A Lịch Sơn Đắc Lộ & Chữ Quốc Ngữ

Ảnh Các Cố Đạo Truyền giáo di chuyển bằng Ghe. Nguồn Internet.

Bất Tiếu Nguyễn Quốc Bảo

       Tp Lun viết v C Alexandre de Rhodes và thi k phôi thai ch La mã hoá Quc ng vi các giáo sĩ tha sai B Đào Nha, đc bit vi C Francisco de Pina, người nay được chng minh là cha đ Quc ng. C Đắc L vi t đin Vit B La và Phép Ging Tám ngày, n bn năm 1651, là Godfather Cha, B đ đu.

Tp Lun cũng đ cp đến C Đỗ Hưng Vin, ngoi tông gia đình chúng tôi, quê quán Làng Bng Trung, tnh Thanh hoá, là người Vit Nam đu tiên được ra ti theo đo Hoa Lang Ki Tô thế k 16, trước khi các tha sai B đến truyn giáo vào đu thế k 17. C liu Lch s chng nhn  vic tòng giáo ca công t Đỗ Hưng Vin, con quan đi thn triu Lê trung Hưng, vào khong nhng năm 1560-1570, dưới thi Lê Anh Tông (1556-1573). Đỗ ph ghi năm 1572. Tên C nay được đt cho mt con đường ti phường 12, quTân Bình, Sài Gòn.

Và Ngoi tc Đỗ tiếp tc có duyên vi Ki Tô giáo. C Đỗ Viên Mãn năm 1627, theo Đỗ tc ph, như Niên giám Hi Đồng Giám mc Vit nam đã khng đnh, cũng đã là người đu tiên tiếp xúc vi Linh mc de Rhodes khi Ngài cp bến, đ b lên Ca Bng, xã Ba Làng tnh Thanh Hoá. C Mãn đã được C Đắc L ra ti, sau ngày 19/03/1627. C Mãn ct hai nhà th đu tiên Ba Làng, cho đim khi đu ca Truyn giáo Dòng Tên Đàng ngoài.

Thân ph và thân mu tôi hay nhc đến thánh t vì đo Giacôbê Đỗ Mai năm sinh năm 1781 ti Đông Bin Thanh hóa, linh mc thuc hi Tha sai Paris, x trm ngày 12 tháng 8 năm 1838 ti By mu Nam đnh dưới đi vua Minh Mng, được phong chân phước ngày 27 tháng 5, 1900 do Đức Lêô XIII, l kính mi năm vào ngày 12 tháng 8. Ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Gioan Phaolô II suy tôn Ngài nên bc Hin Thánh.

Tp Luân theo chân Léonard Aurousseau, năm 1924 đưa ra gi thuyết t nguyên Cochinchina, có ngun gc Rp. Tác giả Trần Đức Anh Sơn có soạn một văn bản đóng góp về chủ đề này.

Có rất nhiều tác giả đã đề cập đến Đề mục Cố Đắc Lộ và chữ Quốc ngữ, trong và ngoài nước. Và vẫn còn bút chiến quốc nội quốc ngoại. Vào đầu thập niên 2000, chúng tôi biết đến các nghiên cứu từ những tài liệu phía Bồ Đào Nha của Roland Jacques, Le Portugal et la romanisation de la langue Vietnamienne. Faut-il réécrire l’histoire? (1998, article). Persée © 2005-2024, đặt lại một cách khoa học nguồn gốc cội rễ của Latinh-hoá Vit ng nói; và thêm Bài viết Portuguese Pioneers ò Vietnamese Linguistics Prior to 1650/ / L’oeuvre de quelques pionniers portugais dans le domaine de la linguistique vietnamienne jusqu’en 1650, Roland Jacques, Bangkok, Orchid Press, 2002.

Cùng với:

  • Pierre-Yves Manguin – Les Portuguais sur les côtes du Viet nam et du Campa. École Francaise d’extrême-Orient. Paris 1972;
  • Alain Guillemin, Alexandre de Rhodes a-t-il inventé lequc ng ? Moussons No23, 2014-1, 141-157;
  • Léonard Aurousseau, Về tên Cochinchine năm 1924, Sur le nom de Cochinchine [article], Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient Année 1924  24  563-579. Giáo sư Hoa ngữ tại Trường Viễn Đông Pháp.
  • Nguyễn Cung Thông, Tiếng Vit thi Linh mc de Rhodes. Kinh Lạy Cha.

Cũng gom góp các tài liệu Internet khác trong khuôn khổ bài này, đặc biệt các nghiên cứu của George Bryan Souza, và vô số ấn phẩm của Manuel Teixeira. Tiểu luận ở đây da trên các bài viết của Jacques, Guillemin, Aurousseau, Manguin, và Nguyễn Cung Thông; gom góp thêm các tư liệu; không có tổng kết hay kết luận vì không có đủ hiểu biết để có thẩm quyền.

Cụm Cha hay Cố Đắc L để phiên âm qua tiếng Việt tên de Rhodes, có từ bao giờ và và duyên cớ? Trong khi Hán âm viết Le Jésuite Alexandre de Rhodes là da tô hi sĩ 耶穌會士á lch san 亞歷山 yà lì shān, hay luólìshān 羅歷山la lch san; phiên âm khác nhau ở hai từ á la 羅 (còn đọc là luó, luō, luo).

Thiết nghĩ tên dịch A-lch-sơn Đắc-l ra đời ngày 29/5/1941 trên Bia đá kỷ niệm và trên Trung hoà nhật báo. Thuật ngữ ở đây có lẽ do Hi Trí Tri và Hi truyn bá ch Quc ng mà Nguyễn Văn Tố là Hội trưởng, dẫn xướng. Duyên cớ tại sao thì đành không biết, vẫn tìm chưa ra. Và năm 1960 tôi trú tại Cư xá Sinh viên Đắc Lộ, Foyer d’Alexandre de Rhodes, ở Sài Gòn. Các bản Việt ngữ trên truyền thông và Võng lạc, ít hay nhiều, tránh tên dịch này, cho là đã lỗi thời; và giữ nguyên âm Alexandre de Rhodes hay Rhodes.

A lịch sơn dựa trên Hán âm, Đắc Lộ thì không biết từ đâu. Nguyễn văn Tố trong bài diễn văn khánh thành Bia đá, chua: Alexandre de Rhodes thường dch là A-lịch-sơn Đắc-lộ.

Trên Trung hòa nht báo, Số 2547, ngày 7 Tháng Sáu 1941[1], đăng:

Đài k nim cha A-lch-sơn Đắc-l đã được khánh thành ti Hà Ni, vào lúc 5 gi chiu ngày 29/5/1941. Bên đn Bà Kiu, xế ca đn Ngc Sơn, tm bia k nim ông Alexandre de Rhodes đã cao xây dưới bn mái, chiếc phương đình theo li kiến trúc Đông phương… ông Alexandre de Rhodes đã sng li vi dân Hà thành gia bu không khí ngưỡng m truy tư đy v trang nghiêm cm đng trong l khánh thành đài k nim Ph b H Hoàn Kiếm;  có quan toàn quyn Decoux và hu khp thân hào thành ph đến d. Trong bui l, ông Bernard de Feyssal đã tóm tt quá trình lp qu xây dng đài k nim, bt đu t khong năm 1923-1924 vi thiếu tá Bonifacy, mt người yêu mến s Vit, và ông Henri Cucherousset, ch nhim báÉveil Économique de l’Indochine. Trong bui l có các bài din thuyết ca Đức cha Nguyn Bá Tòng, ông Ngô T H là ch nhà in và ông Nguyn Văn T là Hi trưởng Hi Trí Tri và Hi truyn bá ch Quc ng, tt c đu nói lên công lao ca cha Alexandre de Rhodes hay A-lch-sơn Đắc-l trong tiến trình hình thành ch Quc ng

Tấm bia đá trong đài, cao 1,7m, rộng 1,1m và dày 0,2m, trên có khắc chữ quốc ngữ, bằng tiếng Trung và tiếng Pháp, công đức của tu sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes. Báo Tân Tri ngày 13-6-1941 thông báo với độc giả như sau:

Ông Alexandre de Rhodes đã được sng li gia người dân Hà Ni trong l khánh thành đài tưởng nim ông; Bui l din ra trong không khí trang trng và cm đng […] Ngày nay, quc ng được coi là nn tng ca ngôn ng dân tc, chính vì thế, chúng ta không th không gi li cm ơn chân thành đến người đã phát minh ra nó.  (Le courrier du Viêt Nam, 4 juillet 2004 : 6.)

Người đầu tiên khởi xướng xây dựng Đài Kỉ niệm chữ Quốc ngữ là trung tá Bonifacy[2]. Năm 1927, Bonifacy đã có ý tưởng quyên góp để xây dựng một công trình kỉ niệm ghi nhớ công lao cha cố Alexande De Rhodes. Một hội đồng được thành lập với mục đích quyên góp tiền khắp Đông Dương, được Toàn quyn Đông dương ng h. Bonifacy đã tổ chức quyên góp tiền để dựng Đài Kỉ niệm Ông tổ chữ Quốc ngữ bằng tài khoản số 9711 tại Ngân hàng Đông Dương. Tháng 4 năm 1931, Bonifacy qua đời. Số tiền quyên góp đã được 5.814,61 đồng bạc. Trong đó có sự đóng góp của nhiều người Việt làm việc trong các công sở Pháp.

Đến cuối năm 1931, Hội đồng họp và cử ông Cucherousset, chủ nhiệm của Đông Pháp Kinh tế Tạp chí thay Bonifacy làm Chủ tịch Hội đồng. Số tiền quyên góp được chuyển sang tài khoản số 52186, chủ tài khoản là ông Cucherousset.

Trung hòa nht báo, Số 2547, 7 Tháng Sáu 1941 đăng Bài diễn thuyết của ông Nguyễn Văn Tố:

Không bao gi tôi được cái hân hnh thay mt Hi truyn bá Quc ng và Hi Trí Tri Bc k đến d mt bui l khánh thành có ý nghĩa cao quý như bui hôm nay.
Th
c thế: bui hôm nay là bui k nim mt nhà trước thut đã có cái công ln đem truyn bá ch Quc ng, là ch viết tiếng nước nhà, là ch mà ch phi hc có hai ba tháng là đc được viết được, tc là cái li khí vô song cho nn hc ph thông ca c quc dân.
Nh
à trước thut y là mt v c người Pháp tên là Alexandre de Rhodes thường dch là A-lch-sơn Đắc-l, sang đây truyn giáo hi vua Lê chúa Trnh, xut bn trước tiên – vào khong năm 1654 – mt quyn giáo lý quc âm và mt quyn t v tiếng ta, hin nay vn còn giá tr lm.
Đã hay rng s nghip ca người ta như cái xe, như giy dán, tan hp d dàng, song ngm ra mi biết cái công truyn bá ch Quc ng lúc ban đu không phi là nh, có l chng kém gì cái công ca nhng bc đã phát minh ra ch Quc ng, tc là nhng v c đo B Đào Nha và nhng giáo sĩ Vit Nam mà s hc chưa cho biết rõ.
C
ái bia dng đây có ý ghi chép cái s nghip c Đắc-l đi vi vic truyn bá ch Quc ng trong bui sơ khai. Hi đng t chc đã khéo chn mt khong đt tráng l, đy nhng lch s, đ biu hiu cho vic hc trong nước. Đối vi chúng tôi, li còn ng mt ý thâm trm, là nhc nh đến cái bn phn thiêng liêng đi truyn bá ch Quc ng trong đám dân nghèo tht hc. Mi khi qua đây, nh đến mt bên là đn th mt v thn Nho hc, mt bên là đài k nim mt thày truyn giáo đã có công vi ch Quc ng. Cái công y cũng ngang vi công ca ông Hàn Thuyên v đi nhà Trn mà người ta thường gi là ông t ch Nôm, du ngàn thu vn còn ghi nh, vn tôn làm nhng bc tin phong cho hai thi k quc hc, là thi k hc Nho và thi hc Nôm.

Đài kỉ niệm dự định sẽ dựng theo lối An Nam và giao cho các kiến trúc sư bản xứ thiết kế. Tuy nhiên, bản vẽ được giải nhất cũng không được sử dụng vì thành phố Hà Nội cho rằng kiểu đó không có điểm nào mang nét mỹ thuật An Nam. Hội đồng này đã nhờ ông Phạm Quỳnh trình tâu lên vua Bảo Đại xin ban thưởng cho người vẽ được kiểu đài kỉ niệm phù hợp. Cuộc thi lại được đăng tải trên 2 tờ báo Pháp văn là L’Annam nouveau và La Patrie annamite và một số báo quốc ngữ nhưng cuối cùng cũng không mang lại kết quả nào khả thi. nh Internet, đài k nim không có Bia, khong năm 1957 Hà Ni.

Sau đó, cuộc họp Hội đồng thành phố ngày 31 tháng 5 năm 1934 đã thông qua việc cấp đất cho công trình kỉ niệm cố De Rhodes tại vị trí trước đó là Rạp Variétes (trước đó lại là Rạp Pathé – Rạp chiếu bóng đầu tiên ở Hà Nội). Đài kỉ niệm được thực hiện tại Hà Nội, ở góc phố Francis Garnier và phố Du Lac, đối diện đền Ngọc Sơn Năm 1934, Cucherousset qua đời. Số tiền trong tài khoản số 52186 với số tiền là 2.540,07 đồng vào cuối năm 1934, chuyển  cho tài khoản số 52782 đứng tên Thủ quỹ của Hội đồng.

Trong quá trình thi công đã xảy ra tranh cãi lớn. Lê Bá Cử cho rằng các bản vẽ do kiến trúc sư Luyện cung cấp theo kiểu Âu, chứ không theo kiểu bản xứ như đã thống nhất. Khởi động trở lại, sau hơn một năm, một nhà bia thiết kế hoàn toàn khác được khánh thánh[3]. Đó là tác phẩm của kiến trúc sư Joseph Lagisquet. Toàn quyền Decoux và nhiều quan chức Pháp và người Việt đã có mặt trong buỗi lễ khánh thành. Tờ Tạp chí Đông Dương (Indochine) đã cho ra mắt chuyên san số 41 ngày 16 tháng 12 năm 1941 gồm nhiều bài viết về Alexandre De Rhodes và sự kiện khánh thành nhà bia.

Đức cha Nguyễn Bá Tòng phát biểu nói về tiểu sử và tinh thần tông đồ cố Đắc Lộ, đấy chính là công nghiệp của ngài. Bỏ qua vấn đề tôn giáo, Đức cha Tòng nhấn mạnh rằng: Ta cũng công minh mà nhận cha De Rhodes là một bậc ân nhân của nòi giống Lạc Hồng. Cái công vĩ đi của ngài đối với con Rồng cháu Tiên, là ở chỗ đã đem học lực uyên thâm hợp với tài ng pháp mà cu to nên b ch Quc ng của chúng ta bây giờ[4].

Ngày 19/03/1627 Lễ Thánh Giuse, Cha Đắc Lộ ( Alexandre de Rhodes ) lần đầu tiên tới Đàng ngoài, đặt chân lên Cửa Bạng, Ba làng[5], Thanh hoá.

Đức[6] A-Lch-Sơn Đắc-L.                                                     

Sinh A-vi-nhông ngày 15 tháng ba năm 1591. Xut gia tu vào Dòng Tên (Gia-tô-Hi) năm 1612. Đi t thành Li-sơ-bon sang n-đ ngày mng bn tháng tư năm 1619. Đến Áo-môn ngày 29 tháng năm năm 1623. Ct sang truyn giáo Nht-bn, nhưng vì hi by gi x này cm truyn giáo, nên li được u sang Vit-nam. Trong khong t năm 1624 đến năm 1646 khi lưu trong Nam thuc v chúa Nguyn, lúc ngoài Bc dưới quyn chúa Trnh có hai ln K-ch là Hà-ni bây gi (1627-1630).

Người truyn giáo có kết qu ln-lao sau mun bo-tn cái kết qu y và mun dng nên thánh-giáo chc-chn cho giáo-đ Vit-nam. Người được phép Toà-Thánh cho đt các chc giám-mc chn toàn người Pháp (1652).

Khi phi ri b x Vit-nam, Người ly làm tiếc, nên có nói rng: Phn xác ta ri b đt Nam vi đt Bc, nhưng thc ra lòng ta vn quyến-luyến, nói cho đúng vn bàn-hoàn vi c hai nơi và ta chc rng không bao gi lòng ta li quên được hai x y.

Sau Người được c sang nước Ba-tư. Người mt Ích-ba-hán ngày 16 tháng mt năm 1660 hưởng-th by-mươi tui.

Người son ra nhiu truyn-kí đu din dch ra my th tiếng, và Người đã xut bn được quyn sách Bn và T-v tiếng Vit-nam, tiếng Bào-nha và tiếng La-tinh – là nhng sách bng tiếng Vit-nam dch âm theo ch La-tinh xut bn trước tiên nên tên Người cũng lưu-truyn vi cái công nghip phát-minh ra ch Quc-ng.

Bia Đá Cố Đắc Lộ (Ảnh Internet)

Có thể thấy các phát biểu trên đây huyên thuyên, không hẳn là sự thật lịch sử. Đó là những điu kin và hoàn cnh lúc bấy giờ với nền bảo hộ. Câu hỏi chính tại sao thực dân Pháp muốn lập Đài và Bia Đắc Lộ? Không lẽ chính phủ đô hộ Pháp quá quan tâm đến Quốc ngữ, hay để tuyên dương Cố A Lịch Sơn, nên đã dựng miếu và bia để vinh danh Đắc Lộ. Dẫn chứng trên đây cho biết, hội đồng thành phố Hà nội là của Pháp, dưới toàn quyền Decoux. Bonifacy chỉ là cái cớ, ông Feysal, với tư cách chủ tịch hội đồng, đã ca ngợi công lao trung tá Bonifacy, người đầu tiên có ý tưởng dựng đài kỉ niệm và ông Cocherousset, người tiếp nối ông Bonifacy … tôi nhc li rng, không có h, chc chn chúng ta không th t chc k nim và khánh thành công trình Alexandre De Rhodes ngày hôm nay. Bionifacy[7] là thực dân mũi lõ từng sống ở Việt nam 27 năm, lấy động lực nào để khởi xướng ý kiến lập đài kỷ niệm Đắc Lộ truyền giáo hay làm ra chữ quốc ngữ? H nói ông này yêu lịch sử Việt Nam quá chừng, bởi vì sao ông ta có thể được xem là fan của quốc ngữ! Nếu không phải cố Đắc Lộ đã cho in từ điển và kinh sách ở La mã, mà là một cố Bồ đã phát sinh hệ Latinh hoá quốc ngữ và quảng bá nó bằng sách liệu tháng 6 năm 1941, h có dựng bia tri ân Cố không?

Bia đá Đắc Lộ đến năm 1957 thì bị gỡ bỏ không hiểu duyên cớ là gì, và mất tích đến năm 1992 thì mới tìm lại được[8]. Không biết ai đã phá bỏ nhà bia này? Tấm bia đã từng làm đe ghè của mấy anh thợ khoá rồi làm bàn của bà bán nước chè chén, rồi lang thang phiêu bạt ra tận bờ sông Hồng. Vào thập niên 80 trên vị trí này chính phỉ Hà nội đã cho dựng tượng đài Cảm tử cho Tổ Quốc quyết sinh và rồi nhà bia đá đó đi vào quên lãng. Đêm ngày 9/10/1984, xe cẩu, công nhân kéo đến bia Alexandre de Rhodes rồi người ta dùng cần cẩu loại nhỏ cẩu tấm bia mang quẳng ra mép hồ xí nghiệp Cơ khí 204 ngoài đê sông Hồng.

Tấm bia nằm đó không lâu thì một ông xích lô ở ngõ Pháo Đài (…) phát hiện ra tấm đá to lại bằng phẳng liền gọi vợ con lại và nhờ đám bạn xích lô mang về lát chỗ rửa rau vo gạo. Được một thời gian, trong nhà có nhiều người đau ốm. Ông đi xem thầy và thầy phán là trong nhà có đồ thờ cúng lạ. Thế là ông lại đem tấm bia bỏ lại bờ đê, trước cửa nhà máy Nước đá.

Năm 1992, một chủ hàng cửa sắt là ông Nguyễn Việt Minh lên chợ Đồng Xuân mua vật liệu, đến đúng trước cửa nhà máy Nước đá Phố Trần Quang Khải, ghé xe vào gần bờ đê và vô tình ông thấy phiến đá phẳng bị cỏ phủ lên. Tò mò, lật đám cỏ ra và cỏ đất bám trên mặt ông giật mình vì đó là tấm bia Alexandre de Rhodes. Từng làm việc ở Bảo tàng ông hiểu nếu mang về nhà không kín đáo có thể bị kết tội chiếm đoạt di tích cho dù nó nằm ở bờ đê. Đêm muộn ông nhờ Hùng toét lái xe chở về và phải thuê cửu vạn bí mật khiêng vào đặt lên chỗ cống không có nắp. Không một ai trong khu nhà ông biết. Phần tiếng Pháp trên tấm bia đã bị bào mòn, nhưng phần chữ Việt thì còn nguyên…. Khi nghe tin Hội nghị Pháp ngữ tổ chức tại Hà Nội (1997), ông nhờ người báo cáo lên Bộ Văn hóa – Thông tin. Sau đó Bộ cử người xuống và mang đi, hiện nay, “tấm bia này đang được Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội lưu giữ chuyển giao cho Bảo tàng Hà Nội, năm 1995 được đặt ở Thư viện quốc gia.

Nguyễn văn Tố có hin din trong Lễ khánh thành và đọc din văn. Cụ Tố theo Việt minh Cộng Sản, nên tin nói, tên của Nguyễn Văn Tố Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ, gắn liền vào cái văn bia Đắc Lộ, nên nói cụ dựng bia để tôn vinh A.D.Rhodes đã sáng chế chữ Quốc ngữ. Tất nhiên chính phủ Hà nội rất bức xúc về tin tức này.

Nguyễn Văn Tố sinh ngày 05 / 06/ 1889, bút hiệu Ứng Hoè, quê ở tỉnh Hà Đông. Thuở nhỏ ông học chữ Hán, sau đó sang Pháp học, đỗ bằng Thành Chung, làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ (Hà Nội), chuyên về văn học Cổ Việt Nam. Ông từng làm Hội Trưởng Trí Tri – Hội Truyền Bá Quốc Ngữ trước năm 1945. Sau Cách Mạng Tháng 8, Ông theo Việt minh giữ chức Bộ Trưởng xã hội trong Chính phủ lâm thời, đại biểu Quốc Hội khoá I, quyền Chủ Tịch Quốc Hội khoá I, Quốc Vụ Khanh của Chính Phủ Liên Hiệp Quốc Dân. Ngày 19/12/1946, ông theo Hồ chí Minh cùng rút lên Việt Bắc. Trong một cuộc tấn công Ông bị Pháp bắt giết tại Bắc Cạn ngày 07/10/1947.

Ngày 25/5/1938, Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ được Pháp cho thành lập với các tên như Nguyn Văn T, Bùi K, Chủ tịch và Phó Chủ tịch; Phan Thành, Qun Xuân Nam, Bí thư, Phó Bí thư; Đặng Thái Mai[9], Võ Nguyên Giáp, Thủ quỹ và Phó Thủ quỹ; Hoàng Xuân Hãn, Nguyn Văn Huyên, Lê Thước, Cố vấn. Ảnh bên, hàng đầu, từ trái qua phải: Hoàng Trọng Phu, Chapouard, Grandjean và Nguyễn Văn Tố tham dự lễ khánh thành. Ảnh đăng Tạp chí Đông Dương. Nguồn Internet.

Rất sớm, khởi nghĩa Việt minh đã khởi động phong trào đả thông nạn mù ch. Từ năm 1945 họ đã huyên náo tổ chức những lớp bình dân hc v; đây cũng là một trong những mánh khoé tuyên truyền của chủ nghĩa Cộng sản. Thực dân Pháp cũng đã từng trải nghiệm qua các phong trào cổ võ bành trướng Quốc ngữ, mục đích chính yếu để xoá b chữ Nho và chữ Nôm, lấy Quốc ngữ trong chính quyền để thông tin, dùng báo chí sách vở để tuyên truyền cũng như quảng bá văn hoá Pháp. Pháp chính yếu chủ trương chính sách này ở thành thị, người Cộng sản đã tiêu thổ kháng chiến phá bỏ thành thị, họ chỉ cần bình dân học vụ thôn quê, với mục đích giúp mọi từng lớp đọc các khẩu hiệu, truyền đơn, sau này là báo chí, khẩu hiệu nhan nhản trên vách tường, từ đồng bằng lên đến thuọng du, … cũng giống mục đích của thực dân; tất nhiên, bên nào cũng nhấn mạnh khía cạnh m mang dân trí. Và, Bình dân học vụ cũng khiến người dân có khả năng đọc tuyền đơn Pháp thả khắp nơi bằng máy bay bà già!

Xin nhắc lại như trên đây đã viết, ngay từ năm 1938, Hội Trí tri Truyền bá chữ Quốc ngữ được Pháp cho thành lập có các tên tuổi thân Việt Minh / Cộng sản như Nguyễn Văn Tố, Bùi Kỷ, Đặng Thái Mai, Võ Nguyên Giáp,­­ Hoàng Xuân Hãn, Lê Thước, vân vân, … Cho nên Bình dân học vụ không phải là sáng kiến hay phát minh của Bác Hồ, như những tác giả ngôn ngữ, ồn ào trình bày ở Pháp và các nước khác trên mọi phương tiện truyền thông. Bây giờ trong nước có Bình dân học vụ, hc tiếng Anh và các ngoại ngữ khác. Tại sao bình dân phải học ngoại ngữ?

Từ nguyên Cụm Bình dân học vụ không gốc rễ từ Hán Nho, họ viết bình dân thc t ban, 平民识字班. Thức phồn thể 識nghĩa như tri thức 知識, kiến thức 見識, ý thức 意識. Tự chữ nho là 字, nghĩa Chữ. Như: đan t 單字 chữ đơn, Hán t 漢字 chữ Hán; hay danh tự, vv … Động từ Ban 班 nghĩa: Bày, trải ra, Ban phát, chia cho. Nôm na th t ban là bày tỏ ban phát cho biết chữ.

Còn hc v? Vụ đây là công việc. Bây giờ có cụm điệp ngữ v vic. Hán nho là 务 vụ hay 務 vụ đều bộ lực. Tự điển Hán Nôm chép: (Động từ) vụ là Chuyên tâm, chăm chú; Mưu lấy, truy cầu. Phó từ: Nhất thiết, cốt phải, tất dùng. Danh từ: Vic, công tác. Như: gia vụ 家務 việc nhà, công vụ 公務 việc công, sự vụ” 事務 sự việc, thứ vụ 庶務 các việc. Không thấy vụ trong tự điển Nôm. Từ ngữ Học chữ Nôm viết学U+5B66, học hành, học hiệu, học đòi. Tóm tắt viết theo chủ nghĩa Mác, bình dân học vụ: công tác hc dân gian.

Pháp chia lãnh thổ quốc gia Việt Nam[10]: thuộc địa cho miền Nam Việt Nam – lúc đó được đặt tên là Nam Kỳ thuc đabo h cho miền Bắc – Bắc Kỳ; và miền Trung – An Nam. Để củng cố quyền lực, chính quyền thực dân đã tổ chức dạy chữ Quốc ngữ trước tiên ở Nam Kỳ. Và sau đó là ở miền Bắc và miền Trung. Cũng tại đây, tờ báo đầu tiên bằng tiếng Quốc ngữ, Gia Định báo của Trương Vĩnh Ký ( Petrus Ký), được thành lập vào năm 1865.

Gia Định báo, có tên chữ Nho嘉定報, là tờ báo đầu tiên bằng Quốc ngữ, được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn[11]. Đây là phương tiện truyền thông đầu tiên hoàn toàn mới mẻ, làm cho tiếng Việt mới có cơ hội phổ biến trong dân chúng. Gia Định báo phát hành trong phạm vi vùng chiếm đóng của thực dân Pháp lúc đó là 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ. Gia Định báo có khổ 25x32cm và giá 0,97 đồng/tờ. Thời gian đầu, báo ra mỗi tháng 1 kỳ vào ngày 15 hàng tháng. Báo ra mỗi tháng 2 kỳ, rồi mỗi tuần 1 kỳ, tuy nhiên ngày ra báo của Gia Định báo không cố định, khi thì thứ ba, thứ tư, lúc lại thứ bảy. Số trang của Gia Định báo cũng không cố định, khi thì 4 trang, lúc 12 trang[12]. Ảnh Internet.

 Việc sử dụng chữ Quốc ngữ, bắt buộc trong chính quyền, theo sắc lệnh thuộc địa tháng 1 năm 1882, là dẫn chứng rõ lập trường người Pháp, huỷ bỏ trước tiên Hán-Việt-Ngữ, Chữ Nho[13] trong các phiên bản chính thức, sau đó là chữ Nôm, biến thể chủa Chữ Nho. Khi đô hộ Việt Nam, nhu cầu cấp bách của người Pháp là phải hủy diệt nền Nho học và thay thế bằng một hệ thống giáo dục phục vụ cho guồng máy cai trị.  Do đó, chiếm được Nam Kỳ xong là người Pháp lập tức khai tử nền giáo dục Nho học.  Năm 1864 là kỳ thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ (tổ chức ở ba tỉnh miền Tây trước khi bị Pháp chiếm). Từ 1878 chữ Hán trong giấy tờ công văn các cơ quan hành chánh được thay thế bằng chữ Pháp và chữ quốc ngữ.

Ngày 08/05/1861 Đô Đốc Charner ký nghị định thành lập trường Collège d’Adran để đào tạo thông ngôn người Việt và cho cả người Pháp muốn học tiếng Việt.  Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) được thiết lập ở Sài Gòn năm 1864, ở Hà Nội năm 1905.  Pháp còn thiết lập các Trường Hậu Bổ[14] (Apprenti Mandarin) ở Hà Nội năm 1903 và ở Huế năm 1911.  Đây là những bước đầu trong việc thiết lập một nền giáo dục của Pháp[15].

Trong thời kỳ phôi thai, Pháp thiết lập vài trường để làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục phổ thông là các trường trung học Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho từ năm 1879, trường Quốc Học Huế 1896 Lycée Khải Định, trường trung học Bảo Hộ (Collège du Protectorat) tức trường Bưởi Hà Nội 1908.

Để hạn chế ảnh hưởng của Hán học cùng với chữ Hán[16], chính quyền thuộc địa ban hành các nghị định để bảo hộ cho việc sử dụng chữ Quốc ngữ:

  • Ngày 22 tháng 2 năm 1869, Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bt buc dùng ch Quc ng thay thế ch Hán trong các công văn ở Nam Kỳ.
  • Ngày 6 Tháng 4 năm 1878, nghị định 82 được ký bởi Thống đốc Nam Kỳ Louis Charles Georges Jules Lafont, đề ra trong vòng bốn năm (tức tới năm 1882) thì phải chuyn hn sang chữ Quốc ngữ.
  • Ngày 1 Tháng 1 năm 1879, có lệnh khẳng định các văn kiện chính thức phải dùng chữ Quốc ngữ. Cũng trong năm này, chính quyền thuộc địa đưa chữ Quốc ngữ vào ngành giáo dục, bắt các thôn xã ở Nam Kỳ phải dạy chữ nà
  • Nghị định Ngày 14 Tháng 6 năm 1880, giảm hoặc miễn thuế thân và miễn sưu dịch cho các thân hào hương lý (người thân của Hương trưởng và Lý trưởng) nếu họ biết viết chữ Quốc ngữ.

Cho nên, chính phủ đô hộ lập bia tưởng lệ Cố Đắc Lộ rõ ràng: Người son ra nhiu truyn-kí đu din dch ra my th tiếng, và Người đã xut bn được quyn sách Bn và T-v tiếng Vit-nam, tiếng Bào-nha và tiếng La-tinh – là nhng sách bng tiếng Vit-nam dch âm theo ch La-tinh xut bn trước tiên nên tên Người cũng lưu-truyn vi cái công nghip phát-minh ra ch Quc-ng.

Nhưng tước tiên Đắc Lộ nhắc trên Bia dẫn ở trên, là công nghiệp của một Cố Đạo truyền giáo: Người truyn giáo có kết qu ln-lao sau mun bo-tn cái kết qu y và mun dng nên thánh-giáo chc-chn cho giáo-đ Vit-nam. Người được phép Toà-Thánh cho đt các chc giám-mc chn toàn người Pháp (1652). (sic)

Từ cuối thế kỷ 17 trở đi, giáo hội Pháp đã có vị trí độc tôn truyền giáo ở Việt Nam, với toàn giáo mục người Pháp như ghi trên bia (sic). Dữ kiện lịch sử này sai lm xin xem phần dưới; do Bồ đào Nha suy yếu và mất thế lực lớn ở Toà thánh Vatican. Lịch sử có thể xem đây là nền móng khởi thuỷ thực dân Pháp chiếm và đô hộ Việt Nam ở thế kỷ 19 hay không, theo luận điệu những người tự cho là trí thức học giả của chính phủ Hà nội. Và thực dân Pháp làm bia tưởng mộ Cố Đắc Lộ là vinh danh một công thn. B hp trí tu đưa đến những sai lầm ấu trĩ về nhận xét và phê bình lịch sử.

Xin khẳng định Cố A Lịch Sơn Đắc Lộ không bao giờ cu khn hay án ghép chính phủ Pháp đưa quân đi xâm lược Nam Kỳ năm 1862. Đắc Lộ khởi hành từ Rome đi Viễn Đông năm 1618; ba mươi năm sau Cố mới trở về thành phố Gêne bên Ý, rồi sau đó qua Pháp. Như vậy Pháp đi đô hộ Đông Dương hơn hai thế k sau, so với hành trình trở về Âu châu của Cố. Trường hợp Giáo sĩ thực dân Bá Đa Lc với Chúa Nguyễn Ánh hoàn khác biệt.

Các tác giả dưới Chính phủ Cộng hoà Xã hội hiện tại, dẫn chứng những trang cuối của sách mà tác giả là Cố Đắc Lộ, Voyages et Missions du P. Alexandre de Rhodes en la Chine & autres Royaumes de l’Orient; Hành trình và sứ mệnh của Cha Alexandre de Rhodes ở Trung Quốc và các Vương quốc khác phía Đông, để nói Đắc Lộ là tay sai đưa Pháp đô hộ Đông dương. Với bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên[17], có ký tên là Linh mục.

Họ tra cứu:

C’est en chemin de Lyon jusqu’à Paris, où j’ai … Xin xem tiếp Pháp ngữ trang 436  Sđd ảnh kèm đây.

Trên đường t Lyon ti Paris tôi nghim thy có s quan phòng rt đc bit ca Chúa tôi vn coi như kim ch nam và mu mc. Ð ra mt Pháp tôi cn có thiên thn h vc đ đưa tôi lt vào triu đình vua cao c nht hoàn cu. Thế là tôi gp Roanne đc Henri de Maupa, giám mc thành Puy, tu vin trưởng Saint Denis, đ nht tuyên úy ca Hoàng hu. Ngài có nhã ý cùng đi vi tôi trong cuc hành trình nh bé này. Trong mười lăm ngày, tôi thy nơi ngài rt nhiu nhân đc và thương yêu, sut đi tôi, tôi quí mến công ơn và s đ cao cuộc hi ng may mn nht trong sut các hành trình ca tôi”. (đu tr. 264).

Và… Với sự giúp đỡ của Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của Hoàng hậu, ông đã vào tiếp kiến Hoàng hậu và Vua Louis thứ XIV nước Pháp để đề đạt nguyện vọng của mình như ông đã viết như sau trong cuốn sách nói trên.

Đức Ông Đắc Lộ không bao giờ nói đến trong hồi ký của mình đã vào tiếp kiến và xin my lính chiến. Chỉ là một xuyên tc vô căn c!

Và để kết luận:

“Tôi tưởng nước Pháp là mt nước đo đc nht thế gii, nước Pháp có th cung cp cho tôi mấy lính chiến đi chinh phc toàn cõi Đông phương, đưa v qui phc Chúa Kitô và nht là tôi s tìm được các giám mc, cha chúng tôi và thy chúng tôi trong các giáo đoàn. Vi ý đó, tôi ri b Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi ti hôn chân Đức Giáo hoàng” (cui trang 263) .

Hà Nội … Tất nhiên ta phải hiểu rằng không phải triều đình Pháp giao mấy tu sĩ, mà nhiều lính chiến cho ông mang đi, mà họ sẽ cùng ông đi chinh phc toàn cõi Đông phương, hay nói khác hơn, ông đề nghị nước Pháp hãy mang quân đi xâm lược các nước đó, trong đó có Việt Nam và kết quả như ta thấy việc đó về sau đã trở thành hiện thực (sic).

Ôi thôi hoặc là kém hiểu biết, hay là tuyên truyền xuyên tạc, kết luận phe phái phía Hà nội là sai lầm khó tưởng tưởng. Trang 435 và 436 SĐD: … me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout l’Orient, pour l’assujettir à Jesus-Christ … xem tiếp ảnh dưới đây.

Dòng Tên hay la Compagnie de Jésus thánh I Nhã sáng lập không giống như các Dòng Ky Tô giáo khác, họ là đi quân đng hành của Chúa Giêsu mà chỉ huy tối cao là Đại Tướng le général. Trang 6 sách đã dẫn, Cố Đắc Lộ viết:

J’en présentai un mémorial au R. P. Claude Aquaviya, notre général; puis je continuai au R. P. Mutio Yiteïïeschi, son successeur, les quatre années de ma théologie, recommandant continuellement cette affaire à Dieu. Tôi đã bày t li tóm tt ti R. P. Claude Aquaviya, v tướng ca chúng tôi; sau đó tôi tiếp tc bn năm thn hc ca mình vi R. P. Mutio Yiteïïeschi, người kế nhim ông, liên tc đ xut vn đ này vi Chúa. Vậy thì khi Cố viết … me fournirait plusieurs soldats … Soldats đây hiểu theo nghĩa chiến sĩ của đội quân đồng hành của Chúa Giêsu. Bản dịch của Nguyễn Khắc Xuyên không thiếu sót, nhưng sai, không rõ ràng khi dịch Pháp ngữ plusieurs soldats thành my

Tuy nhiên trong nước sau này, Chương Thâu trình bày rõ hơn trong bài T Mt Câu Ch Ca Alexandre de Rhodes (sic) Đến Các Dn Dng Khác Nhau. Theo bài viết nầy thì trong cuộc hội thảo tháng 3 năm 1993 nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Giáo Sư Sử Học Đinh Xuân Lâm và lính chiến, để bị cố tình hiểu lầm: … , nước Pháp có th cung cp cho tôi mấy lính chiến đi chinh phc toàn cõi Đông phương, đưa v qui phc Chúa Kitô. Khổ thay[18]! lính chiến, để bị cố tình hiểu lầm: … , nước Pháp có th cung cp cho tôi mấy lính chiến đi chinh phc toàn cõi Đông phương, đưa v qui phc Chúa Kitô. Khổ thay[19]! Giáo Sư Chương Thâu đã đồng ý với Linh Mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch cụm từ plusieurs soldats là my chiến sĩ chứ không phải lính chiến, và còn chú thích, chiến sĩ ở đây được hiểu là lính tha sai tức là các giáo sĩ chứ không phải lính chiến là các người có súng để đánh giặc. Vì việc dịch sai lầm nên mới đưa đến có kiến nghị phục hồi vị trí cho Cố A. de Rhodes.

Vả lại plusieurs soldats hay my chiến sĩ; plusieurs / my là số nhiều, nhưng ít, làm sao có khả năng chinh phc toàn cõi Đông phương!

Tiến sĩ Roland Jacques, người mà tiếng mẹ đẻ là Pháp ngữ, cũng từng viết về đề mục trên: Chúng tôi s đ cp đến li phê phán này… và không tranh cãi theo tiên kiến ý thc h, nhưng da vào nhng ngun tài liu đang có. S thc thì Alexandre de Rhodes đôi khi đã dùng mt li nói bóng by trong các tài liu ông đã xut bn: Tôi đã nghĩ rng Pháp quc vn là vương quc sùng đo nht trên thế gii, hn có th có th cung ng cho tôi nhiu chiến sĩ lên đường chinh phc toàn Ðông phương, đ đưa v Chúa Giêsu Kitô, và đc bit tôi mong x y giúp tôi có được nhng giám mc, là nhng bc làm cha, làm thy ca chúng tôi trong các giáo hi y … Thế mà có nhng bc hc gi cp đi hc tng gii thích các hình nh t d trong ngôn ng sùng đo chiến sĩ theo nghĩa đen ca chúng!

Wikipedia tiếng Việt nhận xét: Tuy nhiên trên thực tế, cách dùng từ ngữ trong đoạn văn trên đề cập đến việc truyền giáo. Việc c tình diễn giải thành ý đ xâm lược là một suy luận chủ quan võ đoán thể hiện lập trường hận thù tôn giáo.

Ngoài Nhà Nghiên cứu lịch sử (sic) Nguyễn đắc Xuân[20] và Bùi Kha là hai người kết tội Cố Đắc Lộ cách phỉ báng lố bịch không bằng chứng và khắt khe, năm 1998, nhà xuất bản Giao Điểm tại Hoa Kỳ, lại dẫm lên bệnh nặng nói ở trên, tung ra cuốn Alexandre de Rhodes người đu tiên vn đng Pháp chiếm Vit Nam và ch quc ng. Cuốn sách có nhiều bài của nhiều tác giả khác nhau, nhưng tựu trung đều nhắm kết án linh mục Đắc Lộ đã dọn đường cho thực dân Pháp chiếm Việt Nam và phủ nhận công trình của linh mục trong việc cải tiến chữ quốc ngữ. Lập luận của họ căn cứ trên bản dịch quyển Thiên hồ Đế hồ của Phan Bội Châu và một đoạn tường trình của linh mục Đắc Lộ trong  SĐD Divers Voyages et Missions Các Hành trình và Sứ mệnh.

Đặc biệt trên Nét Giao điểm, có bài Công giáo chính s – Xung quanh vn đ Thiên Chúa giáo vào Vit nam – Một Khảo Luận Qua Các Tài Liệu Lịch Sử[21], Trần Chung Ngọc đem các tài liệu lịch sử không đứng vững để thiết lập quan điểm: Với kiến thức của thời đại ngày nay thì chúng ta có thể nói rằng lịch sử truyền đạo của Ca-tô Rô-ma Giáo [Công Giáo] là lịch sử truyền đạo của những giáo sĩ thừa sai kém hiu biết, mê tín, (sic) tin vào những điều nhảm nhí hoang đường  trong cuốn Kinh của Ki Tô Giáo mà ngày nay đã không còn bất cứ một giá trị nào, những người đã mang sự yếu kém trí tu và mê tín của mình để đi mê hoặc những đám dân cùng đinh trong những quốc gia kém phát triển về kỹ thuật nhưng vượt trội Tây phương về vấn đề tín ngưỡng và tâm linh, …

Sự việc Cố Đắc Lộ, trong những diễn biến đã dẫn, không lúc nào có ý niệm đem Pháp viễn chinh Việt Nam vào những thi đim 1652-1654, pháp lý Cố không phải quốc tịch Pháp mà là dân Avignon, thần dân của Vatican và dưới sự bảo trợ vương miện Bồ; tuy nhiên, nhìn nhận giá trị và vai trò khoa học trong các tác phẩm truyền giáo đầu tiên không thể chỉ xem xét mặt tích cực của công cuộc truyền giáo, thậm chí rơi vào trạng thái đi kể chuyện các Thánh[22]. Ghi nhận sự đóng góp của các nhà truyền giáo cho Việt Nam không có nghĩa là bỏ qua những mặt tiêu cực, quốc ngữ đã đưa văn hoá Chữ Nho và Nôm vào bóng tối, Việt Nam mất đi một phần gia tài mà tiền nhân đã để lại. Ruồng bỏ các văn hoá này có từ thời kỳ Nam Phong tạp chí, qua Cộng Hoà rồi đến Chính phủ Hà nội ngày nay. Thức tỉnh chỉ có thể xảy ra nếu Chữ Nôm / Nho có trong các giáo khoa thư cùa nền Giáo Dục.

