Cách thức Mossad sử dụng phá hoại, chiến tranh mạng, ám sát – và ngoại giao mật – để ngăn chặn một Iran có vũ khí hạt nhân và sắp xếp lại Trung Đông

Yonan Jeremy Bob, Ilan Eyatar
Trần Quang Nghĩa dịch
Chương 10
CƠ HỘI TỪ CÁC KHU VỰC LẠ
VÀO NGÀY 25 THÁNG 6 NĂM 2020, KHI đại dịch Covid-19 khiến các quốc gia hoảng loạn trên khắp thế giới phải đóng cửa biên giới, Benjamin Netanyahu đã công bố một sự mở cửa mới. Ông cho biết, Israel và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, sau “những cuộc tiếp xúc sâu rộng và chặt chẽ”, đã đạt được thỏa thuận trao đổi vật tư và kiến thức y tế nhằm chống lại virus ở quốc gia của họ. Israel sẽ nhận được nguồn cung cấp thiết bị bảo vệ cá nhân, tác nhân phản ứng, tăm bông và máy thở từ UAE, đổi lại, UAE sẽ nhận được bí quyết y tế từ Israel.
Thỏa thuận này sẽ không có gì đặc biệt nếu nó diễn ra giữa các quốc gia có quan hệ bình thường, nhưng điều đó khác với Israel và UAE, và vì lý do đó, nó đáng chú ý. Như Netanyahu đã nói khi công bố thỏa thuận hợp tác trong bài phát biểu tại lễ tốt nghiệp của một lớp phi công mới của Không quân Israel, “Khả năng chống lại đại dịch vi-rút corona của chúng ta… tạo ra cho chúng ta cơ hội hợp tác cởi mở mà cho đến nay chúng ta chưa từng biết đến với một số quốc gia nhất định.”
Quốc gia được đề cập trong dịp này, UAE, đã có giọng điệu nhẹ nhàng hơn trong các tuyên bố của mình về thỏa thuận, chỉ ra rằng đó là giữa các công ty tư nhân ở hai quốc gia, không phải giữa chính hai quốc gia. Sự thận trọng này xuất phát một phần từ cùng một nguồn quen thuộc ở phía Ả Rập trong điệu nhảy ngoại giao mà họ đã thực hiện với Israel trong nhiều năm, nỗi e sợ về phản ứng dữ dội của công chúng đối với bất kỳ giao dịch nào với nhà nước Do Thái, vốn đã bị mắc kẹt trong cuộc xung đột kéo dài hàng thập kỷ với người Palestine. Nhưng đối với UAE, cũng có một nguyên nhân gây lo ngại mới liên quan đến người Palestine. Đúng vào thời điểm thỏa thuận Covid được ký kết, nội các Israel sắp phải tranh luận về việc mở rộng chủ quyền của Israel cho các khu định cư Do Thái ở Bờ Tây, một cách nói giảm nhẹ đối với việc sáp nhập khoảng 30 phần trăm lãnh thổ mà họ đã chiếm đóng kể từ chiến thắng trong Chiến tranh Sáu Ngày năm 1967. Và đây là điều mà UAE sẽ không thể công khai chấp nhận – thậm chí là ngầm chấp nhận bằng cách tham gia vào bất kỳ loại thỏa thuận nào với Israel. Tuy nhiên, thỏa thuận hợp tác y tế đã mở ra một hướng đi mới, tạo động lực cho tốc độ chậm chạp của quá trình bình thường hóa, và cuối cùng, khi Israel từ bỏ kế hoạch sáp nhập, con đường đã mở ra cho thỏa thuận lịch sử được gọi là Hiệp định Abraham, được ký kết chỉ vài tháng sau đó.
Sự bình thường hóa không phải tự nhiên mà có; nhiều người tin tưởng-các bước xây dựng cần được thực hiện trong bối cảnh dẫn đến thỏa thuận cuối cùng, và trong trường hợp này, các bước đi đến từ một hướng bất ngờ, giám đốc cơ quan tình báo Israel.
Thiếu ngủ và mắt đỏ, uống cà phê được hâm nóng trong lò vi sóng, Yossi Cohen vào ngày 21 tháng 3 năm 2020, đang làm việc với các điện thoại an toàn tại nhà riêng của mình ở Modi’in, một thành phố vệ tinh nằm giữa Jerusalem và Tel Aviv. Virus Covid-19 xuất hiện ở Trung Quốc đã lây lan trên toàn cầu. Một cuộc chiến đang diễn ra để bảo vệ các nguồn cung cấp khan hiếm khác nhau trên khắp thế giới, những thứ rất cần thiết để bảo vệ chống lại căn bệnh này, và ở Israel, Mossad đã được huy động vào cuộc chiến.
Tại sao cơ quan gián điệp, đúng hơn phải là các bộ Y tế, Ngoại giao và Quốc phòng, phụ trách nỗ lực mua sắm này? Nhiều người đoán rằng Mossad đã tham gia vì một số thiết bị đang được lấy từ các quốc gia mà Israel không có quan hệ ngoại giao và các mối quan hệ như vậy luôn là một phần trong chương trình nghị sự của Mossad. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 2020, không ai có thể đoán được rằng Israel đã đặc biệt tìm kiếm sự hợp tác với một số quốc gia đó để thúc đẩy một bước đột phá ngoại giao rộng lớn hơn. Đó là lý do tại sao Cohen đã làm việc chăm chỉ vào đêm đó để mua 10 triệu khẩu trang phẫu thuật từ UAE để đổi lấy kiến thức y tế và hỗ trợ an ninh của Israel. Ông ấy làm nhiều việc cùng lúc, ra lệnh cho các điệp viên, nói với họ rằng “ngoại giao coronavirus” này với UAE sẽ rất quan trọng để đưa mối quan hệ của Israel với đất nước này ra khỏi bóng tối, đồng thời đưa ra lời trấn an cho các quan chức cấp cao của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, nói chuyện điện thoại trong khi chú chó xù trắng của ông chạy quanh nhà sủa không ngừng. Cuối cùng, ông phải nháy mắt với bà xã, Aya, đang ngồi cạnh chiếc ghế cao mà họ giữ lại để dành cho các cháu đến thăm, và bà hiểu ý mình cần phải đưa con chó đi ra chỗ khác.
Khi thỏa thuận được hoàn tất vào cuối tháng 3 năm 2020, Cohen phải tìm ra cách để việc giao hàng của UAE được thực hiện theo cách không bị coi là trợ giúp Israel. Cohen thích mọi thứ đều được công bố công khai, nhưng ông cũng biết rằng một cuộc khủng hoảng tạo ra không gian cho những động thái táo bạo và việc trao đổi thiết bị y tế của UAE lấy kiến thức y tế và hỗ trợ an ninh của Israel có thể là bước ngoặt trong lịch sử.
Vào ngày 25 tháng 6, ông đã theo dõi một cách hài lòng khi Netanyahu công khai tuyên bố rằng sự hợp tác giữa Israel và UAE trong cuộc chiến chống lại vi-rút đang diễn ra.
Trên thực tế, Cohen đã viết bài phát biểu của Netanyahu. Ông đã đàm phán với các đối tác UAE về văn bản và thời điểm bài phát biểu có thể được trình bày, tính đến mối quan tâm sâu sắc của UAE về phản ứng dữ dội mà họ có thể nhận được sau khi bị phát hiện hợp tác với Israel. Cohen sau đó đã nói với các đồng nghiệp tại Mossad rằng thông báo bình thường hóa quan hệ với UAE được đưa ra chỉ hai tháng sau đó, vào tháng 8 năm 2020, có thể đã không thể thực hiện được nếu không có những bước đi quan trọng nhằm xây dựng lòng tin và hợp tác này.
___
Nhưng trước tiên, kế hoạch sáp nhập của Netanyahu nổi lên như một trở ngại lớn đối với mục tiêu bình thường hóa. Netanyahu đã hứa hẹn ngay từ đầu chiến dịch tranh cử cho cuộc bầu cử bất ngờ ngày 17 tháng 9 năm 2019 là sẽ sáp nhập một số lượng lớn các khu định cư của Israel ở Bờ Tây và Thung lũng Jordan, nơi Israel đã chiếm đóng kể từ chiến thắng trong Chiến tranh Sáu Ngày năm 1967. Ý tưởng này, vốn là một phần chính trong chiến dịch tranh cử của Netanyahu năm đó, đã nhận được sự thúc đẩy vào tháng 1 năm 2020 khi Tổng thống Trump công bố phần chính trị trong kế hoạch hòa bình Trung Đông mà ông hứa sẽ giải quyết cuộc xung đột Israel-Palestine một lần và mãi mãi, cũng như hầu hết các vấn đề khác trong mối quan hệ của Israel với các nước láng giềng. Kế hoạch của Trump chính thức được gọi là “Hòa bình Đến Thịnh vượng: Tầm nhìn Cải thiện Cuộc sống Người dân Palestine và Israel”. Về cơ bản, nó hỗ trợ cho Hoa Kỳ việc công nhận việc sáp nhập Bờ Tây mà Netanyahu đề xuất để đổi lấy việc người Palestine có được nhà nước độc lập của riêng họ trên 70 phần trăm lãnh thổ còn lại. Kế hoạch cũng trao cho người Palestine một số thỏa thuận đặc biệt liên quan đến Jerusalem, nhưng ít hơn nhiều so với các kế hoạch trước đây do Hoa Kỳ đề xuất
Nhưng trong khi Netanyahu có vẻ sẵn sàng thúc đẩy việc sáp nhập, kế hoạch của ông đã vấp phải sự phản đối gay gắt, và không chỉ ở thế giới Ả Rập. Các nước châu Âu, dẫn đầu là Vương quốc Anh, một đồng minh trung thành của Israel, đã lên án kế hoạch này. Vua Abdullah II của Jordan cũng vậy, người đã cảnh báo rằng động thái này có thể dẫn đến “xung đột lớn” và gây nguy hiểm cho hiệp ước hòa bình của Israel với đất nước của ông. Ngay cả trong chính phủ liên minh mới mà Netanyahu đã thành lập với cựu tham mưu trưởng IDF Benny Gantz và đảng Xanh và Trắng của ông, cũng có sự phản đối gay gắt đối với việc sáp nhập. Và hơn nữa, ngay cả một số người định cư ở Bờ Tây của Israel cũng phản đối việc chấp nhận kế hoạch của Trump, lo sợ rằng Israel khi đó sẽ phải cuối cùng tiến hành việc công nhận nhà nước Palestine trên các phần lãnh thổ không bị sáp nhập. “Hoặc là các khu định cư có tương lai, hoặc nhà nước Palestine có tương lai – nhưng không phải cả hai”, nhà lãnh đạo cực hữu của Đảng Phục quốc Do Thái Bezalel Smotrich cho biết.
Những người định cư đã đúng trong phân tích của họ. Các quan chức Mỹ sớm cho biết rằng việc công nhận chủ quyền của Israel đối với 30 phần trăm Lãnh thổ bị chiếm đóng mà Netanyahu hình dung chỉ có thể xảy ra nếu Israel đồng ý “đàm phán với người Palestine theo các đường lối được nêu trong tầm nhìn của Tổng thống Trump”. Đại sứ Mỹ tại Israel, David Friedman, mặc dù là người ủng hộ phong trào định cư, đã chỉ trích mạnh mẽ thông điệp này khi ông nói với các phụ tá của Netanyahu, “Hoa Kỳ muốn thực hiện một kế hoạch hòa bình, không phải một kế hoạch sáp nhập.” Jared Kushner, con rể và cố vấn trưởng của Trump ở Trung Đông, sau này tiết lộ rằng Hoa Kỳ thậm chí đã cân nhắc đến việc đi xa đến mức không sử dụng quyền phủ quyết của mình tại Liên hợp quốc để ngăn chặn bất kỳ lệnh trừng phạt quốc tế nào đối với Israel nếu Netanyahu tiếp tục sáp nhập.
Nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhất khiến kế hoạch của Netanyahu bị phá sản là sự phản đối từ UAE. Bất kỳ sự sáp nhập nào vào Bờ Tây, Yousef Al Otaiba, đại sứ UAE tại Washington, đã cảnh báo trong các cuộc đàm phán với nhóm hòa bình của Mỹ, sẽ “thực sự nguy hiểm”. UAE đã nói rõ rằng, trong khi những vấn đề như hợp tác y tế nhằm ngăn chặn đại dịch Covid là một bước tiến tích cực hướng tới bình thường hóa quan hệ, việc Israel mở rộng chủ quyền tới bất kỳ khu vực nào ở Bờ Tây sẽ thủ tiêu triển vọng bình thường hóa. Như một nhà ngoại giao cấp cao của Hoa Kỳ đã nói, “Sự sáp nhập thực sự bắt đầu khiến tình hình sụp đổ.”
Vai trò của Otaiba rất quan trọng trong việc cứu vãn sự bình thường hóa. Là một nhà ngoại giao được đào tạo tại Mỹ từ một gia đình thương gia giàu có của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, ông đã là đại sứ của UAE tại Hoa Kỳ trong mười hai năm và, như một nhà quan sát truyền thông Mỹ đã nói, ông “hiểu Washington, DNA và nhịp điệu của nó một cách đáng kinh ngạc”. Không có gì bất lợi khi ngoài chức vụ đại sứ của mình, ông cũng là một bộ trưởng trong chính phủ UAE và được coi là thân cận với MBZ, Thái tử Sheikh Mohammed Bin Zayed.
