
Trần Quang Nghĩa dịch
4 Rồi Alexander Bước Vào

Một đồng bạc do Alexander Đại đế phát hành vào khoảng năm 324 TCN khi ông trở về Babylon để ăn mừng chiến thắng ở Ấn Độ. Mặt trước (bên trái) khắc họa Nike, nữ thần chiến thắng, cầm một vòng nguyệt quế phía trên Alexander, người mặc áo giáp đầy đủ và đội mũ sắt Ba Tư. Đây là hình ảnh duy nhất còn sót lại của Alexander Đại đế từ thời ông. Mặt sau (bên phải) là một kỵ binh đang giao chiến với hai chiến binh cưỡi voi, tái hiện khoảnh khắc trong trận Hydaspes khi vua Poros của Ấn Độ bị thương bởi một kỵ binh Hy Lạp. (Bảo tàng Anh)
Cuộc xâm lược của Alexander vào Ấn Độ bắt đầu vào mùa đông năm 327-326 TCN. Trong 20 tháng trước đó, ông đã tiêu diệt Darius, hoàng đế Achaemenid cuối cùng của Ba Tư và tự xưng là vua của các vua thay thế ông ta. Alexander đã truy lùng và xử tử viên phó vương nổi loạn người Bactria là Bessos, kẻ đã giết Darius. Bất cứ nơi nào ông đặt chân đến, ông đều cho xây dựng những thành phố mới mang tên mình, bao gồm Alexandria ở Arachiosa (ngày nay là Kandahar, đúng hơn là Iskandahar), Alexandria bên dưới dãy núi Kaukasos (nay là Begram, phía nam dãy Hindu Kush), và Alexandria Eschate, hay ‘Xa nhất’ (nay là Tajikistan). Nhưng chừng đó vẫn chưa đủ, và ông đã nghĩ đến Ấn Độ – theo sử gia Herodotus, là quốc gia đông dân nhất và giàu có nhất mà thế giới từng biết.
Không có đội quân nào được đào tạo bài bản như lực lượng hành quân theo tiếng trống của Alexander, đặc biệt là những sĩ quan kỵ binh được gọi là các Chiến hữu, chỉ huy cánh quân hoàng gia và tám đội kỵ binh khác, và các chỉ huy bộ binh được gọi là các Chiến binh Mang Khiên, lực lượng tiên phong dẫn đầu đội hình phalanx bên phải của quân đội Alexander. Một số là bạn của Alexander từ thời thơ ấu và đã theo học tại trường Mieza, nơi triết gia Aristotle xứ Stagira đã chủ trì việc học hành của Alexander, dạy kèm ông từ năm 13 tuổi về triết học, đạo đức, luận lý, khoa học, toán học, y học và nghệ thuật. Tại Mieza, Alexander đã học được rằng điều phân biệt người Hy Lạp và người Macedonia với dân tộc khác chính là tinh thần ham học hỏi. Nhưng việc học của ông đã bị gián đoạn khi cha ông, vua Philip, lên đường chiến đấu chống lại Byzantium. Từ đó trở đi, Alexander quá bận rộn với việc bảo vệ hoặc mở rộng vương quốc của Philip nên không còn mấy quan tâm nhiều đến đạo đức học của Aristotle.
Cuộc tiến quân phi thường của Alexander vào châu Á không có gì đáng khích lệ về mặt đạo đức, nhưng ít nhất nó cũng phù hợp với khẳng định của Aristotle rằng “Bản chất con người ai cũng khao khát hiểu biết”. Ít nhất 16 thành viên tháp tùng Alexander được biết là đã viết lại chuyến hành trình phi thường về phương Đông đó. Không có lời kể của nhân chứng nào trong số này còn sót lại trong bản gốc, nhưng vẫn còn đủ tư liệu có thể tiếp cận được vào thời kỳ cuối của nền cộng hòa và đế quốc La Mã để các nhà sử học Hy Lạp và La Mã khai thác chúng cho các phiên bản của riêng họ về cuộc phiêu lưu về phía đông của Alexander, trong đó có năm phiên bản còn sót lại để Sir William Jones đọc, cùng nhau cung cấp một bản tường thuật chi tiết, mặc dù có mâu thuẫn, về cuộc xâm lược Ấn Độ của Alexander.
Sau khi quyết định tiến lên, Alexander đã cử sứ giả đến gặp tất cả những người cai trị địa phương để kêu gọi họ hãy phục tùng quyền lực của ông. Những người có lãnh thổ nằm trên đồng bằng có dư dả thời gian để suy ngẫm về cuộc tiến quân không ngừng nghỉ của Alexander qua châu Á và đã đáp lại một cách nhanh chóng. Thậm chí còn có những lời khẳng định về tình hữu nghị nồng ấm nhất từ một vị vua Ấn Độ mà người Hy Lạp sau này gọi là Omphis xứ Taxila, vị vua có lãnh thổ trải dài về phía đông từ sông Indus (sông Ấn) đến sông Hydaspes (ngày nay là Jhelum). Vua Omphis rất háo hức thể hiện thiện chí của mình khi vượt sông Indus để gặp Alexander, mang theo lễ vật bao gồm 25 con voi chiến, đây là những món quà có ý nghĩa, vì đây là xe tăng chiến đấu thời bấy giờ.
Tuy nhiên, các bộ lạc miền núi Aspasioi và Assakenoi – có lẽ bắt nguồn từ tiếng Phạn aswa, tức là ‘ngựa’, và aswasenis, ‘kỵ binh’ – đã từ chối đầu hàng. Sau đó, Alexander chia đôi quân đội của mình ra, cử một lực lượng tiến xuống qua hẻm núi ngày nay được gọi là Đèo Khyber đến thủ đô mùa đông của Gandhara tại Peukelaotis (Pushkalavati, nay là Charsadda, ngay phía trên nơi hợp lưu của Sông Swat và Sông Kabul) trong khi bản thân ông dẫn đầu đội quân tinh nhuệ nhất của mình đi theo một tuyến đường xa hơn về phía bắc vào vùng núi.
Chiến dịch mùa đông tiếp theo diễn ra nhanh chóng và tàn khốc theo kiểu của Alexander. Thị trấn Aspasian đầu tiên nằm ngang đường tiến quân của Alexander không chịu đầu hàng và mọi cư dân đều bị giết sạch; thành phố thứ hai chỉ chống cự được một thời gian ngắn trước khi mở cổng thành. Người Hy Lạp đổi tên thành phố thứ hai này là Nysa, vì nó được bao quanh bởi một ngọn núi phủ đầy dây thường xuân và dây leo, gợi nhớ đến ngọn núi linh thiêng dành cho thần Dionysus của họ.
