
CHARLES ALLEN
Trần Quang Nghĩa dịch
3 Đối tượng điều tra

Một học giả Bà La Môn đang giảng kinh Puranas tại một ngôi đền Hindu ở Varanasi. Một bản in thạch bản của James Prinsep từ bản vẽ của ông được thực hiện vào những năm 1820 và đã được ông trình bày trong tác phẩm Benares Illustrated.
Năm 1888, nhà báo trẻ đầy triển vọng Rudyard Kipling đã đến Calcutta để thực hiện loạt bài viết về Bengal cho tờ báo The Pioneer của thành phố Allahabad. Nỗi ám ảnh về cái chết và bệnh tật đã dẫn anh đến nghĩa trang Cơ đốc giáo lớn nhất thành phố, nằm ở cuối đường Park. “Những lăng mộ như những ngôi nhà nhỏ”, anh viết lại sau đó. ‘Giống như chúng ta đang đi dọc theo những con phố của một thị trấn, chúng cao lớn và đứng san sát nhau – một thị trấn bị teo quắt bởi lửa, bị lên sẹo bởi sương giá và vây hãm. Người ta hẳn đã sợ bạn bè mình bật dậy không đúng lúc nên đã chất đè lên họ những đống gạch đá xây tàn nhẫn như vậy.’
Dưới một trong những ‘đống gạch đá tàn nhẫn’ đồ sộ nhất của Kipling, dưới dạng một cột tháp cao 60 bộ (ngày nay được dọn dẹp và quét vôi trắng nhờ nỗ lực chung của Quỹ Quốc gia Ấn Độ về Nghệ thuật và Di sản Văn hóa (INTACH) và Hiệp hội Nghĩa trang Anh tại Nam Á (BACSA)), yên nghỉ hài cốt của Ngài William Jones, ‘người kính sợ Chúa, nhưng không sợ cái chết… người nghĩ không ai thấp kém hơn mình ngoài những kẻ thấp hèn và bất công, không ai cao quý hơn mình ngoài những người thông thái và đức hạnh’. Những lời này do ông tự viết ra và không hề gợi lên chút nào về đóng góp phi thường của mình trong vai trò khởi xướng cho sự phục hồi lịch sử và văn hóa Ấn Độ, một công trình đã bị cắt ngắn một cách tức tưởi bởi cái chết của ông vào ngày 27 tháng 4 năm 1794 ở tuổi 47.
Là một thẩm phán cấp cao tại Tòa án Tối cao Calcutta, Ngài William Jones đã tận dụng triệt để vị trí cao quý của mình. Điều này đã giúp ông dễ dàng tiếp cận Toàn quyền Warren Hastings của Công ty Đông Ấn, một nhà độc tài nhưng vẫn giữ quan điểm sáng suốt về bản chất chế độ cai trị của Anh ở Ấn Độ mà Jones rất sẵn lòng chấp nhận. Hai người tìm thấy ở nhau một tâm hồn đồng điệu, và chỉ vài tuần sau, Hastings và người ngày nay được công nhận là “cha đẻ của ngành nghiên cứu Ấn Độ” đã đồng sáng lập Hội Châu Á (sau này là Hội Châu Á Bengal), nhờ đó tạo ra một bộ máy cho phép thu thập, tập họp, tham chiếu chéo, kiểm tra và xử lý thông tin ở mọi lĩnh vực. được diễn giải và các kết quả được phổ biến thông qua tạp chí Asiatick Researches của Hội (sau này là Asiatic Researches, Nghiên cứu Châu Á).
Danh tiếng của Bengal như một vùng đất của những ông trùm, nơi con trai của giới quý tộc Anh đến bóc lột người dân địa phương là hoàn toàn xứng đáng. Họ đến đó để phất lên (bằng những đồng tiền vàng “chùa” của xứ này). Họ vui vẻ đón tiếp phụ nữ địa phương nhưng lại chẳng mấy khi dành thời gian cho người dân bản xứ mà họ luôn tranh thủ càng nhiều quyền hành hơn. Ngay cả trong số ít người coi nhiệm vụ của mình là “tranh thủ lòng biết ơn và tình cảm của người bản xứ”, họ cũng cảm thấy rằng mình đang đối phó với một dân tộc bị đè bẹp hàng thế kỷ dưới ách chuyên chế phương Đông và bị xiềng xích bởi mê tín dị đoan, tâm trí của họ “không được giáo dục bởi học vấn và kinh nghiệm, không được tiếp thu khoa học và văn học, và không được cổ vũ bởi một tôn giáo nồng ấm và thiện lành”.