Otaiba đã liên lạc với các quan chức Israel kể từ khi đến Washington năm 2008. Những cuộc tiếp xúc đầu tiên thường được giữ bí mật hoặc xảy ra một cách tình cờ. Một cuộc họp như vậy đã diễn ra vào năm 2012 sau khi thủ tướng Israel có bài phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Với năng khiếu sân khấu, Netanyahu đã giơ cao bức hoạt hình về một quả bom có ngòi nổ và kêu gọi Liên Hợp Quốc vạch ra một ranh giới đỏ “trước khi Iran hoàn thành giai đoạn làm giàu hạt nhân thứ hai cần thiết để chế tạo bom”. Sau bài phát biểu, Otaiba đã tháp tùng bộ trưởng ngoại giao UAE Sheikh Abdullah Bin Zayed đến phòng khách sạn của Netanyahu tại Loews Regency ở trung tâm Manhattan. Hai người vào khách sạn qua bãi đậu xe và được đưa lên phòng của Netanyahu bằng thang máy dịch vụ. Cuộc trò chuyện tập trung vào mối đe dọa của Iran.
Sáu năm sau, các bên cảm thấy đủ thoải mái để vén bức màn bí mật. Vào tháng 11 năm 2018, Otaiba đã ngồi cùng bàn với đại sứ Israel tại Washington, Ron Dermer, trong bữa tối kosher tại Viện Do Thái về An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (JINSA), nơi Ngoại trưởng Mike Pompeo là diễn giả chính. Đây là một trong những dấu hiệu công khai sớm nhất cho thấy mối quan hệ Israel-UAE đang ấm lên.
Bây giờ, sau khi thỏa thuận về Covid được ký kết và hoàn tất, Otaiba đã thúc đẩy giới lãnh đạo UAE bắt đầu nói chuyện cởi mở với người Israel, một phần là để nói với họ rằng, “Tất cả những điều các người muốn làm với chúng tôi sẽ gặp rủi ro nếu các người tiến hành [kế hoạch sáp nhập].” Cùng lúc đó, Otaiba theo đuổi một ý tưởng khác: đăng một bài xã luận trên một tờ báo Israel. Ông đã tiếp cận Haim Saban, một ông trùm truyền thông người Mỹ gốc Israel và là một nhà tài trợ lớn cho Đảng Dân chủ, người tài trợ cho Diễn đàn Saban tại Viện Brookings tự do ở Washington, D.C.
“Nếu bạn thực sự muốn nói chuyện với người Israel, thì phải xuất bản bằng tiếng Hebrew”, Saban khuyên Otaiba. Cuối cùng, ông đã mở đường cho việc đăng một bức thư ngỏ gửi công chúng Israel do Otaiba viết và xuất hiện trên toàn bộ trang nhất của Yedioth Ahronoth, một trong những nhật báo có lượng phát hành lớn nhất Israel. “Kế hoạch sáp nhập và đàm phán bình thường hóa của Israel là một sự mâu thuẫn”, Otaiba viết. Đó là cây gậy. Củ cà rốt hứa hẹn một tương lai tươi sáng mới: “Với hai lực lượng quân sự có năng lực nhất trong khu vực, mối quan tâm chung về chủ nghĩa khủng bố và xâm lược, và mối quan hệ sâu sắc và lâu dài với Hoa Kỳ, UAE và Israel có thể hình thành sự hợp tác an ninh chặt chẽ và hiệu quả hơn”. Phần kết luận của bức thư phản ánh thái độ thay đổi đáng kể đối với Israel ở một số nơi trong thế giới Ả Rập: “Ở UAE và trên khắp thế giới Ả Rập, chúng tôi muốn tin rằng Israel là một cơ hội, không phải là kẻ thù. Chúng ta phải đối mặt với quá nhiều mối nguy hiểm chung và thấy được tiềm năng to lớn của mối quan hệ nồng ấm hơn. Quyết định sáp nhập của Israel sẽ là một tín hiệu rõ ràng cho thấy liệu họ có cùng quan điểm hay không.”
Cánh cửa đã mở. Bây giờ Israel phải quyết định xem có nên bước qua cánh cửa đó hay không.
___
Vào cuối tháng 6, Jared Kushner đã cử trợ lý Avi Berkowitz đến Jerusalem để đàm phán về vấn đề sáp nhập. Vào thời điểm đó, lựa chọn duy nhất trên bàn đàm phán theo quan điểm của Hoa Kỳ là thúc đẩy kế hoạch của Trump, cụ thể là khiến Netanyahu đồng ý nhượng bộ lớn cho người Palestine để đổi lấy việc mở rộng chủ quyền của Israel đến các khu vực rộng lớn của Bờ Tây. Trong khoảng thời gian bốn ngày, Berkowitz đã gặp Netanyahu ba lần, cũng như gặp riêng Bộ trưởng Quốc phòng Benny Gantz và Bộ trưởng Ngoại giao Gabi Ashkenazi. Nhưng ngay sau cuộc gặp thứ hai với Netanyahu, Berkowitz đã nhận ra rằng người Israel và chính phủ Hoa Kỳ không cùng chung tiếng nói.
Người Mỹ cảm thấy rằng Netanyahu, nếu được lựa chọn giữa việc sáp nhập Bờ Tây và bình thường hóa quan hệ với UAE và có lẽ là các quốc gia khác, sẽ chọn sáp nhập. Điều này có thể đúng – có lẽ là đúng – nhưng dù đúng hay không, người Mỹ hiểu rằng Netanyahu không muốn nhượng bộ những điều mà Kushner muốn cho người Palestine, chẳng hạn như công nhận nền độc lập của Palestine – nếu không có điều này, Washington sẽ không đồng ý với bất kỳ “việc mở rộng chủ quyền.” Hơn nữa, người Mỹ lo ngại về nguy cơ bạo lực có thể xảy ra do việc sáp nhập này chỉ vài tháng trước cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ.
Để phá vỡ thế bế tắc, các nhóm của Mỹ và UAE đã đưa ra cùng một ý tưởng vào cùng thời điểm: bình thường hóa quan hệ với UAE và các quốc gia vùng Vịnh khác để đổi lấy việc đình chỉ kế hoạch sáp nhập Bờ Tây. Otaiba đã đề xuất bình thường hóa với Kushner vào năm 2019, nhưng Hoa Kỳ đã không theo đuổi vào thời điểm đó vì người Israel bị chia rẽ đang gặp khó khăn trong việc thành lập chính phủ. Bây giờ, đối với Kushner và Berkowitz, dường như thời điểm cho một giải pháp như vậy đã đến, rằng, thực sự, đó là giải pháp duy nhất để tiến về phía trước.
Netanyahu, khiến người Mỹ thất vọng, vẫn còn hoài nghi. Chỉ thị của ông cho Dermer là tiếp tục thúc đẩy sự chấp nhận của người Mỹ đối với việc sáp nhập, trong khi vẫn giữ nguyên tùy chọn bình thường hóa như một phương án dự phòng nếu việc sáp nhập không thành công. Nhưng đến lúc đó, Kushner, Berkowitz và nhóm đã ngừng có ý cho rằng việc sáp nhập là một lựa chọn nữa.
Berkowitz bay trở lại Hoa Kỳ vào ngày 1 tháng 7, cũng là ngày đầu tiên thỏa thuận liên minh của chính phủ Israel cho phép kế hoạch sáp nhập được trình lên nội các Israel. Do các hạn chế về vi-rút corona, không có chuyến bay thẳng nào đến Washington, điều đó có nghĩa là Berkowitz phải đi chuyến bay khứ hồi vòng vèo, chuyến bay kéo dài mười tám tiếng. Khi ông đang trên đường từ sân bay đến Nhà Trắng, cuộc gọi đầu tiên ông nhận được là từ Otaiba, người đã gợi ý với Berkowitz, “Ông nghĩ gì về việc bình thường hóa để đổi lấy việc sáp nhập Israel?”
“Có thể bạn không tin điều này, nhưng hôm nọ tôi cũng có suy nghĩ tương tự như vậy”, Berkowitz trả lời.
Berkowitz đã đến Nhà Trắng, làm xét nghiệm Covid và vội vã vào để báo cáo với Kushner. Cả hai đều khẳng định niềm tin trước đó của họ rằng việc sáp nhập là ngõ cụt. Từ đó trở đi, họ quyết định, nỗ lực của họ sẽ tập trung vào một thỏa thuận bình thường hóa giữa Israel và UAE. Trong vài tuần tiếp theo, ngoại giao đã chuyển sang giai đoạn cao trào ở Washington, với Berkowitz gặp Dermer và Otaiba khoảng ba mươi lần trong vòng một tháng. Mặc dù có nhiều năm quan hệ thân thiết, nhưng vì có nhiều rủi ro, nhiều cuộc gặp liên quan đến ngoại giao con thoi trong đó Kushner và Berkowitz gặp Otaiba trong một phòng ở Nhà Trắng, rồi gặp Dermer trong một phòng khác.
Dermer sẽ báo cáo lại cho Netanyahu ít nhất một lần một ngày và cũng sẽ cập nhật Cố vấn An ninh Quốc gia Meir Ben Shabbat sau mỗi vài ngày.
Netanyahu cũng bí mật cập nhật cho bộ trưởng Likud thân cận Yariv Levin. Cohen nói với chúng tôi rằng ông đã được Netanyahu cập nhật, nhưng bản thân Netanyahu không liệt kê Cohen là một trong những người mà ông đã bí mật cập nhật cho. Hoặc là Cohen đã bị loại khỏi vòng lặp trong một thời gian ngắn khi đang ở trên dây hoặc Netanyahu không muốn tiết lộ tất cả các hoạt động ngoại giao của Mossad. Kushner đã nói chuyện qua điện thoại nhiều lần với cả Thái tử UAE Mohammed Bin Zayed và với Netanyahu. Cohen và Ngoại trưởng Pompeo, tận dụng tình bạn thân thiết mà họ đã hình thành khi Pompeo là giám đốc CIA, cũng thường xuyên liên lạc. Cohen đã thực hiện một số chuyến đi quan trọng đến Tiểu Vương quốc ẢRập, gặp MBZ và với người đồng cấp của mình tại cơ quan tình báo UAE, Sheikh Tahnoon Bin Zayed Al Nahyan, anh trai của MBZ. Tahnoon cũng là chủ tịch của Group 42, tập đoàn đã thực hiện một số thỏa thuận quốc phòng với Israel và là công ty mà Israel đã ký thỏa thuận hợp tác về dịch vi-rút corona.
Cohen và MBZ đã gặp nhau nhiều lần, nhưng có một lần gần đến ngày ký kết thỏa thuận thì lại khác. Cohen đã thể hiện sự kiên nhẫn vô hạn trong quá khứ, hy vọng rằng một cách tiếp cận marathon gia tăng sẽ thuyết phục được MBZ thông minh. Nhưng MBZ vẫn có những lo ngại giống như họ đã thảo luận nhiều lần. Liệu ông có phải đối mặt với sự phản đối trong nước có thể biến thành một cuộc bạo loạn chống lại mình vì ông là nhà lãnh đạo Ả Rập đầu tiên vượt qua ranh giới bình thường hóa với Israel không? Liệu các quốc gia Ả Rập khác có hy sinh vì ông đã phần nào hy sinh người Palestine? Ông biết rằng ngay cả trong trường hợp tốt nhất, ông sẽ phải nhận lãnh một số phản kháng nghiêm trọng. Vì vậy, câu hỏi thực sự là, liệu những lợi ích về kinh tế, công nghệ và an ninh khi xích lại gần Israel có lớn hơn sự phản kháng không? Trong hai mươi lăm năm, liệu mọi người có nhìn lại và ca ngợi ông là một người có tầm nhìn táo bạo hay họ sẽ khạc nhổ khi nhắc đến tên ông như một kẻ phản bội sự nghiệp toàn Ả Rập – Palestine?
Cohen đã chuẩn bị các phản ứng về mọi điểm. Ông đặc biệt nhấn mạnh rằng ngoại giao về vi-rút corona đã diễn ra mà không gặp trục trặc nào. Hai nước đã hợp tác chặt chẽ và không ai cố gắng hạ bệ MBZ. Thêm vào đó, Cohen cho biết, dựa trên mối quan hệ thân thiết của mình với Pompeo, Hoa Kỳ sẽ thông qua và khiến nó xứng đáng cho MBZ và UAE phải chịu một số rủi ro. Ngoài ra, Cohen cảnh báo rằng Trump có thể không tái đắc cử và một số lợi ích mà MBZ tranh thủ được có thể không có trong sáu tháng nữa. Tương tự như vậy, MBZ đảm bảo với Cohen rằng UAE đã sẵn sàng hành động nhanh chóng trên con đường hướng tới hòa bình và bình thường hóa, với các cuộc trao đổi chính phủ, kinh doanh và du lịch đã sẵn sàng. Nhưng MBZ không đưa ra quyết định cuối cùng trong cuộc họp đó với Cohen, nhưng người Israel có thể nhận ra rằng ông đang tiến gần hơn bao giờ hết.
Cả hai bên đều có những nghi ngờ và cần được củng cố ở những điểm khác nhau. Niềm an ủi dành cho Israel là sự kết hợp của MBS, MBZ, Bộ trưởng Ngoại giao UAE Abdullah Bin Zayed Al Nahyan, Tổng giám đốc Tình báo Saudi Khalid bin Ali Humaidan, Tahnoon Bin Zayed Al Nahyan và Otaiba. Trong khi đó, Otaiba đặc biệt thúc đẩy công khai ý tưởng của người Mỹ cho cả hai bên – bình thường hóa với Israel để đổi lấy việc Israel đình chỉ kế hoạch sáp nhập của Netanyahu. Vào những thời điểm quan trọng khi Kushner lo lắng, ông sẽ gọi cho MBS của Ả Rập Xê-út, và ông này sẽ cười nhạo Kushner khi bày tỏ mối lo ngại rằng UAE cuối cùng sẽ từ chối thỏa thuận, trấn an ông ta rằng mình sẽ đích thân đảm bảo điều đó không xảy ra. Mỗi bên đều có những người đối thoại là đối tác đáng tin cậy lâu năm và những người âm thầm và khéo léo thúc đẩy bên kia, trong khi không bao giờ gây sức ép quá mức khiến họ phải rút lui. Lặp đi lặp lại một lần nữa, mỗi bên đã tiến gần đến bình thường hóa nhưng lại rút lui vào phút cuối.
