
CHARLES ALLEN
Trần Quang Nghĩa dịch
5 Những nhà Đông phương học miệt mài

Một tấm bia khắc từ Amaravati, cho thấy một bảo tháp được trang trí công phu và hàng cột xung quanh cùng bốn cổng vào. Đây là một một số bản vẽ do các nhà thiết kế của Colin Mackenzie thực hiện sau khi ông khai quật một phần địa điểm này vào năm 1816. (АРАС, Thư viện Anh)
Tiến bộ đáng kể trong nghiên cứu về Ấn Độ đã đạt được kể từ khi Sir William Jones đặt chân đến Calcutta đột ngột dừng lại vào ngày 27 tháng 4 năm 1795. Jones đã đồng ý phục vụ trong một nhiệm kỳ mười năm và không hơn, và mười năm đó kết thúc vào tháng 11 năm 1794, khi cả William và Anna Maria Jones đã yếu nhiều. Tuy nhiên, Jones vẫn quyết tâm hoàn thành cuốn Tóm tắt Luật Ấn Độ giáo và Hồi giáo, cuốn sách mà ông đã viết ròng rã trong nhiều năm và được ông coi là di sản quan trọng nhất của mình. Ý tưởng giúp đỡ “hai mươi bốn triệu thần dân Anh ở các tỉnh này… bằng cách trao cho họ “các luật riêng của họ”, ông viết, “khiến tôi tự hào hơn cả lời cảm ơn của Nhà vua”. Anna Maria quá suy yếu không thể ở lại và bà ra khơi cùng đội tàu mùa thu, nhưng chồng bà vẫn ở lại Calcutta, mặc dù đang chịu đựng cơn đau dữ dội do viêm gan. Ngày 20 tháng 4 năm 1795, ông đến thăm người kế nhiệm Toàn quyền Lord Hastings, người bạn cũ của ông, Sir John Shore, nhưng cảm thấy quá yếu nên không thể ở lại lâu. Một tuần sau, Shore được gọi đến và đã tới ngôi biệt thự của Jones ở Garden Reach kịp thời chứng kiến Jones trút hơi thở cuối cùng.
Không ai có thể hiểu rõ ý nghĩa sự ra đi của Jones hơn người bạn và học trò của ông, Henry Colebrooke: ‘Cái chết sớm của ông khiến kết quả nghiên cứu của ông không được sắp xếp, và có thể thế giới sẽ mất đi nhiều thứ đã được ghi nhớ… Không ai trong số những người hiện đang tham gia nghiên cứu về phương Đông có được thông tin đầy đủ như vậy . . . và tôi e rằng trong quá trình nghiên cứu của họ, không ai có thể có được những quan điểm toàn diện như vậy. ‘
Những nỗi lo sợ này đã được chứng minh là có cơ sở. Sự ra đi của Ngài William Jones đã khiến Hội Châu Á như một con tàu lạc lõng ngoài khơi không có hoa tiêu. Các chủ tịch, thư ký và biên tập viên đến rồi đi trong khi Hội trôi dạt vì thiếu một bàn tay dẫn dắt. Tuy nhiên, các phóng viên rải rác của Hội vẫn tiếp tục thu thập thông tin và nghiên cứu về Châu Á vẫn tiếp tục được xuất bản, mặc dù ít thường xuyên hơn. Những thành viên đóng góp này bao gồm Đại úy James Hoare, người đã tặng Hội một cuốn sách gồm các bản vẽ về Trụ đá Firoz Shah ở Delhi và Trụ đá ở Allahabad, cùng với bản sao trực tiếp các dòng chữ khắc của chúng.
Điều này thật may mắn vì ngay sau chuyến thăm Allahabad của Hoare, ‘cột đá đã bị lấy xuống tùy tiện bởi kẻ thù của kiến trúc Ấn, Đại tá Kyd, vào thời điểm đó đầu cột đã bị phá hủy’. Công ty Đông Ấn đã gửi quân đến đồn trú pháo đài tại Allahabad sau một hiệp ước liên minh gian dối được ký kết với Phó vương xứ Oude. Sau đó, vào năm 1801, Phó vương đã chính thức nhượng Allahabad cho Công ty Đông Ấn, và các kỹ sư quân sự của họ đã tiến vào dưới sự chỉ huy của Đại tá Kyd để củng cố hệ thống phòng thủ của pháo đài. Khi làm như vậy, Đại tá Kyd và các kỹ sư quân sự của ông đã không chỉ nhổ bật cột trụ mà còn để nó gãy nát và vỡ thành nhiều mảnh bên lề đường.
Đại úy Hoare đã chết vì sốt trước khi báo cáo của ông được đọc cho Hội Châu Á, nhưng vào năm 1800, các bản sao của ông đã được Henry Colebrooke, lúc đó là người châu Âu duy nhất ở Calcutta có kiến thức sâu rộng về tiếng Phạn, xem xét. Nhưng khi xem được các bản sao trực tiếp của Hoare về dòng chữ khắc trên trụ đá Delhi và Allahabad, Colebrooke phải thú nhận rằng mình không thể hiểu rõ các ký tự giống chữ viết Hy Lạp này hơn gì các người tiền nhiệm lỗi lạc của mình.
Đến năm 1800, Công ty Đông Ấn đã tự giải thoát khỏi những vụ lạm dụng tồi tệ nhất khiến nó trở thành biểu tượng của tham nhũng, nhưng những cải cách này đã không thể ngăn chặn sức mạnh ngày càng tăng của Quân đội Ấn Độ thuộc Công ty Đông Ấn, sức mạnh mà Lord Wellesley đầy tham vọng, người được bổ nhiệm làm Toàn quyền vào năm 1798, giờ đây khai thác triệt để. Người ta nói về Lord Wellesley rằng ‘ông được chỉ thị không tham gia vào các cuộc chiến tranh với bất kỳ thế lực bản địa nào; vậy mà ông lại gây chiến với tất cả bọn họ. Người ta không muốn ông chiếm thêm một mẫu Anh nào cho Công ty, vậy mà ông đã khuất phục toàn bộ Ấn Độ từ Himmaleh đến Mũi Comorin cho họ.’ Sau khi lấy mối đe dọa của phe Jacobin Pháp làm cớ để lật đổ Tipu Sultan ở Mysore, ông đã tấn công người Maratha ở phía bắc Deccan trong một cuộc chiến sau này trở thành
cuộc đấu tranh giành quyền lực gian khổ ở miền Trung Ấn Độ.
Trong cuộc chiến được gọi là Chiến tranh Maratha lần thứ hai, người em trai trẻ tuổi và cũng tham vọng không kém của Lord Wellesley là Arthur Wellesley – Công tước Wellington tương lai – đã giành được một chiến thắng lừng lẫy, góp phần phá vỡ Liên minh Maratha. Diễn ra vào ngày 23 tháng 9 năm 1803, trận Assaye, theo ý kiến của người chiến thắng, là trận chiến đẫm máu và đẹp đẽ nhất mà ông từng giành được.
