Ashoka- Đi Tìm Vị Hoàng Đế Thất Lạc của Ấn Độ (Bài 2)

CHARLES ALLEN

Trần Quang Nghĩa dịch

2 Cột trụ vàng của Firoz Shah

Tàn tích pháo đài của Sultan Firoz Shah, được một nghệ sĩ Delhi vẽ vào khoảng năm 1820. Bức tranh cho thấy những khách tham quan đứng trên tầng trên của tàn tích cung điện để xem xét trụ cột vàng mà người xây dựng đã chọn làm nét đặc  tả trung tâm: Trụ cột Firoz Shah. Nhà thờ Hồi giáo bên phải vẫn còn tồn tại nhưng phần lớn pháo đài ban đầu sau đó đã bị phá hủy để nhường chỗ cho sân vận động cricket. (Met-calfe Album, APAC, Thư viện Anh)

 

Ở Ấn Độ hiện nay, Giải đấu Cricket IPL Twenty20 là sự kiện hấp dẫn nhất;

Đối với hầu hết người Ấn Độ, Pháo đài Firoz Shah chỉ mang một ý nghĩa duy nhất: cricket – và không gì khác. Ít ai liên tưởng cái tên này với quá khứ Hồi giáo của Delhi, và càng ít người biết rằng đống đổ nát nằm dưới bóng sân vận động mà nó được đặt tên lại ẩn chứa một trong những di tích cổ xưa và phi thường nhất của Ấn Độ.

 

Quốc vương Hồi giáo Firoz Shah là người xây dựng nên thành phố thứ sáu trong số rất nhiều thành phố của Delhi. Thành phố đầu tiên là đáng ngờ nhất: Indraprastha, được ca tụng trong sử thi Mahabharata của Ấn Độ cổ đại, nơi đây được coi là thủ đô của năm anh em chiến binh được gọi là Pandavas. Những tàn tích truyền thuyết này được cho là nền tảng của Purana Qila, hay “Pháo đài Cổ”, nằm cạnh Sở thú Delhi. Tuy nhiên, một quần thể tàn tích ít đồ sộ hơn ở phía nam và phía tây, được gọi là Lal Kot, hay “Pháo đài Đỏ”, có một tuyên bố đáng tin cậy hơn bởi vì chính tại đây, Qutb-ud-din Aybak – vị tướng nô lệ hung dữ đã cai quản vùng đất mà người nô lệ mình là Muhammad Bakhtiyar đã chinh phục Bihar và Bengal – đã chọn thành lập trụ sở hành chính của Vương quốc Hồi giáo đầu tiên tại Delhi.

 

Để ăn mừng chiến thắng trước đội quân đông đảo của người Hindu vào năm 1193, Qutb-ud-din đã xây dựng một nhà thờ Hồi giáo mà ông đặt tên là “Sức mạnh của Hồi giáo”, được xây dựng bởi các thợ thủ công nô lệ từ đá của hai mươi bảy ngôi đền Hindu và Jain. Bên cạnh nhà thờ Hồi giáo, ông đã xây thêm một tháp chiến thắng mang tên Qutb al-minar, một công trình thực sự đồ sộ: một tháp khổng lồ, thon dài bằng đá sa thạch đỏ với đường kính đế gần 15 mét. Ông dự định đây sẽ là tòa tháp lớn nhất và cao nhất trong thế giới Hồi giáo, nhưng đến khi Qutb-ud-din qua đời dưới vó ngựa trong một trận đấu polo (trò chơi quý tộc, trong đó người chơi cưõi ngựa, dùng gậy đánh quả bóng nhỏ vào gôn phía đối phương), chỉ có tầng đầu tiên trong số năm tầng theo kế hoạch, cao 27 mét, được hoàn thành.

 

Một thế kỷ sau, Delhi thứ ba được dựng lên tại Siri, phía tây bắc Pháo đài Đỏ. Đây là công trình của Sultan Ala-ud-din Khalji, và công trình này được tài trợ phần lớn nhờ chiến tích cướp bóc vùng Deccan, được ghi lại trong truyền thuyết Ả Rập là Hang Ala-ud-din. Ông cũng bắt đầu xây dựng một tháp chiến thắng, dự định sẽ lớn gấp đôi tháp chiến thắng do Qutb-ud-din khởi công. Nhưng một lần nữa, cái chết lại ập đến, dưới hình thức một loại thuốc độc do một trong những vị tướng của ông thực hiện, nên chỉ có tầng đầu tiên của tháp được dựng lên.

 

Hai thập kỷ sau, một Delhi thứ tư đã mọc lên gần đó:

Pháo đài Tugh-luqabad do Ghias-ud-din Tughlaq xây dựng. Cái chết bi thảm của ông – bị bóp cổ đến chết bên trong một nhà rạp chào đón do con trai ông, Muhammad bin Tughluq, dựng lên – đã đưa con trai ông lên ngôi vua Delhi vào năm 1325. Kẻ giết cha lập dị này tự xưng là “Chiến binh vì sự nghiệp của Chúa” nhưng lại được thần dân biết đến nhiều hơn với cái tên al-Khuni, “Kẻ nhuốm máu”, chủ yếu vì quyết định thảm khốc của ông khi di chuyển thủ đô và toàn bộ dân chúng đến Daulatabad ở Deccan cách đó bảy trăm dặm về phía nam rồi hai năm sau quay trở lại. Khi trở về Delhi, ông đã thành lập nhưng sau đó lại bỏ rơi một Delhi thứ năm: Jahan-panah, hay “Nơi ẩn náu của thế giới”.

 

Vào mùa xuân năm 1351, Muhammad, bị lên cơn sốt bên bờ sông Indus và qua đời. Phải bốn ngày sau, người anh em họ của ông là Firoz Shah Tughluq mới chịu thuyết phục sẵn sàng đối mặt với vận mệnh của mình.