Cho đến tháng 8 năm 2020. Vào thời điểm đó, một tập hợp các lời đảm bảo đã xuất hiện cùng lúc với việc Cohen và Israel đưa ra thêm các món quà về an ninh mạng, công nghệ và quốc phòng. Ngoài ra, bộ đôi Netanyahu-Dermer đã đồng ý trì hoãn việc sáp nhập Bờ Tây. Tất cả các xu hướng này hội tụ đã đưa UAE đến đích.
Tất cả những điều này diễn ra đồng thời với một diễn biến khác, việc Hoa Kỳ bán máy bay chiến đấu F-35 cho UAE. Về mặt kỹ thuật, việc chuyển giao vũ khí quan trọng này không liên quan gì đến cuộc đàm phán UAE-Israel. Nhưng Cohen, không nói rõ ràng, cho biết rằng Israel sẽ ủng hộ việc này nếu việc này gắn kết với việc bình thường hóa quan hệ.
Kế hoạch sáp nhập của Netanyahu chưa bao giờ được trình lên nội các Israel.
___
Đến đầu tháng 8, một thỏa thuận về nguyên tắc đã đạt được, và những gì còn lại là các cuộc đàm phán quanh co về cách diễn đạt tuyên bố chung sẽ được đưa ra bởi Hoa Kỳ, Israel và UAE. Tổng cộng, 130 phiên bản của một bản dự thảo đã được thông qua từ bên này sang bên kia khi UAE và Israel tranh cãi về những chi tiết nhỏ nhặt – ví dụ, cách diễn đạt chính xác thỏa thuận của Israel không sáp nhập một số phần của Bờ Tây. Israel cũng muốn đảm bảo rằng họ đang có được thỏa thuận thực sự trong việc bình thường hóa, bao gồm tất cả các khía cạnh của sự hợp tác kinh tế.
Tình cờ, các hiệp định được đặt tên bởi Miguel Correa, một vị tướng Hoa Kỳ trong Hội đồng An ninh Quốc gia, ông được đưa vào nhóm Hoa Kỳ nhờ có quen biết trước đó với Otaiba. Correa đã được bố trí ở UAE và tình cờ là ông đã chỉ đạo một nhiệm vụ giải cứu một nhóm Lực lượng Đặc biệt UAE có trực thăng bị rơi trong một sứ mạng chống lại al-Qaeda ở Yemen. Trong số những người được giải cứu có con rể của MBZ. Sau đó, Correa đã xây dựng một mối quan hệ đặc biệt với người UAE.
Correa nhớ lại rằng mình đã nảy ra ý tưởng gọi thỏa thuận này là “Hiệp định Abraham” đúng vào phút cuối cùng, sáng ngày 13 tháng 8 năm 2020, ngày mà Trump, Netanyahu và MBZ đã lên lịch thực hiện cuộc gọi hội nghị ba bên để công bố bình thường hóa. Ông cho biết cái tên này xuất hiện với mình vì Abraham được tôn kính bởi ba tôn giáo độc thần Do Thái, Hồi giáo và Thiên chúa giáo. Danh từ Hiệp định ở dạng số nhiều để mở đường cho các quốc gia khác tham gia vào vòng tròn.
Các Hiệp định Abraham được đưa ra gần 20 năm sau thỏa thuận Oslo, khi Israel và UAE lần đầu tiên bắt đầu mối quan hệ bí mật của họ. Văn bản cuối cùng nêu rõ rằng “Israel sẽ đình chỉ tuyên bố chủ quyền đối với các khu vực được nêu trong Tầm nhìn của Tổng thống về Hòa bình và tập trung nỗ lực của mình vào việc mở rộng quan hệ với các quốc gia khác trong khu vực Ả Rập và thế giới Hồi giáo.” Israel và UAE sẽ “ký các hiệp định song phương liên quan đến đầu tư, du lịch, các chuyến bay thẳng, an ninh, công nghệ, văn hóa, thành lập viễn thông, năng lượng, chăm sóc sức khỏe, môi trường, mở đại sứ quán của nhau và các lĩnh vực cùng có lợi khác.”
Ngay sau thông báo, các cuộc đàm phán với Bahrain đã diễn ra sôi nổi, và Cohen đã chuẩn bị một số cơ sở cho việc này bằng nhiều chuyến đi gặp gỡ các quan chức tại thủ đô Manama của Bahrain.
Mossad đã duy trì mối quan hệ tích cực với vương quốc này kể từ đầu những năm 2000 và Israel đã duy trì sự hiện diện ngoại giao bí mật ở đó kể từ năm 2009 thông qua một công ty bình phong đăng ký tại Bahrain có tên là Trung tâm Phát triển Quốc tế – hoạt động như một đại sứ quán trên thực tế. Nó đã được mở sau một số cuộc họp hậu trường giữa bộ trưởng ngoại giao Bahrain khi đó là Khalid Bin Ahmed Al Khalifa và người đồng cấp Israel của ông vào thời điểm đó, Tzipi Livni.
___
Vào đầu tháng 8, khi các cuộc đàm phán của UAE đang trong giai đoạn cuối, Cohen đã nói chuyện qua điện thoại với thủ tướng Bahrain Khalifa Bin Salman Al Khalifa, và trong vòng một tháng, một thỏa thuận thiết lập quan hệ ngoại giao đã được ký kết. Như một viên chức Israel đã nói: “Tất cả những gì chúng tôi phải làm là thay đổi biển hiệu trên cửa” – nghĩa là tại nơi cho đến lúc đó vẫn là đại sứ quán trên thực tế. Mọi thứ dường như diễn ra nhanh chóng, và Netanyahu và Cohen đắm mình trong ánh đèn của sự công khai đi kèm với các thỏa thuận, nhưng trong thực tế thành tựu của họ là đỉnh điểm của hơn hai thập kỷ làm việc của Mossad, Bộ Ngoại giao Israel và nhiều bộ khác.
Sẽ rất khó để nói quá về tầm quan trọng của các Hiệp định Abraham đối với Israel và đối với những người Israel đã làm việc với chúng trong nhiều năm. Trong vòng vài tháng, Israel đã thiết lập quan hệ đầy đủ với một nhóm các quốc gia Ả Rập, đoàn kết vì sợ Iran, nhưng cũng đoàn kết vì một viễn cảnh nhất định về tương lai trong đó việc tiến hành xung đột bộ lạc cổ xưa có vẻ lỗi thời và vô ích và cách duy nhất khả thi để tiến lên là một số loại thỏa hiệp với nhau. Hiệp định Abraham đã thay đổi cán cân quyền lực trong một khu vực vẫn còn bất ổn, nhưng là nơi mà Israel ngày càng trở thành một phần bình thường của bức tranh. Không còn là kẻ thù và có lẽ không hẳn là đồng minh, mà là một dạng đối tác. Gần bốn mươi năm trước, Anwar Sadat của Ai Cập đã bị những kẻ cực đoan Hồi giáo ám sát chủ yếu vì ông sẵn sàng chấp nhận sự hiện diện thường trực của nhà nước Do Thái. Bây giờ, những nhân vật như MBZ, và không chính thức là MBS, đã làm điều tương tự, vẫn với những rủi ro, nguy hiểm và sự phản đối, nhưng trong một môi trường chấp nhận Israel hơn nhiều.
Vào ngày 15 tháng 9 năm 2020, một tháng sau thông báo chính thức, đã có một buổi lễ ký kết tại Nhà Trắng. Khi Cohen đứng trên Bãi cỏ phía Nam của tòa nhà cư trú của tổng thống, ông nhớ lại một số cuộc gặp gỡ đầu tiên của mình với MBS và MBZ. Ông nhớ lại cách ông đã hạ cánh xuống Vịnh vào giữa đêm để che giấu thân phận. Ông đã được đưa qua Đại Thánh đường Hồi giáo ở Abu Dhabi trên đường đến cung điện hoàng gia Qasr el Watan tại đó ông được tiếp đón tại cung điện hoàng gia xa hoa ở Riyadh, Ả Rập Xê-út – những nơi mà ông không bao giờ mơ ước nhìn thấy bên trong, khi ông gia nhập Mossad gần ba mươi năm trước.
___
Thành tựu có nhiều cha đẻ và mỗi diễn viên chính trong câu chuyện Hiệp định Abraham đều kể lại các sự kiện theo quan điểm của riêng họ. Từ Washington, quan điểm cho rằng bài xã luận của Otaiba là “bước ngoặt lớn” và rằng sau khi phát hành, người Mỹ đã có thể tham gia và làm trung gian cho thỏa thuận. Benjamin Netanyahu và Ron Dermer thúc đẩy các yêu sách của riêng họ để được ghi nhận. Tổng thống Trump chỉ ra Hiệp định Abraham, cũng như quyết định chuyển đại sứ quán Hoa Kỳ từ Tel Aviv đến Jerusalem, là một trong những thành tựu lớn nhất trong nhiệm kỳ tổng thống của ông. Có thể đoán trước được, Kushner cũng đã mô tả vai trò của mình dưới dạng sách, tự giới thiệu mình là người đóng vai trò chủ chốt trong việc đạt được thỏa thuận.
Trump và Kushner xứng đáng được ghi nhận công lao đáng kể cho các Hiệp định. Kushner là đóng vai chính hàng ngày trong nhóm của Mỹ, ông và các trợ lý của mình không ngừng duy trì liên lạc với tất cả các bên, làm dịu đi nỗi lo lắng của họ, khuyến dụ họ nắm lấy một cơ hội. Mặc dù người Palestine cảm thấy rằng Trump thiên vị Israel, chính quyền Trump vẫn đóng vai trò quan trọng bằng cách chống lại Kế hoạch Sáp nhập của Netanyahu, trừ khi nó đi kèm với thỏa thuận một nhà nước Palestine bị cắt xén. Kushner cũng đáng được ghi nhận vì sự năng nổ của mình trong vai trò sắp xếp cho mỗi quốc gia nhận được những lợi ích lớn từ các Hiệp định – ví dụ, xin phê duyệt việc bán F-35 cho UAE (thậm chí mặc dù thỏa thuận đó sau đó đã bị đóng băng một lúc nào đó sau khi ký kết hiệp định).
Nhưng cũng đúng là không có đóng góp nào của ông có thể thành tựu nếu hoàn cảnh lịch sử không thuận lợi như vậy. Ông và Trump đã lợi dụng một tình huống đã phát triển trong nhiều năm. Hơn nữa, Kushner chỉ là cố vấn hàng đầu cho một trong bốn nhà lãnh đạo quốc gia, tất cả đều đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn tất thỏa thuận – MBS, MBZ, Netanyahu và Trump, bất kỳ ai trong số họ cũng có thể phá hoại Hiệp định bất cứ lúc nào.
Cohen cũng không ngần ngại nhận công lao của mình, và cả Netanyahu và Dermer đều hào phóng khen ngợi vai trò của giám đốc Mossad. Netanyahu đặc biệt lưu ý đến tài năng của Cohen trong việc chuyển đổi “trái tim của các nhà lãnh đạo trong khu vực… rất lâu trước khi có buổi lễ đầy cảm xúc ở Washington, và nhân tiện, cũng sau đó.” Theo Dermer, đóng góp của Cohen, phù hợp với một cơ quan điệp viên, là không được biết nhiều: “Dễ dàng nổi lên trên mặt khi có tăng cường các mối quan hệ. Nếu bạn đang đứng trên một tảng băng trôi, bạn chỉ thấy viễn cảnh từ trên đỉnh. Nhưng điều làm cho tảng băng trôi mạnh mẽ là bên dưới bề mặt. Ông ấy [Cohen] đã dành thời gian củng cố bên dưới.”
Đối với Cohen, ông tin rằng rất có thể sẽ không có thỏa thuận nào có thể xảy ra nếu không có sự chấp thuận của Ả Rập Xê-út, nơi ông đã dành nhiều năm để xây dựng các mối quan hệ và lòng tin, đặc biệt là với MBS, Thái tử. Sự kiện là ông bà của Cohen nói tiếng Ả Rập và ông rất thông thạo ngôn ngữ và văn hóa này đã khiến MBS cũng như MBZ cảm thấy rằng mình có một đối tác đáng tin cậy. Sự tinh tế, tính sáng tạo và nhiều năm đầu tư âm thầm để tìm hiểu phương Tây của Otaiba, MBS và MBZ đã giúp Cohen và Netanyahu cảm thấy đủ an toàn để tự mình mạo hiểm. Cohen nhấn mạnh rằng vô số chuyến đi đến vùng Vịnh của ông và các quan chức Mossad trước đây đã góp phần vào bước đột phá sau này của Kushner- Dermer-Otaiba. Mossad, Cohen nói, “đã làm việc trong nhiều năm, trong thời gian tôi ở đó và thậm chí trước cả tôi, và xây dựng mối quan hệ song phương giữa các quốc gia. Sau đó, Hoa Kỳ đã vào cuộc và nói ‘hãy đến và ký’. Bạn chỉ ký vào thời điểm cao trào khi bạn đã xây dựng được nền tảng bên dưới dựa trên mức độ tin cậy cao”. Đồng ý với điều đó, một nhà ngoại giao cấp cao của Israel quen thuộc với lịch sử lâu dài về quan hệ giữa Israel và vùng Vịnh cho chúng ta biết rằng, “Hòa bình với vùng Vịnh được xây dựng từng lớp một, không có một cá nhân đơn lẻ nào xây dựng nên nó”.
Ngồi trong văn phòng của mình ở Tel Aviv vào ngày 13 tháng 8 xem tin tức cho biết UAE và Israel đang chính thức hóa mối ràng buộc, Ehud Olmert, người đã là thủ tướng khi Meir Dagan lần đầu tiên cảm nhận được những cơn gió đổi hướng ở Vịnh Ba Tư, nhận được một email từ một nhân viên “rất cấp cao” của Mossad đã được ông cử làm sứ giả tại UAE.
