Mục tiêu Tehran (Bài 3)

Cách thức Mossad sử dụng phá hoại, chiến tranh mạng, ám sát – và ngoại giao mật – để ngăn chặn một Iran có vũ khí hạt nhân và sắp xếp lại Trung Đông

Yonan Jeremy Bob, Ilan Eyatar

Trần Quang Nghĩa dịch

Chương 4

HOÀN CẢNH THAY ĐỔI 

VÀO THÁNG 1 NĂM 2011, trong ngày cuối cùng của nhiệm kỳ chín năm làm người đứng đầu cơ quan, Meir Dagan đã mời một nhóm nhà báo Israel đến trụ sở Mossad. Các thành viên báo chí nghĩ rằng họ sắp được nghe tóm tắt về những năm tháng tại vị của Dagan, hoặc có lẽ là một bản phân tích về tình hình liên quan đến chương trình hạt nhân của Iran. Thay vào đó, những gì họ nhận được là lời chỉ trích đặc biệt của một viên chức nhà nước vẫn còn tại nhiệm về cuộc tấn công quân sự mà Netanyahu và Barak muốn thực hiện chống lại Iran, nhưng đã bị giám đốc Mossad và những người khác ngăn cản vài tháng trước đó. Tuy nhiên, hầu hết các bình luận của Dagan không bao giờ được đưa lên báo vì giám đốc cục kiểm duyệt quân sự, Chuẩn tướng Sima Vaknin Gil, đã cấm loan báo với lý do tài liệu được phân loại.

Luôn là người tìm một con đường khác để đạt được điều mình muốn nếu con đường đó bị ngăn chặn, Dagan đã đợi vài tháng, và vào tháng 6 đã nói chính xác những điều ông đã nói với các nhà báo, nhưng lần này là trước một lượng khán giả đông đảo hơn tại một hội nghị ở Đại học Tel Aviv.

Rốt cuộc, ở Israel, ai có thể truy tố một anh hùng dân tộc như Dagan khi ông ta lên tiếng và bày tỏ sự chỉ trích của mình trước công chúng. Ngoài việc đặt câu hỏi về sự khôn ngoan của việc tấn công vào Iran, Dagan kêu gọi Israel chấp nhận sáng kiến ​​hòa bình của Ả Rập Xê-ut và đạt được tiến bộ trên mặt trận Palestine.

Một ngày sau cuộc họp bất ngờ của Dagan với các nhà báo vào tháng 1, ông được thay thế bởi Tamir Pardo, người đã nghỉ hưu sau hai lần làm phó cho Dagan và hai lần từ chức, vì hết hy vọng có cơ hội nhận được công việc hàng đầu.

Giống như Dagan, Pardo xuất thân từ một gia đình sống sót sau cuộc thảm sát Holocaust. Mẹ anh đã mất mẹ, cha và anh trai, tất cả đều bị Đức Quốc xã giết chết. Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, Pardo phục vụ trong Sayeret Matkal, đơn vị Lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ của Israel, đơn vị đã từ chối chấp nhận một Dagan trẻ tuổi vào hàng ngũ của mình. Ở đó, Pardo đã tham gia vào một trong những cuộc đột kích nổi tiếng nhất mọi thời đại – Chiến dịch Thunderbolt (Sấm sét). Đây là cuộc giải cứu được ca ngợi vào năm 1976 đối với hơn một trăm con tin người Israel và Do Thái cùng với phi hành đoàn của một chiếc máy bay Air France đã bị không tặc trên chuyến bay từ Tel Aviv đến Paris và bị buộc phải hạ cánh xuống Entebbe ở Uganda. Pardo, là sĩ quan liên lạc của Sayeret Matkal, đã ở ngay cạnh biệt kích Israel duy nhất thiệt mạng trong chiến dịch này, Yonatan Netanyahu, anh trai của thủ tướng sau này.

Pardo hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình trong IDF vào năm 1978 với cấp bậc đại úy và một năm sau, ông gia nhập Mossad, khi vẫn còn là sinh viên lịch sử tại Đại học Tel Aviv. Ban đầu, ông làm việc trong bộ phận nghiên cứu phân loại các giấy tờ tình báo dưới quyền Uzi Arad, người sau này trở thành nhân vật đứng đầu Hội đồng An ninh Quốc gia Israel. Pardo đã thăng tiến trong các cấp bậc, chuyển đến và sau đó là đứng đầu Keshet, đơn vị nghe lén, nơi các kỹ năng ông học được ở Sayeret Matkal tỏ ra hữu ích. Sau đó, ông được phân công vào các đơn vị tác chiến của cơ quan, cuối cùng trở thành người đứng đầu bộ phận tác chiến đặc biệt, cho đến năm 2002, ông được bổ nhiệm làm phó cho Dagan.

Năm 2006, Pardo đã rời khỏi Mossad để trở thành cố vấn cho bộ phận hoạt động đặc biệt của IDF. Trong thời gian Chiến tranh Lebanon lần thứ hai vào tháng 7 năm đó, ông đã tham gia vào các hoạt động lập kế hoạch chống lại lực lượng đại diện của Iran tại Lebanon, Hezbollah, một lực lượng mà ông mô tả là “một phát minh của Iran” nhằm mục đích tạo ra đường biên giới giữa Tehran và Israel. Ông đã trở lại Mossad vào năm 2007, và khi Benjamin Netanyahu được bầu làm thủ tướng vào năm 2009, ông có thể hy vọng rằng vị trí giám đốc sẽ sớm thuộc về mình.

Pardo vẫn gần gũi với gia đình Netanyahu và thậm chí còn đặt tên cho con trai mình là Yonatan. Tuy nhiên, ông không chuyển lên vị trí cao nhất của Mossad ngay lập tức. Netanyahu đầu tiên đã chọn gia hạn nhiệm kỳ của Dagan, một phần vì Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barak, cựu chỉ huy của Sayeret Matkal, phản đối việc Pardo nhận công việc này. Nhưng vào năm 2010, bất chấp sự phản đối của Barak, Pardo vẫn được bổ nhiệm làm người đứng đầu Mossad.

Tuy nhiên, có một điều đáng lưu ý: Netanyahu yêu cầu Pardo bổ nhiệm Yossi Cohen làm phó của mình. Pardo từ chối, lập luận rằng Ram Ben Barak, hiện đang giữ chức vụ đó, đang làm rất tốt và không thể bị sa thải mà không có lý do chuyên môn. Cuối cùng, một thỏa hiệp không chính thức đã đạt được. Ben Barak sẽ ở lại trong khoảng một năm và Cohen sẽ trở thành phó sau khi ông từ chức.

Dưới thời Pardo, người đã nghĩ ra chương trình nhắm mục tiêu vào các nhà khoa học hạt nhân Iran, những hành động bí mật chống lại Iran, ít nhất là lúc đầu, tiếp tục với tốc độ thậm chí còn nhanh hơn dưới thời Dagan.

Giám đốc Mossad Tamir Pardo

Chiến dịch lớn đầu tiên diễn ra vào ngày 23 tháng 7 năm 2011. Hai tay súng đi xe máy chạy theo một chiếc ô tô do Darioush Rezaeinejad, một nhà vật lý hạt nhân và chuyên gia về công tắc điện áp cao dùng để kích hoạt đầu đạn hạt nhân, lái. Các sát thủ tăng ga và áp sát  cửa sổ bên tài xế và nổ súng, bắn trúng Rezaeinejad năm viên đạn, trong đó có một viên xuyên qua cổ, cắt đứt động mạch và giết chết ông ta ngay tại chỗ. Vợ ông, ngồi ở ghế hành khách phía trước, bị thương, nhưng vẫn sống sót.

Trong khi Mossad, theo thông lệ thiết thực, không nhận trách nhiệm cho vụ ám sát, nguồn tin tình báo phương Tây cho biết cơ quan này đã thực hiện nó. Nguồn tin Israel bảo với tạp chí Đức Der Spiegel rằng đó là “hành động nghiêm túc đầu tiên mà giám đốc mới của Mossad cho ra mắt.”

Giống như mọi vụ ám sát các nhà khoa học hạt nhân trước đây, phương tiện truyền thông nhà nước Iran ban đầu tuyên bố Rezaeinejad không có liên quan gì đến chương trình hạt nhân của nước này và chỉ là một nghiên cứu sinh tiến sĩ điện tử vô tội.

Sau đó, vào tháng 11 năm 2011, một vụ nổ bí ẩn đã xảy ra tại căn cứ tên lửa Alghadir ở Bid Kaneh; nó mạnh đến mức làm rung chuyển các cửa sổ ở Tehran cách đó khoảng ba mươi dặm. Vụ nổ cũng giết chết 17 Vệ binh Cách mạng; một trong số họ là Thiếu tướng Hassan Tehrani Moghaddam, kiến ​​trúc sư của chương trình tên lửa đạn đạo của Iran.

IRGC khẳng định vụ nổ không phải do nước ngoài phá hoại gây ra mà là kết quả của một tai nạn trong quá trình chuyển giao đạn dược. Nhưng các nguồn tin của Israel được trích dẫn trên các phương tiện truyền thông nước ngoài nói rằng sự cố tại Bid Kaneh là kết quả của một hoạt động chung của Mossad và MEK, Tổ chức Thánh chiến Nhân dân chống chế độ Iran . Về mặt chính thức, Israel từ chối bình luận. Tuy nhiên, Bộ trưởng Quốc phòng Ehud Barak đã nói đùa, “Mong rằng sẽ có nhiều vụ như thế này nữa.” Cựu phó giám đốc Mossad, Ilan Mizrahi, nói thêm: “Chúa phù hộ những kẻ đứng sau vụ việc này.”

Chắc chắn, Israel có mọi lý do không chỉ để tấn công một căn cứ tên lửa quan trọng của Iran mà còn muốn giết Moghaddam. Sinh năm 1959 tại khu phố Sarcheshmeh của Tehran, Moghaddam là một sinh viên kỹ thuật khi y tham gia cuộc nổi dậy chống lại Shah, chế tạo bom và lựu đạn tự chế. Với chiến thắng của Cách mạng Hồi giáo, y gia nhập IRGC và chiến đấu với tư cách là một chỉ huy trong Chiến tranh Iran-Iraq. Năm 1981, y thành lập quân đoàn pháo binh IRGC, nhưng khi Iran bắt đầu nỗ lực để có được công nghệ tên lửa của riêng mình, y được giao nhiệm vụ thiết kế sao chép các tên lửa mua từ Triều Tiên, Libya và Syria. Năm 2004, y đến Syria để nghiên cứu tên lửa đạn đạo chiến thuật Scud-B do Liên Xô chế tạo. Đến năm 2006, y được bổ nhiệm làm chỉ huy Tổ chức Thánh chiến Tự cung tự cấp của Quân đoàn Hàng không Vũ trụ IRGC, nơi y làm việc về phát triển tên lửa đạn đạo.

Ngoài việc chế tạo tên lửa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, Moghaddam còn cung cấp công nghệ tên lửa cho các nhóm Palestine và Hezbollah. Khamenei ghi nhận công lao của y trong việc “trao tên lửa tận tay người Palestine thay vì ném đá để tấn công những tên khủng bố ngạo mạn này [người Israel].” Những hành động chống Israel này đã khiến y được vinh danh. Sau khi y qua đời, một đám đông lớn đã khiêng quan tài của y, phủ cờ Iran, xuống một trong những đại lộ chính của Tehran đến Nhà thờ Hồi giáo Balal, nơi Lãnh tụ tối cao Ayatollah Khamenei chủ trì lễ tang trước các sĩ quan mặc đồng phục. Bia mộ của y mang dòng chữ, “Nơi đây an nghỉ một người đàn ông muốn hủy diệt Israel.”

Nhiều năm sau khi y mất, em trai của Hassan Tehrani Moghaddam, Mohammad Tehrani Moghaddam, tuyên bố: “Đây không chỉ là một tai nạn đơn giản, mà là một hoạt động được lên kế hoạch cẩn thận. Mossad đã cố gắng ám sát anh trai tôi trong nhiều năm.” Sau đó, anh ta buộc phải rút lại tuyên bố của mình và chỉ huy lực lượng không gian vũ trụ IRGC, Amir Ali Hajizadeh, đã đưa ra lời phủ nhận có bất kỳ sự tham gia nào của Israel trong cái chết của Moghaddam.