Năm ngày sau, đoàn quân tơi tả của ông mang những thương binh của họ về phía bắc đến ngôi làng nhỏ Ajanta, ngay trung tâm của Ấn Độ, nơi một pháo đài vách đất được sử dụng như một bệnh viện dã chiến. Quân đội đóng trại trong và xung quanh Ajanta trong một tháng, và chẳng mấy chốc đã nghe có tin đồn trong phòng ăn của sĩ quan về những điều tuyệt vời nhìn thấy được trong các hang động không tới một dặm về phía nam, nơi một dòng sông nhỏ đã ăn mòn qua tảng đá để tạo ra một hẻm núi hẹp, quanh co. Được người dân địa phương gọi là ‘Thung lũng Hổ’, hẻm núi này được cho là nơi trú ngụ của hổ và tốt nhất nên tránh xa, đó có thể là lý do tại sao các hang động và di vật bên trong vẫn được giữ nguyên vẹn trong nhiều thế kỷ. Sau đó, đoàn quân tiến về phía bắc, một hiệp ước hòa bình được ký kết và các hang động Ajanta bị lãng quên.
Mặc dù là một người theo chủ nghĩa đế quốc trơ tráo, Lord Wellesley cũng quyết định Ấn Độ nên có những nhà cai quản biết rõ đất nước mà họ được cử đến để cai trị. Không thông báo cho Ban Giám đốc của Công ty Đông Ấn ở London, ông đã thành lập một trường cao đẳng ngay góc Pháo đài William, Calcutta, nơi những người mới được tuyển dụng vào Dịch vụ Dân sự Ấn Độ (ICS) có thể học ngôn ngữ và phong tục Ấn Độ. Đến năm 1818, không dưới một trăm nhà ngôn ngữ học Ấn Độ đã được tuyển dụng tại Cao đẳng Fort William, cung cấp, theo lời Wellesley, ‘phương pháp tốt nhất để có được kiến thức về ‘phong tục tập quán của người bản xứ Ấn Độ’. Trường cũng đã xây dựng được thư viện phương Đông tốt nhất thế giới, với gần 12.000 cuốn sách in và bản thảo. Nhưng điều mà Wellesley không bao giờ có thể lường trước được là tác động của trường đối với chính Bengal, nơi nó đã góp phần khởi xướng cái được gọi là Phục hưng Bengal, truyền cảm hứng cho những người như Ram Mohan Roy đấu tranh cho những cải cách sau này sẽ đưa đến sự cáo chung của chế độ cai trị của Anh ở Ấn Độ.
Trong số những người gắn bó mật thiết với Cao đẳng Fort William trong những ngày đầu, với tư cách là Giáo sư Luật Phạn và Hindu, có Henry Colebrooke. Năm 1801, ông được bầu làm Chủ tịch Hội Châu Á và giữ chức vụ này cho đến khi nghỉ hưu tại Ấn Độ vào năm 1814. Chính trong nhiệm kỳ của ông, người thừa kế tự nhiên của Sir William Jones đã đến Calcutta: John Leyden, con trai một người chăn cừu đến từ vùng biên địa Scotland, dự định theo học để trở thành mục sư nhưng lại tỏ ra có năng khiếu về ngôn ngữ hơn là thần học. Bạn bè của Leyden đã tìm cho ông một vị trí nhà quân y của Công ty Đông Ấn ở Madras, nơi mà sớm rõ ra là tài năng của ông nằm ở nơi khác. “Tôi đã quyết tâm bằng mọi giá sẽ trở thành một nhà Đông phương học lỗi lạc”, ông viết cho một người bạn ở Scotland hai năm sau khi ông đến Ấn Độ. Cơ hội đã đến khi ông được bổ nhiệm làm trợ lý y khoa cho đoàn khảo sát Mysore, với nhiệm vụ ngắn gọn là “tiến hành các cuộc điều tra về lịch sử tự nhiên của đất nước, phong tục tập quán và ngôn ngữ, v.v. của người bản xứ Mysore”. Trong quá trình làm nhiệm vụ, Leyden đã dành thời gian để tự học 13 ngôn ngữ Ấn Độ chỉ trong vài tháng.
Leyden là một nhân vật kỳ lạ. “Khuynh hướng tự cao tự đại” đi kèm với cách cư xử thô lỗ, giọng nói the thé và âm ngữ Scotland quá nặng đến nỗi chỉ có đồng hương của ông mới có thể hoàn toàn hiểu ông. Tuy nhiên, tài năng bộc lộ của ông đã giành được sự bảo trợ của người kế nhiệm Lord Wellesley, Lord Minto, và ông được bổ nhiệm làm Giáo sư Ấn ngữ tại Cao đẳng Fort William. Một chức vụ thứ hai là Trưởng phòng Kiểm nghiệm của Sở đúc tiền Calcutta đã tạo điều kiện cho ông chuyên tâm nghiên cứu về Ấn Độ. “Tôi có thể chết trong nỗ lực này”, ông viết cho một người bạn, “nhưng nếu tôi chết mà không vượt qua được Sir William Jones một trăm lần trong học thuật phương Đông, đừng để một giọt nước mắt nào cho tôi làm ô uế đôi mắt của một người biên địa.’ Đây là những lời dũng cảm, thốt ra từ một người đàn ông đã phải chịu đựng hết cơn bệnh này đến cơn bệnh khác.
Sau khi hoàn thành bản dịch đầu tiên sang tiếng Anh cuốn tự truyện Baburnama của hoàng đế Mughal Babur, John Leyden được Henry Colebrooke yêu cầu đảm nhiệm Ban Biên tập của Hội Châu Á, vì người đương nhiệm khi đó sắp nghỉ hưu.
Chức vụ này không được trả lương nhưng đã trở thành vị trí quan trọng nhất của Hội và nó sẽ cho phép Leyden kế thừa thần tượng của mình, Ngài William Jones quá cố. Tuy nhiên, đúng lúc này, số phận mà Leyden đã thách thức quá táo bạo đã chen vào: ông được Lord Minto mời đi cùng đến Java với tư cách là phiên dịch viên. Đến Batavia, khu định cư của người Hà Lan vào ngày 25 tháng 8 năm 1811, Leyden không mất thời gian để ghé thăm một thư viện được cho là chứa đựng những bản thảo hiếm hoi của Ấn Độ. Ông run rẩy bước ra và tuyên bố rằng bầu không khí trong phòng đủ sức khiến bất kỳ người phàm nào cũng phải lên cơn sốt. Ba ngày sau, ông qua đời.