Mặt khác truyền Ky Tô giáo, theo Phép Giảng Tám Ngày trang 104 – 120; lật đổ Nho giáo, đả phá Lão giáo Phật giáo và thờ cúng Ông Bà; chưa kể xuyên tạc phỉ báng, đưa đến xung đột với Phật giáo một thời đã là Quốc giáo ở Việt nam. Khuyến khích hay vinh danh tử đạo quá l cũng là hình thức quá khích tựa như giáo chiến croisades. Nói cho đúng lập Quốc ngữ qua truyn giáo cách quá khích cũng có tội! Mặt khác, không có Quốc ngữ thì tiến hoá evolutions, văn minh, xã hội, khoa học, nhân chủng, … của Việt Nam phải theo một chiều hướng khác, như ở các láng giềng Đông Nam Á, Nhật bản, Cao Ly, Thái, Đông Dương Lào Xiêm, những nơi quốc ngữ của họ không mở mang trên mẫu tự La Tinh. Lại nữa văn hoá Nôm tr thành Quốc ngữ Latinh-hoá Việt Nam mà. Các giáo sĩ dùng cách biu âm chữ Nôm để mu t Latinh theo đó mà thành hình.

Phép Giảng Tám Ngày, Ngày th Bn, trang 104-105 (Wikisource). Xin xem thêm ở phần dưới.

Ln lo tiếng nói đŏạn thì mi ra nước đi minh, mà Annam thi chi đo bi nưoc ếy: u khì ln lo tiếng nói đŏạn, mà đi minh phi mt tiếng nói tlao đo tht, x mà li chng còn có kinh truyèn đo tht, y thì phi phân ra nhu đo vy : z như th k lc đàng tht, thì lc đi nhu đàng, mà nhng đàng vy. (a) Sao le đi minh bn thì có phân ra ba đàng c, nhng vy: (b) chng k nhu đàng tiu mn khác, cù vy y: (c) đàng th nhít, là đàng v k k hay ch, gi là đo Nhu: (d) đàng th hai, là đàng k th qu, mà làm vic đi, gi là đo đo : (e) đàng th ba là đàng k th bt, gi là đo bt. (f)…

Lộn lạo tiếng nói đoạn, thì mới ra nước Đại minh, mà Annam thì chịu đạo bởi nước ấy. Khi lộn lạo tiếng nói đoạn, mà Đại minh phải mất tiếng nói trong đạo thật, mà lại chẳng còn có kính truyền đạo thật, thì phải phân ra nhiều đạo vạy. Như thể kẻ lạc đàng thật, thì lạc đi nhiều đàng, mà những đàng vạy. Song le Đại minh vốn thì có phân ra ba đàng cả, những vạy chẳng kể nhiều đàng tiểu mọn khác, cũng vạy vậy. Đàng thứ nhất là đàng về kẻ hãy chữ, gọi là đạo Nho. Đàng thứ hai là đàng kẻ thờ quỷ, ma làm việc dối, gọi là đạo Đạo. Đàng thứ ba là đàng kẻ thờ bụt, gọi là đạo Bụt.

Trích các trang tiếp theo trang 105:

… Vì vy ông Khng T, là k Đại minh ly làm thy nht, trong sách thì gi đo bt nhng đo r mi vy.

… Lão T y. Giáo này thì th ma qu mà làm nhng phép gi, cùng chng có th Lão T y st, nhưng ti tăm mù mt vy.

… Ví bng có ly ông Khng trước mt người ta mà chng cóphân vua làm vy, thì có ti, vì chưng k ngoài đo thì ng là k có đo, khi ly ông Khng, mà chng có phân vua trứơc, có ly ông Khng như Đức Chúa tri, vy k ngoài đo càng tin s di na.

… Vy thì ta làm cho Thích Ca, là thng hay di người ta, ngã xung, thì mi truyn di trong đo bt bi Thích Ca mà ra, có ngã vi thì đã t.

… Song le s luân hi Thích Ca by đt phn đo ngoài, thì là s cười chc. Vì chưng ví bng ta đã đi trước, mà sao chng có mt ai còn nh s đi trước y? Vì vy tht là Thích Ca bày đt di trá vy …

… Song le cũng phi hay, khi linh hn ta đã khi xác tht này, chng còn có dùng ăn ung hay là mc, cùng các k s vê xác, vì linh hn ta là tính thiêng liêng. Mà người Annam mi linh hn ăn ca xác thì li xa … Vì vy Annam thì vô phép, mà mt lòng cha m lm … Li người Annam càng vô phép, mà như th cười nho cha m, khi đã sinh thì, mà dùng nhng giy làm nhà, cùng áo, tin vàng bc,và các ký s v, mà cúng cha m.

Thế nhưng, chúng ta phải đọc những cứ liêụ trên trong môi trường truyền giáo thế kỷ 17 ở Việt Nam: Đắc Lộ một giáo sĩ, thẳng tay nhạo báng nguyền rủa Tam Giáo, Nho-Thích-Đạo 儒释道 (Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo), dọng điệu quả thật quá đáng, không đúng lễ mực truyền thống Việt Nam. Đây là một khuyết điểm lớn lịch sử của Đắc Lộ.

Người Triều Tiên – Hàn Quốc phiên âm theo kiểu bám sát âm Hán[23], hậu quả là thừa kế tình trạng tồn tại quá nhiu ch đng âm trong chữ Hán; bởi vậy sau 7 thế kỷ dùng chữ Hangul, cho tới nay họ vẫn phải dùng chữ Hán để ghi chú các chữ đồng âm. Người Nhật đọc chữ Hán theo nghĩa tiếng Nhật, không theo âm tiếng Hán –– cách phiên âm này khiến cho ban đầu họ phải dùng hàng chục nghìn chữ Hán, làm cho tiếng Nhật thời cổ trở nên cực kỳ phức tạp. Về sau họ làm ra chữ Kana biểu âm, nhờ thế chỉ còn cần dùng khoảng 2000 chữ Hán.

Chữ Nôm cũng là dạng dùng chữ Nho, tức đọc (hay nói) Hán ngữ bằng Việt âm, Vit hóa phn ng âm Hán ấy là chữ Nho, để thể hiện viết tiếng Việt nói. Dùng chữ Nôm để đi đến ngữ học tương tự như chữ Hangul hay Kana, rất khó; tiếng Việt có quá nhiều âm thể so với Hàn ngữ hay Nhật ngữ. Ảnh bên, một bính âm yi có đến 135 chữ Trung đồng âm, Nôm tự theo âm đó có cả chục chữ khác nhau. Dựa trên chữ Nho để viết tiếng nói Việt, là chữ Nôm. Mẫu tự hoá La tinh tiếng nói Việt, là chữ Quốc ngữ!

Hán tự là chữ biu ý ideograph; người Tàu đọc tiếng Hán theo hàng trăm phương ng khác nhau. Nôm tự là vừa biu ý va biu âm. Biểu ý lấy từ chữ Nho, biểu âm là tuỳ sáng tác. Không có luật lệ hay ngữ phạm rõ rệt trong phần sáng tác. Lúc xưa ta hay nói, chữ Nôm vừa đọc va đoán, mức chính xác ghi âm tiếng Việt nói thấp, khó tiêu chuẩn hoá; một âm có khi cần nhiều chữ. Mà tiếng Việt lại qúa nhiều âm tiết, nên cần cả chục ngàn chữ Nôm để phát âm đầy đủ tiếng Việt[24]. Chữ Nôm từng được gọi là Quc âm, là vì thế (một loại Quốc âm Giáo khoa thư!). Nhưng do cấu tạo trên nền tảng chữ Hán nên chữ Nôm phụ thuộc vào chữ Hán, khó học, phải biết chữ Nho mới học được chữ Nôm, khó phổ cập. Chữ Việt không thể có các ngữ tự kiểu Hangul Triều tiên kay Kana Nhật bản.

Tại miền Nam, Giáo dục Việt Nam Cộng hòa quy định dạy chữ Hán cho học sinh trung học đệ nhất cấp. Tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chủ trương dạy chữ Hán và chữ  Nôm, nhưng có sử dụng chữ Hán với chữ Nôm ở một số thời điểm (đồng tiền lưu hành của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có in chữ Hán, không phải chữ Nôm, đọc từ phải qua trái. Ảnh Internet.). Khi đất nước thống nhất, chương trình giáo dục phổ thông của nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không giảng dạy chữ Hán và chữ Nôm[25].

Đội quân Chúa Giê Su Jesuits với Khổ hạnh vâng li, lời khấn thứ 3 này rất quan trọng. Phần thứ sáu của Hiến chương Dòng Chúa Giêsu, liên quan đến đời sống cá nhân của các thành viên, đề cập đến các lời khấn – khó nghèo, khiết tịnh và vâng phc – là trọng tâm của đời sống tu trì Kitô giáo. Chương đầu tiên nói về sự khiết tịnh và vâng phục. Để minh họa sự vâng phục khổ hạnh hoàn hảo mà Dòng Tên được kêu gọi, thánh I-nhã sử dụng hình ảnh truyền thống: Mỗi người sống dưới sự vâng phục hãy tự thuyết phục mình rằng họ phải để mình được Chúa Quan Phòng dẫn dắt và hướng dẫn qua các Bề Trên, như thể Chúa Quan Phòng hướng dẫn họ, vâng phục như một xác chết perinde ac si cadaver esse(n)t, …

Perinde ac si cadaver, nghĩa đen là ging như mt xác chết. Vâng lời cách tuyệt đối. Đây là công thc thánh hiến đặc trưng cho sự tuân phục tuyệt đối của các tu sĩ Dòng Tên đối với Đức Giáo Hoàng. Một nguyên tắc nền tảng của trật tự đã khiến Dòng đồng hành Chúa Giê Su chấp nhận không hề nao núng trước sự giải tán, thuần túy và đơn giản, của Giáo Hoàng Clement XIV vào cuối thế kỷ 18. Ngôn ngữ Cố Đắc Lộ có: chiến sĩ soldats, thợ ouvriers, người lao động travailleurs, … để chỉ các giáo sĩ của Dòng.

Cuộc họp 115 hồng y trong mật nghị ở Rome đã bầu ra Jorge Mario Bergoglio, một tu sĩ Dòng Tên. Đây là lần đầu tiên một thành viên của giáo đoàn có ảnh hưởng này trở thành giáo hoàng, nhưng đây cũng là một bước ngoặt đẹp đẽ trong Lịch sử. Vào thế kỷ 18, Vatican đã đơn giản đàn áp cái được gọi là Hội Chúa Giêsu. Tu sĩ Dòng Tên là một tôn-giáo-sĩ – religieux, cam kết sống theo lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Mục tiêu của những lời khấn này là sẵn sàng phục vụ Giáo hội, tự do giúp đỡ người khác gặp gỡ Thiên Chúa. Đủ để nói rằng với việc Jorge Mario Bergoglio đắc cử, Dòng Tên đã trả thù Lịch sử. Được thành lập dựa trên sự phân định, Dòng Chúa Giêsu đã trải qua những ngày vinh quang vào thế kỷ 16. Vào thời điểm đó, các tu sĩ Dòng Tên đã kim chế đo Tin lành châu Âu, phát triển mạng lưới các trường cao đẳng và đi đầu trong việc truyền giáo ở châu Á và châu Mỹ Latinh.

Nhưng những tranh cãi của họ với các trường phái tư tưởng khác đã khiến họ sụp đổ. Chẳng hạn, sự cạnh tranh khét tiếng của họ với các tu sĩ Đa Minh vào đầu thế kỷ 18 đến mức Giáo hoàng phải áp đặt sự im lặng cho cả hai bên. Mối quan hệ của họ với các tu sĩ dòng Phanxicô cũng không tốt hơn là bao. Hơn nữa, lòng trung thành vô điều kiện của họ với Tòa Thánh khiến họ bị các quốc vương Âu châu, đang tìm kiếm chủ nghĩa chuyên chế, nghi ngờ. Và từ năm 1760, họ bị trục xuất khỏi Bồ Đào Nha, Pháp rồi Tây Ban Nha. Hoàng gia Bourbons bên Pháp gây áp lực trực tiếp lên Giáo hoàng để đàn áp Công ty Chúa Giê Su. Số phận của họ đã đầu độc mật nghị năm 1769 và hướng dẫn các cuộc thảo luận. Vị giáo hoàng mới, Clement XIV, đã ký vào năm 1773 bản tóm tắt Dominus ac Redemptor nhằm hoàn toàn giải tán Dòng Chúa Giêsu trên toàn thế giới.

Đức Piô VII đã thực hiện việc khôi phục toàn diện Tu hội bằng cách ban hành sắc lệnh Sollicitudo omnium ecclesiarum vào năm 1814, nhờ những diễn biến chính trị quan trọng đang lan rộng khắp Châu Âu. Ngày nay, chỉ có khoảng 20.000 tu sĩ Dòng Tên trên khắp thế giới, một phần ba trong số đó đến từ Nam Mỹ, nơi Đức Phanxicô I đã tu tập.

Vào đầu thế kỷ 17, thúc đẩy bởi cuộc Phản Cải cách của Công giáo[26], la Contre-Réforme catholique, Tu hội Chúa Giê Su đã trải qua sự phát triển vượt bực. Từ năm 1579 đến 1615, số tỉnh dòng tăng từ 21 lên 32, số trường cao đẳng từ 144 lên 372 và số linh mục từ 5.165 lên 13.112. Hơn nữa, vào năm 1622, Tu hội đã đạt đến đỉnh cao vinh quang vì trong số năm vị thánh được phong thánh năm đó, có hai vị là tu sĩ Dòng Tên: Ignatius Loyola, người sáng lập Tu hội, và Francis Xavier, nhà truyền giáo đồng hành đầu tiên của ngài.

Năm 1529, tại Đại học Paris, Ignace de Loyola, một người Basque Tây Ban Nha[27], bị què vì chiến tranh, kết bạn với một sinh viên Savoyard, Pierre Favre, và một nhà quý tộc trẻ người Basque, François-Xavier, mong muốn cống hiến cuộc đời mình cho Đấng Ky Tô. Nhà quý tộc xứ Basque và nhà lãnh đạo quân sự với một tương lai đầy hứa hẹn, Ignace de Loyola, bị gãy chân trong khi quân Pháp-Navarrese của Francis I chiếm Pamplona, ​​tám năm trước, tháng 5 năm 1521. Tai nạn này buộc Ngài phải rời quân đội và dành năng lực của mình để phục vụ đức tin. Đây là cách ông phát triển các bài tập tâm linh (xin xem bài viết Linh thao Mặc khải BT- NQB) nhằm rèn luyện cơ thể và tâm trí. Khi Cơ đốc giáo vào thời điểm đó bị lung lay bởi cuộc Cải cách của Luther, nhóm de Loyola đã đề nghị phục vụ Giáo hoàng, đây chính là cách Hiệp hội Chúa Giêsu hay Dòng Tên được thành lập. Các thành viên tu sĩ Dòng Tên, là những linh mục thực hiện lời khấn tu viện (khiết tịnh, v.v.) cũng như vâng phục giáo hoàng và bề trên của họ. Do năng lực trí tuệ và k lut quân s của họ, Dòng Tên trở thành cánh tay vũ trang theo nghĩa bóng, của giáo hoàng, góp phần vào sự tiến bộ của giáo dục và truyền bá đạo Công giáo đến tận cùng thế giới, cải đạo nhiều người Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản.

Thánh Inhã Ảnh Internet

Trên Net Jésuites viết: Chúng tôi, Dòng Tên (Tên đây hiểu là tên Giêsu), là một dòng tu của Giáo hội Công giáo La Mã. Từ Dòng Tên, Jésuite, xuất phát từ tên Chúa Giêsu. Dòng Tên là những người bn đng hành của Chúa Giêsu. Theo truyền thống của Thánh Ignatius Loyola, chúng ta theo Chúa Giêsu Kitô. Biểu tượng của Dòng là chữ lồng IHS, ba chữ cái đầu tiên của tên Chúa Giêsu bằng ký tự Hy Lạp. Nó cũng có thể được đọc là Iesum Habemus Socium: Chúng ta có Chúa Giêsu là Bạn Đồng hành.

Cam kết với đức tin và công lý, đối thoại với các nền văn hóa khác nhau và tìm kiếm sự hòa giải – đặc sủng này của Dòng chúng ta phù hợp hơn bao giờ hết. Cuộc sống của chúng tôi được truyền cảm hứng từ linh đo Ignatiô, spiritualité ignatienne. Chúng ta muốn làm cho nó có kết quả cho người khác. Được thành lập vào năm 1540, Dòng Chúa Giêsu ngày nay có 14.839 thành viên, trong đó có 10.721 linh mục, 894 tu sĩ, 2.593 tu sĩ trẻ Dòng Tên đang đào tạo và 631 tập sinh (thống kê ngày 01/2021). Chữ viết tắt sj đằng sau tên của dòng viên Dòng Tên có nghĩa là Societas Jesu, trong tiếng Pháp là Đồng hành của Chúa Giêsu. Giám đốc FAR Foyer d’Alexandre de Rhodes, Cư xá Sinh viên Đắc Lộ thuở xưa, ỏ Sài Gòn, ký Henri Forest sj.

Dòng Chúa Giêsu được lãnh đạo bởi một Bề Trên Tổng Quyền, thường được gọi là le Général, đại tướng của Dòng. Kể từ năm 2016, người đó là Cha Arturo Sosa sj, một tu sĩ Dòng Tên đến từ Venezuela. Được các thành viên của Tổng hội bầu chọn, ngài điều hành toàn thể Dòng. Về mặt lịch sử, ông được bầu suốt đời, à vie giống như Giáo Hoàng; nhưng Tổng hội 31 đã chấp nhận khả năng từ chức. Các cố vấn và cộng tác viên thường trực của nó thành lập Trung ương Giáo triều, giống như Bề trên Tổng quyền la Curie générale, có trụ sở tại Rome.

Cố Alexandre de Rhodes sinh ra ở Avignon vào ngày 15 tháng 3 năm 1591[28], trong một gia đình buôn lụa, gốc Do thái, xuất thân từ làng Calatayud ở Aragon. Những người Marranos này chạy trốn khỏi Tòa án Dị giáo để ẩn náu ở Avignon[29], les marranes ont fui l’inquisition, lúc đó là vùng đất của Giáo hoàng có chào đón người Do Thái. Giống như nhiều người đứng đầu các gia đình Do Thái chuyển sang Công giáo, cha của Đắc Lộ đã chọn đổi họ Rueda thành Rode, sau đó là de Rode và cuối cùng là de Rhodes. Rueda có nghĩa là rouelle, đĩa nhỏ màu đỏ mà người Do Thái phải đeo trên quần áo từ thế kỷ 13. Năm 1609, ở tuổi 18, Alexander xứ Rhodes đến Rome. Ngày 14 tháng 4 năm 1612, ông gia nhập Dòng Chúa Giêsu, dòng Tên. Tại đây, cố  hoàn thiện kiến ​​thức về các ngôn ngữ cổ (tiếng Latin, tiếng Hy Lạp và tiếng Do Thái), học tiếng Ý và nghiên cứu toán học. Ngài gia nhập Dòng Chúa Giêsu, như ngài đã nói trong các bài viết của mình, với ước muốn cống hiến hết mình cho việc hoán cải những kẻ ngoại đạo, les infidèles.

Hai tác giả, Trần Duy Nhiên Saigon Roland Jacques Canada[30]: Rhodes không phi là người Y Pha Nho (Tây Ban Nha). Hay Y Pha Nho gốc Do Thái theo một vài dị bản, ấy là truyền thuyết mà vài tác giả đề ra. Truyền thuyết này đã bị phủ nhận qua những nghiên cứu chiều sâu mà Michel Barnouin[31] thực hiện khi tra cứu các văn kiện lưu trữ của thành phố Avignon. Một trong các ông tổ của Rhodes hẳn là đến từ Aragon; riêng Alexandre de Rhodes thì lại là một người dân Avignon và dòng họ của ông theo Công Giáo từ nhiều thế hệ trước. Nước này chẳng dính dấp gì đến sự nghiệp của Rhodes. Rhodes cũng chẳng phải là một người Pháp. Ông không ra đời trên nước Pháp. Vào thời ấy, Avignon là một là một lãnh thổ của Giáo Hoàng, và vùng này chủ yếu nói thổ ngữ Provençal, dù cũng có nói tiếng Ý và tiếng Pháp. Tiếng Provençal thì khác tiếng Pháp. Rhodes viết tiếng Pháp rất kém (sic) nên rất ít khi viết, như Michel Barnouin đã cho biết.

Rhodes học tại Rôma. Ở đấy, tiếng La Tinh là ngôn ngữ chính tại học đường, và trong đời sống hàng ngày thì người ta thường dùng tiếng Ý. Khi Rhodes sang Á Châu (Goa, Macao v.v) thì trước đó ông đã gia nhp hoàn toàn vào Dòng Tên Bồ Đào Nha. Ông đã học tiếng Bồ Đào Nha, và ngôn ngữ này trở thành ngôn ngữ chính để làm việc. Những văn bản của ông hầu hết được viết bằng tiếng La tinh hay tiếng Bồ Đào Nha.

Về tên Alexandre: Thông lệ trong tiếng La Tinh, tiếng Ý và tiếng Bồ Đào Nha – một thông lệ mà hiện nay vẫn còn thấy ở Ý và Bồ Đào Nha – ấy là dch tên của một người ra ngôn ngữ mà mình sử dụng; cũng giống như đối với Giáo Hoàng: Benedictus, Benedetto, Benedict, Bento, Benoît, Bênêđitô … Như vậy tự nhiên và hiển nhiên là Rhodes cũng như những ai viết cho ông hay viết về ông đều thay đổi chính tả, tùy theo trường hợp: Alexandre, Alexandro, Alessandro, Alejandro hay Alexander, và theo tiếng Hán Nôm là Á-lịch-san. Trong những văn bản bằng tiếng Pháp hay tiếng Bồ, Rhodes luôn ghi là Alexandre, vì đó là dạng đúng cho hai ngôn ngữ ấy. Từ đấy, không thể rút ra được một điều gì cả về tên của ông khi thấy một bản văn mà ông ghi là Alexandro: đấy chỉ là một trong các biến thể của tên ông.

Họ của ông là Rhodes hay de Rhodes thì cũng ở trường hợp tương tự. Ví dụ, trong Wikipedia tiếng Pháp, ta đọc ở mục particule onomastique, chữ đệm trước họ: Ngược với ý nghĩ rập khuông, chữ đệm (De) không thể xem trong bất cứ trường hợp nào, như là một dấu chỉ của hàng quí tộc; trái lại, thiếu chữ ấy thì cũng không phải là phủ nhận tính chất quí tộc. Cái trò thêm vào chữ đệm de để quí tộc hóa họ của mình như cựu tổng thống Pháp Giscard d’Estaing khởi sự ở nước Pháp vào thời Đế Chế Thứ Hai Second Empire hậu bán thế kỷ XIX.

Cố Đắc Lộ mang quc tch Avignon, việc thành lập vùng đt giáo hoàng Avignon bắt đầu từ năm 1309, khi Clement V chọn Avignon làm toà thánh giáo hoàng của mình, tình trạng này kéo dài cho đến năm 1378. Vào thời điểm đó, thành phố là một phần của Vương quốc Arles, nằm trong nội địa của Đế chế Giáo hội La Mã. Lần đầu tiên, từ năm 1309 đến năm 1378, thời giáo hoàng của Avignon, tương ứng với thời kỳ mà giáo hoàng, vẫn được công nhận là người đứng đầu duy nhất của Giáo hội Công giáo, và triều đình của Ngài được đặt ở thành phố Avignon thay vì ở Rome. Lần thứ hai, từ năm 1378 đến năm 1418, trùng hợp với Cuộc ly giáo phương Tây vĩ đại, le Grand schisme d’Occident, nơi hai giáo hoàng đối thủ (và thậm chí là ba nếu chúng ta coi một Giáo hoàng tồn tại trong thời gian ngắn ở Pisa) tuyên bố cai trị toàn bộ Kitô giáo phương Tây, một người được phong ở Rome và người kia ở Avignon.

Chân dung C Đắc L[32] ©Fonds iconographique des Archives des Missions étrangères de Paris.

Các thành viên Dòng tu Chúa Ky Tô được công nhận về kỹ năng giảng dạy và sự uyên bác của họ trong cả khoa học và văn học. Bên cạnh việc giảng dạy họ vẫn tạo được danh tiếng cho đến ngày nay, Dòng càng ngày càng cống hiến nhiều hơn cho sứ mệnh tôn giáo. Từ những năm 1620, trong tổng số 15,500 linh mục Dòng Tên, khoảng 2,000 đã được cử đi truyền giáo bên ngoài Châu Âu, đến Châu Á (đến Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Ấn Độ), cũng như đến Châu Phi và Trung Đông, cuối cùng là đến Châu Á. Giáo sĩ Dòng Tên Bồ là những người đầu tiên đến Việt nam.

Ở Việt nam, nơi vẫn còn có cuồng tín do nền chính trị độc đảng, tranh cãi việc nên hay không nên vinh danh cha cố Alexandre de Rhodes vì những đóng góp của Cố trong lịch sử ngôn ngữ của chúng ta vẫn chưa hoàn toàn có hồi kết. Theo Sổ tay tên đường ở Sài Gòn, tháng 6/1871 đường này có tên là Paracels. Tháng 10/1871 đổi thành Colombert. Năm 1955, có tên Alexandre de Rhodes. Năm 1985 mang tên Thái Văn Lung. Khoảng 1995[33] tr li với tên Alexandre de Rhodes đến ngày nay. Đà Nẵng lấy ý kiến Dự thảo đề án, đổi tên đường: 07/10/2019: Gồm 140 đường. Có đường Alexandre de Rhodes (1593 – 1660, người Pháp) và Francisco de Pina (1585 – 1625, người Bồ-đào-nha).

Quá khích sinh ra nhố nhăng, tỷ dụ kẻ quá khích nói: Alexandre De Rhodes làm sách bằng chữ quốc ngữ là để phng s cho việc truyền bá đức tin Ki-tô giáo, chứ tuyệt đối không vì bất cứ một lợi ích nhỏ nhoi nào của người Đại Việt cả. Thế nhưng … người Việt Nam đã tận dụng chữ quốc ngữ, mà một số cố đạo đã đặt ra, với sự góp sức của một số con chiên người Đại Việt, để làm lợi khí cho việc giảng đạo, thành lợi khí của chính mình để phát triển văn hóa dân tộc, để chuyển tải một cách đầy hiệu lực những tư tưởng yêu nước (sic) và những phương thức đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp. Đây chẳng qua là chuyện gy ông đp lưng ông mà thôi. Lý do à? Chẳng phải Quốc ngữ được Hồ Chí Minh dùng để viết lời Tuyên ngôn độc lập khai sinh chế độ Cộng sản sao? Cụ Hồ trong tuyên ngôn, hình như viết f thay cho ph.

Linh mục Antôn Bùi Kim Phong giáo phận Quy Nhơn: Vẫn chưa có một bằng chứng đáng thuyết phục nào về công cuộc truyền giáo trên đất nước chúng ta trước thế kỷ XVI. Các học giả cũng chỉ đưa ra những giả định dựa trên những dữ kiện vụn vặt và những ký sử mù mờ. Có thể nói bằng chứng duy nhất được ghi trong sử sách Việt Nam về việc khởi đầu công cuộc truyền giáo ở Việt Nam là trích từ Khâm Định Vit S Thông Giám Cương Mc, một bộ sử được viết vào năm 1884, có ghi rằng công cuộc truyền giáo Công giáo đầu tiên được ghi nhận vào năm 1533 do một nhà truyền giáo tên I Ni Khu ở  làng Ninh cường và Trà Lũ, tỉnh Nam Định. Từ năm 1550 đến 1615, có một số nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp,  muốn đến truyền giáo tại Việt Nam. Họ là những tu sĩ dòng Đaminh, Phanxicô, hay Augustino, và bắt đầu đến Việt Nam từ những cơ sở của dòng ở Goa, Malacca, Macao và Manila. Những công cuộc này rời rạc, và các nhà truyền giáo lưu lại Việt Nam trong thời gian ngắn.

Roland Jacques[34] trong tác phẩm Le Portugal et la romanisation[35] de la langue vietnamienne viết:

Hãy lấy thế kỷ rưỡi giữa năm 1498, thời gian tượng trưng cho sự xuất hiện của những con tàu Bồ Đào Nha đầu tiên ở Ấn Độ, và năm 1651, ngày xuất bản các ấn phẩm được trích dẫn ở đầu những dòng này. Cần phải nhớ rằng Bồ Đào Nha lần đầu tiên chinh phục và sau đó duy trì, trong suốt một thế kỷ, sự độc quyền về sự hiện diện của người châu Âu ở châu Á, cả về thương mi ln truyn giáo. Vào đầu thế kỷ 18 và 17, các đối thủ cạnh tranh thương mại xuất hiện, người Hà Lan và người Anh. Trong cả hai trường hợp, đây đều là những quốc gia không theo Công giáo nên không có bất kỳ ảnh hưởng trực tiếp nào đến các cơ quan truyền giáo của Bồ Đào Nha. Về phần mình, Pháp vẫn hoàn toàn vắng mặt ở khu vực châu Á trong suốt thời kỳ tham chiếu. Mặt khác, chúng ta thấy Ý gián tiếp ở đó, ngay cả khi không có Quốc gia bán đảo nào hiện diện, Bồ Đào Nha đã hòa nhập vào hàng ngũ của chính mình, những nhà hàng hải đầu tiên, sau đó đặc biệt là những nhà truyền giáo đến từ đó. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, và phái đoàn Cơ đốc giáo, luôn luôn phục tùng người Bồ Đào Nha trong suốt thời kỳ này, bao gồm một số người Ý. Alexandre de  Rhodes, thần dân của Giáo hoàng và được đào tạo ở Rome, là mt phn của nhóm này. Nhưng trước khi xem xét kỹ hơn hoạt động của sứ mệnh Kitô giáo, cần xác định rõ hơn cuộc gặp gỡ giữa Bồ Đào Nha và Việt Nam.

Sau năm 1511, khi các nhà hàng hải Bồ Đào Nha bắt đầu đi về phía bắc vượt qua eo biển Malacca[36], mối quan tâm của họ đã là hai đế quốc lớn Nhật Bản và Trung Quốc. Đối với các nhà hàng hải và thương nhân, chuỗi các bang nhỏ giữa Malacca và Macao chỉ là những điểm dừng tiếp nhiên liệu. Về phần các nhà truyền giáo, từ Francis Xavier vào giữa thế kỷ 16, mục đích của mọi nỗ lực của họ là ci đo Hoàng đế Trung Hoa: một khi sự cải đạo này đã đạt được, các nước chư hầu, từ Bắc Kỳ đến Xiêm, buộc phải tuân theo. Trong khuôn khổ chiến lược truyền giáo, không có lý do gì để ưu tiên khu vực này.

Eo biển Malacca là một dải nước hẹp, dài 800 kilômét (500 mi) và rộng từ 65 đến 250 km (40–155 mi), giữa Bán đảo Mã Lai ở phía đông bắc và đảo Sumatra của Indonesia ở phía tây nam, nối liền Biển Andaman (Ấn Độ Dương) và Biển Đông (Thái Bình Dương). Vào tháng 4 năm 1511, Afonso de Albuquerque khởi hành từ Goa đến Malacca với lực lượng khoảng 1.200 người và 17 hoặc 18 tàu. Họ chinh phục thành phố vào ngày 24 tháng 8 năm 1511. Sau khi chiếm được thành phố, Afonso de Albuquerque đã tha cho những cư dân theo đạo Hindu, Trung Quốc và Miến Điện nhưng lại để những cư dân Hồi giáo bị tàn sát hoặc bán làm nô lệ. Người Hà Lan chiếm lại và cai trị Malacca từ năm 1641 đến năm 1798.

Quan niệm truyền giáo hai nước ưu tiên là Nhật Bản và Trung Quốc; đôi khi được cho là của Alessandro Valignano, một nhà tổ chức lớn lao của các sứ mệnh Dòng Tên ở Viễn Đông (sinh năm 1537 tại Chieti, Valignano là Giám mục của các sứ mệnh Dòng Tên ở miền Đông từ năm 1573, rồi Giám tỉnh Provincial từ năm 1583 của Ấn Độ, vẫn bao gồm toàn bộ Viễn Đông. Ngài mất ở Macao năm 1606). Nhưng nguồn gốc thì bắt nguồn từ chính Thánh François Xavier. Vị tu sĩ Dòng Tên lớn lao Navarrese đã đích thân trải nghiệm ảnh hưởng của Trung Quốc tại Nhật Bản và những khó khăn mà người Nhật đã trải qua khi từ bỏ, thay thế các học thuyết cổ truyền, uy tín đến từ Trung Quốc, để áp dụng Cơ đốc giáo. Trong một thông tư đề ngày 21 tháng 1 năm 1552, Alessandro Valignano viết: Tôi tin rng ngay năm nay, 1552, tôi s đi tìm vua Trung Hoa; đây thc s là mt đt nước mà Lut pháp ca Chúa Giêsu Kitô ca chúng ta có th gia tăng rt nhiu; và nếu h nhn được Chúa đó, điu đó s giúp ích rt nhiu cho vic Nht Bn mt đi nim tin vào các hc thuyết tôn giáo mà h tin tưởng. Cùng ngày, ông viết cho Thánh Ignatius of Loyola: … nếu người Nhật biết rằng người Trung Quốc nhận Luật Chúa, chắc chắn họ sẽ dễ dàng đánh mất niềm tin vào học thuyết tôn giáo của mình hơn. » (Epistolae S. Francisci Xaverii aliaque eius scripta […], Georg Schurhammer và Joseph Wioci ed., t. 292).

Gần ba mươi năm sau, bất chấp những thất bại và vỡ mộng ở Trung Quốc, quan điểm tương tự vẫn chiếm ưu thế. Ví dụ, xem lá thư của tu sĩ dòng Phanxicô Pedro de Âlfaro gửi cho đồng nghiệp của ông là Agustimo de Tordesillas, đề ngày từ Ma Cao 20/11/1579: Cha Coutinho, B trên Dòng Tên Macao nói thc tế rng Nam K không phi là điu cn thc hin ngay bây gi, và nó không quan trng như chúng ta nghĩÝ kiến ​​ca ông, được đưa ra nhân danh Chúa, và c ý kiến ​​ca Đức ông  giám mc Belchior Cameiro, qun tr viên giám mc Macao, người cũng rt mong mun thc hin ci đo, là trước tiên chúng ta phi tìm cách ci đo vương quc Trung Quc và sau đó mi th s tr nên d dàng…” (Sinica Franciscana, t. II: Relationes et epistolas Fratrum Minorum sœculi XVI et XVII, Anastasius van den Wyngaert ed., Quaracchi-Florence, Collegium S. Bonaventurae, 1933, p. 52 note 1).

Quan điểm của Valignano tuy khác nhưng cho cùng một kết quả thực tế đối với Việt Nam. Đối với ông, tất cả lực lượng truyền giáo của Dòng Tên phải tập trung vào Nhật Bản, nơi sứ mệnh thu được kết quả đáng kể. Việc cử nhân sự đi nơi khác là sự lãng phí thời gian và sự phân tán nỗ lực một cách đáng tiếc: Giê-su hội sĩ, compagnie de Jésus, Dòng phải làm việc hết sức họ có thể làm, thậm chí phải hy sinh các nhiệm vụ khác để thực hiện nhiệm vụ này. Vào thời điểm xảy ra các cuộc đàn áp ở Nhật Bản, lựa chọn thay thế duy nhất mà ngài cân nhắc cho lòng nhiệt thành truyền giáo của Dòng Tên là Trung Quc, nơi ngài đã gửi Ruggieri và Ricci đến. Theo ý tưởng của Valignano, các Dòng tu khác được tự do đi đến những vùng lãnh thổ mà các tu sĩ Dòng Tên không có mặt. Thế nhưng các tu sĩ Augustinô, Dòng Đa Minh và Dòng Phanxicô cũng bị Trung Quốc và Nhật Bản mê hoặc…

Những tin tức trên đây khẳng định lý do vì sao Giáo sĩ Bồ chỉ đến Việt Nam truyền giáo ở thế kỷ 17. Trên thực tế, những tiếp xúc đầu tiên giữa Bồ Đào Nha và Việt Nam chỉ là giai thoại. Để ghi lại, Roland Jacques trích dẫn một cột đá padrâo được dựng lên vào năm 1524 trên hòn đảo đối diện với cảng Faïfô, dưới sự chứng kiến ​​của Fernâo Mendes Pinto; nỗ lực đầu tiên rao giảng đạo Thiên Chúa vào năm 1533 mà chúng ta chỉ có một nguồn duy nhất bằng tiếng Việt, Khâm Định Vit S Thông Giám Cương Mc, xin xem phần dưới, chỉ gián tiếp và muộn (sách khắc in năm 1884); và cuối cùng là nhận xét ngôn ngữ đầu tiên, rất đáng thất vọng, do Gaspar da Cruz thực hiện trong chuyến dừng chân năm 1555, và được kể lại trong Traité de la Chine, Luận thuyết về Trung Quốc của ông.

Những nỗ lực truyền giáo Bồ đầu tiên ở Việt Nam, nguồn gốc của nó đã lưu giữ dấu vết từ cuối thế kỷ 16. Là một phần trong chiến lược truyền giáo của mình, Dòng Tên tìm cách dành đc quyn truyền giáo ở Trung Quốc và Nhật Bản; nhưng họ đã khuyến khích các Dòng khác chủ động hướng tới các quốc gia nhỏ. Đây là lý do cuộc thám hiểm đầu tiên của các tu sĩ dòng Phanxicô Tây Ban Nha đến Nam Kỳ vào năm 1583 và là một thất bại hoàn toàn. Năm sau diễn ra cuộc hành trình truyền giáo thứ hai; Bartolomé Ruiz, người đã tham gia chuyến đi trước, đã cố gắng ở lại một mình ở vùng Đà Nẵng (Tourane) trong gần hai năm, nhưng cũng không thành công hơn. Sau cuộc phân xử của hoàng gia bởi Philip II của Tây Ban Nha, hai tu sĩ dòng Phanxicô người Bồ Đào Nha đã tiếp quản, nhưng cũng chỉ có thể duy trì chức vụ của mình trong sáu tháng. Vào đầu thế kỷ này, đến lượt các ẩn sĩ ermites người Bồ Đào Nha Dòng Thánh Augustinô đã thực hiện hai nỗ lực thành lập cơ sở truyền giáo với thành công quả thực khiêm tốn, và sau đó bị bỏ rơi, chủ yếu vì lý do hậu cần logistiques. Biên niên sử của các tu sĩ Phanxicô và Augustinô gợi ý rằng trong dịp này, cuộc gặp gỡ trên giữa các nền văn hóa đúng hơn chỉ là một cuộc đối thoại của những người điếc với nhau. Nó chưa tạo ra những thành quả cụ thể trong bối cảnh Việt Nam. Do đó, trong lịch sử bành trướng của Bồ Đào Nha, sự thức tỉnh của mối quan tâm thực sự đối với Việt Nam là khá muộn. Yếu tố quyết định là việc Nhật Bản đóng cửa thương mại và truyền giáo trong những trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 17.

Vào năm 1614, Chúa Nguyễn ở miền Nam trục xuất người miền Bắc. Gia thổ Chúa Nguyễn vì chiếm đóng một lãnh thổ nhỏ hơn và nghèo, nên kiên quyết dựa vào ngoại thương để thiết lập sự thịnh vượng; và luôn luôn vẫn là đối tác đặc quyền của người Bồ Đào Nha ở Macao,  trong khu vực này trong một thời gian dài. Thuật ngữ Bồ Đào Nha Cochinchina, từ tên tiếng Mã Lai và tiếng Nhật của Việt Nam Kochi, cộng thêm China Trung Quốc để phân biệt với Cochim, thành phố Cochin ở Ấn Độ, được áp dụng cho nguồn gốc của toàn bộ miền Nam này[37]. Đại Việt đồng thời chuyên chỉ định chức chúa Nguyễn này, lãnh chúa thường được gọi là vua Nam Kỳ roi de Cochinchine trong các nguồn sử liệu hải ngoại, mặc dù các tác giả hiểu biết hơn cho rằng ông chỉ là một alevantado, một chư hầu nổi loạn, vua Lê trị vì ở miền Bắc. Về quyền cai trị phía bắc của nhà Trịnh, người Bồ Đào Nha gọi là vương quốc Tunquim Bắc Kỳ, một cách diễn đạt của người Trung Quốc, có nghĩa là thủ đô phía đông và được gọi chính xác là Thăng Long, Hà Nội hiện tại, nơi ở của vua Lê và chúa Trịnh.

Với Bài viết đặc sắc, Cochinchina vi ý nghĩa là Nam K (giai đon 1862 – 1883) trên mt bn đ v 3 k ca Vit Nam thi Pháp thuc,Trần Đức Anh Sơn[38] cho biết:

Wikipedia tiếng Việt: Nguồn gốc tên gọi Cochinchine trong Pháp ngữ được các nhà nghiên cứu giải thích theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, giả thuyết phổ biến nhất trước đây, là tên gọi Cochin hay Cocin gốc từ Coci là phiên âm của chữ Giao Ch. Do sợ nhầm với thành phố cảng Ấn Độ Cochin, nên người phương Tây thêm hậu tố chine /china (Trung Hoa), ý nói Cochin gần Trung Hoa để phân biệt

Trong khi đó, Wikipedia, bản tiếng Anh viết như sau: Cochinchina (Vietnamese: Nam K, Khmer: កម្ពុជាក្រោម, Campuchia Krom; French: Cochinchine) is a region encompassing the southern third of Vietnam whose principal city is Saigon or Prey Nokor in Khmer. It was a French colony from 1862 to 1954. The later state of South Vietnam was created in 1954 by combining Cochinchina with southern Annam. In Vietnamese, the region is called Nam B. Historically, it was gia đnh (1779 – 1832), NamK (1834 – 1945), Nam B (1945 – 1948), Nam Phn (1948 – 1956), Nam Vit (1956 – 1975), and later Min Nam. In French, it was called la colonie de Cochinchine. In the 17th century, Vietnam was divided between the Trnh lords to the north and the Nguyn lords to the south. The northern section was called Tonkin by Europeans, and the southern part called Cochinchina by most Europeans and Quinam by the Dutch. During the French colonial period, the label moved further south, and came to refer to the southernmost part of Vietnam, controlled by Cambodia in prior centuries, and lying to its southeast. Its capital was at Saigon. The two other parts of Vietnam at the time were known as Annam and Tonkin.

Cochinchina (tiếng Việt: Nam Kỳ, tiếng Khmer: កម្ពុជាក្រោម, Campuchia Krom; tiếng Pháp: Cochinchine) là một khu vực bao gồm một phần ba phía nam của Việt Nam với thành phố chính là Sài Gòn hoặc Prey Nokor trong tiếng Khmer. Nó là thuộc địa của Pháp từ năm 1862 đến năm 1954. Nhà nước Nam Việt Nam sau này được thành lập vào năm 1954 bằng cách kết hợp Nam Kỳ với miền Nam An Nam. Trong tiếng Việt, vùng này được gọi là Nam Bộ. Về mặt lịch sử, đó là Gia định (1779 – 1832), Nam Kỳ (1834 – 1945), Nam Bộ (1945 – 1948), Nam Phần (1948 – 1956), Nam Việt (1956 – 1975), và sau này là Miền Nam. Trong tiếng Pháp nó được gọi là la Colonie de Cochinchine. Vào thế kỷ 17, Việt Nam bị chia cắt giữa các chúa Trịnh ở phía bắc và các chúa Nguyễn ở phía nam. Phần phía bắc được người châu Âu gọi là Tonkin Bắc Kỳ, và phần phía nam được hầu hết người châu Âu gọi là Cochinchina Nam Kỳ và người Hà Lan gọi là Quinam. Trong thời kỳ thuộc địa của Pháp, nhãn hiệu này đã di chuyển xa hơn về phía nam và dùng để chỉ phần cực nam của Việt Nam, do Campuchia kiểm soát trong các thế kỷ trước và nằm ở phía đông nam của nó. Thủ đô của nó là ở Sài Gòn. Hai phần còn lại của Việt Nam vào thời điểm đó được gọi là An Nam và Bắc Kỳ.