Những “tai nạn” khác đã xảy ra với những nhân viên tham gia vào chương trình hạt nhân của Iran trong thời gian Pardo làm giám đốc Mossad, nhưng trong thế giới u ám của các cuộc xung đột ở Trung Đông, không phải lúc nào cũng dễ dàng để biết điều gì thực sự có thể là tai nạn và điều gì do các cơ quan tình báo nhúng tay vào. Điều chắc chắn là, xét đến hồ sơ dày cộm những kỳ tích của Mossad, dư luận nghĩ ngay đến Mossad bất cứ khi nào xảy ra một tổn hại với Iran hoặc những người ủng hộ nước này, mặc dù trong một số trường hợp, họ thực sự không liên quan.

Ví dụ, vào tháng 6 năm 2011, 5 chuyên gia hạt nhân người Nga nằm trong số 47 hành khách thiệt mạng khi một máy bay chở khách Tupolev-134 của RusAir đâm vào cây và rơi khi hạ cánh trong sương mù dày đặc tại Petrozavodsk ở phía tây bắc nước Nga. Một tuần sau vụ tai nạn, có báo cáo cho biết các chuyên gia Nga đã giúp thiết kế nhà máy điện hạt nhân Bushehr, nơi Iran đang phát triển các khía cạnh của chương trình hạt nhân quân sự của mình.

Mossad có phải là người chịu trách nhiệm không? Pardo đã phủ nhận một cách tuyệt đối việc họ có liên quan đến vụ tai nạn máy bay. “Mossad sẽ không bao giờ thực hiện một hành động như vậy,” ông nói, và điều này có vẻ gần như chắc chắn là đúng, nếu chỉ xét đến cái giá đắt mà Israel phải trả nếu trực tiếp tấn công một mục tiêu của Nga, đặc biệt là bên trong nước Nga.

Nhưng đôi khi sương mù gần như không thể xuyên thủng, một phần vì về mặt chính sách, Mossad giữ im lặng về các hoạt động của mình. Mossad đã làm như vậy dưới thời Dagan và tiếp tục làm như vậy dưới thời Pardo. Nhưng không có nghi ngờ gì rằng Mossad chịu trách nhiệm cho nhiều hoạt động nhằm vào chương trình vũ khí hạt nhân của Iran, ngay cả đôi khi các tuyên bố của các quan chức Israel là mô hình của sự mơ hồ hoặc thậm chí là tự mâu thuẫn. Sau khi nghỉ hưu, Pardo đã được hỏi về các vụ ám sát các nhà khoa học hạt nhân. Câu trả lời mơ hồ của ông: “Mossad không phải là một tổ chức chuyên giết người có mục tiêu. Đôi khi bạn phải làm điều đó.… Nhưng bạn không cần phải thừa nhận điều đó.” Đối với các hoạt động khác, ông nói: “Những gì mọi người tuyên bố Mossad đã làm trong thời kỳ đó thậm chí còn không bằng một phần nghìn những gì chúng tôi đã làm.”

___

Giữa tất cả những điều này, vào tháng 10 năm 2011, Netanyahu và Barak một lần nữa thúc đẩy IDF bắt đầu đếm ngược cho một cuộc tấn công. Nhưng như trước đây, viễn cảnh về hành động quân sự trực tiếp chống lại Iran đã gây ra sự bất đồng sâu sắc trong nội bộ Israel. Pardo, giống như Dagan trước ông, phản đối một cuộc tấn công, và ông cảm thấy rằng Netanyahu đang thực hiện các biện pháp tương đương với việc phát động một cuộc chiến tranh mà không có sự chấp thuận của nội các, theo yêu cầu của luật pháp Israel.

“Tôi đã kiểm tra với các cố vấn pháp lý, tôi đã tham khảo ý kiến ​​của mọi người mà tôi có thể để hiểu ai được phép ra lệnh bắt đầu một cuộc chiến tranh”, Pardo nói trong các cuộc phỏng vấn với chúng tôi và với Đài truyền hình Israel. “Tôi muốn chắc chắn rằng nếu, trời không thương, có điều gì đó không đúng xảy ra, ngay cả khi nhiệm vụ thất bại, thì sẽ không có tình huống nào mà hoạt động tôi thực hiện là bất hợp pháp”.

Pardo thậm chí còn cân nhắc xem có nên từ chức trong trường hợp có lệnh không kích lớn vào Iran hay không. Nhưng cuối cùng, Netanyahu và Barak, dưới áp lực từ những người khác trong cơ quan an ninh, đã đồng ý tổ chức một cuộc bỏ phiếu trong nội các. Pardo, cùng với tham mưu trưởng IDF khi đó là Benny Gantz và giám đốc Shin Bet Yoram Cohen, đều đã lên tiếng chống lại một cuộc tấn công. Có một sự khác biệt quan trọng so với năm 2010, khi Netanyahu và Barak lần đầu tiên thúc đẩy một cuộc tấn công trên không vào chương trình vũ khí hạt nhân của Iran. Không giống như trong cuộc tranh luận trước đó, tham mưu trưởng IDF chắc chắn rằng các phi công của ông hiện có khả năng phá hủy hoàn toàn các cơ sở của Iran cần thiết để sản xuất bom. Nhưng Gantz, Cohen và Pardo phản đối việc thực hiện bất kỳ hành động nào mà không có sự phối hợp với Hoa Kỳ. Về mặt lý thuyết, Barak không phản đối việc thông báo cho người Mỹ, nhưng ông muốn hành xử như một sự đã rồi, không cung cấp thông tin đủ sớm để cho phép họ gây sức ép buộc Israel hủy bỏ. Trong mọi trường hợp, cuộc bỏ phiếu đã chống lại Netanyahu và Barak, và không có cuộc tấn công nào của IDF.

Tuy nhiên, những khác biệt được thể hiện trong cuộc tranh luận đã làm xấu đi một số mối quan hệ ở cấp cao nhất của chính phủ Israel. Một điều nữa là Pardo không được Netanyahu ủng hộ, người mà theo một số báo cáo, đã yêu cầu Yoram Cohen của Shin Bet nghe lén cả điện thoại của Pardo và Gantz, được cho là để đảm bảo không ai tiết lộ bất kỳ thông tin nào từ hồ sơ Iran. Trong một cuộc trò chuyện với chúng tôi, Pardo không đưa ra bằng chứng rõ ràng nào cho thấy điện thoại của ông thực sự đã bị nghe lén, nhưng ông vẫn rõ ràng có ấn tượng rằng một loại điều tra nào đó về Mossad đã diễn ra. Netanyahu đã phủ nhận việc ra lệnh nghe lén và Yoram Cohen đã phủ nhận với chúng tôi rằng đã có bất kỳ cuộc điều tra nào nhắm vào Pardo hoặc Gantz.

Trong khi một cuộc tấn công quân sự đã bị loại trừ, các hành động bí mật vẫn tiếp tục

Vào ngày 11 tháng 1 năm 2012, một chuyên gia hóa học hạt nhân làm việc tại Natanz, Mostafa Ahmadi Roshan, đã thiệt mạng khi hai kẻ tấn công đi xe máy gắn một quả bom từ tính vào chiếc Peugeot 405 màu xám do Iran lắp ráp cho y, cùng một chiến thuật đã được sử dụng trong vụ ám sát Masoud Ali Mohammadi vào tháng 1 năm 2010. Vụ nổ xảy ra lúc 8:30 sáng trên phố Gol Nabi ở một khu phố bình thường yên tĩnh ở phía bắc Tehran, đã giết chết nhà khoa học 32 tuổi ngay tại chỗ cùng với tài xế của y. Một người khác trong xe bị thương. Lần này, Iran thừa nhận rằng một nhà khoa học đã bị giết, với Phó Tổng thống Mohammad Reza Rahimi tố cáo Israel đứng sau vụ ám sát. Một quan chức an ninh cấp cao, Safar Ali Baratloo, cũng chỉ tay vào Israel nói rằng, “quả bom từ tính là cùng loại với các quả bom đã được sử dụng để ám sát các nhà khoa học của chúng tôi.” Đây là vụ ám sát nhà khoa học hạt nhân thứ tư ở Iran trong hai năm và phương tiện truyền thông Iran đã công khai suy đoán rằng Israel đang nhận được sự giúp đỡ từ bên trong đất nước.

Lý thuyết đó được cựu giám đốc hoạt động chống khủng bố của CIA, Vince Cannistraro, ủng hộ, ông khẳng định rằng hành động động thực tế tại thực địa do nhóm Iran phản đối chế độ thực hiện, chứ không phải do người Israel trực tiếp thực hiện. “

MEK đang được sử dụng như một cánh tay sát thủ của cơ quan tình báo Mossad của Israel”, ông nói vào thời điểm đó. Cannistraro nói thêm rằng các điệp viên MEK chịu trách nhiệm thực hiện “các cuộc tấn công bằng xe máy vào các mục tiêu của Iran do Israel lựa chọn. Họ đến Israel để được đào tạo và Israel trả tiền cho họ”.

Năm 2022, Iran đã trưng bày chiếc xe của Ahmadi Roshan cùng với những chiếc xe bị phá hủy của ba “liệt sĩ hạt nhân” khác, bao gồm cả xe của Darioush Rezaeinejad, cái gọi là nghiên cứu sinh tiến sĩ bị ám sát một năm trước đó. Các tấm biển triển lãm tại Bảo tàng Quốc phòng Thiêng liêng ở Tehran nêu rõ rằng cả hai đều bị Mossad giết hại.

Chiến dịch chống lại chương trình hạt nhân của Iran đã dẫn đến những lời kêu gọi trả thù, và vào năm 2011 và 2012 có một số nỗ lực thất bại, được cho là của Cộng hòa Hồi giáo và lực lượng ủy nhiệm Liban Hezbollah của nó nhằm tấn công các nhà ngoại giao Israel trên toàn thế giới. Vào ngày 24 tháng 1, 2012, chẳng hạn, một tổ ba người do Iran điều hành, lên kế hoạch ám sát đại sứ Israel tại Azerbaijan đã bị tình báo Azeri vạch trần. Vào ngày 13 tháng 2, vợ của một nhà ngoại giao Israel ở New Delhi đã bị thương bởi một quả bom từ trường gắn vào xe bà ấy bởi một kẻ tấn công đi xe máy-giống hệt phương pháp được sử dụng trong các vụ ám sát các nhà khoa học hạt nhân Iran. Cuộc điều tra của cảnh sát Ấn Độ đã kết luận cuộc tấn công đã được lên kế hoạch bởi năm thành viên của IRGC. Trên cùng một ngày, một nhân viên Israel tại đại sứ quán ở Tbilisi, Georgia, đã tìm thấy một quả bom dưới xe của mình, quả bom đã được vô hiệu hóa trước khi phát nổ.

Ngày hôm sau, một quả bom phát nổ sớm tại một căn hộ ở thủ đô Bangkok Thái Lan, không xa đại sứ quán Israel. Ba người Iran đã bị kết tội lên kế hoạch cho vụ tấn công đó và bị tuyên án tù từ mười lăm năm đến chung thân. Cuối cùng, họ đã được thả trong một cuộc trao đổi tù nhân lấy một học giả người Anh-Úc, kết hôn với một người Israel, đã bị giam giữ trong hai năm tại nhà tù Evin khét tiếng ở Tehran. Sau đó, vào tháng 6 tại Mombasa, Kenya, cảnh sát đã bắt giữ hai công dân Iran sở hữu 15 kg RDX, một loại thuốc nổ cấp quân sự cực mạnh. Kenya cho biết cặp đôi này, là thành viên của Lực lượng Quds IRGC và đã lên kế hoạch tấn công các mục tiêu của Israel và phương Tây. Họ sau đó bị kết án tù chung thân.

Trong khi Iran không thành công trong các nỗ lực tấn công các các tiền đồn chính thức của Israel, vào ngày 18 tháng 7, một kẻ đánh bom liều chết của Hezbollah tìm cách giết năm du khách Israel và tài xế khi y tự cho nổ tung mình trong một xe buýt chở họ đến khách sạn ở khu nghỉ mát Burgas ở Biển Đen, Bulgaria. Israel ngay lập tức đổ lỗi vụ đánh bom cho Iran và tám năm sau đó một tòa án Bulgaria đã tuyên án vắng mặt hai công dân Lebanon liên kết với Hezbollah bị tù chung thân vì vai trò của họ trong vụ tấn công.