Ứng cử viên sáng giá nhất đã ra đi, Henry Colebrooke giờ đây phải tìm người thay thế. Vị trí Trưởng phòng Kiểm nghiệm của Xưởng đúc tiền Calcutta của Leyden đã được thay thế bởi phó của ông, một trợ lý quân y viên hai mươi ba tuổi thông minh tên là Horace Hayman Wilson. Là một người dễ mến, lịch thiệp và có nhiều mối quan hệ, Tiến sĩ Wilson trái ngược hoàn toàn với Leyden về hầu hết mọi mặt, vì đến Ấn Độ chỉ với nền tảng vững chắc về y học, hóa học và xét nghiệm. Ông không phải là một lựa chọn phù hợp cho Ban Biên tập của Hiệp hội Châu Á, nhưng khi nhận chức, Wilson đã bắt đầu chứng minh mình xứng đáng với nhiệm vụ này.
Nhiệm vụ của Wilson với tư cách này đã dẫn ông đến với các bản dịch tiếng Phạn của Ngài William Jones. Mong muốn hiểu rõ hơn công việc của mình, ông tìm quanh quất một cuốn từ điển Phạn-Anh nhưng không có, điều này khiến ông kết luận rằng con đường duy nhất của mình là tự viết cuốn từ điển. Ông mất gần một thập kỷ để hoàn thành, nhưng nhờ đó, ông đã thành thạo ngôn ngữ này đến mức cuối cùng có thể tự nhận mình là nhà Phạn học hàng đầu của thời đại.
Nhưng sự ưu việt đó phải trả giá, đó là Tiến sĩ Horace Hayman Wilson đã giữ chức Tổng Biên tập Hội Châu Á trong gần 22 năm. Sau khi Colebrooke nghỉ hưu ở Ấn Độ vào năm 1814, các Chủ tịch khác của Hội đã đến rồi đi nhưng không ai có thẩm quyền thực sự, nên vị trí của Wilson chưa bao giờ bị thách thức, cho phép ông toàn quyền chỉ đạo các hoạt động của Hội Châu Á từ tòa nhà mới bề thế của hội ở góc đường Chowringhee và Park. Là một người đấu tranh không mệt mỏi cho quyền của người Ấn Độ, Wilson đã mở rộng tư cách thành viên của Hội Châu Á cho người Ấn Độ và cũng không kém phần nhiệt tình trong việc thúc đẩy hai sở thích song hành của mình: tiếng Phạn và sân khấu nghiệp dư – sở thích cuối cùng này được củng cố bởi cuộc hôn nhân của ông với cháu gái của nữ diễn viên Sarah Siddons.
Trong số nhiều thành tựu của Wilson có việc thành lập một trường đại học tiếng Phạn ở Calcutta, được hoàn thành vào năm 1824, ngang bằng với công trình ở Benares. Tuy nhiên, danh tiếng chính của ông nằm ở bộ Sanskrit Grammar, bản dịch một số vở kịch thơ cổ và công trình biên soạn 18 bộ Puranas. Những bộ Puranas này được cho là do Veda Vyasa, người biên soạn kinh Vệ Đà, viết, nhưng học thuật của Wilson cho thấy chúng là những bản diễn giải lại của Bà La Môn giáo về lịch sử sơ khai dưới dạng tiên tri, không có tác phẩm nào được viết trước thế kỷ thứ hai sau Công nguyên. Dựa trên các ghi chép về triều đại trước đó, các nhà biên soạn Puranas đã nêu bật những chiến công của những người tuân thủ các quy tắc của vương quyền như đã được ghi chép trong các văn bản cổ xưa, quy định rằng các vị vua phải xuất thân từ đẳng cấp chiến binh Kshatriya (Sát-đế-lỵ)nhưng luôn dưới sự chỉ đạo của các thầy từ Brahman (Bà-la-môn). Kshatriya đại diện cho cánh tay của thể chế chính trị Hindu, còn Brahman là cái đầu. Khi những quy tắc đẳng cấp của vương quyền bị phá vỡ, sự trừng phạt của thần linh chắc chắn sẽ xảy ra, như trong trường hợp khét tiếng của dòng dõi Nandas thuộc đẳng cấp thấp cướp ngôi.
Wilson cũng được nhớ đến vì đã khám phá và dịch một tài liệu đã bị lãng quên từ lâu: Rajatarangini, hay ‘Dòng sông Các Vị Vua’, một biên niên sử về các vị vua vùng Kashmir được viết dưới dạng một bài thơ gồm 118 câu của một thi sĩ Bà-La-Môn thế kỷ XII tên là Kalhana. Mặc dù chủ yếu dành riêng cho những sự kiện xảy ra trước hoăc trong cuộc đời của nhà thơ, Kalhana cũng đã dựa vào các nguồn sử liệu trước đó để viết về Kashmir trước cuộc xâm lược của người Hồi giáo. Và nếu những nguồn này đáng tin cậy, thì “đức tin dị giáo của Bauddha (Đức Phật) đã từng thống trị khu vực đó”.
Theo Dòng sông Các Vị Vua, Phật giáo đã được truyền bá đến Kashmir bởi một vị vua tên là Ashoka. Vị vua này đã sáng lập thành phố Shrinagar ở thung lũng Kashmir, và cho xây dựng vô số đền chùa trong thung lũng và truyền bá Phật giáo sang các nước lân cận, bao gồm cả Tartar. Tuy nhiên, tác giả của Dòng Sông Các Vị Vua lại thể hiện thái độ thù địch rõ rệt với Ashoka, trái ngược hẳn với sự kính trọng dành cho con trai và người kế vị Ashoka, Jalauka, một “hoàng tử tài giỏi” sau khi trở thành một tín đồ sùng bái Shiva, “đã vượt qua giáo lí của tà giáo Bauddha, và “đã nhanh chóng trục xuất những người Mlecchas [người nước ngoài không có đẳng cấp] khỏi đất nước”. Tuy nhiên, ngay cả Vua Jalauka cũng tỏ ra là một người cai trị không gương mẫu, vì về cuối triều đại của mình, ông bắt đầu có cái nhìn thiện cảm với Phật giáo, một thái độ mà con trai và người kế vị ông, Vua Damodara, sau đó đã phát triển đến mức ông đã phải gánh chịu “sự thù địch của giáo phái Bà La Môn”.
Nếu vị vua Ashoka này là người mang Phật giáo đến Kashmir cũng là nhân vật Ashoka được ghi chép trong các bảng triều đại của Puranas là vị vua thứ ba của triều đại Maurya ở Magadha, thì rõ ràng ông là một vị vua hùng mạnh, đủ quyền lực để thách thức trật tự đã được thiết lập ở Kashmir bằng đức tin dị giáo của mình. Điều khó hiểu, đối với Wilson, là cả Jalauka lẫn Damodara, lẫn cha và ông nội được của Ashoka, không ai được ghi chép trong bất kỳ bảng triều đại nào của Puranas.