Như vậy, theo cách hiểu phổ biến nhất thì Cochinchine/Cochinchina là tên gọi xứ Đàng Trong thời chúa Nguyễn, tương ứng với chữ Inner Region, để phân biệt với Đàng Ngoài thuộc quyền cai trị của vua Lê–chúa Trịnh, tương ứng với các tên Tonkin/Tonquin/Outer Region trong tài liệu phương Tây. Rồi từ năm 1862 thì Cochinchine/Cochinchina được hiểu là vùng đất Nam Kỳ thuộc Pháp, phân biệt với Annam (Trung Kỳ) và Tonkin (Bắc Kỳ). Đến năm 1883, theo Hòa ước Quý Mùi, thì Cochinchine/Cochinchina được mở rộng thêm, bao luôn cả tỉnh Bình Thuận.

Tuy nhiên, trong phần chú thích bài Đàng Trong thi chúa Nguyn, trích dịch từ tác phẩm A Voyage to Madagascar and the East Indies của Alexis Rochon, dịch giả Nguyễn Duy Chính viết như sau:

“Nguyên tác Cochinchina là tên người Âu châu gọi vùng Ðàng Trong của nước ta. Tuy nhiên trong sách vở chữ này có thể được dùng để chỉ nhiều khu vực khác nhau, có khi chỉ hạn hẹp nói về đất Nam Kỳ, có khi để chỉ một vương quốc dưới quyền cai trị của chúa Nguyễn, có khi li ch c nước Vit Nam. Theo nhiều tác giả Cochinchina có thể bắt nguồn từ nước Giao Ch, tên cũ của nước ta đời Hán. Ðến thế kỷ XVI, khi thương nhân người Nhật đến Hội An (Faifo) và Cửa Hàn (Ðà Nẵng) thì họ gọi người dân bản xứ là Coci. Người Bồ Ðào Nha cũng theo chân vào buôn bán, gọi người dân là Cochi hay Cochin. Ðể khỏi nhầm với đất Cochin ở Ấn Ðộ, họ thêm chữ Cina để cho biết đây là xứ Cochin ở gần Trung Hoa và thành Cochinchina.

Trong sách vở, tên này được ghi với nhiều cách khác nhau như Cochimchina, Chochimchina, Cocinchine, Caucicina, Cauchichina, Cauchj China, Cauchinchina, Coccincina, Concincina, Cauchenchina, Cachenchina, Cocamchina, Canchimchyna, Quachymchyna, Quamcymchyna, Eochijchina, … Về tiếng Việt, ngoài từ Ðàng Trong, chúng ta còn gọi là x Qung, X Nam, Nam Hà, Min Nam… Những chi tiết này dựa theo Peter C. Phan, Mission and Catechesis: Alexandre de Rhodes & Inculturation in Seventeenth-Century Vietnam, New York: Orbis Books, 2005, tr. 7, chú thích 5”. Xin lưu ý chi tiết: “[Cochinchine/ Cochinchinacó khi li ch c nước Vit Nam …” trong chú thích trên của Nguyễn Duy Chính. Bởi lẽ trong rất nhiều tài liệu phương Tây vào thế kỷ 19, thì Cochinchine/Cochinchina chính là cách h gi tên nước ta ở thế kỷ 17-19.

Chẳng hạn, trong bài báo in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal in vào năm 1837, Giám mục Taberd đã viết: “Quần đảo Pracel hay Paracels (Hoàng Sa) là một khu vực chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát… Những người dân xứ Cochinchina gọi khu vực đó là Cồn Vàng… Vào năm 1816, nhà vua (Gia Long) đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các hòn đảo này, mà chắc chắn là sẽ không có một ai tìm cách tranh giành với ông.

Ngoài ra, trong hàng trăm bản đồ cổ mà Trần Đức Anh Sơn sưu tầm trong mấy năm qua, có rất nhiều bản đồ của phương Tây đã dùng chữ Cochinchine/Cochinchina để chỉ cả nước ta chứ không phải chỉ riêng xứ Đàng Trong hay Nam Kỳ. Chẳng hạn vào thế kỷ 18: Các bản đồ của H. Moll (1736), của S.van Esveldt (1745), của Bowen & Gibson (1792)… thì vịnh Bắc Bộ, thay vì ghi là Gulf of Tonkin như nhiều bản đồ đương thời và sau này, thì lại ghi là Gulf of Cochinchine hay G. van Cochinchina. Nhưng có giả thuyết tên Cochinchine Cauchechina chỉ toàn bộ nước An Nam có t thế k 16.

Trong nhiều bài viết đã in trên báo và trong các cuốn sách, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu thường dịch chữ Cochinchine/Cochinchina là Giao Ch gn Tn. Tần ở đây là Chine, tức là Trung Quốc. Điều này chứng tỏ cụ Đầu cho rằng gốc của chữ Cochin là từ chữ Giao Chỉ, chứ không phải là từ chữ Koh-chin hay Cổ Chiên. Quan điểm này có thể đúng khi ngẫm về cách dùng chữ Gulf of Cochinchina trên các bản đồ cổ của phương Tây, bởi lẽ, chữ này có nghĩa là vịnh của nước Giao Chỉ cạnh Trung Hoa, cũng như họ đã dùng chữ Gulf of Siam để chỉ vịnh Thái Lan vậy.

 

Trong sách Suma Oriental of Tome Pires ( trang 114, nguyên tác Suma Oriental que trata do Mar Roxo até aos Chins), dược sĩ người Bồ Đào Nha Tomé Pires (1465?–1524 hay 1540) lần đầu tiên đã sử dụng từ Cauchy Chyna (đọc là Cô Si Si Na) để chỉ nước Đại Việt. Cauchy là phiên âm của Giao Chỉ (交趾, Jiāozhǐ) và Chyna là Tần (秦, Qín). Sau đó, Cauchy Chyna được viết lại thành Cochinchina. Về vị trí địa lý của Cauchy Chyna, Tomé Pires viết: The kingdom is between Champa and China, vương quốc này nằm giữa Chiêm Thành và Trung Hoa.

Trần Đức Anh Sơn sau khi liệt kê 12 gi thuyết về tên Cochinchine với đầy đủ chi tiết:

Gọi theo sách địa lý cổ đại châu Âu; Người Bồ Đào Nha gọi theo người Nhật; Người Bồ Đào Nha gọi theo tên Kẻ Chợ; Người Bồ Đào Nha gọi theo tên của vùng Cochim (Ấn Độ); Người Bồ Đào Nha gọi theo người Mã Lai; Người Bồ Đào Nha gọi theo tên quận Cửu Chân của Đại Việt; Người Bồ Đào Nha gọi theo người Trung Hoa; Kochi có nghĩa là đầm lầy; T tuyến giao thương Á-rp – Mã Lai – Trung Hoa; Gọi theo người Tây Ban Nha và Ý; Người Pháp gọi theo người Kampuchea; Gọi theo tên cửa sông Cổ Chiên.

Ông kết luận: Việc có nhiều giả thuyết về một vấn đề chưa sáng tỏ là chuyện bình thường …  Nhưng chỉ có giả thuyết nào đứng vững được qua nhiều lần kiểm chứng, đối chiếu trên nhiều khía cạnh thì mới trở thành chân lý. Như đã trình bày bên trên, đa số các giả thuyết về nguồn gốc tên gọi Cochinchine chỉ đưa ra ý kiến cá nhân cùng với lý lẽ sơ sài mang tính chất phỏng đoán chứ không có minh chứng để lập luận của mình được vững chắc … Bên cạnh đó, cũng có ý kiến được xây dựng chặt chẽ, dựa trên nhiều bằng chứng đa dạng, phong phú, được các nhà nghiên cứu chuyên sâu tán thành, nhưng vẫn chưa thuyết phục được công chúng rộng rãi. Đó là trường hợp giả thuyết 9 Aurousseau, T tuyến giao thương Á-rp – Mã Lai – Trung Hoa.

Vậy, trong bản viết Về tên Cochinchine năm 1924, Sur le nom de Cochinchine [article] Léonard Aurousseau, Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient Année 1924 Tome XXIV pp. 563-579, Aurousseau[39] nói gì? Tôi gặp gỡ Bài viết trong Bản tin của Trường Viễn Đông Pháp in năm 1924, tức cách đây đúng 100 năm, đã khá lâu, và rất phục Ông Aurousseau, Giáo chữ Hoa, gia sư cho Hoàng đế Duy Tân (précepteur de l’empereur d’Annam Duy Tan à Hué. – professeur d’archéologie et de chinois à l’Ecole française d’Extrême-Orient), khi ông phát biểu rất độc đáo rằng tự Cochinchine có t nguyên gc Rp! Ấp ủ mãi nay mới có dịp viết về đề mục này. Và cũng để làm sáng tỏ, từ Cochinchine có hai giá trị, chứ không phải một, để chỉ Cochinchine Nam kỳ như thường hay lầm lẫn. Giá trị thứ nhất, chính là chỉ được dùng để nói về một vương quốc duy nhất, theo các s liu và bn đ thế k 16.

 Cái tên Cochinchine, xuất hiện trong văn học địa lý châu Âu vào thời điểm mà người An Nam chưa vượt ra ngoài vùng Qui-nhơn về phía nam và nơi đồng bằng Mékhong, vẫn hoàn toàn thuộc về Campuchia. Hơn nữa, bản đồ và văn bản cho thấy rằng tên này đã được áp dụng theo thời gian cho các vùng lãnh thổ khác nhau. Cuối cùng, dường như không thể tìm thấy nguồn gốc của nó trong danh pháp địa lý Trung Quốc hoặc bản địa của Đông Dương. Trước tiên hãy xác định chính xác các khu vực được chỉ định bởi tên này vào những ngày cụ thể; sau đó nghiên cứu từ nguyên của nó có tính cách giá trị lâu đời nhất của nó.

Trước khi được sử dụng với giá trị hiện tại (tức thời đô hộ lúc đó), cái tên Cochinchine đã được người nước ngoài áp dụng cho phần trung tâm và phía nam của An Nam ngày nay, nơi nó được thành lập vào thế kỷ 16 bởi tổ tiên của triều Nguyễn và là nơi nó đã thịnh vượng. Một vương quốc khác biệt từ lâu với lãnh thổ An Nam ở phía bắc bán đảo. Cho đến ngày nay, người ta tin rằng cái tên này không có ý nghĩa cũ hơn, và do đó nó chỉ có thể có từ giữa thế kỷ 16.

Nhưng chúng ta biết rằng Nguyễn Hoàng, vị tổ tiên đầu tiên của nhà Nguyễn đến Thuận-hoá (các vùng Quảng-bình, Quảng-trị, Thừa-thiên) chỉ rời triều đình nhà Lê ở Thăng-long (Hà-Nội) trong khoảng thời gian từ ngày 10 tháng 11 đến ngày 10 tháng 12 năm 1558. Do đó, điểm khởi đầu của vương quốc Nguyễn không thể là trước khi Nguyễn Hoàng đến Thuận-hoá; và cái tên Cochinchine, nếu ban đầu nó chỉ được dùng để chỉ một vương quốc duy nhất, sẽ không xuất hiện trước năm 1558. Tuy nhiên, cái tên này đã được chứng thực rõ ràng có trước thi đim này, như đã được chứng minh bằng một số văn bản thiết yếu như nghiên cứu nhanh thu thập được và chỉ ra dưới đây để đánh dấu cơ sở cho bài trình bày.

Bn đ này, bản gốc được lưu giữ trong thư viện của thành phố Modena, được Tiến sĩ Wilhelm Tomaschek sao chép lại trong một tác phẩm được xuất bản nhân dịp kỷ niệm 400 năm ngày Vasco da Gama phát hiện ra Cap de Bonne Espérance Mũi Ho Vng. Albert Cantino đặt Chinacochim, giống như một cảng biển, ở cửa một con sông chắc hẳn là sông Hồng; xa hơn về phía nam, ở đỉnh cao của Trung tâm An Nam ngày nay, Cantino chỉ ra một cảng khác tên là Champacochim.Trong hình thức đặc biệt này, Chinacochim, mà bạn chỉ cần lật qua để có được Cochimchina, cái tên Cochinchina do đó được chỉ định vào năm 1502 một điểm ở đồng bằng Bắc Bộ.

Những nhận xét trước đây có thể áp dụng cho dạng Chanacochim, được thể hiện trên bản đồ từ khoảng năm 1503, do một người Genova khác, Nicolo de Canerio tạo ra và được bảo quản trong Cục Lưu trữ Thủy văn của Bộ Hàng hải ở Paris[40]. Ít nhất ở đây, Canerio dường như đã sao chép bản đồ của người đồng hương Cantino.

Vào thời điểm này và cho đến năm 1515, các nhà hàng hải Bồ Đào Nha (hoặc các nhà hàng hải nước ngoài phục vụ Bồ Đào Nha) không có hiểu biết trc tiếp về bờ biển Đông Dương. Thông tin mà họ sở hữu chắc chắn đến từ các mối quan hệ hoặc hải trình Ả Rập; hoặc được các thủy thủ Hồi giáo cung cấp bằng miệng. Chính từ một trong những nguồn này mà những bản đồ của Cantino xuất hiện và được sao chép một cách vụng về.

Hình thức thông thường của Cochincina xuất hiện lần đầu tiên, và hai lần, trong một bức thư gửi từ Malacca, vào ngày 8 tháng 1 năm 1515 của Jorge de Albuquerque gửi Vua Don Manuel của Bồ Đào Nha. Mở đầu bức thư ở trang 1 34, (1. 3~4) thực chất là một câu hỏi: “… das mercadorias que vemda chynae quachymchyna, syam, llequios, —” “… hàng hóa đến từ Trung Quốc, Nam Kỳ, Xiêm, đảo Liễu Kiều, …. »

Câu trích dẫn thứ hai ở trang 137; chúng ta nói về những thuyền nhỏ từ Trung Quốc hay quamchymchyna;  … os junquos da chyna e quamchymchyna. Dưới cách viết Quachymchyna và Quamchymchyna chúng ta sẽ dễ dàng tìm được tên gọi Cochinchine.

Cần lưu ý ở đây rằng tác giả của bức thư, khi trích dẫn tên này trong số các quốc gia như Pegu, Trung Quốc, Xiêm, v.v., chắc chắn có ý định chỉ định một vương quốc cụ thể. Đây chắc chắn là vương quốc An Nam, khi đó được đặt dưới quyền cai trị của nhà Lê, có thủ đô tại Trung đô phủ (Hà-nội) và kéo dài khoảng từ Lạng-sơn đến Qui-nhơn 諒山/ 歸仁 Liàng shān/Guī rén.

Tháng 8 năm 1516 Fernâo Perez tiến vào Vịnh Concam china tức là Vịnh Bắc Bộ, Golfe du Tonkin.

Duarte Coelho, người lần đầu tiên đến bờ biển Trường Sơn, từ năm 1516 đến năm 1518, đã được Jorge de Albuquerque cử đến miền đông Đông Dương vào năm 1523 để thu thập thông tin chi tiết về đất nước có tên là Cochinchine và Vịnh cùng tên. Trên thực tế, một bức thư của Jorge d’Albuquerque gửi Vua Bồ Đào Nha, ngày 1 tháng 1 năm 1524, viết: Đến Perduca Raja vào cuối tháng 4 năm 1523 với bốn mươi chiếc thuyền, khi đang rút lui ở sông Muar gần như vào ban đêm, người ta nhìn thấy Duarte Coelho, đang ở trên một trong những con tàu của mình để khám phá vịnh crique de Cochinchine theo lệnh của El. Rey D. Manuel, nơi được biết đến là có nhiều hàng hóa phong phú. Vùng đất nào mà người Chijs gọi là Reyno de Cacho, và người Xiêm, và người Mã Lai gọi là Cochinchina, không giống như Cochij của Malabar[41]

William Griggs’s facsimile of Ribeiro’s 1529 world map, now held by the Vatican Library.

Không còn nghi ngờ gì nữa, sự đề cập này, vào năm 1523-1524, về đất nước và Vịnh Canchimchyna (Cochinchina) cũng áp dụng cho vương quốc An Nam thời đó và đặc biệt hơn, là cho vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Trên bản đồ Diego Ribero thành lập năm 1529, tên Cauchechina được đặt để chỉ các vùng Bắc Kỳ và Anam của bán đảo và do đó chỉ định toàn b đt nước An Nam t đu thế k 16.

Vô số chỉ dẫn đề cập đến những năm sau này, trong đó Aurousseau chỉ giới hạn, nêu bật những năm chính: 1535, 1543, 1549, 1550, 1572, 1588, 1597, 1598, 1599, 1603, 1604, 1606, 1613, tất cả đều chứng thực rằng từ Cochinchine — dưới các cách viết khác nhau: Cochinchina, Cauchenchina, Cauchijchina, Cauchchina, Cachenchina, Cauchimchina, Cauchichina, Coccincina, v.v., — trong mi trường hp đu ch đnh toàn b vương quc An Nam.

Để có một s liu, theo Aurousseau, xin ghi dưới đây chi tiết tài liệu của những năm đó:

(1) 1535,  (2) 1543,  (3) 1549,  (4) 1550,  (5) 1572,  (6) 1588,  (7)   1597,  (8) 1598,  (9) 1599, (10) 1603,  (11) 1604,  (12) 1606,  (13) 1613

  • Hobson Jobson…, par Yule et Burnell, 2« é (Londres, 1903) s. v. Cochin-china, extrait de Ramusio, Sommario de Regni
  • Fernand Mendez Pinto (1509-1583 ; voyage de 1537 à 1558), Les Voyages advan- tureux…, p- 140: « er.se de Cachenchina » ; p. 145: « Cauchenchina »; p. 151 : « Roy de Cauchenchina » ; p. 485, p. 993 : « anse de Cauchenchine », etc. Tout en retenant la nomenclature géographique contenue dans les récits de Pinto, il ne faut pas accepter de confiance les renseignements, assez souvent fantaisistes, qu’il donne sur la situation, l’histoire ou la géographie des pays cité Il n’est pas rare de pouvoir prendre Pinto en flagrant délit d’erreur ou même de mensonge. Trong khi vẫn giữ lại danh pháp địa lý có trong các câu chuyện của Pinto, chúng ta không được chấp nhận một cách tự tin thông tin, thường là huyền ảo, mà ông đưa ra về tình hình, lịch sử hoặc địa lý của các quốc gia được trích dẫn. Không hiếm khi quả nhiên bắt gặp Pinto lầm lỗi, thậm chí là nói dối.
  • Lettres de Saint François Xavier. Cf. Péri, BEFEO, XXIII, 5, note 2 ; infra, p. 570, note 2.
  • Cf a) Barros, Da Asia… ; cf. supra, p. 565, note 3 ; b) voir une carte portugaise de 1550 publiée par Tomaschek dans Die topographischen Capitel des indischen Seespiegels Mohit (table XXIX: A Costa da China), où l’on voit le Tonkin désigné par le nom de Cauchimchina, alors que le Golfe du-Tonkin est appelé enseada de Cauchy ou Qochim nơi chúng ta thấy Bắc Kỳ được gọi bằng tên Cauchimchina, trong khi Vịnh Tonkin Bắc Bộ được gọi là enseada de Cauchy hoặc Qochim.
  • La mention de 1572 (cf. Hobson Jobson, loc. cit.) là điều mà chúng ta tìm thấy trong hai câu thơ của Camoens (Les Lusiades, X, 129) : Ves, Cauchichina esta de oscura fama E de Ainâo vê a incognita enseada. Voyez la Cochinchine encore d’obscure renommée Et ce golfe inconnu de Hai-nan. Hãy nhìn Nam Kỳ tiếng tăm vẫn còn mờ mịt Và vịnh Hải Nam vẫn còn vô
  • Carta de Fray Fran. Manrique dando cuenta de su viage a la China y dice que pase рог los reinos de Cochinchina, Siam, Camboja, Champa, que son faciles de con- quistar. — Macao, 1 marzo 1588. [Archivo de Indias. — 68-1-37]. — Cf. A. Cabaton, Quelques documents espagnols et portugais sur l’Indochine aux XVIe et XVIIe siècles, Journal asiatique, sept.-oct. 1908, p. 285 – Một số tài liệu của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha về Đông Dương thế kỷ 16, 17, Tạp chí Châu Á
  • Relaciones importantes de los reynos de Camboja Sian Champa y Cochinchina. — Manila, 1597 [Archivo de Indias — 67-6-18]. — Cf. Ibid. p. 288-
  • LINSCHOTEN, chap. 22 ; cf. Hobson Jobson, p. 226.
  • Carte de Linschoten de 1599, (reproduite dans le Periplus de Nordenskiôld). Le royaume annamite y est désigné sous le nom de Cauchinchina, la capitale (Hà-nôi) sous celui de Cochinchina et le Golfe du Tonkin y est appelé enseada de Canchinchina. Vương quốc An Nam được gọi là Cauchinchina, thủ đô (Hà-nôi) thuộc Cochinchina và Vịnh Bắc Bộ được gọi là enseada de Canchinchina.Voir, déjà en 1595, la carte des Van Langren (Fournereau, Le Siam ancien, I, pl. vi).
  • Carta de D. Luis Pérez Dasmariňas acompanando unos apuntamientos con noticias muy detalladas de China, Camboja, Cochinchina, Maluco, etc., (S. 1.) 15 y 30 junio de 1603 [Archivo de Indias, documento num. 62 del indice 70 — 67-6-19]. Cf. A. Cabaton, loc. cit , p. 290.
  • «… de la parte que mira a China y lapon, que estan al Oriente, esta el Reyno de Ior, y los Reynos de Pan, Pathania, Camboxa, Champa, Sinoa, Cachan y Tunquin, y estos très ultimos, Generica, y comunmente se Daman Cochinchina… ». Cf. G roga de saň antonio, Brève y verdadera relacion de los successes del regno de Cam- boxa, Valladolid, 1604 ; édition Cabaton (Paris, 1914), p- 4-5 et 93- Cochinchine désigne ici le Tonkin, plus le Thun-hoá et le Qung-nam de l’époque, c’est-à-dire nettement l’ensemble du royaume des Lê au début du XVIIe siè Notons-le en passant, Quiroga de San-Antonio paraît être le premier auteur européen qui ait enregistré le nom de Tonkin. Cochinchine ở đây gọi là Tonkin, cộng với Thuận-hoá và Quảng Nam thời đó, nghĩa là nói rõ ràng toàn bộ vương quốc nhà Lê vào đầu thế kỷ 17. Nhân tiện xin lưu ý rằng Quiroga de San-Antonio có thể là tác giả châu Âu đầu tiên ghi lại tên Tonkin.
  • « Nel regno di Coccincina, che… è aile volte chiamato dal nome di Anan, vi sono quattor dici Provincie piccole… ». Cf. Viaggi di Carletti, II. 138, apud Hobson Jobson, loc. cit.
  • G0DINH0 de Eredia, Declaraçam de Malaca e India meridional com 0 Cathay (“édition Janssen, Bruxelles, 1882) p. 66, В : « Сое sim ou Cochim China » BEFEO, XXIII, 6, note.— Cf. aussi carte de Mercator in Fournereau, Le Siam ancien, I, pl. VIII).

Phải đợi đến năm 1618 mới thấy cái tên Cochinchine có giá tr th hai, tức là áp dụng một cách tuyệt đối rõ ràng cho công quốc đặc thù của nhà Nguyễn đàng trong. Từ này xuất hiện lần đầu tiên với ý nghĩa này trong Relatione délia nuova Missione delli P.P. di Giesu al regno délia Cocincina, bởi Christophore Borri, tu sĩ Dòng Tên người Milano. Trên thực tế, xin lưu ý, trong mối quan hệ này, trong đoạn văn sao chép bên dưới[42], theo sau là bản dịch của nó:

… “Cochinchine, do người Bồ Đào Nha đặt tên, được gọi theo ngôn ngữ của người bản địa Anam, một từ có nghĩa là phần phía Tây, vương quốc này thực chất nằm ở phía Tây so với với Trung Quốc; Cũng chính vì lý do đó mà người Nhật trong ngôn ngữ của họ đặt cho nó tên Coci, có cùng ý nghĩa với Anam trong tiếng Cochinchinois.

“Nhưng người Bồ Đào Nha qua người Nhật giới thiệu đã vào Anam để buôn bán ở đó, từ cùng một từ tiếng Nhật này, Coci và từ khác này, Cina, đã tạo thành một cái tên thứ ba, Cocincina, gán nó cho vương quốc này, như thể họ đã nói Cocin của Trung Quốc, để phân biệt rõ hơn với Cocin, thành phố Ấn Độ, nơi được người Bồ Đào Nha thường xuyên lui tới.

“Và nếu cụm từ Cochinchine được tìm thấy, trên các bản đồ thế giới, thường được ghi dưới tên Caucincina, hay Cauchina, hoặc một tên tương tự khác, thì điều này không có gì khác hơn, ngoài việc làm sai lệch tên riêng, hoặc thực tế là các tác giả của các bản đồ nói trên muốn gợi ý rằng vương quốc này nằm ở lối đi vào Trung Quốc.

“Ở phía nam, vương quốc này giáp với Chiampa (Campa), ở độ cao 11 độ, tính từ cực Bắc Cực; về phía Bắc, nhưng một chút về phía Đông, ở Tunchim (Bắc Kỳ); phía đông có biển Trung Hoa (il mare cinico); hướng Tây, hướng Tây Bắc là vương quốc người Lai (Lào).Về mức độ lớn nhỏ, ở đây tôi chỉ nói đến Cochinchine, một phần của vương quốc Tonkin.

“Nam Kỳ được chia thành năm tỉnh; thứ nhất, giáp ranh với Tonkin và là nơi vua cư trú, gọi là Sinuuà (1): thứ hai là Cacciam (2), nơi cư trú với tư cách là Thống đốc, Hoàng tử, con trai của Nhà vua; thứ ba tên là Quamguya (3); Quignin thứ tư (4), mà người Bồ Đào Nha gọi là Pullucambi (5); cái thứ năm chạm vào Campa được gọi là Renran”.

(1)Sinuuà = Thuận-hoá 順化 Shùnhuà, vùng bao gồm các tỉnh Quảng-bình, Quảng-trị và Thừa Thiên ngày nay. (2) Cacciam = Kẻ-chàm, lãnh thổ tương ứng với tỉnh Quảng Nam hiện nay. (3) Quamguya = Quảng-ngãi (nghĩa) 廣義 guǎngyì, khu vực bầu cử được thành lập năm l602. (4) Quignin = Qui-nhơn 歸仁Guīrén; ngày thành lập, 1602. (5) Pullucambi, được đặt theo tên đảo Poulo Gambir, nằm giữa Qui-nhơn và Sông-cầu. (6) Renran chỉ định phủ Phú-yên, được thành lập vào năm 1650 và giáp mũi Varella ở phía nam. (Xem lại năm 1650, bản đồ của Cha de Rhodes, trong Histoire du royaume de Tunquin Lịch sử vương quốc Tunquin, Lyon, 1651, đối diện trang 1). Cách viết Sinuuà, Quamguya hay Quignin, dùng ở đây là theo phương pháp ngữ âm EFEO.

Nếu không kể đến những sai sót, đoạn văn trên này từ lời kể của Borri rất đáng để ý và cho thấy chính xác rằng, đối với tác giả và những người cùng thời với ông, vương quốc An Nam của nhà Lê, vào khoảng giữa quý đầu tiên của thế kỷ 17, được chia thành hai phần: a ) Tonkin (Tunchim), rồi giữa biên giới Trung Quốc ở phía bắc và sông Linh Giang ở phía nam[43]; b) Cochinchine (Cocincina, Caucincina, Cauchina), tức là công quốc Chúa Nguyễn kéo dài từ sông Linh Giang ở phía bắc đến mũi Varella ở phía nam. Bản đồ Cố de Rhodes trong Histoire du royaume de Tunquin.

Như vậy đã được chứng thực trong lời kể của tu sĩ Dòng Tên Milanese Borri, được viết từ năm 1618 đến 1630 và xuất bản năm 1631, việc sử dụng tên Cochinchine lần đầu tiên chỉ giới hạn ở một phần duy nhất của vương quốc An Nam, trong trường hợp này là từ Đồng-hới đến Mũi Varella. Cha Borri dường như không biết rằng cái tên này cho đến lúc đó vẫn được dùng để chỉ toàn b đất nước An Nam; trên thực tế, ông không nói gì về điều đó và dường như ngược lại tin rằng tên chung mà người nước ngoài đặt cho vương quốc Lê, trước khi nhà Nguyễn độc lập, là Tonkin.

Nhưng điểm khởi đầu cho việc sử dụng cái tên Cochinchine vốn đã cũ với giá trị mới này là gì? Theo Cha de Rhodes[44], người đã đến Nam Kỳ vào tháng 12 năm 1624, khi nhà truyền giáo Dòng Tên đầu tiên vào nước này là người Neapolitan Busomi đã đến Tourane vào ngày 18, tháng Giêng năm 1615. Ba năm sau Busomi, Cha Borri đến. Mặt khác, chưa có tu sĩ Dòng Tên nào ở Bắc Kỳ, nơi truyền giáo chỉ được mở vào năm 1626. Do đó, các nhà truyền giáo của vùng Trung An Nam là những người đầu tiên cảm thấy cần phải chỉ định đất nước bằng một cái tên cụ thể mà họ đang dự định truyền giáo, với đời sống chính trị của riêng mình dưới quyền lực của Chúa Nguyễn. Họ biết tên Tonkin và Cochinchine từ những mối quan hệ trước đây. Phần đầu tiên Tonkin được xác định rõ ràng là phần phía bắc của vương quốc Lê; từ thứ hai Cochinchine có ý nghĩa tổng quát hơn. Theo Aurousseau, hoặc giả các nhà truyền giáo đã phạm sai lầm theo nghĩa này hay họ đã quyết định chỉ áp dụng cái tên Cochinchine cho phần phía nam của vương quốc An Nam? Thật khó để lựa chọn giữa hai giải pháp này. Dù thế nào đi nữa, chắc chắn rằng chính những người sáng lập các cơ quan truyền giáo Kitô giáo đầu tiên ở đất nước An Nam, khi đến công quốc Nguyễn vào năm 1615, đã lần đầu tiên sử dụng cái tên Cochinchina để chỉ riêng công quốc này. Do đó, chúng ta có thể nói rằng theo ý nghĩa đặc biệt này, cái tên này không sm hơn ngày 18 tháng 1 năm 1615.

Giá trị thứ 2 mới này của tên Cochinchine mượn từ các báo cáo của các nhà truyền giáo, được xem là một thẩm quyền lớn, cho nên không cần thiết phải duy trì cái tên này theo nghĩa cổ xưa nhất của nó: các nhà truyền giáo, như chúng ta đã thấy, đã không giải quyết điều đó mười năm sau,  trong phần phía bắc của vương quốc An Nam, một vùng mà họ tiếp tục chỉ định dưới cái tên Tonkin.

Thật vậy, việc đề cập đến cái tên Cochinchinecó thể được tìm thấy sau năm 1618, cho thấy khá rõ ràng rằng cái tên này vẫn giữ được giá trị thứ hai (trong khi nó chỉ toàn bộ phần phía nam của vương quốc An Nam từ vùng Đồng hới trong suốt thế kỷ 17-18 và một phần của thế kỷ 19, những dữ liệu quan trọng nhất trong số này được đề cập: những điều do Cha de Rhodes viết vào năm 1624 và 1627; chúng ta tìm thấy trên các bản đồ năm 1640 (1), 1650 (2), 1666 (3) ; cuối cùng là các năm 1666 (4), 1705 (5), 1721 (6), 1749 (7), 1751 (); 8), 1782-87 (9), 1785 (10), 1792-1805 (11), 1807(12), 1817-1818 (13),

Cố Đắc Lộ viết trong sách Nhng hành trình khác nhau biên tp đã trích dẫn, tr. 60: Chưa đầy năm mươi năm kể từ khi Cochinchine là một vương quốc tách khỏi Tunquin, trong đó bảy trăm năm nó đã là một tỉnh. Trang 79: Tôi không biết làm thế nào mà vương quốc xinh đẹp này [Tunquin] lại hoàn toàn không được biết đến đến nỗi các nhà địa lý châu Âu của chúng tôi thậm chí còn không biết tên của nó, và hầu như không nói gì về nó trong tất cả các bản đồ của họ, nơi họ đặt tất cả các quốc gia của thế giới: họ nhầm lẫn Tunquin với Cochinchine.”

Trong sách Lịch sử vương quốc Tunquin, Histoire du royaume de Tunquin…, éd. française du Père Albi, Lyon, 1651, p. 2-3, 1651: An Nam… là tên gọi ngày nay chung của các vương quốc Tunquin và Cocinchina, hợp thành một quốc gia. . . và người trước đây chỉ xem An Nam là một vương quốc duy nhất, mặc dù từ đó nó bị chia thành hai, điều mà sau này tôi sẽ suy luận tiếp. Và để nói thêm ở đây đôi điều về cái tên đã được đặt cho Vương quốc Cocinchina, ngày nay tách biệt với tên Tunquin: bạn nên biết rằng tên thủ đô của toàn bộ Vương quốc Annan, là Che ce; và các Thương gia Nhật Bản buôn bán ở Thành phố này, đã làm sai hỏng tên của nó, khi gọi nó là Coci.

Chuyện xảy ra là người Bồ Đào Nha tiếp xúc với họ, để phân biệt Coci này với Cocin ở miền Đông Ấn Độ, không xa Goa, đã đặt tên Cocinchina, như thể họ muốn nói, Cocin này gần Trung Quốc. Và cái tên này không quá mới, đất nước từng được gọi với tên đó trong một thế kỷ qua. Như chúng ta biết từ các thư tín của Thánh Phanxicô Xavier, nơi đây ngài mô tả một cơn bão dữ dội mà ngài phải chịu gần bãi biển của đất nước này, với hành trình của ngài từ Nhật bản. Giống như Vương quốc mà ngày nay chúng ta gọi là Tunquin. Vào thời điểm đó, được hiểu là không có sự phân biệt làm hai dưới tên này. Chúng ta không nên ngạc nhiên nếu trong một số bản đồ địa lý, ngay cả bản đồ gần đây nhất, cho thấy Vương quốc Tunquin với tên này, nằm trong phạm vi bao quanh của Vương quốc Cocinchina, hoặc bắt nguồn từ tên Dauchinchine. Tuy nhiên, vì quốc gia này đã bị chia hai trong nhiều năm, nên ở đây chúng tôi sẽ chỉ nói về Vương quốc Tunquin, tách biệt khỏi Vương quốc Cocinchina. Mặc dù diễn ngôn sẽ dẫn chúng ta đến chỗ nói có một điều chung cho cả hai, việc này sẽ được thực hiện dưới tên Vương quốc Annan, vốn vẫn còn phổ biến đối với hai miền. Và đó là cái tên. 

Câu trích dẫn này nên được so sánh một phần với câu trích dẫn của Borri (supra, p. 567-569). “E dunque il Regno di Tunquim, cosi detto da vna Città del medesimo nome, che è Questa do resiede il Rè. E posto a Tramontana, dalla cui parte confina colla Cina; da Mezzogiorno con la Cocinci a, da Poneate con gli Lai, e dal Leuante col Mare Cinese. » Vậy vương quốc Tunquim được đặt tên như vậy từ một thành phố cùng tên, nơi vua Lê cư trú. Về phía Bắc nó giáp Trung Quốc, về phía Nam với Cochinchine, phía Đông với Lai, phía Tây với Biển Trung Hoa – » Baldinotti, Relatione del viaggio di Tunquim. . . . (1626), trong BEFEO, III, 73, 77.

Các bản đồ nêu trên, viết theo Aurousseau, có những chi tiết dưới đây, tuy không ghi rõ những năm của các tài liệu này.

(1) Cf. Carte hollandaise (de circa 1640) conservée aux. Archives de La Haye. Bản đồ Hà Lan (khoảng năm 1640) được lưu giữ ở Văn khố The Hague và nhắc từ Bắc vào Nam: “Encenada de Couchinchina” [dấu vết của giá trị đầu tiên của tên Nam Kỳ]; rồi “Toncquin”, “Qui nam” [đối diện với Tourane và là tên nước; về tên này, cf. BEFEO, XXIII, 61 và n. 2] ; “Couchinchina” [phía nam Quinam và đến Mũi Varella]; cuối cùng là “Tsiompa” [phía nam Varella].

(2) Bản đồ của Cha de Rhodes, trong Histoire du royaume de Tunquin Lịch sử vương quốc Tunquin (đối diện trang 1), trong đó Tonkin đi từ biên giới Trung Hoa đến Bố-chính và Cochincina, từ Bố-chính đến Mũi Varella. Bố-chính, cf. BEFEO, XX, iv, iii.

(3) Bản đồ của Cha Goos (trong Fournereau, Ancient Siam, I, pi. x) nơi quốc gia An Nam gọi là Gan-nan (Annam) bao gồm Tungking ở phía Bắc và Couchinchina ở phía Nam cho đến biên giới Campuchia (Campuchia ) vào thời điểm đó.

(4) Relation nouvelle et curieuse des royaumes de Tunquin et de Lao. . . Mối quan hệ mới và tò mò giữa vương quốc Tunquin và Lào. . . được dịch từ tiếng Ý của Cha Mariny, Paris, 1666, tr. 2: “Vương quốc Tunquin. được đề cập, đã nhận được nhiều tên gọi khác nhau bởi các Dân tộc. Phổ biến và bình thường nhất là An nam, nghĩa là, Phần còn lại của miền Nam; Tum Kinh Đông Triều; Cao Ci[45], người có ngoại hình chân trẹo hướng vào nhau; Những biệt danh do người Trung Quốc đặt cho họ khi họ bắt họ làm tù binh sang Trung Quốc, sau khi nhận thấy khuyết điểm này ở hầu hết những người ở đất nước này, và nó đã được lưu giữ ở đó cho đến nay ở một số gia đình. Đó cũng là tên một phần của chính Chế độ quân chủ Trung Hoa, mà chúng tôi gọi là Cochinchine, và bây giờ được gọi là một Vương quốc riêng biệt; và ngay cả những Nhà vũ trụ học lâu đời nhất, do thiếu hiểu biết về đất nước này, đã thể hiện cho chúng ta biết một cách thờ ơ trong Hải đồ của họ về vùng đất rộng lớn mà kéo dài giữa Trung Quốc và Ciampà, dưới cái tên duy nhất là Cao Ci. (5) Carte des Indes et de la Chine. . . par Guillaume de L’isle, de l’Académie royale des sciences, à Paris, chez l’auteur sur le quai de l’Horloge, 1705. (Bibliothèque de l’EFEO, B, O, 2). De même que dans la carte hollandaise de 1640 (voir supra, note 1), le golfe du Tonkin y est encore appelé « golfe de Cochinchine ».

(5) Carte des Indes et de la Chine Bản đồ của Ấn Độ và Trung Quốc. . . của Guillaume de L’isle, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia, ở Paris, tại nhà tác giả ở Quai de l’Horloge, 1705. (Thư viện EFEO, B, O, 2). Như trong bản đồ Hà Lan năm 1640 (xem chú thích 1 ở trên), Vịnh Tonkin vẫn được gọi là “Vịnh Cochinchine”.

(6) Les Indes Orientales Đông Ấn, bản đồ của N. de Fer, Paris, 1721 (Thư viện EFEO, B,O, 3), trong đó thể hiện sự phân chia tương tự như trên bản đồ Guillaume de l’isle, nhưng nơi có Vịnh Tonkin được mệnh danh là “Vịnh Tunquin và Cochinchine”.

(7) Cf. Voyage de Pierre Poivre en Cochinchine (in Revue de l’Extrême-Orient, III, 1887, p. 81-121 ; 364-510).

(8) Carte de Robert de Vaugondy (in Fournereau, Le. Siam ancien. I, pi. xivï.

(9) Cf. Revue indochinoise, juin 1910, p. 503-539 ; juillet 1910, p. 43-54. Cf. le traité du 28 novembre 1 787.

(10) Regni ď Aracan del Pegu di Siam di Camboge e di Laos, Venezia, 1785, presso Antonio Zatta e figli.

(11) Cf. John Barrow, A voyage to Cochinchina in the years /792 and t]<)J, London, 1806, p. 244, 245 et passim.

(12) Cf. La В ssachère, Relation sur le Tonkin et la Cochinchine Quan hệ Tonkin và Cochinchine (1807), publiée par Ch. B. Maybon, Paris, 1920, passim.

(13) Cf- La Mission de la Cybèle en Extrême-Orient (1817-1818). Journal de voyage du capitaine A. de Kergariou, publié et annoté par Pierre de Joinville, Paris, 1914, passim. 

Chúng ta thấy rằng cái tên Cochinchine vẫn giữ được giá trị thứ hai trong suốt thời kỳ từ năm 1615 đến năm 1882 với sắc thái thay đổi liên tục mà đất nước ngày ngày càng mở rộng về phía Nam với thời gian.

Ở thời điểm ấy đất nước đã được thống nhất. Nhà Nguyễn chiến thắng đã tập hợp đất An Nam vào buổi bình minh của thế kỷ 19. Hơn nữa, cái tên An Nam được người châu Âu sử dụng từ thế kỷ 17 để chỉ toàn bộ vương quốc (bao gồm Tonkin Bắc Kỳ ở phía bắc, Cochinchine Nam Kỳ ở phía nam), vẫn giữ nguyên ý nghĩa này cho đến năm 1882. Cần phải nói thêm rằng một yếu tố mới, sự chiếm đóng của Pháp, xuất hiện vào năm 1861 đã gây ra một số rắc rối cho danh pháp địa lý của đất nước.

Kể từ ngày này, nghĩa vụ phân biệt các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng với những vùng không bị chiếm đóng, có nghĩa là vùng lãnh thổ đầu tiên được gọi là Basse Cochinchine Nam Kỳ Hạ hoặc Cochinine française Nam Kỳ thuộc Pháp và các vùng còn lại, tùy theo tình hình của chúng, giữ nguyên tên Cochinchine hay Tonkin, Nam Kỳ hoặc Bắc Kỳ.

Cuối cùng, vào năm 1883, danh pháp có xu hướng trở nên cố định. Năm 1887 việc cố định này đã được thực hiện[46]. Tonkin Bắc Kỳ vẫn giữ nguyên tên gọi của mình; Cochinchine Nam Kỳ vào thời điểm đó đã mất tên và nhận được cái tên đặc biệt An Nam, mặt khác không còn gọi tuyệt đối tất cả nước là quốc gia An Nam. Cuối cùng, Hạ Nam Kỳ hay Nam Kỳ thuộc Pháp được gọi bằng tên riêng là Cochinchine . Và do đó chúng ta đi đến giá tr th ba mà cái tên Cochinchine  đã được giữ cho đến ngày Pháp đô hộ.

Tóm lại, dưới nhiều hình thức ngữ âm khác nhau, cái tên Cochinchine, trong suốt lịch sử, đã có ba giá trị riêng biệt trong văn học địa lý châu Âu:

  1. Từ 1502 đến 1615: Cochinchine chỉ định toàn bộ vương quốc An Nam, giữa biên giới Trung Hoa ở phía Bắc và biên giới Campa ở phía Nam.
  2. Từ 1615 đến 1882: Cochinchine là tên một phần đất nước An Nam, lúc bấy giờ nằm ​​ở phía nam Tokin, và nằm giữa vùng Đồng Hới ở phía Bắc và biên giới phía Nam Trường Sơn (biên giới này bị thay đổi ngày càng nhiều về phía Nam khi thực hiện Nam tiến).
  3. Từ 1883-1887 trở đi: Cochinchine là thuộc địa của Pháp ở phía Nam bán đảo; phần trung tâm của đất nước An Nam lúc trước, nằm giữa Cochinchine ở phía Nam và Tonkin ở phía Bắc được gọi là An Nam.

Trên đây là ba giá trị của từ Cochinchine. Điểm chính của đ mc đây, như đã trình bày, là hỏi tên Cochinchine có t đâu và khi nào?