Bất chấp các vụ ám sát, tấn công mạng và các hoạt động bí mật khác, không thể bị phát hiện, chương trình vũ khí hạt nhân của Iran tiếp tục, đến mức Israel bắt đầu lo ngại rằng nó đang đạt đến một giai đoạn mới nguy hiểm. Barak tin rằng vào cuối năm 2012 hoặc khoảng đó, Iran sẽ bước vào “khu vực miễn dịch”, nghĩa là nó sẽ đạt đến khả năng làm giàu cấp độ vũ khí tại nhà máy Fordow, được chôn bên trong một ngọn núi. Fordow vẫn chưa hoạt động, nhưng nó đã gần hoàn thành. Một khi nó được đưa vào hoạt động và tất cả các yếu tố vật lý cần thiết đã được chuyển giao, Israel, vốn không có bom phá boongke của Hoa Kỳ, có thể không còn khả năng phá hủy nó nữa.

Nỗi lo lắng đó một lần nữa làm tăng thêm mong muốn tấn công Iran ở Israel. Nhưng không có thỏa thuận nào ở Israel về chính xác những gì cần làm, và chính quyền Obama, khi đó đã tham gia đàm phán dẫn đến các thỏa thuận hạt nhân năm 2015, kiên quyết phản đối các hoạt động tiếp theo. Trong hơn một lần, bộ trưởng quốc phòng của Obama là Leon Panetta, một người bạn lâu năm của Barak, người thường chia sẻ quan điểm chính trị của ông (cũng như sở thích chung là chơi piano cổ điển), đã gọi cho bộ trưởng quốc phòng Israel trình bày lý lẽ của người Mỹ. “Hãy xem này, Ehud,” Panetta nói trong một cuộc trò chuyện năm 2011, “vấn đề là nếu bạn tấn công họ bây giờ, bạn chỉ có thể làm chậm chương trình của họ lại vài năm. Nó sẽ quay trở lại. Cùng lắm bạn sẽ chỉ cho họ một con mắt thâm quầng. Còn chúng tôi có thể tung ra cú đấm hạ gục họ.”

Nhưng Israel vẫn kiên trì, hoặc ít nhất là có vẻ như vậy. Vào giữa tháng 1 năm 2012, họ đã yêu cầu hoãn một cuộc tập trận phòng thủ tên lửa lớn, Austere Challenge 12 (Thử thách Nghiệt ngã), dự kiến ​​diễn ra trên lãnh thổ Israel vào tháng 4 năm đó và có sự tham gia của Hoa Kỳ, Israel, Vương quốc Anh và Đức. Có nhiều đồn đoán rằng sự chậm trễ này nhằm mục đích cho phép Israel lập kế hoạch và thực hiện một cuộc tấn công, và đảm bảo rằng hàng trăm binh lính nước ngoài không có mặt trên đất Israel là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ hoạt động nào.

Một lần nữa, Panetta lại nói chuyện với Barak, lần này là để xem Israel đang có kế hoạch gì.

“Chúng tôi chưa đưa ra quyết định”, Barak nói với ông. “Nhưng tôi không thể giấu giếm sự thật với đồng minh tốt nhất của chúng tôi rằng chúng tôi đang thảo luận về vấn đề này”.

“Nếu bạn quyết định tấn công các cơ sở của Iran, khi nào chúng ta sẽ được cho biết?” Panetta hỏi.

Barak nói với ông rằng Israel sẽ không thể thông báo cho Hoa Kỳ trước hơn vài giờ. “Chúng tôi sẽ đảm bảo các anh có đủ thời gian để nói với người dân của mình. Chúng tôi sẽ không gây nguy hiểm cho bất kỳ sinh mạng nào của người Mỹ, bất kỳ nhân viên nào của anh”, ông nói.

Vào tháng 3, trong bài phát biểu trước Ủy ban Công vụ Israel-Mỹ (AIPAC), Netanyahu đã tạo ấn tượng rằng Israel có thể sớm hành động, dù có hay không có người Mỹ. “Israel đã kiên nhẫn chờ đợi cộng đồng quốc tế giải quyết vấn đề này”, ông nói. “Chúng tôi đã chờ đợi ngoại giao có hiệu quả. Chúng tôi đã chờ đợi các lệnh trừng phạt có hiệu quả. Không ai trong chúng tôi có thể chờ đợi lâu hơn nữa. Với tư cách là thủ tướng Israel, tôi sẽ không bao giờ để người dân của mình sống dưới bóng tối của sự hủy diệt.”

Netanyahu và Barak có thực sự lên kế hoạch tấn công Iran hay không, hay những lời cảnh báo của họ và việc hoãn lại Thử thách nghiệt ngã chỉ là một mưu mẹo để khiến người Mỹ tăng cường áp lực lên Iran? Dù thế nào đi nữa, tháng 4 đã trôi qua, các cuộc tập trận đã được tổ chức vào tháng 10, và bất chấp những lo ngại và dấu hiệu trong suốt mùa hè rằng Israel đang lên kế hoạch cho một điều gì đó, năm đã kết thúc mà Israel vẫn chưa thực hiện được những lời đe dọa của mình.

___

Trong thời gian đó, hành động chuyển sang đàm phán. Cộng hòa Hồi giáo hiện đang chịu áp lực kinh tế chưa từng có do lệnh trừng phạt. Iran đang gặp khó khăn trong việc có được bảo hiểm để vận chuyển dầu của mình và bị chặn khỏi một số tiếp cận hệ thống ngân hàng toàn cầu. Các hành động giấu giếm của Mossad và của các cơ quan tình báo phương Tây khác đã làm chậm tiến trình hạt nhân của nước này và nó lo ngại rằng Netanyahu sắp ra lệnh tấn công trên không công khai. Vì vậy, nước này đã sẵn sàng cho một hình thức thỏa thuận nào đó, ít nhất là để tập hợp lại và có thể thở phào nhẹ nhõm sau những tổn hại mà lệnh trừng phạt nền kinh tế và chiến dịch ám sát của Mossad gây ra.

Quay trở lại năm 2011, Khamenei đã đồng ý đàm phán về vấn đề hạt nhân với Hoa Kỳ, sau khi Quốc vương Qaboos của Oman đề nghị làm trung gian giữa các bên. Oman cũng có mối quan hệ bí mật với Israel và theo truyền thống, họ muốn chơi với tất cả các bên trong trò chơi. Phải mất gần một năm trước khi các cuộc đàm phán đầu tiên được tổ chức, nhưng bắt đầu từ tháng 7 năm 2012, Iran và Hoa Kỳ đã tổ chức một loạt các cuộc họp tại Oman. Có một vòng đàm phán bí mật khác tại Oman vào tháng 3 năm 2013 (Israel biết về chúng thông qua các nguồn tin của riêng mình), nhưng chỉ sau tháng 6 năm đó, khi ngài Hassan Rouhani “ôn hòa” được bầu làm tổng thống Iran, thì các bên mới bắt đầu đạt được tiến triển.

Các cuộc đàm phán sau đó đã diễn ra công khai và đến tháng 8 năm 2013, một thỏa thuận hạt nhân tạm thời giữa Tehran và P5+1 – năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cộng với Đức – đã được ký kết. Phải mất thêm hai năm nữa để tất cả các trở ngại được xóa bỏ và thỏa thuận hạt nhân đầy đủ được gọi là Kế hoạch Hành động Toàn diện Chung (JCPOA) được ký kết, và trong suốt thời gian đó, Mossad đã gác lại những hành động hung hăng hơn của mình.

Tất nhiên, các cuộc đàm phán rất được Israel quan tâm và chiếm phần lớn thời gian của Pardo với tư cách là người đứng đầu Mossad. Theo một số báo cáo, Israel được cho là đã do thám các cuộc đàm phán ở Vienna trong khoảng thời gian mười tám tháng – rõ ràng là sử dụng sâu Duqu, một biến thể của virus Stuxnet đã được sử dụng trước đó để phá hủy các máy ly tâm của Iran – và thậm chí còn chuyển thông tin cho các nhà lập pháp Hoa Kỳ để cố gắng khiến họ chống lại thỏa thuận.

Các thỏa thuận tạm thời khiến cả chính phủ Netanyahu và các quốc gia vùng Vịnh lo ngại hơn về sức mạnh và ảnh hưởng của Iran, các quốc gia vùng Vịnh trở nên cởi mở hơn trong các mối quan hệ với Israel. Pardo đã tận dụng tối đa lợi thế này. Sau khi thỏa thuận tạm thời được ký kết, ông đã gặp, bí mật như thường lệ, với Bandar Bin Sultan, cựu đại sứ Ả Rập Xê-ut tại Washington và hiện là người đứng đầu Cơ quan Tình báo Ả Rập Xê-ut, trong một cuộc gặp mà một nhà ngoại giao Anh mô tả là “bữa tối dài và say sưa” tại một khách sạn hào nhoáng ở khu Knightsbridge sang trọng của London. Họ sẽ gặp lại nhau vào cuối tháng 11 tại Geneva, nơi mà theo các nguồn tin của Iran, họ sẽ thảo luận về “việc kiềm chế Iran bằng mọi cách có thể”. Một cuộc họp thứ ba sẽ diễn ra vào đầu năm sau, lần này là tại thủ đô Riyadh của Ả Rập Xê-ut.

Bandar là kiến ​​trúc sư của mối quan hệ tình báo Ả Rập Xê-ut với Israel kể từ thời các cựu giám đốc Mossad Shabtai Shavit và Efraim Halevy. Ông đã gặp Dagan và David Meidan nhiều lần ở nhiều quốc gia khác nhau trên khắp châu Âu với người Mỹ làm trung gian. Khi chiến tranh nổ ra vào năm 2014 giữa Israel và Hamas ở Gaza, Bandar được cho là đã khởi xướng một cuộc họp với các giám đốc an ninh Israel tại cung điện của ông ở Jeddah, nơi người Ả Rập Xê-ut đề xuất một lộ trình hòa bình với người Palestine. Netanyahu, theo các báo cáo trên báo chí, đã gặp Bandar hai lần ở châu Âu để thảo luận về kế hoạch của Ả Rập Xê-ut, nhưng cuối cùng, ông quyết định không theo đuổi nó, làm nguội lạnh mối quan hệ với người Ả Rập Xê-ut trong một thời gian. Nhưng dưới thời Pardo và nhân vật kế nhiệm Meidan làm người đứng đầu Tevel, Haim Tomer, Mossad tiếp tục cố gắng thúc đẩy quan hệ với các quốc gia vùng Vịnh, những nước này cũng cảm thấy giống như người Ả Rập Xê-ut, rằng Israel đang cản trở mọi việc bằng cách không đạt được tiến triển trên mặt trận Palestine.

“Có một nguyên thủ quốc gia [Hồi giáo] mà tôi đã nói chuyện khi tôi vẫn còn tại chức,” Pardo kể với chúng tôi sau khi ông nghỉ hưu. “Ông ấy nói với tôi, ‘Chúng tôi, những người Hồi giáo, luôn có một giấc mơ rằng một sáng nào đó  thức dậy, chúng tôi sẽ không thấy giữa Địa Trung Hải và Thung lũng Jordan một người Do Thái nào cả.’ Tôi nhìn ông sửng sờ, và ông ấy nói tiếp, ‘Những người Do Thái cũng có cùng một giấc mơ, nhưng ngược lại. Bạn mơ rằng một ngày nào đó khi thức dậy và bạn sẽ không còn thấy có người Palestine và người Hồi giáo nào giữa Địa Trung Hải và Thung lũng Jordan. Chúng tôi thức dậy và hiểu rằng đó chỉ là một giấc mơ và sẽ mãi chỉ là một giấc mơ. Còn các anh người Do Thái vẫn tin rằng điều đó có thể xảy ra.”

Nhưng sự chú ý của Netanyahu không phải là người Palestine hay vùng Vịnh; giờ đây ông tập trung vào việc phá hoại thỏa thuận hạt nhân sắp xảy ra. Vào tháng 3 năm 2015, theo lời mời của Chủ tịch Hạ viện John Boehner và Lãnh đạo phe đa số Thượng viện Mitch McConnell, Netanyahu đã có bài phát biểu nổi tiếng, hoặc có lẽ là tai tiếng, trước Quốc hội, gọi thỏa thuận sắp xảy ra là một “thỏa thuận rất tệ” khiến phần lớn cơ sở hạ tầng hạt nhân của Iran vẫn còn nguyên và cuối cùng sẽ không ngăn được nước này có được bom. Bài phát biểu được đảng Dân chủ coi là vi phạm giao thức một cách trắng trợn, không chỉ làm suy yếu chính sách đối ngoại của Tổng thống Obama, mà còn tấn công vào sự ủng hộ trong nước vào ông tại Hoa Kỳ. Một số đảng viên Dân chủ hàng đầu, bao gồm cả phó tổng thống khi đó là Joe Biden, đã không tham dự để phản đối và cho đến ngày nay, nhiều người vẫn coi bài phát biểu này là đã làm rạn nứt sự ủng hộ của đảng Dân chủ dành cho Israel.