Các nhà sử học Arrian, Justin và Curtius đều kể cùng một câu chuyện, đó là Nysa đứng dưới chân một ngọn núi tên là Đỉnh Meros, nơi sau đó được quân đội của Alexander chiếm đóng trong mười ngày tiệc tùng khao quân thâu đêm. Sau khi quân lính được nghỉ ngơi đầy đủ, Alexander tiếp tục chiến dịch trên núi, kết thúc bằng cuộc tấn công vào núi đá lớn Aornos, một ngọn núi được cho là bất khả xâm phạm, đã đánh bại chính Heracles [Trong thần thoại La Mã, vị anh hùng này được gọi là Hercules, là một bán thần và là con của Thần Zeus, tên ông được đặt cho chòm sao Hercules. Những chiến công của Heracles vang dội khắp bốn phương, mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho sức mạnh chinh phục thiên nhiên của con người thời xưa]. Tại đây, những người Aspasioi và Assakenoi đã tập hợp để lập nên trận địa cuối cùng.
Tên gọi của khối núi lớn này có thể bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp aornos, nghĩa là “không có chim chóc”, nhưng nhiều khả năng bắt nguồn từ tiếng Phạn awara, nghĩa là “hàng cọc chắn”; do đó có tên là Núi Pháo Đài. Được Arrian mô tả là “một khối đá hùng vĩ được cho là có chu vi khoảng 200 stadia [1 stadium = 607 bộ] và độ cao thấp nhất là 11 stadia”, khối núi Aornos nhìn ra đồng bằng Gandhara và sông Ấn ở yđiểm giao cắt xa nhất về phía bắc. Điều này có nghĩa là phải chiếm được Aornos trước khi Alexander có thể tiến xa hơn về phía đông.
Alexander bắt đầu vây hãm Núi Pháo Đài, đắp một công sự bằng đất để bắc cầu qua khe núi ở một bên, trong khi một toán quân do Ptolemy, một trong những chỉ huy của Đội Quân Mang Khiên của Alexander, chỉ huy, bắt đầu leo lên vách đá ở điểm thứ hai. Đến ngày thứ ba, công sự đã hoàn thành và bản thân Alexander đã chỉ huy mũi tấn công chính, dẫn đến một cuộc tháo chạy và thảm sát. ‘Alexander đã trở thành chủ nhân của núi đá,’ Arrian tuyên bố. ‘Ông đã làm lễ hiến tế trên đó và xây dựng một pháo đài, giao quyền chỉ huy quân đồn trú cho Sisikottos, trước đây ở Bactria đã đào ngũ khỏi phe Ấn Độ để đến với Bessos, nhưng sau khi Alexander chinh phục vùng đất Bactria, y đã phục vụ trong quân đội của Hy Lạp và chứng tỏ mình là một người đáng tin cậy.’
Tên Ấn Độ đào ngũ được giao phó cai quản Aornos, y đươc sử gia Arrian “Hy Lạp hóa” dưới tên Sisikottos, nhưng được sử gia Curtius La Mã gọi thành Sisocostus. Hai người rõ ràng là một, bởi sử gia La Mã kết thúc câu chuyện chiếm Aornos theo cách tương tự như sử gia Hy Lạp: “Trên núi đá, nhà vua dựng lên những áng thờ dành riêng cho Nữ thần Minerva và Victory. Đối với bọn hướng đạo đã chỉ đường… ngài đã vinh dự trả công xứng đáng …. Việc bảo vệ núi đá và vùng đất xung quanh được giao cho Sisocostus.’
Tất cả các tài liệu còn sót lại đều ghi chép rằng lính đánh thuê Ấn Độ được người Aspasioi, Assakenoi và các dân tộc miền núi khác sử dụng và không hề do dự khi đổi phe. Alexander đã tận dụng triệt để các kỹ năng quân sự của họ trước khi coi họ là mối đe dọa, và sau đó ông đã xử lý họ một cách tàn nhẫn đến mức khiến Plutarch phải buộc tội ông
về hành động phản trắc của mình: ‘Khi quân lính đánh thuê người Ấn, bao gồm những chiến binh giỏi nhất có thể tìm thấy ở đất nước này, đổ xô đến các thành phố mà ông tấn công, khiến ông gặp phải tổn thất nghiêm trọng và do đó đã ký kết một hiệp ước hòa bình với họ; nhưng sau đó, khi họ rời đi, ông đã đột kích họ trên đường đi và giết chết tất cả.’
Sisikottos/Sisocostus là một trong những lính đánh thuê người Ấn như vậy – y ban đầu chiến đấu cho phó vương Ba Tư Bessos ở Bactria chống lại Alexander trước khi chuyển sang chiến đấu cho quân Hy Lạp, nơi phẩm chất lãnh đạo của y rõ ràng đã khiến Alexander coi y là “một người đáng tin cậy”. Tầm quan trọng của tên y đã bị Sir William Jones, cũng như nhiều nhà nghiên cứu lịch sử Ấn-Hy Lạp sau Jones, bỏ qua.
Với việc chiếm được Núi Đá Aornos và tuyến đường tiếp tế của ông được bảo đảm an toàn, Alexander giờ có thể tập hợp lực lượng và vượt sông Indus, nơi ông thực hiện nghi lễ hiến tế theo truyền thống trước khi hành quân đến Taxila, một “thành phố vĩ đại và thịnh vượng, thực sự là thành phố vĩ đại nhất trong số tất cả các thành phố nằm giữa sông Indus và Hydaspes”. Tại đây, ông và quân Macedonia được Vua Omphis và thần dân của ông ta chào đón nồng nhiệt. Vua Ấn Độ đã ban tặng Alexander nhiều quà tặng, bao gồm 56 thớt voi khác, một số cừu có kích cỡ phi thường, 3.000 bò đực, rất nhiều ngũ cốc, vương miện vàng và 80 ta-lăng bạc đúc. Alexander rất hài lòng trước lòng hào phóng của vua Taxila đến nỗi ông đã trả lại quà tặng với lòng biết ơn và tặng lại ‘một ngàn ta-lăng từ chiến lợi phẩm mà ông mang theo, cùng với nhiều bình đựng rượu bằng vàng và bạc, một lượng lớn vải vóc Ba Tư và 30 con ngựa chiến từ chuồng ngựa của mình’ – một cử chỉ ngoại giao mà theo Quintus, đã gây ra ‘sự xúc phạm sâu sắc nhất đối với chính các chiến hữu của ông’.