Tuy nhiên, khi tin tức về dự án mới của Jones và sự bảo trợ của Hastings lan truyền, một nhóm nhỏ những người có tư tưởng tự do đã đứng ra ủng hộ: những bạn đồng hành trong giới Đông phương học, vốn trước đây vẫn theo đuổi sự nghiệp một mình và thường bị đồng nghiệp khinh miệt. Dưới sự dẫn dắt của Ngài William Jones, Chủ tịch đầu tiên của Hội, nhóm nhỏ những cá nhân này đã dấn thân vào lĩnh vực mới mẻ, đó là chia sẻ thành quả nghiên cứu của mình, ban đầu chỉ là dưới dạng các bài báo đọc trước các cuộc họp hàng tháng được tổ chức tại Phòng Đại Bồi thẩm đoàn của Tòa án Tối cao Calcutta. Nhờ những phương tiện này, một Ấn Độ đã mất từ lâu bắt đầu tái hiện, mặc dù bước chậm chạp qua nhiều giai đoạn nhỏ.
Tòa án Tối cao họp tám tháng trong năm, cho phép Ngài William Jones được nghỉ bốn tháng. Ông và vợ đã dành kỳ nghỉ đầu tiên ở Benares, nhưng sau đó đã chuyển về một ngôi nhà ở vùng quê để sống trong một túp lều tranh ở quận Krishnagur, phía bắc Calcutta. “Ở đây,” như một đồng nghiệp của Jones sau này đã nói, “tránh xa cuộc tranh cãi giữa nguyên đơn và bị đơn, tâm trí ông không bị gò bó mà hướng đến những mục tiêu mà ông yêu thích nhất. Việc nghiên cứu chuyên sâu về tiếng Phạn, việc nghiên cứu thực vật học và việc trao đổi thư từ văn học và khoa học không bao giờ cho ông một giờ rảnh rỗi.”
Tại Krishnagur William và Anna Maria Jones đã đón nhận mọi thứ liên quan đến người Ấn với một tấm lòng cởi mở khiến nhiều đồng nghiệp của Jones tại Tòa án Tối cao phải kinh ngạc, nhưng cũng làm hài lòng các học giả và những người Ấn khác mà Jones tiếp xúc bên ngoài tòa án. Người bạn thân nhất của ông ở Ấn Độ, Sir John Shore, sau đó đã nhận xét về sự khác thường này: ‘Ông ấy giao lưu rất rộng rãi với người Ấn bản :xứ có tính cách và năng lực ông ấy đã hào phóng bảo vệ những người phục vụ và giúp đỡ ông, và những kẻ phụ thuộc ông được ông đối xử như bạn bè.’
Tình yêu của gia đình Jones với Ấn Độ bắt đầu từ âm nhạc, sự tinh tế của nó hoàn toàn nằm ngoài tầm với của bạn bè họ, nhưng nó nhanh chóng mở rộng sang cả văn học tôn giáo Hindu và Hồi giáo Sufi, chủ yếu được thể hiện qua các bản dịch tiếng Ba Tư. “Tôi đang”, William viết trong một lá thư gửi cho người bạn đồng hành nhiệt thành cựu toàn quyền Warren Hastings, shiện đang nghỉ hưu ở Anh, , ‘yêu Gopia [những cô gái chăn bò mà vị thần tinh quái Krishna hay tán tỉnh], say mê Crishen [Krishna], ngưỡng mộ nhiệt thành Ram [người hùng trong Ramayana] và là ngưỡng mộ trung thành Brimha-bishen-mehais [bộ ba vị thần Hindu gồm Brahma, Vishnu và Shiva]; chưa kể đến Judishteir, Arjen, Corno và các chiến binh khác trong M’gab’harat [Mahabharat] dường như trong mắt tôi vĩ đại hơn cả Agamemnon, Ajax, Achilles khi tôi lần đầu đọc Iliad.’
Lòng ngưỡng mộ đó là động lực khiến ông muốn đọc các tác phẩm này bằng bản gốc, và điều này đã trở thành hiện thực khi Sir William Jones nhận được sự phục vụ tận tình của Học giả Ramlochan, bản thân ông này cũng rất khác thường ở chỗ ông không phải là một người Bà-la-môn mà là một người thuộc đẳng cấp Vaisya nông nghiệp, người đã học tiếng Phạn trong quá trình nghiên cứu y học. Trong vòng vài tháng, Jones có thể tự tuyên bố mình là kẻ đột nhập phấn khích vào ‘những con đường chưa được khai phá của nền học thuật Hindu’.
Thời cơ của Jones không thể nào tốt hơn. Năm năm trước đó, hai người bạn cũ của ông ở Oxford, Nathaniel Halhed và Charles Wilkins, đã cùng nhau tạo ra phông chữ Bengal đầu tiên, mở đường cho việc in ấn cuốn Ngữ pháp tiếng Bengal của Halhed. Từ trước đến giờ họ luôn phải đối mặt với một bức tướng thù địch đường như không thể vượt qua từ cộng đồng Bà-la-môn mỗi khi họ tìm hiểu về các kinh sách thiêng liêng của người Hindu. Không chỉ đơn giản vì tiếng Phạn quá thiêng liêng đến mức người ngoài Bà-la-môn không thể đọc hay nói. Hàng thế kỷ nằm dưới ách thống trị của các hoàng đế Mughal Hồi giáo và những người tiền nhiệm đã khiến người Bà-la-môn tự quay lưng lại với chính mình. Sự độc quyền về tiếng Phạn của họ là một trong số ít tàn dư còn sót lại của quyền lực, và họ không hề có ý định cho sử dụng với các đại diện mới nhất của Hoàng đế Mughal ở Delhi – vì ở giai đoạn này, Công ty Đông Ấn cai trị Bengal nhân danh Hoàng đế Shah Alam.
