thăm mẹ, ở lại kinh đô vài tháng, rồi trở về nhiệm sở tại Lưỡng Quảng. Lại nhân mẹ Phúc Khang An bị bệnh, nghĩ đến Phúc Khang An từ lâu khâm sai tại cõi ngoài, không tròn đạo hiếu định tỉnh (7).

Huống mẹ y tuổi ngoài bảy mươi, trong cung nơi Ngự tiền cũng cần người; nên lại có ý định sau khi Phúc Khang An đến kinh đô, cho lưu lại nhậm chức, khiến được ở gần phụng dưỡng mẹ già, chứng tỏ lòng thể tuất của Trẫm.

Nhưng ngày hôm nay xem tờ tấu của Trần Dụng Phu, được biết Nguyễn Quang Bình bị bệnh, mất vào ngày 29 tháng 9 năm ngoái [13/11/1792] . Nguyễn Quang Bình không hòa mục với anh em; viên Bồi thần nước này là Ngô Văn Sở quản lý việc nước đã lâu, cũng e rằng không phải là bọn yên phận. Lòng người phản trắc, nếu có việc xẩy ra, khó mà liệu biện. Lúc này công việc tại biên ải, riêng bọn Quách Thế Huân, Trần Dụng Phu không đủ khả năng lo liệu; cần một Đại thần đến nơi. Nhưng người mà nhân tình nước đó chấn phục, thì không ai uy vọng lớn hơn Phúc Khang An. Vậy cần được Phúc Khang An đến Quảng Tây, trú trát một số ngày, mới đủ lo việc trấn áp.

 Phúc Khang An nhận được chỉ dụ này, lập tức từ tỉnh Tứ Xuyên qua Hồ Nam, đến ngay Quảng Tây. Tỉnh này vốn là vùng quản hạt của Phúc Khang An, nếu nghe được sự động tĩnh, thì đừng ngại trú tại đó một vài tháng, bí mật quan sát, tùy thời mà liệu biện. Trước định cho Phúc Khang An đến kinh đô nhận mệnh, cũng do y nặng tình quyến luyến kinh khuyết, ngoài việc chiêm cận, còn được gần gũi thăm hỏi mẫu thân; mà y trải qua sự cực nhọc, Trẫm cũng muốn gặp mặt. Nhưng tình hình lúc này,
Phúc Khang An không thể không đến Lưỡng Quảng; trước mắt Trẫm cũng không cần ban chỉ dụ trực tiếp thêm. Còn bệnh của mẹ Phúc Khang An đã khỏe lại, Phúc Khang An nhận ơn sâu, hãy lấy việc công làm trọng,  hân hoan đến Quảng Tây, lo liệu công việc ổn thỏa. Nay thưởng cấp đồ Ngự
dụng một đôi bao sen lớn Hồ lô, 4 cái bao sen nhỏ, để làm rạng rỡ sự ưu đãi. Cho sao tấu triệp của Trần Dụng Phu và chỉ dụ cho viên Tuần phủ này sai Thành Lâm đi phúng điếu, gửi cho Phúc Khang An để duyệt khán.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1421 tờ 18- 19)

Phía Tây Sơn sai Bồi thần Ngô Thời Nhiệm đến cáo ai và xin phong; Vua Càn Long ra lệnh các tỉnh dọc đường miễn tổ chức yến tiệc để biểu lộ lòng chia buồn:

“Ngày 17 tháng 2 năm Càn Long thứ 58 [28/3/1793]. Dụ Quân cơ đại thần; cứ Trần Dụng Phu tâu hôm qua rằng:

 ‘ Bọn Bồi thần Ngô Thời Nhiệm đến cáo ai và xin phong, hiện đã sai người đến trấn Nam Quan chờ; đợi khi đến quan ải sẽ cho bạn tống đến  kinh đô.’