Bất chấp tính tàn nhẫn, cơn cuồng nộ khi say rượu và chứng hoang tưởng ngày càng tăng của Alexander, ông vẫn là học trò của Aristotle, như nhà sử học Arrian thừa nhận khi mô tả cách ông đã nỗ lực tìm hiểu về nhiều loại giáo phái khác nhau trong xã hội Ấn Độ, trong đó quan trọng nhất được cho là Giáo phái Brachmanes và Sarmanes. (Bà-la-môn giáo và Sa-man giáo). Người trước được tôn kính vượt bậc và William Jones không gặp khó khăn gì khi đồng nhất họ với đẳng cấp tu sĩ Bà La Môn. Tuy nhiên, Sarmanes khó hiểu hơn (từ này bắt nguồn từ tiếng Phạn shramana, hay “tu sĩ lang thang”, (một thuật ngữ bao hàm đủ mọi thành phần, từ tu sĩ Phật giáo và Kỳ Na giáo đến các saddhus tu sĩ khổ hạnh Ấn Độ giáo và Ajivikas vô thần). Không giống như Brachmanes, những Sarmanes này sống độc thân và những người được kính trọng nhất trong số họ sống xa trung tâm dân cư, mặc quần áo rách rưới và sống bằng lá và trái cây dại.
Với Omphis là đồng minh địa phương được đảm bảo, Alexander tiếp tục tiến về phía đông đến bờ sông Hydaspes, phía bên kia là vùng đồng bằng rộng lớn do vua Ấn Độ cai trị, được người Hy Lạp gọi là Poros. Đáp lại lệnh của Alexander, đến gặp mình bên bờ sông Hydaspes và chịu thuần phục, Poros trả lời đúng là ông ta sẽ gặp Alexander tại đó, nhưng với một đội quân hùng mạnh hơn Alexander gấp nhiều lần. Không hề nao núng, Alexander đã dùng mưu đánh lừa Poros bằng cách tập trung quân đội tại một điểm trong khi lực lượng chủ lực của ông vượt sông ở một điểm khác mà địch không hay biết vì Alexander chuyển quân trong đêm dưới sự che chở của một cơn mưa nặng hạt. Điều này cho ông thời gian để sắp xếp đội hình và tấn công trước khi vua Ấn Độ kịp sắp xếp lại quân đội. Khi quân Hy Lạp tiến lên, nhìn thấy đàn voi trận của Poros, hàng ngũ quân sĩ liền dao động. Tuy nhiên, mối đe dọa thực sự đến từ tiền quân của Poros: 4.000 kỵ binh và 100 cỗ xe bốn ngựa, mỗi cỗ chở hai cung thủ, hai chiến sĩ mang khiên và hai lính đánh xe trang bị phi tiêu. Nhưng chẳng mấy chốc, rõ ràng là những cỗ xe này quá nặng nề để di chuyển trên mặt đất lầy lội, nên kỵ binh của Alexander đã chớp thời cơ và đột kích, buộc quân Ấn phải rút lui, kỵ binh quay trở lại cản trở đàn voi xông lên
Mỗi khi đám voi cố gắng thoát ra, kỵ binh của Alexander lại dùng phi tiêu tấn công, buộc chúng phải rút lui. Việc chúng rút lui cho phép Alexander đưa đội hình phalanx tiến lên, khiên của họ được liên kết với nhau. Đầu tiên là kỵ binh Ấn, rồi đến bộ binh, bị đánh tan tác, ‘vì quân Macedonia giờ đang áp sát họ từ mọi phía. Thế là bọn địch tháo chạy.’
Trong số những người thoát chạy có Vua Poros, bị thương ở vai. Thấy voi của ông ta rời khỏi chiến trường, Alexander cử Vua Omphis xứ Taxila rượt theo để dàn xếp hòa bình, theo lời kể của Arrian. ‘Taxiles [Omphis] cưỡi ngựa, tiến đến con voi chở Poros gần nhất có thể, và yêu cầu ông ta dừng lại và lắng nghe thông điệp của Alexander. Nhưng Poros, phát hiện ra sứ giả không ai khác hơn là cựu thù Taxiles của mình, ông quay lại và chuẩn bị phóng ngọn giáo vào y.’ Mặc dù bị cự tuyệt, Alexander vẫn tiếp tục cử sứ giả này đến sứ giả khác đến gặp Vua Poros, ‘và cuối cùng là Meroes, một người Ấn Độ, vì ông biết rằng Poros và Meroes này là bạn cũ’.
Chính Meroes, người Ấn, cuối cùng đã thuyết phục được Vua Poros ra đầu hàng. Tất cả các tài liệu còn sót lại đều kể lại phẩm cách của nhà vua trong hoàn cảnh thất trận đã khiến Alexander cảm phục đến nỗi ông không chỉ bổ nhiệm Poros làm thống đốc vương quốc cũ của mình mà còn thêm lãnh thổ cho vương quốc của Poros.
Không còn tin tức gì về nhân vật Meroes bản địa nữa. Tuy nhiên, tên của ông có thể được hiểu là ‘của Mero’, gợi ý rằng ông ta là một lính đánh thuê người bản địa đến từ vùng núi Meros, nơi diễn ra lễ hội khao quân kéo dài mười ngày của người Hy Lạp. Và khi Meroes người Ấn biến mất khỏi trận chiến thì tướng đánh thuê người Ấn Sisikottos lại xuất hiện, bởi vì khi Alexander tập hợp lại quân đội sau trận chiến, ông nhận được tin tức về một cuộc nổi loạn từ vùng núi mà ông vừa mới chinh phục. Tin tức này đến từ Sisikottos, chỉ huy đánh thuê người Ấn được bổ nhiệm làm quản lý địa phương của vùng núi Aornos. Phản ứng của Alexander là cử một đội quân dưới quyền một trong những vị tướng giỏi nhất của mình, Philippos, để lập lại trật tự cho tỉnh.
Cuộc nổi loạn của người Assakenian không làm suy yếu quyết tâm của Alexander Đại Đế muốn tiếp tục tiến quân về phía đông cho đến khi bị biển cả chặn lại. Nhưng khi ông chuẩn bị tiến qua Punjab, ông được cảnh báo rằng toàn bộ đất nước bên kia sông Hyphasis (nay là Beas) đang nằm dưới quyền cai trị của một vị vua toàn năng duy nhất, được sử gia Hy Lạp gốc Sicilia Diodoros Siculos gọi tên là Xandrames còn Curtius gọi tên là Aggrames. Ông cai trị hai dân tộc, Gangaridae và Prasii, sống ở hai bên bờ sông Hằng, và ông duy trì một đội quân thường trực hùng mạnh: ‘20.000 kỵ binh và 200.000 bộ binh, bên cạnh 2000 cỗ xe bốn ngựa, và đáng gờm nhất là một đội quân voi trận có tới 3000 con’.
Khi Alexander hỏi ý kiến của Poros, Poros tuyên bố thông tin là chính xác, thêm vào đó là vị vua Ấn Độ toàn năng này là ‘một người xuất thân chẳng ra gì, không được ai tôn trọng, vì được cho là con trai của một người thợ cạo’. Người thợ cạo này đã trở thành tình nhân của hoàng hậu và âm mưu cùng bà ám sát nhà vua để chiếm đoạt ngai vàng, sau đó y đã sát hại tất cả các hoàng tử. Sau đó, con trai y lên kế vị là Vua Xandrames.