Sự thù địch đó đã chấm dứt với sự ra đời của Ngữ pháp tiếng Bengal và nhà xuất bản tiếng bản địa của Wilkins. Những học giả có tầm nhìn xa hơn ở Bengal đã nhận thức được rằng nền học thuật Bà La Môn đang suy tàn và bản thân tiếng Phạn đang có nguy cơ trở thành không gì hơn là ngôn ngữ của nghi thức tôn giáo. Chính những người Bà La Môn trước đây quay lưng với Wilkins giờ đây đã quay mặt lại với lời đề nghị dạy ông tiếng Phạn, kết quả là cuốn Ngữ pháp Anh-Phạn đầu tiên được xuất bản trong vòng một năm. Dưới sự hướng dẫn, Wilkins bắt tay vào việc dịch kinh sách Ấn Độ giáo, bắt đầu với Bhagavad Gita, một công trình vẫn còn dang dở khi sức khỏe suy yếu buộc Wilkins phải trở về Anh.
Chính Jones giờ đây là người bước vào để tiếp quản công trình của Wilkins. Trí tuệ phi thường của ông cho phép ông tiến bộ nhanh chóng đến mức ông sớm tuyên bố tiếng Phạn chính xác là những gì các thầy Bà-la-môn đã tuyên bố. Và nó không chỉ là ngôn ngữ của các vị thần, mà còn là một ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với tiếng Latin và tiếng Hy Lạp – mật thiết đến mức không thể được tạo ra một cách ngẫu nhiên: ‘Thật vậy, mạnh mẽ đến nỗi không một nhà ngôn ngữ học nào có thể nghiên cứu cả ba mà không tin rằng chúng xuất phát từ một nguồn cội chung.’ Dưới sự hỗ trợ của Học giả Ramlochan và một thầy Bà-la-môn thứ hai, Học giả Radhacant, người trước đây đã làm việc cho Warren Hastings, Jones tiếp tục đưa ra vũ đài công cộng những tác phẩm đầu tiên của một tập hợp lớn các tác phẩm văn học thiêng liêng và bán thiêng liêng mà cho đến nay thế giới Phương Tây chưa từng biết đến.
Đó cũng là một phần trong nhiệm vụ mà Jones tự đặt ra cho mình nhằm làm sáng tỏ lịch sử tiền Hồi giáo chưa được biết đến của Ấn Độ. Trở ngại đầu tiên mà ông gặp phải là sự vắng mặt các ghi chép lịch sử mà các sử gia châu Âu và Hồi giáo đã biết. Ông quen thuộc với lịch sử Ấn Độ thời Hồi giáo do Al-Biruni và sử gia Ba Tư thế kỷ 16 Firishta biên soạn, nhưng dường như không có gì sánh được với phía bên kia của lằn ranh tôn giáo. Điều tốt nhất mà các Bà-la-môn có thể cung cấp là một bộ sưu tập khoảng 18 văn bản tôn giáo “thời cổ đại”, được gọi chung là các Purana, chủ yếu đề cập đến thần thoại sáng thế, vũ trụ quan Ấn Độ giáo và hoạt động của các vị thần và anh hùng bán thần thoại trong hệ thần Ấn Độ. Tuy nhiên, một số Purana cũng bao gồm danh sách phả hệ của nhiều vị thần, á thần và con người, những người từ thuở sơ khai đã cai trị tiểu lục địa Ấn Độ – được biết đến trong các văn bản ban đầu là Jambudwipa hay ‘Đảo Mâm Xôi Đen’. Từ những gia phả này Jones đã tập hợp những gì ông mô tả là ‘một bản tóm tắt ngắn gọn về niên đại của lịch sử Ấn Độ’.