Giờ đây, rõ ràng là các tác giả của Dòng Sông Các Vị Vua và Kinh Puranas có chung một ác cảm của Bà La Môn đối với Phật giáo và các nhà cai trị Phật giáo. Thật vậy, một phần nào đó của định kiến đó dường như đã ảnh hưởng đến tư duy của người dịch, bởi Horace Hayman Wilson tỏ ra không mấy hứng thú với những lĩnh vực học thuật nằm ngoài chuyên ngành ưa thích của ông: tiếng Phạn Bà La Môn. Dù sở hữu nhiều đức tính, ông lại thiếu tầm nhìn rộng lớn vốn đã tạo nên những tiến bộ to lớn từng đạt được dưới thời Sir William Jones. Trong thời gian dài trong Hội Châu Á, mạng lưới cộng tác viên, vốn là một nhân tố quan trọng dưới thời Jones và Colebrooke, đã tan rã vì thiếu một lực lượng chỉ đạo ở trung tâm. Những khám phá mới trong lĩnh vực này đến rồi đi mà không được công nhận, với rất ít nỗ lực đánh giá tầm quan trọng của chúng hoặc so sánh chúng với những gì đã có trước đó.
Điều này đặc biệt đúng với nghiên cứu Phật giáo, mặc dù thực tế là nhiều kinh sách tôn giáo trước đây chưa được biết đến giờ đây đã được phát hiện ở Trung Quốc, Tích Lan và Miến Điện, cả kinh điển lẫn các tuyển tập truyện Phật giáo như Divyavadana, hay “Những Câu chuyện Thần Thánh”. Tất cả đều củng cố thêm cho giả thuyết trước đây của các nhà Đông phương học rằng Phật giáo có nguồn gốc Ấn Độ. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Cồ Đàm, bậc hiền triết của dòng họ Thích Ca, giờ đây đã xuất hiện từ cõi thần thoại và được chứng tỏ đã sống ở vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha) trên đồng bằng trung tâm sông Hằng, nơi sau khi đạt đến trạng thái giác ngộ ở tuổi 35, ngài đã thuyết giảng trong 45 năm, công bố thông điệp về Pháp, hay ‘Luật Đạo đức’, để ‘mang lại sự giác ngộ cho tất cả chúng sinh’. Ở tuổi 82, ngài đã viên tịch, một trạng thái được mô tả trong các kinh điển Phật giáo là Đại Bát Niết Bàn, hay ‘Sự Dập tắt Tối hậu Vĩ đại’ – một sự kiện dường như đã diễn ra vào năm 544 TCN.
Việc xác định niên đại cuối cùng này là công trình của một sĩ quan quân y kiêm nhà thực vật học người Scotland tên là Francis Buchanan. Ít có cá nhân nào đóng vai trò trong việc tái khám phá nguồn gốc Ấn Độ của Phật giáo lớn hơn Buchanan, và không ai bị lãng quên một cách vô lý như ông. Là một sĩ quan quân y trẻ tuổi tham gia các phái đoàn ngoại giao đến Miến Điện và Nepal, Buchanan đã may mắn được tận mắt chứng kiến hai hình thức Phật giáo sống động khác biệt rõ rệt. Sau đó, ông được Công ty Đông Ấn tuyển dụng để khảo sát các vùng lãnh thổ mới được Công ty mua lại ở Madras. Rồi vào năm 1809, ông bắt đầu đợt khảo sát thứ hai, lần này là ở Bihar, một tỉnh mới được bổ sung vào Khu vực Hành chính Bengal của Công ty.
Cuộc khảo sát này mất bảy năm để Buchanan hoàn thành và cho thấy Bihar rải rác nhiều tàn tích có niên đại rất cổ xưa. Một trong số đó là ngôi đền Mahabodhi (Đại Bồ Đề) tại Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng) cách Patna tám mươi dặm về phía nam. Tại đây, Buchanan tìm thấy một ngôi đền Ấn Độ giáo trông có vẻ đổ nát, do một nhóm tín đồ Ấn Độ giáo cư ngụ và được bao quanh bởi hàng chục bức tượng đá, dường như là của các vị thần Hindu. Các tín đồ đặc biệt quan tâm đến hai vật thể: một bệ đá, mà họ coi là ‘Bàn chân của thần Vishnu’, và một cây pipal (cây Bồ Đề) được cho là do vị thần vĩ đại Brahma trồng.

Ngôi đền Mahabodhi ở Bodhgaya, được vẽ bởi Sir Charles D’Oyly vào tháng 12 năm 1824. Nghệ sĩ và những người cùng thời không hề biết đến tầm quan trọng của ngôi đền hay của cây cổ thụ mọc bên cạnh. ‘Ngôi đền’, D’Oyly viết, ‘nằm trên một sân thượng rộng, ở góc phía Tây có một trong những cây Pepul đẹp nhất cả nước. Chính tại đây, những người hành hương thường cầu nguyện.’ (APAC, Thư viện Anh)
Tình cờ Buchanan gặp một người dân địa phương tự nhận là Phật tử. Ông ta đã cải đạo vài năm trước đó bởi hai nhà sư hành hương Miến Điện, đại diện của vua Ava, đang đi qua Ấn Độ ‘để tìm kiếm những địa điểm linh thiêng ghi dấu các hoạt động của Gautama’. Những sư Miến Điện này đã nói với người cải đạo rằng Gautama là một ‘nhà lập Pháp’ đã từng cư trú tại Bodhgaya từ lâu dưới sự bảo vệ của một vị vua tên là Dharma Asoka, rằng ngôi đền đã từng là ‘trung tâm tôn giáo ở Ấn Độ’ và rằng nó vẫn được thần dân Ava tôn kính nhất. Thật ra, bệ đá và cây pipal bên cạnh đã từng được Phật tử tôn kính từ rất lâu trước khi người Hindu tuyên bố là của họ. Hơn nữa, cả nền đá và cây pipal tồn tại trước khi bản thân ngôi đền Đại Bồ Đề được vua Dharma Asoka dựng lên: ‘Cả hai nhà sư đến từ Ava đều nhất trí rằng vị Gautama đó đã cư trú tại Buddha Gaya, và theo mong muốn của ngài, một ngôi đền được xây dựng bởi Dharma Asoka, vua của Padaripuk [Pataliputra], người đã đặt triều đình của mình tại nơi này.’
Sau khi kiểm tra, hầu hết các bức tượng đá mà tín đồ Hindu chiếm đoạt đều giống hệt với những bức tượng Phật giáo mà Buchanan đã thấy ở Miến Điện và Kathmandu. Rõ ràng, ngôi đền của Dharma Asoka ở Buddha-Gaya thực sự là một ngôi đền Phật giáo.
Khi Buchanan tiếp tục cuộc khảo sát của mình về Nam Bihar, càng ngày càng minh chứng rõ ràng những lời tuyên bố của vị Phật tử cải đạo kia thực ra là có cơ sở: khu vực này quả thực từng là một trung tâm Phật giáo. Cách Bodhgaya ba ngày đường về phía bắc là thị trấn Rajgir, hay “Nhà của các vị Vua”, được nhắc đến trong kinh Puranas là quê hương của vua Jarasandha, vị vua đầu tiên của Magadha. Tuy nhiên, theo người Phật tử đưa tin của Buchanan, Rajgir cũng quan trọng không kém đối với Phật tử là kinh đô của một vị vua tên là Bimbisara (Tần-bà-sa-la), người trong suốt cuộc đời đã được Đức Phật Thích Ca truyền dạy giáo lý của Ngài.