Sau khi binh sĩ Macedonia của ông từ chối vượt qua Hyphasis, Alexander bực dọc giống như Achilles (nhân vật anh hùng trong trận chiến Thành Troy), nhốt mình trong lều suốt hai ngày trước khi xuất hiện, ra lệnh dựng 12 áng thờ bằng đá vuông để làm tượng đài cho cuộc viễn chinh. Sau đó, ông cho quân đội lên đội thuyền do đô đốc Nearchos đóng để bắt đầu hành trình trở về qua sông Hydaspes và sông Indus. “Giờ đây, với ý định tiến ra biển cả với hàng ngàn con thuyền”, Plutarch viết, “ông chia tay Porus và Taxiles . . . trong mối quan hệ hữu nghị, được củng cố bởi một liên minh hôn nhân, và . . . ông khẳng định chủ quyền của họ.’ Ông cũng để lại hai vị tướng chiến đấu giỏi nhất của mình: người bạn cũ Philippos làm thống đốc Gandhara, và Eudemos, chỉ huy cấp cao của đội Quân Mang Khiên, để hỗ trợ Vua Omphis của Taxila và chắc chắn cũng để theo dõi ông ta.
Nhiều bộ tộc Ấn phải bị khuất phục và nhiều thành phố bị cướp phá trước khi Alexander và quân của ông đến được bờ biển (Ả Rập), tại đó Alexander đã đưa ra một quyết định định mệnh là dẫn quân qua sa mạc Gedrosia (ngày nay là Sind), chịu tổn thất lớn về sinh mạng, khiến cho đội quân hoàn toàn suy sụp tinh thần và cuối cùng đã đến được nơi an toàn tại Karmania (ngày nay là đông nam Ba Tư) vào những tháng cuối năm 325 TCN.
Bất chấp những cuộc vui mà quân lính của ông đã ăn mừng khi trở về Ba Tư, Alexander có rất ít lý do để ăn mừng. Khắp nơi đều có tin các phó vương Hy Lạp mà ông để lại làm thống đốc địa phương đã lạm dụng quyền hành hoặc tự xưng là những nhà cai trị độc lập. Nhưng tin xấu nhất là người bạn cũ Philippos của ông, thống đốc Gandhara, đã bị giết: “Vị phó vương của đất nước Ấn Độ”, Arrian viết, “đã bị bọn lính đánh thuê âm mưu chống lại và bị sát hại một cách xảo quyệt.” Sau đó, Alexander viết thư cho Eudemos và Vua Omphis
của Taxila, hướng dẫn họ đến đảm nhận việc cai quản Gandhara. Ông cũng đã viết cho tất cả các thống đốc và chỉ huy quân đội trên khắp đế chế của mình, ra lệnh giải tán bọn lính đánh thuê ngay lập tức.
Một trong những chỉ huy đánh thuê này là Sisikottos người Ấn Độ, từng giữ chức cai quản địa phận Aornos dưới thời Philippos và có thể có liên quan đến cái chết của ông ta.
Khi Alexander tiến về phía tây qua Ba Tư, đoàn quân của ông được bổ sung thêm nhiều đội quân mà ông đã để lại làm đồn trú trước đó. Tại Persepolis, ông viếng thăm lại tàn tích của cung điện hoàng gia và bày tỏ sự hối tiếc về sự tàn phá mà ông đã gây ra trước đó. Sau đó, ông hành quân đến Susa, kinh đô lớn nhất trong ba kinh đô của Ba Tư, nơi vào cuối mùa xuân năm 324 TCN, ông đã tổ chức một đám cưới tập thể tại Persepolis.
Alexander đã thực hiện một số nghi lễ tôn giáo cho bản thân và các chiến hữu của mình nhằm mục đích sáp nhập các sĩ quan Macedonian vào giới quý tộc Ba Tư. Bản thân Alexander cũng kết hôn với trưởng nữ của Vua Darius, Roxane, và người bạn thân nhất của ông, Hephaeston, kết hôn với một cô em gái. Các con gái khác của các hoàng tộc Ba Tư và Medea cùng các quý tộc họ hàng đều kết hôn với không dưới 80 Chiến hữu của Alexander. Những binh lính Macedonia đã lấy các cô vợ bản địa được lệnh phải trình diện để đăng ký kết hôn, và không dưới 10.000 người đã làm như vậy.
Trong số những người tham gia lễ cưới tập thể tại Susa có vị tướng người Macedonia Seleukos, theo mọi lời kể, ông là một con người mạnh mẽ và dũng cảm, đã chiến đấu cùng Alexander trong nhiều trận chiến ác liệt nhất của ông và, theo lời kể của Arrian, đã chỉ huy Đội quân Mang Khiên chống lại Vua Poros. Phần thưởng Seleukos nhận được là nàng Apama, con gái của Spitamenes, thủ lĩnh Ba Tư đáng gờm nhất đã chống lại Alexander trong các chiến dịch Oxus và Jaxartes.
Alexander lúc này chỉ mới 31 tuổi nhưng đã có những dấu hiệu suy yếu rõ rệt về thể chất và tinh thần, một phần do thói quen uống rượu quá độ cũng như hậu quả của những vết thương mà ông phải chịu đựng. Trong vòng 14 tháng, ông qua đời, cái chết của ông tại Babylon vào mùa hè năm 323 TCN, rất có thể là do sốt rét hoặc thương hàn. Perdiccas, chỉ huy kỵ binh của Hội Chiến hữu, sau đó đã bổ nhiệm một số đồng sự của mình cai quản các tỉnh khác nhau nhân danh người thừa kế của Alexander, Alexander IV, chào đời từ mẹ Roxane hai tháng sau khi cha qua đời. Các satrap này trở thành căn cứ quyền lực mà từ đó mỗi vị tướng bắt đầu ráo riết nỗ lực giành quyền lực cho riêng mình.
Với việc Perdiccas bị ám sát vào năm 321 TCN bởi các sĩ quan của mình, tất cả viễn ảnh thống nhất Macedonia đều sụp đổ, và cuộc chiến tranh giữa những người kế nhiệm kéo dài 40 năm bắt đầu.
Trong khi đó, ở biên giới phía đông của đế chế Alexander, Eudemos vẫn nắm quyền ở Gandhara, ban đầu chia sẻ quyền kiểm soát Punjab với đồng minh của mình là Vua Poros trước khi lập kế sát hại Poros. Ông và người đồng hương Macedonia Peithon, thống đốc của vùng hạ lưu sông Indus, vẫn còn giữ được quyền hành, nhưng qua mỗi năm quyền lực của họ lại giảm dần cho đến khi cuối cùng cả hai vị tướng đều rút quân về Ba Tư để tham gia vào cuộc tranh giành quyền lực đang diễn ra trong đế chế của Alexander.