 

Firoz Shah, một con người hiền lành, không phải là mẫu người thích hợp để trở thành một bạo chúa. Sinh ra trong một gia đình Hindu và được bà nuôi dưỡng trong cảnh cô lập sau khi  cha mình chết sớm, Firoz Shah hẳn đã trở thành con mồi dễ dàng cho những kẻ đã đưa ông lên làm vua Hồi giáo Delhi. Không bạn bè hay tiền bạc, ông gần như không còn lựa chọn nào khác ngoài việc mua chuộc để thoát khỏi rắc rối, sử dụng “thuế dành cho người ngoại đạo” làm biện pháp huy động tài chính. Ông phải vỗ về phe thuần khiết tôn giáo tại triều đình bằng cách đàn áp các giáo phái thờ ngẫu tượng (Phật giáo,  Ấn Độ giáo …) theo định kỳ.

 

Điều này cho thấy hồ sơ của vị quốc vương này không hề trong sạch. Ông là người chịu trách nhiệm cho một cuộc tấn công khét tiếng vào ngôi đền Jagannath nổi tiếng trên bờ biển Kalinga (nay là Orissa) vào năm 1360, dẫn đến một cuộc nổi dậy của dân chúng, nhưng bị đàn áp dã man. Sự kiện này cho phép các nhà viết tiểu sử của ông mô tả Quốc vương Firoz Shah như một trụ cột của đức tin. Nhờ lực lượng lao động nô lệ nòng cốt được cho là lên đến 180.000 người, Firoz Shah có thể xây dựng các trường đạo madrassa, bệnh viện, cầu, kênh đào, hồ chứa và các tòa nhà công cộng trên khắp đất nước, không có lợi ích nào sâu rộng hơn Kênh đào West Jumna dài 150 dặm, kênh đào đã biến một vùng đất khô cằn rộng lớn thành vựa lúa của 0.

 

Nhưng Firoz Shah cũng quan tâm đến việc phục hồi và chính tại đây ông đã có thể, rất kín đáo, thể hiện một khía cạnh khác trong tính cách của mình bằng cách thể hiện một mức độ khoan dung tôn giáo đối với người dị giáo. Năm 1326, một tia sét đã đánh sập hai tầng trên cùng của tháp chiến thắng Qutb-ud-din, tạo cho vị vua cái cớ để tạo dấu ấn riêng của mình trên một quần thể tôn giáo vốn đã đồ sộ. Ông đã trùng tu lại tòa tháp vĩ đại, nhưng có lẽ cũng đã thêm vào một kỳ tích độc đáo của riêng ông: một cây cột sắt nguyên khối cao hai mươi bốn bộ từng đứng ở tiền sảnh của một ngôi đền Hindu.

 

Hàng trăm cột trụ như vậy, thường được làm bằng đá và trên đỉnh đặt tượng chim thần mặt trời Garuda bằng đồng (vật cưỡi của thần Vishnu), đã từng đứng sừng sững ở tiền sảnh các đền thờ trên khắp miền Bắc Ấn Độ. Nhiều cột trụ đã bị phá hủy trong những thế kỷ trước đó và những hình tượng Garuda đi kèm đã bị nấu chảy để lấy kim loại. Không rõ cột trụ này đến từ đâu, nhưng chắc chắn nó là một vật tổ của Ấn Độ giáo. Tuy nhiên, rất có thể quốc vương đã cho dựng cột trụ vô thần này ở trung tâm khu vực cầu nguyện công cộng của nhà thờ Sức mạnh Hồi giáo, ngay trước bình phong và hốc tường chỉ hướng về Mecca – một hành động phạm thánh trắng trợn có lẽ giải thích tại sao nhà thờ Hồi giáo bị bỏ hoang, không còn là nơi cầu nguyện vào thứ sáu nữa vào cùng thời gian này.

 

Nhưng rồi Quốc vương Firoz Shah rõ ràng rất mê những cột trụ của bọn ngoại đạo, bởi một trong những hành động đầu tiên của ông nhằm bảo vệ Vương quốc Hồi giáo Delhi là dựng lên một phiên bản khiêm tốn hơn của riêng mình, một tháp chiến thắng, tại nơi diễn ra chiến thắng đó: Hisar, cách Delhi khoảng một trăm dặm về phía tây bắc. May mắn thay, một tháp chiến thắng đã có sẵn gần đó: một cột trụ đá đẹp đẽ cao khoảng ba mươi bộ, được đẽo gọt từ một khối đá duy nhất. Ông cho dựng lại trụ cột này trong sân cầu nguyện của thánh đường Hồi giáo mới, kèm theo một tấm bia khắc bằng tiếng Ba Tư, ghi lại lịch sử triều đại của ông cho đến thời Quốc vương Firoz Shah lên ngôi. Ngay sau đó, khi đang đi săn gần làng Topra, xa hơn về phía đông, ở vùng thượng lưu Doab (vùng đất nằm giữa sông Jumna và sông Hằng), Quốc vương đã tìm thấy một cột đá khác.

 

Cột đá này cũng được đẽo từ một khối đá duy nhất, nhưng to lớn hơn nhiều so với cột đầu tiên, dài bốn mươi hai bộ (khoảng 12 mét) và nặng hơn 25 tấn. Nó cũng ở trong tình trạng tốt hơn nhiều, với bề mặt đỏ bóng loáng, được đánh bóng hoặc tráng men, khiến nó sáng bóng như vàng. Hơn nữa, nó chỉ là một trong hai cột, cột kia nằm ở phía đông Delhi tại Meerut. Một người đương thời ghi nhận, “Những cột đá này đã sừng sững ở đấy từ thời Pandavas, nhưng chưa bao giờ thu hút sự chú ý của bất kỳ vị vua nào ngồi trên ngai vàng Delhi, cho đến khi Sultan Firoz để mắt đến chúng.’