Từ trước tới nay Sứ thần An Nam đến kinh đô chiêm cận, qua các tỉnh lỵ dọc đường, các Tổng đốc Tuần phủ thường cho soạn yến tiệc, diễn kịch. Lần này nhân vì viên Quốc vương mất, Sứ thần đến kinh đô cáo ai, khi qua Quảng Tây và các tỉnh dọc đường, chỉ nên khoản đãi bằng cơm thường; yến tiệc và diễn kịch cần đình chỉ. Nếu Sứ thần chịu tang mà đến, Tổng đốc Tuần phủ vẫn cho thiết yến diễn kịch như trước; không những phung phí, lại đối với lễ văn không hợp, chỉ làm trò cười. Các viên Tổng đốc, Tuần phủ nên nói cho các Sứ thần biết rằng bọn họ đến kinh đô để cáo ai, nghĩ đến tình riêng bất tiện cử hành yến tiệc ca kịch; đây là lễ tiết đương nhiên, khiến họ biết mà cảm phục, làm như vậy để ủy lạo và làm sáng rõ thể chế. Nay truyền dụ cho Trần Dụng Phu cùng các Tổng đốc, Tuần phủ dọc đường tuân theo mà lo liệu.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1423, trang 3)

Tiếp theo, Vua mới Nguyễn Quang Toản,  gửi 5 biểu văn cho Vua Thanh, tâu về tình hình đất nước bình yên, cùng gửi lời cảm ơn:

“Ngày 30 tháng 2 năm Càn Long thứ 58 [10/4/1793]. Quyền Tổng đốc Lưỡng Quảng Quách Thế Huân, Tuần phủ Quảng Tây Trần Dụng Phu dâng 5 đạo biểu văn của Thế tử Nguyễn Quang Toản, cùng báo rõ thần dân nước này cảm đội ơn đặc biệt, toàn cảnh tình hình yên ỗn. Nhận được chiếu chỉ phê:

Tốt, đã hiểu.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1423, trang 21)

Sứ thần Thành Lâm nhận lệnh đến Nghệ An truyền chỉ phong cho Nguyễn Quang Toản An Nam Quốc vương, về mặt chìm bí mật dò la tin tức hội bộ nước ta. Nhưng phía Tây Sơn đã cảnh giác kịp thời, bèn lập mộ giả của Vua Quang Trung tại Hồ Tây, Hà Nội; để cho Thành Lâm làm lễ tại đây,
không có dịp đi sâu vào gan ruột nước ta:

“Ngày 4 tháng 5 năm Càn Long thứ 58 [11/6/1793]. Dụ Quân Cơ Đại thần:

Từ khi Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình xưng thần qui phụ đến nay, thành tâm cải hóa, cung thuận đáng khen. Năm trước thân đến kinh khuyết chiêm cận, yêu kính đội ơn phát ra từ dạ chí thành. Lúc từ giã bệ rồng, ngỏ lời sẽ đến chúc mừng vào năm Trẫm thượng thọ 90 tuổi; vì thế nên được ưu thưởng nhiều lần, cho làm phên dậu đất Nam giao, sự nương dựa mỗi ngày một nặng. Mới đây theo lời tấu của Quách Thế Huân, viên Quốc vương lìa trần vào tháng chín năm ngoái tại Nghệ An, sai riêng Bồi thần dâng biểu đến kinh đô báo cáo. Đã giáng chỉ thưởng cấp 3000 lạng bạc, cùng thơ Ngự chế phúng điếu, sai viên Án sát sứ Thành Lâm đến tế điện, truyền chỉ phong Thế tử Nguyễn Quang Toản An Nam Quốc vương để chính danh định phận, yên lòng người. Hôm qua nhận tờ tấu của Thành Lâm xưng rằng:

 ‘Vào ngày mồng 8 tháng 4 [17/5/1793] đến địa phương Gia Quất [Gia Lâm, Bắc Ninh] nước An Nam, Nguyễn Quang Toản đưa văn võ Bồi thần lớn nhỏ quì đón long đình (8). Vào ngày mồng 10 [19/5/1793] đến thành Thăng Long, truyền chỉ phong Nguyễn Quang Toản làm An Nam Quốc vương; cả nước quan dân, không ai là không hoan nghênh cổ vũ, đồng thanh ca tụng. Nguyễn Quang Toản lại xưng với Thành Lâm rằng: Khi Nguyễn Quang Bình hấp hối, có lời trối với Quang Toản rằng bất tất chôn tại Nghệ An, hãy đem đến Tây Hồ an táng; từ Tây Hồ đến trấn Nam Quan, so với Nghệ An thì gần hơn cả chục trạm dịch, ngõ hầu hồn phách linh thiêng có thể được gần cung khuyết của Thiên tử!’

Lời nói và tấm lòng hết sức tha thiết, xét đến càng thương xót nhiều. Lúc viên Bồi thần dâng biểu báo tang đến kinh đô, bèn gia ơn đặc cách để làm rạng rỡ chốn tuyền đài; Nguyễn Quang Bình được ban thụy Trung Thuần cùng với bài thơ Ngự chế. Truyền cho Nguyễn Quang Toản đem thơ
Ngự chế và chiếu chỉ này khắc vào bia ngay trước mộ, để biểu dương lòng cung thuận thủy chung thành khẩn quyến luyến cung khuyết, thỏa vong hồn trung nghĩa,làm sáng tỏ phép tắc điển lệ.

Thơ Ngự Chế:

Qui phiên thức lệ biệt phong thần (9),

Hồi thủ tần xưng cận cửu tuần.

Chúc lệnh Tây hồ dĩ thân thỏa,

Thị y Bắc khuyết chí tâm thân.

Tự tư loạn mệnh đồng trị mệnh,

Nhẫn vị ngoại thần thành thế thần.

Tảo thập thất ngôn lặc uyển diễn,

Quế cương thiên tải thức trung thuần.

            Dịch nghĩa:

Phiên thần trở về nước, gạt lệ từ biệt cung vua,

Quay đầu thưa rằng sẽ trở lại chiêm cận vào dịp Thiên tử thượng thọ chín mươi.

Lúc hấp hối dặn dò an táng tại Hồ Tây,

Để linh hồn được thỏa nguyện nương về kinh khuyết phương Bắc.

Lúc vận mệnh đảo điên, lòng không đổi giống như lúc bình an,

Bề tôi ngoài nước, nhưng thân cận như trong nước.

Chọn lời đẹp ghi thành thơ thất ngôn, khắc lên châu ngọc,

Để ngàn năm sau biết được bề tôi trung thuần.” (Cao Tông Thực Lục, quyển1428, trang 3-4)

Sứ thần Thành Lâm làm lễ trước mộ giả Vua Quang Trung, rồi định đem
thiêu bài thơ Ngự chế trước phần mộ. Nhưng Nguyễn Quang Toản đã khéo can ngăn rằng thơ Ngự chế là quốc bảo, đáng giữ lại trong nước truyền đời, chỉ sao lại một bản để làm lễ thiêu; lại xin đưa Bồi thần Ngô Đình Phụng đến kinh đô tạ ơn, trong tương lai cũng xin đến chiêm bái.

Vua Càn long cho rằng ngoài Sứ thần Ngô Thì Nhậm trên đường đi đến kinh đô, Ngô Đình Phụng lại đến thì không khỏi phiền hà mệt nhọc, nên cho miễn; riêng về việc Quang Toản đến chiêm bái thì sẽ xét sau:

“Ngày 5 tháng 5 năm Càn Long thứ 58 [12/6/1793]. Dụ các Quân Cơ Đại thần: Thành Lâm tấu: Vào ngày 12 tháng 4 [21/5/1793] đến tế dụ trước phần mộ Nguyễn Quang Bình, Nguyễn Quang Toản thưa rằng:

 ‘Thân phụ được ban ân điển lớn, từ xưa đến nay hiếm ai có được như vậy; tuy mòn gót liều thân cũng không đủ để báo đáp. Thơ Ngự chế là quốc bảo, đáng giữ lại trong nước truyền đời, không dám đốt đi; chỉ xin sao lại một bản để làm lễ phần hóa v.v..’