Người chiến thắng ở phía đông là Seleukos, sau này được gọi là Nikator, hay “Người Chiến Thắng”. Vào năm 305 TCN, sau khi đã chiếm được “toàn bộ khu vực từ Phrygia đến sông Indus”, Seleukos “Người Chiến Thắng” cảm thấy đủ mạnh để tuyên bố mình là vua của Lưỡng Hà và Ba Tư. Sau đó, ông bắt đầu giành lại lãnh thổ của Alexander bên kia sông Indus, vốn từ lâu đã thuộc về Ấn Độ.
Những gì diễn ra sau đó được các sử gia Appian, Justin và Plutarch tóm tắt. Theo sử gia đầu tiên: ‘Ông ấy [Seleukos Người Chiến Thắng] đã vượt sông Indus và gây chiến với Androkottos, vua của người Ấn Độ, sống trên bờ sông đó.’ Justin cung cấp một tường thuật dài hơn một chút: ‘Đầu tiên, ông chiếm Babylon, rồi với lực lượng được tăng cường nhờ chiến thắng, ông chinh phục người Bactria. Sau đó, ông tiến vào Ấn Độ, tại đó sau cái chết của Alexander, như thể ách nô lệ đã được gỡ bỏ, họ đã xử tử các quan lại của ông. Sandrocottus là người lãnh đạo đã giành lại tự do cho họ.’ Plutarch còn nói thêm về vị vua Ấn Độ mới này: ‘Androkottos, vừa lúc đó mới lên ngôi, biếu cho Seleukos 500 con voi, và tràn qua và khuất phục toàn bộ Ấn Độ với một đội quân 600.000 người … Bản thân Androkottos, khi còn trẻ, đã tận mắt chứng kiến Alexander, và sau đó thường tuyên bố rằng Alexander có thể dễ dàng chiếm được đất nước này vì nhà vua lúc đó bị thần dân căm ghét và khinh miệt vì tính tình độc ác và xuất thân thấp hèn.’ Rõ ràng, Androkottos và Sandrocottus là một người.
Vào thời điểm này, sau khoảng thời gian khoảng 20 năm, tướng đánh thuê người Ấn Sisikottos/Sisocostus và gã Meroes mờ ảo hơn nhường chỗ cho Sandrocottus (Justin), Androkottos (Appian và Plutarch), Sandrakottos (Pliny the Elderder), Sandrokottos (Strabo), và chính xác hơn tất cả – Sandrocoptus (được nhà triết học Hy Lạp Athenaios vào thế kỷ thứ ba sau Công nguyên nhắc đến thoáng qua) – sau này được gọi bằng tên cốt lõi là Sandrokoptos, không còn là người đánh thuê nữa mà là một vị vua xứ Ấn Độ.
Về vị vua mới Sandrokoptos này, vua của người Ganderites và Praesians, và mối quan hệ của ông với Tướng Macedonian Seleukos Người Chiến Thắng, vua của Lưỡng Hà và Ba Tư, không ai chi tiết hơn Justin, cho dù có khi ông thêm một số chi tiết kỳ quái về sự trỗi dậy nắm quyền của người sau:
Ông ấy [Sandrokoptos] sinh ra trong một gia đình bình dị, nhưng được thôi thúc khao khát vương quyền bởi một điềm báo mang ý nghĩa của một vận mệnh uy nghiêm. Bởi vì sau khi đã xúc phạm đến Nandrus bằng sự ngạo mạn của mình, và bị nhà vua ra lệnh xử tử, chàng trai trẻ đã nhanh chóng tìm đường trốn thoát, rồi kiệt sức nằm xuống, mệt mỏi rã rời và chìm vào giấc ngủ say, một con sư tử khổng lồ tiến đến gần chàng và lấy lưỡi liếm sạch mồ hôi tuôn ra đầm đìa từ cơ thể chàng, và khi chàng choàng tỉnh dậy, nó lặng lẽ biến mất. Chính điều kỳ diệu này đã khơi dậy trong chàng niềm hy vọng sẽ giành được ngai vàng, và vì vậy, sau khi tập hợp một băng cướp, chàng đã xúi giục người dân Ấn nổi dậy lật đổ chính quyền hiện tại. Sau đó, khi chàng đang chuẩn bị tấn công các quan thái thú của Alexander, một con voi rừng to lớn tiến đến, quỳ xuống phủ phục trước mặt chảng như một con voi chiến đã thuần hóa, rồi đưa chàng lên lưng và chiến đấu dũng mãnh trước hàng quân. Sandrocottus, sau khi giành được ngai vàng, đang trị vì Ấn Độ, trong khi Seleukos còn đang đặt nền móng cho tương lai vĩ đại của mình.
Ở đây, vị vua Ấn Độ mà Sandrokoptos đã xúc phạm không được gọi tên là Xandrames hay Aggrames (như các nhà sử học của Alexander đưa ra) mà chính xác hơn là Nandrus. Theo tường thuật này – và bỏ qua chuyện sư tử và voi khổng lồ, vốn là những biểu tượng cổ xưa của hoàng gia và sức mạnh – Sandrokoptos đã xúc phạm vua Nandrus và bỏ trốn để bảo toàn mạng sống. Sau đó, ông ta tập hợp đồng bọn, tự xưng là những kẻ sống ngoài vòng pháp luật, và sau đó xúi giục dân chúng đứng lên chống lại các satrap Hy Lạp ở Gandhara – Thống đốc Philippos bị ám sát cùng những người kế nhiệm Eudemos và Peithon trước khi tiến lên giành lấy ngai vàng của Ấn Độ. Tất cả những điều này đã thành tựu trước khi Seleukos Người Chiến thắng giành được vị thế basileus (hoàng đế); nghĩa là, vài năm trước năm 305 TCN, khi Seleukos phát động cuộc tấn công vượt qua sông Ấn.
Cuộc tấn công đó đã đưa Seleukos tiến sâu vào đồng bằng sông Hằng, thậm chí có thể đến tận thủ đô của Sandrokoptos, được người Hy Lạp gọi là Palibothra hoặc Palimbothra. Sau đó, quân Sandrokoptos phản công và đánh đuổi Seleukos trở lại bên kia sông Ấn và tiến sâu vào lãnh thổ của ông ta. Cuộc chiến sau đó kết thúc bằng một hiệp ước hòa bình, theo đó vua Macedonia từ bỏ mọi yêu sách đối với Ấn Độ để đổi lấy 500 voi chiến, và được củng cố bằng một cuộc hôn nhân. Các sử gia Hy Lạp hình như tránh né đề cập đến những chi tiết nhỏ nhặt của hiệp ước này, và chỉ có nhà sử học Pliny thừa nhận việc mất lãnh thổ Hy Lạp: ‘Người Ấn Độ sau đó nắm giữ một phần lớn Ariane [một tỉnh của
đế chế Ba Tư bao gồm những gì bây giờ là miền đông Iran, miền tây nam Afghanistan và Baluchistan] mà người Macedonia trao cho, tiến hành quan hệ hôn nhân với ông ta và đổi lại trao tặng 500 con voi trong đàn voi 9.000 con của Sandrakottos.’