Nhưng trong khi Netanyahu đang nổi giận chống lại các thỏa thuận, Pardo lại giữ quan điểm khác. Ông không hoàn toàn ủng hộ thỏa thuận. Ông cảm thấy nó có những sai sót nghiêm trọng. Nhưng ông phản đối lời lẽ khải huyền của Netanyahu và tin rằng Israel nên hợp tác với chính quyền Hoa Kỳ để sửa chữa những sai sót.

“Liệu Iran có gây ra mối đe dọa cho Israel không?” ông đã nói với một nhóm đại sứ Israel vào đầu nhiệm kỳ của mình. “Hoàn toàn có thể. Nhưng nếu ai đó nói rằng một quả bom hạt nhân trong tay người Iran là một mối đe dọa tồn vong, điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ phải đóng cửa tiệm và về nhà. Tình hình không phải như vậy. Thuật ngữ mối đe dọa tồn vong được sử dụng quá tùy tiện.” Trong một dịp khác, khi các cuộc đàm phán về thỏa thuận cuối cùng đang diễn ra sôi nổi, ông đã nói với một nhóm thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đang đến thăm rằng “Thêm các lệnh trừng phạt trong các cuộc đàm phán cũng giống như ném một quả lựu đạn vào phòng.” Mười ngày sau khi nghỉ hưu, ông đã nói với một cơ sở xuất bản quốc phòng Israel rằng “không có mối đe dọa tồn vong nào đối với Israel ngày nay.” Trong một cuộc phỏng vấn với chúng tôi, ông nói rằng Iran là một mối đe dọa nghiêm trọng, nhưng việc gọi đó là mối đe dọa tồn vong là một “sự cường điệu đáng kể.”

Nghịch lý thay, ngay lúc Netanyahu đang cố gắng phá hoại JCPOA, Khamenei dường như mặc tình để mình bị lôi kéo vào việc chấp thuận nó. Khamenei cũng có những con quỷ của riêng mình để chiến đấu. Quay trở lại tháng 6 năm 1981, ông đã bị đánh gục bởi một vụ nổ được đặt trong máy ghi âm nhằm ám sát ông khi ông đang có bài phát biểu tại Nhà thờ Hồi giáo Abuzar ở Iran. Ông đã sống sót, mặc dù cuộc tấn công đã làm hỏng vĩnh viễn cánh tay phải của ông và gây ra một số tổn thương cho dây thanh quản và phổi của ông. Khi nằm trên sàn nhà tự hỏi liệu mình còn sống hay đã chết, Khamenei hẳn cũng đã rất ngạc nhiên tại sao mình lại gặp nguy hiểm như vậy. Nhiều năm trước, trong chế độ của Shah, ông đã sống sót sau sáu vòng bắt giữ và tra tấn. Những kẻ tra tấn ông, ông tin chắc, đã được CIA và Cơ quan tình báo Mossad huấn luyện.

Lần này, vào năm 1981, những kẻ ám sát ông là các nhóm đối lập Iran như MEK và Forqan Group, một phe phái tôn giáo cuồng tín phản đối chế độ thần quyền. Trong mắt Khamenei, những nhóm này lại có được phương tiện để chống lại sự cai trị của ông từ Đại Satan của nước Mỹ. Tuy nhiên, bất ngờ, khi ngày ký kết JCРОА là ngày 14 tháng 7 năm 2015 đến gần, Lãnh tụ tối cao của Iran thấy mình miễn cưỡng đồng ý ký một thỏa thuận với một nước Mỹ đáng ghét.

Trong thời gian các cuộc đàm phán căng thẳng diễn ra, Khamenei tin rằng các hoạt động của Mossad sẽ chậm lại, đó là một trong những lý do khiến ông tiến hành các cuộc đàm phán vào năm 2013 và năm 2015, mặc dù ông có nhiều sự dè dặt. Mossad có thực sự ngừng các hoạt động chống Iran trong giai đoạn đó không, sau khi một thỏa thuận tạm thời được ký kết, nhưng trước khi phiên bản cuối cùng được hoàn thiện? Không có báo cáo nào trong thời gian đó về bất kỳ hành động động lực nào, hoặc vụ nổ nào, nhắm vào chương trình hạt nhân của Iran, khiến một số người tin rằng Mossad thực sự không thực hiện bất kỳ nỗ lực phá hoại nào. Không đúng, theo Pardo, người đã nói với chúng tôi một cách rõ ràng rằng các hoạt động vẫn tiếp tục trong suốt giai đoạn tạm thời mà không cung cấp thông tin chi tiết.

Làm sao điều đó có thể xảy ra? Câu trả lời cho câu hỏi đó có lẽ là các hoạt động của Israel đơn giản là không bao giờ được tiết lộ. Israel giữ im lặng, như nó đã quen trước đó, và Iran cũng hạ thấp tầm quan trọng của chúng. Với các cuộc đàm phán đang diễn ra, Cộng hòa Hồi giáo không có hứng thú nói với thế giới về các hoạt động của Israel chống lại họ.

Tuy nhiên, sau khi JCPOA được ký kết, các nỗ lực của Mossad tập trung vào việc thu thập thông tin tình báo và theo dõi việc Iran tuân thủ các điều khoản của thỏa thuận. Trong số các điều khoản đó, Iran được yêu cầu phải từ bỏ khoảng 10 vũ khí hạt nhân uranium đã làm giàu, giảm nguồn cung cấp xuống còn 300 kg, hoặc khoảng một phần ba lượng cần thiết cho một quả bom hạt nhân. Ngay cả một phần ba đó cũng chỉ có thể được làm giàu 3,67 phần trăm, trái ngược với mức làm giàu 20 phần trăm mà nước này đã đạt được thông qua khoản đầu tư  thời gian và nguồn lực đáng kể của mình. Iran cũng phải lưu kho khoảng 75 phần trăm trong số khoảng 20.000 máy ly tâm, do đó chỉ có khoảng 5.000 máy có thể hoạt động tại bất kỳ thời điểm nào.

Israel không thích JCPOA vì nhiều lý do, lý do chính là nó sẽ hết hạn vào năm 2030, chỉ 15 năm sau khi nó được ký kết, sau đó không có giới hạn nào về lượng nhiên liệu hạt nhân mà Iran có thể sản xuất. Thỏa thuận cũng không nói gì về việc Iran phát triển tên lửa hoặc hỗ trợ các nhóm khủng bố trên biên giới của Israel. Nhưng thỏa thuận bây giờ đã là một sự thật, được các nước lớn trên thế giới ủng hộ và Israel không thể làm gì về điều đó. Điều nó có thể làm, hành động thông qua Mossad, là theo dõi chặt chẽ sự tuân thủ của Iran và sẵn sàng thông báo cho thế giới nếu và khi Tehran vi phạm các cam kết của mình, điều mà chắc chắn là sớm hay muộn thì Tehran cũng sẽ làm.

Chương 5

MẬT DANH CALLAN

VÀO THÁNG 1 NĂM 2016, SAU BA NĂM làm cố vấn an ninh quốc gia của Thủ tướng Benjamin Netanyahu, Yossi Cohen, được bổ nhiệm làm giám đốc Mossad. Ngay lập tức, việc thăng chức của ông đã vấy lên một màn mây tranh cãi.

Đã có sự cạnh tranh gay gắt cho chức vụ này, một trong những chức vụ quan trọng nhất ở Israel. Giám đốc sắp mãn nhiệm, Tamir Pardo, đã muốn “N”, phó giám đốc của cơ quan, trở thành người kế nhiệm mình, và tin rằng mình đã thuyết phục được Netanyahu rằng “N” là người phù hợp cho công việc này. (Danh tính của “N”, giống như hầu hết các cựu điệp viên Mossad, vẫn được giữ bí mật. Bất kỳ điệp viên Mossad nào được nêu tên trong cuốn sách này đều nhận được sự cho phép đặc biệt để “tự lộ mặt” sau khi họ nghỉ hưu.) Hai ứng cử viên khác trong danh sách rút gọn là Cohen và Ram Ben Barak, cựu phó giám đốc cơ quan dưới thời Pardo. N và Ben Barak là những ứng cử viên được yêu thích khi cuộc đua diễn ra, nhưng Cohen, cũng là cựu phó giám đốc cơ quan, cảm thấy mối quan hệ chặt chẽ của ông với Netanyahu sẽ có lợi cho mình, và ông đã đúng.

Tuy nhiên, trong khi Netanyahu đang cân nhắc lựa chọn, Cohen đã khám phá một giải pháp thay thế khả thi phản ánh khuynh hướng của ông trong việc tham gia vào các hiệp hội mà một số người ở Israel thấy đáng ngờ về mặt đạo đức, đặc biệt là đối với một giám đốc của Mossad. Trong thời gian này, Cohen, dường như không chắc chắn liệu sự nghiệp tình báo của mình sẽ tiếp tục hay sắp kết thúc, đã khám phá một lựa chọn trong khu vực tư nhân có thể giúp ông trở thành một người giàu có. Cụ thể, ông đã vui lòng xem xét một lời đề nghị trị giá 10 triệu đô la từ hai bạn tâm giao của Netanyahu – James Packer,  tỷ phú sòng bạc người Úc và đặc vụ Israel chuyển sang làm nhà sản xuất Hollywood và ông trùm kinh doanh Arnon Milchan – để đứng đầu một công ty an ninh mạng. Cả hai người đều đã và đang được mong đợi sẽ làm chứng trong một vụ án tham nhũng do các công tố viên Israel đưa ra chống lại Netanyahu. Cohen đã nói rằng mình đã gặp Milchan một cách độc lập với Netanyahu như một phần của hoạt động Mossad trước đó do Dagan chỉ thị.

Trong một trường hợp, Packer đã tặng cho con gái của Cohen một món quà cưới trị giá 20.000 đô la, chắc chắn có vẻ như là một sự mua chuộc có thể gây ảnh hưởng. Trong một lần khác, Cohen đã nhận một món quà là vé xem buổi hòa nhạc của Mariah Carey. Sau đó, Cohen đã trả lại món quà trị giá 20.000 đô la và thừa nhận rằng việc kết giao chặt chẽ với những cá nhân giàu có như Milchan và Packer là một sai lầm trong phán đoán, nhưng một cuộc điều tra sơ bộ của cơ quan thực thi pháp luật đã đóng lại sau khi không tìm thấy cơ sở nào để nghi ngờ Cohen là nghi phạm, cũng như không có bất kỳ mối liên hệ đáng tin cậy nào được thiết lập giữa ông và những cáo buộc chống lại Netanyahu. Cũng quan trọng không kém, nếu Cohen quyết định theo đuổi sự nghiệp chính trị trong tương lai, một vấn đề đang được đồn đoán ở Israel, thì không có điều gì trong số này có vẻ ảnh hưởng đến sự nổi tiếng của ông trong phe cánh hữu, lập trường chính trị tự nhiên của ông.

Có những cáo buộc khác chống lại Cohen khi ông bắt đầu nhậm chức. Ngay lập tức, các báo cáo đáng lo ngại nổi lên cho rằng ông đã giành chiến thắng trong cuộc thi trước N và Ben Barak vì ông đã sẵn sàng cam kết trung thành với Netanyahu, trong khi hai ứng cử viên khác “chỉ” sẵn sàng cam kết trung thành với đất nước. Cohen cũng được cho là đã quyến rũ vợ của Netanyahu, Sara, vốn được tin rằng có nhiều ảnh hưởng đến thủ tướng. Cohen phủ nhận tất cả những cáo buộc này và lưu ý rằng cả N và Ben Barak đều không công khai đưa ra bằng chứng để chứng minh cho chúng. Hơn nữa, có những lý do khiến Netanyahu chọn Cohen thay vì các ứng cử viên khác. Hai người đã làm việc chặt chẽ với nhau trong ba năm và đã phát triển mối quan hệ bền chặt. Netanyahu biết chính xác lập trường của Cohen về vấn đề Iran và mọi vấn đề an ninh quốc gia quan trọng khác, và ông biết rằng họ suy nghĩ giống nhau nhiều hơn so với ông và các thủ lĩnh Mossad trước đây của mình. Theo nghĩa đó, Cohen là một sự lựa chọn tự nhiên, và không cần phải yêu cầu ông cam kết lòng trung thành của mình.