Xin chào Ehud,
Đây là một ngày rất quan trọng. Hòa bình thực sự với các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đã bắt đầu cách đây mười lăm năm. Những mối quan hệ kinh doanh bí mật thành công đã cho họ thấy rõ bộ mặt tươi đẹp của Israel. Tôi nhớ sự đóng góp ngài và những lần báo cáo với ngài sau mỗi chuyến đi.
Hòa bình tốt đẹp hơn chiến tranh.
Thân,
Olmert, chưa hề tiết lộ danh tính người liên lạc với mình, đã trả lời:
Một ngày nào đó vai trò của anh sẽ được biết đến. Không phải ai khoe khoang cũng xứng đáng; anh chưa bao giờ khoe khoang, nhưng tôi biết những gì anh đã làm và giá trị đóng góp của anh.
Trong một lần gặng hỏi Netanyahu và Cohen để nhằm biết rõ công lao đầy đủ của họ đối với Hiệp định Abraham, vị quan chức Mossad đã viết lại: “Dagan đã tin tưởng rất mạnh mẽ vào mối quan hệ. Còn chúng tôi thì đầu tư rất nhiều vào nó. Tôi rất vui vì thỏa thuận đạt được, ít hơn Bibi đang ăn mừng.”
Tương tự như vậy, trong một cuộc phỏng vấn với chúng tôi, Olmert lập luận rằng trong khi mọi thứ được công khai vào thời Netanyahu và Cohen, thì nền tảng đã được chuẩn bị trước đó. Ông cho biết bước đột phá với UAE là kết quả của “suy nghĩ chiến lược và một quá trình quan hệ rất dài và kiên nhẫn” với quốc gia vùng Vịnh.
Nhà đàm phán của Trump, Jason Greenblatt, đã sử dụng phép so sánh với Khối Rubik để mô tả quá trình mà các bên đã cùng nhau thực hiện trong nhiều năm. “Bạn không thể hoàn thành Khối Rubik cho đến khi bạn chạm vào tất cả các mảnh ghép và sắp xếp chúng theo đúng thứ tự”, ông nói với chúng tôi. Còn về Cohen, ông đã nói với chúng tôi trong một cuộc phỏng vấn công khai tại hội nghị Jerusalem Post vào tháng 10 năm 2021: “Tôi nghĩ rằng đó là một trong những động thái ngoại giao tuyệt vời nhất ở Trung Đông hơn bao giờ hết. Nó giúp thúc đẩy xua đuổi tà ma và làm việc với những người tốt, làm việc với các nhà nước tốt. Đó… không gì khác hơn là một phép lạ hoặc một động thái đẹp đẽ cho chúng tôi, người Israel ở Trung Đông.”
___
Vào cuối tháng 10 năm 2020, Sudan đã theo chân UAE và ký một thỏa thuận bình thường hóa quan hệ với Israel. Theo một số cách, bước đột phá với Sudan, sau một số hoạt động ngoại giao phức tạp do Hoa Kỳ dẫn đầu, thậm chí còn là sự phá vỡ quá khứ ảm đạm hơn so với UAE. Sudan đã từng có chiến tranh với nhà nước Do Thái; trong hầu hết hai thập kỷ đầu tiên của thiên niên kỷ mới, nó đã từng là một quốc gia chư hầu của Iran và là một trạm trung chuyển trên tuyến đường cung cấp vũ khí cho Hamas và Jihad Hồi giáo ở Gaza. Bây giờ, nó đã gỡ bỏ vòng tròn thù địch cứng rắn, không ngừng nghỉ với Israel.
Sau thỏa thuận, Tổng thống Trump đã xóa Sudan khỏi danh sách các quốc gia tài trợ cho khủng bố. Các văn bản bình thường hóa đã được ký vào tháng 1 và tháng 3 năm 2021, nhưng chỉ sau khi Sudan trả khoản tiền giải quyết tượng trưng là 335 triệu đô la cho các nạn nhân và gia đình của nhiều vụ tấn công khủng bố khác nhau. Sau khi hoàn tất, Washington đã giúp Sudan nhận được khoản xóa nợ khổng lồ 50 tỷ đô la từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế, với Câu lạc bộ Paris xóa thêm 14 tỷ đô la.
Nhưng không chỉ có vấn đề lợi ích tài chính này cho Sudan đã đảm bảo được thỏa thuận; có một câu chuyện hậu trường ở Sudan, nơi một số lãnh chúa đang tranh giành quyền lực khi nhà độc tài cai trị lâu năm của đất nước này phải đối mặt với tình trạng bất ổn của người dân, trong khi các tranh cãi giữa những nhân vật Israel chủ chốt đe dọa phá hoại khả năng theo đuổi một chiến lược thống nhất của họ.
Vào đầu tháng 2 năm 2019, theo các nguồn tin nước ngoài, Yossi Cohen đã gặp giám đốc tình báo Sudan Salah Gosh bên lề Hội nghị An ninh Munich để thảo luận về khả năng bình thường hóa quan hệ với Israel. Song song đó, và Cohen không biết, nhà độc tài Hồi giáo đang khốn đốn của đất nước Omar al-Bashir, với chế độ của mình đang bên bờ vực sụp đổ trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và bạo loạn trên đường phố, đã gặp gỡ một cựu sĩ quan Shin Bet, Ronen Levy, làm việc vào thời điểm đó dưới mật danh Maoz. Levy, dưới sự bảo trợ của Hội đồng An ninh Quốc gia Israel, đã mở một kênh liên lạc với Bashir thông qua các mối quan hệ ở Chad. Levy và ông chủ của ông, Meir Ben Shabbat, cuối cùng cũng liên lạc với một nhà lãnh đạo Sudan khác, chỉ huy quân đội Trung tướng Abdel Fattah al-Burhan.
Trong khi đó, Cohen, sau cuộc trò chuyện với Salah Gosh, và được hỗ trợ bởi các mối liên hệ của ông với Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Ả Rập Xê Út, đã sắp xếp các cuộc họp với các quan chức cấp cao của Sudan, đặc biệt là với lãnh chúa và nhà môi giới quyền lực Mohamed Hamdan Dagalo. Khi Cohen biết rằng Levy và Ben Shabbat đang thiết lập các kênh riêng của họ ở Sudan, xung đột công khai đã nổ ra giữa Cohen và Ben Shabbat. Có lúc, Mossad và Cohen đe dọa sẽ cắt đứt liên lạc với Levy vì họ coi các cuộc đàm phán của ông, đầu tiên là với Bashir và sau đó là với Burhan, là làm suy yếu những nỗ lực rộng lớn hơn của họ. Tuy nhiên, Levy và những người khác đã cáo buộc Cohen gần như phá hoại mối quan hệ đang phát triển của họ với Sudan. Ben Shabbat nói với Cohen rằng chính Netanyahu đã đưa ông vào để tạo ra nhiều trung tâm quyền lực cho ngoại giao. Giám đốc Mossad đã kêu gọi đến Netanyahu để phản đối.
Cuối cùng, một sự thỏa hiệp đã được đưa ra, điều này làm hài lòng Cohen hiếu chiến, mặc dù có lẽ chỉ một phần. Sudan và Morocco sẽ được xử lý chủ yếu bởi nhóm NSC gồm Ben Shabbat và Levy,
Mossad sẽ vẫn chịu trách nhiệm về UAE và Bahrain, và Mossad cũng được bật đèn xanh để tiếp tục kết nối với Dagalo. Trong khi đó, Bashir đã bị lật đổ vào tháng 4 năm 2019 trong một cuộc đảo chính quân sự sau gần 30 năm nắm quyền.
Vào thời điểm này, một nhân vật khác xuất hiện bất ngờ, Nick Kaufman, một luật sư người Anh-Israel được đào tạo tại Cambridge. Kaufman đã đại diện cho các nạn nhân người Sudan của chế độ Bashir và đang tư vấn cho chính phủ Sudan mới về một vụ kiện chống lại Bashir tại Tòa án Hình sự Quốc tế.
Một năm trước đó, tại phòng chờ thương gia của sân bay ở Addis Ababa, Ethiopia, Kaufman đã tình cờ gặp một phụ nữ Sudan tên là Najwa Gadaheldam, một nhà ngoại giao quen biết nhiều. Thật tình cờ, Gadaheldam đã trở thành cố vấn cho Burhan, người hiện đang đứng đầu hội đồng quân sự được cho là đang dẫn đầu quá trình chuyển đổi sang chế độ dân chủ.
Bà nói với Kaufman rằng người Sudan muốn được đưa ra khỏi danh sách các quốc gia tài trợ khủng bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Chính quyền Sudan mới đã thấy một con đường đến Washington thông qua thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu. Gadaheldam đề xuất trao đổi thư từ giữa Israel và Sudan do Kaufman tạo điều kiện.
Kaufman đã tiếp cận những người liên lạc trong NSC, đưa ông tiếp xúc với Ben Shabbat, và sau đó ông này đã đồng ý trình lẻn Netanyahu ý tưởng về một đàm phán ba bên giữa Sudan, Washington và Jerusalem.
Netanyahu đã đưa cho Kaufman một lá thư bày tỏ mong muốn mở quan hệ ngoại giao, và sau đó Kaufman đã đến Sudan, dù lúc đó vẫn chính thức là kẻ thù của Israel. Kaufman được thông báo rằng nếu có bất cứ điều gì không ổn, ông ta sẽ “tự lo liệu”.
Tại Khartoum, Kaufman đã đích thân trao lá thư cho Burhan, đổi lại, ông nhận được một lá thư mà ông đã cùng soạn thảo với Gadaheldam, chào đón sự bình thường hóa giữa hai nước. Lá thư luôn ở bên Kaufman. Có lúc, ông kể với chúng tôi, ông thậm chí còn nhét nó vào trong quần để giữ an toàn – một động thái may mắn vì phòng khách sạn của ông đã bị đột nhập vào một lúc nào đó khi ông dành thời gian đi tham quan Khartoum với những người giám hộ của mình. Sau khi trao đổi thư từ, Gadaheldam đã phối hợp với Maoz-Levy để bí mật sắp xếp một cuộc họp ở Uganda giữa Burhan và Netanyahu.
Cuộc họp diễn ra vào ngày 3 tháng 2 năm 2020. Burhan đã chuẩn bị tiến hành bình thường hóa ngay lập tức. Nhưng sau khi Bashir bị lật đổ, giờ đây đã có một nhân vật chủ chốt thứ ba trong ban lãnh đạo Sudan, nhà lãnh đạo dân sự hàng đầu, thủ tướng lâm thời Abdallah Hamdok – người không được ai chia sẻ về cuộc họp – và ông phản đối kịch liệt bất kỳ thỏa thuận nào với Israel.
Cohen đã đóng một vai trò trong việc thiết lập cuộc họp và có mặt trong các cuộc đàm phán Burhan-Netanyahu, nhưng việc Hamdok có khả năng cản trở một thỏa thuận bình thường hóa đã thuyết phục Cohen rằng con đường Burhan có thể không tạo ra kết quả mong muốn. Ông Thẩm định rằng quyền lực thực sự ở Sudan nằm trong tay Tướng Dagalo, một cựu thương nhân lạc đà mù chữ, vốn bị cáo buộc đã thực hiện những hành động tàn bạo ở Darfur và đã trở thành phó chủ tịch Hội đồng Chủ quyền Sudan. Cựu bộ trưởng tình báo Eli Cohen đã xác nhận với chúng tôi rằng mặt trận Mossad-Dagalo quan trọng như thế nào đối với việc duy trì sự ủng hộ cho bất kỳ sáng kiến bình thường hóa lớn lao nào ở Sudan.
Vào tháng 5, Gadaheldam qua đời vì Covid. Trớ trêu thay, thảm kịch này lại dẫn đến động lực mới trên mặt trận ngoại giao. Biết rằng bà bị bệnh, Levy đã bay đến Sudan trên một máy bay khẩn cấp để mang thuốc đến cho bà, và mặc dù ông không cứu được bà, nhưng trong chuyến đi bất ngờ của mình, Burhan đã khẳng định cam kết bình thường hóa của mình, vượt qua sự phản đối của Hamdok. “Tôi sẽ ở bên anh đến chết”, ông được cho là đã nói với Levy.
Một trở ngại lớn khác xuất hiện trên con đường đi đến thỏa thuận vào tháng 9, khi quan hệ Mỹ-Sudan đổ vỡ. Người Mỹ bế tắc về vấn đề xóa Sudan khỏi danh sách khủng bố cũng như về yêu cầu thanh toán bằng tiền của Sudan. Một tháng sau, các quan chức Israel và Mỹ, bao gồm Levy và Aryeh Lightstone, chánh văn phòng của đại sứ Mỹ tại Israel David Friedman, đã đến Khartoum để thuyết phục Sudan rằng thỏa thuận đưa ra là thỏa thuận tốt nhất mà họ có thể nhận được. Đó là sự lặp lại những gì Cohen đã nói với người Sudan vài tháng trước, và cho thấy rằng, dù có phối hợp hay không, ông và Levy đã sử dụng cách tiếp cận khi mềm-khi cứng để lôi kéo Khartoum vào cuộc.
Levy, có vẻ như, đã để Sudan nghĩ rằng họ sẽ nhận được nhiều đô la hơn từ Hoa Kỳ so với số tiền mà Washington sẵn sàng cung cấp, trong khi Cohen bác bỏ điều đó để giữ cho kỳ vọng của họ được thực tế hơn. Cuộc họp vào tháng 9 cuối cùng đã thúc đẩy Sudan chịu ký vào tháng 10.
Vào tháng 12 năm 2020, một con cờ domino khác đã đổ khi Israel và Morocco tuyên bố bình thường hóa quan hệ. Hai nước đã có mối quan hệ không chính thức lâu dài và hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan tình báo của họ. Thỏa thuận đã được chốt khi chính quyền Trump đồng ý công nhận chủ quyền của Morocco ở Tây Sahara như một sự trao đổi để bình thường hóa với Israel. Trong số các yếu tố của Hiệp định Abraham, thỏa thuận với Morocco không liên quan theo bất kỳ cách nào đến mối đe dọa từ Iran.