 

Trên thực tế, các cột đá khác đã thu hút sự chú ý của những người Hồi giáo chinh phục trước đó, nhưng Firoz Shah là người đầu tiên nghĩ đến việc bảo tồn thay vì phá hủy chúng. Ông cũng muốn hiểu ý nghĩa của chúng. Ông cũng cho điều tra rộng rãi trong giới pundit Bà-la-môn (từ này, theo nghĩa đen, là người ghi nhớ các văn bản cổ xưa được gọi là kinh Vệ Đà, nhưng được sử dụng rộng rãi hơn để mô tả một học giả Bà-la-môn) và phát hiện ra rằng theo truyền thuyết địa phương, hai cột ở Topra và Meerut là ‘chiếc gậy đi bộ của Bhim đáng nguyền rủa [một trong năm anh em Pandava, một người khổng lồ có sức mạnh vô song]. Khi Bhim chết hai cột này được để lại như một đài tưởng niệm ông ta.’ Tràn ngập sự ngưỡng mộ, Firoz Shah quyết định cẩn thận chiếm lấy chúng làm chiến lợi phẩm cho Delhi.

 

Người cùng thời chứng kiến ​​những sự kiện này và sau đó viết về chúng là Shams-i Siraj ‘Afif, từ 12 tuổi đã phục vụ dưới trường Quốc vương Firoz Shah và ghi chép lại cuộc đời của ngài. Shams-i Siraj đã chứng kiến ​​kỳ công, dường như được chính Quốc vương giám sát, vận chuyển hai cây cột đá khổng lồ  đến Delhi và sau đó được dựng lại. Đầu tiên là cột từ Topra, được Firoz Shah đặt tên là minara-i zarin, hay “cột vàng”, vì vẻ sáng bóng tuyệt vời của nó:

 

Những chỉ thị được ban ra nhằm mang những bọc bông gòn của cây Sembal [cây bông gòn] quấn xung quanh cột, và khi đất ở chân cột được đào lên, nó rơi nhẹ xuống nền đất đã chuẩn bị sẵn. Sau đó, bông được gỡ ra dần dần, và sau vài ngày, cây cột đã nằm an toàn trên mặt đất. . .  Cây cột sau đó được bọc kín từ trên xuống dưới bằng lau sậy và da sống, để tránh hư hại. Một cỗ xe ngựa 42 bánh được đặc chế, và dây thừng được buộc vào mỗi bánh xe. Hàng ngàn người kéo từng sợi dây thừng, và sau bao nhiêu công sức và khó nhọc, trụ cột được nhấc lên xe ngựa.

Cột trụ vàng được kéo xuống bờ sông Jumna, nơi nó được chất lên một số chiếc thuyền lớn ghép lại với nhau trước khi được thả trôi theo dòng sông đến Delhi.

Cột trụ vàng của Sultan Firoz Shah, từ một bản sao minh họa độc đáo của Sirat-i Firoz Shahi. Cột đá được chất lên xà lan trước khi được kéo xuống sông Yamuna. (Thư viện Công cộng Phương Đông Khuda Bakhsh, Patna)

 

Vào thời điểm này, Quốc vương đang xây dựng kinh đô của riêng mình với sự giúp đỡ của một đội quân nô lệ thủ công. Ông đã thành lập New Delhi này ở phía bắc các thành phố trước đó do các vị vua trước xây dựng và được đặt tên là Firozabad. Vì những viên đá của nó sau đó đã bị những người kế vị Firoz Shah xẻ thịt, nên ngày nay chỉ còn lại rất ít dấu vết của Firozabad ngoài tàn tích pháo đài của Firoz Shah – và cây cột vàng nằm ở trung tâm. Để dựng được cây cột vĩ đại đó vào đúng vị trí, cần phải có thêm nhiều kỹ thuật khéo léo. Theo một nguồn tiểu sử thứ hai, có thể do chính Firoz Shah ghi chép lại, vật tổ đáng chú ý này lúc bấy giờ đã được giao phó một mục đích tôn giáo mới: ‘Sau khi là đối tượng thờ cúng của những người theo thuyết đa thần và những kẻ ngoại đạo trong hàng ngàn năm, nhờ nỗ lực của Quốc vương Firoz Shah và nhờ ân điển của Chúa, nó đã trở thành  minar [ngọn tháp] của một nơi thờ cúng dành cho những người có đức tin.’

 

Cây gậy thứ hai của Bhim khổng lồ được Firoz Shah bảo quản cũng trải qua quá trình tương tự. Người ta chở nó xuôi dòng và dựng lại thành điểm nhấn của một trại săn bắn, tọa lạc trên một sườn núi thấp cách Firozabad (ngày nay gọi là Delhi Ridge, ngay bên ngoài tường thành cổ Delhi) vài dặm về phía bắc. Cả ở đây và tại cung điện của Firoz Shah, cột đá trở thành điểm nhấn trung tâm, nhờ đó có thể nhìn thấy đỉnh của mỗi cột từ xa, nhô lên phía trên tòa nhà.

 

Sau khi đến thăm tàn tích của trại  săn bắn vào khoảng năm 1610, nhà du hành người Anh William Finch đã mô tả nó như là ‘một nhà nghỉ săn bắn cổ xưa’ từ đó mọc lên ‘một cột đá, vượt hơn ba tầng [sic], cao hơn 24 bộ (khoảng 8m), trên đỉnh có một quả cầu và một nửa mặt trăng phía trên. … Họ nói rằng tảng đá này có khắc chữ.’

 

Đúng là cả hai cột ở Delhi đều có dòng chữ khắc, điều này đã khơi dậy sự tò mò của Sultan Firoz Shah đến nỗi ông đã tiến hành điều tra sâu rộng về nguồn gốc và ý nghĩa của chúng, nhưng không có kết quả: ‘Nhiều tín đồ Bà La Môn và Ấn Độ giáo đã được mời đến đọc nhưng không ai có thể.’ Có vẻ như không ai biết những gì được viết trên hai cây cột – hoặc ai là người đầu tiên cho dựng chúng lên.