Tuy nhiên, Cohen vẫn là một con người bất thường so với giám đốc Mossad trước đây. Trước hết, ông là giám đốc đầu tiên của cơ quan, gồm hầu như hoàn toàn là người Do Thái thế tục, lại xuất thân từ một nền nếp tôn giáo.

Sinh ra tại Jerusalem vào ngày 10 tháng 9, 1961, trong một gia đình rất sùng đạo, Cohen đã tuân thủ ngày Sa-bát và giữ gìn nghiêm ngặt thực phẩm kosher (chế độ dinh dưỡng Do thái). Khi còn trẻ, cậu gia nhập phong trào thanh niên  phục quốc Do Thái mang tính tôn giáo và theo học một trường tôn giáo ở Bờ Tây đang có tranh chấp.

Anh lần đầu tiên được tuyển dụng vào Mossad 34 năm trước khi trở thành thủ lĩnh của cơ quan khi anh là một sinh viên đại học ở Anh, và là người duy nhất trong lớp của mình đội mũ yarmulke [loại mũ truyền thống nhỏ xíu như gáo dừa: ND]. Anh cũng đội mũ ấy khi dự khóa học Mossad về thu thập thông tin tình báo, khiến anh bị gán biệt danh có phần xúc phạm “Yossi Dossi”- Dossi có nghĩa là một người sùng đạo cổ hủ. Trở thành một điệp viên Mossad gần như có nghĩa đối với Cohen là anh sẽ phải cởi bỏ mũ yarmulke, đôi khi bỏ qua ngày Sa-bát và dùng thức ăn không phải là thực phẩm kosher. Ông vẫn giữ truyền thống tôn giáo trong suốt cuộc đời mình, nhưng theo thời gian, ông không còn quá cầu kỳ về các chi tiết nghi lễ, đến mức người ta nói rằng ông đã rời Israel để thực hiện nhiệm vụ đầu tiên ở nước ngoài với chiếc mũ yarmulke và trở về mà không đội nữa. Cho đến ngày nay, ông vẫn không thoải mái khi trực tiếp thảo luận về niềm tin tôn giáo của mình. Nhưng nền tảng tôn giáo của Cohen rõ ràng đã đóng một vai trò quan trọng trong tư duy, triết lý và khuynh hướng mà ông mang theo khi nhậm chức.

Khu phố Katamon-Rehavia nơi Cohen trải qua thời thơ ấu vào những năm 1960 và 1970 là trung tâm của cuộc giao tranh ác liệt trong Chiến tranh Giành Độc lập 1947-1949, khiến phần lớn dân số phải rời đi. Vào thời điểm Cohen lớn lên ở đó, những người Do Thái tái định cư ở khu vực này chủ yếu là những người tị nạn từ cuộc diệt chủng Holocaust hoặc những người Do Thái đã bị trục xuất khỏi các nước Ả Rập ở Trung Đông và Bắc Phi. Phần lớn người Palestine-Thiên chúa giáo trước đây không được phép tái định cư ở đó. Gia đình Cohen và nhiều người mà ông kết giao trong thời thơ ấu là những người theo cánh hữu truyền thống.

Rất nhiều người trong khu phố của Cohen đã sống sót sau sự tàn phá của cuộc diệt chủng Holocaust hoặc sự trục xuất bài Do Thái đã thấm nhuần vào họ một cảm nhận sâu sắc về tính bấp bênh lịch sử của số phận Do Thái. Tất cả những điều này giải thích rất nhiều về sự khác biệt của Cohen với người tiền nhiệm Pardo và các cựu giám đốc Mossad khác, vượt ra ngoài những khác biệt có tính phân tích tích đơn thuần. Sự khác biệt này cũng liên quan đến cảm nhận sâu sắc của Cohen về việc Israel làm chủ số phận mình, và đôi khi sẵn sàng phó mặc những rủi ro, bao gồm cả việc xa lánh Hoa Kỳ.

Không hẳn là Pardo không phải là người diều hâu đối với an ninh quốc gia. Ông đã ra lệnh thực hiện nhiều vụ ám sát và các hoạt động nguy hiểm. Ông cũng hết mình vì sự sống còn của Israel như Cohen hay bất kỳ ai khác. Nhưng Pardo đã phân ngăn rạch ròi những trải nghiệm kinh hoàng của Holocaust và nạn trục xuất, và về mặt phân tích, ông có sự nhún nhường sâu sắc đối với những kẻ thù như Iran và những người bạn như Hoa Kỳ. Ngược lại, Cohen có lòng nhiệt thành phản ánh lòng nhiệt thành của gia đình và những hàng xóm thời thơ ấu của ông, vì vậy khi nói đến Iran và Hoa Kỳ, ông tự nhiên hung hăng hơn đối với Iran và thách thức hơn, khi cần thiết, đối với Hoa Kỳ. Quan trọng nhất là ý tưởng đổi đất lấy hòa bình, được Washington ủng hộ và là yếu tố quyết định đối với người Israel khi lựa chọn một đảng chính trị. Ngôi nhà của Cohen là Đảng Likud, đảng này nói chung là không khoan nhượng về vấn đề đó. Người phương Tây nói một cách vô tư về việc Israel rút khỏi Bờ Tây, nhưng trường trung học tôn giáo,  “Yeshiva”, mà Cohen theo học đã quyết tâm định cư ở Bờ Tây. “Yeshiva này đã tạo ra một dòng dõi theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái cực kỳ mạnh mẽ”, ông nói trong bài phát biểu tại trường vào tháng 12 năm 2014. Ông đặc biệt trích dẫn một nhân vật theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái cực đoan như vậy, Rabbi Haim Drukman, đã đưa nhiều người đến với chủ nghĩa phục quốc Do Thái theo hướng cực hữu hơn. Ông biết Drukman từ Yeshiva này, tên đầy đủ là Yeshiva Ohr Etzion, vào những năm 1970, là người đã giảng về ba giá trị. Cohen đã tóm tắt chúng như sau: “Kinh Torah của Israel, nhân dân Israel và đất nước Israel – và đôi khi thứ tự bị đảo lộn. Về tầm quan trọng của ba chân này, chúng tôi được nuôi dưỡng giống hệt như bạn”.

Việc Cohen mong muốn  “đảo lộn thứ tự” của ba nguyên tắc, nhằm đặt lòng trung thành với đất nước Israel thậm chí còn hơn cả kinh Torah, niềm tin tôn giáo của người Do Thái, là điều quan trọng để hiểu được ông. Loại bỏ các chiều kích tôn giáo và cảm xúc và lòng nhiệt thành  ông thấm nhuần khi còn nhỏ, và bạn có thể chỉ còn lại một người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái cánh tả của Đảng Lao động hoặc một người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái trung tả, ủng hộ chính sách đổi đất lấy hòa bình chứ không phải là một nhân vật cánh hữu thẳng thừng, cực kỳ kiên quyết, trở thành người đứng đầu Mossad.

Một tác động của nền tảng tôn giáo của riêng Cohen là động thái bất thường trong việc tuyển mộ những người Israel cực đoan, đặc biệt là những người cực đoan tài năng trong độ tuổi từ 24 đến 34, vào các đơn vị phân tích và an ninh mạng của cơ quan an ninh. Điều này bao gồm cả Mossad cũng như các đơn vị tình báo và mạng trong Shin Bet và cảnh sát, tất cả các cơ quan trước đây đều kiên quyết tránh tuyển dụng những người cực đoan.

Những điểm khác khiến Cohen nổi bật. Trong khi các giám đốc Mossad trước đây ưa thích cuộc sống trong bóng tối và ăn mặc như các quan chức buồn tẻ, sự cầu kỳ của Cohen về ngoại hình đã làm mình khác biệt. Ông luôn chải chuốt hoàn hảo, thể hiện sự ưa thích của mình đối với các bộ đồ đắt tiền. Một bộ sưu tập kem chống nếp nhăn nằm trên bàn làm việc của ông. Và ông cũng yêu thích phương tiện truyền thông, gần như theo định nghĩa, khiến ông khác biệt với những người tiền nhiệm của mình.

Mật danh Mossad của ông – do ông tự chọn – là “Callan”, theo tên vai chính trong bộ phim truyền hình Anh những năm 1960 về một sát thủ chuyên nghiệp.

Bỏ qua những câu hỏi về hoàn cảnh bổ nhiệm và lý lịch của ông, Cohen được coi là một sĩ quan tình báo lỗi lạc, thậm chí là huyền thoại. Ông đã giành được Giải thưởng An ninh Israel cùng với người kế nhiệm David Barnea vì công trình của họ trong một hoạt động của Mossad vẫn còn bị phân loại. Một nguồn tin đã làm việc nhiều với Cohen gọi ông là “một trong những sĩ quan tình báo lỗi lạc nhất mà Mossad từng biết”, nói thêm rằng ông có thể đến “bất cứ đâu, bất kể môi trường thù địch nào”. Một nguồn tin khác cũng thăng tiến vượt cấp trong cơ quan cùng thời điểm với Cohen mô tả “trí nhớ phi thường” của ông, nỗi ám ảnh đạt được sự hoàn hảo, và khả năng lập kế hoạch 360 độ của ông. Tài năng của ông cũng đã được các cựu giám đốc Mossad là Shabtai Shavit và Danny Yatom xác nhận với chúng tôi.

Giám đốc Mossad Yossi Cohen

Giống như các giám đốc Mossad trước đây kể từ đầu thiên niên kỷ, Iran là ưu tiên của Cohen. Với vị trí của mình đồng bộ với Netanyahu, ông đã xoay xở để có được khoản tài trợ tăng lên cho Mossad vào thời điểm mà các quỹ dành cho IDF và các dịch vụ an ninh khác đang bị cắt giảm. Khoản tiền này được dành cho việc mua lại và phát triển công nghệ, chủ yếu là cho cái mà Mossad gọi là “dự án”, cuộc chiến chống lại chương trình hạt nhân Iran.

Một báo cáo của chính phủ, mà hầu như mọi cơ quan truyền thông đều bỏ qua, chứa đựng nhiều chi tiết về cách Cohen thực hiện điều này.

Nội dung bao gồm những cuộc trao đổi giữa ông với các thành viên khác trong ban chỉ huy cấp cao của Mossad về cách giành được nguồn tài trợ cho riêng mình ngay cả khi IDF đang bị Bộ Tài chính Israel gây sức ép.

Báo cáo này tiết lộ cực kỳ chi tiết về các thủ tục nội bộ thường được phân loại mật của Mossad, bao gồm các cuộc tranh luận về cách chi tiêu ngân sách của Mossad để thúc đẩy hai mục tiêu chính: chống lại cuộc chiến tranh Iran và bình thường hóa quan hệ với các nước Ả Rập Sunni.

Mossad của Cohen đã bắt đầu một cuộc tìm kiếm không ngừng nghỉ các công nghệ để giúp Mossad giành lợi thế trong cuộc cạnh tranh với Iran – và chống lại một loạt các mối đe dọa khác mà Israel phải đối mặt. Để thúc đẩy mục tiêu đó, ông đã thành lập một quỹ đầu tư mạo hiểm, Libertad, để khai thác hệ sinh thái công nghệ của Israel, được biết đến với tên gọi “Quốc gia khởi nghiệp” vì một lý do. “Chúng tôi đang tìm kiếm các công ty đang kinh doanh trong các lĩnh vực mà chúng tôi quan tâm, đang ở giai đoạn đầu, có ý tưởng tốt và đội ngũ nhân viên tốt”, một đặc vụ Mossad chỉ được xác định là Aleph cho biết trong một cuộc điện thoại hội nghị với các nhà báo Israel. “Chúng tôi muốn có mối quan hệ với họ và đầu tư vào ý tưởng của họ, để họ có thể thực hiện ước mơ của mình và chúng tôi có thể có được công nghệ mà chúng tôi có thể sử dụng”. Trong số các lĩnh vực mà Mossad đầu tư vào có robot, công nghệ nano, phân tích giọng nói, lập hồ sơ tính cách, khai thác dữ liệu, mã hóa tốc độ cao, robot và máy bay không người lái, tất cả đều đã được Mossad bổ sung vào bộ công cụ ấn tượng của mình.