___
Trong bốn thỏa thuận bình thường hóa, thỏa thuận Sudan-Israel đã dẫn đến ít tiến triển nhất. Sự thiếu động thái này chủ yếu là do các cuộc biến động chính trị liên tục ở Sudan. Thật vậy, mối quan hệ với Sudan đã trở nên hoàn toàn không thể kiểm soát được sau tháng 10 năm 2021, khi chỉ huy quân sự Burhan lật đổ nhà lãnh đạo dân sự Hamdok, qua đó tự biến mình thành một tiện dân ở phương Tây. Hoa Kỳ đã lên án Burhan, đe dọa sẽ đóng vòi viện trợ của phương Tây cho Khartoum cho đến khi một nhà lãnh đạo dân sự được tái bổ nhiệm. Đồng thời, Washington đã ra hiệu rõ ràng mong muốn giữ vững mối quan hệ được cải thiện bằng cách duy trì sự hiện diện ngoại giao của mình tại Sudan. Điều này đúng ít nhất cho đến giữa tháng 4 năm 2023, khi lực lượng của Burhan và Dagalo bắt đầu giao tranh, khiến tương lai của đất nước này trở nên bất định hơn nữa.
Jerusalem ít quan tâm đến nền dân chủ của Sudan, nhưng không thể công khai bỏ qua khi phương Tây biến Sudan và Burhan thành những nhân vật không được hoan nghênh. Tuy nhiên, trong bóng tối, Mossad, dưới thời Cohen và những người kế nhiệm ông, vẫn duy trì mối quan hệ thầm lặng, chuẩn bị cho ngày mà quá trình bình thường hóa có thể quay trở lại đúng hướng. Trên thực tế, đã có những tia sáng về tương lai này với chuyến thăm của Bộ trưởng Ngoại giao Israel Eli Cohen tới Sudan vào ngày 2 tháng 2 năm 2023, về việc thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ bình thường hóa giữa các quốc gia.
Trong mọi trường hợp, đột phá với Sudan vào năm 2020 ít nhất là về mặt biểu tượng vẫn là thỏa thuận quan trọng nhất trong Hiệp định Abraham. Hơn nửa thế kỷ sau khi Liên đoàn Ả Rập họp tại Khartoum sau thất bại đau đớn giáng xuống liên minh quân đội Ả Rập, bao gồm cả Sudan, trong Chiến tranh Sáu Ngày năm 1967 để công bố cương lĩnh “Ba Không” tai tiếng – Không hòa bình với Israel, Không công nhận Israel, Không đàm phán với Israel – Jerusalem và Khartoum đã thừa nhận lẫn nhau, đàm phán với nhau tuy lặng lẽ, và quan trọng nhất là sống trong hòa bình.
Chương 11
MOSSAD GỬI MỘT THÔNG ĐIỆP
HAI NĂM RƯỚC sau khi Israel có được kho lưu trữ hạt nhân của Iran, một trong những mục tiêu lớn mà họ đặt ra cho cuộc đột kích đã trở thành hiện thực. Các tài liệu lưu trữ đã giúp thúc đẩy Hoa Kỳ rút khỏi JCPOA và cung cấp cho Israel thông tin tình báo hoạt động mới. Bây giờ, họ có Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế quay lại vấn đề Iran với toàn bộ sức mạnh và mục đích.
Và IAEA đã có hành động trực tiếp hơn đối với Iran, mặc dù không chỉ vì các tài liệu bị tịch thu trong cuộc đột kích kho lưu trữ. Cũng có một sự thay đổi ở vị trí lãnh đạo của tổ chức khiến tổ chức này phải thay đổi cả phong cách và bản chất của mình. Vào tháng 7 năm 2019, vài tháng trước khi ông chuẩn bị từ chức, giám đốc lâu năm của IAEA, nhà ngoại giao Nhật Bản Yukiya Amano, người đã đứng đầu cơ quan giám sát hạt nhân trong gần một thập kỷ, đã qua đời vì một căn bệnh không xác định. Ông được thay thế vào cuối năm đó bởi một nhà ngoại giao người Argentina, Rafael Grossi.
Trong khi Amano kín tiếng, Grossi lại lắm lời. Nếu Amano thích nhịp độ chậm rãi, điều tra mọi chi tiết, thì Grossi là người năng nổ và làm việc theo bản năng. Quan trọng hơn, theo quan điểm của Israel, trong khi Amano triệu tập tất cả các quyền hạn của mình như một viên chức hành chính khiêm tốn, nhẹ nhàng để dội gáo nước lạnh vào bất kỳ nỗ lực nào nhằm tập hợp sự phấn khích hoặc cường độ chống lại Iran dựa trên những phát hiện của Mossad, Grossi biết chính xác những tài liệu mà Mossad đã trình bày với IAEA có giá trị như thế nào, và ông sẽ không vùi đầu vào cát.
Sinh ra tại Buenos Aires năm 1961, Grossi gia nhập cơ quan ngoại giao Argentina năm 1985. Ông từng giữ chức vụ chánh văn phòng IAEA dưới quyền giám đốc cơ quan Mohamed ElBaradei, xử lý các cuộc đàm phán với cả Bắc Triều Tiên và Iran. Từ năm 2010 đến năm 2013, ông là phó tổng giám đốc của cơ quan này, và trở thành người đứng đầu cơ quan mới vào ngày 3 tháng 12 năm 2019.
Grossi ngay lập tức bắt tay đối đầu với Cộng hòa Hồi giáo để giải quyết các câu hỏi về các hoạt động hạt nhân chưa được công bố đã đã được tiết lộ sau vụ Mossad đánh cắp kho lưu trữ. Các ayatollah đã cố gắng phản kháng, nhấn mạnh rằng bằng cách chấp nhận thông tin của Mossad là hợp lệ bất chấp sự phủ nhận của Iran, IAEA được cho là trung lập thực sự đang đứng về phe nào đó. Nhưng Grossi không muốn nhìn vào đèn đỏ và giả vờ rằng nó xanh. Vấn đề là liệu Iran có che giấu thế giới hay không: làm giàu uranium, các thí nghiệm hạt nhân trong quá khứ và các hoạt động vũ khí hạt nhân tiềm tàng khác.
Grossi đã gây sức ép với Iran về vấn đề này vào cuối năm 2019 và một lần nữa vào đầu năm 2020, khi ông nói rằng thứ trưởng ngoại giao Iran Abbas Araghchi đã không giải thích về các hành vi vi phạm. Grossi một lần nữa gây sức ép với Iran trong các tuyên bố công khai vào ngày 10 tháng 2 năm 2020, mặc dù ông không ủng hộ hành động trừng phạt, chẳng hạn như áp đặt lại các lệnh trừng phạt. Các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Iran đã được nới lỏng khi thỏa thuận hạt nhân năm 2015 được ký kết, miễn là Iran giữ các hành vi vi phạm hạt nhân của mình ở mức không khiến nước này tiến gần hơn đáng kể đến việc phát triển vũ khí hạt nhân thực sự.
Nhưng vào ngày 3 tháng 3 năm 2020, một tài liệu bị rò rỉ cho thấy Grossi đã báo cáo riêng về một hành vi vi phạm cấp cao với các quốc gia thành viên IAEA, cụ thể là Iran đã tăng gần gấp ba lần kho dự trữ uranium làm giàu thấp và hiện chỉ còn thiếu 30 kg là đủ số 1.050 kg cần thiết để đạt tới mức làm giàu 90 phần trăm nhằm sản xuất bom hạt nhân.
“Iran phải quyết định hợp tác theo cách rõ ràng hơn với cơ quan này để đưa ra những giải thích cần thiết”, Grossi phát biểu công khai. Ông nói về tốc độ làm giàu nhanh chóng của Iran và cuối cùng cũng thừa nhận rằng tuyên bố của Mossad về một cơ sở lưu trữ uranium bí mật tại Turquzabad ở miền bắc Iran là đúng. (Xem Chương 6.) “Thực tế là chúng tôi tìm thấy dấu vết [urani bất hợp pháp tại Turquzabad] là rất quan trọng”, Grossi nói thêm công khai, lưu ý đến một hành vi vi phạm bổ sung ngoài uranium làm giàu mà Iran đã công khai thừa nhận. “Điều đó có nghĩa là có khả năng xảy ra các hoạt động hạt nhân và tài liệu không nằm trong sự giám sát quốc tế và chúng tôi không biết nguồn gốc hoặc mục đích của chúng.”
“Điều đó làm tôi lo lắng”, Grossi nói thêm.
Đó là những lời lẽ khiêu khích đến từ IAEA vốn thường “không gây kịch tính”, và chúng báo hiệu sự khác biệt giữa Grossi và người tiền nhiệm của ông.
Vào đầu tháng 6 năm 2020, Grossi đã tiết lộ một báo cáo rằng trong ba tháng kể từ cảnh báo cuối cùng của ông, Iran đã sản xuất thêm 500 kg uranium làm giàu thấp. Ông lưu ý rằng nếu Tehran duy trì tốc độ làm giàu đó, có lẽ họ sẽ có đủ uranium làm giàu thấp cho hai vũ khí hạt nhân trong vòng ba tháng. Người Israel, với tư cách là Bộ trưởng Tình báo Eli Cohen và Giám đốc Mossad Yossi Cohen cho biết họ rất vui khi Grossi thể hiện thái độ sẵn sàng cứng rắn với người Iran.
Cuối cùng, vào ngày 19 tháng 6, Hội đồng Quản trị IAEA đã lên án Iran lần đầu tiên kể từ trước thỏa thuận hạt nhân năm 2015. Theo quan điểm của Israel, sự lên án này đã tước đi bất kỳ “nền tảng đạo đức” giả tạo nào mà Cộng hòa Hồi giáo có thể cố gắng tuyên bố, viện dẫn việc tuân thủ các khía cạnh khác của thỏa thuận.
___
Nếu Israel đạt được mục tiêu của mình liên quan đến IAEA, họ vẫn phải đối mặt với tiến triển mà Iran đã đạt được trong các hoạt động làm giàu không còn bí mật nữa. Trên thực tế, trong hai năm rưỡi sau cuộc đột kích kho lưu trữ và việc Mỹ rút khỏi JCPOA, Cohen đã ngứa ngáy muốn tấn công Iran, thực tế là thèm thuồng những cơ hội mà ông biết là có để khai thác những lỗ hổng lớn trong an ninh của nước này. Nhưng ông buộc phải kiềm chế một cách bất thường vì Mossad không thể phá hủy một cơ sở hạt nhân lớn của Iran miễn là IAEA và các quốc gia ký kết JCPOA ghi nhận sự tuân thủ của Cộng hòa Hồi giáo. Tuy nhiên, bây giờ, tình hình đã thay đổi và tạo ra đủ vỏ bọc đạo đức để thực hiện các hoạt động rủi ro mới.
Cohen, một vận động viên chạy marathon nhiệt thành, cảm thấy như thể khẩu súng lục bắt đầu cuộc đua đã phát pháo. Cuối cùng, ông có thể giải phóng tiềm năng của cơ quan.
Từ ngày 25 tháng 6 đến ngày 19 tháng 7, các cơ sở của Cộng hòa Hồi giáo đã bị tấn công liên tục bởi hơn mười vụ nổ bí ẩn, hỏa hoạn và các “tai nạn” khác. Trong số các địa điểm bị tấn công có cơ sở lắp ráp máy ly tâm tiên tiến nhất của đất nước, một nhà máy hóa dầu, một lưới điện và địa điểm tên lửa lớn nhất của nước này.
Gần như toàn bộ đất nước đột nhiên bị bao quanh bởi núi lửa và tất cả những gì Cộng hòa Hồi giáo có thể làm là chờ đợi trong vô vọng cho đến khi có đợt phun trào tiếp theo. Đối với Cohen, có thể trông giống như ai đó đang bắn cá trong thùng: lần lượt từng cơ sở hạt nhân hoặc IRGC bùng cháy. Các đối tác tình báo của ông từ các quốc gia khác và các nhà phân tích Iran trên toàn cầu đã theo dõi trong sự kinh ngạc khi chương trình dường như không bao giờ kết thúc này tiếp tục.
Các sự cố đầu tiên xảy ra vào ngày 26 tháng 6 năm 2020, đúng một tuần sau khi IAEA lên án Iran, khi một đám cháy bùng phát tại một nhà máy điện ở Shiraz, thành phố đông dân thứ năm của Iran, gây ra tình trạng mất điện trên diện rộng. Cùng ngày hôm đó, một vụ nổ lớn đã xé toạc cơ sở sản xuất tên lửa Khojir trên núi cách Tehran khoảng 12 dặm về phía đông. Hội đồng Kháng chiến Quốc gia Iran, một nhóm đối lập, đã tuyên bố rằng Khojir là một cơ sở bí mật của Bộ Quốc phòng Iran có tên mã là B1-Nori-8500 và “tham gia vào việc phát triển đầu đạn hạt nhân cho tên lửa đạn đạo tầm trung”.
Có nhiều báo cáo về hành động phá hoại hoặc tấn công Khojir của Israel, Hoa Kỳ hoặc những nhóm bất đồng chính kiến Iran, nhưng bốn ngày sau vụ nổ ngày 26 tháng 6, các quan chức Israel và Mỹ đã phát biểu ngoài lề rằng họ không có liên quan đến vụ việc cụ thể đó.