Đồng xu của Seleukos Người Chiến thắng; mặt sau là một số voi chiến Ấn Độ do vua Ấn Độ Sandrokoptos tặng ông cùng với quản tượng điều khiển. Những con voi này được khắc họa trong bộ áo giáp chiến đấu và hình ảnh Nike, nữ thần chiến thắng, trên một chiến mã xa. (Bảo tàng Anh)
Đổi lại 500 con voi – mà nhà cai trị Ấn Độ Sandrokoptos hoàn toàn có thể chấp nhận đánh đổi – Seleukos không chỉ giao nộp toàn bộ vùng đất mà Alexander đã chinh phục ở phía đông sông Ấn mà còn cả Gandhara và Ariana. Đây là một hiệp ước bất bình đẳng, mà Seleukos phải chấp nhận bởi vì ông ta cần giải quyết xong biên giới phía đông trước khi có thể điều quân đánh Antigonos, đối thủ duy nhất còn lại của ông ở phía tây Lưỡng Hà. Thỏa thuận hôn nhân cuối cùng giữa hai vị vua cũng bất bình đẳng, ở chỗ người thua cuộc phải gả con gái mình cho người chiến thắng thay vì ngược lại. Người Hy Lạp và La Mã không đề cập đến chi tiết này, điều này càng gợi ý rằng chính Seleukos đã gả con gái cho Sandrokoptos hoặc cho con trai và người thừa kế của Sandrokoptos.
Basileus Seleukos Người Chiến Thắng và Vua Sandrokoptos sau đó vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp, vì Seleukos đang rất bận bịu đến việc tiêu diệt Antigonos và bảo vệ Tiểu Á cho chính mình và cho con trai Antiochos. Lúc này Seleukos đã cử sứ thần đến kinh đô của vua Ấn Độ tại Palimbothra, một thông lệ được con trai và người kế vị ông là Antiochos tiếp nối – và lúc đó em gái của Antiochos đã trở thành hoàng hậu hoặc công chúa tại triều đình Ấn Độ. Hai sứ thần đầu tiên trong số này là Megasthenes, người có mặt tại triều đình của Vua Sandrokoptos, và Deimachos, người mà chúng ta sẽ thấy, quen biết con trai và người kế vị của Sandrokoptos được sử gia Strabo xác định là Vua Allitrochades và sử gia Athenaios cho là Vua Amitrochates.
Chỉ còn sót lại những mảnh tài liệu của tác phẩm Ấn Độ do Megasthenes viết, nhưng các tác phẩm của cả hai sử gia đều là nguồn tư liệu quý giá cho Arrian, Diodorus, Pliny The Elder và Strabo. Các đại sứ đã trực tiếp quan sát xã hội Ấn Độ, và những gì họ ghi chép lại vẫn là những văn bản tốt nhất về Ấn Độ có sẵn cho Tây Âu trong hơn 1.500 năm. Giống như tất cả các nhà ngoại giao giỏi, họ thu thập thông tin tình báo, ghi chép cẩn thận về chính quyền và cách thức hoạt động của nó, sức mạnh và cách điều hành của quân đội, cơ cấu giai cấp của đất nước, nền kinh tế và tài nguyên thiên nhiên. Họ cũng quan sát cách thủ đô Palimbothra được phòng thủ, vị trí của nó và khoảng cách đến biên giới của họ.
Theo Strabo, Megasthenes đã định vị thành phố Palimbothra tại ngã ba sông Hằng và một con sông lớn khác là Erranoboas, ‘sông Hằng là con sông lớn nhất, và Erranoboas có lẽ là con sông lớn thứ ba. Tại nơi hợp lưu của con sông này [sông Hằng] và con sông kia [Erranoboas] là Palibothra, một thành phố dài 80 stadia và rộng 15 stadia.’ Arrian mở rộng thêm chi tiết về thủ đô của Sandrokoptos: ‘Thành phố lớn nhất Ấn Độ, tên là Palimbothra, nằm ở vùng đất của người Prasian, nơi hợp lưu của sông Erannoboas và sông Hằng … Megasthenes nói rằng ở nơi dài nhất, thành phố này trải dài mười dặm, và chiều rộng của nó là một dặm ba phần tư; rằng thành phố được bao quanh bởi một con hào rộng 600 bộ, và sâu 45 bộ; và rằng tường thành của nó có 570 tháp canh và 64 cổng.’
Đến năm 281 TCN, Seleukos Người Chiến Thắng đã sống lâu hơn tất cả những người tiếp nối đối địch của mình để trở thành, ở tuổi 77, vị tướng cuối cùng của Macedonia từng chiến đấu bên cạnh Alexander. Năm đó, ông lên đường chiếm lấy Macedonia và Thrace cho con trai và người thừa kế Antiochos, nhưng lại bị một con trai của Ptolemy, người bạn nay đã mất của ông, phản bội và sát hại. Các cuộc chiến tranh giữa các tướng tiếp nối sau đó nhường chỗ cho các cuộc chiến tranh Syria, diễn ra sau đó giữa Đế chế Seleucid và Vương quốc Ptolemaic. Với cái chết của cháu trai Seleukos, Antiochos II, vào năm 246 TCN, Đế chế Seleucid bắt đầu sụp đổ. Người kế vị ông ta, Seleukos II, bị Ptolemy III đánh bại và quyền lực của ông ta bị em trai tranh giành. Điều này cho phép Diodotos Soter, phó vương của Bactria, tách ra và trở thành người cai trị độc lập của Bactria.
Diodotos Soter và những người kế vị ông làm đất nước hưng thịnh lên. Khoảng năm 240 TCN, người Bactria Hy Lạp đã sáp nhập một phần lãnh thổ rộng lớn của Ấn Độ ở phía đông sông Ấn. Trong khi đó, Parthia ở phía bắc cũng đã ly khai và dưới sự lãnh đạo của Arsaces, người Parthia đã thành lập một liên minh với người Bactria, ngăn cản Seleukos II đòi lại lãnh thổ phía đông của ông cố mình. Với sự trỗi dậy của người Parthia, các tuyến đường bộ được Alexander thiết lập giữa vùng Địa Trung Hải và Ấn Độ gần như bị chia cắt.