Ngoài việc trang bị vũ khí chống lại mối đe dọa từ Iran, Cohen còn coi việc xây dựng một nền tảng chung với Ả Rập Xê Út là ưu tiên hàng đầu và thực sự, việc làm đó là một thành phần thiết yếu trong kế hoạch dài hạn dẫn đến Hiệp định Abraham vào năm 2020. Vào một ngày không được tiết lộ trong năm 2016, một phái đoàn cấp cao của Israel đã có chuyến thăm bí mật tới Ả Rập Xê Út, dẫn đến một thỏa thuận cụ thể, một trong những dấu hiệu hợp tác lớn đầu tiên giữa Israel và vương quốc này. Cụ thể, Israel đã đồng ý chuyển giao hai hòn đảo ở Vịnh Aqaba, Tiran và Sanafir, từ Ai Cập sang Ả Rập Xê Út. Vương quốc này muốn các hòn đảo – trớ trêu thay, chính là nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh Sáu Ngày khi Ai Cập chặn Eo biển Tiran đối với tàu thuyền của Israel – để xây dựng một cây cầu trị giá 4 tỷ đô la nối bờ biển Ả Rập Xê-ut với Bán đảo Sinai. Cây cầu là một phần của kế hoạch được gọi là Tầm nhìn 2030 do Hoàng tử Mohammed Bin Salman, thường được gọi là MBS, xây dựng để hiện đại hóa nền kinh tế của đất nước. Một chuyên gia Ả Rập Ả Rập Xê-ut sau đó đã ca ngợi MBS là một “nhân vật thực dụng và tiến bộ”, nói thêm rằng “mọi chỉ dấu đều cho thấy ông ấy đã chuẩn bị và sẵn sàng phát triển mối quan hệ thực sự, lâu dài với Israel”.

___

Tất cả những điều này đều quan trọng đối với mối quan hệ đang phát triển của Israel, mặc dù vẫn còn không chính thức, với các quốc gia Ả Rập dòng Sunni. Nhưng có lẽ sự kiện quan trọng nhất đối với Cohen vào đầu nhiệm kỳ Mossad của mình là một vấn đề mà Israel không thể kiểm soát và không có kỳ vọng gì. Đây là cuộc tranh cử năm 2016 của Donald Trump, một tổng thống Mỹ có cách nhìn nhận thế giới rất khác, bao gồm cả Trung Đông, và cách thực hiện ngoại giao rất khác so với những người tiền nhiệm của ông. Thủ tướng Netanyahu và nhóm cố vấn thân cận của ông, trong đó có Cohen và đại sứ Israel tại Hoa Kỳ, Ron Dermer, đã ngửi thấy cơ hội để thay đổi chính sách của Hoa Kỳ về vấn đề Palestine và vấn đề hòa bình rộng hơn giữa Israel và các quốc gia dòng Sunni ôn hòa.

Dưới thời chính quyền Obama, câu thần chú – giống như hầu hết các vị tổng thống trước đây – là: “Giải quyết vấn đề xung đột Israel-Palestine và bạn có thể giải quyết các vấn đề còn lại ở Trung Đông.” Tướng Thủy quân Lục chiến bốn sao đã nghỉ hưu Jim Jones, cố vấn an ninh quốc gia đầu tiên của Obama, đã nói theo cách này: “Tôi tin rằng nếu Chúa xuất hiện trước Tổng thống Obama vào năm 2009 và nói rằng nếu Người có thể làm một điều trên hành tinh này, và chỉ một điều duy nhất, để biến thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn và mang lại cho mọi người nhiều hy vọng và cơ hội hơn cho tương lai, tôi sẽ mạo muội cho rằng điều đó sẽ liên quan đến việc tìm ra giải pháp hai nhà nước cho Trung Đông.”

Tuy nhiên, những gì Israel nghe được từ người Ả Rập vùng Vịnh trong những năm Obama, lại hoàn toàn khác. Những người mà các viên chức Israel đang nói chuyện với họ nói rằng môi trường chiến lược đã thay đổi: Israel đã nổi lên như một cường quốc về an ninh và công nghệ, trong khi Hoa Kỳ đã rút quân khỏi khu vực.

Hơn nữa, những người đối thoại vùng Vịnh của Israel cũng đã có một sự thay đổi quan trọng trong lập trường của họ về vấn đề Palestine. Trước đây, giống như người Mỹ, họ nói rằng quyền của người Palestine là điều kiện tiên quyết cần thiết cho bất kỳ sự cải thiện nào trong quan hệ với Israel. Bây giờ họ nói rằng họ không còn muốn vấn đề về nhà nước Palestine cản trở các lợi ích chiến lược và thương mại rộng lớn hơn của họ, bao gồm cả việc chấm dứt nỗ lực không hiệu quả và thất bại của họ nhằm cô lập Israel. Một nhà ngoại giao Israel tham gia vào các cuộc đàm phán đã nói theo cách này: “Mohammed Bin Salman đang tự nghĩ, ‘Tại sao thị trưởng Ramallah  [thành phố Palestine ở trung tâm Bờ Tây] lại ảnh hưởng đến tương lai của đất nước tôi? Tên ngu ngốc này? Hắn nắm giữ chìa khóa của toàn bộ Trung Đông.”

Sự thay đổi này, bắt nguồn từ sự trỗi dậy của một Iran dòng Shiite cấp tiến, hung hăng, quyết tâm giành quyền bá chủ ở Trung Đông, là quan trọng, nhưng không dễ để chuyển thành các thỏa thuận mới. Theo một cách nào đó, các quốc gia vùng Vịnh bị kẹt giữa sự cuồng tín của người Sunni và người Shiite. Về phía người Sunni, Mùa xuân Ả Rập đã dẫn đến sự trỗi dậy của Anh em Hồi giáo – một phong trào Hồi giáo Sunni chính trị – ở Ai Cập và Tunisia, và đến ISIS, tổ chức đã kiểm soát các vùng đất rộng lớn của Syria và Iraq. Về phía người Shiite, Iran cũng đã lợi dụng sự hỗn loạn của Mùa xuân Ả Rập để giành được đất đai ở Syria, Iraq, Lebanon và Yemen, hoạt động thông qua lực lượng dân quân ủy nhiệm dòng Shiite để thúc đẩy mục tiêu bá quyền của mình. Với cả chính quyền Obama và Trump đều có động thái giảm sự hiện diện của Mỹ ở Trung Đông, vị thế của Israel trở nên quan trọng hơn.

Như Đại sứ Dermer đã nói với chúng tôi: “Các quốc gia Ả Rập coi Iran là hổ và ISIS Shiite báo; họ nhìn thấy con khỉ đột Mỹ nặng bốn trăm kí đang đi ra, rồi họ nhìn thấy con khỉ đột đội mũ kippa (mũ DoThái), và nói rằng có lẽ chúng ta nên thỏa thuận với chúng.” Nói cách khác, các nước Ả Rập vùng Vịnh đang coi Israel là người bảo vệ họ khỏi Iran nếu Hoa Kỳ rút khỏi khu vực.

Theo quan điểm của chính quyền Israel, một yếu tố khác khiến các quốc gia Ả Rập Sunni nhìn nhận Israel theo cách này là bài phát biểu của Netanyahu trước Quốc hội Mỹ, trong đó ông đã đưa ra một lập luận mạnh mẽ chống lại các thỏa thuận hạt nhân với Iran. Những người chỉ trích Netanyahu coi bài phát biểu là một thất bại to lớn; nó không giúp ích gì để ngăn chặn thỏa thuận hạt nhân Iran mà còn xúc phạm chính quyền Obama và có khả năng khiến một thế hệ thành viên của Đảng Dân chủ quay lưng. Nhưng các quốc gia Ả Rập Sunni ôn hòa đã bị thuyết phục ở một cấp độ hoàn toàn mới bởi sự quyết đoán và sẵn sàng hành động độc lập với Hoa Kỳ của Netanyahu khi nói đến các vấn đề an ninh với Iran.

Đến từ những quốc gia luôn thù địch với sự tồn tại của Israel, đây là một sự thay đổi lớn lao. Và thông điệp đến từ chính quyền Trump sắp tới cũng vậy.

Trong một sự kiện tại Trump Tower ở New York có sự tham dự của giới thượng lưu thành phố, Trump đã được Steve Bannon, lúc đó là người chỉ huy chiến lược  của mình, giới thiệu ông với một viên chức cấp cao của Israel. “Ông có thể làm ra hòa không?” Trump hỏi. Viên chức này trả lời: “Với người Palestine? Không. Nhưng chúng tôi có thể làm hòa với một số quốc gia Ả Rập.”

Israel không lãng phí thời gian. Vào tháng 12 năm 2016, Netanyahu đã cử Cohen đi gặp gỡ bí mật các thành viên trong nhóm của tổng thống đắc cử, bao gồm cả người được ông chọn làm cố vấn an ninh quốc gia, Michael Flynn. Nhiệm vụ của Cohen là tóm tắt cho họ về mối đe dọa từ Iran và về những cơ hội mà bóng tối của Tehran tạo ra cho mối quan hệ của Israel với các nước láng giềng vùng Vịnh.

Mức độ Cohen gia nhập thế giới ngoại giao có rủi ro cao cũng là điều mới mẻ đối với một giám đốc Mossad, nhưng ông đã bước vào công việc với một số kinh nghiệm, một phần nhờ vào thời gian làm cố vấn an ninh quốc gia cho Netanyahu. Thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ả Rập, ông sớm được biết đến là bộ trưởng ngoại giao trên thực tế của Israel, bí mật di chuyển giữa các thủ đô vùng Vịnh, đôi khi trên máy bay riêng không có biển hiệu của Mossad.

Mossad luôn tham gia vào các cuộc tiếp xúc với các quốc gia mà họ không có quan hệ thông qua bộ phận Tevel. Nhưng Cohen hiện đã thành lập một lực lượng đặc nhiệm riêng biệt được gọi là “ban giám đốc ngoại giao chiến lược” để xác định và theo đuổi các cơ hội lập hòa bình với các quốc gia vùng Vịnh và các quốc gia Hồi giáo khác, trong khi Tevel tiếp tục giải quyết các mối quan hệ bí mật với các cơ quan tình báo khác

Trong khi đó, Bin Salman ngày càng trở nên quyền lực hơn trong hệ thống cấp bậc của Ả Rập Xê-ut. Vào tháng 6 năm 2017, người cha già của ông, Vua Salman, đã phế truất cháu trai Mohammed Bin Nayef khỏi vị trí Thái tử và MBS được đưa lên vị trí đó, củng cố địa vị của mình là người thừa kế và là người hùng của vương quốc.

MBS đã được nhiều viên chức tình báo và ngoại giao từng tiếp xúc với ông mô tả là người rất dễ gần, có sức lan tỏa của tuổi trẻ và có mong muốn làm thay đổi đất nước. Jason Greenblatt, đại diện đặc biệt của chính quyền Trump về vấn đề quốc tế, người đàm phán đã dành vô số thời gian với MBS, cho biết Thái tử Ả Rập Xê-ut có “ý chí huy động mọi người” để đạt được tầm nhìn của mình, đó là hiện đại hóa đất nước, áp dụng phiên bản Hồi giáo ôn hòa hơn và chuẩn bị cho tương lai không còn phụ thuộc vào sản xuất dầu mỏ.

Theo quan điểm của Israel, tầm nhìn của MBS bao gồm sẵn sàng tham gia với nhà nước Do Thái nhiều hơn so với cha ông, Vua Salman, từng thể hiện. MBS cũng ít bị ràng buộc bởi các cam kết lịch sử đối với sự nghiệp của người Palestine. Về Iran, ông lên án Ayatollah Khamenei là “Hitler mới”; ông chỉ trích thỏa thuận hạt nhân Iran năm 2015 do chính quyền Obama ký kết là “tệ hại”; và cáo buộc chính quyền Obama “chùn bước” trong việc hợp tác để cứu Yemen, quốc gia nằm ở biên giới phía nam của Ả Rập Xê Út, nơi Iran đã hỗ trợ Houthis, một phe phái Shiite đã chiến đấu với chính phủ do người Sunni thống trị trong một cuộc nội chiến tàn khốc. Quan trọng nhất theo quan điểm của Israel, MBS đang hướng đến Jerusalem để tìm kiếm một liên minh an ninh.

Thái tử Ả Rập Xê-ut Mohammed Bin Salman.

Cohen đã gặp, nói chuyện hoặc nhắn tin với MBS và các cố vấn tình báo hàng đầu của ông thường xuyên, bắt đầu từ cuối năm 2017, và có một mối quan hệ rõ ràng giữa những nhân vật này, mỗi người đều phát triển nhờ cắt đứt và phá vỡ  nguyên trạng. Những chuyến thăm đầu tiên của giám đốc Mossad tới Riyadh thậm chí không được tiết lộ cho bất kỳ ai, và trong khi một số chuyến thăm sau đó của ông đôi khi được tiết lộ với giới truyền thông sau khi sự việc đã xảy ra, nhưng thông tin chi tiết về những gì diễn ra trong các chuyến thăm đó luôn bị che khuất trong sương mù của tin đồn.