 Nguyễn Quang Toản tuy tuổi còn nhỏ, biết thận trọng kính cẩn, thực đáng khen. Thành Lâm cho rằng sự cảm khích phát ra từ lòng chí thành, nên chấp nhận lời xin; việc này cũng đúng. Riêng theo lời Nguyễn Quang Toản:

 ‘Đáng nên thân đến kinh khuyết làm lễ tạ ân, nhưng mới được ban tước, chưa tiện vội rời nước; có viên Bồi thần Ngô Đình Phụng là người thân tín của phụ thân, sai đến kinh đô tạ ơn thay v.v..

Điều này xét ra không cần thiết. Sau khi Nguyễn Quang Bình mất, nước này đã gửi riêng Sứ thần đến báo, nay vẫn chưa tới kinh đô; An Nam đường sá xa xôi, lại gửi thêm Sứ thần đến, không khỏi phiền hà mệt nhọc phải lặn lội đi về. Thành Lâm hiện được lệnh đến kinh đô, đợi Phúc Khang An đến Lưỡng Quảng cũng cần thêm ngày giờ; vậy Trần Dụng Phu hãy thông tri cho viên Quốc vương rằng không cần phải gửi Bồi thần Ngô Đình Phụng đến kinh đô tấu thay. Nếu như lúc chỉ dụ này đến nơi, Ngô Đình Phụng đã đến quan ải; thì ngay trên đường đi, cho y trở về nước để tỏ lòng thể tuất.

Mới đây lúc Nguyễn Quang Bình hấp hối, trối lại cho Nguyễn Quang Toản rằng không cần phải đưa linh cữu về Nghệ An, hãy cho an táng tại Tây Hồ, để được gần gũi cung khuyết của Thiên tử, lời lẽ và tấm lòng thiết tha, đã giáng chỉ ban thụy Trung Thuần cùng một bài thơ Ngự chế, để viên Quốc vương khắc bia tại trước mộ, biểu lộ tấm lòng thành trước sau quyến luyến kinh khuyết…

Còn Nguyễn Quang Toản xưng rằng muốn đích thân đến kinh đô, lại cũng không cần. An Nam là nước tân tạo, Nguyễn Quang Toản mới được phong tước, các em tuổi còn nhỏ, mọi việc cần phải lo liệu, há lại coi thường đi xa? Cũng ra lệnh cho Trần Dụng Phu báo thêm cho Nguyễn Quang Toản hay rằng sau năm Càn Long thứ 60, đại Hoàng đế sẽ ước lượng tình hình, hoặc sẽ giáng chỉ cho đến kinh đô cũng chưa biết chừng. Đem dụ này theo độ khẩn 500 dặm [250 km. một ngày] truyền cho Trần Dụng Phu, cùng báo Phúc Khang An biết.” (Cao Tông Thực Lục Quyển 1428, trang 5-7)

Riêng Cựu hoàng Lê Chiêu Thống bị bệnh mất tại Bắc Kinh vào ngày 16 tháng 10 năm Quí Sửu [19/11/1793]. Lúc hấp hối đã trối lại mấy lời cho bầy tôi cũ là bọn Đinh Nhạ Hành như sau:

“Gặp lúc vận nhà không may, ta không biết liều chết giữ lấy xã tắc, phải nhờ đậu quê người đất khách để mưu tính khôi phục, chẳng dè bị người lừa gạt đến nỗi phải uất hận đến thế này, thật là ở vào tình thếkhông biết xoay xở ra sao được! Một ngày kia , bọn các ngươi nếu có ai về được nước nhà, thì nên đem nắm xương tàn của ta về táng, để tỏ ý nghĩa quay đầu về núi.”