Từ Rajgir, Buchanan dẫn đoàn khảo sát đến thị trấn Bihar gần như hoang vắng cùng pháo đài của nó, rồi đi về phía tây đến ngôi làng nhỏ Baragang (ngày nay là Baragaum). Tại đây, Buchanan ‘đã chứng kiến một khối lượng lớn tàn tích, qua đó có thể thấy nền móng của nhiều bức tường gạch và tòa nhà, trong đó có một số gò đất hình nón dường như đã từng là đền thờ’. Người Phật tử cải đạo không thể đưa ra bất kỳ lời giải thích nào nhưng một thầy tu Jain (Kỳ Na giáo) đã tiến tới thông báo cho Buchanan rằng đây là tàn tích cung điện của một Raja Srenik và tổ tiên của ông ta: ‘Vị sư nói rằng vào thời Srenik [Sen], phần lớn người dân đều thờ Phật, và ông ta phủ nhận tất cả các hình ảnh và tàn tích là thuộc về những kẻ ngoại đạo đó.’
Buchanan và đoàn của mình bắt đầu khảo sát những nơi dễ thấy nhất của phế tích, ‘một dãy nhà khổng lồ trải dài từ bắc xuống nam, gần phía tây của khối kiến trúc nói trên, dài khoảng 2.000 bộ, và nhìn chung rộng 240 bộ. Nó bao gồm những sân hình tứ giác gần như đều đặn, được bao quanh bởi các tòa nhà. Từ xa xưa, nơi đây đã là nơi khai thác gạch, và sự tàn phá diễn ra nhanh chóng, nhưng vẫn còn lại một số lượng lớn. ‘Nhô ra từ những gò đất chóp nón lớn hơn là một số bức tượng, những tường được bảo tồn tốt nhất được các thợ vẽ của Buchanan phác thảo trước khi đoàn tiếp tục lên đường. Điều họ vô tình vừa phát hiện ra là phế tích của Đại Tu viện Nalanda, ngôi trường Phật giáo từng nổi tiếng đã bị Muhammad Bakhtiyar và các chiến binh Hồi giáo của y thiêu rụi 518 năm trước.
Năm 1814, sức khỏe yếu đã buộc Buchanan phải cắt ngắn công việc khảo sát của mình. Ông bị khuyến dụ để tin rằng chức vụ Giám đốc Vườn bách thảo của Công ty Đông Ấn tại Calcutta là vị trí mà ông yêu cầu, nhưng một cuộc tranh cãi với Toàn quyền về quyền sở hữu các tư liệu của ông đã dẫn đến việc ông từ chức. Ông trở về Scotland tay trắng, để lại các báo cáo, nhật ký và bản vẽ của mình được lưu trữ tại Trụ sở tại Hội Nhà văn ở Calcutta, nơi chúng bị bỏ quên trong suốt 22 năm tiếp theo.
Số phận tương tự cũng xảy ra với người cùng thời với Buchanan, một người đồng hương Scotland cũng tận tụy không kém và kỹ sư quân sự kiêm nhà vẽ bản đồ Colin Mackenzie. Trong thời gian này ông đã có những bước tiến quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu Kỳ Na giáo ở Nam Ấn Độ. Mackenzie gia nhập Công ty Đông Ấn với tư cách là sĩ quan kỹ sư ở độ tuổi khá muộn, 28, và sau khi Vua Tipu của Mysore bị lật đổ vào năm 1799, ông đã dành một thập kỷ dẫn đầu một nhóm biên dịch viên, họa sĩ và nhà vẽ bản đồ trong một cuộc khảo sát.
lãnh thổ Mysore và Deccan mới giành được. Giống như Jones trước ông, Mackenzie đã nhanh chóng thừa nhận món nợ của mình với các học giả Bà-la-môn và Kỳ Na giáo tận tụy, những người đã làm trợ lý cho ông, và ông cũng không kém phần tận tụy với họ. “Mối liên hệ sau đó được hình thành với một người Bà-la-môn bản xứ”, ông sau này viết về sự khởi đầu của mối quan hệ này, “là bước đầu tiên đưa tôi vào cánh cổng của kiến thức Ấn Độ”; trong khi bản thân tôi không có bất kỳ kiến thức nào về Ấn ngữ, tôi nợ thiên tài này sự khích lệ và phương tiện để có được những gì tôi đã tìm kiếm từ lâu.’
Nhân vật Bà-la-môn được nhắc đến là một chàng trai 20 tuổi tên là Cavelli Venkata Boria, một học giả thuộc loại ‘thiên tài nhanh nhạy nhất’ đã dành bảy năm bên cạnh Mackenzie trước khi qua đời vì sốt: ‘Kể từ khi tài năng của Boria đáng thương được phát huy, một con đường tri thức Ấn Độ giáo đã được mở ra, và mặc dù tôi mất anh lúc tuổi anh còn nhỏ, nhưng tấm gương và những chỉ dẫn của anh đã được các bậc huynh đệ và môn đệ vận dụng một cách trọn vẹn, đến nỗi một tổ chức dần được hình thành, nhờ đó toàn bộ các tỉnh thành của chúng tôi có thể được phân tích theo phương pháp đã khởi nguồn một cách thuận lợi này. Tổ chức hạnh phúc này, bao gồm người Ấn, thợ vẽ thiết kế Anh được Mackenzie trả lương bằng tiền túi của mình, cho phép ông thỏa mãn niềm đam mê sưu tầm các bản thảo, tiền xu, bản vẽ, tác phẩm điêu khắc cũ và bất kỳ thứ gì khác lọt vào mắt xanh của ông.