Như mọi người đều biết, MBS cũng đã thể hiện một bản tính tàn bạo, vô nhân đạo. Ông đã “giam giữ” tới bốn trăm hoàng tử Ả Rập Xê-ut và các thành viên khác của giới tinh hoa tại khách sạn Ritz-Carlton dát vàng ở Riyadh, khiến nhiều người trong số họ phải chịu cảnh đánh đập và thẩm vấn, thiếu ngủ và bị tống tiền. Ông cáo buộc họ tham nhũng và, theo các quan chức Ả Rập Xê-ut, cuối cùng đã thu hồi được khoảng 100 tỷ đô la từ họ và nộp vào công quỹ. Bây giờ họ đã biết ai là người lãnh đạo.

Bin Salman cũng buộc thủ tướng Lebanon Saad Hariri từ chức sau khi dụ ông ta đến Ả Rập Xê Út và bắt giữ ông ta. Nhưng khét tiếng nhất là vào năm 2018, ông ta đã ra lệnh giết nhà bất đồng chính kiến ​​người Ả Rập Xê Út và là cộng tác viên của tờ Washington Post Jamal Khashoggi, anh ta đã bị các điệp viên Ả Rập Xê Út giết chết và chặt xác tại lãnh sự quán của nước này ở Istanbul.

Hơn bất kỳ hành động nào khác của MBS, vụ giết Khashoggi đã gây chấn động thế giới và, đặc biệt là ở Hoa Kỳ và Châu Âu, đã tạo ra những mối lo ngại về việc hợp tác với Ả Rập Xê Út. Israel không cho phép mình vướng vào những mối quan ngại như vậy. Mossad từ lâu đã xác định Bin Salman và người Ả Rập Xê-ut là thế lực thống trị mà sự đồng ý của họ sẽ là cần thiết trước khi tiến hành bất kỳ bước đi cụ thể nào hướng tới bình thường hóa quan hệ. Tuy nhiên, trong khi đó, chính các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất mà Mossad coi có nhiều khả năng nhất là người đầu tiên bước ra bóng tối,  còn người Ả Rập Xê-ut được kỳ vọng tiến tới khi được thúc đẩy từ phía sau. Nhưng trước khi Israel có thể đưa mối quan hệ với UAE ra công khai, Cohen phải làm thêm một việc nữa để giải quyết hậu quả của một sự kiện đã xảy ra nhiều năm trước khi ông được bổ nhiệm làm giám đốc Mossad.

___

Vào lúc 1:30 chiều ngày 20 tháng 1 năm 2010, Mahmoud, một bồi phòng phát hiện ra Mahmoud Abdul Raouf Mohammed đã chết trong phòng 230 của Khách sạn năm sao Al Bustan Rotana ở trung tâm thành phố Dubai. Ông ta dường như đã chết vì nguyên nhân tự nhiên khi đang ngủ, nhiều khả năng là do đau tim, và cảnh sát không có lý do gì để nghi ngờ rằng cái chết của ông là kết quả của một hành vi phạm tội. Nhưng một vài ngày sau đó, các viên chức Hamas ở Damascus bắt đầu lo lắng về một điệp viên mất tích ở Dubai, Mahmoud al-Mabhouh, người mà họ đã mất liên lạc. Hamas đã cử một người của Mabhouh đến nhà xác Dubai, nơi anh ta nhận diện Abdul Raouf Mohammed chính là Mabhouh được cho là mất tích.

Mabhouh là một tên khủng bố Hamas người đã tham gia vào vụ bắt cóc và giết hại dã man hai người lính Israel, Avi Sasportas và Ilan Sa’adon, ở miền nam Israel năm 1989. Một cựu thợ máy ô tô đã bắt đầu sự nghiệp khủng bố của mình bằng cách đốt cháy các sòng bạc ở Dải Gaza, gã đàn ông 49 tuổi lực lưỡng này, giờ đã có những sở thích xa xỉ, đã thăng tiến qua các cấp bậc để trở thành người đứng đầu của nhóm tuồn lậu vũ khí từ Iran đến Dải Gaza. Mabhouh đã làm việc với Qasem Soleimani và các phó tướng của ông ta trong Lực lượng Quds của Quân đoàn Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran, bộ não và xúc tu đằng sau mạng lưới Iran tuồn lậu vũ khí cho các bên ủy nhiệm và khách hàng của mình trên khắp khu vực.

Việc tiết lộ gã đàn ông đã chết là Mabhouh đã khiến cảnh sát trưởng Dubai, Trung tướng Dhahi Khalfan Tamim, mở lại cuộc điều tra, và những gì ông phát hiện đã gây chấn động khắp các cộng đồng tình báo trên toàn thế giới và làm căng thẳng mối quan hệ bí mật giữa Israel và UAE.

Camera an ninh tại khách sạn Al Bustan cho thấy có người đột nhập vào phòng của Mabhouh vào khoảng thời gian mà các nhà pháp y ước tính cái chết đã xảy ra. Sử dụng cảnh quay của camera giám sát, hồ sơ khách sạn và sân bay, Tamim và nhóm điều tra viên của ông đã tỉ mỉ ghép lại những gì đã thực sự xảy ra.

Tại một cuộc họp báo vào tháng 2 năm 2010, một tháng sau khi Mabhouh được phát hiện đã chết, Tamim đã tuyên bố rằng tay buôn vũ khí Hamas đã bị một đội sát thủ đột nhập vào phòng và bóp cổ đến chết. Sau đó, cảnh sát tuyên bố rằng y đã bị giết bằng một loại độc tố gây đau tim. Tamim cáo buộc Mossad đứng sau vụ giết người và tiết lộ rằng có ít nhất 11 công dân Anh, Ireland, Đức và Pháp tham gia. Cuộc điều tra sau đó phát hiện ra rằng tổng cộng có 26 người sở hữu hộ chiếu châu Âu đã tham gia vào hoạt động này và danh tính của họ đã bị đánh cắp từ những công dân Israel có hai quốc tịch. Hình ảnh của tất cả các nghi phạm đã được công bố trên toàn thế giới, cùng với cảnh quay video cho thấy những kẻ ám sát trong khách sạn. Trớ trêu thay, các hệ thống an ninh đã vạch trần hoạt động của nhóm Mossad đã được bán cho UAE do đại diện lưu động tại vùng Vịnh của Bộ Ngoại giao Israel, Bruce Kashdan, làm môi giới.

Vụ việc đã làm cho Israel vô cùng mất mặt và được coi là thất bại lớn nhất trong sự nghiệp chín năm lẫy lừng của Meir Dagan với tư cách là người đứng đầu cơ quan tình báo. Ngay sau khi rời khỏi vị trí của mình vào năm 2012, Dagan đã từ chối trả lời phỏng vấn của chúng tôi tại căn hộ của ông ở Tel Aviv nhằm xác nhận rằng Mossad đứng đằng sau chiến dịch này. Nhưng ông cũng phủ nhận đó là một thất bại. “Có ai bị bắt không?” vị cựu tướng cộc lốc nhưng ôn tồn hỏi một cách khoa trương. (Cuối năm đó, Dagan được chẩn đoán mắc bệnh ung thư gan và ông qua đời vào năm 2016.)

Vụ việc là một bước lùi lớn đối với mục tiêu bình thường hóa. Haim Tomer, người đứng đầu đơn vị liên lạc quốc tế Tevel vào thời điểm đó, và là nhân vật cấp cao của Mossad trong các cuộc tiếp xúc, đã nói với chúng tôi rằng mình đã nghe những lời phê phán rất gay gắt từ người UAE về vụ giết Mabhouh và thời gian cần thiết để phục hồi mối quan hệ. Người UAE đã tức giận vì Israel đã tự mình thực hiện luật pháp thay vì yêu cầu họ giải quyết vấn đề. “Chúng tôi có thể đã đưa y ra cuộc chơi theo cách này hay cách khác”, họ nói với Tomer. Quay trở lại hiện tại, vào năm 2020, Dan Shapiro, người từng là đại sứ Hoa Kỳ tại Israel trong toàn bộ chính quyền Obama, đã tiết lộ rằng vụ ám sát Mabhouh đã dẫn đến sự gián đoạn kéo dài một năm rưỡi trong mối quan hệ bí mật giữa Israel và UAE.

Nhưng cuối cùng, bắt đầu từ khoảng năm 2011, một quá trình xây dựng lại lòng tin dần dần diễn ra khi lợi ích chung bắt đầu lấn át cảm giác bị xúc phạm của UAE. Trong số đó có nỗi sợ Iran, cuộc nội chiến ở Syria nơi dân quân Iran đã tham gia và thực tế là các chế độ quân chủ Ả Rập đang run rẩy vì Mùa xuân Ả Rập – các cuộc nổi dậy của người dân từ Tunisia đến Ai Cập đến Syria đã thách thức các chính phủ độc tài của thế giới Ả Rập. Các quan chức Mossad đã tổ chức vô số cuộc họp với các đối tác UAE của họ, mặc dù phải đến khoảng năm 2015 thì các liên lạc đầy đủ mới được khôi phục, nhưng thậm chí sau đó, người quan trọng nhất ở phía UAE, Mohammed Bin Zayed, MBZ, vẫn “chưa có mặt”.

Tomer nói với chúng tôi rằng: “Không gì mất nhiều thời gian hơn việc chiếm được lòng tin của người Bedouin và không gì nhạy cảm hơn danh dự của người Bedouin”.

Để có được sự tin tưởng đó, Israel đã phải trả giá. Ngoài cam kết được thực hiện với sự trung gian của Hoa Kỳ, không bao giờ tiến hành các hoạt động tương tự trên đất UAE nữa, Israel đã cung cấp cho các Tiểu Vương quốc khoản thù lao chiến lược dưới hình thức một loạt các công nghệ và hệ thống mới mà trước đây họ đã từ chối chia sẻ.

Tuy nhiên, ngay cả với tất cả những điều đó, khi Cohen nhậm chức, MBZ vẫn từ chối gặp người Israel. Người tiếp xúc cấp cao nhất vào thời điểm đó là Abdullah Bin Zayed, bộ trưởng ngoại giao UAE và là em trai của MBZ.

Cuối cùng, Cohen là người có thể xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với MBZ, nhờ vào khả năng của chính mình và một chiến dịch được dàn dựng cẩn thận được hỗ trợ bởi cả MBS và những đồng minh mới của Cohen ở Washington, như giám đốc CIA Pompeo và Jared Kushner, con rể của Trump và cố vấn đặc biệt về Trung Đông.

Nỗ lực của Israel để vượt qua sự rạn nứt trong quan hệ cũng được cựu thủ tướng Anh Tony Blair giúp đỡ, người đã sắp xếp các cuộc đàm phán giữa luật sư riêng và người bạn tâm giao của Netanyahu là Yitzhak Molcho, và một bộ trưởng các Tiểu Vương quốc không được tiết lộ. Những cuộc đàm phán này cuối cùng đã phát triển thành cuộc điện đàm trực tiếp giữa Netanyahu và Bin Zayed.

Sau đó, ngay khi Cohen đang cố gắng đưa mối quan hệ với MBZ trở lại đúng hướng, một điều gì đó bí ẩn nhưng đầy điềm báo đã xảy ra, hoặc có lẽ nó đã không xảy ra. Dù thế nào đi nữa, nó cho thấy mọi thứ đang thay đổi nhanh chóng như thế nào.

Theo nhiều phương tiện truyền thông, vào ngày 7 tháng 9 năm 2017, Thái tử Ả Rập Ả Rập Xê-ut Mohammed Bin Salman đã có chuyến thăm kín đáo tới Tel Aviv. Ông đến Israel bằng máy bay riêng qua một quốc gia thứ ba, các báo cáo cho biết, sau đó được đưa đến trụ sở Mossad ở Glilot, phía bắc Tel Aviv, và tại đây ông đã gặp các quan chức cấp cao của Israel, bao gồm Yossi Cohen và Benjamin Netanyahu.

Trong vòng vài tuần, các báo cáo về chuyến thăm đã bị rò rỉ tới giới truyền thông và thẻ siêu dữ liệu #Bin_Salman_Visited_Israel (Bin Salman Đã Đến Thăm Israel) đã trở thành xu hướng trên Twitter.