Bất kể ai thực hiện vụ tấn công vào Khojir, có vẻ như không có nghi ngờ gì rằng đó là một phần trong chòm sao các cơ sở của Iran liên quan đến việc phát triển vũ khí hạt nhân của nước này. Điều tương tự cũng đúng với các địa điểm khác nơi diễn ra hành vi phá hoại hoặc nổ bom, bao gồm Natanz, Sina Medical tại Đại học Tehran và tại các thành phố Ahvaz và Karun, cựu quan chức tình báo mạng của Không quân Hoa Kỳ Jeff Bardin đã nói với các tác giả. Ví dụ, ông nói thêm rằng Sina Medical có liên quan đến Khoa Y học Hạt nhân của Đại học Tehran và Ahvaz có một cơ sở hạt nhân được xác định trên bản đồ thu được trong vụ trộm Mossad. Bardin cũng đưa ra giả thuyết rằng nhà máy hóa chất Karun có thể có một số mối liên hệ với chuỗi cung ứng hạt nhân, nhưng cho biết bằng chứng về điều này ít có trong thông tin nguồn mở.
Iran, trong một phản ứng có điều kiện quen thuộc, tuyên bố vụ nổ Khojir là do một vụ nổ khí gas, không phải tại Khojir, mà là tại khu phức hợp quân sự Parchin gần đó, cả hai đều cách Tehran khoảng 20 dặm. Khi sự cố xảy ra, toàn bộ bầu trời đêm trên Tehran sáng rực, khiến có thể tin rằng một vụ nổ khí gas lớn đã xảy ra. Tuy nhiên, hình ảnh vệ tinh cho thấy rõ ràng một nhà kho chứa hai công ty con của ngành công nghiệp vũ trụ Iran tại Khojir đã hoàn toàn bị phá hủy, cũng như một số cơ sở không xác định. Một trong những công ty, Shahid Bagheri Industrial Group, sản xuất nhiên liệu rắn cho tên lửa của Iran, trong khi một công ty khác, Shahid Hemat Industrial Group, sản xuất nhiên liệu lỏng cho tên lửa đạn đạo. Một số nguồn tin ở cả Israel và nước ngoài suy đoán cuộc tấn công được thực hiện bởi Israel bằng cách sử dụng vũ khí mạng động lực, nghĩa là phần mềm độc hại gây ra thiệt hại vật lý, giống như virus Stuxnet được sử dụng vào năm 2009 để phá hoại máy ly tâm tại cơ sở phát triển hạt nhân Natanz. Một nhà phân tích người Mỹ, Theodore Karasik, đã nói với một tờ báo của ẢRập Xê-út, “Dường như có sự đồng thuận cho rằng đó là cuộc tấn công mạng của Israel…. Sự kiện Khojir là sự tiếp nối của virus Stuxnet được sử dụng cách đây 10 năm để phá hoại và ngăn chặn ngành công nghiệp quân sự của Tehran.”
Việc Iran từ chối thừa nhận rằng các cuộc tấn công vào Khojir và những nơi khác là hành động phá hoại chứ không phải tai nạn là một phần trong sự miễn cưỡng thừa nhận điểm yếu về an ninh của mình. Nhưng các quan chức tình báo phương Tây và các nguồn tin bên trong Iran cho biết rằng trong khi một số thực sự là tai nạn, một số là kết quả của các hành động bí mật của Israel, đôi khi có sự giúp đỡ của Mỹ. “Toàn bộ vấn đề là để người Iran cảm thấy căng thẳng đáng kể khi cố gắng quyết định những gì có thể là công việc của chúng tôi”, một quan chức quốc phòng Israel cho biết. Các quan chức tình báo châu Âu suy đoán rằng Israel có thể đang “cố gắng khiêu khích Iran vào cuộc đối đầu quân sự” trước cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11 khi Tổng thống Trump có thể thất cử (và thực tế là như vậy). Netanyahu và Cohen lo ngại rằng họ sẽ không thể tấn công mạnh mẽ và nhanh chóng như vậy khi một tổng thống đảng Dân chủ lên nắm quyền.
Vài ngày sau vụ nổ tại Khojir, một vụ nổ đã xảy ra tại một địa điểm bề ngoài không liên quan đến bất kỳ chương trình hạt nhân hay quân sự nào. Đây là một vụ tấn công khiến 19 người thiệt mạng và 6 người bị thương tại phòng khám Sina Athar ở phía bắc Tehran, nơi chuyên về y học hạt nhân. Chính quyền Iran trước đó đã ban hành cảnh báo an toàn cho những người quản lý cơ sở này và có khả năng vụ nổ là một tai nạn. Tuy nhiên, vụ nổ đã góp phần gây thêm áp lực cho chính quyền Iran vào thời điểm có cảm giác bất an gia tăng trong công chúng Iran.
Trong khi đó, vào ngày 27 tháng 6, giữa lúc Iran đang hứng chịu những đòn tấn công vào lãnh thổ của mình, Israel cũng đã tấn công các lực lượng ủy nhiệm của Iran tại Syria. Ít nhất 9 thành viên dân quân thân Iran đã thiệt mạng trong một cuộc không kích được cho là của Israel nhằm vào các vị trí quân sự tại al-Bukamal của Syria, một điểm quan trọng trên biên giới Iraq được sử dụng để buôn bán vũ khí. Cuộc tấn công này diễn ra chỉ vài giờ sau khi chỉ huy Lực lượng Quds của IRGC Esmail Ghaani được cho là đã có mặt tại địa điểm này. Đây là chuyến đi đầu tiên của y đến Syria kể từ vụ ám sát Soleimani, và y có mặt ở đó ít nhất một phần là để truyền tải thông điệp rằng, bất chấp việc mất Soleimani, Iran sẽ tiếp tục chiến lược sau năm 2017 là mở một mặt trận Syria chống lại “chế độ Phục quốc”. Tất cả những điều này xảy ra khi Netanyahu được cho là sắp đưa ra tuyên bố sáp nhập một phần Bờ Tây vào ngày 1 tháng 7, nhưng sau đó đã không làm vậy. Cuộc tấn công Syria và vụ nổ Khojir, xảy ra trong vòng hai mươi bốn giờ sau đó, đã giáng thêm đòn nghiêm trọng vào uy tín của Iran và cũng có thể đã giúp đánh lạc hướng công luận Israel khỏi việc Netanyahu chùn bước trước lời hứa sáp nhập của mình. Nhưng nếu những hoạt động này là sự đánh lạc hướng, thì chúng đúng là bước chuẩn bị cho một cuộc tấn công quan trọng hơn diễn ra sau đó vài ngày. Lần này cuộc tấn công diễn ra tại Natanz, một thành phố nhỏ ở trung tâm Iran, nơi tọa lạc một phần quan trọng trong chương trình chế tạo bom nguyên tử của Iran.
___
Lúc đầu, không rõ liệu có gì đáng kể thực sự xảy ra. Các báo cáo ban đầu, bao gồm cả Associated Press trích dẫn lời một phát ngôn viên hạt nhân Iran, là về một “sự cố” không xác định xảy ra vào sáng ngày 2 tháng 7 năm 2020, tại một tòa nhà đang được xây dựng gần cơ sở hạt nhân Natanz, nhưng không phải tại chính cơ sở hạt nhân đó. Trên thực tế, vì bất cứ điều gì xảy ra đều diễn ra vào thứ năm, một phần của ngày cuối tuần của Iran, nên các trang web địa phương đã không đưa tin về sự cố này.
Một phát ngôn viên hạt nhân Iran cuối cùng đã nói rằng không có thiệt hại nào đối với cơ sở hạt nhân thực tế hoặc lò phản ứng của nó. Dù có sự phủ nhận đó và bức tranh mơ hồ về những gì thực sự đã xảy ra, rõ ràng là có điều gì đó không ổn ở Natanz và đã có một vụ hỏa hoạn hoặc một vụ nổ. Điều này làm nảy sinh suy đoán rằng có người đã phá hoại vật chất địa điểm, có lẽ là tấn công bằng vũ khí mạng, như đã xảy ra với virus Stuxnet mười năm trước. Hoặc có lẽ chính Iran đã gặp phải một số loại lỗi công nghệ và thiệt hại được báo cáo tại nhà máy không phải do sự can thiệp của nước ngoài gây ra.
Ngoài ra, ngay từ đầu vẫn chưa rõ – vì Iran thường nói dối về những thất bại – liệu thiệt hại thực sự chỉ xảy ra ở các công trình xây dựng gần đó hay ở cơ sở chính Natanz.
Natanz ở tỉnh Isfahan, khoảng hai trăm dặm về phía nam Tehran, một khu vực nổi tiếng với trái lê đặc sắc cũng như vì vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời của dãy núi Karkas gần đó có đỉnh phủ tuyết.
Cơ sở làm giàu Natanz nằm gần một xa lộ chính cách thị trấn khoảng 20 dặm về phía tây bắc. Nhìn từ trên không, nếu bỏ qua các vị trí đặt súng phòng không lớn gần đó, trông nó giống như một loạt các nhà kho bình thường, không có gì nổi bật, có mái bằng. Bên trong, tòa nhà chính chứa một đội quân gồm hàng nghìn máy móc hình ống màu xám cao, nơi khí uranium hexafluoride được quay với tốc độ cực cao để sản xuất uranium làm giàu, một quy trình đóng vai trò quan trọng đối với tương lai hạt nhân của Iran.
Chính xác thì loại máy ly tâm nào quay ở Natanz là một câu hỏi quan trọng. Trong những năm trước thỏa thuận hạt nhân năm 2015, và trong thời gian dài khi Tehran thậm chí phủ nhận việc có chương trình vũ khí hạt nhân, Iran đã sử dụng máy ly tâm IR-1 tương đối chậm. Trong thời gian gần đây, các nguồn tin tình báo đã cảnh báo chúng ta về những nỗ lực lớn của nước này nhằm lắp đặt các máy móc mới, tiên tiến hơn có thể làm giàu uranium nhanh hơn từ bốn đến năm mươi lần. Nhưng có một vấn đề quan trọng cần phải giải quyết, đó là đưa các nguyên mẫu mới nhất vào hoạt động. Trong vấn đề này, các nhà khoa học Iran đã gặp rắc rối, mặc dù vẫn khó xác định liệu điều này là do hành vi phá hoại được thiết kế từ bên ngoài đất nước hay do lỗi kỹ thuật đơn giản.
Báo cáo tháng 6 năm 2020 của IAEA cho biết Iran đã triển khai chuỗi 164 máy ly tâm IR-2m và IR-4, đại diện cho các loại máy ly tâm tiên tiến thành công nhất của nước này. Tuy nhiên, Iran cũng đang thử nghiệm với các IR-8 và thậm chí cả IR-9 tiên tiến hơn. Trước đây, khi Tehran cố gắng nâng cao năng lực của mình trong lĩnh vực máy ly tâm, họ đã gặp nhiều thất bại và số lượng lớn máy ly tâm bị hỏng, không phải do tin tặc từ các thế lực nước ngoài mà là do lỗi kỹ thuật thông thường.
Tất cả những điều này dấy lên khả năng “sự cố” tại Natanz vào ngày 2 tháng 7 chỉ đơn giản là lỗi thiết bị cháy nổ, không phải là hậu quả của hành động phá hoại hoặc tấn công. Nhưng vào giữa đêm ngày 2 đến ngày 3 tháng 7, một nhóm bất đồng chính kiến trước đây không được biết đến tự gọi mình là “Homeland Cheetahs” đã gửi email đến tờ The New York Times và BBC tuyên bố chịu trách nhiệm vụ phá hoại cơ sở hạt nhân Natanz.
Homeland Cheetahs cho biết họ đã gây ra một vụ hỏa hoạn gây thiệt hại lớn cho một tòa nhà ở đó. Nhóm này tự mô tả mình là “một phe đối lập ngầm trong bộ máy an ninh của Iran”. Không rõ liệu tổ chức này có thực sự tồn tại hay là một phần của chiến dịch thông tin sai lệch cổ điển của thế giới gián điệp nhằm đánh lạc hướng người Iran khỏi những kẻ phá hoại thực sự. Riêng biệt, có thông tin cho biết một viên chức tình báo Trung Đông giấu tên đã nói rằng vụ nổ là kết quả của một chất nổ được đặt trong một phần của cơ sở nơi các máy ly tâm được cân bằng trước khi đi vào hoạt động. Đôi khi, tính ẩn danh của những bình luận như vậy là mật mã của Mossad. Tuy nhiên, thông tin này vẫn chưa được xác nhận; có thể những gì xảy ra ở Natanz vẫn chỉ là một tai nạn, như Iran vẫn tiếp tục tuyên bố.
Tuy nhiên, tai nạn không xảy ra ở những cơ sở như thế này, David Albright, chủ tịch Viện Khoa học và An ninh Quốc tế, cho chúng tôi biết. “Họ lấy các thành phần phụ tùng và lắp ráp chúng lại với nhau”, Albright nói. “Bạn sẽ không có nhiều chất lỏng dễ cháy. Các hoạt động lắp ráp không nguy hiểm. Có vẻ như đó có thể là hành động phá hoại. Đây là một địa điểm có giá trị cao đối với người Iran. Đây là một tòa nhà rất quan trọng”.
Vậy, điều gì thực sự đã xảy ra ở Natanz và ai chịu trách nhiệm về việc này?
Các hình ảnh vệ tinh của NASA cho thấy có hỏa hoạn ở Natanz. Hơn nữa, thiệt hại do đám cháy gây ra ở đó trùng khớp với chi tiết chứa trong email của Homeland Cheetahs.
Các nhà quan sát Iran và Mossad lưu ý, ví dụ, rằng thông điệp của nhóm Homeland Cheetah bao gồm một video tuyên truyền về các cuộc tấn công vào các địa điểm chiến lược mà họ cho biết đã thực hiện bên trong Iran. Việc thực hiện video sẽ đòi hỏi nhiều giờ, nếu không muốn nói là nhiều ngày, lên kế hoạch của những người có trình độ chuyên môn cao. Sự xuất hiện của nó ngay sau sự kiện này cho thấy rõ ràng bất kỳ ai sản xuất video đều biết trước rằng vụ nổ Natanz sẽ xảy ra, điều này cho thấy một hoạt động phá hoại tinh vi đã được thực hiện bởi một cơ quan tình báo hùng mạnh – cho dù cũng có khả năng một nhóm người bất đồng chính kiến địa phương người Iran tham gia.