Một trong nhiều văn bản Kỳ Na giáo được Mackenzie thu thập là Parisishtaparvan, tác phẩm của một học giả uyên bác thế kỷ thứ 12 tên là Acharya Hemachandra có thể được dịch một cách phóng khoáng là Cuộc đời các bậc Trưởng lão Kỳ Na giáo. Tác phẩm đã hé lộ thêm nhiều chi tiết về người sáng lập triều đại Maurya, các vị vua Magadha, dưới dạng một bản tường thuật chi tiết về quá trình Chandragupta lên nắm quyền với sự giúp đỡ của người Bà La Môn Chanakya. Trong phiên bản Kỳ Na giáo này, mẹ của Chandragupta xuất thân từ một cộng đồng chuyên nuôi công hoàng gia, mora trong tiếng Pali; mayura trong tiếng Phạn. Người chồng tộc trưởng của bà bị sát hại và bà buộc phải trốn đi cùng đứa con nhỏ Chandragupta. Một ngày nọ, cậu bé được một tu sĩ khổ hạnh Kỳ Na giáo, chính là Bà La Môn Chanakya cải trang. Chanakya bị vua Nanda xứ Magadha sỉ nhục, buộc phải chạy trốn cơn thịnh nộ của y, và giờ đang âm mưu lập kế trả thù. Thấy Chandragupta ra lệnh cho các cậu bé khác trong làng, ông nhận ra ở cậu ta tất cả những phẩm chất lãnh đạo cần thiết của một vị vua, nên đã bắt cóc và giáo dục cậu ta để sau này đảm nhận vai trò đó. Chanakya và Chandragupta cùng nhau phát động cuộc tấn công vào Pataliputra nhưng thất bại. Chanakya nhận ra sai lầm khi tấn công trực diện vào Nanda và sau khi rút lui về vùng Himalaya, ông lập liên minh quân sự với vua núi Parvataka. Liên minh sau đó bắt đầu một chiến dịch quân sự dài hơi, chiếm từng vùng một, cho đến khi cuối cùng chiếm được Pataliputra và buộc vua Nanda phải lưu vong.
Chandragupta kết hôn với một cô con gái của Vua Nanda và Parvataka lấy một cô khác, nhưng vị vua sau vô tình bị cô dâu mới đầu độc, để lại Chandragupta là người cai trị duy nhất và Chanakya giữ chức tể tướng. Sự kiện này được cho là diễn ra 155 năm sau khi Mahavira, người sáng lập Kỳ Na giáo, qua đời.
Đây là câu chuyện về sự trỗi dậy nắm quyền của Chandragupta rất giống với câu chuyện trong vở kịch thơ Chiếc Nhẫn Dấu Ấn của Quan Đại Thần, ngoại trừ văn bản Kỳ Na giáo có nhiều điều để nói hơn về nền cai trị của Chandragupta. Theo lời kể này, một vị đạo sư Kỳ Na giáo tên là Bhadrabahu đã dẫn dắt Vua Chandragupta vượt qua thời kỳ hỗn loạn và nạn đói kéo dài mười hai năm. Trong bối cảnh này, ông cũng dẫn dắt nhà vua tránh xa các thầy tu dị giáo – trong ngữ cảnh này, các tôn giáo khác ngoài Kỳ Na giáo, vì Cuộc đời các Trưởng lão Kỳ Na giáo và các văn bản Kỳ Na giáo khác đều nhất trí rằng vị hoàng đế vĩ đại Chandragupta đã kết thúc cuộc đời của mình như một tín đồ Kỳ Na giáo, thoái vị để trở thành đệ tử của Bhadrabahu và đi theo ông đến Nam Ấn.

Colin Mackenzie đứng cạnh các học giả Kỳ Na giáo và Bà-la-môn. Một chi tiết từ bức tranh sơn dầu của Thomas Hickey được thực hiện sau khi Mackenzie được bổ nhiệm làm Tổng Thanh tra. (APAC, Thư viện Anh)
Những mối quan hệ gần gũi của Mackenzie với các tín đồ Bà La Môn và Kỳ Na Giáo giúp giải thích tại sao ông gần như không hề biết về quá khứ Phật giáo của Ấn Độ cho đến tận cuối đời. Tuy nhiên, vào tháng 2 năm 1797, khi đang khảo sát địa hình vùng đất phía nam sông Krishna (phía đông Andhra Pradesh), Mackenzie nhận được báo cáo về “những cổ vật” được một vị vua địa phương phát hiện khi đang thu thập vật liệu xây dựng. Ông không mất thời gian mà lập tức chuyển hướng đến nơi ban đầu ông gọi tên là Amarapoor nhưng ngày nay được biết đến nhiều hơn với tên gọi Amaravati. Những cổ vật này được phát hiện khi các công nhân của vua bắt đầu đào một gò tròn rộng lớn gần như chứa toàn bằng gạch lớn. Họ phát hiện mô gò được bao quanh bởi một vòng tròn gồm những cột trụ và bia đá cẩm thạch lớn, với những bức phù điêu chạm trổ tinh xảo và tinh tế. Mackenzie rời khỏi khu vực với hai bàn tay không, nhưng trước đó ông đã có cơ hội chiêm ngưỡng một số bia đá được trang trí. Đặc biệt, có một bia đá khắc họa hình ảnh một vị vua cưỡi voi chỉ huy một cuộc tấn công vũ trang vào một thị trấn kiên cố, được Mackenzie đánh giá là tác phẩm điêu khắc tinh xảo nhất mà ông từng thấy ở Ấn Độ.
Nhiệm vụ chuyên môn đã khiến Mackenzie bận rộn ở nơi khác trong 17 năm tiếp theo, nhưng vào tháng 12 năm 1813, ông nghỉ phép ở địa phương và đi ngược sông Hằng trên Chuyến Lữ hành Lớn của riêng mình, ghé thăm các địa điểm cổ vật và, như thường lệ, thuê thợ vẽ thiết kế riêng để vẽ tranh và tô màu nước. Tại Delhi, ông đã đến thăm Cột đá Firoz Shah và những gì còn sót lại của cột trụ song hành trên Delhi Ridge. Tại Allahabad, ông nhìn thấy cột trụ thứ ba – và sau đó là cột thứ tư tại Bakhra (Vaishali) ở phía bắc Bihar. Tại Benares, ông đã đến thăm các tàn tích ở Sarnath, vẫn còn hoàn toàn không biết chúng thuộc về Phật giáo.
Lúc này, một trong hai công trình giống mộ đài tưởng niệm từng tồn tại ở đó vào thời Jonathan Duncan đã bị phá hủy để lấy vật liệu xây dựng. Công trình còn lại được Mackenzie mô tả là “Mộ đài tưởng niệm của Rajah Booth-Sain tại Sara-Nath”. Hình dạng tổng thể của nó không khác gì những gì ông đã thấy ở Amaravati năm 1797, nhưng ông đã không thể kết nối được.