Đây là tổng hợp thông tin mà Sir William Jones có được từ phía Hy Lạp. Để đạt được điểm đồng bộ thời gian mong muốn đó, giờ đây ông phải liên kết thông tin này với một số tài liệu mới xuất hiện từ quá trình nghiên cứu hồ sơ tiếng Phạn của mình. Ông biết rằng cuộc chiến giữa Seleukos và Sandrokoptos hẳn đã diễn ra vào đúng hoặc rất sớm sau năm 305 TCN, năm mà Seleukos tự xưng là người cai trị đế chế Ba Tư của Alexander. ‘Nếu chúng ta có thể chọn ra một ông hoàng Ấn Độ, cùng thời với Seleucus’, ông tuyên bố, họ sẽ có điểm chung cố định trong lịch sử.

Đường bờ biển ở Patna, được vẽ từ sân thượng của Tòa nhà Quan thuế Patna , nhìn ngược dòng về phía Bankipore. Một bức vẽ bằng bút mực của Ngài Charles D’Oyly, Đại lý Thuốc phiện của Công ty Đông Ấn, ngày 24 tháng 10 năm 1824. (APAC, Thư viện Anh)
Một trong số nhiều nhà chức trách được Sir William Jones tham khảo ý kiến trước khi ông lên đường đến Ấn Độ là nhà địa lý, người làm bản đồ và nhà hải dương học tiên phong, Thiếu tá James Rennell, ngày nay được biết đến là ‘cha đẻ của Địa lý Ấn Độ. Rennell đã bị buộc phải nghỉ hưu vào 1776 khi mới qua tuổi 30 sau khi bị một nhóm người cuồng tín Hindu tấn công và bị thương nặng trong khi đang đi khảo sát trên Biên giới Bhutan. Hầu hết 13 năm ở Ấn Độ ông dành để lập bản đồ vùng lãnh thổ mà Công ty Đông Ấn mới mua lại ở Bengal, tất nhiên trong quá trình đó Rennel đã tích lũy vốn hiểu biết độc đáo về địa hình của nó và những lực lượng đã định hình nó. Khi Jones cuối cùng nhìn thấy ông tại nhà riêng gần quảng trường Portland Place ở London, ông đang trong quá trình hoàn thành bản đồ Ấn Độ chính xác đầu tiên. Vào năm 1787, đúng lúc Jones bắt đầu tìm kiếm mắt xích còn thiếu giữa Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại, ông nhận được một lá thư từ Rennell liên quan đến danh tính và vị trí của Palimbothra cổ đại. Đây chính là thành phố mà Megasthenes và những người kế tiếp ông đã viết rất chi tiết, đặt nó cách 425 dặm về phía hạ lưu nơi hợp lưu của hai con sông Hằng và Yamuna, cách 638 dặm về phía thượng lưu cửa sông Hằng, và cụ thể hơn, tại nơi điểm hợp lưu ‘nơi sông Hằng và sông Erranoboas hợp nhất’.
Jones và các học giả của ông đã tìm kiếm vô ích trong các văn bản tiếng Phạn của họ để tìm bất kỳ thông tin nào về thành phố tên là Palimbothra hay sông Erranoboas. Tuy nhiên, những gì họ tìm thấy chỉ là những tài liệu tham khảo thường xuyên về thành phố lớn Pataliputra, trong nhiều thế kỷ là thủ đô của Magadha. Sau đó là lá thư của Rennell, trong đó ông kể rằng khi khảo sát trong và xung quanh thị trấn Patna hiện đại hơn một thập kỷ trước, ông đã được người dân địa phương cho biết rằng có một thành phố cổ tên là ‘Patelpoother’ đã từng tồn tại ở đó nhưng đã bị cuốn trôi từ lâu.
Các cuộc khảo sát tiếp theo của Rennell sau đó đã tiết lộ rằng dự án dân sự mới của Công ty Đông Ấn và các tuyến quân sự của Bankipore, lúc đó đang được xây dựng dọc theo sông Hằng, ngay phía thượng nguồn của thành phố Patna ‘bản địa’, được bố trí trên một lòng sông cũ (một quy hoạch đô thị tai hại vẫn tiếp tục gây khó khăn cho Patna hiện đại hàng năm khi mùa mưa gió mùa bắt đầu). Ông nhận ra rằng lòng sông cũ này hẳn là dòng chảy ban đầu của sông Soane (ngày nay tên là Sone), mà giờ đây chảy vào Sông Hằng cách đó 22 dặm về phía thượng nguồn. Điều Rennell cũng khám phá ra là dòng chảy ban đầu của sông Soane đã từng rẽ đôi ngay trước khi nhập vào sông Hằng, tạo thành một hòn đảo hình bầu dục dài, với chiều dài và chiều rộng đủ lớn để chứa những bức tường thành hình chữ nhật của thành phố Palimbothra như Megasthenes đã mô tả, đồng thời tạo nên hào nước rộng lớn cho thành phố. Hơn nữa, tỷ lệ kích thước số dặm đường do Megasthenes đưa ra ăn khớp, đặt thành phố cổ đại gần đúng vị trí của thị trấn Patna hiện đại. Rennel muốn biết liệu Patna, Pataliputra và Palimbothra có phải là một không?
Tuy nhiên, lý thuyết của Rennel khập khiễng ở một điểm: người Hy Lạp đã gọi tên cho dòng sông chảy vào sông Hằng tại Palimbothra là Erranoboas. Lời giải thích đã ập đến Ngài William Jones từ một lần tình cờ đọc được một văn bản tiếng Phạn chưa từng được đọc. Trong đó, sông Soane được mô tả là Hiranyabahu, tức “mang vàng”. Ông nhận ra rằng, điều này đã được Megasthenes “Hy Lạp hóa” thành Erranoboas, tức “dòng sông với tiếng rì rào êm dịu”. Đây là bằng chứng văn học cho thấy sông Soane và Erranboas là một, và Patna ngày nay thực sự là địa điểm của Palimbothra và Pataliputra của Ấn Độ cổ đại.
Khám phá đầu tiên này dẫn trực tiếp đến một khám phá thứ hai, cũng được tìm thấy trong hai văn bản tiếng Phạn chưa được đọc cho đến nay. Một văn bản mang hình thức “một loạt những câu chuyện bổ ích và thú vị” được viết bằng thơ bởi một thi sĩ tên là Somadeva. Văn bản này kể về “cuộc cách mạng lừng lẫy ở Pataliputra với vụ ám sát vua Nanda cùng 8 người con trai và cuộc tiếm ngôi của Chandragupta”. Văn bản còn lại là một vở kịch thơ có tựa đề Lễ Đăng Quang của Chandra cũng đề cập chính xác đến chủ đề này, chữ Chandra trong tựa đề là “tên viết tắt của kẻ cướp ngôi tài ba và liều lĩnh Chandragupta”. Thực ra, đây là nửa đầu của một vở kịch thơ dài hơn nhiều mang tên Mudrarakshasa, hay “Chiếc Nhẫn Dấu Ấn Của Quan Đại Thần”, do một nhà viết kịch thế kỷ thứ năm tên là Vishakhadatta sáng tác.