Một chuyến thăm của MBS tới Israel, nếu thực sự đã xảy ra, có nghĩa là sự thay đổi gần như cách mạng trong cán cân quyền lực ở Trung Đông, một sự công nhận đáng kinh ngạc của một nhà nước Ả Rập giàu nhất và có uy tín nhất trong thế giới Ả Rập rằng Israel là một thực tế và thậm chí là một đối tác, một đồng minh, trong cuộc đấu tranh chống lại Iran. Nhưng liệu MBS có đến thăm Israel hay không? Nhiều nguồn ở Israel, bao gồm nguồn tin tình báo, phương tiện truyền thông trong các quốc gia vùng Vịnh và báo chí quốc tế đã xác nhận rằng thực sự, Thái tử Ả Rập Xê-ut đã đến Tel Aviv. Hơn nữa, các tuyên bố về chuyến thăm không bao giờ bị chính thức phủ nhận.

Tuy nhiên, một số nguồn tin cấp cao của Mossad cho chúng tôi biết rằng chuyến thăm đó chưa bao giờ diễn ra. Cựu phó cố vấn an ninh quốc gia của Hoa Kỳ Victoria Coates đồng ý với những nguồn tin này, và bà tự hỏi ai đã đạt được điều gì khi phát sóng những tin tức tích cực nhưng giả mạo như vậy. Coates đã sống nhiều năm ở Ả Rập Ả Rập Xê-ut và là một chuyên gia về đất nước này. Nhưng ngay cả khi MBS không đến Tel Aviv, nhiều báo cáo từ nhiều nguồn cho rằng ông đã đến chỉ ra một chiến dịch thông tin sai lệch có sự phối hợp cực kỳ tinh vi nhằm thuyết phục thế giới, bao gồm một số điệp viên tình báo cấp trung của Israel, rằng ông đã đến – có khả năng tạo ra tiếng vang, động lực và bầu không khí tích cực cho quá trình bình thường hóa. Trước đây, hầu như bất kỳ cuộc tiếp xúc cấp cao nào giữa Israel và Ả Rập Xê Út đều có vẻ không thể tưởng tượng được. Bây giờ, nó được coi là hợp lý, thậm chí là không thể tránh khỏi.

Và chẳng bao lâu sẽ có thêm nhiều hơn nữa.

___

Vào tháng 11 năm 2017, tham mưu trưởng IDF Gadi Eisenkot đã trả lời phỏng vấn tờ Elaph của Ả Rập Xê-ut. Việc một tờ báo Ả Rập Xê-ut đăng bài phỏng vấn một sĩ quan quân đội cấp cao của Israel là điều chưa từng có. Nhưng những gì Eisenkot tiết lộ thậm chí còn quan trọng hơn. Ông cho biết, hai quốc gia này đang chia sẻ thông tin tình báo về Iran, mà ông gọi là “mối đe dọa thực sự và lớn nhất” ở Trung Đông. Tháng sau, như thể để đảm bảo thông điệp được truyền tải, Bộ trưởng Năng lượng Israel Yuval Steinitz đã nói với Đài phát thanh Quân đội Israel rằng có mối quan hệ bí mật với nhiều quốc gia Hồi giáo và Ả Rập, đặc biệt là Ả Rập Xê-ut.

Những tiết lộ này là đỉnh cao của gần hai năm cật lực của Cohen kể từ khi được bổ nhiệm làm giám đốc Mossad, trong đó ông đã tận dụng một số nỗ lực quan trọng của Mỹ để mở đường cho những bước tiến mới về mặt ngoại giao, ngay cả khi Washington đang rút quân khỏi khu vực.

Tình hình đã lên đến đỉnh điểm như thế nào với cuộc phỏng vấn bom tấn của Eisenkot và Steinitz?

Quay trở lại vài tháng trước vào cuối tháng 3 năm 2017, Jason Greenblatt, đại diện đặc biệt về đàm phán quốc tế  của chính quyền Trump, đã gặp người Ả Rập Xê-ut, người UAE  và những người khác bên lề hội nghị thượng đỉnh của Liên đoàn Ả Rập tại bờ Biển Chết của Jordan. Greenblatt và nhóm của ông đã rời đi với nhận thức rằng các quốc gia vùng Vịnh không muốn bị người Palestine kìm hãm thêm nữa trong việc đạt được tiến triển với Israel. Đồng thời, các nhà lãnh đạo Ả Rập không muốn bị coi là từ bỏ sự nghiệp của người Palestine, chắc chắn không phải vì không cố gắng hết sức để có được một thỏa thuận công bằng cho người Palestine. Hội nghị thượng đỉnh kết thúc với tuyên bố tái khẳng định cam kết của Liên đoàn Ả Rập đối với một kế hoạch hòa bình mà người Ả Rập Xê-ut đã đề xuất lần đầu tiên vào năm 2002, trong đó nêu ra các điều khoản chấm dứt xung đột Ả Rập-Israel. Về cơ bản là tuyên bố năm 2017 này nhắc lại các yêu cầu của sáng kiến ​​năm 2002 của Ả Rập Xê-ut. Nó loại trừ việc thiết lập quan hệ chính thức giữa Israel và bất kỳ quốc gia vùng Vịnh nào trước khi Israel rút khỏi các Lãnh thổ bị chiếm đóng và một nhà nước Palestine được thành lập, hai điều kiện có vẻ rất xa vời.

Phân tích của Greenblatt về vấn đề này là MBS, MBZ và Quốc vương Oman, Qaboos bin Said, đang tiến gần hơn đến việc nâng cao mức độ hợp tác với Israel, nhưng họ vẫn chưa sẵn sàng cho mối quan hệ đầy đủ hoặc chính thức, đặc biệt là nếu thiết lập chúng có vẻ như đang bỏ rơi người Palestine. Tuy nhiên, bánh xe vẫn tiếp tục quay. Vào ngày 20 và 21 tháng 5 năm 2017, Trump, cùng với Greenblatt và Kushner, đã đến Ả Rập Xê-ut trong chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của ông trong nhiệm kỳ tổng thống. Trump, người từng tuyên bố rằng người Ả Rập Xê-ut đã cho nổ tung Trung tâm Thương mại Thế giới và rằng vương quốc này sẽ không tồn tại nếu không có sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, đã được chào đón như hoàng gia với “thảm đỏ, tiệc tùng xa hoa và cờ Hoa Kỳ tung bay khắp nơi”.

Sự nồng nhiệt chào đón Trump của người Ả Rập Xê-ut đã là một dấu hiệu đáng mừng cho thấy mọi thứ đang thay đổi theo hướng tốt hơn, nhưng chuyến đi cũng đáng chú ý vì cách nó chứng minh sự đảo ngược hoàn toàn về phong cách và chất lượng mà chính quyền mới đang đưa vào thực hiện. Trong khi Obama đã áp dụng giọng điệu hòa giải với Iran và ký các thỏa thuận hạt nhân với Tehran, Trump, mặc dù ông vẫn chưa rút khỏi JCPOA, đã hiếu chiến trong các tuyên bố của mình về Cộng hòa Hồi giáo. Trong khi Obama đã đặt ra các giới hạn về việc bán vũ khí cho Ả Rập Xê Út vì sự tham gia của nước này vào cuộc chiến ở Yemen, Trump đã ký một thỏa thuận vũ khí trị giá 110 tỷ đô la với MBS, để đáp lại, người Ả Rập Xê Út đã đồng ý đầu tư 350 tỷ đô la vào Hoa Kỳ. Obama đã bỏ qua Israel hoàn toàn trong chuyến thăm Trung Đông đầu tiên của mình, thay vào đó đã đến Ai Cập và có bài phát biểu “Một khởi đầu mới” để hàn gắn mối quan hệ của Hoa Kỳ với thế giới Hồi giáo. Trump đã bay từ Riyadh [thủ đô của Ả Rập Xê-út] đến Tel Aviv trong chuyến bay thẳng chính thức đầu tiên giữa hai quốc gia. Và nơi mà mối quan hệ giữa Obama và Netanyahu đã căng thẳng, ít nhất là có thể nói, “Bibi” (biệt danh của Benjamin) và “Donald” nổi tiếng đã hòa hợp, một lễ hội tình yêu thực sự giữa hai anh em thất lạc từ lâu.

Các chuyến thăm liên tiếp của Trump tới Israel và Ả Rập Xê-ut đã tạo ra một động lực và năng lượng mới trong khu vực. MBS hiện cảm thấy an toàn hơn nhiều và lạc quan hơn về tương lai. Và Trump cùng nhóm Kushner và Greenblatt của ông vô cùng mong muốn có tiến triển trong hòa bình Trung Đông. Lý tưởng nhất là họ muốn người Ả Rập Xê-ut tập hợp các nước vùng Vịnh gây sức ép với người Palestine nhằm đạt được thỏa thuận. Nhưng để bắt đầu quá trình đó, họ muốn các khía cạnh của mối quan hệ giữa Ả Rập Xê-ut và Israel cuối cùng cũng được công khai.

Yossi Cohen bước vào. Ông đã thực hiện một loạt các chuyến thăm bí mật đến Ả Rập Xê Út từ tháng 5 đến tháng 11 năm 2017, trong thời gian đó, ngồi trên những chiếc ghế sofa lớn, thanh lịch tại một trong nhiều cung điện của MBS, ông đã cố gắng thuyết phục Thái tử và các cố vấn của ông công khai về sự hợp tác an ninh đang phát triển giữa hai nước. Trong các cuộc họp công khai, MBS và các cố vấn của ông thường lặp lại các tuyên bố, đặc biệt là những tuyên bố sáo rỗng về quyền của người Palestine và việc Israel chiếm đóng Bờ Tây, và dường như không sẵn sàng tiến lên phía trước. Nhưng Cohen đủ thông minh và đủ kiên nhẫn để chờ cuộc họp “tiếp sau”  trong một phòng bên cạnh nơi các thỏa thuận thực sự được thực hiện.

Những người chân ướt chân ráo mới vào nghề trong các cuộc đàm phán với MBS và các cố vấn của ông đôi khi có thể lên giọng, hoặc thậm chí phạm phải những lỗi nhỏ trong nghi thức xã giao, như nhận đồ uống bằng tay trái. Cohen thì không, một dân chơi dày dạn kinh nghiệm với người Ả Rập Xê-ut, vốn biết chính xác cách lôi kéo họ và hiểu được mối quan hệ cởi mở với cái mà người Ả Rập Xê-ut từng gọi là “thực thể Chủ nghĩa Phục quốc DoThái” mong manh như thế nào. Nhưng Cohen cũng biết rằng một khi họ đã cam kết, thì đó sẽ là một cam kết sắt đá. Hàng núi thủ tục hành chính và thủ tục quan liêu có thể biến mất trong chớp mắt.

Cùng với những chuyến thăm này của Cohen, Kushner và Greenblatt đã thực hiện những chuyến đi bí mật của riêng họ tới Ả Rập Xê Út để đàm phán với MBS vào tháng 10 năm 2017, trong thời gian đó họ đã nhẹ nhàng thúc đẩy nhà lãnh đạo Ả Rập Xê-ut cho phép công khai các khía cạnh của mối quan hệ với Israel. Cuối cùng, nhượng bộ trước sức ép toàn diện này, MBS đã đồng ý. Các tuyên bố công khai của Tham muu trưởng Eisenkot và Bộ trưởng của Israel Steinitz về hợp tác tình báo Israel-Ả Rập Xê-ut là kết quả của thành tựu đó.

Khi Cohen xem xét các tiêu đề mà những tuyên bố này đưa ra, ông tự hỏi liệu mình cũng nên công khai về tiến trình và kế hoạch của mình cho khu vực này hay không. Xét cho cùng, ông biết rằng người Ả Rập Xê-ut là “anh cả” của UAE, Bahrain và các quốc gia khác trong khu vực vốn có thể bình thường hóa quan hệ với Israel, và việc công khai mọi thứ có thể tạo ra động thái ở nơi khác.

Nhưng Cohen lúc đó không biết liệu người Ả Rập Xê-ut có sẵn lòng là quốc gia vùng Vịnh đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel hay không, hoặc liệu công khai quan hệ an ninh sẽ khuyến khích các quốc gia khác như UAE và Bahrain là những quốc gia đầu tiên thực hiện bước đi quan trọng đó – đó là cách mọi thứ sẽ diễn ra sau này. Với mục tiêu là một sự thay đổi lớn lao trong khu vực, ông quyết định kiềm chế và giữ im lặng, chờ các quốc gia trong khu vực tiến gần hơn đến ngưỡng cửa trước khi ông đưa ra bất kỳ tiết lộ công khai nào.

Thời điểm đó sẽ đến vào tháng 7 năm 2019.

Bình luận về bài viết này