Nói cách khác, có vẻ như mọi việc diễn ra giống như một hoạt động của Mossad từ đầu đến cuối; bản thân Cohen đã công khai ám chỉ điều này trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình vào tháng 6 năm 2021.
___
Sau vụ tấn công Natanz năm 2020, Cohen đã nhắc đến trong cuộc phỏng vấn công khai đầu tiên của mình về nhiều tình huống trong suốt sự nghiệp của ông, khi mối đe dọa ám sát đã thành công trong việc thuyết phục được một số nhà khoa học rời khỏi chương trình vũ khí hoặc thực sự hợp tác với Mossad – mặc dù các nhà khoa học có thể thường nghĩ rằng mình đang làm việc cho một nhóm bất đồng chính kiến của Iran hoặc một cơ quan tình báo nước ngoài của Ả Rập. Ông cho biết chìa khóa trong mọi hoạt động để lật đổ bất kỳ ai có bất kỳ quốc tịch nào, là tìm ra cách để họ tin tưởng bạn và sau đó khiến họ cần bạn. Cơ quan bí mật của Israel được cho là đã ra sức làm biến mất bất kỳ nhà khoa học nào đã giúp họ đi đến những địa điểm an toàn bí mật, có lẽ là dưới danh tính mới.
Ngoài việc tiếp xúc trực tiếp với các nhà khoa học hạt nhân, Mossad cũng đổi mới hoạt động sử dụng các điệp viên đóng giả làm nhà bán sỉ vật liệu xây dựng để xâm nhập vào chuỗi cung ứng hạt nhân của Iran. Điều này cho phép người Israel đặt thuốc nổ bên trong sảnh máy ly tâm A1000 tại Natanz khi nó đang được xây dựng. Một số quả bom nằm trong sảnh; một số khác được giấu trong lô thực phẩm trên xe tải phục vụ ăn uống. Đây là những chất nổ đã phát nổ trong cơ sở Natanz mà người Iran cho rằng đó là một “tai nạn”.
Chiêu trò chuỗi cung ứng là thứ Mossad đã thực hiện nhiều lần trước đây với người Iran, người Palestine và những người khác. Trên thực tế, nhiều quan chức tình báo đã nói rằng người Iran thậm chí còn biết chuỗi cung ứng của họ đã bị thâm nhập sâu đến mức nào, nhưng lại bất lực không thể làm gì được.
Albright đưa ra giả thuyết rằng từ năm 2020 trở đi, khi Iran lựa chọn máy ly tâm tiên tiến nào để đưa vào sử dụng, người ta cân nhắc đến kiểu máy nào có thể hoạt động với các bộ phận do Iran sản xuất được.
___
Vào Chủ Nhật, ngày 5 tháng 7 năm 2020, một phát ngôn viên của cơ quan năng lượng hạt nhân Iran cuối cùng thừa nhận rằng đã xảy ra hỏa hoạn tại Natanz và nó đã gây ra “thiệt hại đáng kể”. Ông đã cố gắng hạ thấp tầm quan trọng của vụ việc bằng cách nói rằng không có thương vong. Thật kỳ lạ, ông cũng nói rằng nguyên nhân gây ra vụ cháy Natanz đã được xác định, nhưng ông không đưa ra chi tiết, một dấu hiệu cho thấy Khamenei và Fakhrizadeh vẫn không muốn tiết lộ về tình hình an ninh hạt nhân của Iran kém như thế nào. Nhưng Behrouz Kamalvandi, người phát ngôn của Tổ chức Năng lượng Nguyên tử Iran, thừa nhận rằng “vụ việc có thể làm chậm quá trình phát triển và sản xuất máy ly tâm tiên tiến trong một trung hạn”. Cố gắng đưa tình hình vào góc nhìn tốt nhất có thể, ông nói thêm, “Iran sẽ thay thế tòa nhà bị hư hại bằng một tòa nhà lớn hơn có trang thiết bị tiên tiến hơn”, nhưng rõ ràng là Iran đã phải chịu tổn thất lớn.
Những tuyên bố của Iran vẫn để ngỏ câu hỏi liệu vụ nổ tốn kém này có phải là kết quả của một hoạt động của Israel hay là do một lý do nào khác. Vào ngày 6 tháng 7, một ngày sau khi Iran thừa nhận đã xảy ra hỏa hoạn tại Natanz, một viên chức tình báo Trung Đông đã nói với chúng tôi rằng Israel đứng sau vụ nổ, mà theo ông, là do một “quả bom mạnh”. Một thành viên của IRGC đã xác nhận rằng một chất nổ cũng đã được sử dụng trong vụ việc, mặc dù ông không nói rằng đó là một cuộc tấn công của Israel. Cả hai viên chức đều nói với điều kiện giấu nhẹm tên.
Thành viên IRGC cũng loại trừ khả năng một cuộc tấn công mạng đã gây ra thiệt hại, do đó loại trừ khả năng người Israel đã sử dụng cùng một phương pháp như họ đã sử dụng trong các cuộc tấn công vào Natanz trước đó một thập kỷ
Trong bài phát biểu chính thức, Israel vẫn giữ thái độ e dè về hành động phá hoại mới đối với chương trình hạt nhân của Iran. Khi được hỏi về điều này, Bộ trưởng Ngoại giao Gabi Ashkenazi cho biết tại một hội nghị trực tuyến của The Jerusalem Post và tờ báo Maariv, “Chúng tôi thực hiện những hành động tốt hơn là không nên nói ra”.
Vào ngày 9 tháng 7, bốn ngày sau khi người Iran thừa nhận đã xảy ra hỏa hoạn tại Natanz, David Albright tiết lộ với chúng tôi rằng không chỉ có “một số thiệt hại” đối với cơ sở này mà ba phần tư hội trường lắp ráp máy ly tâm chính đã bị phá hủy. Albright cho biết phát hiện của ông dựa trên các quan sát của hai vệ tinh mới cho thấy một hình ảnh đầy đủ hơn nhiều so với những bức ảnh có độ phân giải thấp hơn thu được cuối tuần trước. Chính trong tòa nhà bị phá hủy này, các cụm rotor, bộ phận quay nhanh của máy ly tâm là thành phần quan trọng nhất của nó, đã được lắp ráp lại với nhau, và mức độ thiệt hại có nghĩa là chương trình hạt nhân của Iran liên quan đến máy ly tâm tiên tiến đã bị trì hoãn lâu hơn nhiều so với dự kiến ban đầu. Trên thực tế, ước tính trước đó về số ngày hoặc tuần chậm trễ đã đột nhiên được thay đổi thành nhiều năm (cuối cùng, sự chậm trễ được chứng minh là khoảng chín tháng, lâu hơn ở một số khu vực).
“Rõ ràng là một vụ nổ lớn đã diễn ra, phá hủy gần ba phần tư hội trường lắp ráp máy ly tâm chính, gây ra một đám cháy làm đen phần lớn tòa nhà, vết đen có thể nhìn thấy ở nơi mái nhà bị thổi bay”, Albright cho biết. Đánh giá của ông về thiệt hại và hậu quả của nó đã được Sima Shine, cựu giám đốc Nghiên cứu và Phân tích Iran của Mossad, chấp nhận khi chúng tôi gặp bà. Bà đã nói với chúng tôi vào năm 2021, “Tác hại chính đối với Iran do thiệt hại đối với các máy ly tâm tiên tiến gần cơ sở hạt nhân Natanz có liên quan đến khả năng và các lựa chọn trong tương lai của nước này để phá hủy vũ khí hạt nhân”. Bà thừa nhận rằng việc mất các máy ly tâm tiên tiến không ảnh hưởng đến kho dự trữ uranium mà Cộng hòa Hồi giáo đã làm giàu, bản thân nó đủ cho ít nhất một quả bom hạt nhân, một khi nó đã được vũ khí hóa. Tuy nhiên, bà gọi các máy ly tâm tiên tiến là “rất quan trọng”, chỉ ra rằng hầu hết các máy ly tâm của Tehran làm giàu uranium ở tốc độ rất chậm. Điều này đòi hỏi một số lượng lớn máy ly tâm để có được vật liệu phân hạch. Ngược lại, bà nói, “các máy ly tâm tiên tiến cho phép đột phá nhanh hơn”, và vì bạn không cần nhiều máy như vậy để làm giàu uranium, “nên che giấu chúng dễ dàng hơn”.
Shine và các quan chức tình báo Israel khác cho biết với chúng tôi rằng việc phát triển máy ly tâm nhanh hơn là quan trọng đối với người Iran vì những lý do khác ngoài tốc độ. Vào thời điểm xảy ra vụ nổ ở Natanz, Iran đang dự đoán sẽ thực hiện một thỏa thuận mới về JCPOA với Joe Biden, nếu ông được bầu làm tổng thống vào tháng 11 năm 2020. Để sẵn sàng cho điều đó, Shine cho biết, điều quan trọng là Tehran phải thiết lập các máy ly tâm tiên tiến của họ, vì điều đó sẽ khiến việc bãi bỏ chúng đi trong bất kỳ cuộc đàm phán nào trở nên khó khăn hơn. “Họ muốn ngày càng nhiều lá bài”, bà nói, những lá bài có nghĩa là những vị thế mạnh mẽ được sử dụng để giành lợi thế trong các cuộc đàm phán. Ít nhất là cho đến giữa năm 2021, bà dự đoán, “Cuối cùng, họ muốn có một thỏa thuận…. Sẽ tốt hơn cho họ khi đến bàn đàm phán khi họ có những lá bài tốt hơn”.
Tại sao bất kỳ bên nào tấn công Iran đều nhắm vào các máy ly tâm tiên tiến thay vì vào kho uranium hiện đang đe dọa? Câu trả lời của Shine đơn giản là: cơ sở bị tấn công có khả năng dễ bị tổn thương hơn.
___
Trùng hợp hay không, vào giữa đêm ngày 5 và 6 tháng 7, Thủ tướng Netanyahu tuyên bố rằng ông sẽ gia hạn nhiệm kỳ 5 năm của Cohen với tư cách là giám đốc Mossad thêm 6 tháng, nghĩa là Cohen hiện đã kết thúc nhiệm kỳ của mình vào tháng 6 năm 2021. Có phải thời điểm Netanyahu ra lệnh cho nổ tung Natanz sớm hơn ba ngày, vào ngày 2 tháng 7, một phần là do chính trị? Netanyahu có gia hạn nhiệm kỳ của Cohen như một cách để cảm ơn ông vì đã chuyển chủ đề từ Netanyahu phản đối việc sáp nhập sang Netanyahu thành công chống lại Iran? Là một giám đốc Mossad vô cùng thành công, với những thành công chống lại Iran vào năm 2018, trong cuộc chiến chống Covid, trong các hoạt động chống lại Hamas, và trong tiến trình ngoại giao thầm lặng lẽ với các nước vùng Vịnh Sunni, Cohen chắc chắn đủ điều kiện để gia hạn nhiệm kỳ của mình. Bên cạnh đó, Cohen được biết đến là người được Netanyahu yêu thích nhất trong số năm thủ lĩnh Mossad mà ông từng làm việc cùng. Hoặc có thể việc gia hạn của ông được công bố vào thời điểm đó vì có sự tạm dừng trong nhiều vòng bầu cử của Israel.
Việc thăng chức cho Cohen ngay sau vụ nổ ở Natanz có vẻ là một cách gián tiếp để Netanyahu nhận công lao cho hoạt động này, và điều đó có thể gây ra nguy cơ trả đũa của Iran vào thời điểm Israel dường như đang cố gắng hạ thấp hình ảnh của mình – ví dụ, có thể bằng cách bịa ra một nhóm người Iran, Homeland Cheetahs, đứng ra nhận công lao. Chúng ta có thể không bao giờ giải đáp được những câu hỏi này.
___
Một vụ nổ khác đã xảy ra vào ngày 9 tháng 7, lần này là ở phía tây nam Tehran. Cũng giống như “sự cố” tại Natanz, các quan chức Iran ban đầu khẳng định không có bất cứ sự cố gì xảy ra, mặc dù họ thừa nhận rằng điện đã bị cắt. Các nhà phân tích cho biết vụ nổ đã xảy ra ở một khu vực có các cơ sở ngầm liên quan đến nghiên cứu vũ khí hóa học của IRGC và một địa điểm sản xuất quân sự không xác định. Một lần nữa, các cơ quan tình báo phương Tây suy đoán rằng Israel đứng sau vụ tấn công.
Đây là vụ nổ thứ ba trong ba tuần đánh vào mục tiêu quân sự của Iran, nhưng một số mục tiêu phi quân sự cũng bị đánh trúng. Có một sự cố tại nhà máy điện Shahid Medhaj Zargan ở Ahvaz vào ngày 4 tháng 7, vụ hỏa hoạn tại nhà máy hóa dầu Mahshahr vào ngày 12 tháng 7 và vụ nổ tại một khu phức hợp công nghiệp gần Mashad vào ngày hôm sau. Tổng cộng, vào tháng 7 sau vụ tấn công Natanz, đã xảy ra các vụ nổ vào tám ngày khác nhau và một số vụ việc khác vào tháng 8 năm 2020.
Vào ngày 11 tháng 7, chúng tôi đã ra mắt một bài báo trên tờ The Jerusalem Post tiết lộ rằng Iran đang phải đối mặt với sự sụp đổ hoàn toàn về mặt tình báo. Câu hỏi không chỉ là làm thế nào mà ai đó có thể thực hiện nhiều cuộc tấn công như vậy trong khoảng thời gian ngắn ngủi chỉ vài tuần, mà còn là làm thế nào mà lực lượng phản gián của Cộng hòa Hồi giáo đã nhiều lần không phát hiện hoặc ngăn chặn được chúng.