Chiếc Nhẫn Dấu Ấn Của Quan Đại Thần kể về chuyện của hai quan đại thần đối địch nhau, Rakshasa và Chanakya, cả hai đều phục vụ dưới trướng Vua Nanda, người cai trị xứ Magadha. Vua Nanda là một bạo chúa trong tuổi già của mình, khiến Chanakya thuận theo các kế hoạch của một hoàng tử đầy tham vọng Chandragupta nhằm cướp ngôi vua. Nanda biết được âm mưu và bắt Chandragupta lưu vong cùng với tám người bạn của anh ta. Chandragupta phải tìm đến với chúa tể vùng Himalaya, Parvateswar, để nương tựa. Ông này có nhiều đồng minh trong số Yavan (người Hy Lạp), Sacas (người Scythia), Cambojan (người Gandharan) và Ciratas (người Kashmir). Parvateswar cung cấp Chandragupta và bạn bè của anh ta tiền bạc và binh lính, đổi lại sẽ được chia một nửa đế quốc của vua Nanda sau khi hoàn thành kế hoạch tiếm ngôi. Họ tiến vào thủ đô Pataliputra của vua Nanda, và, sau một trận chiến ngắn ngủi, thành đã thất thủ. Chandragupta giết chết tất cả người em cùng mẹ khác cha của mình và cùng với Parvateswar chia đôi
Vương quốc Nanda. Parvateswar sau đó bị đầu độc bởi con gái của Nanda và được kế vị bởi con trai ông ta là Malayaketu. Ông vua này đã theo lời khuyên của Rakshasa, cựu đại thần của Nanda, đem quân đánh chiếm Pataliputra. Chandragupta củng cố thành phố với các đồng minh Hy Lạp, trong khi Chanakya dùng mưu mẹo của mình để dụ Rakshasa về phe Chandragupta. Liên minh của Malayaketu sụp đổ và Chandragupta tiếp tục cai trị Magadha ‘trong nhiều năm, với công lý và công bằng, và được người dân tôn sùng’.
Đây là một vở kịch về việc các Bà La Môn sắp xếp lại trật tự, do một người Bà La Môn viết cho các Bà La Môn. Nhưng theo quan điểm của Jones, giá trị thực sự của Chiếc Nhẫn Dấu Ấn của Quan Đại Thần nằm ở chỗ nó dựa trên một sự kiện lịch sử có thật: cuộc lật đổ triều đại Nanda của Chandragupta Maurya. Tác giả đã nắm được cốt truyện cơ bản từ việc đọc kinh Puranas, nhưng vở kịch bổ sung thêm nhiều chi tiết; đặc biệt là việc hoàng tử lưu vong Chandragupta đã lật đổ Nanda sau khi liên minh với một vị vua miền núi và một số dân tộc ở biên giới Tây Bắc Ấn Độ. Đó chính là điều Sandrokoptos đã làm. Rõ ràng, Sandrokoptos của Hy Lạp chính là vua Chandragupta của Ấn Độ.
Sự xác nhận cuối cùng – một bằng chứng đanh thép – xảy ra với việc công nhận sau này rằng cả hai cái tên Sisikottos và Sandrokoptos đều là phiên bản tiếng Hy Lạp của cùng một tên: Chandragupta. Ý nghĩa của Chandragupta rất rõ ràng với mọi học giả tiếng Phạn, bắt nguồn từ hai từ: chandra, ‘mặt trăng’; và gupta, ‘được bảo vệ’. Sisikottos, ít rõ ràng hơn, là bản dịch tiếng Hy Lạp của Sashigupta, cũng có nghĩa là ‘được mặt trăng bảo vệ’, sashi là một từ tiếng Phạn khác có nghĩa là ‘mặt trăng’. Sashigupta, một chàng trai Ấn Độ lưu vong và là lính đánh thuê, đơn giản đã trưởng thành theo tuổi tác trở thành vị quân vương Chandragupta già dặn hơn.
Mặc dù những mối liên hệ này ngày nay dường như hiển nhiên, nhưng chính sự kết hợp may mắn giữa cơ hội và học thuật của Sir William Jones đã tạo nên bước đột phá quan trọng này. “Tôi không thể không nhắc đến một khám phá mà tình cờ đến với tôi”, ông tuyên bố trong bài phát biểu nổi tiếng đánh dấu kỷ niệm mười năm thành lập Hội Châu Á, được trình bày tại Calcutta vào ngày 28 tháng 2 năm 1793. Trước tiên, ông loan báo việc giải quyết câu đố Palibothra-Pataliputra- Patna, sau đó tiếp tục mô tả cách thức điều này dẫn đến một khám phá thậm chí còn lớn hơn: ‘Chandragupta, từ một người phiêu lưu quân sự, đã trở thành nhà cai trị Thượng Ấn … không ai khác chính là Sandrocottus, người đã ký kết một hiệp ước với Seleucus Nicator. ‘
Với bước đột phá này, lịch sử Ấn Độ cổ đại đã đảm bảo một dấu mốc tích cực đầu tiên để phát triển một dấu mốc nội bộ riêng và niên đại đương thời. Alexander Đại đế băng hà tại Babylon vào năm 323 TCN. Vào thời điểm Seleukos Người Chiến thắng bắt đầu chiến dịch Ấn Độ vào năm 305 TCN, Chandragupta Maurya đã được xác lập vững chắc là một vị vua vĩ đại của miền bắc Ấn Độ. Do đó, ông hẳn đã giành được ngai vàng của Nanda sau khi Alexander băng hà vào năm 323 TCN và trước khi các phó vương Eudemos và Peithon của Alexander bị buộc phải rút khỏi các vùng lãnh thổ đã chinh phục của người Ấn vào năm 317 TCN. Jones đã bổ sung những niên đại sau đó.
Theo “Bảng các triều vua Magadha, các hoàng đế Ấn Độ” trong Puranas được xuất bản trong Hội Nghiên cứu Á châu, Chandragupta đã trị vì trong 24 năm. Giả sử thời gian trị vì được ghi trong Puranas là chính xác, thì Chandragupta trị vì từ khoảng năm 317 đến năm 293 TCN. Con trai ông, Bindusara, cai trị trong 25 năm, trị vì từ khoảng năm 292 đến năm 268 TCN. Bindusara được kế vị bởi con trai là Ashoka, trị vì trong 36 hoặc 37 năm, tức là khoảng năm 267-230 TCN. Triều đại Maurya kéo dài tổng cộng 137 năm, tức là khoảng năm 317-180 TCN.
Trong hai thế kỷ và hai thập kỷ kể từ khi những mốc thời gian này được xác định lần đầu tiên, ít có thay đổi nào để thắc mắc về giá trị của chúng.