 

Điều mà viên chức hoặc người viết tiểu sử của quốc vương Shams-i Siraj ‘Afif không bao giờ hiểu – hoặc không muốn nêu ra – là cột vàng và cột vàng song sinh kém lộng lẫy hơn của nó sừng sững như thế nào trong cuộc sống và trí tưởng tượng của Firoz

Shah. Điều đó chỉ trở nên rõ ràng nhiều thế kỷ sau, khi một tài liệu chưa từng được biết đến về cuộc đời của Firoz Shah được tìm thấy: một bản thảo có tựa đề Sirat-i Firoz Shahi, rất có thể đã được chính vị quốc vương này viết hoặc đọc cho viết. Bản thảo trình bày rất chi tiết và kèm theo một loạt hình minh họa đáng chú ý, những kỹ năng kỹ thuật được sử dụng để di dời cột đá khỏi vị trí ban đầu, vận chuyển nó đến bờ sông Jumna, thả trôi xuống Delhi và dựng lại trong tòa nhà đặc biệt bên cạnh nhà thờ Hồi giáo.

 

Đáng chú ý hơn nữa, bản thảo đó còn chứa một bài thơ do Firoz Shah viết để ca ngợi cột vàng của mình. “Không một loài chim nào, dù là đại bàng hay sếu, có thể bay lên đỉnh cột vàng”, vị quốc vương tuyên bố bằng lối cường điệu đặc trưng của người Ba Tư.

 

Ông tiếp tục tự hỏi nó được xây dựng và dựng lên như thế nào, và làm thế nào những người chế tạo nó có thể ‘sơn vàng khắp nơi để mọi người nghĩ đó là bình minh vàng son?’ Ông kết thúc bằng câu hỏi cột vàng thực sự là gì nhưng không tìm thấy câu trả lời nào: ‘Đó có phải là Tuba [Cây Liên Hoa của Thiên Đường] mà các thiên thần đã trồng trên trái đất, hay là Sidya [Cây Mận của Thiên Đường] mà con người đã coi là một ngọn núi?’

 

Cái chết của Quốc vương Firoz Shah năm 1388 đã dẫn đến một thập kỷ nội chiến nổ ra giữa các hậu duệ của ông. Con trai cả của ông, Fateh Khan, đã giành được vương quốc Hồi giáo trong một thời gian ngắn và ăn mừng bằng cách thành lập thành phố Fatehabad, hay “Thành phố Chiến thắng”, nằm cách Hisar một quãng ngắn về phía tây bắc. Ông cũng cho dỡ bỏ phần trên của cột trụ tại Hisar, nơi lưu giữ đài tưởng niệm của cha mình dành cho triều đại Tughlaq, và dựng lại nó tại Fatehabad.

 

Liền theo sau cái chết của Fateh Khan là sự nổi lên của người Thổ Nhĩ Kỳ-Mông Cổ dưới sự lãnh đạo của Amir Timur xứ Khorasan, còn được gọi là ‘Timur Què’ (Tamberlaine), chắt của Thành Cát Tư Hãn và là người sáng lập triều đại Timur, tiền thân của nhà Mughal. Timur Què đã càn quét khắp vùng Punjab, cướp bóc và đốt phá, dừng lại một thời gian ngắn ở Hisar để phá hủy những gì còn sót lại của trụ đá Firoz Shah. Theo Shams-i Siraj ‘Afif, Timur ra lệnh cho mỗi kỵ binh trong quân đội của mình tập hợp hai đống củi. Chúng được chất đống xung quanh cột trụ và châm lửa đốt. Cột trụ vẫn còn đứng cạnh nhà thờ Hồi giáo ở Hisar, phần dưới bị hư hại nặng nề đến mức không còn sót lại bất kỳ dòng chữ khắc nào thời tiền Hồi giáo mà nó từng mang.

 

Sau khi tàn sát một trăm ngàn tù nhân ngoại đạo làm chậm bước tiến của   ông, Timur tiến hành tấn công và cướp phá Delhi, bắt thêm rất nhiều tù nhân mới theo lệnh mỗi binh sĩ trong quân đội của mình phải mang về từ 50 đến 100 người; đàn ông, phụ nữ và trẻ em. ‘Ngòi bút của định mệnh đã viết nên số phận này cho người dân thành phố vì đó là ý muốn của Chúa để tai họa này giáng xuống thành phố.’ Đây là lời của chính Timur, được ghi lại trong tự truyện của ông.

 

Một trong số ít các tòa nhà còn sót lại sau cuộc cướp phá là pháo đài và nhà thờ Hồi giáo của Firoz Shah, nơi Timur đến tạ ơn Chúa và ra về với lòng đầy ngưỡng mộ trước cột vàng và cột song sinh của nó, tuyên bố rằng “trong tất cả các xứ sở ông đã đi qua, ông chưa từng thấy bất kỳ tượng đài nào sánh được với những tượng đài này”. Sau khi chinh phục Meerut và các trung tâm kháng cự khác, Timur ra lệnh cho quân đội của mình bắt đầu hành trình trở về “Samarkand, thủ đô và thiên đường của ta”.

 

Hai thế kỷ rưỡi sau, thương gia William Finch là một trong những người Anh đầu tiên quỳ mọp trước “Đại Mogul”, Hoàng đế Jahangir. Giống như những người tiền nhiệm, Jehangir là một nhà cai trị năng động và triều đình của ông về cơ bản là lưu động, nghĩa là những ai muốn ánh sáng của Hoàng đế chiếu rọi lên họ phải đi theo đoàn tùy tùng của ông. Nhờ vậy, Finch có cơ hội tham quan Delhi mới, nằm ngay phía bắc tàn tích Firozabad (một thành phố được hoàn thành bởi con trai của Jehangir là Shah Jehan và được đặt tên là Shahjahanabad, ngày nay được biết đến nhiều hơn với tên gọi Delhi Cổ). Tại đây, Finch và các bạn đồng hành đã xem xét trụ cột vàng, hiện được gọi là Trượng của Firoz Shah, và kết luận rằng những ký tự khó hiểu trên đó là một dạng chữ Hy Lạp, rất có thể được Alexander Đại đế dựng ở đó để đánh dấu chiến thắng của ông trước nhà cai trị Ấn Độ Poros.