Vì vậy, nếu muốn nghiên cứu từ nguyên của cái tên Cochinchine Nam Kỳ, điều cần thiết là phải lấy giá trị mà cái tên này có ngay từ những năm đầu thế kỷ 16 làm điểm khởi đầu, vào thời điểm nó xuất hiện để chỉ toàn b của vương quốc An Nam trong thời khoảng 13 năm (1502 đến 1615). Vào thời điểm đó đất nước bao gồm Tonkin và Annam cho đến vùng Qui-nhơn; nhưng cần lưu ý rằng chủ quyền của người An Nam vẫn còn khá bấp bênh ở phía nam Col des Nuages Đèo Hải vân, ​​​​và vương quốc chỉ thực sự được tổ chức ở mười hai trn[47] 鎭phía bắc, từ Lạng-son đến Thuận-hoa.

Ảnh bên 4 cách La mã hoá Hán âm 國語, nguồn Wikipedia.

Những lần nhắc đến đầu tiên cái tên Cochinchine, hầu như luôn gắn liền với cái gọi là Vịnh Cochinchine (golfe du Tonkin Vịnh Bắc Bộ hiện nay, nhưng mở rộng khá rộng về phía Nam). Các cảng An Nam duy nhất có thể tiếp cận và an toàn vào đầu thế kỷ 16 trên thực tế là các cảng của đồng bằng Bắc Bộ. Ở đó, những thủy thủ Bồ Đào Nha đầu tiên khám phá ra Cochinchine và trước họ, những du khách nước ngoài đến buôn bán ở đất nước An Nam đã có dịp tiếp cận. Do đó, chúng ta sẽ khẳng định kết luận rằng, trong khi chỉ định ngay từ đầu, toàn bộ vương quốc An Nam, có tên Cochinchine được áp dụng đặc biệt vào năm 1502-1515 cho quốc gia được tiếp cận qua Vịnh Bắc Bộ.

Khi Jorge d’Albuquerque viết lá thư vào ngày 8 tháng 1 năm 1515, không một người Bồ Đào Nha, không một người châu Âu nào thực sự biết đến đất nước An Nam; và tất nhiên, cũng thế mười ba năm trước, vào thời điểm Cantino vẽ bản đồ Viễn Đông của mình.

Do đó, tên của đất nước này nhất thiết phải được truyền sang người Bồ Đào Nha bởi những du khách từ Viễn Đông trước cui thế k 15. Những du khách này chỉ có thể là người Hoa, người An Nam, người Chăm, người Mã Lai, người Java, người Ba Tư, người Ả Rập hoặc người Thổ Nhĩ Kỳ. Theo hiểu biết của Aurousseau, danh pháp địa lý của Trung Quốc, An Nam, Cam và Java không cung cấp bất kỳ thuật ngữ nào có thể tạo ra tên đầy đủ của Cochinchine. Người Mã Lai nói Kuchi hoặc Kuchi-china, hai cái tên không thể giải thích được trong ngôn ngữ này, khiến vấn đề vẫn không được giải quyết.

Bây giờ chỉ còn hướng về người Ba Tư, người Ả Rập và người Thổ Nhĩ Kỳ. Trước khi phát hiện ra Cap de Bonne-Espérance Mũi Hảo Vọng (22/11/1497), sự tồn tại của vương quốc An Nam đã được Marco Polo báo cáo cho châu Âu vào thế kỷ 13. Người Venice này, đã đặt cho vương quốc cái tên Caugigu, trong đó chúng ta phải nhận ra từ Kiao-tche kouo[48] (Jiāozhǐ guó) 交趾國 đất nước của Kiao-tche Jiāozhǐ 交趾Giao-ch, vốn được người Trung Quốc sử dụng để chỉ các vùng Bắc Kỳ, trong mười lăm thế kỷ trước Marco Polo[49].

Aurousseau phiên âm Giao Chỉ Quốc 交趾國 là Kiao-tche kouo, mà bây giờ Pyin viết Jiāozhǐ guó. Thổ ngữ Quảng Đông (Jyutping): gaau1- zi2. Trong khi Hanyu Pinyin là Jiāozhǐ; Wade–Giles là Chiāo1-chǐh4. Quốc ngữ Hán (國語, Guóyǔ) viết phồn thể hay giản thể, sau đó romanizations la mã hoá bởi Hanyu Pinyin, Gwoyeu Romatzyh, Wade–GilesYale. Cách viết Hán ngữ bằng mẫu tự Latinh của Aurousseau đặc biệt, mà gần gũi với âm Quốc ngữ. Vì dựa trên bài viết của ông, nên xin tiếp tục như thế. Tuy nhiên, cách đó so với các kiểu La mã được dùng, khác khá nhiều; khi đi tìm từ nguyên Cochinchine, xin chú ý về điều này.

Aurousseau dùng Hệ thống Trường Viễn Đông Pháp École française d’Extrême-Orient (EFEO), do Séraphin Couvreur thiết kế năm 1902, là một hệ thống phiên âm tiếng Trung Quốc, được sử dụng nhiều nhất trong khu vực ngôn ngữ Pháp aire linguistique française, cho đến giữa của thế kỷ 20, trước khi dần được thay thế bằng bính âm hanyu. Phiên âm EFEO không vay mượn từ ngữ âm của tiếng Quan Thoại tiêu chuẩn hiện tại, tức tiếng quan thoại hay tiếng phổ thông pǔtōnghuà). Đúng hơn, nó phản ánh chuẩn mực siêu khu vực của các phương ngữ tiếng Quan thoại, cũng như trạng thái ngữ âm cũ hơn (chẳng hạn như Latinxua Sinwenz và phiên bản cũ hơn của Wade-Giles). Ví dụ: các từ chứa âm vị tiếng phổ thông, pǔtōnghuà /ʨ/ (ngày nay được phiên âm là ‘j’ trong bính âm pīnyīn) được phiên âm là ts hoặc k, trong âm sông 江: Dương tử giang giản thể: 扬子江 được phiên âm là Yángzǐ Jiāng Bính âm và Yang Tsé Kiang trong EFEO. Hệ thống này không có tầm vóc quốc tế, những tài liệu tiếng Pháp dùng nó là một âu tư cho khảo cứu. Tôi lúc lớn lên ở Việt Nam cho đến năm 1964, cũng chỉ biết phiên âm EFEO mà thôi, vì thời thuộc địa, hệ thống La-tinh hóa này được Bộ Ngoại giao Pháp và Trường Viễn Đông Pháp áp dụng, với một số thay đổi nhỏ, dựa trên hệ thống được thiết kế năm 1901 bởi Arnold Vissière (1858-1930).

Hán ngữ có thể viết bằng mẫu tự Latinh, ngoài bính âm pinyin 拼音Tongyong và bính âm Hán ngữ, các thể khác là Zhuyin Wade-Gile, MPS2Gwoyeu Romatzyh

Ngữ âm vơí cách EFEO có lúc tréo cẳng ngỗng. Aurousseau có kể đến, tác giả G. Ferrand với, Le K’ouen-louen et les anciennes navigations interocéaniques dans les mers du sud, trong Journal Asiatique, 1919; K’ouen-louen và hoạt động hàng hải liên đại dương cổ xưa ở các vùng biển phía Nam. Một quyển sách 267 trang, cầu kỳ, phức tạp vơí chữ Hán theo EFEO; tuy rất đầy đủ. Vậy xin hỏi K’ouen-louen là cái gì? Thưa vâng, 崑崙舶Hán việt là Côn luân bc, hiện đại hanuy pinyin Bính âm Hán viết Kūnlún jiàn nhưng trên Internet cũng thấy có K’un-lun po, Kun-lun po, Kunlun po, hoặc K’un-lun bo. Các âm ngữ này còn hao hao với bính âm Kūnlún, còn âm ngữ K’ouen-louen nghe xa lắc xa lơ. Côn luân bạc là những chiếc thuyn bum cổ được các thủy thủ Austronesian Nam Đảo, từ Đông Nam Á hàng hải sử dụng, được mô tả trong các ghi chép của Trung Quốc từ thời nhà Hán. Vào thiên niên kỷ đầu tiên sau Công nguyên, những con tàu này đã kết nối các tuyến đường thương mại giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Những con tàu loại này vẫn được sử dụng cho đến ít nhất là thế kỷ 14.

Phải đọc lại Receuil de Mémoires, ký ức của G. Ferrand trang 7, mới tìm ra Hán tự 崑崙của K’ouen-louen. Côn Lôn.

  • (崑崙山) Kunlun Mountains (a mountain range in Xinjiang, Qinghai and Tibet in China); Dãy núi Côn Lô
  • (mythology) Kunlun (a mountain in Chinese mythology). Chuyện thần thoạ
  • (崑崙關) Kunlun Pass (a mountain pass in Guangxi, China); Đèo Côn Lô
  • (historical) an area including southern Indochina and Southeast Asian islands.
  • (崑崙島) Côn Sơn Island (Côn đảo, an island in Vietnam)

Cái tên tương tự Caugigu được tìm thấy dưới một hình thức hơi khác, vào đầu thế kỷ 14, trong Lịch sử người Mông Cổ của Rasïd-ad-dïn xứ Ba Tư, nơi đất nước Kajchekuo (~ Kiao-tche kouo) được nhắc đến.

Vậy, cái tên Kiao-tche đã được phổ biến rộng rãi vào thế kỷ 14 trong thế giới không phải gốc người Hoa, mà là người châu Âu và Hi giáo, để chỉ Tonkin phần quan trọng nhất của đất nước An Nam, và cũng để chỉ – bằng cách mở rộng rất tự nhiên, An Nam vương quốc được coi là tổng thể.

Trên thực tế, trong một thời gian dài, các nhà hàng hải người Hồi giáo, người Ba Tư cho đến thế kỷ thứ 9, sau đó là người Ả Rập cho đến đầu thế kỷ 16; đã đi qua Ấn Độ Dương và các vùng biển của Trung Quốc[50]; họ đã tiếp xúc với các hải cảng ở bờ biển phía đông Đông Dương và tìm hiểu đất nước Kiao-tche (vương quốc An Nam).

Tuy nhiên, những du khách này có quan niệm địa lý đặc biệt về những bờ biển này và về các quốc gia Đông Nam Á. Việc kiểm tra các báo cáo về du lịch hàng hải, vận tải hải tuyến và hướng dẫn hàng hải cho thấy các thủy thủ Hồi giáo đã đặt tên Trung Quốc với một ý nghĩa được mở rộng rộng rãi.

Vì vậy, vào năm 1224, nhà du lịch địa lý Yakut (1179-1229), trong Mu’ djam al-Buldan đã nói: … Ma’bar (Coromandel) là quc gia cui cùng ca n Độ. Sau đó đến Trung Quc, [khu vc] đu tiên là Djâwa (Java hoc Sumatra), t đó chúng ta bước vào mt vùng bin khó tiếp cn, vi nhiu thm ha. Tiếp đó chúng tôi đến Trung Quc.

Yāqūt Shihāb al-Dīn ibn-ʿAbdullāh al-Rūmī al-Ḥamawī (1179–1229) (tiếng Ả Rập: ياقوت الحموي الرومي) là một học giả Hồi giáo có tổ tiên là người Byzantine hoạt động vào cuối thời kỳ Abbasid (thế kỷ 12–13). Ông được biết đến với Mu’jam ul-Buldān, một tác phẩm có ảnh hưởng về địa lý chứa đựng thông tin có giá trị liên quan đến tiểu sử, lịch sử và văn học cũng như địa lý (nguồn Wikipedia)

Về vấn đề hàng hải và lịch sử hàng hải ở Ấn Độ Dương và các vùng biển Trung Quốc, xin xem các tác phẩm G-Ferrand[51]. Người Ả Rập nổi tiếng, hải sư Lion of the Seas, Shihab al-Din Ahmad ibn Majid al-Najdi / Ahmad ibn Mājid[52] أحمد بن ماجد‎‎ nổi tiếng đến mức được biết đến là thủy thủ Ả Rập đầu tiên trên Đại dương, cũng trở nên nổi tiếng ở phương Tây với tư cách là nhà hàng hải đã giúp Vasco da Gama tìm đường từ Châu Phi đến Ấn Độ, bằng cách sử dụng một bản đồ Ả Rập mà các thủy thủ châu Âu khi đó không biết đến. Câu chuyện về ibn Majid hỗ trợ Vasco da Gama lần đầu tiên được sử gia Ottoman Qutb al Din mô tả, khoảng 50 năm sau khi ibn Majid qua đời. Tác giả Tibbets lại khẳng định câu chuyện về ibn Majid dẫn Vasco da Gama đến Ấn Độ là vu khống. Mặc dù lịch sử có một số tranh luận về việc ai là hoa tiêu Ả Rập của Vasco da Gama, kết quả của việc thiếu rõ ràng trong nhật ký của thuyền trưởng và một số câu chuyện cạnh tranh do các học giả Bồ Đào Nha đương thời viết.

Được nhớ đến với cái tên Sư t bin c, di sản thực sự của ibn Majid là khối lượng lớn tác phẩm văn học về dùng thuyền bằng buồm sailing, mà ông để lại. Sailing của người Ả Rập đạt đến đỉnh cao, trong suốt cuộc đời của ibn Majid, khi cả người châu Âu và người Ottoman chỉ có hiểu biết hạn chế về địa lý ở Ấn Độ Dương. Sách Kitāb al-Fawā’id fī Uṣūl ʿIlm al-Baḥr wa’l-Qawāʿid (The Book of the Benefits of the Principles and Foundations of Seamanship) của ông đã được các thủy thủ Ả Rập sử dụng rộng rãi, đề cập đến việc điều hướng thiên thể celestial navigation, các kiểu thời tiết và biểu đồ về các khu vực nguy hiểm để chèo lái  thuyền buồm. Ngoài các tác phẩm thơ của ông, đây là di sản thực sự của người thủy thủ. Hai trong số những cuốn sách viết tay nổi tiếng của ibn Majid hiện là những tác phẩm trưng bày nổi bật tại Thư viện Quốc gia ở Paris. Xin xem chú thích footnotes c) và d) trên đây.

  1. Ferrand năm 1924, khi kể Sư tử trên Đại dương nổi doá, Ahmad bin Majid, Mu’allim, lion de la mer en fureur, là sư phụ hàng hải và hoa tiêu của Vasco da Gama, tôi đã tưởng người anh hùng cái thế này[53] đã dẫn dắt da Gama vượt trùng dương từ Malindi (Kenya), và là người đầu tiên tới Calicut Ấn Độ. Và đưa tôi vào lầm lẫn trong nhiều năm. Ferrand dựa trên hai tác phẩm của Ahmad bin Majid được lưu trữ ở Thư viện Quốc gia Pháp, và có thể ông ta đã bị mê hoặc và làm tôi mê hoặc.

Theo sử liệu, Vasco da Gama[54] ở Malinda từ ngày 15 tháng 3, ở đó đến ngày 28 tháng 4 năm 1498; Ông dương buồm đi Ấn Độ vào ngày 24 tháng 4; từ Malindi (hiện thuộc Kenya) và Qalqut / Calicut (Korikode, phía nam bờ biển phía tây Ấn Độ) lần đầu tiên trong lịch sử của người châu Âu. Vào ngày 27 tháng 5 năm 1498, amiral Bồ Đào Nha Vasco da Gama đã vượt qua Mũi Hảo Vọng và tới Calicut ở Ấn Độ. Ông được người cai trị Hindu, Vua Zamorin của Calicut, tiếp đón nồng nhiệt.

Ahmed bin Majid bin Muhammad sinh và mất 821AH[55] – 906 AH, tức 1418 -1501 sau Công nguyên. Tính đến tháng 4 năm 1498 khi Vasco da Gama khởi hành ở Malindi, thì Al-Najdi đã tròn 80 tui th (Wikipedia viết 77); ông quê ở Julfar (Ras Al Khaimah). Sách sử Ả Rập ghi: … nhưng đây ch là li ca người v sau k chuyn, vì Ibn Majid đã không đ cp đến s vic này trong nhng gì ông viết sau chuyến thám him ca De Gama vào năm 1498 sau Công nguyên, và không có nhà s hc Hi giáo nào ‘đ cp đến ngoi tr Al-Nahrawali.  Các nhà s hc B Đào Nha chng minh rng Al-Nahrawali sai bi vì Sultan bin Muhammad (?) đã điu tra v vic  này …

Hải trình của Vasco da Gama, cũng nói đơn giản, vào thứ Ba ngày 24 tháng 4, chúng tôi khởi hành từ Malindi với hoa tiêu được nhà vua Malindi giao cho. Chúng tôi thả buồm, mục tiêu là một thị trấn tên là Qualecut / Calicut, nơi mà vị vua đề cập và có thông tin.

Hoa tiêu, gười lái tàu thực sự đã đi cùng Da Gama là một người có ngôn ngữ Ấn Gujarati Gujǎrātī Lipi, và có thể đã trở về Bồ Đào Nha cùng với da Gama.Người này được Da Gama cùng những người của ông cho là một người theo đạo Thiên chúa. Ông đã hướng dẫn bốn con tàu của Da Gama đến Núi Eli trên bờ biển Ấn Độ sau chuyến đi kéo dài 23 ngày.

Người về sau kể chuyện hay hiểu lầm chứng tích lịch sử, trong quá khứ đã có nhiều giai thoại gắn liền hai tên Vasco de Gama và Ibn Mājid trong hải du Malinda – Qualecut / Calicut; không phải là không có lý do. Đó là chứng tỏ ảnh hưởng to lớn văn hoá hi hành Ả Rập trên ảnh hưởng và độc quyền hoạt động thương mại Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Dương và một số nước Đông Nam Á. Trong đó người ghi dấu vết đậm nhất là ngôi sao băng Ibn Mājid. Cho nên ở đây, cũng xin phép nói tiếp đến thuyết từ nguyên Cocinchina có gốc rễ Ả Rập.

Vào thế kỷ 13, nhà thực vật học Ibn al-Baytâr[56] (1197–1248), trong Chuyên luận về những người đơn giản, đã lưu ý rằng các phần phía bắc của Trung Quốc được gọi bằng tiếng Ba Tư là Cïn Mâ-cïn, nghĩa là Trung Quốc của Trung Quốc lớn hơn; xem tiếng Phạn Cïna Mahâcïna[57]; như ai đó sẽ nói bằng tiếng Ả Rập Cïn al-Cïn, Trung Quốc của các Trung Quốc, bởi vì người Ba Tư gọi Trung Quốc là Sln Cïn.

Qazwīnī [58] (1203-1283) trong Kitâb ‘adjâïb al-makhluqaťwa gharaïb al-mawdjudât, có nói về các đảo ở Biển Trung Hoa, trong đó ông bao gồm Java, Sumatra, Nias, v.v…; cùng tác giả trong Kitâb àthàr al-bilâd wa akhbâr al-‘ibâd cũng nói rằng Java và Sumatra là các vùng của Trung Quốc.

Cũng trong thế kỷ 13, Ibn Sa’ïd đã phân biệt rõ ràng Trung Quc Cïn, nghĩa là các nước ở bờ biển phía đông Đông Dương, với Trung Quc bn đa Cïn al-Cïn, hay các vùng nằm phía bắc eo biển Hải Nam. Nó cho biết thành phố Mánzi[59] 蠻子 là thủ đô của Cin al-Cïn, hay của Trung Quốc bản địa. Aurouseau dùng phiên âm EFEO Man-tseu nghĩa man r, là tên mà người Ả Rập dùng để chỉ miền nam Trung Quốc theo Nam Tống (1127-1279). Theo đó, các khu vực do Ibn Said chỉ định dưới tên Cïn (Trung Quốc) không có điểm chung nào với Trung Quốc vì chúng nằm ở phía nam của đế quốc Trung Quốc vào thời đó và trên thực tế không phụ thuộc vào nó.

Bản thân Rashīd al-Dīn Ṭabīb[60] (1310) đã mở rộng các vùng của Trung Quốc đến tận đảo Lâkawâram[61] (Nicobar) và lục địa có tên là Campa từ đầu thế kỷ 14, đại khái là vùng An Nam nằm ở phía nam Col des Nuages Đèo Hải Vân.

Dimasqï[62], người đã viết vào khoảng năm 1325, cũng nói rằng Campa nm trên b bin Trung Quc. Abulfidâ (1273-1331) nói rằng biên gii ca Trung Quc phía Đông Nam chm vào đường xích đo, nơi có không có vĩ đ; ông cũng báo cáo rằng đảo Sribuza (Çrïvijava / Palembang) được coi là thuộc địa của Trung Quốc. Điểm cuối này nêu ra bởi Aurousseau khá ngạc nhiên. Çrïvijava kinh đô Palembang có thể hiểu là Srivijaya, Sriwijaya hay Sri Vijaya, là một đế chế thalassocratic 海洋主權hi dương ch quyn, theo Phật giáo trên đảo Sumatra (thuộc Indonesia ngày nay), nằm trên tuyến đường thương mại qua eo biển Malacca, rt xa Trung quốc.

Al-Dimashqi được biết vào 1325 đưa ra những tường thuật chi tiết về các hòn đảo ở Đông Nam Á; hàng hải, cư dân, hệ thực vật, động vật và phong tục của họ. Ông đề cập đến đất nước Champa: … có người Hồi giáo và những người thờ ngẫu tượng sinh sống. Hồi giáo đã đến đó vào thời của Caliph Uthman… và Ali, nhiều người Hồi giáo đã bị Umayyad và Al-Hajjaj trục xuất, đã chạy trốn đến đó, và kể từ đó, phần lớn người Chăm đã theo đạo Hồi. Không tìm được sử liệu về Abulfidâ.

Tên đảo tiếng Ả Rập Sribuza và có thể được tái tạo thành Śribhoja, là những cái tên ám chỉ đế chế Srivijaya, nằm ở Palembang, Nam Sumatra. Có thể tương ứng với tiếng Trung 三佛齊 tam phật tề; bính âm: Sānfóqí[63], một chính thể thương mại ở Đông Nam Á được đề cập trong các nguồn tài liệu Trung Quốc có niên đại từ thời nhà Tng vào khong thế k 12. Năm 1918, George Cœdès cho rằng các dạng tiếng Trung của San-fo-ts’i (Sanfoqi), Fo-ts’i (Foqi), Fo-che (Foshi), Che-li-fo-che (Shilifoshi), tương ứng với tên Ả Rập Sribuza. Nhà địa lý lỗi lạc Al-Dimashqi, hay Abulfidâ, không biết dựa trên căn bản nào đương th nothingời, thế kỷ 14, để khẳng định đảo Sribuza hay Sānfóqí thuộc về Trung quốc.

Các tài liệu tiếng Ả Rập này đủ để cho thấy rằng từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 16, các nhà địa lý Hồi giáo đã chia bờ biển Đông Á thành hai khu vực rộng lớn mà họ đặt tên như sau:

a) Cïn (thuộc Trung Quốc) bao gồm Đông Dương, từ bán đảo Mã Lai đến eo biển Hải Nam, và ít nhất một phần Insulindia.

b) Mâcïn, tức thực sự Trung quốc Grande Chine ou Chine propre kéo dài về phía bắc của Cổng Trung Quốc, nghĩa là phía bắc eo biển Hải Nam.

Kể từ đó trở đi, tất cả các quốc gia trên bờ biển Đông Dương giữa eo biển Malacca và Hải Nam, đối với các thủy thủ Ả Rập, đều ở Cïn (Trung Quốc); tên của từng quốc gia này với từ Cm để chỉ tình hình chung của họ. Đây chính xác là những gì đã xảy ra với tên của nước An Nam, Kiao-tche, vì sách Muhït Đại Dương, của Sidi ‘Alï Celebï[64] đã đề cập đến Kawcï của Cïn (Kiao-tche của Trung Quốc) nhiều lần. Sidi ‘Ali Celebï đã viết vào khoảng năm 1554 nhưng chúng ta biết  ông đã biên soạn nhiều hơn ông tự sáng tác và Muhït của ông phần lớn được tạo thành từ các văn bản tiếng Ả Rập trước đó, cùng với những văn bản khác bằng bản dịch Hướng dẫn hàng hải của Sulayman al-Mahrï (sớm thế kỷ 16) và theo các chuyên luận về đường bộ và hàng hải của Ibn Mâjid, hoa tiêu người Ả Rập của Vasco da Gama ở Ấn Độ Dương và là người đã sáng tác các chuyên luận của mình trong khoảng thời gian từ 1462 đến 1490. Aurousseau ở đây chép G. Ferrand. Xin xem phần trên.

Seydi Ali Reis (1498 –1563), cũng được viết là Sidi Ali Reis và Sidi Ali Ben Hossein, là một đô đốc và nhà hàng hải người Ottoman. Còn được gọi là Katib-i Rumi, Galatalı hoặc Sidi Ali Çelebi, ông chỉ huy cánh trái của hạm đội Ottoman trong Trận hải chiến Preveza năm 1538. Sau đó, ông được thăng hàm đô đốc hạm đội của hạm đội Ottoman ở Ấn Độ Dương, và như vậy, đã chạm trán với lực lượng Bồ Đào Nha có căn cứ tại thành phố Goa của Ấn Độ nhiều lần vào năm 1554.

Sidi Ali Çelebi nổi tiếng với những cuốn sách du ký như Mir’ât ül Memâlik (Tấm gương của các quốc gia, 1557) mô tả những vùng đất ông đã nhìn thấy trên đường trở về từ Ấn Độ đến Constantinople, và những cuốn sách về hàng hải và thiên văn học như Mir’ât-ı Kâinât (Tấm gương của vũ trụ) và Kitâb ül Muhit: El Muhit fî İlmi’l Eflâk ve’l Buhûr (Sách về các vùng biển khu vực và khoa học thiên văn học và hàng hải) chứa thông tin về các kỹ thuật hàng hải, phương pháp xác định phương hướng, tính thời gian, sử dụng la bàn, thông tin về các vì sao, lịch mặt trời và mặt trăng, gió và dòng hải lưu, cũng như thông tin portolan liên quan đến các cảng, bến cảng, khu định cư ven biển và các đảo ở các khu vực khác nhau của Đế chế Ottoman.

Đồng bằng Bắc Bộ, thậm chí có thể nói là toàn bộ vương quốc An Nam, do đó chắc chắn đã được người Ả Rập đặt tên là đất Kawcï de Cïn vào cuối thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 16, nghĩa là, nói vào thời điểm người Hồi giáo có quan hệ với các nhà hàng hải Bồ Đào Nha và dạy họ, về hành trình hàng hải, tên của các quốc gia chính ở Ấn Độ Dương và biển Trung Quốc. Người Bồ Đào Nha, nhng thy th đu tiên ly hướng dn hàng hi ca người Rp làm cơ s[65], đã ghi lại một cách đơn giản, và thậm chí trước khi phát hiện ra Vịnh Bắc Bộ, cái tên mà người Ả Rập đặt cho đất nước An Nam.

Cần lưu ý ở đây, trong số tất cả các quốc gia nằm trên bờ biển được gọi là de Cïn, Kawcï là quốc gia duy nhất có tên tiếp tục được truyền đi, sau người Ả Rập và người Bồ Đào Nha, với dấu hiệu từ vựng de Cïn. Tất cả những nước khác, Campa, Laghur, v.v., tên vẫn tồn tại mà không còn gắn liền với chỉ dẫn “de Cïn”này nữa, điều này chắc chắn đã biến mất vào thời điểm địa dư nhận ra lỗi cơ bản mà nó gây ra. Không phải là không thể có ngoại lệ ủng hộ cái tên mà chúng ta quan tâm, và cũng là một giả thuyết gộc cho tên Cochinchine, do ở Ấn Độ tồn tại một cái tên gần như giống hệt và rất phổ biến, đó là cảng Kôcï (Cochim). Điểm chính đáng, cần phải giữ lại ký hiệu “de Cïn” để phân biệt rõ ràng Kawči của Cïn với Kôcï của Ấn Độ[66]!

Tên Cochinchine ra đi và tn ti như vy, t nguyên t gc ch Rp qua B ng. Cách diễn đạt bằng tiếng Ả Rập Kawcï de Cïn thực sự tương ứng khá thỏa đáng với các dạng tiếng Bồ Đào Nha bình thường đầu tiên của từ Cochinchina. Hai bài học đầu tiên trên đây, ngày 8 tháng 1 năm 1515, Quachymchyna và Quamchymchyna, gần như giống hệt nhau, bởi vì có thể thấy ở m trong Quam một lỗi sao chép đối với u, một lỗi vẫn tồn tại (n đối với u) trong một số dạng đặc biệt ngay từ đầu của thế kỷ 16: Concamchina (1516), Canc/nmc/ry/ia (1524), rồi biến mất hoàn toàn từ năm 1529. Do đó, dạng thông thường lâu đời nhất của từ này trong tiếng Bồ Đào Nha là Quachymchyna hoặc Quauchy mehyna, trong đó phần đầu tiên ( Quachy hoặc Quauchy) phiên âm chính xác tiếng Ả Rập Kawcï và thông qua tiếng Ả Rập, tiếng 交趾Giao chỉ trong 交趾郡, 交阯郡; Giao chỉ quận của Trung Quốc[67]. Trong sử văn Trung Hoa, thấy có 交趾支那 Jiāozhǐ-Zhīnà, Cochin China.

Như các ví dụ được M. G. Ferrand trích từ bản thảo tiếng Ả Rập 2559 của Thư viện Quốc gia Pháp cho thấy, tiếng Ả Rập để dịch cụm từ Kawcï en () Chine hoặc Kawči de (ca) Chine, phải nói: Kawcï min al Cïn, chính xác là Kawcï de la Chine, hoặc bằng cách xóa mạo từ thừa al: Kawcï min Cïn, hay Kawcï de Chine. Có vẻ khá hợp lý rằng chính ở dạng đơn giản hóa cuối cùng mà cái tên này thường được người Ả Rập phát âm và người Bồ Đào Nha hẳn đã nghe thấy nó. Nhóm tiếng Ả Rập Kawcï min Cïn, hoặc nói một cách đơn giản là Kawcïm[in]cïn,  gần gũi hơn với các dạng tiếng Bồ Đào Nha đầu tiên của tên Cocinchine như phần trung tâm min, có nghĩa là de (của); và nói tóm lại là có tầm quan trọng th yếu trong cái tên phải được phát âm khá nhanh, đồng thời để lại dấu vết mũi hóa rất rõ ràng. Do đó, dạng tiếng Ả Rập này phản ánh hoàn hảo những bài học tiếng Bồ Đào Nha đầu tiên; nó cũng giải thích cách hóa mũi trung vị được chứng thực, trong tất cả các ngôn ngữ, bởi hầu hết các danh mục đ cp đã biết và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay ở phần trung tâm \’n của từ Cochinchina.

Và đ Aurousseaukết lun: các lý do lịch sử, địa lý và ngôn ngữ vững chắc kết hợp với nhau cho phép chúng ta truy từ nguyên tên Cochinchine Nam Kỳ, thông qua Quachymchyna của Bồ Đào Nha, theo cách diễn đạt mà người Ả Rập, vào cuối thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 16, đặt cho vương quốc An Nam và đặc biệt là le Tonkin maritime Bắc Kỳ hàng hải. Cách diễn đạt này Kawcïm[in]cïn có nghĩa là vương quốc này là của /šfawcí (Kiao-tche Jiāozhǐ), tên truyền thống của Trung Quốc cho Tonkin Bắc Kỳ, thời Bắc thuộc; được biết đến ở châu Âu kể từ thời Marco Polo; và nó nằm trên bờ biển phía đông của Đông Dương, nghĩa là trên bờ biển Cïn (Chine) theo danh pháp địa lý thông thường đối với thuỷ thủ Ả Rập.

Như vy vn may và ý nghĩa ca cái tên đơn gin này, Cochinchine / Cochinchina, ngày nay đã thm đm danh tiếng, mà t nguyên có th được gii thích trong phm vi n Độ Dương, hơn sáu thế k trước, bng s huy hoàng ca văn hoá Hi giáo; và thm chí còn rng ngi hơn na, vinh quang ca đt nước cùng vi các nhà hàng hi B Đào Nha.

Khoảng năm 1616, dựa theo lời mời của chính quyền Nam Kỳ Cochinchine, nhiều dự án nhằm thành lập thuc đa của Bồ Đào Nha đã xuất hiện; họ được hỗ trợ bởi phó vương vice-roi Jerônimo de Azevedo và vương miện. Sự từ chối kiên quyết của các phó vương João Coutinho và Francisco da Gama đã khiến dự án này bị trật bánh, ngoại trừ các khía cạnh tôn giáo cụ thể của nó. Sử kiện này quan trọng, nó có thể là hướng đi khác trong lịch sử Việt nam. Mặc dù mối quan tâm chiếm đóng chính thức của nhà nước Bồ Đào Nha đối với Việt Nam nhanh chóng bị trì hoãn[68], nhưng sự hợp tác thương mại thường xuyên vẫn được thiết lập giữa thành phố Macao và hai miền lãnh chúa. Nó đã được duy trì với sự thành công không giống nhau trong suốt hai thế kỷ. Các khía cạnh chính trthương mi được đề cập đã là chủ đề của một số nghiên cứu đáng chú ý, đặc biệt là của Pierre-Yves Manguin và George Bryan Souza, không quên vô số ấn phẩm của Manuel Teixeira[69].

Các nhà truyền giáo Bồ cũng biết thành ngữ Đàng TrongĐàng Ngoài. Tuy nhiên, trong khảo luận, Roland Jacques lưu giữ trong văn bản của mình những cách diễn đạt bằng tiếng Bồ Đào Nha. Việc chia cắt đất nước sau đó thành ba thực thể lãnh thổ, Bắc Kỳ, An Nam thuật ngữ lúc đó được áp dụng hạn chế cho miền Trung, và Nam Kỳ là do chính quyền thuộc địa Pháp mãi sau này ở thế kỷ 19.

Năm Nhâm Tuất 1862 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm 3 tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa.  Năm Đinh Mão 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.   Hòa Ước năm Giáp Tuất 1874 công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn thể lãnh thổ Nam Kỳ.  Nam Kỳ chính thức trở thành thuộc địa (colonie) của Pháp. Hai hòa ước năm Quí Mùi 1883 và năm Giáp Thân 1884 (thường được gọi là Hòa Ước Patenôtre) công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.  Bắc Kỳ và Trung Kỳ trở thành đất bảo hộ (protectorat) của Pháp.

Roland Jacques ghi, các tu sĩ dòng Phanxicô Tây Ban Nha đầu tiên đến Nam Kỳ vào năm 1583. Năm sau Bartolomé Ruiz, người đã tham gia chuyến đi trước, đã cố gắng ở lại một mình ở vùng Đà Nẵng (Tourane) trong gần hai năm. Pierre-Yves MANGUIN trong sách Người B Đào Nha trên b bin Vit Nam và Campa[70], cho biết nhiều chi tiết, với những tài liệu chính yếu từ Lisboa. Phần dưới đây trích lại các chỉ dẫn trong sách của ông ở Phần II. Bắt đầu từ Chương II.1 Lịch sử quan hệ thương mại 1523-1773.

Thời gian 1523-1557 với mối quan hệ đầu tiên cho đến khi Bồ mở cửa Ma Cao, theo Pierre-Yves Maguin: Cuộc khám phá chính thc Nam K, diễn ra vào năm 1523 không có kết quả; Duarte Coelho đã phải chạy trốn trước những rắc rối. Lãnh thổ Đại Việt chúa Nguyễn từ bỏ việc thiết lập các mối liên lạc với triều đình Lê. Tất nhiên, không thể có vấn đề về thương mại trong chuyến đi đầu tiên này, người Bồ Đào Nha chắc chắn không thấy các biến cố chính trị này là lúc không thể mở ngay quan hệ thương mại với Đại Việt.

Sau hai hành trình đi giao hảo biệt lập ở Trung quốc, vào hai năm 1513 và 1515, đoàn thám hiểm của Fernao Peres de Andrade đã thiết lập liên lạc chính thức vào năm 1517-1518, thân thiện và vì lợi ích lớn của cả hai đối tác Bồ Trung. Tuy nhiên, phía thương mại với Trung quốc, anh trai Fernao Peres, Simao de Andrade, người vào năm 1519 đã muốn xây dựng một pháo đài trên đảo Tun-men và cấm tàu ​​bè mỗi năm đến từ Patani, Xiêm La và Campuchia dỡ hàng trước khi người Bồ Đào Nha hoàn tất các giao dịch của họ, các mối quan hệ trở nên xấu đi. Tomé Pires, được Fernao Peres de Andrade giao trách nhiệm đi Trung quốc, trên đường đến Bắc Kinh, đã thất bại hoàn toàn trong sứ quán của mình và phải chết ở đó. Trong khi đó, tin tức về việc Bồ chiếm được Malacca, vương quốc chư hầu của Trung Quốc, đã đến tai Hoàng đế. Sau những rủi ro tiếp theo, bao gồm cả một trận hải chiến, là việc Quảng Châu đóng cửa mọi hoạt động ngoại thương với nước ngoài vào năm 1522. Có lẽ chúng ta nên thấy sự thất bại của họ ở Trung Quốc là lý do khiến người Bồ Đào Nha mong muốn mở rộng quan hệ với Nam Kỳ vào năm 1523. Trong khoảng thời gian này, không có gì cho phép khẳng định người Bồ Đào Nha đã giao dịch thường xuyên với Nam Kỳ. Tuy nhiên, một số tài khoản gợi ý rằng các mối quan hệ đã được thiết lập và vẫn còn chắc chắn theo từng giai đoạn. Trong mọi trường hợp, chúng ta không thể chia sẻ với Teixeira khi ông btuyên bố: K t khi Nam K được phát hin vào năm 1516 bi Andrade, thương nhân B Đào Nha t Malacca thc hin công vic kinh doanh ca h đó.

Sự mở rộng của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Dương sau chuyến đi đầu tiên của Vasco da Gama[71] thật đáng kinh ngạc. Năm 1505, Francisco de Almeida được phong là Phó vương vice-roi Ấn Độ. Ông đã phát triển một hạm đội hùng mạnh và thiết lập mạng lưới các điểm giao thương hoặc điểm hỗ trợ kiên cố đầu tiên dọc theo bờ biển. Năm 1509, chiến thắng của Đội quân Chúa trước hạm đội do Mamelukes của Ai Cập và vua Calicut tập hợp đã thiết lập ưu thế hàng hi của Bồ Đào Nha. Afonso de Albuquerque, phó vương thứ hai của Ấn Độ, tiếp tục phát triển các trạm thương mại và khởi xướng việc mở rộng của Bồ Đào Nha về phía đông bán đảo Ấn Độ. Năm 1510, thành phố Goa bị chiếm. Năm 1511, người Bồ Đào Nha kiểm soát trung tâm thương mại quan trọng Malacca. Trong năm 1512, họ đã khám phá vòng cung lớn của Insulindia và đến được Moluccas và New Guinea. Năm 1515, họ trở thành chủ nhân của Ormuz (Hormuz). Năm 1518, họ thành lập ở Ceylan. Năm 1529, Hiệp ước Saragosse (Zaragoza) ấn định ranh giới phân chia giữa các khu vực của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha ở phía đông Moluques (Moluccas) đã thiết lập sự thống trị thương mại của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Dương.

Cũng như các tài liệu khác, Manguin gợi ý: vào năm 1533, một người phương Tây (Tây-dương) tên là I-nê-xu[72], có lẽ thấy là lnâcio, đã vào Đại Việt để truyền đạo. Ông vào tỉnh Sơn Nam (Nam-định), theo sách Cương mục[73], trong một ghi chú, một lịch sử không chính thức dã lc. Đáng tiếc là các nguồn tin của Bồ Đào Nha không xác nhận điểm này. Trong mọi trường hợp, đó không thể là một tu sĩ Dòng Tên, Công ty chỉ mới được thành lập vào năm 1539. Tuy nhiên, với hành trình khám phá của Duarte Coelho mà chúng ta thiếu thông tin chi tiết, tại điểm cực bắc mà người Bồ Đào Nha dường như đã lui tới trong một thời gian dài. Tất cả những mối liên hệ sau đó, cho đến năm 1626, đã đưa chúng ta trở lại vùng Faifo Tourane.

Văn Phòng Tỉnh Dòng Thánh Phan Xi Cô Việt nam năm 2023, có bài rất chi tiết, Tha Sai I-Nê-Xu Của Sách Cuương Mục và Thừa Sai I-Nê-Xu Dòng Phan Sinh[74]. Các tài liệu khác, tất cả đều đề cập đến vấn đề lch s, nhưng chỉ là dã s của Cương mục. Niên Biểu Công Giáo Giáo hội Việt Nam trân trọng đánh dấu: Vị thừa sai đầu tiên, được Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục XXXIII 6B nói đến tên Inikhu, đã lén đến truyn giáo ở xã Ninh Cường, huyn Nam Chân và xã Trà Lũ, huyn Giao Thủy thuc Gíao phn Bùi Chu ngày nay.  

Sử liệu đưa vào sách Niên giám, phải chăng đã có một sự công nhận nào đó, nếu không nói là chính thức? Trên Wikipedia: Khâm định Việt sử Thông giám cương mục[75] 欽定越史通鑑綱目là bộ chính s của triều Nguyễn viết dưới thể văn ngôn, do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn thảo vào khoảng năm 1856–1884. Khâm định Việt sử Thông giám cương mục có khi được gọi tắt là Cương mục nhưng trong Khâm định Việt sử Thông giám cương mục thì cũng giống như ở Trung Quốc, Cương mục 綱目 được dùng làm tên gọi tắt của Tư trị thông giám cương mục 資治通鑒綱目 ch không phi là tên gọi tắt của bản thân sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục. Cuốn sách được Viện Sử học Việt Nam dịch sang tiếng Việt vào năm 1960, và được Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội ấn hành năm 1998.

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục được vua Tự Đức chỉ đạo biên soạn vào năm Tự Đức thứ 8 (1856), do Phan Thanh Giản làm tổng tài (chủ biên). Bộ sách được hoàn thành vào năm 1859, sau đó trải qua các lần duyệt nghị (1871), duyệt kiểm (1872), phúc kiểm (1876), duyệt định (1878), kiểm duyệt (1884), đến năm Kiến Phúc thứ 1 (1884) được khắc in và ban hành.

Theo bản dịch Việt ngữ Pdf 1998: “Theo sách Dã Lục, thì ngày tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông, người Tây Dương tên là Y-nê-xu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân và xã Trà Lũ huyện Giao Thủy, ngm ngm truyn giáo về tả đạo Gia tô. Như vậy, thông tin mà sách Niên Giám tham chiếu không nằm ở chính văn mà ở Li chua, còn nội dung lời chua thì được thu thập từ Dã lục chứ không phải từ chính sử, ví dụ như sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – nguồn chính để soạn Cương Mục.   

Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, rồi tiếp theo là hầu hết các tác phẩm về lịch sử truyền giáo ở Việt Nam đều dẫn thông tin trên. Tuy nhiên, các tác giả gần như không phê bình sử liệu. Năm 1875, tc trước sách Cương Mc 1884, học giả Trương Vĩnh Ký cho biết là đã tìm thấy sử liệu trên trong biên niên sử, nhưng ông dè dặt để nó ở cước chú của cuốn Cours d’Histoire Annamite à l’usage dé Écoles de la Base-Cochinchine (2 tomes). Note trouvée dans les annales: Au 3e mois de l’année du règne de Nguyên-hoà (du roi Lê-trang-Tông), un Européen du nom de Inê-xu (Ignatio, Ignace) arriva dans les villages de Ninh- cường, Qun-anh, Nam-chơn, et dans les villages Trà-lũ, Giao-thy, et transmit secrètement la doctrine de la religion gauche de Giatô (Jésus). Ghi chú trong sử ký: Tháng 3 năm trị vì Nguyên-hoà (vua Lê-trang-Tông), một người châu Âu tên là Inê-xu (Ignatio, Ignace) đến các làng Ninh-cường, Quần-anh, Nam-chơn, và ở các   làng Trà-lũ, Giao-thủy, lén truyền giáo lý Tả đạo Giatô (Chúa Giêsu). Hai bản Cương mục và Trương vĩnh Ký khp nhau, nhưng không hiểu sự trùng hợp này có trong trường hợp nào.