Yếu tố con người trong niên đại này bắt đầu với Manu, con trai của thần Brahma, và hậu duệ ngài đã chia thành hai nhánh: Suryavanshi, hay ‘Con của Mặt trời’, và Chandravanshi, hay ‘Con của Mặt trăng’. Jones viết: ‘Những hậu duệ nam giới của cả hai dòng họ này được cho là đã cai trị các thành phố Ayodhya, hay Audh, và Partihara, hay Vitora, lần lượt cho đến năm thứ một nghìn của thời đại hiện tại, và tên của tất cả các hoàng tử đã được Radhacant tỉ mỉ thu thập từ các Purana. Niên đại này cho thấy trong nhiều thế kỷ, các triều đại vua chúa Ấn Độ kế tiếp nhau đã cai trị các vương quốc được gọi là janapadas hay thành lũy. Theo truyền thống, có 15 thành lũy như vậy ở Đảo Mâm Xôi Đen , trong đó có một thành lũy nổi trội hơn tất cả vì hùng mạnh nhất và lâu dài nhất: Magadha, một khu vực mà Jones xác định không khó khăn là tỉnh miền tây Bengal được gọi là Bihar và đồng bằng sông Hằng, trung tâm là thành phố Patna, thủ phủ ngày nay của Bang Bihar. Theo các Purana, vương quốc Magadha đã được thành lập bởi Vua Brihadratha, và con cháu của ngài đã cai trị Magadha trong một ngàn năm trước khi truyền đến dòng họ Pradotya, cai trị 137 năm trước khi bị thay thế bởi dòng họ Haryanka. Họ đã bị thay thế bởi dòng họ Shishungas, ođã cai trị suốt 10 đời vua cho đến khi bị lật đổ bởi dòng họ Nandas, vốn xuất thân thấp kém. Nanda thoạt đầu là một Sudra, tầng lớp thấp kém nhất trong bốn varna của hệ thống đẳng cấp Hindu (Từ cao xuống thấp là: Brahmin (tăng lữ), Kshatriya (quý tộc), Vaishya (thường dân), và Shudra (tôi tớ). Bằng cách cướp ngôi vua Kshatriya Shishunaga, Nanda này đã đảo lộn trật tự vương quyền tự nhiên mà chỉ có đẳng cấp Kshatriyas (và đôi khi người Bà La Môn) mới có thể cai trị. Tuy nhiên, Puranas được viết như những lời tiên tri và chúng báo trước rằng dòng dõi Nanda sẽ bị lật đổ bởi một người Bà La Môn chính trực tên là Chanakya, người sẽ chọn và xức dầu cho một người tên là Chandragupta làm người cai trị hợp pháp của Magadha.
Cái tên Nanda đã quen thuộc với Jones nhờ việc đọc nhiều tài liệu. ‘Vị hoàng đế này,’ ông viết, ‘thường được nhắc đến trong các sách tiếng Phạn, được cho là đã bị ám sát, sau một trăm năm trị vì, bởi một Bà-la-môn rất uyên bác và thông minh, nhưng lại cực đoan và hay trả thù, tên là Chanacya, và ông này đã đưa một người thuộc dòng dõi Maurya tên là Chandragupta lên ngôi.’
Vua Chandragupta đã thành lập triều đại Maurya, bao gồm 10 vị vua cùng nhau cai trị Magadha trong 137 năm. Chandragupta đã cai trị trong 24 năm, và con trai ông – được liệt kê với nhiều tên gọi khác nhau là Varisara, Vindusara hoặc Bindusara (nhưng sau này được gọi là Bindusara) cai trị trong 25 năm. Vị vua Maurya thứ ba là cháu trai của Chandragupta, Ashoka, đôi khi được gọi là Ashokavardhana, “Ashoka Đại đế”, người đã trị vì trong 36 hoặc 37 năm. Xét về lịch sử Bà-la-môn giáo, vị Ashoka này không mấy quan trọng. Các nhà biên soạn các Purana không đưa ra lời giải thích nào về lý do tại sao ông được gọi là “đại đế”, cũng không đề cập gì đến bất kỳ vị vua Maurya nào được liệt kê sau Ashoka. Thật vậy, (như các bảng phả hệ sau đây cho thấy), các nhà biên soạn Pusanas dường như không thể thống nhất về việc chính xác ai đã kế vị Ashoka lên ngôi vua Magadha, mà chỉ tìm thấy sự đồng thuận chung khi nói đến hai vị vua cuối cùng của triều đại Maurya:

Bảng phả hệ trên là tên các vua của triều đại Maurya theo ba nguồn Puranas: Vishnu, Matsya và Vayu-Brahmananda
Tất cả các bảng phả hệ đều đồng ý rằng chế độ cai trị của triều đại Maurya đã kết thúc bằng vụ ám sát vị vua thứ 10 và cũng là người cuối cùng của triều đại.
Dòng dõi Brihadratha, người đã bị giết trong một cuộc đảo chính tại quảng trường diễu binh do vị tổng tư lệnh Bà-la-môn tên là Pushyamitra Shunga dàn dựng. Sau đó, Shunga đã lập nên triều đại Shunga, gồm 10 vị vua cai trị trong 112 năm cho đến khi vị vua cuối cùng bị đại thần Vasudeva Canna ám sát. Triều đại Canna dường như đã cai trị 345 năm trước khi bị thay thế bởi triều đại Andhra, kéo dài trong 452 năm, kết thúc với cái chết của Vua Chandrabija, thời điểm mà Sir William Jones nhận xét, “chúng ta không còn nghe nói gì về Magadha như một vương quốc độc lập nữa”. Xét theo giá trị bề ngoài của những số liệu thống kê này, Jones tính toán rằng triều đại Maurya đã cai trị Magadha từ năm 1492 đến 1365 năm trước khi Jesus ra đời.
Rất phấn khởi khi khám phá ra “nguồn cội chung” của tiếng Phạn và ngôn ngữ châu Âu, Jones bắt đầu tìm kiếm thêm bằng chứng về nguồn gốc chung trong các biểu đồ phả hệ này.