 

Khi Hoàng đế Jehangir và triều đình của ông di chuyển về phía cửa sông Finch đi theo, rồi cuối cùng cũng đến được thị trấn cổ Prayag, nằm ở ngã ba sông Hằng và sông Jumna. Hoàng đế đã đổi tên thị trấn thành Allahabad và đang trong quá trình cải tạo thành một pháo đài. Bên trong tường thành, Finch nhìn thấy một trụ cột rất giống về chiều cao, chu vi và hình dáng với Trượng của Firoz Shah ở Delhi, mà ông cho là của cùng một người khởi xướng, mô tả nó là ‘một cột trụ bằng đá’ cao năm mươi cubit trên mặt đất và cắm trong lòng đất sâu đến nỗi không thể tìm thấy điểm cuối, mà theo hoàn cảnh của người Ấn thì có vẻ như đã được Alexander hoặc một nhà chinh phục vĩ đại nào đó dựng lên’.

 

Năm 1670, đến lượt một người Anh khác, John Marshall, 26 tuổi, ghi chép về sự tồn tại của những cột đá đồ sộ hơn ở vùng đồng bằng phía bắc Ấn Độ. Marshall đã đến Ấn Độ. với tư cách là một nhân viên môi giới hoặc đại lý thương mại cho một công ty thương mại Anh Quốc vẫn còn ít được biết đến, có tên là Công ty Đông Ấn (EICo). Năm 1670, ông được điều đến một trong những “nhà máy” hoặc trạm giao dịch xa xôi hơn của EICo tại Singhiya, nằm trên bờ đông của sông Gandaki, cách 15 dặm về phía thượng nguồn với điểm giao nhau với sông Hằng phía trên Patna  (một khu định cư đã bị cuốn trôi trong một lần sông Gandaki thay đổi dòng chảy.) Những tài liệu còn sót lại của ông cho thấy rằng tại Singhiya, một anh chàng Marshall biệt lập đã bắt đầu nghiên cứu tôn giáo và triết học Hindu, dẫn đến một cuộc tìm hiểu sâu rộng hơn về chiêm tinh học, y học và khoa học Ấn Độ. Điều này khiến ông trở thành người đầu tiên thuộc giới Đông phương học bị mạ lỵ.

 

Vài tháng sau khi Marshall đến Singhiya, ông đã thực hiện một cuộc thám hiểm sâu trong nội địa, để tìm hiểu về một báo cáo đề cập đến một trụ cột đứng kỳ lạ. Nhật ký của ông ghi lại rằng ông khởi hành từ Singhiya về phía bắc vào ngày 29 tháng 7 và đi bộ 12 dặm đến làng Bannia, nơi ông nghỉ đêm dưới một gốc cây lớn. Ngày hôm sau, ông đi bộ thêm 6 dặm nữa để đến đích: một nơi được người dân địa phương gọi là Brinkalattee, mà ông hiểu là “Quyền trượng của Brim”, hay chính xác hơn là của Pandava Bhim khổng lồ. Ở đó, Marshall được cho xem “một Cột Trụ nguyên khối như tôi hình dung. Trên đỉnh cột trụ này (Lattee) là bức tượng một con Hổ, một điêu khắc tinh xảo nhất mà tôi từng thấy ở Ấn Độ. Khuôn mặt hổ ihướng về phía Bắc Đông Bắc, nửa hướng Đông.’ Ông biết rằng người khổng lồ Bhim từng sống ở đây từ rất lâu, và rằng “cây cột này là cây gậy ông chống để đi, được cho là phần nằm dưới đất dài gấp hai lần phần trên mặt đất. Khi con người xuất hiện trên mặt đất, Brin thấy chúng là những sinh vật quá nhỏ bé nhưng lại vô cùng xảo quyệt và vượt xa ông đến nỗi ông cảm thấy rất phiền toái với họ, bèn đi vào dãy núi Tartarian và đến giữa hai ngọn núi lớn ông nằm xuống và chết và người phủ đầy tuyết.’

Cột đá và đầu cột ‘tượng Hổ’ mà John Marshall nhìn thấy ở Bắc Bihar, được vẽ bởi một hoạ sĩ không xác định – có thể là Thomas Law – vào khoảng năm 1783. Cột trụ này ngày nay được gọi là cột Lauriya-Nandangarh.

(Hội Hoàng gia Châu Á)

 

Đây là một trong những trụ cột đá lớn được người Hindu cho là của người khổng lồ Pandava Bhim. Tuy nhiên, lời kể của Marshall về việc người khổng lồ Bhim đi về phía dãy Himalaya và chết giữa hai ngọn núi là một tiếng vọng xa xôi của sự kiện xung quanh sự nhập diệt của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người đã lâm bệnh nặng khi đang trên đường trở về quê hương Kapilavastu và qua đời nằm giữa hai cây sala lớn.

 

Vào tháng 11 năm 1676, Marshall được chuyển đến một vị trí cao cấp hơn ở Balasore, Bengal, nơi ông qua đời tám tháng sau đó vì một dịch bệnh hoành hành đã cướp đi sinh mạng của hầu hết đồng nghiệp và nhiều người dân trong thị trấn. Trong di chúc, Marshall để lại các bản thảo về Ấn Độ cho hai người bạn tại trường Christ’s College,  Cambridge (nay thuộc Bộ sưu tập Harleian tại Bảo tàng Anh). Những tài liệu này bao gồm bản dịch tiếng Anh đầu tiên của Bhagavad Gita, và nếu Marshall hoặc bạn bè của ông xuất bản, thì sự khởi đầu của ngành nghiên cứu Ấn Độ học đã được thúc đẩy trước hơn một thế kỷ.

 

Chuyến đi ngắn ngủi của John Marshall đến Bihar diễn ra vào thời điểm cháu trai cực đoan của Hoàng đế Jahangir là Aurangzeb đang chứng tỏ mình là con người cuồng tín nhất của dòng dõi mình trong việc trấn áp nạn thờ ngẫu tượng. Là trung tâm của Ấn Độ giáo dòng Shaivite, thành phố Varanasi rõ ràng là mục tiêu cho chủ nghĩa bài trừ thánh tượng của Aurangzeb. Varanasi, vốn đã được các nhà cai trị Hồi giáo thanh tẩy một phần trong bốn lần trước, giờ đây lại phải hứng chịu đợt phá hủy thứ năm theo lệnh của Aurangzeb. Hàng trăm đền thờ bị phá hủy, một số đền thờ được thay thế bằng nhà thờ Hồi giáo, và thành phố đặt tên mới là Muhammadabad.