Vào thời điểm bài viết của chúng tôi, chẳng hạn, IRGC lẽ ra phải dành thời gian để săn lùng các ổ bí mật đã thực hiện các cuộc tấn công này, nhưng nó chẳng làm gì ra hồn và các cuộc tấn công vẫn tiếp tục. Điều này dường như đúng, mặc dù nhìn chung, cơ quan phản gián của Iran được biết là đã hoạt động ở cấp độ cao hơn nhiều so với hầu hết các đối thủ của Israel. Cơ quan phản gián của Tehran đã mắc sai lầm, như khi bắt giữ các thành viên đối lập chính trị và khai man rằng họ là đặc vụ của Mossad. Nhưng nước này cũng đã lùng bắt được các điệp viên ở trình độ gần ngang với các cường quốc hàng đầu thế giới. Thật vậy, cho đến vụ đánh cắp kho lưu trữ của Israel vào tháng 1 năm 2018, lãnh thổ Iran được coi là khó xâm nhập hơn nhiều so với lãnh thổ Syria, nơi Israel đã thừa nhận có hàng nghìn người hoạt động tình báo và không kích.
Đúng vậy, vào những ngày khi Meir Dagan đứng đầu Mossad, một loạt các cuộc tấn công vào các nhà khoa học hạt nhân Iran được quy cho cơ quan, và Iran đã không thể ngăn chặn được chúng. Nhưng phần lớn những điều đó đã xảy ra cách đây hơn một thập kỷ, và nhiều hoạt động mà Iran không thể ngăn chặn được nhắm vào các nhà khoa học bị giết một mình và bên ngoài nơi làm việc của họ. Họ có lẽ là những mục tiêu dễ dàng hơn so với các nhà máy lớn được bảo vệ nghiêm ngặt như Natanz. Nhưng giờ đây, Mossad, có thể với sự giúp đỡ của các đại diện Iran bất đồng chính kiến, bị cáo buộc đã tấn công các địa điểm hạt nhân, vũ khí thông thường và các cơ sở của IRGC của Iran theo ý muốn. Theo quan điểm đó, những gì thế giới chứng kiến vào mùa hè năm 2020 là một lực lượng phản gián cấp độ chống lại một thế lực tình báo hoặc mạng lớn.
Như Cohen đã nhiều lần nhấn mạnh với Iran, với lối hùng biện đặc trưng của mình, Israel sẽ không để các bạn có vũ khí hạt nhân – các bạn không hiểu điều gì sao?
___
Một lý do cho sự thành công của Mossad là cơ quan tình báo của Iran đang bị xé nát bởi một cuộc chiến tranh giành địa bàn nội bộ tàn khốc và tự hủy hoại. Từ năm 2009 đến năm 2021, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran đã hoàn toàn làm lu mờ Bộ Tình báo và An ninh Iran (MOIS), vốn trước đây gần như độc quyền về thu thập thông tin tình báo. Sự phát triển này đã được nêu bật trong một báo cáo vào tháng 11 năm 2020 từ Trung tâm thông tin tình báo và khủng bố Meir Amit, trong đó có phát hiện rằng IRGC vẫn tiếp tục nắm quyền kiểm soát các hoạt động tình báo mặc dù người đứng đầu của họ, Qasem Soleimani, đã bị ám sát vào ngày 3 tháng 1 năm 2020. Cuộc chiến giành địa bàn giữa hai cơ quan của Iran có lợi cho tình báo phương Tây nói chung và Mossad nói riêng, phần lớn là do MOIS chuyên nghiệp và tài năng hơn IRGC.
Một lý do cho điều này là IRGC mới bước vào thế giới tình báo tương đối gần đây và chủ yếu nhằm mục đích thu thập thông tin về tình hình trong nước của Iran, đặc biệt là về nội bộ bất đồng chính kiến. Ngược lại, MOIS có lịch sử lâu dài là một dịch vụ nghiêm túc và chuyên nghiệp, quen thuộc với các chiến thuật tuyển dụng điệp viên nước ngoài và sử dụng các kỹ thuật phản gián tinh vi để bắt những người Iran đang do thám Cộng hòa Hồi giáo. Ví dụ, MOIS đã công bố vào tháng 8 năm 2020 rằng họ đã phá vỡ năm nhóm điệp viên làm việc cho các cơ quan tình báo nước ngoài mà, phó giám đốc phản gián của bộ tình báo cho biết vào thời điểm đó, đang có kế hoạch do thám các dự án hạt nhân, chính trị, kinh tế, quân sự và cơ sở hạ tầng của Iran. Độ chính xác của tuyên bố này không thể được xác nhận, nhưng chắc chắn là MOIS đã tiến hành phản gián thành công các hoạt động trong quá khứ, bao gồm việc phá hủy phần lớn mạng lưới của CIA tại Iran từ năm 2010 đến năm 2013.
Vào tháng 11 năm 2019, The Intercept đã công bố một loạt báo cáo về IRGC và các hoạt động của MOIS tại Iraq và những nơi khác, dựa trên các báo cáo và điện tín nội bộ bị rò rỉ của MOIS, xác nhận các trọng tâm khác nhau của hai tổ chức cạnh tranh. Theo các điện tín, MOIS được giao nhiệm vụ “giữ cho Iraq không bị tan rã, không nuôi dưỡng các chiến binh Sunni ở biên giới Iran, không sa vào chiến tranh giáo phái có thể khiến người Hồi giáo Shiite trở thành mục tiêu của bạo lực và không tạo ra một Kurdistan độc lập”. Ngược lại, các điện tín cho thấy IRGC đang hoạt động “tiêu diệt Nhà nước Hồi giáo” – có nghĩa là phe Hồi giáo Sunni cực đoan, hay còn gọi là ISIS, đã cố gắng nắm quyền ở Iraq và Syria vài năm sau cuộc xâm lược Iraq của Mỹ và trong cuộc nội chiến Syria. Nhưng trọng tâm chính của IRGC là “duy trì Iraq như một quốc gia chư hầu của Iran và đảm bảo rằng các phe phái chính trị trung thành với Tehran vẫn nắm quyền.” Các phe phái trung thành với Iran sẽ là các nhóm Shiite, trước cuộc xâm lược của Mỹ, đã cảm thấy bị áp bức bởi đa số người Sunni ở Iraq.
Tuy nhiên, báo cáo cho thấy rằng khi theo đuổi các mục tiêu chính của mình, IRGC đã phá hoại các mục tiêu khác. Ví dụ, khi sử dụng các kỹ thuật đen tối của hoạt động gián điệp và hành động quân sự bí mật để duy trì quyền lực và sự kiểm soát của người Shiite ở Iraq, IRGC dòng Shiite đã tước quyền của đa số người Sunni ở Iraq, khiến họ phải trông cậy vào những người khác, dù là Hoa Kỳ hay ISIS, để được bảo vệ. Và vì vậy, vào năm 2014, IRGC và các lực lượng ủy nhiệm của họ, cố gắng phá hủy một thành trì của ISIS, đã thảm sát người Sunni ở cộng đồng nông nghiệp Jurf al-Sakhar gần Tehran. Các bức điện từ MOIS đã nêu rõ rằng họ coi những hành động như vậy của IRGC là gây hại thảm khốc cho mục tiêu lâu dài của Iran là duy trì ảnh hưởng chủ đạo ở Iraq. Trớ trêu thay, điều này có lẽ cũng giống như cách CIA diễn giải vụ thảm sát và các sự kiện tương tự.
Ở một cấp độ nào đó, sự chỉ trích của MOIS đối với các chính sách của IRGC ở Iraq đã báo hiệu sự chia rẽ trong nội bộ Iran giữa phe thực dụng của tổng thống Iran khi đó là Hassan Rouhani và Soleimani hiếu chiến hơn và đôi khi là kẻ cuồng tự đại và IRGC, được Lãnh tụ tối cao cứng rắn Khamenei ủng hộ. Theo phân tích này, sự chia rẽ bên trong tình báo Iran phản ánh sự chia rẽ lớn hơn giữa những người ôn hòa và cứng rắn ở Iran nói chung. Hơn nữa, trong bối cảnh này, Khamenei đã cố tình đặt IRGC và MOIS chống lại nhau, như một cách để đảm bảo rằng không có phó tướng nào của ông có thể nổi lên như một đối thủ tiềm năng cho vị trí lãnh đạo quốc gia.
Theo phân tích này, Khamenei đã trao cho IRGC một vai trò lớn hơn như một cách làm suy yếu Rouhani, người kiểm soát MOIS.
Khamenei cũng đã ưu ái IRGC hơn quân đội Iran, có ngân sách năm 2016 đến 2017 thực tế ít hơn của cơ quan điệp viên. Đến năm 2018 và 2019, IRGC đã nhận được ba lần ngân sách của toàn bộ quân đội.
Trong nhiều năm qua, sự thiên vị của Khamenei đã khiến IRGC chắc chắn mạnh hơn bất kỳ cơ quan hay bộ nào khác của chính phủ Iran. Thậm chí, IRGC còn có một bộ phận hàng không vũ trụ song song cạnh tranh với phiên bản NASA của Iran; IRGC cũng điều hành một bộ phận mạng đặc biệt và một bộ phận tinh nhuệ tham gia vào chương trình tên lửa đạn đạo của đất nước và các năng lực liên quan đến hạt nhân khác. Nhưng chính sự đa dạng trong các nhiệm vụ của IRGC đã khiến IRGC mất tập trung khỏi nhiệm vụ quan trọng của mình là nhiệm vụ phản gián, ngăn chặn hoạt động do thám của các thế lực nước ngoài. Nhiều trách nhiệm khác nhau, đôi khi không rõ ràng, đã làm suy yếu Iran khi nước này tham gia trò chơi quốc tế rộng lớn hơn, ngay cả khi việc gạt MOIS sang một bên đã mở ra cánh cửa cho các hoạt động đặc biệt của Israel và giúp giải thích sự gia tăng đáng kể của họ.
Quay trở lại với Mossad, kết quả là vào thời điểm các điệp viên Israel tiến hành các hoạt động táo bạo ở Iran vào năm 2018 và 2020, IRGC có thể đã làm giảm khả năng phát hiện và ngăn chặn hoạt động gián điệp của nước này, trải thảm đỏ cho Mossad.
Đến cuối tháng 7 năm 2020, đã có rất nhiều vụ nổ ở Iran đến nỗi một số nhà phân tích địa chính trị đã đặt ra câu hỏi liệu quyền kiểm soát đất nước của chế độ này có phải đang tuột dốc hay không. Nhưng trên thực tế, như một số chuyên gia về Iran đã lập luận, chế độ này vẫn kiên cường bất chấp nhiều thách thức mà họ phải đối mặt, bao gồm cả hoạt động phá hoại dường như vô tận và không thể ngăn cản đang diễn ra tại các cơ sở hạt nhân và quân sự trên khắp đất nước.
Nếu tất cả những điều này giải thích tại sao Iran không thể ngăn chặn các cuộc tấn công chống lại mình, thì câu hỏi vẫn còn đó: Tại sao phản ứng của Iran đối với các cuộc tấn công của Israel, đặc biệt là cuộc tấn công gây thiệt hại nghiêm trọng tại Natanz, lại yếu đến vậy? Tại sao không có bất kỳ hành động trả đũa nghiêm túc nào? Các chuyên gia Israel không đồng ý về điều này. Một số người cho rằng Iran không có khả năng trả đũa ăn miếng trả miếng; những người khác tin rằng Iran đang chờ thời và rằng họ sẽ tấn công Israel khi thời điểm thích hợp đến.
“Họ đã từng phản ứng trước đây, ví dụ, bằng cuộc tấn công mạng vào ngành cấp nước của Israel”, giáo sư Meir Litvak của Đại học Tel Aviv cho biết, ám chỉ đến hoạt động phá hoại của Iran vào năm 2020. Litvak tiếp tục, họ có thể chỉ đơn giản là “chờ cho đến khi họ có thể tấn công mạnh hơn từ Syria”, hoặc cho một số cơ hội khác. Litvak chỉ ra rằng phản ứng của Tehran đối với vụ ám sát của Mỹ đối với chỉ huy Lực lượng Quds của IRGC, Qasem Soleimani, là có hạn, theo nghĩa là không có cuộc phản công nào kịch tính tương tự.
“Người Iran sẽ không chờ đợi mãi mãi”, ông nói. “Thật không khôn ngoan khi cố làm họ xấu hổ”.
Ori Goldberg, của Đại học Reichman ở Herzliya, ngược lại, lập luận rằng người Iran “không có nhiều lựa chọn tốt để trả thù.
“Người dân Iran không phẫn nộ đòi trả thù”, ông nói, mặc dù ông nói thêm rằng Jerusalem nên cẩn thận để không “mất kiểm soát với các cuộc tấn công chiến thuật và giành lợi thế mà không suy nghĩ thấu đáo”.
Trong khi đó, bất kể Iran có thể trả đũa thế nào, cuộc tấn công vào Natanz có ý nghĩa tức thời không thể nhầm lẫn đối với Israel. Âm mưu đen tối của Khamenei và Fakhrizadeh là sử dụng máy ly tâm tiên tiến để chạy nước rút đến một quả bom hạt nhân – với tốc độ nhanh hơn nhiều so với ước tính thông thường là ba đến bốn tháng – đã không còn được bàn đến trong tương lai gần. Kế hoạch của Iran dựa trên ý tưởng rằng các máy ly tâm tiên tiến có khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân nhanh chóng sẽ khiến chính quyền Biden phải đưa ra những nhượng bộ mới. Mossad đã thực sự phá hủy các kế hoạch này và đòn bẩy mà Iran hy vọng có được trong các cuộc đàm phán sắp tới, buộc giám đốc hạt nhân Iran Fakhrizadeh phải vội vã cung cấp cho Khamenei một kế hoạch mới.