Với tất cả kiến thức của mình, Jones đã được nuôi dạy để coi Cựu Ước, với những câu chuyện về Adam, Noah và trận Đại Hồng Thủy, là chân lý phúc âm. Tự thuyết phục mình rằng quá khứ của Ấn Độ gắn liền với Ai Cập cổ đại và Cựu Ước, ông đã nghĩ ra một niên đại so sánh giữa lịch sử Ấn Độ và Kinh Thánh trong đó Manu của Ấn Độ tương ứng với Adam trong Kinh thánh. Sai lầm này khiến Jones và những người khác tin rằng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một nhà chinh phục người châu Phi và nó đã gây nhiễu cho các nghiên cứu về Ấn Độ trong vài thập kỷ.
Những báo cáo về một tôn giáo ở Ấn Độ liên quan đến một chiến binh, nhà tiên tri hoặc triết gia được gọi bằng nhiều tên khác nhau như Boudha, Bodh, Sakyamuni, Gautama, Godama hoặc Fo đã lan truyền ở châu Âu kể từ khi Marco Polo trở về. Tuy nhiên, ngay tại Ấn Độ không có bằng chứng nào cho thấy việc thờ phụng vị thần này – mà cuối cùng Jones gọi bằng danh tính phổ biến là “Buddha (Phật)” – có liên quan gì đến đất nước đó. Các văn bản Hindu thực sự có đôi khi nhắc đến một vị Phật như vậy, nhưng chắc chắn không có Phật tử nào ở Ấn Độ và cũng không có văn học Phật giáo nào. Dường như cũng không có bất kỳ tượng đài Phật giáo nào được biết đến.
Tình trạng thiếu hiểu biết này sớm bắt đầu thay đổi khi Hội Châu Á có thêm thành viên, nhiều trong số họ định cư ở vùng nông thôn: những nhà khảo cổ nghiệp dư như Thomas Law và John Harrington, cả hai đều gia nhập Công ty Đông Ấn khi còn là những nhà văn tuổi teen vào những năm 1770 và sau này trở thành một phần trong thế hệ công chức đầu tiên của Công ty. Cả hai đều được điều động đến bang Bihar để học hỏi kinh nghiệm. Năm 1783, Law được bổ nhiệm làm Thống đốc Quận Gaya ở Bihar, nơi ông được dân Hindu địa phương quý mến vì đã bãi bỏ thuế hành hương. Ông cũng soạn thảo chương trình định cư cố định đầu tiên, theo đó người dân địa phương phải chịu thuế, sau đó được đưa vào áp dụng như một phần của cải cách ruộng đất được gọi là Chương trình Định cư Vĩnh viễn Cornwallis năm 1789.
Tại một trong những cuộc họp đầu tiên của Hội Châu Á, Thomas Law đã trình bày một bài viết có tựa đề ‘Một bản tường thuật ngắn gọn về hai trụ cột ở phía Bắc Patna’, minh họa bằng bức vẽ của riêng ông-
Đây chính là hai cột trụ được mô tả bởi Cha della Tomba thuộc dòng Capuchin, và Law hiện đã xác định được một cột ở Nandangarh, cách thị trấn Bettiah khoảng 17 dặm về phía bắc, và cột còn lại ở Araraj, cũng cách Bettiah khoảng cách tương tự về phía nam. Cột thứ nhất vẫn còn đầu cột hình sư tử ngồi, trong khi cột thứ hai không có đầu tượng. Cả hai cột đều có chữ khắc.
mà Law chưa từng thấy trước đây. Bài viết của ông đã khiến Jones kêu gọi sao chép chính xác những dòng chữ khắc trên cột đá này.
Đóng góp của John Harrington liên quan đến các hang động hơn là các cột trụ. Ông đã khám phá hai cụm đồi nằm giữa Patna và Gaya ở Nam Bihar. Đầu tiên, tại Đồi Barabar, ông đã được chỉ cho xem một số hang động được đục trong đá, mà người dân địa phương gọi là “bảy ngôi nhà”, tất cả đều có mái vòm, bề mặt bóng láng giờ phủ đầy bồ hóng, trông chúng ‘rất ảm đạm ngay cả khi được chiếu sáng’. Lối vào một trong những hang động được chạm khắc công phu ‘rất kỳ lạ với những con voi và đồ trang trí khác, tôi hy vọng sẽ sớm trình bày một bản vẽ về chúng cho Hội’.
Điều mà Harrington bỏ qua ở Đồi Barabar là một số dòng chữ khắc trên đá bên cạnh lối vào hang động. Ông đã làm tốt hơn khi đến Đồi Nagarjuni gần đó, nơi ông phát hiện ra hai dòng chữ khắc tương tự, “mà Moonshee [munshi, giáo viên ngôn ngữ và phiên dịch] của tôi đã sao chép trong ba ngày, với rất nhiều khó khăn và độ chính xác vừa đủ”. Dòng chữ khắc đầu tiên được khắc bằng chữ Devanagri thời trung cổ, mà người phiên dịch không gặp khó khăn gì khi đọc. Dòng chữ thứ hai “thật không may là có đặc điểm khác, và vẫn chưa thể hiểu được”. Báo cáo của Harrington không gây được nhiều sự quan tâm. Chính những trụ cột đá hoành tráng có khắc chữ đã thu hút trí tưởng tượng của Jones và những người bạn khảo cổ của ông – cũng như những dòng văn tự kỳ lạ được khắc trên đó.