 

Một trong những ngôi đền này là đền thờ cổ thờ Bhairava (‘Thần Đáng Sợ’), một hiện thân phẫn nộ của Shiva, vị thần chủ trì của Varanasi), nằm ở ngoại ô phía bắc thành phố và có lẽ là ngôi đền Shaivite được tôn kính nhất trong thành phố vì lingam bằng đá hùng vĩ trong sân của nó, được tôn thờ trong nhiều thế kỷ với tên gọi là Lath Bhairava, hay ‘Quyền trượng của Shiva’. Aurangzeb đã cho phá hủy hầu hết ngôi đền để nhường chỗ cho một nhà thờ Hồi giáo nhưng không thể giải thích được, vẫn để lại cột đá lớn đứng sừng sững đến nỗi nhà thờ Hồi giáo mới được gọi là Lath Imam-barah hay ‘Nhà thờ Hồi giáo Cây trượng’.

 

Khi người cùng thời với John Marshall, Jean Baptiste Tavernier, người Pháp, đến thăm Varanasi vào giữa những năm 1670, ông đã tìm thấy cột đá đặt trên một bệ cao bên cạnh một nhà thờ Hồi giáo mới xây. Vì có một số lăng mộ  Hồi giáo ở gần đó, Tavernier cho rằng cột trụ này là một dạng tượng đài tưởng niệm:

 

Giữa bệ móng này, bạn sẽ thấy một cây cột cao khoảng 32 đến 35 bộ, hoàn toàn nguyên khối, mà ba người đàn ông phải khó khăn lắm mới có thể ôm xuể. Nó được làm bằng đá sa thạch, cứng đến nỗi tôi không thể dùng dao cào xước được. Khắp các mặt của cột tưởng niệm đều được trang trí bằng những hình chạm nổi hình động vật, và nó từng cao hơn mặt đất so với hiện tại, một số cụ già canh giữ trụ cột đã đảm bảo với tôi rằng trong 50 năm qua, cột đá đã lún xuống hơn 30 bộ. Họ nói thêm rằng đó là lăng mộ của một trong những vị vua Bhutan, người đã được chôn cất tại đây sau khi rời khỏi đất nước để chinh phục vương quốc này, nơi mà sau đó ngài đã bị con cháu của Tamerlane đánh đuổi.

 

Manh mối bị Tavernier hiểu sai nằm ở từ Bhutan, có chứa từ gốc tiếng Phạn budh, có nghĩa là ‘thức tỉnh’, như trong Buddha (Đức Phật), ‘Người đã giác ngộ’.

 

Hoàng đế Aurangzeb băng hà năm 1707, không một lời than khóc của đại đa số thần dân, và với cái chết của ông, quyền lực của triều đại Mughal bắt đầu sụp đổ, một quá trình được hỗ trợ bởi những cuộc tranh giành quyền lực giữa các con trai, cháu trai và chắt của ông. Vào một thời điểm nào đó trong hai thập kỷ tiếp theo, vụ nổ kho thuốc súng đã thổi bay trụ cột tại trạm nghỉ săn bắn của Firoz Shah ở phía bắc Delhi thành nhiều mảnh (được lắp ráp lại kiên trì hai thế kỷ rưỡi sau đó, với một mảnh vỡ còn thiếu, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Anh ở London). Khi triều đại Mughal suy yếu, các thế lực khác đã nhảy vào lấp đầy khoảng trống chính trị: đáng chú ý nhất là người Sikh từ Punjab, người Maratha từ Deccan và Công ty Đông- Ấn từ Bengal.

 

Dưới sự bảo trợ của các lãnh chúa Maratha và góa phụ thánh thiện của một trong số họ, Rani Ahilya Bai Holkar xứ Indore, thành phố Muhammadabad đã sớm được trả về tên cũ Varanasi và trải qua một cuộc tái sinh ngoạn mục. Bờ sông đầy màu sắc với những ngôi đền và bến tắm mà du khách chiêm ngưỡng ngày nay hầu như hoàn toàn nhờ vào sự siết chặt nạn cướp bóc của các lãnh chúa Maratha vào thế kỷ 18 – và nhờ vào sự sùng đạo của họ.

 

Vào thời điểm này, khi phần lớn người Hindu ở Varanasi đứng lên đòi lại bản sắc Shaivite của thành phố, thì cột đá mà Jean Baptiste Tavernier nhìn thấy trong sân Nhà thờ Hồi giáo Cây trượng đã trở thành trung tâm của một nghi lễ cầu mùa màng bội thu ngày càng phổ biến và là nơi diễn ra lễ hội thường niên được gọi là “Hôn lễ của thần Shiva”. Điều này gần như chắc chắn dẫn đến sự xung đột ngày càng tăng giữa các cộng đồng người Hindu và người Hồi giáo trong thành phố, lên đến đỉnh điểm vào mùa thu năm 1805 trong lễ hội Moharam của người Hồi giáo. Một sử gia địa phương đã viết: “Chính trong trạng thái cuồng nhiệt đến mức một đám đông tín đồ tại Lat’h Imambareh, vào năm 1805, đã bị một nhà thuyết giáo cuồng tín xúi giục giật đổ và làm ô uế trụ cột cùng các hình ảnh thờ cúng của đạo Hindu tại đó.”

Đám đông đã kéo cây trượng của thần Shiva xuống đất và đập gãy nó thành nhiều đoạn.