Năm 1930, Bonifacy trong Les Débuts du Christianisme en Annam cho rằng: Monsieur Deloustal a lu, en effet, dans le Gia lc ou annales non officielles, au sujet du nom de Gia-tô (Jésus) le passage suivant: Dans le courant du 3e mois de la première année Nguyên Hòa (Union qui commence) du roi Lê Trang tông (1533), un homme de l’Océan (Dương nhân), du nom de I-ni-Khu, vint subrepticement dans les villages de Ninh Cương (Force paisible) et de Qun Anh (Héros en foule) du Huyên de Nam Chân (Vérité du Sud), et à Giao Thy (Eau visqueuse), dans le Trà Lũ (développement du thé), et y enseigna en cachette la fausse doctrine de Gia Tô. Trên thực tế, ông Deloustal đã đọc trong Gia lục hoặc các biên niên sử không chính thức về tên Gia-tô (Chúa Giêsu) đoạn sau: Vào tháng 3 năm thứ nhất Nguyên Hòa (Sự hợp nhất bắt đầu) của vua Lê Trang tông (1533), Dương nhân tên là I-ni-Khu, lén lút đến các làng Ninh Cương và Quần Anh của Huyền Nam Chân. và Giao Thuỷ ở Trà Lũ, bí mật truyền dạy tà giáo Gia Tô ở đó.

Năm 1968, Chu Thiên và Đinh Xuân Lâm đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử bài viết tựa đề Tây Dương Gia tô bí lục, nêu cao tinh thần yêu nước chống xâm lược (sic) viết thêm:  Y-nê-khu đến nước ta ngày 24 tháng 4 âm lịch, lập ra một dòng lấy tên là dòng Chi thu (tức Giê-su). Năm 1981 Ngô Đức Thọ dịch và giới thiệu Tây Dương Gia tô bí lc sách viết bằng chữ Hán khắc in năm 1812, của bốn tác giả Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hòa Đường, Nguyễn Bá Am và Trần Trình Hiên: Nước ta v thi Hu Lê đi vua Trang Tông D hoàng đế, năm Quý T niên hiu Nguyên Hòa th 1 (1533), gic Tây sai giám mc khâm mng là Ignatiô ln vào lén lút truyn đo làng Ninh Cường huyn Nam Chân. Sách có 9 quyển, nội dung không chính xác, xuyên tc chính trị, tôn giáo, vv …

Cụm Inê-xu (Ignatio, Ignace)   viết theo Trương vĩnh Ký và bản dịch Cương mục; I-ni-Khu viết theo Bonifacy. I-nê-xu 依 泥樞Âm Pinyin Yīníkū, biểu tự mà sách đã dẫn Les Portugais sur les côtes du Viêt-Nam et du Champa của Pierre-Yves Manguin nêu ra. Chuyện rõ ràng, dương nhân Inê-xu / I-ni-Khu không phải là Ignatius trong tên Thánh Sáng lập Dòng Tên, Ignatius Loyola, tiếng Việt thường gọi là Inhaxiô hoặc I-nhã, Tây Ban Nha Ignacio de Loyola, tên rửa tội là Íñigo López de Loyola; Ignatius cũng được dịch là Ignatius; thì Hán tự viết Ignatius 依納爵 y nạp tước Yīnàjué (Loyola 羅耀拉) và cũng viết là 伊格那丟 y cách na đâu Yīgénàdiū.

Trong sách đã chỉ dẫn ở trên, Pierre-Yves Manghuin có sao lại bằng ảnh, chữ Hán trong Cương mục viết là 依泥樞 bính âm Yīníshū; Hán việt Ynêxu, theo Hán Việt Tự điển trích dẫn. Tự này có trong tài liệu của Trương vĩnh Ký. Ynêkhu, cũng đúng với chính tả.

  • Phồn thể Hán ngữ 依 泥樞 bính âm YīníshūHán Việt Nôm Ynêxu, Ynê
  • 依U+4F9D Âm Nôm: e, y, a, . Âm Hán Việt: y. Âm Pinyin: yī, yǐ.
  • 泥U+6CE5 Âm Nôm nè, nê, n, n, n. Âm Hán Việt: nê. Âm Pinyin ní , nǐ , nì , niè , nì
  • U+6A1E Âm Nôm: khu, su, sùxu, xó, xô, xù, xũ, x. Âm Pinyin: shū.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư một quyển chính sử và là nguồn tham khảo chính của Cương Mục, cho đến khi được khắc in năm 1697, Toàn Thư trải qua các giai đoạn biên soạn chính. Ngô Sĩ Liên, đến năm 1479 biên soạn xong bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 15 quyển, ngoài nguồn tài liệu của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên, tham khảo thêm Bắc sử, dã sử, các bản truyện chí và những việc nghe thấy truyền lại. Sử kýToàn Thư ghi nhận lệnh cấm đạo Hoa Lang vào năm Cảnh Trị thứ 1, năm 1663. nhưng không cho biết đạo truyền vào nước ta khi nào: Mùa đông, tháng 10, cm người trong nước hc đo Hoa Lang … Trước đã đui người ging đo đi ri mà sách đo và nơi ging hãy còn, thói t chưa đi. Đến đây li nghiêm cm. Đây là s kin xưa nht trong chính s nước ta liên quan đến vic truyn đo ca người Tây Dương, nhưng không cho biết mốc điểm cụ thể, chỉ nói chung chung là trước đây. Cương Mục chép lại cấm đạo của Toàn Thư rồi thêm lời chua như đã dẫn về Inê-xu. Sử ký Toàn Thư không có một dòng nào về I-nê-xu. Không lẽ lời chua Inê-xu của Cương mục lấy dã sử của sách Bí lc? Khó chấp nhận vì, năm 1875, tc trước sách Cương Mc 1884, học giả Trương Vĩnh Ký cho biết là đã tìm thấy sử liệu Inêxu trong biên niên sử.

Theo dịch giả, Bí Lục có các phiên bản của nó như sau: Bản khắc in năm Gia Long 11 tức năm1812. Bản của Nguyễn Văn Hoàng chép tay để lưu lại cho đời sau, khi các bản Bí lục Gia Long, bày bán ở các phố chợ Thăng Long, Tòa Tổng Giám mục (?) sai người gom mua, cả ván in, đem thiêu hủy hết. Truyền bản của của bản viết tay, xuyên tạc Kitô giáo, một cuốn sách chép tay có nguồn gốc trong nhân dân, nay lưu giữ tại Thư viện Khoa sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tỉnh dòng Phan Xi Cô viết: nguồn trong nhân dân về Inê-xu mà truyền bản Bí Lục tham chiếu có thể là nguồn chung cho tất cả; Cương mục, Cours d’Histoire Annamite của Trương vĩnh Ký, Les Débuts du Christianisme en Annam của Bonacy. Và tỉnh dòng Phan Xi Cô nghiêng về nguồn dân gian này.

Nguồn dân gian/dã sử càng có ý nghĩa hơn đối với một chính thể vốn xem Giatô là tả đạo. Sử kiện về tôn giáo này thường không có ch trong chính sử, có chăng là những chỉ dụ cấm đạo. Đó là sự dè dặt khi các tác giả dẫn thông tin Inê-xu: Cương Mục đặt ở lời chua, Histoire của Trương vĩnh Ký đưa vào cước chú, còn Bonifacy thì dẫn chứng để bác bỏ. Với những sử liệu hiện có, Inê-xu mà Niên Biểu Công Giáo Giáo hội Việt Nam, hoặc những tài liệu khác, trích dẫn từ Cương Mục, tiếp tục là một nhân vật dã sử nếu không được chứng minh bằng chính sử.

Quan điểm trên không th so sánh với Hồng Bàng thị 鴻龐氏 hay Thời đại Hồng, giai đoạn thời đại thượng cổ của lịch sử Việt Nam; dựa nhiều trên các truyền thuyết, các truyện kể ở những tác phẩm như Lĩnh Nam chích quái[76] và được hợp thức hóa trở thành một giai đoạn lịch sử qua Đại Việt sử ký toàn thư, cuốn sử thư đã đưa Hồng Bàng thị làm Kỷ đầu tiên.

Fernão Mendes Pinto lần đu tiên đi thuyền dọc theo bờ biển Bán đảo Đông Dương vào năm 1540. Rời Patani vào tháng 5, trên con tàu của thương gia Antonio de Fariat, ông đã thực hiện giương buồm hướng tới vương quốc Champa. Thực tế đầu tiên, cơ bản nhất , là thương mại Trung-Bồ Đào Nha chính thức mở trở lại, lần đu tiên ở Quảng Đông năm 1554 và tại các đảo cửa sông Tứ Giang; đã sớm được theo dõi bởi sự cài đặt của người Bồ Đào Nha ở Macao trong những năm 1555-1557. Do đó, người Bồ Đào Nha đã nhanh chóng đảm bảo được sự độc quyền ảo đối với các tuyến hàng hải nối Ấn Độ với Đông Nam Á và nối liền với Trung Quốc và Nhật Bản. Năm 1563, thành phố đã có 900 cư dân Bồ Đào Nha và hàng nghìn người nước ngoài. Năm 1542, Malacca ly li được s thnh vượng, Đại Vit s chng kiến ​​mi quan h thương mi vi người B Đào Nha tr nên bình thường hơn.

Roland Jacques[77] viết mở đầu trong nghiên cứu, LePortugal et la romanisation de la langue Vietnamienne. Faut-il réécrire l’histoire?[78] Bồ Đào Nha và La-tinh hóa tiếng Việt. Có nên viết lại lịch sử? như sau:

Lịch sử của mối quan hệ đầu tiên giữa Việt Nam và phương Tây vào thế kỷ 17 bị chi phối bởi nhân vật của tu sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes, người gốc Avignon. Ông thường được coi là người sáng tạo ra, không chỉ cộng đồng Thiên chúa giáo Việt Nam, mà trên hết là hệ thống chữ viết tiếng Việt (La-tinh hóa, hay quốc ngữ), ngày nay được mọi người sử dụng và là một phương tiện được công nhận cho sự tiến bộ xã hội. Việc kiểm tra kỹ lưỡng các nguồn tài liệu, phần lớn vẫn chưa được xuất bản, sẽ đặt ra câu hỏi về cách đọc lịch sử truyền thống này. Việc tạo ra quốc ngữ ch có th được hiểu là một tác phẩm chủ yếu của Bồ Đào Nha, nằm trong một tập hợp các sáng kiến ​​liên văn hóa, initiatives interculturelles, tương tự; sự ra đời của Kitô giáo ở Việt Nam cũng cần phải hoàn toàn tách rời khỏi vấn đề Pháp thuộc địa xứ ta. Sự phát triển nguồn lực phải là kết quả của sự hợp tác đa phương, mà trong đó Bồ Đào Nha phải có chỗ đứng ưu tiên bên cạnh Việt Nam.

Năm 1651, hai tác phẩm xuất hiện ở Rôma rất được quan tâm đối với lịch sử tiếng Việt: Từ điển An Nam – Bồ Đào Nha – Latin, và Sách giáo lý cho các ứng viên chịu phép rửa, chia thành tám ngày[79]. Điểm mới lạ lớn nhất là việc sử dụng hệ thống chữ viết bắt nguồn từ bảng chữ cái Latinh, một phát minh rất gần đây vào thời điểm đó, hệ thống mà ngày nay thường được gọi là quc ng. Trong gần hai thế kỷ, cho đến khi cuốn Từ điển An Nam-Latin của Taberd[80] được xuất bản vào năm 1838, hai tác phẩm này vẫn là những ứng dụng được in thành sách duy nhất. Cả hai tập đều ghi rõ trên bìa tên tác giả: Alexander thành Rhodes, thuộc Dòng Chúa Giêsu, Compagnie de Jésus, tông đồ truyền giáo.

Từ Hán Việt 國語 guóyǔ có nghĩa đen là quc ng[81]. Đây là một lối nói ngoại ý, périphrase, về nguyên tắc, chỉ rõ bản thân tiếng Quốc gia Việt đối lập với tiếng Trung Quốc, đã có địa vị ngôn ngữ chính thức trong nhiều thế kỷ ở Việt Nam. Tuy nhiên, nên nói việc sử dụng chữ Hán đã khiến ng nghĩa sémantique phát triển. Áp dụng này cho hình thức viết của ngôn ng Việt, cách diễn đạt đầu tiên đề cập đến là Chữ Nôm, một hệ thống chữ viết bắt nguồn từ các ký tự Trung Quốc. Kể từ khoảng năm 1900, cách diễn đạt về mặt kỹ thuật phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ cái Latinh; và duy nhất được chấp nhận đến ngày nay. Chữ quốc ngữ này, được định nghĩa như vậy, được xây dựng trên cơ sở bảng chữ cái Latinh, được bổ sung bằng hai loại dấu phụ, để tương ứng với sự đa dạng của các âm v rất phong phú trong tiếng Việt, và để đánh dấu bằng hình nh chữ cái các thanh điệu. Đây là cách viết được chấp nhận và sử dụng rộng rãi bởi người Việt.

Khi quốc ngữ bắt đầu sự nghiệp chính thức ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20[82], khi người ta tìm cách viết lịch sử về nó, cái tên Alexandre de Rhodes ngay lập tức ni bt lên như cha đẻ của chữ La tinh hóa. Tại đây, ông sớm được ca ngợi trên bầu trời như một loại ngôi sao đơn độc chiếu sáng màn đêm của quá khứ xa xôi, của những ngày đầu của sứ mệnh trước khi các nhà truyền giáo Dòng Thừa sai MEP Paris đến mà Taberd và những người kế vị ông là những đại diện lừng lẫy. Thuộc địa thế tục và Giáo hội đã cùng nhau ca ngợi thiên tài truyền giáo và ngôn ngữ có một không hai của giáo sĩ Dòng Tên, để tung hô nonhững lợi ích mà nước Việt Nam hiện đại đã mắc nợ. Georges Taboulet[83] mt tác gi h đ đã viết: Cha Alexandre de

Các ảnh tư liệu Việt Bồ La & Phép Giảng Tám Ngày

Rhodes đã giới thiệu Kitô giáo và nước Pháp đến Việt Nam. (sic). Tất nhiên, với quá khứ đô hộ Pháp, đây chỉ là có một trong vô số bằng chứng lịch sử sai lệch … và dĩ nhiên xuyên tạc.

Về vấn đề tác giả và cha đẻ của Rhodes đối với công trình mang tính quyết định về tiếng Việt, quốc ngữ, các tác giả ngôn ngữ học phần nào bị lúng túng, cản trở bởi một mâu thuẫn lớn. Là người gốc Avignon, nhà truyền giáo được cho là người nói tiếng Pháp bản xứ; tuy nhiên, hệ thống phiên âm tiếng Việt sang chữ Latinh hầu như không mang du n của ngôn ngữ Boileau[84]… Tuy nhiên, sẽ không có ai khởi kiện để noquan hệ cha con đối với người cha giả định của văn bản này; đúng hơn, chúng ta sẽ cố gắng vượt qua khó khăn này, bằng cách nêu bật nguồn gốc quốc ngữ không thể được cho là của tiếng của xứ Avignon bên Pháp[85], và bằng cách tận dụng những kỹ năng tuyệt vời của Đắc Lộ với tư cách là một nhà ngôn ngữ học đa ngôn ngữ. Một số người có nhãn quan sáng suốt hơn, chú ý hơn đến thực tế lịch sử, nói về một công việc tập thể[86], do các nhà truyền giáo người B Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và Pháp, mỗi người đã để lại dấu ấn của mình; nhưng vai trò ni bt nht luôn thuộc về Đắc Lộ[87]!

Danh sách các tác giả B Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và Pháp thật là đáng ngạc nhiên. Nếu sự hiện diện của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và Ý là có thật trong những năm mà công việc tạo ra ngôn ngữ Latinh hoá được thực hiện, và nếu Alexandre de Rhodes, thần dân Địa dư Avignon của Giáo hoàng, có th, nếu nói kiểu thêm bớt, xuất hiện như một người quốc tịch Pháp theo nghĩa của nó.  Thế nhưng, văn hóa người Tây Ban Nha hoàn toàn không liên quan gì đến quốc ngữ, trừ khi muốn đưa bằng chứng nhập cư từ ông cố Rhodes vào… Các nhà truyền giáo người Pháp đu tiên, Dòng Tên Joseph François Tissanier và Pierre Jacques Albier, đã đặt chân đến đất nước này năm 1658; các tu sĩ Đa Minh Tây Ban Nha đến vào năm 1676[88].

Cho nên không ngạc nhiên, khi học giả tiếng Việt Haudricourt, trong một bài báo, với một uyên bác kỳ diệu, đã tuyên bố tìm thấy trong ngôn ngữ quốc ngữ dấu vết của nhiều hệ thống ngữ âm châu Âu, bao gồm cả phương ngữ xứ Basque[89] (sic)!

Tất nhiên, tinh thần chống chủ nghĩa thực dân trong những năm sau khi Việt Minh khởi nghĩa giành độc lập sẽ không chịu thua kém, và gán Đắc Lộ là người đã gây ra mọi tội ác. Việc Latinh hóa chữ viết được coi là một hành động chính trị thù địch, như một công cuộc hủy hoại văn hóa nhằm chia rẽ quốc gia và áp đặt sự thống trị của nước ngoài. Hơn nữa, như trên đây đã nêu ra tuyên truyền xuyên tạc nói, chẳng phải Rhodes đã tới Châu Âu để triệu tập quân đội Pháp sao? Thêm vào đó, cách diễn đạt thông thường Latinh hóa tiếng Vit rõ ràng là gây nhầm lẫn. Thuật ngữ La Mã hóa có thể gợi ý một sự biến đổi ngôn ngữ Việt của người La Mã (người châu Âu) theo quan điểm riêng của họ, với những gợi ý về chủ nghĩa thực dân. Trên thực tế, nó là sự thể hiện các âm v của tiếng Việt nói bằng hệ thống bắt nguồn từ bảng chữ cái Latinh, thay vì sử dụng các ký hiệu âm tiết bắt nguồn từ hệ thống tiếng Trung. Nói rõ như vậy, chứ biểu hiện này khó tránh khỏi bị thánh hóa do cách sử dụng, hay lạm dụng.

Dù thế nào đi nữa, chúng ta phải đợi đến năm 1993 để thấy cố Đắc Lộ được Chính phủ Hà nội phục hồi … sau khi sa sai, nhưng lại chỉ có một mình Cố ấy thôi. Như đã viết ở đầu tiểu luận này, đã tìm lại được tấm bia kỷ niệm Cố từ năm 1941, năm nổi bảy chìm, đặt vị trí cố định trong vườn Thư viện Quốc gia Hà Nội và khánh thành lại vào năm 1995; và ở đó trên bia đá, một mình Cố được vinh danh là cha đ của chữ quốc ngữ! [90]

Chúng tôi trong nhiều tạp luận viết trước đây, trong một thời gian dài, đã lập tức bị ấn tượng bởi vẻ ngoài đm cht Bồ Đào Nha của dòng chữ đang gõ này; đi tìm nghiên cứu lịch sử và ngôn ngữ, với các kho lưu trữ ít được biết đến và ít được trích dẫn, của nhiều tác giả, kỳ vọng những điều ít đề cập này, dường như có khả năng làm sáng tỏ câu hỏi được đặt ra, ai là cha đẻ quốc ngữ. Roland Jacques viết: Nhiều nghiên cứu được công bố về Alexandre de Rhodes có vẻ không thỏa đáng đối với chúng tôi, vì chúng không tính đến đầy đủ bối cảnh lịch sử và tôn giáo, trong đó mọi hành động của Cố đều diễn ra ở Viễn Đông – trên thực tế, Cố không có mặt ở đó, như đại diện của nhà vua Pháp, mà thực sự là của vương triều Bồ Đào Nha mà cố đã tuyên thệ trung thành dưới sự bảo trợ của vương miện[91]. Do đó, đối với chúng tôi, kết luận của những nghiên cứu này dường như phải được xác minh. Ở đây, chúng tôi sẽ cố gắng làm nổi bật bối cảnh lịch sử chung, xuất phát từ kho tài liệu lưu trữ được tham khảo, để sau đó hiểu rõ hơn trong hoàn cảnh nào, do ai và vì mục đích gì việc tiểu thuyết hóa văn bản tiếng Việt với chữ cái Latinh đã được thành hình.

Để minh họa quan điểm trên, C Đắc L là cha đ, bằng cách trích dẫn, trong số các ấn phẩm gần đây, hai công trình có giá trị tương đối nokhoa học:

(1) Pierre-Richard FÉRAY, Le Viêt-nam, Paris, P.U.F., 1984, về ảnh hưởng văn hóa châu Âu trong thế kỷ 17, tr. 18: Trong khi nhà Trịnh [Bắc Kỳ] yêu cầu sự giúp đỡ từ người Hà Lan […], nhà Nguyễn lại kêu gọi người Bồ Đào Nha, rồi đến người Pháp, không ngần ngại tiếp nhận các sứ mệnh Dòng Tên đến mức linh mục Alexandre de Rhodes, từ năm 1650 đến năm 1660, nảy sinh ý tưởng La-tinh hóa chữ viết. Và Quốc-ngữ ra đời. Tandis que les Trinh [Tonkin] sollicitèrent l’aide des Hollandais […], les Nguyên firent appel aux Portugais, puis aux Français, n’hésitèrent pas à recevoir les missions jésuites au point que le P. Alexandre de Rhodes, de 1650 à 1660, eut l’idée de romaniser l’écriture. Le Quac-ng était né.

(2) Josef METZLER, Die Synoden ở Đông Dương: 1625-1934, [Các thượng hội đồng ở Đông Dương 1625-1934], Paderborn/Munich/Vienna/Zurich, Ferdinand Schôningh, 1984. Giống như hầu hết các sử gia tiền nhiệm của ông về truyền giáo Công giáo, tác giả quy phần lớn công việc truyền giáo cho Rhodes; sau đó ông chỉ rõ, p. 7: Durch seine sprachwissenschaftlichen Arbeiten […] wurde er zum Begrûnder der Schriftsprache Vietnams und ihrer heute noch gebrauchten Lateinischen Umschrift. Qua công trình khoa học của mình, ông [Rhodes] đã trở thành cha đẻ của chữ viết và phiên âm của Việt Nam bằng ký tự Latin, vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay.

Chuỗi sự kiện này giải thích vai trò văn hóa thủ đô của Bồ Đào Nha ở Việt Nam thông qua các nhà truyền giáo Dòng Tên vào thế kỷ 17 thường bị b qua, giảm thiểu hoặc thậm chí bị che khuất trong văn học chuyên ngành. Tác phẩm cơ bản của Pierre Huard và Maurice Durand, Connaissance du Viêt-nam (Paris, Imprimerie nationale, và Hà Nội, EFEO, 1954), trong chương “Việt Nam và người châu Âu”, chỉ đưa ra hai ám chỉ bên l về người Bồ Đào Nha, mà không tạo liên kết gì với phiên âm quốc ngữ theo thứ tự bảng chữ cái của ngôn ngữ (tr. 51-52). Trong số các sử gia về các sứ mệnh truyền giáo, có thể kể đến Alphons Mulders, khi xử lý sứ mệnh của mình ở Việt Nam, ông không hề ám chỉ đến Bồ Đào Nha hay người Bồ Đào Nha, Alexandre de Rhodes dường như đã làm mọi việc một mình mà thôi. (Missiegeschiedenis, Bussum [NL] , Paul Brand, 1957, tr. 337.

Phần lớn trong số những hậu thuẫn cho luận điểm, cũng được xuất bản trong lĩnh vực văn hóa Pháp[92]: sự hiện diện và ảnh hưởng của Pháp được nêu bật rõ ràng, được xem là đương nhiên, đôi khi theo cách thức lỗi thời[93]. Đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam, cho đến nay và gần như không thể tránh khỏi, do khá mù mờ về tiếng Bồ Đào Nha, nên họ vẫn phụ thuộc vào những gì đã được xuất bản bằng tiếng Pháp[94]. Năm 1990, có hội nghị khoa học quốc tế về thành phố Hội An (Faïfô) diễn ra tại Đà Nẵng (Tourane). Hầu như không có gì đáng ngạc nhiên, với bối cảnh được mô tả ở trên, không chỉ cường quốc thực dân cũ bị loại khỏi vòng đua, mà Bồ Đào Nha cũng bị lãng quên, trong khi niềm t hào về vị trí quốc ngữ được trao cho Hà Lan[95].

Đối với người Việt Nam ngày nay, vấn đề gặp gỡ các nền văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây vẫn mang âm hưởng bút chiến mạnh mẽ, mà chúng ta đã nhận ra cái giá phải trả của lịch sử

Tỷ như, Hồng Nhung Nguyễn Khắc Xuyên trong, Công trình nghiên cu tiếng Vit ca mt người Thu sĩ K Ch Đàng Ngoài, Onufre Borges 1614-1664: Góp ý vi Roland Jacques v Công trình nghiên cu tiếng Vit ca nhiu người B tiên phong cho ti 1650, được thc hin ti th đô Bc K. Ý kiến ​​về quan điểm của Roland Jacques liên quan đến công trình nghiên cứu tiếng Việt của những người tiên phong Bồ Đào Nha đến năm 1650, Paris, tự tác giả [/ Fountain Valley, Ca (United States), Thanh Linh], 1996: Tác phẩm dài 221 trang dịch sang tiếng Việt các văn bản viết tay mà Roland Jacques đã xuất bản và bao gồm hầu hết các chú thích. (xem Roland Jacques, L’œuvre de quelques pionniers portugais. Tác phẩm của một số nhà tiên phong Bồ Đào Nha, trích dẫn ở trên, ghi chú 50); mất đi nhiều sự đáng quan tâm vì giọng điệu mang tính bút chiến được tác giả sử dụng để bảo vệ luận điểm truyền thống cho rằng chỉ có Đắc Lộ mới có quyền tác giả chính trong việc La-tinh hóa tiếng Việt.

Hãy lấy thế kỷ rưỡi, vào giữa năm 1498, ngày tượng trưng cho sự xuất hiện của những con tàu Bồ Đào Nha đầu tiên ở Ấn Độ, và năm 1651, ngày xuất bản các ấn phẩm được trích dẫn ở đây. Cần phải nhớ rằng Bồ Đào Nha lần đầu tiên chinh phục và sau đó duy trì, trong suốt một thế kỷ, sự độc quyền về sự hiện diện của người châu Âu ở Châu Á[96], cả về thương mại lẫn truyền giáo. Vào đầu thế kỷ 16 và 17, các đối thủ cạnh tranh thương mại xuất hiện, người Hà Lan và người Anh. Trong cả hai trường hợp, đây đều là những quốc gia không theo Công giáo nên không có bất kỳ ảnh hưởng trực tiếp nào đến các cơ quan truyền giáo của Bồ Đào Nha. Về phần mình, Pháp vẫn hoàn toàn vắng mặt ở khu vực châu Á trong suốt thời kỳ tham chiếu. Mặt khác, chúng ta thấy Ý gián tiếp ở đó, ngay cả khi không có Quốc gia nào trên bán đảo hiện diện như vậy, thì Bồ Đào Nha đã hòa nhập vào hàng ngũ của chính mình, những nhà hàng hải đầu tiên, sau đó đặc biệt là những nhà truyền giáo đến từ đó. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, và phái đoàn Cơ đốc giáo, luôn luôn phục tùng người Bồ Đào Nha, d’obédience portugaise, trong suốt thời kỳ, bao gồm một số người Ý có giá trị. Cố Alexandre de Rhodes, thần dân của Giáo hoàng và hoàn toàn được đào tạo ở Rome, là một phần của nhóm này. Nhưng trước khi xem xét kỹ hơn hoạt động của sứ mệnh Kitô giáo, cần xác định rõ hơn cuộc gặp gỡ giữa Bồ Đào Nha và Việt Nam, như đã trình bày ở phần đầu, theo các dữ kiện của Pierre-Yves Manguin.

Trong lĩnh vực tôn giáo, phái bộ truyền giáo Việt Nam được Tỉnh Dòng Dòng Tên Nhật Bản dứt khoát thành lập, liên quan đến các giám mục Bồ Đào Nha ở Malacca và Macao: đó là vào năm 1615 tại bang Nam Kỳ, năm 1627 tại bang Bắc Kỳ. Tỉnh Dòng Chúa Giêsu của Nhật Bản tuân theo sự vâng phục nghiêm ngặt của người Bồ Đào Nha và được Bồ Đào Nha tài trợ trong khuôn khổ bảo trợ của hoàng gia. Nhân viên chủ yếu là người Bồ Đào Nha nhưng có sự hiện diện đông đảo của người Ý ngay từ đầu; người Nhật được thừa nhận, nhưng chỉ ở các vị trí cấp dưới, từ cuối thế kỷ 16. Tỉnh Dòng Nhật Bản đã dần dần mở rộng lãnh thổ quyền tài phán của mình đối với Trung Quốc (sau này là một phó tỉnh tự trị) và thành lập trụ sở chính tại Macao. Vào thời điểm mà chúng ta quan tâm, Tỉnh Dòng đang cố gắng mở rộng về phía Đông Dương và Insulindia, theo các tuyến đường hàng hải khởi hành từ Macao. Nhưng các tu sĩ Dòng Tên thường báo cáo rất ít cho các giám mục, về mặt lý thuyết chịu trách nhiệm điều phối sứ mệnh.

Hai cơ sở Dòng Tên Bồ Đào Nha ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ đã có những thành công đáng kể, đặt nền móng vững chắc cho Kitô giáo Việt Nam. Vào năm 1658, vào thời điểm Tòa thánh, vốn không công nhận sự Phục hồi của vương miện Bồ Đào Nha, đã quyết định tiếp quản các sứ mệnh này, gần 70 nhà truyền giáo thuộc 8 quốc tịch, trong đó có 35 người Bồ Đào Nha, 19 người Ý và 7 người Nhật.

Hai vương quốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vẫn thống nhất từ ​​năm 1580 đến năm 1640; nhưng liên minh cá nhân này không dẫn đến sự hợp nhất giữa các chính phủ, cơ quan hành chính hoặc thuộc địa ở nước ngoài, nơi mà các lợi ích đôi khi vẫn bị đối lập. Trong thời trị vì của Philip IV của Tây Ban Nha (từ năm 1621), ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy nhà nước Bồ Đào Nha được quản lý kém và mất mọi thứ từ liên minh cá nhân, kể cả ở Viễn Đông. Một cuộc đảo chính đưa John IV của Braganza (1640-1656) lên ngai vàng Bồ Đào Nha. Về phần mình, Tòa thánh tiếp tục coi Philip IV là vị vua hợp pháp của Bồ Đào Nha cho đến khi ông qua đời (1665). Mặt khác, Bồ Đào Nha đã khôi phục thành công trong việc đưa Pháp vào phe của mình (các hiệp ước 1641 và 1655), mở đường sau năm 1655 cho sự xuất hiện của các nhà truyền giáo người Pháp tại các lãnh thổ truyền giáo của người Bồ Đào Nha. Việc này được thực hiện vào năm 1658. Đó là các giáo sĩ Dòng Thừa Sai.

Cùng thời gian này, theo những ước tính ít lạc quan nhất, đã có hơn 100.000 Kitô hữu Việt Nam, phân bố trong hàng trăm cộng đồng địa phương. Họ được giám sát bởi Chrome nogiáo dân Việt Nam, đã được đào tạo, có khả năng giải quyết những tình huống khó khăn nhất (Xem ví dụ danh sách viết tay của các cộng đồng Kitô giáo ở Bắc Kỳ trong kho lưu trữ của Dòng Tên ở Macao: Lisbon, Biblioteca da Ajuda, Jesuitas na Asia, tập. 49/V/31, sau. 44-46 khoảng năm 1640); họ đã có những vị t đo ngay từ năm 1644-1645, trong đó Macao nhớ đến giáo lý viên trẻ André, người đầu tiên trong một danh sách rất dài. Thành công như vậy còn đáng kinh ngạc hơn vì nó đạt được bên ngoài bất kỳ sự hiện diện quân sự và bất kỳ buổi biểu diễn lực lượng. Cùng lúc đó, Kitô giáo huy hoàng của Nhật Bản gần như bị tiêu diệt, Kitô giáo của Trung Quốc gặp khó khăn; Xiêm chỉ có 200 tín hữu, Macassar chỉ có một số rất ít. Đối với toàn bộ châu Á, ngoại trừ các vùng đất Goa và Macao, chính tại Việt Nam và Sri Lanka, tính liên tục lịch sử giữa phái bộ truyền giáo Bồ Đào Nha và các Giáo hội Kitô giáo hiện đại, là rõ ràng nhất và hữu hình cho tới hôm nay.

Những người đương thời thậm chí còn nói đến 300.000 Cơ đốc nhân, xem báo cáo của Alexandre de Rhodes về Ban Truyền giáo La mã Propaganda Fide Rome, Archives of Propaganda Fide. Nhưng con số này còn gây tranh cãi, với ước tính hiện đại lên tới 200.000.

Theo hướng dẫn của Processo infoatorio về lễ phong thánh cho André, được tổ chức tại Macao từ tháng 12 năm 1644 đến tháng 2 năm 1645, và được chính quyền thành phố Macao hợp pháp hóa (Rome, Archivio Segreto Vaticano, fonds Riti, n° 479 signature story). Cố Rhodes : Rellaçâo do glorioso Martirio de André Cathequista Protomartir de Cochinchina, alanceado, e degolado em Cachâo aos 26 de Julho de 1644. tendo de idade dezanove annos Tường thuật về cuộc tử đạo vinh quang của Anrê turn on, bị  nochém và bóp cổ chết ở Cachâo ngày 26 tháng 7 năm 1644, thọ mười chín tuổi. Xin xem Relaçâo da morte do catequista André, proto-mârtir da Cochinchina Báo cáo về cái chết của giáo lý viên André, vị tử đạo đu tiên của Nam Kỳ [văn bản của Alexandre de Rhodes, do Miguel Serras Pereira dịch từ tiếng Ý], trong Bản tin Giáo hội của Giáo phận Ma Cao 76, 1978, tr. 237-262. Vân vân … Cần lưu ý rằng giáo lý viên André không nằm trong số 117 vị tử đạo của Việt Nam được phong thánh năm 1988, nguyên nhân phong thánh cho Anrê, được đưa ra tại Tòa thánh năm 1649, vẫn tiếp tục cho đến ngày nay; một chậm trễ đáng kinh ngạc, dường như là do sự việc bất hạnh giải tán của các tu sĩ Dòng Tên tại triều đình Rôma sau năm 1659, và sau đó trong nhiều thế kỷ bị che khuất bởi những tranh cãi về nghi thức, mà chàng thanh niên gan dạ không dính dáng gì vào. Thật là oan trái.

Ngày 19/3/1627 hai Cố,  Đắc Lộ và Pedro Marquez đặt chân đến Cửa Bạng, Ba Làng, Thanh Hóa; hai Cha được cha Gabriel De Mattos chọn để sai ra xứ Bắc truyền giáo[97]. Cửa Bạng hay xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia cũ, nay là Thị Xã Nghi Sơn. Từ Ba Làng là do sự gọi tắt của Ba ngôi làng, Sung Mãn – Ngoại Hải – Như Xuân. Nay giáo xứ Ba Làng có tới 4 giáo họ, thêm làng Sung Thượng. Giáo xứ Ba Làng được thành lập từ năm 1846; năm 1893, nhà

thờ được xây dựng bằng gỗ vẫn còn rất chắc chắn (Ảnh Internet). Bàn thờ sơn son thiếp vàng vẫn óng ánh sắc vàng từ câu đối đến các hoa văn trên bàn thờ. Tại Ba Làng Cố Đắc Lộ đã đào tạo nhiều thầy giảng, trong đó có thầy Anrê quê ở Phú Yên. Lúc trở lại Đàng ngoài, sau năm 1640, Đắc Lộ sau một thời gian đi thăm bổn đạo ở Đồng Hới và thủ phủ Kim Long, trở về Hải Phố Quảng Nam, đã chứng kiến thầy giảng Anrê bị quan trấn lên án xử tử ngày 26/7/1644, đồng thời cũng ra lệnh trục xuất Cố. Khi Đắc Lộ vĩnh biệt xứ Nam về Macao, ngài đem theo thi hài vị tử đạo.

Ngoại tộc gia đình chúng tôi họ Đỗ có liên quan khá mật thiết với Thừa sai Truyền giáo, khi Linh mục Đắc Lộ đổ bộ lên Ba Làng. Họ Đỗ cùng tộc với thi hào Đỗ Phủ là một Cự tộc bên Trung quốc. Sử chép thời Cao Biền đánh quân Nam Chiếu nằm 864, có bộ tướng họ Đỗ đi theo, sau đóng ở An Nam đô hộ phủ rồi ở lại lập nghiệp tại Việt Nam. Cụ Đỗ Các, cố ngoại tôi, là dòng dõi đời 17 theo gia phả cụ Đỗ thời Viêm đời 15 để lại (1839 – 1842), gốc làng Bồng Trung huyện Vĩnh lộc tỉnh Thanh hóa. Cụ làm Án sát tỉnh Thanh Hoá, có năm vợ ,bà ngoại tôi là trưởng nữ giòng một. Cụ sinh hạ hết thảy được chín trai bốn gái. Bà cụ thứ ba Phạm Thị Lương là thân mẫu bà Đỗ Thị Hảo phu nhân đời trước ông Trần Trọng Kim, tác giả Việt Nam sử lược. Cụ Đỗ Các gia sản sung túc và không thủ cưụ nên có phương tiện cho các con như thứ Nam Đỗ Văn và con rể Trần Trọng Kim du học tại Pháp.

Bà ngoại tôi, Cụ bà Đỗ Thị Hiền theo đạo Kitô, cụ có lẽ không biết hay cũng biết cụ không phải là người đầu tiên họ Đỗ theo đạo Hoa Lang Kitô giáo vì cụ rất thông thái và có thể có giả thuyết là cụ đã được biết tường tận về Đỗ tộc phổ sử.  Cụ rất thông Hán ngữ. Vì chuyện Cụ sớm cho phép các con theo đạo Hoa Lang và cụ cũng trở lại đạo, cũng chỉ là lịch sử lập mà thôi. Vì tổ tiên cụ, cụ Đỗ Hưng Viễn đã rửa tội theo đạo Hoa Lang từ thế kỷ 16 và cụ Đỗ Viện Mãn là người Việt Nam đầu tiên sở tại đã tiếp xúc với cố Đắc Lộ Alexandre de Rhodes, khi linh mục Dòng Tên lần đầu đặt chân đến Việt Nam ở Cửa Bạng năm 1627 để truyền giáo.

Xin xem bài họ Đỗ Bồng Trung Thanh Hóa, Tín hữu kitô giáo đầu tiên ở Việt Nam 1572,  người đầu tiên tiếp xúc với Alịch Sơn Đắc Lộ và theo đạo Hoa lang 1627; Họ đỗ vô địch Việt Nam với 60 khoa bảng tiến sĩ, tôi viết, dựa trên Đỗ phổ, cách đây khá lâu, nhưng nay thất lạc.

Theo dưới đây, xin ghi lại một tài liệu tôi đã dùng, Bulletin des Amis du Vieux Huế, năm 1941: L’UN DES PREMIERS ANNAMITES, SINON LE PREMIER, CONVERTIS AU CATHOLICISME Par C. PONCET, des Missions Etrangères de Paris, Provicaire Apostolique de Thanh-Hoá. Bn tin ca Nhng Người Bn Huế Cũ, năm 1944: MT TRONG NHNG NGƯỜI AN NAM ĐẦU TIÊN, NU KHÔNG PHI LÀ NGƯỜI ĐẦU TIÊN, CHUYN SANG CÔNG GIÁO Bi Linh mc C. PONCET, Cố Chính Thảo, thuc Hi Tha sai Truyn giáo Paris, Tông tòa Tnh Thanh Hoá.

Phần chữ nghiêng Pháp ngữ là nguyên bản chép ở Bulletin des Amis du Vieux Huế, năm 1944, từ trang 81 đến trang 91. Bản trích dẫn này chỉ để dẫn chứng chuyện tổ tiên Ngoại tộc Đỗ Hưng Viễn và Đỗ Viên Mãn là những tín hữu Ki Tô giáo rửa tội theo đạo, ngoài ra Bài của Cố Chính Thảo có nhiều sai lầm lịch sử hay hiểu biết. Chuyện quan trọng nhất là Cố rất chủ quan, xuyên tạc; vì Cố là thừa sai truyền giáo Paris, nên Cố xem giáo sĩ Bồ Đào Nha là kẻ thù bất cộng đái thiên; Cố lờ đi tất cả di sản truyền giáo và tiên phong trong công việc thiết kế hệ thống La mã hoá chữ Quốc ngữ của Ngừời Bồ. Lại nữa, Cố có tác phong của một giáo sĩ Pháp thực dân!  Cũng may, bài viết được Cố L. Cadière MEP chuẩn lại. Cố Poncet rất gần với gia đình Ngoại Nội của chúng tôi. Cố là người đã làm mai cho Bố Mẹ tôi thành duyên, Cố cũng đem niên trưởng Phêrô qua du học Pháp lúc còn niên thiếu.

Cố RP Poncet, hay Cố Chính Thảo Linh mục thừa Sai MEP Paris viết:

Chúng tôi may mắn bắt gặp ở làng Bông-Trung, huyện Vĩnh-Lộc, tỉnh Thanh-Hoá, một bảng gia phả không thiếu sự thú vị (1). Tựa đề là: Đỗ Tộc Gia Phả (2) 杜族 家譜[98] Ở trang 18 bis của tài liệu này, chúng ta đọc Nhành thứ (3). – Lại nữa, thế hệ thứ bảy: Tổ họ Đỗ, Ngài Biểu; truy tặng: Mỹ Chân Thông Thái; danh hiệu: Trúc Lâm bậc Thầy (4); Tương Công, Tướng Công; năm thứ 7 [kỳ] Chính-Trị [1564], trong kỳ  thi Kỷ Dậu (5), đậu Cống Sanh[99] (6).

Nguyên bản: Nous avons eu la bonne fortune de rencontrer au village de Bông- Trung, huyn de Vĩnh-Lc, province de Thanh-Hoá, un Gia Ph ou tableau généalogique, qui ne manque pas d’intérêt (1). Il est intitulé : Đỗ Tc Gia Ph (2) 杜族 no家譜. A la page 18 bis de ce document, nous lisons ceci :« Branche cadette (3). – De nouveau, septième génération : L’aïeul, [de la famille] Đỗ, Son Excellence Biu ; nom posthume : Mĩ-Chân le Sage ; titre : Trúc-Lâm le Maître (4) ; Tương Công, Tướng Công [Qui], en la 7e année [de la période] Chính-Tr [1564], aux concours régionaux de K Du (5), fut reçu Cng-Sanh (6) ;

Các Chú thích trên ca C Cadière (vào năm 1941).

Ở đây chúng ta có một số sai sót, tức là thông tin mà Gia phả họ Đỗ cung cấp không khớp với dữ liệu trong Biên niên sử chính thức. Thật vậy, thời Chính-Trị của Lê Anh Tôn (Tông)[100] bắt đầu từ năm 1558, năm Mậu Ngọ thời Chính-Trị, chấm dứt vào năm 1571, trong đó có năm Tân Vị, như vậy kéo dài 14 năm. Trong khoảng thời gian này không có năm Kỷ Dậu mang tính chu kỳ; Năm Kỷ Dậu là năm 1549 và 1609.

Nhưng Hiến chương PHAN-HUY-CHÚ, quyển 28, không ghi là kỳ thi năm Chính-Trị thứ 7. Sách ghi rõ, kỳ thi năm thứ hai là Kỷ Vị 1559; thứ năm, Nhâm Tuất 1562; thứ tám Ất Sửu 1565; và thứ mười bốn là Tân Vị 1571. Vì vậy, không có khoa thi năm thứ 7 tương ứng với năm 1564. Sách Cương Mục 28, các trang 12 trở đi không đề cập đến kỳ thi năm 1559; nhưng cho biết, năm đó, có nocuộc điều tra ruộng lúa ở Thanh-Hoá và Nghệ An, có thể năm đó cũng có một kỳ thi ở hai tỉnh này, hai tỉnh duy nhất vào thời kỳ này phụ thuộc vào sự phục tùng nhà Lê. Mặt khác, Cương Mục đề cập rõ đến kỳ Hương Thí diễn ra ở Tây Đô, tức là ở Thanh-Hoá, năm Chính-Trí thứ 5, 1562. Nó không đề cập đếnkỳ thi năm 1565 cũng như năm 1571 tất nhiên là không. Do đó, thời Chính-Trị không có năm Kỷ Dậu, nên năm thứ 7 niên lịch 1564 cũng không có khoa thi. Vậy là có hai dấu hiệu sai lầm lịch sử.