Một nhóm người châu Âu trên đường Gaya-Patna, với Đồi Barabar và Nagarjuni ở hậu cảnh. Một bức vẽ bằng bút mực của Sir Charles D’Oyly, niên đại 1825. (APAC, Thư viện Anh)

Cửa hang động được đục vào đá, sau này được gọi là Hang Lomas Rishi, hay “Hang của vị Thánh Tóc Dài”. Bức ảnh đầu tiên này được chụp bởi nhà khảo cổ học Joseph Beglar vào năm 1872–1873. (APAC, Thư viện Anh)
Lời kêu gọi của Jones về việc chà xát các dòng chữ khắc trên trụ cột đã được Đại tá Antoine Polier, sĩ quan đánh thuê người người Thụy Sĩ, hưởng ứng. Ông đã phục vụ cho Hoàng đế Mughal ở Delhi chỉ để thấy ông chủ của mình, Shah Alam II không may mắn, bị người Maratha, người Sikh và người Rohillas Afghanistan đánh cho tơi tả đến mức bỏ mặc ông ta ‘bị ném’ từ kẻ tiếm quyền này sang kẻ tiếm quyền khác – một công cụ trong thời kỳ thịnh vượng, một vật tế thần trong lúc thất thế’. Nhận thấy mình đã sa cơ, Polier đã đặt vé về châu Âu và đang trong quá trình thanh lý tài sản và từ biệt các bà vợ bản xứ. Tuy nhiên, trước khi phó mặc các bà vợ và chủ nhân của mình cho số phận – Shah Alam đã bị chọc mù mắt bởi tên tù trưởng Afghanistan điên loạn Ghulam Qadir và Pháo đài Đỏ của mình bị cướp bóc – Polier đã chà xát giấy để in các dòng chữ khắc trên trụ đá của Firoz Shah và gửi cho Sir William Jones ở Calcutta.
Niềm vui của Jones khi cầm trên tay bản sao chứ khắc đã chuyển thành nỗi thất vọng và chán nản khi ông thấy mình hoàn toàn không thể giải mã được bộ chữ khắc rõ ràng là cổ nhất trong ba bộ chữ khắc trên cột trụ Firoz Shah. ‘Các chữ khắc Nagari rất dễ hiểu và hiện đại,’ Jones cho biết trong một lá thư gửi cho bạn, ‘nhưng tất cả những chữ khắc cổ trên cột đá Firuz-Shah khiến tôi tuyệt vọng. ‘
Chữ khắc khó đọc này được viết bằng bảng chữ cái gồm khoảng ba mươi ký tự được xác định rõ ràng, thoạt nhìn có thể nhầm là chữ Hy Lạp, nhưng rõ ràng không phải. Các học giả Bà La Môn của Jones đã xem xét chữ viết và tuyên bố đó là chữ Brahmi lipi, hay “chữ viết của thần Brahma”, một cách gọi lãng mạn phù hợp nhưng vô nghĩa đối với giới học giả châu Âu cho đến tận thế kỷ sau.
Điều Jones có thể xác định được là bảng chữ cái được sử dụng trên cột đá Firoz Shah giống hệt với bảng chữ cái mà Harrington tìm thấy tại hang Nagarjuni và trên một bộ bản khắc khác do một viên chức cấp cao từ Tây Ấn Độ gửi đến Hội Châu Á. Những bản khắc này được lấy từ tường của một số đền thờ hang động nhân tạo tại Ellora, trên những ngọn núi trong nội địa Bombay.
Không hiểu vì lý gì, Jones lúc này kết luận rằng cả ba bộ chữ khắc đều phải có liên quan theo một cách nào đó đến một nhà chinh phục hoặc nhà làm luật từ Ethiopia: ‘Tôi tin rằng chúng là của Ethiopia, và đã được mang vào đây khoảng một nghìn năm trước Công nguyên bởi các tín đồ của Buddha hoặc các thầy tu và binh lính của nhà chinh phục Sisac, nhân vật mà người Hindu gọi là Sư tử của Sacya.’ Ông cho rằng chính Sisac hoặc Sakya (Thích Ca) này đã du hành đến Ấn Độ từ Ethiopia ‘khoảng một nghìn năm trước Công nguyên’, danh hiệu Phật của ngài, chỉ ra một người giác ngộ, cho thấy rằng ngài ‘là một ân nhân hơn là kẻ hủy diệt giống nòi của mình’.