 

Người Hindu phẫn nộ đã đáp trả bằng cách phóng hỏa ngôi đền Hồi giáo lớn do Aurangzeb xây dựng bên bờ sông, sau đó bạo loạn lan rộng khắp thành phố. Vị thẩm phán trẻ tuổi của Varanasi, William Bird, đã huy động cảnh sát và hai đại đội lính Ấn Độ làm việc hết sức có thể nhưng không thể ngăn chặn đám đông người Hindu tấn công váo các khu người Hồi trong thị trấn. Theo lời của tờ Benares Gazetteer, “Toàn bộ Benares đang chìm trong cơn hỗn loạn khủng khiếp nhất, khi nhiều khu chợ bị thiêu rụi và toàn bộ khu phố Julaha chìm trong cướp bóc và bạo lực. Trật tự chỉ được quân đội vãn hồi sau khi khoảng 50 nhà thờ Hồi giáo bị phá hủy và hàng trăm người thiệt mạng.

 

Khi Mục sư Reginald Heber, Giám mục Calcutta, đến thăm Varanasi vào năm 1823, ông thấy Trượng của Shiva ‘bị bôi bẩn và nằm sấp’, và được bảo vệ bởi binh lính Ấn giáo. Vào một thời điểm nào đó trong ba thập kỷ tiếp theo, có lẽ là phần còn sót lại lớn nhất của cây cột đá gãy (hoặc có thể là phần gốc của nó vẫn còn nguyên vẹn), cao khoảng bảy hoặc tám bộ, đã được bọc trong một lớp vỏ đồng và được lực lượng vũ trang canh gác. Cho đến ngày nay, nó vẫn như vậy, chưa được các học giả nghiên cứu, bởi vì căng thẳng giữa hai cộng đồng ở Varanasi vẫn còn tồi tệ như trước.

 

Vào năm Aurangzeb mất, 1707, một nhóm nhà truyền giáo dòng Capuchin đã đến Lhasa trên cao nguyên Tây Tạng, được phái đi từ Goa thuộc Bồ Đào Nha với niềm tin rằng sẽ tìm thấy những con chiên Kitô giáo lầm đường ở phía bắc dãy Himalaya. Tám năm sau, những giáo sĩ Capuchin thất vọng này bị trục xuất khỏi Tây Tạng và định cư tại Thung lũng Kathmandu của Nepal, nơi họ duy trì một nhóm người trong hơn nửa thế kỷ cho đến khi bị trục xuất một lần nữa. Lệnh trục xuất thứ hai này đến từ nhà cai trị mới của Nepal, Prithvi Narayan Shah xứ Gorkha theo đạo Hindu, vốn không phải là người khoan dung về tôn giáo và đã khởi xướng một kế hoạch phân biệt đẳng cấp khiến các cộng đồng không theo đạo Hindu ở đất nước ông bị hạ xuống thành những kẻ bị ruồng bỏ hoặc nô lệ.

 

Dòng tu Capuchin và một số ít người cải đạo đã tìm được nơi ẩn náu gần thị trấn Bettiah trên đồng bằng Bihar, cách Varanasi khoảng 150 dặm về phía đông bắc. Nơi này giờ đây trở thành trung tâm của Giáo bộ Truyền bá Đức tin ở Tây Tạng-Ấn Độ tại Rome dưới sự lãnh đạo của cha Marco della Tomba, một học giả người Ý.

 

Vào khoảng năm 1769, Cha della Tomba đã báo cáo về sự tồn tại của hai cột đá ở gần đó, cả hai đều có khắc chữ và đều có tượng sư tử đá chạm khắc trên đỉnh (một trong số đó là ‘con hổ’ Tirhut mà Marshall nhìn thấy một thế kỷ trước):

 

Chúng cao 27 cubits tính đến tận đầu cột, Trên đỉnh cột có một con sư tử, trông rất tự nhiên. Chu vi cột là 7 cubit, theo như tôi tự đo. Cột dường như nguyên khối. Tôi đã dùng rìu chặt nó nhiều lần, và bắn vài phát đạn mà nó không hề hấn gì. Hai cột này như thể có khắc một bản văn nào đó, mà tôi đã viết lại trên giấy rồi gửi đi cho Viện Hàn lâm Hindu ở Benares và một số học giả Tây Tạng; nhưng không một ai trong số họ có thể đọc hoặc hiểu một từ nào trong số đó… Những ký tự này dường như là một số ký tự Hy Lạp cổ đại.

 

Cũng trong thời gian này, linh mục Dòng Tên can đảm Joseph Tiefenthaler đã đi khắp đồng bằng sông Hằng, trên danh nghĩa là người truyền bá Phúc Âm nhưng động lực chính của ông là học thuật. Sau khi Giáo hoàng ra tay đàn áp dòng Tên vào giữa những năm 1750, Tiefenthaler đã ở lại Ấn Độ để cống hiến hết mình cho việc nghiên cứu ngôn ngữ, tôn giáo và khoa học tự nhiên của Ấn Độ. Ông có lẽ là người châu Âu đầu tiên học tiếng Phạn, ngôn ngữ bí truyền được dùng để viết tất cả các kinh sách thiêng liêng của người Hindu – bí truyền ở chỗ nó được coi là ngôn ngữ của các vị thần và do đó chỉ có người Bà La Môn mới có thể tiếp cận nhờ địa vị được coi là người trung gian giữa các vị thần và con người.

 

Năm 1756, Tiefenthaler đã sao chép lần đầu tiên được biết đến những gì ông tin là văn bản khắc cổ nhất trên trụ vàng của Firoz Shah, sau đó gửi cùng với các giấy tờ khác cho nhà Ấn Độ học tiên phong người Pháp Abraham Anquetil du Perron. Tuy nhiên, du Perron lúc đó đang trong quá trình bị trục xuất khỏi Ấn Độ cùng với tất cả đồng hương sau khi Công ty Đông Ấn  chiếm được Pondicherry. Kết quả là, mãi đến rất lâu sau khi Tiefenthaler qua đời, học thuật của ông mới được biết đến thông qua việc xuất bản bộ ba tập “Recherches historiques et géographie sur l’Inde” (Nghiên cứu lịch sử và địa lý Ấn Độ) của du Perron, xuất bản năm 1786. Tiefenthaler và du Perron đã cùng nhau mang những hạt giống đầu tiên của nền Khai sáng châu Âu đến bờ biển Ấn Độ. Nhưng với tham vọng đế quốc của Pháp bị cản trở bởi ưu thế hải quân ngày càng tăng của Anh trên biển cả, chính quyền Anh mới là người tiếp nối quá trình đó – thông qua một học giả uyên bác người xứ Wales. Chính William ‘Đông phương’ Jones, một luật gia, học giả và nhà ngôn ngữ học kiệt xuất, là người đã đặt nền móng cho những hạt giống ấy nảy mầm.