Có lẽ một trong hai mâu thuẫn có thể được giải thích. Năm 1565, năm Chính Trị thứ 8, tước Xut Thân hay Tiến sĩ và Đồng Thân[101] được cấp cho 10 người. Nhưng Đỗ Biểu chỉ đạt được, vào năm Chính Trị thứ 7, 1564, danh hiệu Cống Sanh Licencié, được trao tại các cuộc thi khu vực, tức Hương Thí diễn ra một năm trước cuộc Thi Hộ. Bằng cách này, chúng ta có thể dung hòa hai tài liệu: Đỗ Biểu thi Hương vào năm 1564, năm Chính Trị thứ 7, đậu Cống Sĩ. Những cuộc thi này được ghi trong Đỗ Tộc Gia Phả, không được ghi trong Biên niên sử chính thức. Năm 1565, Chính-Trị thứ 8, ông phải tham gia các kỳ Thi Hội, ghi trong Sử ký, nhưng thi trượt nên việc không được ghi vào Gia Phả. Đây là một trong những giả thuyết.

Nhưng, trong bất kỳ giả thuyết nào, chúng ta có thể giả định chắc chắn rằng có bốn kỳ thi vào thời Chính-Trị, một trong số đó, được nêu rõ ràng, được tổ chức ở Thanh-Hoá. Đỗ Công Biểu đi thi Hội hỏng và thi Hương đậu Cống Sanh. Đưa ra một giả định khác, có lẽ chúng ta có thể mạo hiểm làm sáng tỏ về các kỳ thi của Đỗ Công Biểu. Hiến chương quy các kỳ thi từ năm 1529 đến năm 1553 thuộc về nhà Mạc, nơi nắm giữ toàn bộ Bắc Kỳ vào thời điểm đó. Từ năm 1554, chúng thuộc nhà Lê, đồng thời nhắc đến tước hiệu những kỳ thi thời Mạc. Cương Mục đề cập đến thời Chính-Trị chỉ có một phiên vào năm 1562 và ghi rõ trong Thanh-Hoá. Có thể các kỳ thi khác của thời Chính Trị mà Hiến chương nhắc đến đều diễn ra ở Hà Nội, dưới nhà Mạc. Và trong trường hợp này, Đỗ Biểu, người gốc Thanh-Hoá và thần dân nhà Lê, chỉ có thể trình diện tại phiên họp năm 1662. Nhưng đây chỉ là một giả thuyết khác. Chúng ta hãy thừa nhận chuyện thi cử của Đỗ Công Biểu khá mơ hồ.

Vào năm thứ 15 [thời kỳ] Chính-Trị [1572], được sắc phong của Hoàng đế, Kit Tiết Tuyên Lc công thần. Đỗ Công Biểu được hai tước, Kiệt Tiết, đã hoàn thành đầy đủ mọi bổn phận [đối với Vua]; Tuyên Lực kiệt sức [để phục vụ Nhà nước]. Có vinh phongmĩ t. Và Đặc tiến Kim t Vinh lc Đại phu 特進金紫榮祿大夫, tước dành cho những vị chức sắc lớn nhất của vương quốc, hàm tản quan dành cho quan văn giữ phẩm hàm chính nhất phẩm, được đặt ra từ thời Lê Thánh Tông. Kim và tử, màu sắc Vàng và tím trên phong tước. Lại bộ 吏部 Thuyên khảo, Thanh lại ty Thanh lại ty 淸吏司, Viên ngoại lang 員外郎. PHAN HUY CHÚ trong Hiến chương quyển 13, thời Chiêu-Thống 1787, dưới thời Lê-Thánh Tôn, Hồng Đức 1470-1497, Lại Bộ hay Bộ Quan, Bộ Nội vụ do một Tư Vụ chỉ huy, dưới quyền có một Thuyên Khảo,  một Thanh Lại Tư, một Lang Trung và một Viên Ngoại Lang[102].  Như vậy theo gia phả, thì Đỗ Công Biểu đã leo lên tất cả các cấp bậc trong Bộ Lại Bộ Nội vụ, ngoại trừ chức Tư Vụ, tức Thượng Thơ Bộ Lại, và cũng ngoại trừ chức Lang-Trung 郎中.

Ông là con trai thứ ba của Trung-Kính. Mẹ ông là người họ Dương, tên là Từ Ái, sinh được ba người con trai. Mộ ông ở huyện Cổ Ngựa, giỗ Ngài ngày 7 tháng 10 âm lịch. Mộ của người vợ thứ  ở huyện Xương, giỗ ngày 26 tháng 4 âm lịch. Con trai đầu lòng của Bà là Viên-Đức. Con trai thứ hai là Hưng-Viễn theo đạo Hoa lang (12). Theo văn bản này; Đỗ Hưng Viễn theo một tôn giáo tên là Hoa lang, nhưng như chúng ta sẽ thấy sau này, đây chỉ có thể là Công giáo, giải nghĩa này của Cố Poncet không đúng.

Nhiều người trong chúng ta, như bản thân người viết, có thể hoang mang không hiểu rõ Đạo Hoa Lang là gì, rồi cho đó là thân thuộc với Hà Lan hay Hoà Lan (trường hợp Cố Thảo Poncet). Gần đây trong Ngun gc và ý nghĩa các tên gi Hoa Lang 花郎 và Hoa Lang Đạo 花郎道, Roland Jacques mở cửa một giải thuyết mới!

Trong văn liệu Việt Nam có liên quan với Phương Tây, viết trong khoảng từ thế kỷ 17 đến đầu 19, chúng ta thường gặp những ngữ đoạn Hoa Lang và Hoa Lang đạo. Đây là những tên gọi chỉ một loại người ngoại quốc và tôn giáo của họ. Nhưng Hoa Lang chính xác là người nước nào? Người đương thời và một số nhà sử học sau này có những cách hiểu và giải thích khác nhau. Trên cơ sở những tư liệu mới phát hiện được Linh mục Roland Jacques trình bày về nguyên do và ý nghĩa các tên gọi Hoa Lang và Hoa Lang đạo.

Một số biện giải mang màu sắc từ nguyên học dân gian. Sang thế kỷ 20 và cho đến tận hôm nay, còn rất nhiều cách giải thích mang màu sắc từ nguyên học dân gian, đầy hư ảo. Hoa Lang là những lái buôn nước ngoài trẻ tuổi (lang) đã vào Việt Nam bán một loại vải hoa (hoa); hoặc là những người đàn ông lái buôn nói chung bán một loại vải có hình hoa khoai lang. Đó là những lái buôn người Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha. Hoa Lang chỉ chung những người Phương Tây, mà tiêu biểu là người Hoà Lan (hoặc Hà Lan): thủy thủ Hoà Lan là những người phương Tây đầu tiên  đã tiếp xúc với Việt Nam. Giả thuyết này là sự tưởng tượng của người chỉ có nguồn văn liệu phương Tây. Một sự tưởng tượng thật là khó tin. Để hiểu rõ xuất xứ của tên gọi « Hoa Lang » mà chỉ dựa vào văn liệu phương Tây là chưa đủ, còn phải cần đến thế giới ch vuông Hán ngữ.

Xem  Đại Việt sử ký bản kỷ tục biên, mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ 18 (1697), quyển XIX do Lê Hy chủ biên, tờ 4a-b, năm Quý Mão, Cảnh Trị thứ 1 [1663]: « Đông thp nguyt cm Thiên h hc Hoa Lang đo. Sơ hu Hoa Lang quc nhân nhp cư quc trung lp vi d đo thu [*] hoc ngu dân. Bì phu bì ph đa tín m chi… » [* Xin sửa lại chữ « thuỳ » đọc « quái »]. Dịch tiếng Việt: « Mùa đông, tháng 10, cấm người trong nước học đạo Hoa Lang. Trước đây có người nước Hoa Lang vào ở nưóc ta lập ra đạo lạ để lừa phỉnh dân ngu. Bọn đàn ông đàn bà nhiều kẻ tin mộ, … ». Xem Đại Việt sử ký toàn thư do Hà Văn Tấn chủ biên, Hà Nội, nxb Khoa học Xã hội, 1993, tập iv, tr. 621 (bản chữ Hán), và tập iii, tr. 264 (bản tiếng Việt).

Xem, chẳng hạn Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, quyển 1, Sài Gòn, NXB Hiện Tại, 1959, tr. 23. Đỗ Quang Chính, đã nghiên cứu nhiều tư liệu chính gốc, cắt nghĩa đúng hơn ở đây là tên gọi của người Bồ Đào Nha; nhưng ông cũng đã chấp nhận cách hiểu xuất xứ tên ấy như vậy. Xem Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, Sài Gòn, Ra Khơi, 1972, tr. 31. Chữ lang[103], bằng tiếng Hán-Việt thường dùng, nghĩa là người đàn ông còn trẻ.

Mới đây có Hoàng Tiến, Ch Quc ng và cuc cách mng ch viết đu thế k XX, quyển I, Hà Nội, NXB Lao Động, 1994, tr. 39-40, đề cập đến ngữ thuật Hoa Lang.

Giả thuyết thứ hai, hiện nay đang được phổ biến tại Việt Nam, lại đáng nể vì hơn, vì có nguồn gốc khá cổ, lại gắn với tên tuổi một nhân vật lịch sử có kiến thức về Đông phương học. Năm 1856 vua Dực Tông (Tự Đức) đã ủy nhiệm một hội đồng, do Phan Thanh Giản làm tổng tài (chủ bút), soạn lại bộ Quốc sử Việt Nam. Năm 1859 việc này đã hoàn tất, và vào năm 1884 được in, nhan đề là 欽定越史通鑑綱目 Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Về năm Quý Mão, năm Cảnh Trị thứ nhất đời vua Lê Huyền Tông, tức là 1663, sách này có đề mục (綱 « cương ») là: 申禁爺蘇左道 « Thân cấm Gia tô tả đạo », nghĩa là « Việc cấm tả đạo là Kitô giáo ». Rồi bày tỏ (目 mục) là: 先是有西洋人號花 郎夷入居國中 以爺蘇異道 誑誘愚民 « Tiên thị hữu Tây dương nhân hiệu Hoa Lang di nhập cư quốc trung dĩ Gia tô dị đạo cuồng dụ ngu dân… », nghĩa là: « Trước đấy có người nước ngoài thuộc phương Tây, được gọi là ngoại bang Hoa Lang, đã nhập cư vào nước này đem dị giáo là Kitô giáo, lừa bịp dân ngu đi theo… ». Sau đó ủy ban Phan Thanh Giản đã thêm vào một chú thích (註 chú) là: [花郎] 明史外國傳謂之和蘭 亦在西洋者俗訛為花郎 Hoa Lang: Minh sử ngoại quốc truyện vị chi Hoà Lan diệc tại Tây dương giả tục ngoa vị Hoa Lang, nghĩa là: Cuốn Ngoại quốc truyện của Minh sử ghi họ là Hoà Lan, cũng thuộc về phương Tây; nhưng tục lệ sai lầm [biến đổi tên này] thành Hoa Lang.

Cho dù kính trọng công việc của Phan Thanh Giản, nhưng không thể chấp nhận giả thuyết này được, vì đi ngược với các tư liệu lịch sử. Thời Minh, Hoà Lan chiếm được đảo Đài Loan, nên Minh sử cần phải quan tâm đến nước ấy, nhưng sách ấy cũng nhắc đến ngoại bang phương Tây khác, ghi bằng tên khác, như chúng ta sẽ thấy sau này.

Thực thế người phương Tây đầu tiên đến Việt Nam, và cả Đại Minh (Trung Hoa), là người Bồ Đào Nha; gần 80 năm sau, người Hoà Lan mới tới, và tên gọi Hoa Lang đã có t trước. Quả vậy, năm 1514, tàu buồm Bồ Đào Nha dến Trung Hoa, và năm 1524 đến Việt Nam lần đầu tiên. Đến khoảng năm 1580 đã có những quan hệ thương mại thường xuyên giữa người Bồ Đào Nha trú ở 澳門 Áo Môn (Macao) với xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn Hoàng. Trái lại, năm 1579 nước Hoà Lan, trước đấy là một phần của lãnh thổ Tây Ban Nha, mới tuyên bố độc lập; mãi đến 1599 tàu buôn của Hoà Lan mới vượt bán đảo Mã Lai đi vào vùng Biển Đông; và đến năm 1601 họ mới đến thử thời vận tại Việt Nam, nhưng không thành công. Hơn nữa, thời đó ở Việt Nam đạo Thiên Chúa (đạo Công giáo La mã) đã bắt đầu được truyền bá ở một số vùng. Còn ở Hoà Lan, đạo Gia Tô La mã đang bị cấm, và tôn giáo chính thống lại là đạo Tin lành. Mãi đến cuối thế kỷ 19, đạo Tin lành mới có mặt ở Việt Nam.

Về chuyện sắc phong năm Chính Trị 15, ở đây chúng ta có sự khác biệt với các tài liệu chính thức. Như đã nói ở trên, thời kỳ Chính-Trị kéo dài từ năm 1558 đến năm 1571 và chính thức chỉ bao gồm 14 năm. Vì vậy, theo các sử gia chính thức thì không có năm thứ 15 thời Chính-Trị. Tuy nhiên, những biến cố xảy ra lúc bấy giờ cho phép chúng ta giả định rằng đối với nhân dân, năm 1572 vẫn thuộc thời Chính-Trị, tức là năm thứ 15. Quả thực, Biên niên sử Cương mục 28, folio 31a, dạy chúng ta rằng vào ngày mồng một năm 1572, Lê-Anh-Tôn tế trời, thả rơi Lư đốt hương. Dấu hiệu đáng ngại này ngay lập tức được ngăn chặn bằng sự thay đổi tên gọi của thời kỳ trị vì, và năm 1572 (nhâm-thân) được coi là thời đại của thời Hồng-Phúc. Nhưng thật ra năm ấy, nhân thâm 1572, là năm thứ 15 thời Chính-Trị. Tuy nhiên, còn có sự kiện quan trọng hơn nữa đã diễn ra: ngày 21 tháng 11 năm nhâm thân, tức là vào cuối năm 1572 hoặc những ngày đầu năm 1573, Lê-Anh-Tôn, hoảng sợ trước ảnh hưởng của Trình Tòng, lo sợ cho mạng sống của mình nên đã trốn về Nghệ An cùng với bốn người con. Ngày 22 tháng 1 năm 1573, ông qua đời, chắc chắn bị Trình Tòng giết chết. Đối với người dân, tất cả những sự kiện này ít nhiều vẫn còn trong bóng tối, và năm 1572, thay vì là năm đầu tiên của Thời Hồng Phúc có thể được coi, thậm chí rất lâu về sau, là thời kỳ thứ 15 Chính Trị. Cương-múc quyển 28, trang 34; quyển 29, từ trang 1 đến trang 3. — Xem L. CADIÈRE, Các bảng niên đại về các triều đại An Nam. B.E.F.E.O., 1905.

Việc theo đạo Hoa Lang Cố Đỗ Hưng Viễn này diễn ra khi nào?

Có thể nói rằng chắc chắn nó đã diễn ra vào nửa sau thế kỷ 16 và rất có thể là vào thời vua Lê Anh Tôn, 1556-1573. Gia phả kể rằng cha của Hưng Viễn đã được phong tước hiệu cao quý nhất vào năm Chính-Trí thứ 15; vì giai đoạn này kéo dài từ 1558 đến 1571, phải thừa nhận rằng tước hiệu được ban vào năm 1571. Tuy nhiên, những tước vị cao nhất mà các vua An Nam ban cho thần dân của mình luôn được, khi họ đạt được vào cuối sự nghiệp của họ, vào khoảng năm 55. hoặc 60 tuổi. Vì thế phải thừa nhận rằng Đỗ Biểu ở độ tuổi này vào năm 1571. Còn con trai ông là Hưng-Viễn thì cùng năm đó ông phải trên dưới ba mươi tuổi.

Ảnh Gia phả Họ Đỗ Bồng Trung, EFEO.

Mặt khác, mọi người ở An Nam đều biết rằng việc cải đạo riêng lẻ của con cháu các đại quan thường không diễn ra ở tuổi trẻ hay tuổi già mà ở tuổi trung niên. Chúng không diễn ra ở tuổi trẻ, vì khi đó con cái vẫn hoàn toàn phục tùng quyền lực của cha mẹ. Chúng cũng không xảy ra ở tuổi già, bởi vì khi đó, nhất là trong giới quan lại, chúng ta có nhiều vợ và nhiều con; và tất cả những người tùy tùng này là một trở ngại lớn cho sự hoán cải của người chủ gia đình. Ngoài ra, những người trong gia đình quan lại cải đạo riêng luôn ở độ tuổi từ 20 đến 35. Quyền lực của cha mẹ sẽ ít ảnh hưởng hơn nhiều đối với họ, và nếu họ đã kết hôn, họ vẫn chưa có thời gian để trở thành đa thê; về phần con cái, nếu có thì chúng còn nhỏ nên không có khả năng gây áp lực cho người cha.

Vì thế có lý do để khẳng định Đỗ Hưng Viễn được rửa tội ở độ tuổi từ 20 đến 35, tức là vào khoảng năm 1560 hoặc muộn nhất là 1570: Lúc đó dưới đời vua Lê Anh Tôn, thời Chính Trị (1558- 1571). Nếu ai đó cảm thấy ý kiến ​​này chưa đủ cơ sở thì chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi của mình thêm vài năm nữa (!) và nói với họ rằng Hưng-Viễn chắc chắn đã cải đạo trong khoảng thời gian từ 1550 đến 1580.

Cố đã được hoán cải theo đạo ở đâu và bởi ai?

Trước năm 1581, chắc chắn rằng không có nhà truyền giáo Công giáo nào tiếp xúc với người An Nam ở phía bắc Tourane. Các nhà hàng hải châu Âu, sau khi thiết lập được chỗ đứng ở Malacca vào năm 1511, lần đầu tiên đã tìm ra con đường buôn bán gia vị đến đảo Celebes và Mollucas; rồi đến tơ lụa hướng tới Trung Quốc và Nhật Bản, chỉ được phát hiện vào năm 1542. Các tàu Bồ Đào Nha khởi hành từ Malacca hoặc Singapore để đến Trung Quốc và Nhật Bản, đã ghé các cảng Đông Dương chỉ để tiếp tế lương thực và nước uống, nhưng họ chỉ chú ý đến việc buôn bán tơ lụa, họ vội vàng đi đến mục tiêu của cuộc hành trình nên không liên lạc với người dân ở bờ biển nơi họ dừng chân. Mặt khác, họ chỉ đi men theo bán đảo Đông Dương cho đến Tourane, từ đó hướng về phía nam đảo Hải Nam và Quảng Châu. Vịnh Bắc Bộ không được họ quan tâm, chỉ có những chiếc thuyền bị bão tàn phá mới vào, nhưng là ngoài ý muốn.

Giống như các thương nhân, các nhà truyền giáo trên những con tàu này chỉ có một mục tiêu, đến Trung Quốc hoặc Nhật Bản. Ngoài ra, Thánh Phanxicô Xavier đi qua bán đảo Đông Dương ba lần, vào các năm 1549, 1551 và 1552, không dừng lại; Ngài không nói đến bất cứ nơi nào trong các bức thư của mình. Không phải Campuchia, cũng không phải Champa, mà cũng không phải vương quốc An Nam.

 Theo ROMANET DU CAILLAUD, trong cuốn Tiểu luận về nguồn gốc Kitô giáo ở Bắc Kỳ và các nước An Nam khác, Essai sur les origines du Christianisme au Tonkin et dans les autres pays annamites, trang 36 et seq. (Paris, Augustin Challamel, 1915), nhà truyền giáo đầu tiên tiếp xúc với người An Nam là Cha Giovani Battista da Pesaro, tu sĩ dòng Phanxicô; và Ngài ấy trên đường từ Macao. Đến Macao  vào năm 1581, ông nghe nói về vương quốc An Nam, và nuốn gửi làm quà cho vua nước này một bức tranh về sự phán xét cuối, jugement dernier, cùng kèm theo một lá thư trong đó ông nói rng mong mun ln lao được tiến v vương quc An Nam, cùng vi mt s các đng nghip ca mình, đ rao ging phúc âm đó. Nhà vua trả lời rằng ông sẽ vui vẻ tiếp đón các nhà truyền giáo. nhưng Giovani Battista da Pesaro đã không thể lợi dụng thiện chí vua, vì Ngài có quá ít tu sĩ. Cũng trong khoảng thời gian này, hai nhà truyền giáo đến Bắc Kỳ: Cha Diègo d’Oreposa năm 1583, và Cha Bartholomê de Ruiz năm 1584; nhưng cả hai đều thất bại và phải tái xuất, mà chưa làm được gì.

Ở trang 67 cùng tác phẩm, R. DU CAILLAUD kể lại một sự kiện đáng ngạc nhiên xảy ra ở Thanh Hoá vào năm 1582-1583: việc người An Nam truyn giáo cho người An Nam. Những người sau này, có lẽ chỉ có hai hoặc ba người, chắc hẳn đã được cải đạo trên các con tàu của Bồ Đào Nha hoặc Tây Ban Nha mà họ đã lên đó, hoặc có lẽ nhiều hơn là tại trường Giáo lý viên do P. de Pesaro thành lập ở Ma Cao vào năm 1581. Cuối cùng, vào khoảng năm 1588 hoặc 1589, hai linh mục người Bồ Đào Nha là Affonso da Costa và Gonsalves de Sa đến Thanh Hóa và ở lại An Trường vài năm và cải đạo một số tín hữu. Đây là những người tiên phong rao giảng Tin Mừng, những người đầu tiên tiếp xúc với người An Nam.

Tổ tiên Đỗ Hưng Viễn chắc chắn đã được rửa tội trước năm 1580, do đó ông không được là một người nào trong số họ rửa tội, ông cũng không được cải đạo ở quê hương mình. Ông được rửa tội ở đâu? Có mọi lý do để tin rằng đó là trong một chuyến đi đến Macao, hoặc có lẽ đúng hơn, ở đảo Celebes, trên một con tàu của Bồ Đào Nha, và chuyến đi này vào thời Lê Anh Tôn (1556-1573).

Lê Anh Tôn, một vị vua đặc biệt phóng khoáng tự do, giống như tất cả các vị vua nhà Lê, hiểu rằng ông quan tâm đến việc thu hút các nhà hàng hải châu Âu đến đất nước của mình, vì vậy, ROMANET DU CAILLAUD nói, Vua đã ra lnh cho nhng người theo đo Cơ đc đ b vào vương quc ca mình. Vương quốc sẽ đón nhận nồng nhiệt với sự hiện diện của vua. Một chuyện xảy ra,  một chiếc tàu Bồ Đào Nha bị hạm đội An Nam bắt giữ; người Bồ Đào Nha được đưa đến trước mặt nhà vua. Trong số đó, có một thương gia mang theo một bức thư do một tu sĩ dòng Phanxicô viết cho vua. Nếu vào năm 1572, vẫn chưa có tu sĩ dòng Phanxicô ở Macao cũng như ở Philippines, thì đã có một số tu sĩ dòng Phanxicô từ lâu ở quần đảo Sunda. Ngay từ năm 1548, một đoàn truyền giáo của các Tu sĩ này đã rời Lisbon đến đảo Celebes. Vua An Nam rất nhạy cảm trước sự chú ý của nhà truyền giáo này; ông đã trả lời và, trong lá thư của mình, vua yêu cu tu sĩ đến và mang theo các linh mc Kitô giáo khác.

  1. DU CAILLAUD cho biết ngay sau đó, một sự kiện kỳ ​​diệu đã khẳng định khát vọng của nhà vua đối với Cơ đốc giáo. Một trong những thần dân của ông, sau khi di cư đến thuộc địa của Bồ Đào Nha, đã trở thành một Cơ đốc nhân ở đó. Trở về Bắc Kỳ, ông khẳng định tôn giáo mới của mình bằng cách trồng cây thánh giá gần cửa nhà. Khi đi ngang qua cây thánh giá này, ông cúi chào, một cách lạy mà một người An Nam phải làm với cấp trên của mình hoặc trước một vật mà mình phải tôn trọng. Nhiều người đã chế nhạo ông ta ; Thậm chí, bị các thầy chùa thúc đẩy, họ đã kéo cây thánh giá này xuống và định đốt, thì bị đánh chết. Cha dòng Phanxicô mà nhà vua đã viết thư cho đã thông báo với ông rằng ông không thể đến truyền giáo cho vương quốc được. Sau đó nhà vua đã viết thư cho Macao.
  2. DU CAILLAUD nói, khi yêu cầu các nhà truyền giáo Thiên chúa giáo, Lê Anh Tôn bị lay động bởi ba động cơ; một mặt, muốn biết một đạo quá mới đối với vua, mặt khác. chắc hẳn vua cũng không ít mong muốn được tiếp xúc với những người Bồ Đào Nha dũng cảm và hùng mạnh, mong tìm được ở họ những trợ thủ, để vừa đánh bại nhà Mạc đang tiếm quyền, vừa rũ bỏ ách thống trị của ChúaTrịnh Tòng (ROMANET DU CAILLAUD : Tiểu luận về nguồn gốc của Kitô giáo, tr. 17 et seq.)

Nếu Đỗ Hưng Viễn không phải là người An Nam mà ROMANET DU CAILLAUD nói đến, người đã di cư đến một thuộc địa của Bồ Đào Nha và theo đạo Thiên Chúa ở đó, thì có lẽ ông là một trong những người được vua Lê Anh Tôn giao nhiệm vụ mang thư vua đã viết cho tu sĩ dòng Phanxicô ở Quần đảo Sunda, hoặc bức thư mà vua gửi tới cơ quan giáo hội của Macao. Dù thế nào đi nữa, chắc chắn Hưng Viễn đã cải đạo vào thời điểm ông ở gần người Bồ Đào Nha, và xa đất nước của Ngài.

Một điểm khác cần giải thích. Gia Phả cho rằng Đỗ Hưng Viễn theo đạo Hoa lang, tức là đạo Hà Lan. Tôn giáo Hà Lan này có ý nghĩa gì? Có phải là Công giáo không? Có phải đạo Tin lành là quốc giáo của Hà Lan không? Không có bất kỳ nghi ngờ nào, chúng tôi (Cố Thảo Poncet) muốn chỉ định ở đây, không phải đạo Tin lành, vốn không được rao giảng ở Viễn Đông cho đến hơn 200 năm sau, mà là đạo Công giáo, được rao giảng ở đó kể từ khi các thương gia Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đầu tiên đến vào khoảng năm 1520 (?).

Người dân Viễn Đông nói chung và người An Nam nói riêng khi đó gọi Công giáo bằng tên nước mà người phương Tây tiếp xúc: nếu là người Bồ Đào Nha thì gọi là đạo Phutughê; nếu là người Tây Ban Nha thì thành đạo Yphanho; nếu họ là người Pháp, thì là đạo Phalangsa, Falenkis mà Cha Henri BERNARD, S.J., nói trong cuốn sách của ông, Pour la compréhension de l’Indochina et de l’occcident, p. 58. Vào thời điểm Đỗ Hưng Viễn lần đầu tiên được ghi trên Gia phả của họ Đỗ, tức là vào thế kỷ 17, người Hà Lan đã thay thế người Bồ Đào Nha ở Viễn Đông từ lâu (sic) nên đạo Công giáo đã trở thành cho người An Nam đạo Hoa lang.

Từ năm 1497, khi VASCO DE GAMA lần đầu tiên vượt qua Mũi Hảo Vọng, người Bồ Đào Nha đã thành lập, ngoài điểm này, một đế chế thuộc địa (sic) rộng lớn trải dài từ Lourenço-Marquez ở Châu Phi đến Macao và Nagasaki, nơi có một trạm buôn bán. Nhưng ngay sau đó, trong số những nhà hàng hải táo bạo và dũng cảm này, lòng khao khát lợi nhuận và lòng tham vô độ đã thay thế sự tò mò nồng nhiệt và tinh thần tôn giáo của những người chinh phục đầu tiên, và đây là nguyên nhân dẫn đến sự suy đồi, nhanh chóng như cuộc chinh phục. Đế chế này có nguy cơ bị hủy hoại khi vào khoảng năm 1590, người Hà Lan tấn công. Từ năm 1595 đến năm 1602, họ đã tiến hành không dưới 14 chuyến thám hiểm tới Quần đảo Sunda; sau đó họ thành lập Công ty Đông Ấn hùng mạnh bao phủ toàn bộ vùng Viễn Đông với các trạm giao dịch của mình. Có một ở Faifoo, một ở Hưng Yên và một ở Hà Nội. Bằng mọi cách mà những thương nhân này đã tìm cách lập nghiệp, và vào thế kỷ 17 chúng ta thấy có một vị vua An Nam,

Lê Thánh Tôn (1619-1643, rồi lại 1649-1663), lấy một phụ nữ Hà Lan. Chúng ta đọc trong Di tích và di tích lịch sử Thanh Hoá, Monuments et lieux historiques du Thanh Hoá, của H. LE BRETON: làng Mt-Sơn, Lê Thánh Tôn có xây miếu th ông. Trong ngôi chùa này có bn phòng: phòng th nht dành cho Tam-Tôn, b ba tượng trưng cho các v Pht quá kh, hin ti và v lai, hay ba trng thái ca mi v Pht; th hai là Quan Thế Âm (người nghe tiếng kêu ca thế gian), n thn được mnh danh là M T Bi; th ba dành cho Thiên-Th (ngàn tay); Phòng th tư bên trái có tượng Thn Tôn, phía trước b trí đi xng, trái phi vua, tượng sáu người v trong trang phc dân tc. Trên thc tế, h đến t sáu vương quc khác nhau: An Nam, Trung Quc, Ba Thc (Trung Quc), Xiêm, Mường và Hà Lan. Đây là lý do tại sao chúng ta không nên ngạc nhiên khi thấy người An Nam vào thế kỷ 17 gọi Công giáo là đạo Hà Lan; đối với họ, mọi thứ thuộc về châu Âu đều là tiếng Hà Lan.

Nhưng người Hà Lan theo đạo Tin lành nên có vẻ như thuật ngữ tôn giáo Hà Lan nên ám chỉ đạo Tin lành hơn là đạo Công giáo. Không, không hề, bởi vì nếu chủ nghĩa trọng thương của người Bồ Đào Nha và người Tây Ban Nha mang tính tôn giáo thì chủ nghĩa trọng thương của người Hà Lan hoàn toàn phi tôn giáo. Nhng người theo đo Tin lành đi th (người B Đào Nha) hoàn toàn không quan tâm đến vic tuyên truyn tôn giáo ca nhng người tin nhim Công giáo ca h, và h không quan tâm nhiu hơn đến vic truyn bá văn hóa; h ch tìm kiếm li ích thương mi, ging như người Hà Lan, và nếu có th thì thêm các cuc chinh phc lãnh th, như người Anh. (Henri BERNARD, S.J.: Để hiểu về Đông Dương và phương Tây, Hà Nội 1939, tr. 87).

Cũng trong Đỗ tộc Gia Phả, ở trang II và II bis, đưa ra những thông tin sau, nhánh trưởng chính (13) thế hệ thứ tám, ông tổ của gia đình Tướng công[104], tên huý Cảnh; tên truy tặng Nguyên; tên gọi Viên-Thành (14); người năm Dương Hòa thứ 5 [1639] (15), được sắc phong bổ nhiệm Tiền Quân Tiền Dinh Tuyển Phong Tiền Dực Vệ[105] (16); Đô Tư Thiêm Sự (17); Đô Chỉ Huy Sứ (18); Hầu tước Triều Lễ.

Và vào năm Thịnh Đức thứ 2 [1654] (19), được thăng Đặc Tấn Phụ Quốc Tướng Quân (20); Tiết Chế (21); Nam Quân Đô Đốc (22); Chính Thống (23); Đề Đốc (24); Kỳ Quận Công (25). Ông là con trai thứ ba của Viên-Khang. Mẹ ông là người họ Nguyễn, hiệu Từ Tại; cô là con gái của Thái công. Ông sinh được 9 người con trai. Mộ ông ở huyện Táo. Giỗ Ngài ngày 23 tháng 7 âm lịch. Bà vợ ông có lăng mộ ở quận Trưng; giỗ ngày 1 tháng 8 âm lịch.

Con trai đầu là Viên Mãn, nhánh này theo đạo Hoa Lang. Vì họ không còn coi trọng bổn phận đối với Tổ tiên nữa nên truyền lại cho người con thứ hai và con cháu đời thứ tám việc trông coi đồ đạc thắp hương, đốt lửa. Người con thứ là Viên-Chính, chi nhánh này giữ các bổn phận đối với Tổ tiên, nhà thờ và đồ thắp hương, đốt lửa.

Theo tài liệu này, chúng ta đang chứng kiến ​​cuộc Ra ti ci đo th hai Công giáo, nhưng sau lần đầu tiên cải đạo của Đỗ Hưng Viễn khoảng sáu mươi năm. Đỗ Viên Mãn chắc chắn đã được rửa tội sau khi Cha Alexandre DE RHODES đến Cửa Bạng (Thanh Hóa) vào năm 1627. Cha của ông chắc hẳn là một quan đại thần của vua Lê Thánh Tôn, vị vua đã phong ông làm Hầu tước Triều Lễ, Nam Quân Đô Đốc và Kỳ Quận Công năm 1654. Ta có đủ lý do để tin rằng hai tước vị cuối cùng này, cấp bậc cao nhất trong hệ thống quan lại, chỉ được ban tặng, như thông lệ, để thưởng một sự nghiệp lâu dài và trọn vẹn, vào khoảng 70 tuổi. Đối với những tước vị được phong vào năm 1639, cấp bậc thứ hai trong hệ thống quan lại, khen thưởng những công lao xuất sắc và chỉ được trao thưởng sau 50 tuổi.

Niên giám 2005 của Giáo hội Công giáo Việt Nam ghi thêm một chi tiết quan trọng, Đỗ tộc gia phả tìm thấy ở họ Bồng Trung xứ Kẻ Bền, ghi ông Đỗ viên Mãn là con trưởng của cụ Đỗ Cảnh đã theo đạo Hoa Lang khi có dịp tiếp xúc với người ngoại quốc cặp bến Cửa Bạng, Ba Làng. Tôi không được biết có thêm những diễn biến gì khác đã xảy ra ở Đông Biện từ năm 1588 cho đến ngày 19 tháng 3 năm 1627 khi linh mục Đắc lộ và giáo sĩ Marquez đặt chân lần đầu tiên lên đất Việt Nam ở Cửa Bạng xã Hải Thành huyện tỉnh Huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh hóa, khởi sự cho việc truyền giáo của Dòng Tên ở Đàng ngoài. Và ngày tháng bốn năm 1627 đã có hai nhà thờ đầu tiên ở An Vực và Vân No, Ba Làng. Phả ghi Cố Đỗ viên Mãn theo đạo Hoa Lang năm 1627, vậy thì rất có thể Cố là người Việt Nam sở tại đầu tiên tiếp xúc với linh mục A lịch Sơn Đắc lộ khi ngài cập bến Ba Làng và đã được linh mục này rửa tội. Lúc đó họ Đỗ đã là một cự tộc giàu có nên việc lập thành nhà thờ nhanh chóng như thế cũng chỉ là chuyện dễ dàng. Nếu giả thuyết tôi đúng, thì họ Đỗ không những là họ số một ở Việt Nam có 60 khoa bảng tiến sĩ, mà lại còn có Cố Hưng Viễn người đầu tiên theo đạo Hoa Lang và Cố Viên Mãn người đầu tiên tiếp xúc và chịu phép rửa tội bởi nhà truyền giáo Đắc lộ.

Ngoại Tộc Đỗ có duyên có phận, và … có nợ với Ki Tô Giáo!

Thân phụ và thân mẫu tôi hay nhắc đến thánh tử vì đạo Giacôbê Đỗ Mai năm sinh năm 1781 tại Đông Biện Thanh hóa, linh mục thuộc hội Thừa sai Paris, đã trốn tránh khỏi bị bắt một thời gian lâu dài trong nhà thánh AnTôn Đích. Ngài bị khám phá ra và cả hai bị bắt cùng với bố vợ của thánh AnTôn là Micae Mỹ. Bị xử trảm ngày 12 tháng 8 năm 1838 tại Bẩy mẫu Nam định dưới đời vua Minh Mạng, được phong chân phước ngày 27 tháng 5, 1900 do Đức Lêô XIII, lễ kính mỗi năm vào ngày 12 tháng 8. Ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Gioan Phaolô II suy tôn Ngài nên bậc Hiển Thánh.

Cố Năm sinh năm 1781, người làng Đông Biên, xã Minh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, thuộc Giáo phận Thanh Hóa, tên trong sổ bộ là Mai Ngũ, là con gia đình lương dân họ Mai nhưng vì nhà khó khăn cho làm con nuôi người đi đạo Công giáo họ Đỗ nên có tên là Đỗ Mai Năm. Ngài chịu chức linh mục năm ba mươi hai tuổi.

Từ bé, Giacôbê Năm đã sống trong Nhà chung, sau đó được vào Chủng viện Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị), thời Đức giám mục Jacques Benjamin Longer – Gia. Khi làm thầy giảng, thầy Năm được cử ở lại giúp Chủng viện Kẻ Vĩnh. Ban ngày thầy coi sóc kẻ liệt, buổi tối thầy đi dạy trẻ con làng Kẻ Vĩnh.

Làm thầy giảng được mấy năm thì bề trên gọi thầy học Đại chủng viện, truyền chức linh mục cho thầy, cùng sai đi giúp các xứ đạo lúc thầy mới đến ba mươi hai tuổi. Linh mục Giacôbê Năm là người hiền hòa, dễ mến. Cha năng đọc kinh, lần hạt. Đặc biệt, cha Giacôbê Năm có lòng thương kẻ khó khăn, hay giúp đỡ người nghèo về cơm áo, thuốc men.

Vào khoảng giữa thời Minh Mạng, bề trên đem cha Năm về Nhà chung Kẻ Vĩnh được hai ba năm thì có chỉ cấm đạo, bắt các đạo trưởng, triệt hạ các nhà thờ, nhà xứ. Bấy giờ Nhà chung Kẻ Vĩnh phải tản đi. Linh mục Năm ẩn trốn ở nhà ông trùm Tốn, họ Kẻ Nguồi ba bốn năm. Khi cơn cấm đạo đã nguôi, Nhà chung đã hồi lại, cha Năm lại về Kẻ Vĩnh.

Chẳng được bao lâu, các quan lại bắt đạo ngặt quá, cha Năm phải ẩn trốn trong nhà ông trùm Đích ở làng Kẻ Vĩnh. Lúc ấy có kẻ tên Tỉ quê ở Đông Mặc và tên Xuân quê Tiểu Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, tố giác cha Năm với quan tuần phủ Nam Định tên là Trịnh Quang Khanh.

Sáng ngày 11/05/1838, quan tuần phủ đi thuyền đến bến Kẻ Vĩnh, lên ngồi ở đình làng, đòi mọi người từ mười tám tuổi trở lên phải đến tại đình trình diện. Quan bắt lý trưởng làm tờ cam kết, hễ bắt được đạo trưởng, cùng đồ đạo quốc cấm trong làng thì mình chịu tội. Khi quân lính bao vây làng Kẻ Vĩnh, cha Năm thắt lưng, xăn quần định trà trộn vào đám dân chúng đi làm cơm cho quan ăn. Nhưng chưa kịp ra khỏi nhà thì quân lính đến. Lính đến gần nhà ông trùm Đích gặp linh mục Năm, thấy người trắng trẻo, lại râu ria đẹp đẽ thì hỏi người rằng: “Ông là ai, có phải là Cụ chăng?” Cha Năm thưa rằng: “Tôi là người nhà này”. Bấy giờ kẻ Tỉ và Xuân liền kêu lên rằng: “Đó chính là linh mục đang trú ở nhà ông trùm Đích đấy”. Cha Năm nói: “Phải, tôi là linh mục đây”. Lính xông tới bắt và trói cha cùng ông trùm Đích đem nộp cho quan đang ngồi tại đình làng.

Khi đến trước mặt quan, cha cũng xưng mình là linh mục. Quan bảo rằng: “Triều đình nghiêm cấm đạo Giatô, sao chẳng về nhà làm ăn còn giảng đạo làm gì?”Quan lại hỏi cha rằng: “Linh mục có bước qua thập giá chăng?” Cha thưa rằng: “Bẩm quan lớn, chúng tôi không bước qua thập giá”. Quan hỏi cho qua chuyện rồi truyền đóng gông cha Năm cùng ông trùm Đích và lý trưởng Mỹ, con rể ông trùm Đích, và xuống thuyền ra Nam Định. Khi cha Năm vừa đến Nam Định thì bị giam ngay. Hôm sau, các quan đòi cha ra và bắt bước qua thập giá, nhưng cha cương quyết không chịu. Ngày 12/08/1838, cha Năm, ông trùm Đích và ông lý Mỹ bị chém đầu ở pháp trường Bảy Mẫu. Ngày sau, khi đã bình yên, Nhà chung dựng nhà mồ có treo câu đối:

Hoành hoành nghĩa khí quần giam Cụ

Lẫm lẫm trung thành vạn cổ sư

Sự phát triển của sứ mệnh truyền giáo đi kèm với Việt Nam cũng như các nơi khác bằng những thành tựu cao nhất trong lĩnh vực văn hóa. Năm 1615, các tu sĩ Dòng Tên của Tỉnh Dòng Nhật Bản, khi khai mạc sứ mệnh Việt Nam, đã có hơn hai mươi năm kinh nghim nghiên cứu và sáng tạo ngôn ngữ bằng tiếng Nhật. và tiếng Nhật chiếm vị trí đối xứng, và hai ngôn ngữ này, tiếng Việt và tiếng Nhật, chịu ảnh hưởng như nhau thông qua ngôn ngữ ký tự.

Điều này có thể giải nghĩa tính cách thc thi của các Giáo sĩ Bồ, ngay từ đầu thế kỷ 17, đã có những căn bản chắc chắn, sáng kiến để chuyển đổi văn ngữ Bồ qua việc cải tác và phiên mã các âm dồi dào tiếng Việt (líu lo như chim hát …) với các chữ cái Latinh. Ở đây ta phân biệt tiếng Việt nói và chữ Việt viết.

Bản dịch đầu tiên các văn bản tôn giáo Kitô giáo sang tiếng Việt có từ năm 1618, và chủ yếu là do Francisco de Pina thực hiện. Là một tu sĩ Dòng Tên sinh ra ở Bồ Đào Nha 52, ông đã hoàn thành việc học tại trường đại học Macao, nơi nhà ngữ pháp của tiếng Nhật João Rodrigues Tçuzzu đã có mặt từ năm 1610. Đối với công việc của mình, Pina đã nhận được sự giúp đỡ đắc lực từ một học giả trẻ đã được rửa tội dưới tên Phêrô, người có kiến ​​thức tốt về tiếng Trung, chắc hẳn sẽ rất hữu ích trong hoàn cảnh này. Những sự thật này xuất hiện từ một báo cáo chính thức của phái bộ: Người đàn ông này, một người bạn học giả của phái đoàn, có một cậu con trai mười sáu tuổi, là người hoạt bát và thông minh nhất vùng, đồng thời là người viết chữ Hán giỏi nhất, một nghệ thuật rất tuyệt vời, rất được quý trọng trong số họ… Người thanh niên này, được rửa tội dưới tên Phêrô Pierre[106], nhờ vào sự hiểu biết của đã giúp đỡ rất nhiều Cố Pina, từ kinh Chúa Cha, để dịch sang ngôn ngữ của đất nước, các kinh Pater noster, AveMaria kính mừng, Credo tin kính và Mười điều răn mà các Kitô hữu đã dùng để học thuộc lòng. Cha Pina cũng soạn các tín điều bằng ngôn ngữ này; tuyên bố đầy đủ rằng chỉ có một Thiên Chúa, các mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh, Nhập Thể và Cứu Chuộc, và sự cần thiết của chúng ta chia sẻ công nghiệp của Chúa Kitô, Chúa chúng ta, qua các phương tiện đức tin và các thánh bí tích saints sacrements.