Điều Jones cũng phát hiện ra là các học giả Bà-la-môn của ông có quan điểm quá khích về chính Sakya hay Đức Phật này, tuyên bố ngài không chỉ là một thủ lĩnh dị giáo của một giáo phái lầm lạc mà còn là hóa thân thứ chín của thần Vishnu. Điều này phản ánh
chính xác như những gì nhà sử học Ả Rập Abu al-Fazl đã viết trong cuốn Ain-i-Akbari của ông, trong đó ông đã nhận xét, ‘Những người Bà la môn gọi Boodh là hóa thân thứ chín, nhưng khẳng định rằng tôn giáo mà ông rao giảng là lầm lạc.’
Nghịch lý này làm Jones vô cùng bối rối: ‘Ngài dường như là người tuân theo các giáo lý chứa trong kinh Vệ Đà; và mặc dù bản tính nhân từ của ngài đã buộc ngài phải phê phán những kinh sách cổ xưa này, bởi vì chúng chủ trương hiến tế gia súc, vậy mà ngài lại được công nhận là hóa thân thứ chín, ngay cả bởi những người Bà la môn ở Casi [Kashi, tên cổ của Varanasi].’ Giải pháp Jones đề xuất rằng đã có hai vị Phật: vị đầu tiên là một nhà cách mạng ‘đã cố gắng lật đổ hệ thống của những người Bà la môn, và là nguyên nhân khiến họ đàn áp những người Baudha’; vị thứ hai là một vị Phật xuất hiện sau, ‘mang tên và tính cách của vị đầu tiên’.
Những suy nghĩ thăm dò của Jones về Đức Phật và Phật giáo đã xuất hiện trong hai số đầu tiên của Tạp chí Nghiên cứu Châu Á, nhiều lần bị trì hoãn nhưng cuối cùng đã được xuất bản vào năm 1789. Chúng đã gây ra một làn sóng phản hồi từ bạn bè và các phóng viên: trong số đó có John Marsden ở Sumatra, Đại úy Mahony ở Ceylon, William Chambers ở Madras, Trung úy Francis Wilford ở Varanasi, Henry Colebrooke ở Mirzapur, John Harrington ở Calcutta, và Francis Buchanan ở Bengal. Những người liên lạc đa dạng này đã trích dẫn các văn bản Phật giáo cổ xưa được tìm thấy ở các xứ sở phía bắc, phía đông và phía nam Ấn Độ, một số được viết bằng tiếng Phạn nhưng một số khác được viết bằng tiếng Pali, được cho là có cùng nguồn gốc với tiếng Phạn, cả hai dường như đều bắt nguồn từ một ngôn ngữ nói gọi là Prakrit, ‘bao gồm các phương ngữ địa phương, ít tinh tế hơn và có ngữ pháp kém hoàn hảo hơn’.
Tất cả các văn bản nước ngoài này đều nhất trí rằng Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ; cụ thể là đất nước Magadha, ‘trong hơn hai nghìn năm là trung tâm học thuật, văn minh và thương mại’, và ‘cái nôi tôn giáo của một trong những giáo phái hùng mạnh và rộng lớn nhất thế giới’. Có thêm sự đồng thuận rằng người sáng lập Phật giáo là một nhân vật lịch sử tên là Sakyamuni (Thích Ca Mâu Ni) hay Đức Phật Gautama (Cồ Đàm), người đã sống và nhập diệt tại chính xứ Magadha đó. Và nếu những nguồn tư liệu này chính xác, thì Đức Phật này đã viên tịch không phải vào thế kỷ thứ 11 TCN, như Jones đã nói, mà muộn hơn là vào thế kỷ thứ 5 TCN. Bằng chứng mới này cũng cho thấy rằng mặc dù bị “các Bà-la-môn coi là vô thần và bị đàn áp là dị giáo”, và bất chấp sự đàn áp của nhiều nhà cầm quyền Ấn Độ giáo, Phật giáo không chỉ phát triển ở Ấn Độ trong nhiều thế kỷ mà vẫn tiếp tục tồn tại ở một số vùng của tiểu lục địa cho đến tận thế kỷ thứ mười hai.
Cùng thời điểm này, bằng chứng ủng hộ nguồn gốc Ấn Độ của Phật giáo bắt đầu xuất hiện từ chính đồng bằng sông Hằng, bắt đầu với một bản chữ khắc được tìm thấy tại một ngôi đền đổ nát được người dân địa phương gọi là Buddhagaya (Bồ Đề Đạo Tràng) , ngay phía nam thị trấn Gaya ở miền nam Bihar. Nó ghi lại một khoản cúng dường vào thế kỷ thứ mười cho ‘ngôi nhà của Bood-dha’, tôn vinh ‘Đấng Siêu phàm, Bood-dha’, người đã ‘xuất hiện ở đây với một phần bản chất thần thánh của mình’. Tại Varanasi, bằng chứng đáng kinh ngạc cũng xuất hiện cho thấy rằng thành phố Hindu chính thống bậc nhất này đã từng có thời kỳ đối đầu với một tôn giáo đối thủ.