Tại miền Nam vào tháng giêng năm Quí Sửu [11/2-11/3/1793] Nguyễn Vương cho đóng thêm các thuyền lớn hiệu Long Ngự, Long Thượng, Long Hưng, Long Phi, Bằng Phi, Phượng Phi, Hồng Phi, Loan Phi, Ưng Phi.

Tháng 2 [12/3-10/4/1793] Vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản sai người đem 25 chiếc thuyền đóng giữ cửa biển Đại Chiêm [Cửa Đại, Quảng Nam] để đề phòng quân Nguyễn. Thuyền gặp gió chìm đắm mất nhiều; có 2 thuyền của viên Đô ty và hơn 100 quân chạy vào Gia Định xin hàng phục. Vương
cho vời đến hỏi, biết Nguyễn Nhạc và Quang Toản nghi kỵ nhau. Năm ngoái Vua Quang Trung chết, Nguyễn Nhạc từ Quy Nhơn đến viếng; vừa đến Quảng Ngãi, nghe tin Quang Toản sai 1.000 quân vào Quảng Nam ngăn chặn, Nhạc bèn dẫn quân trở về.  Biết tình hình nội bộ nhà Tây Sơn, Nguyễn Vương bèn quyết ý đánh.

Tháng 3 [11/4-9/5/1793], ngày Giáp Dần [1/5/1793], lập Hoàng cả Cảnh làm Đông cung; lúc ấy mới 14 tuổi, ban cho ấn Đông cung. Lấy Hàn lâm viện chế cáo Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định làm Đông cung thị giảng.

Sai Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng phụng sứ sang Xiêm. Trước đây tại Bắc Hà nghe tin Vua Tây Sơn Nguyễn Huệ chết, nơi nơi đều nổi dậy, cùng tôn Lê Duy Vạn con Lê Hiển tông lên làm minh chủ. Duy Vạn bèn sai thuộc hạ là bọn Cai cơ Chấn gồm bảy người đưa thư hẹn với Nguyễn Vương cử binh để
trong ngoài ứng nhau. Chấn mượn đường thượng đạo đi sang Xiêm, người Xiêm đưa sang ta, nhưng giữa đường bị giặc biển Chà Và [Java] bắt đem bán ở Hạ Châu [Singapore]. Vương nghe tin ấy, ủy cho dân buôn người Âu là An Tôn Ngâm Bô chuộc về. Đến đây cho về Bắc; vì đường biển nhiều cản trở, nên sai Tiến Lượng đưa thư sang Xiêm để đưa Chấn theo đường núi mà đi.

Tháng 4 [10/5-7/6/1793], đặt ba dinh Trung Thủy, Tiên Thủy và Hậu Thủy, lấy Chưởng cơ Hồ Văn Lân quản dinh Trung thủy, Cai cơ Nguyễn Văn Huấn quản dinh Tiền thủy, Nguyễn Thoan cai quản dinh Hậu thủy.

Nguyễn Vương thân đi đánh Quy Nhơn, để Đông cung Cảnh ở lại trấn giữ Gia Định, lấy Phó tướng Tả quân Phạm Văn Nhân và Giám quân Trung dinh Tống Phước Đạm giúp việc.

Sai Tôn Thất Hội điều bát bộ binh các đạo tiến đánh Phan Rí [Bình Thuận], Nguyễn Huỳnh Đức và Nguyễn Văn Thành đều dưới quyền. Lại sai Cai cơ trấn Thuận Thành là Nguyễn Văn Chấn và Nguyễn Văn Hào, Chưởng cơ đạo Ba Phủ là Cố, điều khiển là Cường, đều đem quân Chiêm Thành
theo đường thượng đạo thẳng tới Phan Rang, đợi bộ binh đến thì theo sự điều động.

Thuyền Vương ra cửa biển Cần Giờ. Sai Nguyễn Văn Trương và Võ Di Nguy đem thủy quân các vệ đi trước, Võ Tánh theo ngự giá, Hộ bộ Phan Thiên Phước và Tham tri Nguyễn Đức Chí chia coi thuyền lương đi theo sau.