Francisco de Pina, sinh ra ở Guarda năm 1585, gia nhập Công đoàn Chúa Giêsu vào năm 1605. Ông học ở Ma Cao từ khoảng năm 1613 đến năm 1616, đặc biệt là có trình độ tiếng Nhật rất cao. Rất có thể Pina là đ đ của nhà Ngữ học Nhật nhiều kinh nghiệm João Rodrigues Tçuzzu. Thụ phong linh mục ở Malacca năm 1616, cuối năm 1617 ngài lên đường đi truyền giáo Nam Kỳ, rồi bất ngờ qua đời vào ngày 15.12.1625 ở Touranne. Theo các sai sót của Fortuné-M. De Montézon và Edouard Estève trong Mission de la Cochinchina et du Tonkin (Paris, Charles Douniol, 1858, p. 386), một số tác giả nhất định cho đến ngày nay vẫn tiếp tục khẳng định rằng Pina là người Ý. Tuy nhiên, các danh sách cũ lưu trữ, rất rõ ràng, không nhầm lẫn: xem Josef Franz SCHÛTTE, (ed.), Textus Catalogorum (cited note 38), p. 855, 955 etpassim.

Các Kitô hữu Việt đã viết ra hết mọi sự, và đã bắt đầu đọc kinh Mân Côi như chúng ta! Theo cách sử dụng các báo cáo hàng năm của Dòng Tên, Cha, Cố hay giáo sĩ, tác giả của các tác phẩm được đề cập, không được nêu tên rõ ràng. Ba tu sĩ Dòng Tên sau đó đã có mặt tại phái đoàn Pulo Cambi (xấp xỉ với Quy Nhơn hiện tại), nơi xẩy ra các diễn biến: Buzomi, mắc một căn bệnh hiểm nghèo khiến ông không thể lo liệu việc hoán cải để được rửa tội của những người bản xứ, chỉ còn lại Pina và Boni, một người mới bắt đầu học tiếng Việt. Chúng ta được biết công việc Latinh hoá tiếng Việt được thực hiện dưới sự giám sát của Buzomi, nguyên bề trên phái bộ Nam Kỳ (1615-1618) và bề trên địa phương, nhưng nghệ nhân chính là Pina và cộng tác viên trẻ Phêrô người Việt Nam. Theo minh định của chính mình, Pina đã hoàn thành vic phát trin h thng phiên âm ch cái phù hp vi ng âm và thanh điu ca tiếng Vit vào năm 1622. Ông đã sưu tầm một tuyển tập gồm những tác phẩm được chọn lọc và bắt đầu viết ngữ pháp grammaire. Pina đã đạt được kết quả này bằng cách làm việc không mệt mỏi, chỉ được giúp đỡ bởi một trong những học sinh vây quanh ông.

Dẫn chứng minh định của Pina trên đây, Roland JACQUES, trong L’œuvre de quelques pionniers portugais dans le domaine de la vietnamienne jusqu’en 1650[107] Công trình của một số nhà tiên phong người Bồ Đào Nha trong lĩnh vực tiếng Việt cho đến năm 1650 (luận đề  D.E.A. Paris, INALCO, 1995) cho biết: thông tin này được lấy từ một bức thư mà theo hiểu biết của chúng tôi, chỉ có một bản sao tồn tại trong kho lưu trữ của Dòng Tên ở Macao, và chúng tôi đã ấn bản và bình luận bằng văn bản: Lisbonne, Biblioteca da Ajuda, Jesuitas na Âsia , tập 49/ V/7, sau. 413-416. Bức thư này không ghi ngày tháng và không có chữ ký; người sao chép (José Montanha hoặc Manuel Âlvares, khoảng năm 1755) đã chú thích rằng nó có thể nằm trong tay Pina và ghi niên đại là 1622-1623. Chúng tôi đã có thể chứng minh một cách chắc chắn rằng sự quy kết cho Pina và niên đại (những tháng đầu năm 1623) là khả thi duy nhất. Xin trích dịch Jacques cùng với tài liệu Khai Sinh Chữ Quốc Ngữ đã dẫn trên đây.

Năm 1615, các giáo sĩ tiên phong trong Giáo đoàn đã đến Đà Nẵng để tìm cách thiết lập cơ sở truyền đạo. Cho đến nă 1623, đã có hai trú sở truyền đạo chính thức được mở, một tại Hội An Residentia Fayfó và một tại Nước Mặn Residentia Nuoecman, Pulocambi thuộc Quy Nhơn, và hai năm sau (1625) thì lập trú sở truyền đạo thứ ba tại dinh trấn Thanh Chiêm.

Theo Roland Jacques, giáo sĩ Francisco de Pina là người đầu tiên bắt tay vào thực hiện công trình Latinh hóa tiếng Việt đây khó khăn những cũng không kém phần vinh quang này. Cùng theo Roland Jacques thì giáo sĩ Pina đã nhận xét tiếng Việt là một ngôn ngữ “có thanh điu như mt bn xướng âm, cn phi biết xướng âm trước đã. Ch sau đó mi hc các ch.” Jacques đã phát hiện ra hai tác phẩm chưa công bố của Francisco de Pina, đó là bức thư viết dở bằng Bồ ngữ dài 7 trang cho Đức cha bề trên Jerómino Rodríguez ở Ma Cao và tiểu luận dài 22 trang mang tựa đề Manuductio ad Linguam Tunkinensem (Nhập môn tiếng Đàng Ngoài) bằng La ngữ tại Thư viện Quốc gia ở cung điện Ajuda – Lisbonne, Bồ Đào Nha. Jaques kết luận Francisco de Pina mới chính là người đầu tiên sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ chứ không phải Alexandre de Rhodes).

La ngữ âm hóa tiếng bản địa không phải là sáng kiến của Pina, bởi việc này đã được các giáo sĩ kiêm nhà ngôn ngữ học thực hiện trước đó. Từ thế kỷ XVI, để quảng bá Kitô Giáo ra khắp thế giới một cách hữu hiệu, những nhà truyền đạo đã được Giáo Hội La Mã khuyến khích sử dụng mẫu tự Latinh để ký âm hóa ngôn ngữ tại địa phương nơi mà họ đang gieo Đức tin Thiên Chúa. Đã có các công trình La ngữ âm hóa tiếng Tamin (ở miền nam Ấn Độ), tiếng Nhật, tiếng Trung Hoa, tiếng Tupi-guarani (tiếng bản địa của Brazil) do các giáo sĩ người Bồ Đào Nha và Ý thực hiện trước khi Pina sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ.

Khi các giáo sĩ dòng Tên đến trền giáo ở Nhật, họ gặp nhiều trở ngại với hệ thống chữ viết của người Nhật bao gồm hệ thống katakana, hiragana và kanji. Để học nói và viết tiếng Nhật, họ sáng tạo cách ghi âm tiếng Nhật bằng mẫu tự La tinh, gọi là romaji (La mã tự). Trong khoảng những năm 1564 hoặc 1567, Duarte da Silva đã soạn một cuốn ngữ pháp và từ điển Nhật-Bồ, Bồ-Nhật. Sau đó Alessandro Valignano (1538-1606) tiếp tục cải cách phương pháp học tiếng bản địa và cho ra đời cuốn Từ điển Bồ-Nhật năm 1585 bằng văn bản viết tay. Đến năm 1591, dòng Tên ở Nhật đã có xưởng in tại Amacusa để xuất bản một số sách bằng chữ romaji. Năm 1595 cuốn Từ điển La-Bồ-Nhật (Dictionarium Latino- Lusitaneum ac Japonicam) ra đời. Đến năm 1603 thì xưởng in ở Nagasaki phát hành cuốn Từ điển Nhật-Bồ (Nippo Jisho, Vocabulario da lingoa de Iapam). Năm sau, quyển Ngữ pháp Nhật ngữ (Arte grammaticae Japonicae Linguae) của Joaõ Rodrigues (1561/62-1633/34) cũng ra đời ở Nagasaki.

Cùng một tinh thần đó, giáo sĩ Michele Ruggieri (1543-1607) và Matteo Ricci (1552-1610) ở Macau đã soạn Từ vựng Bồ-Hoa trong những năm 1585-1589 dưới dạng bản thảo. Đến năm 1626, giáo sĩ Nicholas Trigault (1577-1628) cũng cho ra mắt cuốn phương pháp học tiếng Trung Tây nho Nhĩ mc Tư còn gọi là Ầm Vận Kinh. Đây là từ điển sắp âm vận Hoa ngữ theo chữ cái La tinh. Các cuốn từ điển của Ruggieri-Ricci và Trigault được các nhà truyền giáo ở Trung Hoa chép lại và chuyền tay nhau sử dụng cho đến thế kỷ 19.

Macau ở thế kỷ 17-18 là trung tâm truyền giáo của dòng Tên tại Viễn Đông, nơi các giáo sĩ dừng chân, liên lạc, tập trung, học tập trước khi lên đường đi Nhật Bản, Trung Hoa, Đàng Trong, Đàng Ngoài, Champa, Cao Miên, Thái Lan, v.v. Tuy hoạt động các đoàn truyền giáo mang tính đặc thù của từng địa phương, nhưng họ thống nhất về tinh thần và phương thức truyền giáo, bao gồm chia s kinh nghiệm học tập ngôn ngữ. Vì vậy có thể nói là công cuộc La tinh hoá tiếng Việt ít nhiều chịu ảnh hưởng của các cuộc chế tác văn tự La tinh cho tiếng Nhật tiếng Hoa, mà Francisco de Pina đã áp dụng để Lamã hoá Quốc ngữ[108].

Vừa đặt chân đến Hội An, Pina khởi sự học tiếng Việt, chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã có thể trực tiếp đàm thoại với người bản địa. Giáo sĩ Gaspar Luis đã chứng nhận điều đó,  Linh mục Pina đền Đàng Trong năm 1617, là sĩ đầu tiên đã miệt mài nghiên cứu tiếng nói, khi giáo sĩ Đắc lộ đến Thanh Chiêm vào cuối năm 1624 đã thấy Pina giảng Kinh Thánh mà không cần phiên dịch. Có thể nói, vào thời điểm đó, Pina là vị giáo sĩ đầu tiên và duy nhất giảng đạo trực tiếp cho giáo dân bản địa bằng tiếng mẹ đẻ của họ. Thời gian đầu Pina học Tiếng Việt tại Hội An, nhưng sau đó, vào khoảng năm 1619, ông chuyển đến dinh trấn Thanh Chiêm. Hội An nơi có hiện tượng lai tạp ngôn ngữ, bởi Phố Khách là nơi giao thoa của các nền văn hóa Việt, Trung, Nhật, Bồ… hơn nữa, tại Hội An, người ta chỉ quan tâm đến việt buôn bán nên Pina khó có thể tiếp cận với tri thức giới trẻ ở địa phương ngõ hầu tìm kiếm sự cộng tác để nghiên cứu và sáng tạo chữ Quốc Ngữ. Ông đã khẳng định điều đó: đối với con việc nghiên cứu tiếng nói, Kẻ Chàm vẫn là nơi tốt nhất với tư cách là trung tâm triều đình: ở đây người ta nói rất hay, có sự đổ dồn của những người trẻ tuổi đến mà họ là những sĩ tử và bên cạnh họ, những ai bắt đầu học tiếng Việt có thể tìm thấy một sự giúp đỡ. Roland Jacques cũng hoàn toàn xác nhận ý kiến này: Thành phố Hội An  từ rất xa xưa là một thủ đô kinh tế của Champa ngay từ thiên niên kỷ thứ nhất. Ở thế kỷ 17, nó vẫn là thành phố chợ quan trọng, một trung tâm thương mại kép gồm hai đơn vị tách rời nhau, một khu của người Nhật và một khu của người Hoa. Mỗi khu được quản lý bởi một trưởng khu theo luật quán ước riêng. Cư dân ở đây rất hỗn tạp, điều này giải thích hiện tượng lai tạp ngôn ngữ. Francisco de Pina nghĩ rằng nơi này không thể là nơi học Tiếng Việt được. Lập luận Pina chuyển lên ở hăn Thanh Chiêm vào năm 1619 là có cơ sở bởi theo lời tường trình của giáo sĩ Cristoforo Borri thì nhờ vào những hiểu biết về thiên văn và toán học mà Pina đã tính toán chính xác là có nguyệt thực diễn ra tại Thanh Chiêm vào lúc 11 giờ đêm mồng 9 tháng 12 năm 1620, điều này làm cho thế tử Kỳ rất kính trọng Pina. Qua đấy, Pina đã thiết lập mối quan hệ hết sức thân thiết với quan trấn thủ dinh trấn Thanh Chiêm. Tuy không thể thuyết phục thế tử Kỳ chịu làm lễ thánh tẩy nhưng ông đã làm vị thế tử này có cảm tình với đạo Công Giáo và các Kitô hữu.

Trong bức thư viết dở vào đầu năm 1623, ông có báo cáo cho cha bề trên Rodriguez: năm vừa qua, con đã viết để báo cáo với đức cha, thưa cha kính mến, rằng con đã mua hai cái nhà của mẹ Jeanne ở Kẻ Chàm. Mỗi nhà có ba gian, một nhà làm nơi ở, nhà kia làm tiểu giáo đường. Pina đã mua chúng vào năm 1619. Cristoforo Borri: Năm 1619, một đại tăng, kẻ thù lớn của lòng tin thánh thiện của chúng ta thuyết phục nhà vua lưu đầy các cố đạo và phá hủy nhà thờ nhưng nhà thờ vẫn sừng sững ở Kẻ Chàm với tên gọi nhà của mẹ Jeanna. Tại hai ngôi nhà này, Pina đã tuyển chọn một số thanh niên Công Giáo để phụ lễ, đào tạo họ thành người thông dịch và chắc chắn những thanh niên này đã cộng tác với ông trong vấn đề nghiên cứu và sáng tạo chữ Quốc ngữ. Tại Thanh Chiêm, Pina cùng với Phêrô, tên rửa tội một thanh niên địa phương, đã lần đầu tiên dịch Kinh Thánh sang chữ quốc ngữ, sự kiện này được biết qua một bản phúc trình chính thức của Francisco Eugenio, tu sĩ Dòng Tên người Ý ở Ma Cao.

Nhờ quan hệ tốt với thế tử Kỳ ở dinh trấn Thanh Chiêm nên Pina đã lập một trú sở mới ở đây vào khoảng cuối năm 1624, đầu năm 1625 và đến tháng 5 năm 1625, Pina chính thức trở thành Cha bề trên quản nhiệm trú sở truyền giáo Thanh Chiêm Résidentia Dinh Ciam, trú sở quan trọng nhất tại Đàng Trong vì nó ở ngay cạnh dinh trấn Quảng Nam, triều đình thứ hai của xứ này do thế tử Nguyễn Phúc Kỳ đứng đầu. Không chỉ có hoạt động nghiên cứu và sáng tạo chữ quốc ngữ, tại trú sở Thanh Chiêm, Pina vừa là thầy dạy tiếng Latinh cho các thầy giảng người Việt vừa là giáo sư Việt ngữ cho hai giáo sĩ dưới quyền mới đến hồi cuối năm 1624 là Antônio de Pina Fontes và Đắc Lộ, xin xem lại

Đối với công việc nghiên cứu Tiếng Việt, Pina cho biết: Về phần con, con đã soạn xong một tiểu luận về chính tả và các thanh điệu của ngôn ngữ này, và con đang lao vào ngữ pháp. Tuy nhiên, dù con đã tập hợp các truyện thuộc nhiều loại khác nhau để cung cấp các trích dẫn của tác giả nhằm củng cố ngữ nghĩa của các từ và các quy tắc của ngữ pháp, cho đến bây giờ con phải nhờ ai đó đọc các từ đó cho con. Con phiên âm theo chữ Bồ Đào Nha sao cho người của chúng ta có thể đọc và học các từ đó thuộc lòng như học Cicéron và Virgile vậy. Vả lại con đã có ba tập, tập hợp các văn bản có phân tích trong số các văn bản hay nhất ở vương quốc này.

Cuốn ngữ pháp và ba tập, tập hợp các văn bản có phân tích trong số các văn bản hay nhất ở xứ Đàng Trong của Pina đến nay vẫn chưa được tìm thấy, hy vọng một ngày nào đó, hai tài liệu quý hơn vàng này sẽ được phát hiện để chúng ta có thể biết rõ hơn về chữ Quốc Ngữ vào cái buổi bình minh của nó và qua đó công lao của Pina có thể được nhìn nhận đầy đủ và đúng đắn hơn.

Xin nói thêm, mặc dù đã cố gắng chứng minh tiểu luận Nhập môn tiếng Đàng Ngoài là của Pina, nhưng vì tài liệu này không có người ký tên ở dưới, thế nên cho đến nay Roland Jaques vẫn bị Nguyễn Khắc Xuyên hoài nghi về tính chính xác của nó. Tác giả Hồng Nhuệ cho rằng chính giáo sĩ Onofre Borgès (còn được chép với tên Onófrio hay Onuhpre) mới là tác giả của cuốn Nhập môn tiếng Đàng Ngoài chứ không phải Pina. Nhưng trong luận văn của mình, Roland Jaques đã chứng minh Onofre Borgès không phải là tác giả của tác phẩm Nhập môn tiếng Đàng Ngoài: Onofre Borgès, là tên mang âm sắc Bồ Đào Nha, nhưng dưới cái tên này ẩn giấu tên nguồn gốc hơi khác, có thể là Honufer (Onuphrius) Bỹrgin… Ông sinh ở Lucerne vào năm 1614, năm 1630 ông vào dòng Tên miền thượng nước Đức. Có thể là ông đã giảng dạy trong các lớp tiểu chủng viện Innsbruck của dòng Tên ở Tyrol. Đi sang phương Đông năm 1638, đã kết thúc việc nghiên cứu của mình ở Học viện Ma Cao. Rồi ông dạy ngữ pháp có thể là trong ba năm ở đó. Tiếp theo ông sang làm việc ở Tonkin (Đàng Ngoài) từ 1645; bị trục xuất năm 1663 trên một con tàu của Hà Lan. Ông chết khi đến Jakarta. Trong tài liệu lưu trữ của dòng Tên có bức thư ngày 30-7-1654 cũng như 3 báo cáo thường niên về giáo đoàn ở Tonkin; 1650, 1660 và 1661. Ông đã cộng tác chuẩn bị một vài báo cáo khác. Các hoạt động ngôn ngữ của ông không được ghi chép rõ ràng. Rõ nhất là việc ông viết vài văn bản tiếng Việt và chữ Nôm. Có thể là cùng một nguồn cảm hứng như các văn bản được biết rõ là của giáo sĩ Dòng Tên Majorica. Những năm cuối cùng của ông từ 1658 thật là vất vả. Phần lớn các nhà truyền giáo bị trục xuất. Borgès đã được phép của chúa Trịnh ở lại đất nước để đảm trách việc thờ phụng của toàn bộ các cộng đồng công giáo Thăng Long và Nghệ An. Ông kiệt sức vì công việc. Toàn bộ công trình ngôn ngữ vậy phải làm trước năm 1658.

Rất có thể Tissianier đã mang đến một bản từ điển của Rhodes vừa mới in năm 1651, nên nếu Borgès tiếp tục công việc về ngôn ngữ cũng là thừa.Về vấn đề ai là tác giả của cuốn Nhập môn tiếng Đàng Ngoài, có lẽ Roland Jaques chính xác hơn Hồng Nhuệ. Cuốn tiểu luận của Pina về chính tả và các thanh điệu Tiếng Việt, có tên Manuductio ad Linguam Tunkinensem Nhập môn tiếng Đàng Ngoài. Đây là một tiểu luận bằng La ngữ và Quốc ngữ dài 22 trang chép tay, có bố cục rõ ràng, gồm ba chương: Về các thanh điệu, Về các con chữ và bảng chữ cái và Về các danh từ, tài liệu được bổ sung thêm các phần Đối thoại, Quán ngữ, Lăng mạ… Đây rõ là một tác phẩm đang viết dở dang: Toàn bộ gây cho ta ấn tượng mạnh là công việc còn bỏ dở. Dường như tác giả lúc đầu muốn soạn một tác phẩm đầy đù, nhưng cuối cùng do thiếu thời gian phải thu hẹp việc triển khai và kết thúc bằng cách ghi lung tung trên giấy các nhận xét khác nhau.

Trong tác phẩm Nhập môn tiếng Đàng Ngoài, phương pháp ký âm Tiếng Việt có những tiến bộ lớn, hơn cả cách phiên âm của các giáo sĩ Gaspar do Amaral, António de Barbosa và Đắc Lộ , bởi nó rất giống với chữ Quốc Ngữ hiện đại một cách đáng ngạc nhiên và đáng khâm phục. So với từ điển Việt-Bồ-La năm 1651 thì phương pháp ký âm mới có phần tân tiến hơn:

Kẻ có tài thì hac  → Kẻ có tài thì học; Thàng nào lành thì dĕạy  → Thằng nào lành thì dạy.
Hôm qua tôi mc chép thư → Hôm qua tôi mắc chép thư, Nói chng được  →  nói chẳng được

Roland Jaques nghĩ rằng sau khi Pina mất đi thì giáo sĩ Đắc Lộ đã mang công trình của thầy mình ra Đàng Ngoài vào năm 1627 rồi trao cho giáo sĩ Gaspar do Amaral[109]. Về sau, tài liệu này rơi vào tay Onofre Borgès. Có lẽ, tiểu luận này được Borgès hiệu chỉnh đôi chút và đặt tên cho nó là Nhập môn tiếng Đàng Ngoài. Sau Pina, các giáo sĩ Gaspar do Amaral, António de Pina Barbosa, Girolarmo Majorica và Đắc Lộ tiếp tục công việc nghiên cứu và hoàn thiện chữ Quốc Ngữ. Năm 1627, giáo sĩ Đắc Lộ chuyển ra một trú sở truyền giáo tại Cửa Bạng (nay là Lạch Bạng, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa) và mang theo tất cả công trình dở dang của Pina rồi trao lại cho Gaspar do Amaral và António de Pina Barbosa[110]. Nhờ thế, Gaspar do Amaral đã hoàn thiện cuốn từ điển Việt – Bồ và António de Pina Barbosa soạn xong cuốn từ điển Bồ – Việt vào khoảng năm 1635-1640.

Trong thời gian ở Đàng Ngoài, hai tài liệu viết tay quý giá có liên quan đến chữ Quốc Ngữ mà Gaspar do Amaral để lại là bức thư bằng Bồ ngữ viết tại Kẻ Chợ (Thăng Long) đề ngày 31/12/1632, nhan đề Annua do reino de 1632, pera o Pe André Palmeiro da Compa de Pina Jesu, Visitador das Provincias de Pina Japan, e China Báo cáo thường niên về nước Annam năm 1632, gởi cha dòng Tên André Palmeiro, giám sát các tỉnh ở Nhật và Trung Hoa, tài liệu này hiện lưu trữ tại Thư khố dòng Tên ở La Mã. Và tài liệu thứ hai là bức thư cũng bằng Bồ ngữ viết tại Kẻ Chợ (Thăng Long) đề ngày 25/3/1637, với nhan đề: Relaçam dos catequistas da Christamđae de Pina Tunkine seu modo proceder pera o Pe Manoel Dias, Vissitador de Pina Jappão de China Tường trình về các thầy giảng của giáo đoàn Đàng Ngoài về các hoạt động của họ, gởi cho cha Manoel Dias, giám sát Nhật Bản và Trung Hoa, tài liệu này hiện giữ tại Thư khố Viện hàn lâm lịch sử Hoàng gia Madrid.

Trong cả hai tài liệu, mà rõ nhất là tài liệu thứ hai, cho thấy Amaral đã soạn cuốn từ điển Việt – Bồ: Diccionário amanita – português. Về sau cả hai cuốn từ điển Việt – Bồ và Bồ – Việt đầu tiên của hai giáo sĩ Amaral và Barbosa đều rơi vào tay Đắc Lộ.

Cũng vào khoảng thời gian đó, tại trú sở Nước Mặn (Qui Nhơn) và Cửa Bạng (huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa), giáo sĩ Girolarmo Majorica cũng cho ra đời khoảng 48 văn liệu Thiên Chúa giáo (sách dạy giáo lý) bằng chữ Nôm như Thiên Chúa Thánh Giáo Hi Ti Kinh, Thiên Chúa Thánh Mu, Thiên Chúa Thánh Giáo Khai Mông, Kinh Nhng Mùa L Phc Sinh…

Linh mục Girolarmo Majorica sinh tại Napoli, Italia, vào dòng Tên năm 1605, sang Ấn Độ năm 1619, và từ đó ông sang Macao, rồi đến Thanh Chiêm năm 1624 cùng với giáo sĩ Đắc Lộ và vài giáo sĩ khác. Nhưng Girolarmo Majorica chỉ ở Thanh Chiêm một thời gian ngắn rồi chuyển vào Quy Nhơn. Trong 5 năm ở Nước Mặn, ông học được tiếng bản xứ. Năm 1629, ông bị trục xuất ra khỏi Đàng Trong và đến truyền giáo tại Đàng Ngoài (trú sở Cửa Bạng) năm 1631. Ông mất năm 1656. Trong tác phẩm Những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học, Jaques nói đến vai trò của các giáo sĩ người Ý khi viết: Người Ý duy nhất có đóng góp đáng kể vào chữ Quốc Ngữ là Girolarmo Majorica, đến Cochinchine (Đàng Trong) vào năm 1624, cùng với chuyến tàu với Alexandre de Rhores. Nhưng trong khi Rhodes là một tên tuổi trong lĩnh vực từ vựng và ngữ âm thì Girolarmo Majorica hoàn toàn dồn sức vào việc sáng tạo văn học Công giáo bằng chữ Nôm.

Việc Girolarmo Majorica có thể sáng tạo văn học Công giáo bằng chữ Nôm rõ ràng cho thấy vị giáo sĩ này thông thạo Tiếng Việt, vừa biết chữ Nho lẫn chữ Nôm, do đó đóng góp của ông vào việc sáng tạo chữ Quốc Ngữ là to lớn. Bởi chữ Quốc âm khó đến như thế mà ông còn có thể viết được thì hẳn phải biết cách dùng các mẫu tự Latinh để phiên âm Tiếng Việt.

Bài viết Khai Sinh Quc Ng bày tỏ hai tài liệu mà không có dẫn chứng lịch sử. Có một giáo sĩ người Ý nữa mà Roland Jacques cho là chỉ có vai trò thứ yếu trong việc sáng tạo chữ Quốc Ngữ là Cristoforo Borri. Jaques viết: Cristoforo, thường hay được các tác giả hiện đại nhắc tới thì thời gian ở Việt Nam quá ngn (1618-1621) để có thể gán cho ông một vai trò quan trọng và ông quan tâm đến những vấn đề khác khá xa với ngôn ngữ học.

Hãy xem Borri viết (không có dẫn chứng): Tiếng Đàng Trong, theo tôi, là một tiếng dễ hơn các tiếng bởi vì không có chia động từ, không có biến cách các danh từ nhưng chỉ có một tiếng hay lời nói rồi thêm vào một phó từ hay đại từ để biết về thời quá khứ, hiện tại hay tương lai, về số ít hay số nhiều. Tóm lại là thay thế cho tất cả những biến cách và tất cả những thì, tất cả những ngôi cũng như những sự khác liên quan tới số và biến cách. Thí dụ động từ avoir trong ngôn ngữ Đàng Trong có nghĩa là có, từ này không thay đổi gì. Người ta thêm một đại từ vào là người ta có thể thay đổi cách sử dụng và như thế chúng tôi chia động từ này như sau: tôi có, anh có, nó có. Họ chỉ cần một đại từ mà không trực tiếp thay đổi động từ. Cũng vậy, để chỉ các thì khác nhau thì họ nói, về thì hiện tại: tôi bây gi có, về thì quá khứ: tôi đã có; về thì vị lai: tôi s có. Ở cả hai thí dụ trên, động từ có không bao giờ thay đổi. Do đó người ta dễ thấy là ngôn ngữ này rất dễ học, và thực ra trong sáu tháng chuyên cần, tôi đã học được đủ để có thể nói chuyện với họ và giải tội, tuy chưa được tinh thông lắm, vì thực ra muốn cho thật thành thạo thì phải học bốn năm trọn.

Borri biết công trình nghiên cứu Tiếng Việt mà Pina đang theo đuổi, nên có thể Borri đã hỗ trợ Pina một tay. Để chứng minh điều này (dn chng?), ta có thể xem chữ Ciam, gno, scin mà Borri dùng để phiên âm từ Chiêm, nh, xin cho thấy có dấu vết của các phụ âm ci, gn, sc trong tiếng Ý. Về sau các phụ âm ci, gn, sc đều được ghi theo gốc Bồ Đào Nha ngữ,

ci -> ch; gn -> nh-; sc -> x. Như vậy , đã xuất hiện sự cạnh tranh giữa hai cách phiên âm, hoặc theo Ý ngữ hoặc theo Bồ ngữ. Nhưng hai tự vị và hai phụ âm trong chữ Quốc Ngữ hiện đại như ghe, ghi và gi vẫn còn giữ nguồn gốc từ tiếng Ý. Ai trong các giáo sĩ người Ý, Borri hay Majorica, đã đưa những tự vị và phụ âm này vào chữ Quốc Ngữ, đến nay vẫn chưa xác định được. Hết trích giải.

Trong sách L’origine des particularités de l’alphabet vietnamien, André-Georges Haudricourt, Nguồn gốc những nét đặc sắc của bảng chữ cái tiếng Việt; bản dịch Anh ngữ có viết: The voiced dorsal raised a similar issue: GA, GÔ, GU [for Vietnamese /ɣa/, /ɣo/, /ɣu/], but GHÊ and GHI [for /ge/ and /gi/, present-day /ɣe/ and /ɣi/] and not GÊ and GI; one could not use the combinations GUÊ and GUI, which were used in the case of a labiovelar initial, whereas the Italian notation could be used, hence GHÊ, GHI. Âm lưng hữu thanh đưa ra một vấn đề tương tự: GA, GÔ, GU [cho /ge/ and /gi/, hiện đại /ɣe/ and /ɣi/], nhưng GHÊ và GHI [cho /ge/ và /gi/, /ɣe/ ngày nay /ɣi/] chứ không phải GÊ và GI; người ta không thể sử dụng sự kết hợp GUÊ và GUI, được sử dụng trong trường hợp chữ cái đầu môi môi, trong khi ký hiu tiếng Ý có th được s dng, do đó GHÊ, GHI.

Về phần mình, nhà sử học Dòng Tên Bartoli cho rằng Buzomi là người tạo ra ngữ pháp và từ vựng. Ông dựa trên một bức thư từ năm 1622 mà hiện nay chưa thể tìm thấy. Không phải là không thể có sự nhầm lẫn với Pina trong trường hợp này. Tổng quát hơn, những khẳng định của Bartoli liên quan đến kiến ​​thức ngôn ngữ xuất sắc của người đồng hương Buzomi của ông không được chứng thực bằng các tài liệu lưu trữ tham khảo. Cũng cần lưu ý rằng Bartoli, người dường như pht l những sáng tạo ngôn ngữ của Pina, tuy nhiên vẫn phải công nhận kỹ năng của Cha Pina . Trong bài diễn văn tang lễ sau cái chết của nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha xảy ra vào ngày 15 tháng 12 năm 1625, ông viết: Cha Pina là người B Đào Nha, bn mươi tui. Ông cũng được người ngoi yêu quý vì ông nói ngôn ng ca h như th ông là người sinh ra Đất Nam K[111]. Năm 1624, Francisco de Pina mở trường dạy tiếng Việt đầu tiên cho người nước ngoài, với hai học viên chính: Antonio de Fontes[112], người Bồ Đào Nha, một cựu chiến binh và là một trong những trụ cột của phái bộ Nam Kỳ; và Alexandre de Rhodes, người mà sau này sẽ sớm được triệu tập để thành lập phái bộ Bắc Kỳ, nơi ông sẽ phục vụ từ năm 1627 đến năm 1630.

Xem thư của Manoel Fernandes gửi Nuno Mascarenhas, ngày Faïfo 2.7.1625: ARSI, Jap.-Sin. 68, 11-12 : Fica acomodadahuâ casa em Cachaô corte do principe, que ategora naô estaua em ordera de casa da Compa, inda que sempre la residia hû P* com seu companheiro, nella fica agora P° F° de Pina ensinando a lingua aos V” Alex’ Rodes, e Ant° de Fontes… Một ngôi nhà tôn giáo đã được tổ chức ở Cachâo, thủ đô của Hoàng tử; không được tính trong số lượng các ngôi nhà khác của Nhà Dòng, mặc dù một linh mục luôn cư trú ở đó cùng với người bạn đồng hành. Bây giờ, Cha Francisco de Pina sống ở đó và dạy ngôn ngữ cho các Cha Alexandre de  Rhodes và Antonio de Fontes. Ảnh trên Việt Bồ La với vần gh.

Ngày 15/12/1625, một tàu Bồ Đào Nha thả neo ở vịnh Đà Nẵng, không cập bến do nguy cơ bão. Một chiếc thuyền rời bến để gặp, Pina lên đó để mang về bờ những nhu yếu phẩm cơ bản: rượu và bột mì để cử hành thánh lễ. Trên đường về, một cơn gió mạnh khiến thuyền bị lật. Bị vướng vào chiếc áo choàng của mình, Pina chết đuối, trong khi những người còn lại được cứu. Đó là một sự thương tiếc lớn lao đối với người dân địa phương cũng như đối với phái bộ truyền giáo; một sắc lệnh trục xuất các nhà truyền giáo đã bị đình chỉ để cử hành ba tháng tang lễ, rồi cuối cùng bị hủy bỏ.

Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes nh Internet

Sẽ là sai lầm nếu tin rằng sau cái chết bi thảm Pina, các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đã giảm bớt sự đầu tư vào sứ mệnh ngôn ngữ của họ. Công việc tiên phong sau đó được tiếp tục trong ít nhất hai thập kỷ. Nỗ lực này trước hết tập trung vào việc tạo ra vốn từ vựng Kitô giáo và vào việc viết ra những yếu tố đầu tiên của văn thư Kitô giáo[113]. Vai trò của các học giả Thiên chúa giáo Việt Nam rất đáng kể; tên mà tên của họ xứng đáng được cứu thoát khỏi sự lãng quên của lịch sử.

Đồng thời, việc phân tích ngữ pháp và ngữ âm, analyse grammaticale et phonétique, của ngôn ngữ được tiếp tục một cách có hệ thống, giúp dần dần phát triển lối viết La Mã, được gọi là quốc ngữ. Đây là công việc tập thể, khó có thể phân biệt được phần trách nhiệm của mỗi người. Nhưng điều chắc chắn là Alexandre de Rhodes nhanh chóng nhận thấy mình bị gạt ra ngoài, lý do phải sống lưu vong ở Macao từ năm 1630 đến năm 1640: tại đây Cố thực hiện chức vụ của mình trong môi trường Trung Quốc, tuy ngay cả khi ông tiếp tục cập nhật những tiến bộ đã đạt được ở Việt Nam. Bản thân ông trong lời tựa của từ điển Việt-Bồ-La, đã cho chúng ta biết tên của hai nhà từ điển học lỗi lạc nhất người Bồ Đào Nha: Gaspar do AmaralAntonio Barbosa.

Gaspar do Amaral (hay de Amaral), sinh năm 1594 tại Curvaceira (ngày nay là Freguesia de Châo de Tavares gần Mangualde, quận Viseu), gia nhập Công ty Dòng Tên vào năm 1607. Đầu tiên là giáo viên ở Braga, Coimbra và Évora, ông rời đến Phương Đông năm 1623. Ông được cử đi sứ mệnh Bắc Kỳ từ năm 1629 đến 1638, ở đó tổng cộng bảy năm trong hai lần lưu trú. Sau đó ông phục vụ ở Macao với tư cách là hiệu trưởng, phó tỉnh, rồi giám sát visiteur các cơ quan truyền giáo. Ông qua đời vào tháng 2 năm 1646, trên bờ biển Hải Nam, trong một vụ đắm tàu ​​đưa ông trở về Bắc Kỳ. Khi qua đời, ông được coi là chuyên gia Dòng Tên lớn lao  nhất về tiếng Việt. Antonio Barbosa, sinh năm 1594 tại Arrifana do Sousa (ngày nay là Penafiel phía đông Porto), gia nhập Công ty ở Lisbon vào năm 1624 và rời đi ngay sau đó để đến Phương Đông. Năm 1629, ông được cử đi truyền giáo Nam Kỳ, rồi năm 1636 đi truyền giáo Bắc Kỳ. Năm 1642, bệnh tật buộc ông phải trở về Ma Cao, rồi đến Goa, nơi ông qua đời năm 1647.

Dựa trên kho lưu trữ, Roland Jacques nêu ra một biến cố khá đặc biệt[114]chứng minh; cho thấy kiến ​​thức của Rhodes vào buổi bình minh của chữ quốc ngữ ra đời, còn hạn chế so với kiến ​​thức của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha. Trong tác phẩm sáng tạo độc đáo của các tu sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha tại Việt Nam, giai đoạn trưởng thành được đánh dấu bằng một cuộc tham vấn, một cuộc tranh luận về ngôn ngữ trái ngược nhau, débat lingustique contradictoire, được tổ chức tại Macao vào năm 1645, hơn 20 năm sau khi Cố Pina đã hoàn thành vic phát trin h thng phiên âm, để thảo luận về một vấn đề gây tranh cãi về thuật ngữ Kitô giáo trong tiếng Việt. Tài liệu lưu trữ lưu giữ tên của các chuyên gia nồng cốt của các cuộc tranh luận: cùng với Amaral, được chỉ định là peritissimus chuyên gia đầu não, và Barbosa, ta tìm thấy Baltazar Caldeira, người gốc Ma Cao; cũng như Manuel Pacheco và Pêro Alberto, cả hai đều là người bản xứ Ma Cao Bồ Đào Nha. Đối diện, ủng hộ một quan điểm đối lập, Alexandre de Rhodes đơn độc; ý kiến ​​​​của ông đã bị từ chối. Bất chấp sự ủng hộ nhiệt tình sau đó dành cho vị trí của ông bởi một tu sĩ trẻ Dòng Tên người Sicilia, Metello Saccano, quyết định vẫn được giữ nguyên bản Bồ.

Trên thực tế, vấn đề này đã không được hội nghị năm 1645 kết luận. Được mang đến Rome theo sáng kiến ​​của Rhodes, nó đã được xem xét vào những năm 1650 trước Bộ truyền giáo  Đức tin rồi trước Văn phòng Thánh[115] Propaganda Fide & le Saint-Office. Vào dịp này có một lá thư rất kỳ lạ của tu sĩ Dòng Tên người Ý Giovanni Filippo Marini gửi cho bề trên La Mã của ông về vụ việc thảo luận, năm 1655. Tác giả gây thêm tranh cãi, đặt câu hỏi mạnh mẽ về năng lực của Rhodes trong vấn đề quốc ngữ. Cần lưu ý Marini có xu hướng loại Rhodes, do thực tế là ngài nói thổ ngữ Nam Kỳ, vốn là Boeotian, liên quan đến Boeotia hoặc cư dân bên Hy Lạp, u mê; không có sự tinh tế về văn hóa; so với ngôn ngữ tiêu chuẩn của thủ đô; chính lối nói miền Nam này cũng là cách đánh vn sai lm của Từ điển Việt Bồ La, đại diện cho một số trường hợp. Nhưng gốc rễ của câu hỏi không có ở đó, nó liên quan đến ý nghĩa chính xác của cụm từ Hán Việt Nhin Nhân Danh[116] (không hàm ý thổ ngữ) trong Phép rửa[117] Tau ra mâi nhân danh Cha ùa Con, ùa spirito santo và sau đó với Kinh Dấu Thánh Giá[118], tuyên dương Nhất Vị Tam Thánh Thể.

Dựa vào các tài liệu viết tay của linh mục Đắc Lộ từ năm 1625-1644, nhất là nếu chỉ hạn định đến năm 1636, chúng ta biết được trong thời gian trên, ông ghi chữ quốc ngữ khác nhiều, trình độ thấp kém ơn so với hai cuốn sách của ông được ấn hành năm 1651. Chẳng hạn tài liệu viết tay Alexandre de Rhodes khi tường trình về cái chết của thầy Anrê Ranran (Phú Yên): Oúngebo, Oũghebo ( Ông nghè bộ), giũ nghiã cũ đ Chúa Jesu cho den het hoy, cho den blon doy ( giữ nghĩa cùng Đức Chúa Giêsu  cho đến hết hơi, cho đến trọn đời).

Linh mục Đỗ Quanh Chính, sđd trang 88, phân tích 2 bản tường trình của Amaral gửi Bề trên dòng Tên nhưng năm 1632, 1637 cho thấy chữ quốc ngữ có nhiều dấu phân biệt âm sắc. Ngài còn soạn thảo Từ điển Việt Bồ. Nếu đem so sánh thời gian thì Ngài mới ở 28 tháng rưỡi ở Đàng Ngoài. Thật ra Amaral đã ở Đàng Trong lén lút học Tiếng Việt để ra Đàng Ngoài làm việc. Để tránh rắc rối chính trị về sau, việc nầy được giữ kín.

Năm 1645, một văn bản viết tay có ghi nhiều chữ quốc ngữ cuộc tranh luận về mô thức Rửa tội, chép lại năm 1654 do Filippo de Marini, người Ý. Qua đó được biết, 36 giáo sĩ dòng Tên họp nhau tại Macau để thảo luận về mô thức Rửa tội bằng tiếng Việt, đã để lại một biên bản quan trọng nhờ đó có thể biết thêm về tình trạng ghi âm tiếng Việt. Trong đó có mấy câu : Tau ra mi nhân danh Cha, ùa con, ùa Spirito Santo trong trang một. Sang trang hai : Taũ ra mi- Taì ly tên- Taũ lấỹ tên Chúa – Tt lên, tt danh, tt sáng – Danh cha c sáng. Trang ba : Blai có ba hn by vía – Chúa Bly ba ngôi. Trang bốn : Nhn danh Cha ùa con.. Trang bảy : Sóư ( sng), Cha rut con rut. Tài liệu đó cho thấy có nhiều tiến bộ. Đã ghi âm đủ năm dấu : Sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Có dấu hai chấm trên chữ u, i, y. Thêm các dấu : ă, â, ơ, ô, ư, ê. Có các nguyên âm kép : au, ưa, âi, ua, ia, ơỹ, oư, uô và các phụ âm kép : nh thay cho gn. ch thay cho ci, ng thay cho mgn … Có 31 vị đồng ý công thức “Tau rữa mầi, nhần danh cha, ùa con, ùa spiritu santo”. Hai vị trung lập. Linh mục Đắc Lộ và Metellus Saccano cực lực phản đối.

Điểm ngạc nhiên, các âm trong công thức Rửa tội, Tau ra mâi nhân danh Cha ùa Con, ùa spirito santo, khác với cách viết trong từ điển Việt-Bồ-La. Dưới đây Bảng chữ cái quốc ngữ thời Đắc Lộ, nguồn Wikipedia.

Và Từ điển Việt Bồ La:

  • trang 724 Chữ tao ego, nói mầy tao fallar desprezando aos ottros nói chuyện khinh thường người khác,
  • trang 728 không có chữ tau,
  • trang 658 Chữ rửa Không thấy chữ rữa,
  • trang 448 Chữ mầi tu, fallando com gente inferior nói chuyện khinh thường người khác,
  • trang 552 Cụm nhin danh cha em nome do padro, không viết nhân danh cha,
  • trang 853 Chữ ùa e, juntamente, và cả hai ambos de duos, và cả nhà toda a caza, và c thien h todo o mudo.

Boeotian ở đây của Giovanni Filippo Marini tức thô kch. Hai tác giả Đinh Trọng Tuyên và Đinh Bá Truyền, trong nghiên cứu Khai sinh ch Quc Ng, cho biết những chi tiết về tiếng Việt Quảng thô kch của Đắc Lộ, tuy chúng ta không kiểm chứng được. Xin sao lục vài đoạn xem như là giai thoại.