 

Là con trai của một nhà toán học nổi tiếng, William Jones là một thần đồng với khả năng học ngoại ngữ đáng kinh ngạc. Khi tốt nghiệp Đại học Oxford, năm 1768, Jones thông thạo 13 ngôn ngữ và thân thiết với 28 ngôn ngữ khác. Giống như thân phụ mình, ông tìm đến giới quý tộc để được bảo trợ, trở thành gia sư cho con trai nhỏ và người thừa kế của Lord Spencer. Sau khi tự học tiếng Ả Rập và tiếng Ba Tư, ông bắt tay vào một số bản dịch, mang lại cho ông biệt danh Jones “Ba Tư” hoặc “Đông Phương”, và thúc đẩy ông tuyên bố rằng tác phẩm của các nhà thơ Ba Tư như Firdusi đáng ngưỡng mộ không kém các tác phẩm của Homer.

 

Việc thiếu hụt kinh phí triền miên đã khiến Jones phải ghi danh học tại Middle Temple nhưng không thể dập tắt tham vọng của mình. Khi được gọi vào Đoàn Luật sư năm 1774, “Harmonious” Jones – biệt hiệu phổ biến thứ ba của ông – đã trở thành một trong những  ngọn đèn dẫn đường của Hội Hoàng gia và câu lạc bộ của Samuel Johnson tại Turk’s Head ở Soho, chưa kể đến những dính líu của ông vào chính sách đảng Whig. Tham vọng của ông đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi ông không giành được vị trí giáo sư tiếng Ả Rập tại Oxford, vị trí mà ông tin là xứng đáng với mình. Điều này buộc ông phải nhìn xa hơn, dẫn đến việc ông chấp nhận một ghế tại Tòa án Tối cao mới thành lập ở Bengal.

 

Theo quan điểm của người châu Âu, Ấn Độ vào thời điểm này được coi là không hơn gì một nhà mồ, một bờ biển chết chóc mà rất ít người đến đó quay về. Hơn nữa, Jones chia sẻ quan điểm của đảng Whig rằng Công ty Đông Ấn là một tổ chức tham nhũng và chuyên quyền, tốt nhất nên bị giải thể. Điều giúp William Jones vượt qua những nghi ngại của mình chính là mức lương. Chức vụ thẩm phán tòa án tối cao mới được thành lập ở Bengal có mức lương 6.000 bảng Anh một năm (tương đương khoảng 200.000 bảng Anh ngày nay), theo tính toán của Jones, điều này có nghĩa là ngay cả khi ông sống rất thoải mái ở Ấn Độ, ông vẫn có thể trở về nhà sau mười năm nữa – một người đàn ông “vẫn còn trẻ có 30.000 bảng Anh trong túi’. Chức vụ này cũng giúp Jones có thể kết hôn với con gái của một giáo sĩ mà ông đã theo đuổi từ khi còn là sinh viên đại học và được phong tước hiệp sĩ.

 

Nhưng điều hấp dẫn Jones hơn nữa là Ấn Độ mở ra những khả năng mà nước Anh chưa từng mơ tới. Ba chuyến hải hành của thuyền trưởng Cook đến Thái Bình Dương đã cho thấy những gì có thể thành tựu và người bạn đồng hành trong chuyến hải hành đầu tiên của Cook, Joseph Banks, đã chứng minh bằng cách nào một hệ thống hoạt động khoa học trên quy mô lớn có thể được triển khai – với điều kiện có tài trợ, đủ số lượng người cùng chí hướng và một người có khả năng chỉ đạo định hướng từ trung tâm.

Ngài William Jones ngay trước khi ông qua đời không đúng lúc vào năm 1794. Một bản khắc từ bức vẽ của nghệ sĩ Arthur Devis ở Calcutta.

 

Vậy là vào tháng 9 năm 1783, Ngài William Jones đã đặt chân lên bờ biển Calcutta, trở thành hiện thân của thời kỳ Khai sáng châu Âu. Ông ba mươi sáu tuổi, vừa mới kết hôn, vừa được phong tước hiệp sĩ và mang theo hai danh sách trong túi áo khoác. Danh sách đầu tiên ghi 16 ‘Mục tiêu tìm hiểu trong thời gian tôi cư trú ở Ấn Độ’, trong khi mục tiêu thứ hai tập trung vào cách thức đạt được những mục tiêu đó: bằng cách thành lập một tổ chức học thuật ở Ấn Độ theo mô hình của Hội Hoàng gia, nhiệm vụ của tổ chức này là tìm hiểu về con người và thiên nhiên nói chung và châu Á nói riêng, bao gồm cả việc điều tra ‘biên niên sử, và thậm chí cả truyền thống, của những xứ sở, từ năm nào đến năm nào, từng cư trú ở đó rồi bỏ hoang nó’, để ‘làm sáng tỏ các hình thức chính quyền khác nhau của họ, với các thể chế, các vấn đề dân sự và tôn giáo’.

 

Một chương mới trong lịch sử Ấn Độ đã bắt đầu. Ánh sáng lý trí giờ đây sẽ được soi rọi vào từng mục tiêu trong số 16 mục tiêu nghiên cứu của Jones, dẫn đến một nhận thức mới về Mẹ Ấn Độ như “người nuôi dưỡng khoa học, người phát minh ra những nghệ thuật thú vị và hữu ích, bối cảnh của những hành động huy hoàng, nơi sản sinh ra những thiên tài nhân loại”. Và bao gồm trong nhận thức mới đó là việc khôi phục lại lịch sử tiền Hồi giáo của Ấn Độ, một quá khứ đã bị lãng quên từ lâu.

 

Bình luận về bài viết này