Tháng 5 [8/6-7/7/1793], thuyền Nguyễn Vương tiến đến Vũng Tàu, Phan Rang. Sai Đô đốc quản chi Hùng võ là Nguyễn Kế Nhuận đánh bảo Mai Nương [huyện Ninh Phước, Ninh Thuận]. Quân Tây Sơn nghe tin chạy trốn trước. Bèn lưu đạo binh thuyền của vệ úy vệ Long võ là Nguyễn Hiên đậu
ở đấy để chờ bộ binh.

Thuyền Vương tiến đóng ở cửa biển Nha Trang. Sai Hiệu úy Tiền chi Trung quân là Nguyễn Văn Đắc, Hiệu úy Tả chi là Vũ Văn Lượng đánh bảo Hoa Bông [tỉnh thành Nha Trang]. Quân Tây Sơn bỏ chạy, lấy lại được phủ Diên Khánh. Lại sai Võ Tánh đem quân ba vệ tiến thẳng đến phủ Bình
Khang [Ninh Hòa, Khánh Hòa].

Thuyền Vương tiến đóng ở vụng Hòn Khói [vịnh Văn Phong, Khánh Hòa]. Quân địch nghe tin, không đánh mà tự tan vỡ; chỉ huy Trí  chạy về Quy Nhơn; quan quân còn lại đều đầu hàng, lấy được phủ Bình Khang. Ra lệnh cho các tướng đầu hàng đều giữ ngạch binh như cũ, bại binh tàn tốt Tây
Sơn, đều cho lệ thuộc vào dinh Hậu quân để sai khiến.

Đặt quan công đường dinh Bình Khang, lấy chỉ huy Hậu thủy dinh là Nguyễn Thoan làm Lưu thủ, Hình bộ tham tri Lê Đăng Khoa làm Cai bạ, Hàn lâm viện Đặng Hữu Đào làm Ký lục. Vương ban dụ rằng :

“Quân của vương giả đến đâu là cầu cho dân yên. Nơi này khổ vì giặc Tây Sơn tàn ác đã lâu, nhân dân khó sống. Trước đã có lệnh cấm đoán, không được xâm phạm mảy may.Nhưng vì quân nhiều, sợ có kẻ ra ngoài pháp luật. Từ nay quan quân người nào tự tiện đến các làng xóm cướp bóc tiền của, không kể nhiều ít, đều phải chấp hành quân pháp, để dân được yên”.

Lại thấy trong quân có những binh người Hoa Kiều, người Tây, người Xiêm La, tính tình hung hãn, khi say rượu thì khó ngăn giữ, nên cấm các hàng quán ở chợ không được bán rượu, trái lệnh phạt 50 roi.

Cánh bộ binh của  Tôn Thất Hội đánh bảo Phan Rí [Bình Thuận]; Đô đốc Tây Sơn là Hồ Văn Tự lui giữ Mai Nương [huyện Ninh Phước, Ninh Thuận], quân ta đuổi theo. Tự đem quân theo thượng đạo Sâm Lô chạy trốn, lấy lại được phủ Bình Thuận. Tin báo đến hành tại, Vương ban lệnh giục bọn Hội phải tiến quân mau chóng, để hội với thủy quân.

Đặt quan công đường dinh Bình Thuận, lấy Khâm sai thống binh cai cơ Hữu quân là Trần Văn Búa làm Lưu thủ, Hàn lâm viện chế cáo Nguyễn Đàn làm Cai bạ, Hàn lâm viện Hồ Văn Giao làm Ký lục. Dụ sai theo sổ đinh sổ điền thuộc hạt và ở Thuận Thành mà thu tô thuế như lệ năm Nhâm Tý [1792], để cung cấp lương quân, tiền thuế nộp thay bằng gạo. Sai Tham luận đạo Thanh Châu là Lê Đình Kiêm đốc thúc thu tô thuế hai phủ Bình Khang và Diên Khánh.