Tượng đài bằng gạch và đá tại Sarnath do Shaikh Abdullah vẽ cho Colin Mackenzie vào tháng 1 năm 1814. Được mô tả là ‘Samaudh [mộ đài tưởng niệm] của Rajah Booth-Sain’, ngày nay được biết đến nhiều hơn với tên gọi là bảo tháp Dharmekh. (APAC, Thư viện Anh)
Khi Colin Mackenzie sau đó trở về Madras với tư cách là Tổng Thanh tra đầu tiên của Công ty Đông Ấn và với cấp bậc đại tá. Giờ đây, ông có đủ thẩm quyền và nguồn lực để làm bất cứ điều gì mình muốn, và vào tháng 3 năm 1816, ông trở lại gò đất ở Amaravati cùng một đội gồm 11 người vẽ bản đồ và khảo sát. Mackenzie vẫn còn tin rằng đó là đài tưởng niệm Kỳ Na giáo thời kỳ đầu, nhưng những chuyến đi đã cảnh báo ông về khả năng mình có thể sai. Ông vô cùng thất vọng khi phát hiện khu vực này gần như bị phá hủy hoàn toàn, toàn bộ lõi trung tâm bị đào xới để tạo thành một “bể chứa” hoặc hồ chứa nước rộng hàng trăm bộ vuông. Trong quá trình này, ba phần tư khối đá trang trí bao quanh đã biến mất, chỉ còn lại một phần nguyên vẹn. Trong số những bia đá điêu khắc mà ông nhìn thấy được khai quật vào năm 1797, một số đã được dùng để xây dựng một cầu thang tại một bể chứa nước gần đó, số khác được dùng làm vật liệu xây dựng cho ba công trình đền thờ và một số nhà thờ Hồi giáo: “Tóm lại,’ Mackenzie phàn nàn, ‘những bia đá quý giá từ thời cổ đại này đã được sử dụng trong nhiều công trình xây dựng, cả công cộng lẫn tư nhân; đặc biệt là những bia đá được sử dụng trong các nhà thờ Hồi giáo, trước tiên chúng đã được cẩn thận loại bỏ mọi chi tiết chạm khắc bằng cách chà xát chúng lên những viên đá cứng hơn.’ Từ những gì còn sót lại, Mackenzie có thể nhận ra rằng công trình này ban đầu chắc hẳn phải giống với mộ đài tưởng niệm mà ông đã thấy ở Sarnath – nhưng trên một quy mô lớn hơn nhiều – với việc bổ sung một lối đi vòng quanh dành cho nghi lễ với lan can đá bên trong và bên ngoài. Từ phần lan can còn lại, ông và người của mình đã tuyển chọn được hơn một trăm bia đá và cột trụ được chạm khắc tinh xảo, nhiều bia đá khắc họa những cảnh tượng phức tạp trong lịch sử hoặc thần thoại, không chỉ liên quan đến vua chúa mà còn cả việc thờ phụng một loạt các vật thể đáng chú ý: cây cối, ngai vàng, ô, bánh xe ngựa, những cặp dấu bàn chân, các vị thần ngồi dưới sự bảo vệ của rắn hổ mang và trên hết là những cấu trúc hình mái vòm lớn tương tự như bảo tháp mà Mackenzie đã nhìn thấy ở Sarnath và có vẻ như được mô phỏng theo chính gò đất Amaravati có thể đã từng xuất hiện vào thời hoàng kim của nó.
May mắn thay cho thế hệ sau, những người vẽ bản thảo của Mackenzie đã tạo ra một số bản vẽ tuyệt vời (hiện được lưu giữ tại Thư viện Anh trong một album) trước khi họ chuyển đi, trong khi Mackenzie tự mình sắp xếp chuyển khoảng 82 bia đá và cột xuống Masulipatam để vận chuyển đến Calcutta. Bảy bia đá và cột đá đã được chuyển đến bảo tàng của Hội Châu Á, phần lớn số còn lại được Trợ lý Sưu tập của Masulipatam trưng dụng để trang trí một công trình kỳ lạ ở quảng trường thị trấn, sau này được gọi là ‘Núi của Ông Robertson’. Khi nhà khảo cổ tiếp theo đến Amaravati, phần lớn những gì còn lại đã được ‘mang đi và đốt thành vôi’.

Một trong số 90 bức vẽ về tác phẩm điêu khắc Amaravati do Murugesa Moodaliar thực hiện ở Madras vào năm 1853. Bức vẽ cho thấy ba vật thờ cúng: một bảo tháp (phía trên), một Dharmachakra, hay ‘Bánh xe Pháp’ (ở giữa), và cây Bồ đề với Vajrasana, hay ‘Ngai Kim cương’, ở gốc cây. (APAC, Thư viện Anh)
Người ta để lại cho các thế hệ tương lai nhiệm vụ xác định toàn bộ ý nghĩa của Amaravati, có lẽ là đài tưởng niệm Phật giáo tinh xảo nhất từng được dựng lên ở Ấn Độ. Mackenzie và những người cùng thời không biết phải hiểu thế nào về biểu tượng được thể hiện trên những tác phẩm điêu khắc tráng lệ này. Họ cũng không nhận thấy rằng nhiều bia đá trang trí đầu tiên đã được tái chế, lật úp lại và khắc những cảnh vật mới lên mặt sau của chúng, thành ra những cảnh cũ bị che giấu khỏi tầm nhìn.
Một trong những bia đá đầu tiên này hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Guimet ở Paris (xem bên dưới). Mặc dù bị hư hại nặng nề và chưa hoàn thiện, vẫn còn đủ để khắc họa hình ảnh một vị vua đứng cạnh hai nhân vật nam nhỏ hơn đang đối diện với ông với hai tay chắp vào nhau theo tư thế anjali mudra, “cử chỉ tôn kính”. Nhà vua – rõ ràng là có một cái bụng bia phía trên vải thắt eo, đã tạo một tư thế ấn tượng, tay phải giơ lên và tay trái nắm chặt lấy ngực. Phía sau ngài, trên đỉnh một cây cột, có một bánh xe nhiều nan hoa, cùng với một cây cột thứ hai cao hơn nhiều, bị gãy ở đỉnh nhưng rất giống với cột trụ Firoz Shah và những cây cột tương tự. Một con ngựa có thắng yên cương nhưng không có người cưỡi đứng dưới chân nhà vua. Một bên là một phần của công trình kiến trúc giống như đền thờ và một phần hình ảnh vẫn còn sót lại của một phụ nữ đẫy đà đang nắm chặt cành cây. Khuôn mặt của cả ba hình tượng nam dường như đã bị cố tình làm hỏng.

Phù điêu Chakravartin bị phá hoại, mô tả một ‘Chuyển Luân Thánh Vương’ ban phát một chính quyền nhân từ cho toàn thể dựa trên Pháp. (Bảo tàng Guimet, Paris)
Một phiên bản đơn giản hơn của cảnh tượng kỳ lạ này được thể hiện trong một bức vẽ của thợ vẽ người bản xứ Murugesa Moodaliar. Ở khung trên, một vị vua được phục dịch bởi hai người nam bên trái và hai người nữ bên phải, một con voi và một con ngựa hầu cận. Nhà vua giơ tay phải lên và bàn tay trái nắm chặt, giống như trong bức chạm khắc đầu tiên. Ở đây, khuôn mặt ngài cũng bị tẩy xóa. Người quan sát tinh tường sẽ nhận thấy những điểm tương đồng khác. Ở bức tranh dưới, một vị vua đang ngồi trên ngai vàng, bên dưới là một hoàng hậu, với một người cầm ô hầu cận (chiếc ô biểu thị cho hoàng gia). Vật thể mà bây giờ chúng ta nên gọi là Dharmachakra, hay ‘Bánh xe Pháp’ được trưng bày phía sau Ngài, dưới chân Ngài là hai nhà sư dâng lên một bình bát khất thực mà Ngài đã đổ đầy. Một lần nữa, một con voi và một con ngựa lại hiện diện. Rõ ràng, có một mối liên hệ giữa các bức tranh trên và dưới.