Vào những năm 1780, Varanasi đang trong quá trình Anh hóa thành Benares dưới quyền quản lý mới của Công ty Đông Ấn. Năm 1788, Công ty đã bổ nhiệm làm Công sứi và giám sát trong thành phố đó Jonathan Duncan, ba mươi hai tuổi, một thành viên của nhóm quản lý được chọn lọc, được gọi là “những chảng trai của Warren Hastings”, và là một trong số ít người có sự đồng cảm với văn hóa Ấn Độ kết hợp với óc tò mò trí tuệ – hai phẩm chất song hành của người theo chủ nghĩa phương Đông. Duncan chia sẻ quan điểm của Hastings rằng việc can thiệp vào luật pháp cổ xưa của Ấn Độ hoặc các quan điểm tôn giáo của họ sẽ là một “sự chuyên chế không mong muốn”, đồng thời coi nhiệm vụ của mình là phản đối những hành vi vi phạm cái mà ngày nay được gọi là nhân quyền. Trong số đó bao gồm tục lệ giết trẻ sơ sinh nữ, vốn được thực hành rộng rãi bởi tầng lớp Rajput, những địa chủ quyền lực nhất quanh Benares. Bằng cách chứng minh với các địa chủ hàng đầu rằng tục lệ này vi phạm kinh điển Hindu, Duncan đã thuyết phục được họ chấm dứt. Tuy nhiên, tầng lớp Bà la môn bảo thủ hơn của thành phố cũng phải được thu phục, điều mà Duncan đã đạt được bằng cách vận động một Học viện Phạn ngữ ở Benares, “lên tiếng ủng hộ việc bảo tồn và phát huy Luật pháp, Văn học và Tôn giáo của Quốc gia, tại Trung tâm Đức tin của họ”. Nhờ sự khéo léo này, Duncan đã giành được sự ủng hộ của tất cả các tầng lớp trong thành phố. Điều đó có nghĩa là vào năm 1794, khi một chiếc bình bằng đá cẩm thạch xanh được khai quật từ một tàn tích nào đó ở phía bắc Benares, nó đã được mang đến cho Duncan để xin lời khuyên.
Chiếc bình đựng tro cốt được phát hiện khi một quần thể tàn tích được gọi là Sarnath đang được khai quật để làm vật liệu xây dựng. Nó chứa các mảnh xương đã hỏa táng, điều này trái với phong tục của người Hindu, khiến Duncan suy đoán rằng hài cốt này hẳn thuộc về ‘một trong những người sùng bái Đức Phật, một nhóm người theo dị giáo Ấn Độ, không tôn kính sông Hằng, vốn thường chôn hài cốt của họ xuống đất thay vì giao phó chúng cho dòng sông’. [Các Phật tử ít ai không biết Sarnath là nơi Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên khi Ngài vừa giác ngộ cho 5 anh em Kiều Trần Như: ND].
Giả thuyết của Duncan đã được xác nhận khi trong cùng một đống đổ nát, người ta phát hiện ra ‘một bức tượng Phật’ có khắc dòng chữ mà khi được bạn bè của ông từ Cao đẳng Phạn ngữ phiên dịch ra thì đó là dòng đề tặng cho vật cúng vào thế kỷ thứ mười một của Basantapala, Vua xứ Gaur, người cùng em trai đến đó để chiêm bái và ‘ra lệnh cho tất cả những ai không theo Đức Phật phải đi theo giáo phái đó’.
Đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ dưới sự bảo trợ hoàng gia ở Thượng Bengal cho đến tận thế kỷ thứ mười một.
Nhưng giờ đây điều quá rõ ràng đối với Sir William Jones và các nhà bác học đồng nghiệp của ông là việc phục hồi quá khứ tiền Hồi giáo của Ấn Độ đang bị trì hoãn do thiếu cái mà Jones gọi là ‘nhu cầu lớn lao trong văn học phương Đông, Niên đại học’; cụ thể là một số tên hoặc sự kiện có thể gắn liền với lịch sử châu Âu – một phương pháp luận ngày nay được gọi là đồng bộ luận. Có lẽ cảm thấy mình không đạt được kết quả gì với những mối tương quan Kinh Thánh, Jones đã tìm đến những tác phẩm kinh điển thời thơ ấu. Ông biết rõ Herodotus, Strabo và Megasthenes; ông đã đọc Anabapsis của Arrian, Geographia của Ptolemy và Historiae Alexandri Magni của Quintus Curtius Rufus bằng tiếng Hy Lạp và tiếng Latin nguyên bản, cùng nhiều tác phẩm khác nữa. Giờ đây, ông kiểm tra lại các văn bản này một cách chặt chẽ nhất xem liệu chúng có chiếu rọi chút ánh sáng nào lẻn lịch sử sơ khai của Ấn Độ, đặc biệt các vị vua Ấn Độ mà Alexander Đại đế và những người kế vị Macedonia của ông ở phương Đông từng chạm trán trong cuộc xâm lược Ấn Độ. Ông tin rằng ẩn chứa trong những ghi chép này có chìa khóa giải đáp sự đồng bộ còn thiếu: một cái tên hoặc sự kiện chung cho cả người Hy Lạp lẫn người Ấn Độ, có thể được nhận dạng và bằng cách đó sẽ mở khóa được cánh cửa quá khứ.