Tôn Thất Thăng là con thứ 18 của Vua Thế Tông từ Phú Xuân [Huế] đến. Trước kia khi Duệ Tông vào Nam, Thăng vì còn nhỏ không được đi theo, nên bị giặc bắt. Đến đây nghe tin Vương đích thân đánh Quy Nhơn, bèn cùng Tôn Thất Liêm [con Chưởng cơ Tôn Thất Văn] ngầm vượt biển trốn đến quân thứ Hòn Khói. Đến nơi Vương vừa mừng vừa thương, cầm tay rỏ nước mắt nói :

 “Vì nhiều biến cố, thân thích lìa nhau, không ngờ ngày nay lại còn được thấy nhau, thế không phải là hồng phước của tiên vương khiến cho nguy mà lại may, nạn mà lại yên sao ?”.

 Bèn đặt yến tiệc, trọn vui mới thôi. Rồi cho Thăng làm Quốc thúc [chú của Vua], Liêm làm Khâm sai cai đội.

Sai đốc chiến cai cơ chi Chấn Võ là Mai Tiến Vạn đem quân sở bộ đến thượng đạo Phú Yên đặt phục binh ở nơi hiểm để chặn đường giặc chạy. Thuyền Vương tiến đóng ở cửa biển Xuân Đài [huyện Sông Cầu, Phú Yên].

Sai Võ Tánh đem quân đánh bảo La Thai, Tham đốc Tây Sơn là Phạm Văn Điềm thua chạy. Quân Nguyễn cướp hết lương thực, lấy lại được phủ Phú Yên. Báo tin thắng trận. Vương khen ngợi, thưởng cho tướng sĩ 300 quan tiền, 150 chiếc áo chiến, sai đặt đồn ở chợ Hội An [Phú Yên], để quân
phòng thủ.

Đặt quan tại dinh Phú Yên, lấy Phó Trung thủy dinh là Nguyễn Văn Nhân làm Lưu thủ, lấy hàng thần là Tuần phủ Nguyễn Y Mân làm Cai bạ, Văn giáp tham mưu là Nguyễn Văn Diệu làm Ký lục.

Thuyền Vương tiến đóng ở cửa biển Thị Nại [thành phố Qui Nhơn, Bình Định]; khởi sự sai Võ Tánh đem quân các vệ đánh đồn Tây Sơn ở chợ Thị Nại.


            Chú thích:

1. Phần hóa: Theo tục xưa cúng xong đốt văn tế, thơ, vàng giấy vv.. để
người cõi âm hưởng.

 2.Ôm gối: Để tỏ tình thân mật, vua Trung Quốc cho người dưới ôm gối,
gọi là  lễ bảo tất.

3.Thế tập: phong chức theo cách cha truyền con nối.

4.Tề gia: xếp đặt việc nhà chu toàn.

5.Do điển “đái lệ” ý nói cho dù sông cạn như dây đai [đai] , núi mòn
như đá mài [lệ] thì  vẫn không quên ơn.

6.Cơ cầu: Con cháu biết nối nghiệp cha ông gọi là cơ cầu. Ví như cha
làm cung, con cũng có thể học được một phần để làm ra cái thúng [cơ];
cha làm thợ hàn giỏi, con có thể học được một phần để làm áo cầu.

7.Ðịnh tỉnh: do điển “hôn định thần tỉnh” nghĩa là buổi tối thì xếp
đặt chỗ ngủ để cha mẹ được an giấc, sáng thì thăm hỏi xem có được khỏe
mạnh không.

8. Long đình: Một thứ kiệu, đòn khiêng chạm rồng, trên kiệu có cái tủ
hình như cái đình để đựng sắc vua.

9. Phong thần: Đời nhà Hán hay trồng cây phong trong cung, nên các đời
sau gọi cung vua là phong thần.

 

 

Bình luận về bài viết này