Hai phù điêu từ Đại Bảo Tháp ở Amaravati, được vẽ bởi Murugesa Moodaliar ở Madras vào năm 1853. Bức phù điêu gốc hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Chennai. (APAC, Thư viện Anh)
Tầm quan trọng của những bia đá đặc biệt này như những tài liệu lịch sử chỉ bắt đầu được nhận ra sau một loạt các cuộc khai quật muộn hơn nhiều tại Amaravati và khu vực xung quanh, được thực hiện bởi nhà khảo cổ học chuyên nghiệp James Burgess vào đầu những năm 1880. Chính ông là người đầu tiên nhận thấy một số bia đá còn sót lại đã được chạm khắc ở cả hai mặt và bản thân công trình đã bị “phá hủy dữ dội” vào giai đoạn đầu, có lẽ vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, khi triều đại Satavahana đang trong quá trình xâm chiếm để lấp đầy khoảng trống do triều đại Maurya để lại. Sau đó, di tích đã được trùng tu và một hàng cột bao quanh với bốn cổng được thêm vào, chỉ được mở rộng thêm vài thế kỷ sau đó khi thành phố Dhanyakataka gần đó trở thành thủ đô của những người cai trị Satavahana của xứ Andra.
Thất vọng với những gì tìm thấy ở Amaravati, Burgess tiếp tục khảo sát những phế tích rộng lớn được tìm thấy trên cả hai bờ sông Krishna, thượng nguồn Amaravati. Nhiều di tích hóa ra là các tu viện Phật giáo, mà theo Burgess, đã chịu chung số phận với bảo tháp Amaravati. Một đài tưởng niệm Phật giáo tại Jaggayyapeta, cách Amaravati khoảng 30 dặm về phía thượng nguồn, ít bị hư hại hơn so với phần còn lại. Được người dân địa phương gọi là ‘Đồi Thịnh Vượng’, nó hóa ra là một phiên bản thu nhỏ của công trình Amaravati. Bốn cổng vào, hàng cột bao quanh và hầu hết các bia đá đều đã biến mất, nhưng một số bia đá bị đổ nằm trên mặt đất đã bị bỏ qua. Burgess viết trong một báo cáo ngắn gọn rằng: ‘Trên một số ít, có những hình chạm khắc nổi rất nông và có hình dạng cổ xưa. . . Một số ký tự trên các bia đá khác thuộc loại Maurya và có niên đại khoảng năm 200 đến 170 trước Công nguyên
Burgess đã cho vẽ lại những tấm bia khắc đẹp nhất trong số này và bổ sung vào báo cáo chính thức của mình. Đây là phiên bản tinh vi hơn nhiều so với những cảnh được thể hiện trên tấm bia bị hư hại từ Amaravati ở Bảo tàng Guimet và trên bảng phía trên của tấm bia đá Amaravati ở Bảo tàng Chennai.
Cả ba cảnh này đều miêu tả một Chakravartin hoặc ‘Chuyển Luân Thánh Vương’. Khái niệm về vị Chuyển Luân Thánh Vương chinh phục thế giới bắt nguồn từ văn học Vệ Đà sơ khai, với vai trò là vị vua tạo ra một thời đại, và từ đó tuôn chảy trật tự đạo đức, hạnh phúc và quyền lực dựa trên quy luật vũ trụ. Trong bối cảnh Bà La Môn giáo, ngài sử dụng luân xa, một vũ khí hình đĩa, để tiêu diệt kẻ thù, và sau này trở thành công cụ của thần Vishnu với sự phát triển của Ấn Độ giáo.
Tuy nhiên, những hình ảnh từ Amaravati và các vùng lân cận cho thấy Chuyển Luân Thánh Vương đã được Phật tử tiếp nhận và biến thành của riêng minh. Ở đây, Chakravartin là một đối trọng thế tục của Đức Phật, người chỉ chinh phục bằng sức mạnh đạo lý khi thực hành Pháp của Ngài.
Phù điêu Jaggayyapeta cho thấy một Chakravartin, hay Chuyển Luân Thánh Vương’, được bao quanh bởi nhiều biểu tượng khác nhau: dưới chân ngài, một con ngựa thắng yên và một con voi, cả hai đều tượng trưng cho Đức Phật; trên đầu ngài là một chiếc ô tượng trưng cho hoàng gia; bên trái là cố vấn và thủ quỹ của ngài; bên phải là một hình tượng yakshi sinh sôi nảy nở; và ở phía sau là một bánh xe Pháp trên một cột trụ và một biểu tượng ngọc quý Phật giáo trên trụ thứ hai. Đức Chakravartin đã giơ tay khiến vàng rơi xuống từ trên mây.
Bia đá thứ tư từ Amaravati hoàn thiện bức tranh. Hiện nay, nó là một phần của phòng trưng bày đá cẩm thạch Amaravati tại Bảo tàng Anh và có niên đại từ giai đoạn cuối của Amaravati. Ở đây, bức tượng Chuyển Luân Thánh Vương được trang trí lộng lẫy và khoác trên mình chiếc áo choàng bằng lụa mỏng tinh xảo nhất, địa vị của Ngài được thể hiện qua chiếc ô hoàng gia do nữ tỳ phía sau cầm. Giờ đây, Ngài chỉ có một cận thần, và hoàng hậu của Ngài, và nữ thần Dạ Xoa, hay nữ thần sinh sản, cầm vợt đuổi ruồi, đứng bên vai trái nhà vua.
Điều khác biệt về bức chân dung này của bậc Chuyển Luân Thánh Vương là ngài được thể hiện trong một hành động tôn kính và hướng mặt ra ngoài, về phía người xem. Đối tượng mà ngài tôn kính đã mất. Vật được chạm khắc trên tấm bảng ngay phía trên ngài – đã không thể tồn tại sau những hư hại gây ra cho Amaravati. Bia đá cẩm thạch tráng lệ này lần đầu tiên được trưng bày tại Triển lãm Paris năm 1867, nhưng ý nghĩa trọn vẹn của nó chỉ được nhận ra 60 năm sau đó.

Phù điêu Chakravartin, có lẽ có niên đại từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, một kiệt tác hiện đang được trưng bày tại phòng trưng bày đá cẩm thạch Amaravati của Bảo tàng Anh. (Bảo tàng Anh)
Những hình ảnh còn sót lại từ Amaravati cho chúng ta biết rằng tín ngưỡng thờ phụng Đức Chuyển Luân Thánh Vương đã được thiết lập vững chắc trong truyền thống Phật giáo Đại thừa ở Ấn Độ từ rất sớm. Từ Ấn Độ, sẽ lan rộng về phía bắc đến Trung Quốc và xa hơn nữa.