Chương 2, đoạn 2,3. Những nhà thừa sai tiên phong đến xứ Đàng Trong để truyền đạo và học Tiếng Việt, thổ ngữ Quảng Nam chính là âm sắc ban đu mà các vị này dựa vào để ký âm Tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh. Pina đã đến Hội An và Thanh Chiêm, Pina học Tiếng Việt với một thầy phụ lễ Nho sĩ trẻ tuổi tên là Phêrô. Khi Đắc Lộ đến Thanh Chiêm, ngoài việc học Tiếng Việt với Pina, còn học thêm ngôn ngữ này với một cậu bé giúp việc trẻ tuổi có tên thánh tẩy là Raphaen (Raphael). Qua việc học ngôn ngữ bản địa với những thanh niên trẻ ở Thanh Chiêm, chc chn (?) Pina và cả Đắc Lộ đều nói Tiếng Việt theo cách phát âm của cư dân Thanh Chiêm, nơi mà người ta nói tiếng Quảng một cách thuần khiết nhất.

Trở lại cuộc hội nghị vào năm 1645 tại Macao để định chuẩn mô thức rửa tội bằng tiếng Annam, biên bản hội nghị viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, mở đầu với nhan đề: “Manoscitto, em que se proue, que a forma do Bauptismo pronunciada em lingoa Annamica he verdadeira” (Đỗ Quang Chính dịch là, Bản viết chứng minh mô thức Rửa tội phải đọc trong tiếng Annam chính thực). Câu khẩu ngữ bằng tiếng Annam dùng để đọc khi làm lễ rửa tội, mà thực sự là tiếng Quảng Nam, được hội nghị thông qua như sau: “Tau ra mâi nhân danh Cha ùa Con, ùa spirito santo

Câu khẩu ngữ mô thức rửa tội trên đây, theo Đỗ Quang Chính, là tài liệu cổ vào bậc nhất về giai đoạn thứ hai trên lịch trình tiến hóa của chữ Quốc Ngữ. Cũng theo Đỗ Quang Chính, câu khẩu ngữ trên được đọc là “Tao ra mày nhân danh Cha và Con, và spirito santo”. Nghiên cứu câu khẩu ngữ bằng tiếng Annam đã được hội nghị tại Ma Cao thông qua ta thấy có bốn âm tiết mang khẩu âm Quảng Nam chính hiệu, đó là Tau, mâi, ra và ùa. Âm tiết Tau (đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất), cũng giống như Tui, chắc chắn là một hình thái chủ âm của tiếng Quảng Nam, của người Kẻ Chiêm, nó hoàn toàn khác với cách phát âm của người Kẻ Chợ (Thăng Long) là Tao. Trong tiểu luận Nhng chng đường ca ch Quc Ng, linh mục Thanh Lãng cho rằng Đắc Lộ chưa phân biệt vần –au với vần –ao.

Âm tiết ra được ký âm với dấu ngã, Đỗ Quang Chính cho là rửa với dấu hỏi, thật ra các giáo sĩ dùng dấu ngã là chính xác bởi người Thanh Chiêm không phát âm đúng dấu hỏi và dấu ngã (hoàn toàn chỉ có dấu ngã). Cuối cùng, âm tiết ùa, Đỗ Quang Chính cho ùa là và là đúng nhưng chưa chính xác, bởi ở Thanh Chiêm ngày nay, dân làng vẫn nói đi u thay vì đi về, ùa cơôm thay và cơm. Ý kiến: Trong Việt Bồ La viết bua là vua và ꞗai là vai. Xem bảng chữ cái có b đuôi ở trên, Unicode +A797 ꞗ tượng trưng cho âm /β/, giống chữ “v” trong tiếng Tây Ban Nha. Hết chuyện vớ vẩn Thanh chiêm!

Trong Phép Rửa, Nhin danh [Cha…]: Nhân danh [Cha…]. Điều này theo Cố Đắc Lộ, có thể mơ hồ về mặt thần học vì thiếu dấu hiệu cho số ngữ pháp số ít. Rhodes yêu cầu b sung, kẻo chúng ta tưởng tượng ra ba cái tên, và do đó có ba thế lực siêu nhiên riêng biệt; trong trường hợp này, chúng sẽ nằm ngoài giáo điều Cơ đốc giáo, và như thế sẽ phải xem xét việc rửa tội lại cho tất cả những người theo đạo Cơ đốc.

Dấu Thánh Giá ngắn gọn và đơn giản, Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thn. Amen. Tuy nhiên khi cần phải giải thích thì không ít người trong chúng ta gặp khó khăn. Thật ra việc tuyên xưng một Chúa Ba Ngôi có lẽ ai cũng hiểu, nhưng khi được hỏi về cụm từ nhân danh khởi đầu Dấu Thánh Giá thì có lẽ không ít người trong chúng ta tránh khỏi lúng túng. 

T đin Vit-B-La có mục từ nhin danh cha nghĩa là nhân danh cha, Rhodes vẫn giữ định kiến của mình, ghi chú thêm h nghi không biết có cùng mt nghĩa vi ‘in nomine patris’? tác giả để nguyên gốc từ Latinh để không làm sai đi ý Thần Học của từ ấy. Trong T đin Vit-B-La còn có mục từ danh nghĩa là tên. Tuy nhiên nếu kết hợp với T v Annam Latinh của Bá Đa Lộc thì chúng ta sẽ thấy cụm từ này sáng rõ hơn, có nhiều mục từ là phương ngữ Đàng Trong,  nhơn” (phương ngữ Đàng Trong) tương ứng với từ nhân (ngôn ngữ toàn dân) nghĩa là vì, bi vì; cụm từ “nhơn danh” (phương ngữ Đàng Trong) tương ứng với cụm từ “nhân danh” (ngôn ngữ toàn dân) nghĩa là “vì tên.” Từ “nhơn danh” cũng chính là từ “nhân danh” trong công thức Dấu Thánh Giá chúng ta đang tìm hiểu, nghĩa là “vì tên, vì danh”[119]

Cần lưu ý rằng công thức Rửa tội, được các chuyên gia tư vấn, tất cả đều là người Bồ Đào Nha, giữ lại vào năm 1645, vẫn được sử dụng cho như bản gốc EGO TE BAPTISO IN NOMINE PATRIS ET FILII ET SPIRITUS SANCTI, đến ngày nay trong Giáo hội Việt Nam. Giáo hội công giáo áp dụng công thức trên, thêm 3 chữ Chúa; T… ( Cha, tôi) ra (anh, ch, con…) Nhân Danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thn.

Chúng ta có thể thắc mắc tại sao lịch sử lại lưu giữ rất ít những sự kiện trên đây, đến mức đôi khi coi sự hiện diện và hành động của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha ở Việt Nam là số lượng không đáng kể. Hình ảnh quốc tế của Bồ Đào Nha ngày nay chắc chắn đã bị mất giá rất nhiều; từng là một cường quốc tầm cỡ thế giới, đất nước này gần như trở thành Cô bé Lọ Lem của Tây Âu. Vào năm 1653, tu sĩ Dòng Tên người Ý Daniello Bartoli đã trao cho cơ quan kim duyt của Tu hội Chúa Giêsu một tập sách lớn về lịch sử truyền giáo ở Trung Quốc, đây cũng sẽ là tác phẩm kinh điển vĩ đại đầu tiên về việc truyền giáo ở Việt Nam[120]; hai trong số ba người kiểm duyệt sau đó đã chỉ trích Bartoli, vì thành kiến ​​chống người Bồ Đào Nha. Chúng ta tìm thấy phản ứng tương tự trong biên bản các bức thư của Goswin Nickel, Tổng Giám đốc Dòng Tên, gửi từ năm 1655 đến 1662 cho các tu sĩ Dòng Tên Ý và Pháp ở Việt Nam và Viễn Đông, tỏ ra bị sốc trước các cuộc tấn công có hệ thống của các phóng viên chống lại người Bồ Đào Nha, phương pháp và thành tích của họ. Cha Nickel nói: bạn có quyền tố cáo lỗi lầm của người này hoặc người kia, nhưng không thể chấp nhận được việc hạ thấp uy tín tổng thể của một quốc gia[121].

Từ hai sự thật này, phải so sánh hai dữ liệu lịch sử nổi tiếng khác. Các nhà truyền giáo ở Paris và các vị đại diện tông tòa được Tòa thánh cử đến Việt Nam từ năm 1659 chỉ có thể thiết lập quyền lực của họ ở đất nước này với cái giá là một cuộc đấu tranh lâu dài và cam go chống lại Dòng Tên, giáo sĩ Bồ, hi chống lại họ dưới danh nghĩa gần như lòng trung thành không ngừng với sự bảo trợ của vương miện Bồ Đào Nha. Khách quan, có vẻ như, trong cơn tranh cãi gay gắt và sau đó, nhiều phán quyết không công bằng đã được đưa ra, thật quá dễ để viện dẫn sự kém cỏi về mặt pháp lý hoặc sự kém cỏi của những người đến đầu tiên, hoặc phóng đại những thiếu sót của họ, để biện minh cho sự can thiệp độc đoán của những người đến sau. Ở trên, đã đề cập đến vai trò đặc biệt của Pháp ở Việt Nam hai thế kỷ sau, bằng cách tìm kiếm những tiền lệ xa xưa của hoàng tráng của Pháp, nơi vic truyn giáo, chinh phc quân s và thuc đa trn ln vi nhau, ta tìm thấy một số nguồn gốc vào năm 1624, ngày Alexandre de Rhodes đến Việt Nam, một dấu hiệu tin đnh về vai trò mà Pháp và người Pháp được kêu gọi đảm trách quá khứ đất nước này. Nếu tưởng Đắc Lộ là công dân Pháp, và có ý tưởng thực dân, từ thế kỷ 17.

Lấy tỷ dụ A. THOMAZI, trong La conquête de l’Indochine Cuộc chinh phục Đông Dương, Paris, Payot, 1934, tr. 13: Ở An Nam cũng như ở Xiêm, những người Pháp đầu tiên chúng tôi gặp là các nhà truyền giáo. Cha Alexandre de Rhodes đến Nam Kỳ năm 1624, sống 25 năm ở đất nước này và ở Bắc Kỳ (sic); ông đã mang về tấm bản đồ đầu tiên của đất nước, một cuốn từ điển An Nam-Latin-Bồ Đào Nha, lịch sử Bắc Kỳ, và chỉ ra những khả năng sẵn có để buôn bán. Có một nơi ở đó,và bằng cách thành lập chính mình, các thương gia châu Âu có thể tìm thấy ở đó một nguồn lợi nhuận và sự giàu có dồi dào. Thomazi đề cập trong một ghi chú, kèm theo chỉ dẫn của trang, về tác phẩm của hồi ký các chuyến đi của Alexandre de Rhodes (được trích dẫn và bàn luận ở trên); nhưng câu trích dẫn này, dịch qua Việt ngữ một cách sai lầm của Nguyễn Khắc Xuyên, thường được nhắc đến và bình luận hàm hồ trên các ấn phẩm của nước Việt Nam Cộng sản, dường như chỉ là một phát minh của Thomazi mà thôi. Xem Vương Đình Chi, Mt ng nhn v Alexandre de Rhodes, Công giáo và Dân tộc (Thành phố Hồ Chí Minh), số 901 , 4.4.1993, tr. 18-19.

Từ năm 1654, năm năm trước khi kết thúc, các cuộc đàm phán liên quan đến tương lai của phái bộ truyền giáo ở Việt Nam đã thoát khỏi tay Rhodes: việc bổ nhiệm các giám mục cho Việt Nam, ủy ban đầu tiên được Dòng Tên  giao phó cho ông khi khởi hành từ Macao, do đó đã được giải quyết giữa wherevới nhau trong hội thánh Vatican. Bản thân ông bị bỏ rơi, déchu, không đươc ở Rome, đã được gửi đến Ba Tư để truyền giáo và mất ở đó. Xem Lucien Campeau, Le voyage du Père Alexandre de Rhodes en France 1653-1654 Chuyến hành trình của Cha Alexandre de Rhodes ở Pháp, trong Archivum Historicum Societatis Iesu 48, 1979, p. 65-85, với các tài liệu lưu trữ được trích dẫn.Thực dân Pháp khi đô hộ Việt Nam, đưa Kitô giáo với hàng giáo sĩ, lẫn lộn, vào chính quyền và chính sách cai trị, tàn sát man rợ, vô hình chung đã mặc lên Cố Đắc Lộ của hai thế kỷ trước, một y phc lông lá xấu xa.

Trên Bia đá tưởng niệm chính phủ bảo hộ ghi: Người truyn giáo có kết qu ln-lao sau mun bo-tn cái kết qu y và mun dng nên thánh-giáo chc-chn cho giáo-đ Vit-nam. Người được phép Toà-Thánh cho đt các chc giám-mc chn toàn người Pháp (1652). Sác nhận này không có dẫn chứng lịch sử vững chắc. Lịch sử chỉ chép, Rhodes khi đến Pháp, khuyến khích thành lập Hội Thừa sai Paris, MEP, và hội này được Vatican gửi đi Á Châu, thừa kế Dòng Tên Bồ để truyền đạo.

Vụ việc này cũng là trò, Mp m đánh ln con đen, Bao nhiêu cũng by nhiêu tin, mt chi (Nguyễn Du, Kim Vân Kiều truyện) gian trá của thực dân Pháp. Đắc Lộ không bao giờ được phép Toà-Thánh cho đt các chc giám-mc chn toàn người Pháp. Cố không bao giờ được có đươc thẩm quyền cính thức bổ nhiệm Giám mục Pháp ở Việt Nam, cố cá nhân chỉ là một linh mục truyền giáo, dù trên giấy tờ là thần dân của Vatican. Đắc Lộ chưa bao giờ có chức vị Bề Trên hay Đại Diện một Dòng, Tu hội hay tổ chức tập thể truyền giáo. Dĩ nhiên Cố Rhodes không có chức vụ gì ở Propaganda Fide Rôma. Đây là chuyện phải ng đng để nghe, histoire à dormir debout[122], của thực dân Pháp. Vã lại các Bề trên Pháp đầu tiên đến Việt Nam la do chính Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm.

Lịch sử thế kỷ 18 với Bá Đa Lộc, giám mục được Gia Long gửi đi cầu viện quân đội Pháp, người thực sự mới là người đu tiên đưa Pháp vào đô hộ Việt Nam sau này. Đắc Lộ qua biểu tượng Bá Đa Lộc, đã bị người Pháp li dng và cho mặc y phục lông lá là giáo sĩ thc dân. Nguồn Wikipedia viết: Bá Đa Lộc tiếp tục khuyên Nguyễn Ánh rằng đừng chỉ trông cậy vào người Xiêm mà nên tìm cách vận động cả nước Pháp cử viện binh giúp sức. Nguyễn Vương đồng ý, giao Hoàng tử Cảnh đi cùng Bá Đa Lộc đi tìm kiếm sự viện trợ từ phương Tây. Tháng 11 năm 1784, Bá Đa Lộc lên tàu biển rời Việt Nam. Ông tìm cách sang Pondicherry, và từ đó ông gửi đến Macao lời yêu cầu giúp đỡ từ triều đình Bồ Đào Nha, dẫn đến Hiệp ước Liên minh giữa Nguyễn Vương và Bồ Đào Nha ngày 18 tháng 12 năm 1786 ở Bangkok.

Sau khi Giám mục Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh yết kiến Pháp hoàng Louis XVI và thương nghị với Bộ Ngoại giao Pháp, ngày 21 tháng 11 năm 1787, Hiệp ước Versailles được ký bởi Armand Marc, bá tước Montmorin, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Hải quân, và Bá Đa Lộc, Đặc s Nguyễn vương Ánh. Theo 2 điều khoản chính của hiệp ước, thì vua Louis XVI hứa sẽ giúp đỡ Nguyễn Ánh để lấy lại ngôi vị, bằng cách cung cấp 1.650 quân (1.200 lính bộ binh, 200 lính pháo thủ và 250 lính da đen Cafres) và 4 chiến hạm. Đổi lại, Nguyn vương s nhường hn đo Côn Lôn (người Pháp ghi là Pulo-Condore), đng thi cho Pháp thuê cng Đà Nng (người Pháp ghi là Tourane) vi giá ưu đãi, kèm theo đc quyn kinh doanh.

Hiệp ước không thực thi do Cách mạng Pháp nổ ra cũng trong tháng đó, vua Louis XVI bị lật đổ. Chính quyền mới của Pháp không gởi quân đội giúp. Nhưng lịch sử chứng minh Hiệp ước Versailles 1787 là hiệp ước quốc tế đánh dấu sự bt đu vin chinh của Pháp ở Đông Dương. Giám mục Bá Đa Lộc đã tự quyên góp tiền từ các thương gia có ý định đặt cơ sở buôn bán ở Đại Việt cùng với số tiền 15.000 franc quan Pháp của gia đình mình cho, mua vũ khí, thu nạp được 350 lính và 20 sĩ quan Pháp giúp Nguyễn Ánh. Tháng 7 năm 1789 Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh về đến Gia Định, sau 4 năm 8 tháng rời khỏi Việt Nam.

Pierre Joseph Georges Pigneau de Behaine, thường được viết là Pigneau de Behaine (1741 – 1799) là một giáo sĩ Công giáo người Pháp, thuộc dòng Thừa sai Paris, được Nguyễn Phúc Ánh trọng dụng trong việc lấy lại quyền bính từ tay nhà Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18. Ông là giám mục Đại diện Tông tòa Đàng Trong, hiệu tòa Adran nên cũng thường được các sách sử gọi là Giám mục Adran. Người Việt biết đến ông dưới tên Bá Đa Lộc (百多祿) vì tên tiếng Pháp của ông là Pierre, tương đương với Petrus trong tiếng Latin, Pedro trong tiếng Bồ Đào Nha, và từ đó xuất hiện cái tên Bá Đa Lộc, phiên âm từ Pedro. Ông còn được biết tới với tên Bá Đa Lộc Bỉ Nhu hay Bách Đa Lộc, hay Cha Cả. Bi Nhu Quận công (悲柔郡公) là sắc phong của vua Gia Long, gọi theo âm Pigneau. Hài cốt của Giám mục Bá Đa Lộc được thờ ở Lăng Cha C cho đến hết thời nhà Nguyễn sang thời Pháp thuộc, rồi đến chính phủ Việt Nam Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Qua bao nhiêu thế kỷ, lịch sử thực dân đã dùng Bá Đa Lộc, ngậm máu phun người, gièm pha, vu khống một cách độc ác Đắc Lộ là Công thn Pháp, như đã ghi trên Bia Đá.

Giám mục Adran có công soạn cuốn từ điển tiếng Việt mang tên Dictionarium Anamitico Latinum vào năm 1773, viết chữ Quốc ngữ và chữ Nôm, giải nghĩa bằng tiếng Latinh, sau được giám mục Taberd biên tập và in thành Nam Việt–Dương Hiệp Tự vị. Cuốn tự điển viết tay này nay còn giữ ở Thư khố Hội Truyền giáo Ngoại quốc tại Paris.

Năm 1652, ai được Toà Thánh cho phép đặt ở Việt Nam các chc giám-mc chn toàn người Pháp? Sự hiện diện của Phái đoàn Truyền giáo Nước ngoài của Paris MEP ở Việt Nam có từ thế kỷ 17. Năm 1662, Đức ông Pierre Lambert de La Motte trở thành tông tòa đi din đầu tiên của Nam Kỳ, premier vicaire apostolique[123], chứ không phải giám mục évêque. Cha Louis Chevreuil là nhà truyền giáo MEP đầu tiên đến Cochinchine Nam Kỳ vào ngày 26 tháng 7 năm 1664, với tư cách là đại diện của Đức Ông de La Motte. Tại Tonkin Bắc Kỳ, Cha François Deydier đến vào năm 1666, cùng với Đức Cha de La Motte, người đã tổ chức hội nghị đầu tiên ở đó bốn năm sau đó[124].

Phái đoàn Truyền giáo Nước ngoài của Paris (MEP) là một tổ chức tông đồ Công giáo được thành lập vào năm 1663. Mục tiêu của tổ chức này là truyền giáo, évangélisation, cho các quốc gia ngoài Kitô giáo, đặc biệt là ở châu Á, thông qua việc thành lập các giáo hội và phát triển hàng giáo sĩ địa phương dưới quyền quản lý của các vicaire, chức vị trên hay tương đương chức giám mục. Để tuyển dụng và đào tạo các nhà truyền giáo, một ngôi nhà được thành lập vào năm 1663 trên đường rue du Bac ở Paris và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Được biết đến với cái tên Chủng viện Truyền giáo Nước ngoài, séminaire des Missions étrangères, MEP đã nhận được sự chấp thuận của Giáo hoàng Alexandre VII và sự công nhận hợp pháp từ chính phủ Pháp trên mặt pháp lý[125].

Tu sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes[126], trở về sau chuyến truyền giáo ở Viễn Đông, đi qua Paris năm 1653 và được mời nói chuyện với các thành viên của Hội Hữu nghị Assembly of Amity (A.A.), một hiệp hội những người Công giáo Pháp bao gồm các thành viên của Tu hội Dòng Tên Đức Thánh Trinh Nữ. De Rhodes kêu gọi họ đáp ứng yêu cầu khẩn cấp mà ông đã đưa trình ở Rome về việc Đức Thánh Cha gửi các lãnh đạo giáo hội đến những người mới cải đạo ở Viễn Đông để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt là đào tạo các linh mục và tấn phong các giám mục địa phương. De Rhodes tin rằng việc có một giáo sĩ bản địa là rất quan trọng cho sự phát triển và tồn tại của nhà thờ ở Viễn Đông. Sau đó, Cha Bigot S.J. đề nghị ba thành viên của A.A. cung cấp dịch vụ này ở Trung Quốc và hai người, François Pallu từ Tours và François de Laval (1623–1708) từ Evreux, sau đó lần lượt được bổ nhiệm làm đại diện tông tòa cho Bắc Kỳ và Quebec.

Nhóm đại diện tông tòa đầu tiên được tuyển chọn từ những người Công giáo tình nguyn và không được chính quyn thế tc bổ nhiệm. Một trong số họ, Pierre Lambert de la Motte, một luật sư ở Rouen, đã hiến tặng tài sản của mình để tài trợ cho chuyến thám hiểm đầu tiên. Năm 1658, Giáo hoàng Alexander VII đề cử ba đại diện tông tòa cho vùng Viễn Đông: Lambert de la Motte cho Nam Kỳ Cochinchina, Francis Pallu cho các tỉnh Nam Trung Quốc, và Ignace Cotolendi, giám mục Aix en Provence, cho Nam Kinh và Bắc Trung Quốc. Lambert de la Motte trở thành nhà truyền giáo MEP đầu tiên đến châu Á vào năm 1662 linh mục châu Á.

… Mãi đến năm 1993[127], tên tuổi Alexandre de Rhodes mới được phục hồi ở Việt Nam. Năm đó, Câu lạc bộ Sử gia tổ chức tranh luận về Rhodes và Giáo sư Nguyễn Lân nói về đài tưởng niệm người Pháp. Đối với ông, lẽ ra đài tưởng niệm không thể huỷ bỏ. Le courrier du Việt Nam bình luận về vụ phá bỏ như sau: Hành đng này bc l mt s hp hòi trí tu, mt s thiếu hiu biết hoàn toàn v lch s và dù sao đi na, nó không xng đáng vi nhân dân ta. Và chng phi Alexandre de Rhodes cũng làm vic cho người dân Vit Nam sao? Ch viết được La Mã hóa, d hc hơn nhiu so vi ch tượng hình (nôm), to điu kin thun li cho phn ln dân chúng tiếp cn kiến ​​thc và thông tin […] Và nhà truyn giáo cũng là mt nhà nhân văn, gn gũi vi dân chúng.

Ôi thôi, nhà nước Hà Nội sửa sai, đặt lại Bia Đắc Lộ ở Thư viện Quốc Gia, với Người được phép Toà-Thánh cho đt các chc giám-mc chn toàn người Pháp (1652), dữ kiện ngoài lịch sử, thì không phải để tương duyên Cố. Trái lại, Bia như đã viết bởi Thực dân là một s nhc ln lao cho nhà Cải đạo Dòng Tên Rhodes; một sỉ nhục lưu truyền cho hậu thế.

Âu lại cũng là oan trái của lịch sử. Stephen Neill, trong An history of Christian missions (Harmondsworth Middlesex GB, Penguin, 1979 Lịch sử các sứ mệnh Kitô giáo, viết: Người anh hùng của sử thi cải đạo này là Alexandre de Rhodes” (tr. 195). Tưởng tượng rằng Rhodes một mình thực hiện việc Latinh hoá quốc ngữ, Neill tiếp tục: Món quà thứ hai của Rhodes đối với Giáo hội là việc chuyển hóa tiếng Việt sang cách viết bằng bảng chữ cái Latinh. Ngoài năng khiếu ngôn ngữ tuyệt vời, ông ta hẳn phải có một đôi tai cực kỳ chính xác; vì tiếng Việt là ngôn ng thanh điu và việc thể hiện chính xác những thanh điệu này là điều cực kỳ khó khăn…” (tr. 196). Trên nguyên tắc, hiển nhiên tác giả chỉ có một giả định, không có tài liệu nào để trích dẫn chứng minh khẳng định của mình.

Tiểu sử gần đây nhất của Rhodes, của Jean Lacouture Un Avignonnais dans la rizière. Une multibiographie, 1. 1, Les conquerants, Paris, Seuil, 1991, p. 297-324), Một Avignonnais trên cánh đồng lúa. Một cuốn tiểu sử đa dạng. Lacouture tả khuynh, diễn ra khá khéo léo giữa cách xử lý thần thoại về con người Rhodes và công việc của nhà truyền giáo vĩ đại gốc Avignon. Vô số sai sót về chi tiết trong sách đã làm mất đi phần lớn sự quan tâm của bài viết này đối với nhà sử học. Sự phát triển gần đây nhất về sứ mệnh Kitô giáo ở Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ 16 là do tu sĩ Dòng Tên Philippe Lécrivain, Sự mê hoặc của Viễn Đông, hay giấc mơ bị gián đoạn, La fascination de l’Extrême-Orient, ou le rêve interrompu (The Age of Reason. 1620 /30-1750 , tập 9 của Lịch sử Kitô giáo từ nguồn gốc đến ngày nay, hướng dẫn bởi Jean-Marie Mayeur, Charles Pietri, André Vauchez và Marc Venard, [Paris,] Desclée, [1997], tr. 755-834. Nếu tác giả không coi Rhodes là tác giả cá nhân của những sáng tạo ngôn ngữ, thì ông vẫn tiếp tục giới thiệu Rhodes là nhân vật chính, diễn viên duy nhất xứng đáng được nêu tên, của trang lịch sử này!

Cùng năm 1645, khi cuộc tranh luận về ngôn ngữ mâu thuẫn nêu trên được tổ chức ở Macao, Alexandre de Rhodes được cấp trên của ông là Manuel de Azevedo giao cho một sứ mệnh tới Rome. Ở đây sẽ không đề cập ở đây các khía cạnh ngoại giao của chuyến đi, tìm thêm hậu thuẫn tài chính cho sứ mệnh truyền giáo, cũng như những hậu quả mà nó gây ra đối với các phái đoàn Công giáo ở Viễn Đông; những hậu quả này gây đau đớn cho Bồ Đào Nha mà không ai có thể đổ lỗi cho Rhodes. Đúng hơn, chúng ta nên nhớ đến một thành công không thể chối cãi, việc xuất bản ở Rome cuốn từ điển và sách giáo lý mà nhà truyền giáo mang theo trong hành lý, cùng lúc với nhiều tác phẩm lịch sử khác nhau về sứ mệnh Việt Nam. Chính trên cơ sở của những n phm này mà con người của Alexandre de Rhodes bắt đầu mang một khía cạnh huyền thoại, giờ đây gần như trở thành thn thoi cả về lịch sử các sứ mệnh truyền giáo ở Việt Nam lẫn lịch sử tiếng Việt Quốc ngữ. Có phải chúng ta đang làm sai lịch sử, khi diễn dịch theo cách này chăng. Rhodes chắc chắn là một nhà truyền giáo thành công, nhưng không phải là siêu nhân; việc khôi phục con người Đắc Lộ, trở lại tính nht quán thực sự và đặt lịch sử vào bối cảnh của nó là điều cấp thiết. Không có gì khó hiểu, Cố Đắc Lộ đơn thương độc mã, không thể nào mt mình tự xây dựng và khai sinh một ngôn ngữ mới, quốc ngữ Latinh hoá.

Nhiều khía cạnh của cuộc hành trình này chỉ được biết đến từ lời kể của Rhodes qua hồi ký. Manuel de Azevedo, Giám sát visiteur Phái đoàn Truyền giáo Nhật Bản và Trung Quốc, là người có thẩm quyền cao nhất trong Hiệp hội Chúa Giêsu Viễn Đông và là bề trên trực tiếp của Rhodes, sinh tại Viseu (Bồ Đào Nha) năm 1581, qua đời tại Ma Cao năm 1650. Ông được hỗ trợ bởi một người Bồ Đào Nha khác, João Cabrai, người lúc đó là hiệu trưởng trường đại học và có chức danh phó tỉnh (1645-1646). Sinh năm 1598 tại Celorico da Beira (Bồ Đào Nha), Cabrai giữ chức vụ Du khách Bắc Kỳ năm 1647-1648. Chính ông là người chủ trì cuộc hội đàm Macao (1645) đã được thảo luận. Ông qua đời ở Goa năm 1669.

Ngoài những vấn đề của cách tiếp cận đối với ngôn ngữ học tiếng Việt mà chúng ta sẽ bàn tiếp trở lại, xin đề cập ở đây một vấn đề khác. Cộng đồng Công giáo Việt Nam, mặc dù đã được thiết lập vững chắc trong ba thế kỷ rưỡi, vẫn là một cộng đồng thiểu số bị tranh chấp, đã và chịu đựng sự tẩy chay. Bài phát biểu của nhiều người gièm pha buộc tội Kitô giáo Việt Nam đã được mang theo trong hành lý của thực dân Pháp, mà Alexandre de Rhodes là người đi trước[128], là hoàn toàn sai lầm. Sự phục hồi gần đây của giới quan chức Hà nội vẫn chưa chấm dứt được huyền thoại đen tối này. Việc khôi phục sự thật lịch sử về nguồn gốc của cộng đồng Công giáo sẽ giúp làm nổi bật những thực tế rất khác nhau, trong khuôn khổ đối thoại và trao đổi, hoàn toàn hòa bình, của vương miện Bồ Đào Nha và các Giáo sĩ Dòng Tên. Các nhà truyền giáo Bồ, những người đầu tiên đem mầm giống Ki tô đến Việt Nam, chứ không phải nước Pháp qua cá nhân Rhodes, trên pháp lý ông không phải là thần dân của hoàng gia Pháp. Họ, những người tự do và chân thành, đã có thể khiến một bộ phận dân chúng lắng nghe giảng dạy, và đã tìm ra đất phì nhiêu để truyền đức tin. Với sự cảm thông sâu sắc, truyền giáo Bồ đã áp dụng ngôn ngữ và phong tục của những người đối thoại; người bản dân t do la chn đức tin mới này, tất cả được thể hiện với ngôn ngữ bản địa, trước tiên bằng chữ Nôm. Xin đừng nhầm lẫn, Quốc ngữ thuở đầu do người Bồ lập nên, chính yếu để dạy cách phát ngôn tiếng Việt (nói) trong phạm vi giáo phẩm truyền giáo với nhau để giảng đạo. Chính trong bối cảnh này mà Rhodes, thần dân của Giáo hoàng, và dưới bảo trợ nước Bồ Đào Nha, đã thực thi tác vụ thừa sai của mình giống như các đồng nghiệp khác, những người Bồ Đào Nha, Ý hoặc Nhật Bản.

Việc tìm ra sự thật lịch sử đằng sau huyền thoại thống trị theo cách nhìn xuyên tạc của thực dân Pháp là một đặc biệt gian khổ và bạc bẽo. Để làm được điều này, sử gia về phái bộ truyền giáo ở Việt Nam có nguồn tài liệu rất phong phú, nhưng nhất thiét không chỉ là những dữ kiện xuất phát trong văn học Pháp. Tuy không nói nhiều về các tài liệu chính thức, dù là chính trị hay kinh tế, những tài liệu này đã được nhiều người biết đến và phần lớn đã được xuất bản và sử dụng: Chưa bao giờ có một thuc đa Bồ Đào Nha thực sự ở Việt Nam và rất ít trao đổi chính trị; hiệp ước duy nhất là hiệp ước phù du Luso-Việt năm 1786[129]. Loại tài liệu này trên hết giúp xác định rõ ràng bối cảnh kinh tế xã hội của sứ mệnh Kitô , chứ không phải nội dung của nó.

Phần lớn các nguồn dữ kiện, bao gồm hầu hết các bản thảo chưa được xuất bản, có nguồn gốc tôn giáo. Nói chung, cần lưu ý rằng, đi tìm một thật sự khác, các phiên bản chưa được xuất bản[130] thì thích hợp hơn các phiên bản đã xuất bản, nếu chúng tồn tại, bởi vì các phiên bản xuất bản, chủ yếu nhằm mục đích là để gây dựng những tâm hồn ngoan đạo của Châu Âu! Và có thể, chủ quan, đã bị bóp méo vì mục đích này. Các bản thảo, đặc biệt là các báo cáo chính thức và thư từ riêng tư của các tu sĩ Dòng Tên, phần lớn được lưu giữ ở Lisbon, Madrid và đặc biệt là ở Rome, nằm rải rác trong một số bộ sưu tập. 86. Chúng được viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, ít thường xuyên hơn bằng tiếng Latinh và đôi khi bằng tiếng Ý. Chính nội dung của chúng sẽ giúp chúng ta có thể tái xây dựng lại một cách chi tiết trình t thi gian của sứ vụ và xác định trách nhiệm của mỗi tác nhân. Đồng thời, sự tiến bộ và những thay đổi trong hoạt động ngôn ngữ và văn hóa của các tu sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha ở Việt Nam ở thế kỷ 17 sẽ được nêu bật rõ ràng hơn, với tên và khuôn mặt của những người đã thúc đẩy nó.

Roland Jacques nhấn mạnh: Việc xuất bản và khai thác các nguồn sử liệu này là một dự án vẫn còn phải được thực hiện. Nhiệm vụ ưu tiên là lập chỉ mục các tài liệu từ nửa thế kỷ 17 đầu tiên, thời kỳ mà hầu hết các công việc sáng tạo được thực hiện (1615-1664). Nhưng sự phát triển toàn diện sẽ là một nhiệm vụ tập thể lâu dài, đòi hỏi phải thiết lập mối liên kết hợp tác văn hóa giữa thế chức Bồ Đào Nha và thế chức Việt Nam. Điều cần thiết là thế hệ các nhà nghiên cứu tương lai của Việt Nam có thể tham gia đầy đủ vào công việc. Trên thực tế, một mặt, họ sẽ không thể lo lắng về những cuộc tranh cãi trong nội bộ châu Âu, điều mà họ hầu như không nên quan tâm; mặt khác, chỉ có sự đóng góp cụ thể của họ mới có thể nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh văn hóa của những gì đã đạt được trong cuộc gặp gỡ lịch sử của Quốc ngữ ở thế kỷ 17.

Để sửa soạn cho những khảo cứu tương lai, xin kể một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã bảo vệ các luận điểm về lịch sử hoặc có yếu tố lịch sử, dành cho thời kỳ đó, tại các trường đại học và các tổ chức La Mã. Với một số ngoại lệ, những tác phẩm này vẫn chưa được xuất bản và mắc phải những khiếm khuyết đã được đề cập, đặc biệt là không có đủ kiến ​​thức về các tài liệu gốc viết bằng tiếng Bồ Đào Nha.

Xin trích dẫn: Nguyễn Hữu Trọng, Le clergé national dans la fondation de l’Église au Viêt-nam. Les origines du clergé Vietnamien Giáo sĩ dân tộc trong việc thành lập Giáo hội tại Việt Nam. Nguồn gốc của giới tăng lữ Việt Nam (Paris, Catholic Institute, 1955); Vũ Khánh Tường, Les missions jésuites ayant les Missions Étrangères au Viêt Nam, 1615-1665, Cơ quan Truyền giáo Dòng Tên với Cơ quan Truyền giáo Nước ngoài tại Việt Nam, 1615-1665 (Paris, Viện Công giáo, 1956); Phạm Văn Hội, Les missions jésuites ayant les Missions Étrangères au Viêt Nam, 1615-1665 (Paris, Institut catholique, 1956); Phạm Văn Hội, La fondation de l’Église au Viêt-nam, Việc thành lập Giáo hội tại Việt Nam, 1615-1715 (Rome, Đại học Gregorian, 1960); Đỗ Quang Chính, La mission au Viêt Nam, 1624-1630 et 1640-1645, d’Alexandre de Rhodes, sj, avignonnais Sứ mệnh tại Việt Nam, 1624-1630 và 1640-1645, của Alexandre de Rhodes, sj, Avignon (Paris, École Pratique des Hautes Études, 1969). Các luận văn thần học: Nguyễn Khắc Xuyên, Le catéchisme en langue vietnamienne romanisée du P. Alexandre de Rhodes, 1651 Giáo lý bằng tiếng Việt Latinh của Cha Alexandre de Rhodes, 1651 (Rome, Đại học Gregorian, 1956-1957); Placide Tân Phát, Méthodes de catéchèse et de conversion du P. Alexandre de Rhodes, 1593-1660 Phương pháp dạy giáo lý và hoán cải của Cha Alexandre de Rhodes, 1593-1660, (Paris, Viện Công giáo, 1963); Mai Đức Vinh, La participation des notables de chrétientés aux ministères des prêtres. Recherche historico-pastorale, 1533-1953 (Rome, Université St-Thomas, 1977 Sự tham gia của các Kitô hữu nổi tiếng trong thừa tác vụ linh mục. Nghiên cứu lịch sử-mục vụ, 1533-1953 (Rome, Đại học St. Thomas, 1977); Nguyễn Chí Thiết, Le Catéchisme du Père Alexandre de Rhodes et l’âme vietnamienne Giáo lý của Cha Alexander xứ Rhodes và tâm hồn Việt Nam (Rome, Đại học Gregorian, 1980). Các luận văn về giáo luật: Nguyễn Việt Cứ, De Institutione Domus Dei in Missionibus Tonkini: Studium Juridicum (Rome, Gregorian University, 1954) ); Nguyễn Trọng Hồng, Viện Giáo lý và Truyền giáo Đông Dương thế kỷ 17 (Rome, Urban University, 1959); Phạm Quốc Sử, Nhà Chúa, tổ chức giáo lý viên ở Việt Nam (Rome, Urban University, 1975). Luận án của Nguyễn Hữu Trọng được xuất bản nhưng đã bị chỉ trích nặng nề từ quan điểm của người Bồ Đào Nha. Ngoài ra, một số học giả Việt Nam cũng tập trung vào con người và sự nghiệp của Alexander xứ Rhodes, đặc biệt nhân dịp kỷ niệm 300 năm ngày mất của ông. Xem cụ thể các bài viết trên tạp chí Tạp Chí Đại Học [Review of the University of Hue] xuất bản năm 1960 và 1961; và số đặc biệt Việt-Nam Khảo-cổ Tập-san /Bản tin của Viện Nghiên cứu Lịch sử [Sài Gòn], Kỷ niệm ba trăm năm ngày mất của Cha Alexandre de Rhodes 1593-1660, n° 2/1961, tr. 258.

Ngay cả sau khi xuất bản các nguồn tiếng Trung của ngôn ngữ học lịch sử Việt Nam[131], từ điển và sách giáo lý của Rhodes xuất bản ở Rome năm 1651 vẫn là hai công trình cơ bản không thể thay thế để biết hiện trạng của quốc ngữ trong thế kỷ 17 và sự tiến hóa của nó. Nhưng việc chúng được xuất bản dưới cái tên duy nhất là Alexandre de Rhodes dường như đã miễn cho chúng ta việc nghiên cứu sâu về h sơ ngôn ng. Cá nhân Rhodes là tác giả ở mức độ nào? Ông Cố đã đảm nhận công việc của những người tiền nhiệm với tư cách là người biên soạn hoặc biên tập văn bản cuối cùng ở mức độ nào? Chắc chắn là không thể trả lời những câu hỏi này một cách thấu đáo; nhưng chúng phải được hỏi và xem xét nghiêm túc với sự giúp đỡ của tất cả các bằng chứng những văn bản sẵn có.

Khái niệm về tài sản hay bản quyền văn học của các tu sĩ Dòng Tên thế kỷ 17 không hẳn là của chúng ta ngày nay; xin đưa ra hai ví dụ. Chúng ta thấy câu chuyện về cuộc tử đạo của giáo lý viên André, nguyên bản tiếng Bồ Đào Nha là do chính ngòi bút của Rhodes, mà đôi khi được lặp lại từng chữ dưới ngòi bút ký tên của Matias da Maia, Antonio Francisco Cardim hoặc Manuel Ferreira. Ngược lại, Rhodes xuất bản dưới tên của chính mình một câu chuyện liên quan đến các vị tử đạo của Nhật Bản, thường được lấy từ biên niên sử của Dòng Tên. Trong trường hợp của Rhodes và các vị tử đạo của Nhật Bản[132], chắc chắn đó cũng là vấn đề lợi dụng danh tiếng đang nổi của người bản xứ Avignon để phân phối cuốn sách tốt đẹp hơn.

Đối với hai tác phẩm viết bằng tiếng Việt của Rhodes do Truyền giáo Propaganda Fide xuất bản, rõ ràng không có chuyện bán sách ra công chúng; mục đích duy nhất là phục vụ công vụ truyền giáo. Vì Rhodes là người duy nhất ở Rome biết ngôn ngữ được sử dụng nên ông nhất thiết phải đích thân xác nhận về những tác phẩm này, chịu trách nhiệm cuối cùng về chúng trước cấp trên và Tòa thánh. Việc Rhodes có tên trên trang bìa không chứng tỏ ông ấy là tác giả duy nhất hay thậm chí là biên tập viên chính. Thực sự là loại trách nhiệm mà Rhodes đã đảm nhận mà không khng đnh quyền tác giả văn học theo đúng nghĩa mà chúng ta hiểu hôm nay; những người có thể làm điều đó ở vị trí Rhodes, hoặc cùng với ông ta, đều ở tuốt tận cùng trái đất vào thời điểm nay!

Đối với sách giáo lý, có thể nên để lại cho Rhodes quyền tác giả trong việc biên tập, và chắc chắn phiên bản tiếng Latinh, đã được toà thánh yêu cầu rõ ràng. Nhưng chính Rhodes cũng lưu ý rằng trong trường hợp này, đó là phương pháp mà chúng tôi s dng đ đ xut nhng bí n ca mình cho nhng người ngoi giáo: do đó nó được đặt vị trí rõ ràng trong một tác phẩm tập thể. Giải thích thuật ngữ phương pháp méthodes có nghĩa bao gồm các tài liệu văn bản. Sự tồn tại của các văn bản giáo lý, ít nhất tương tự như của Rhodes, được viết bằng chữ cái Latinh và chữ Nôm theo âm tiết. Thực tế đã được chứng thực bởi một văn bản của tu sĩ Dòng Tên Metello Saccano, được viết ngay trước khi xuất bản Sách Giáo lý: ” … Sách Giáo lý của chúng tôi được soạn thảo rõ ràng để hướng dẫn những người này, nơi mà những bí tích Kitô được phơi bày rõ ràng, và sự tôn kính của các giáo phái ca h bị bác bỏ một cách hiệu quả, toàn bộ công việc được chia làm tám, trong nhiều ngày”[133]. Do đó, nhà truyền giáo Đắc Lộ dường như có một bản viết bằng chữ quốc ngữ để sử dụng cho riêng mình và một bản khác bằng chữ Nôm để sử dụng cho người Việt.

Đối với từ điển, cũng phải có nhận xét tương tự. Trong thông báo gửi đến độc giả, Rhodes lưu ý rõ ràng rằng ông làm việc trên cơ sở từ điển Vit-B Đào Nha do Gaspar do Amaral biên son và t đin B Đào Nha-Vit ca Antonio Barbosa. Nếu bản thảo của hai tác phẩm tiền thân chưa bao giờ được tìm thấy, thì theo chúng tôi, đơn giản là vì từ điển in của Rhodes đã sử dụng toàn bộ ni dung viết tay của chúng, khiến việc bảo tồn chúng theo Rhodes, là không cần thiết. Tất nhiên, chúng ta phải ca ngợi phẩm chất quản lý management của cư dân Avignon này, người duy nhất biết cách đưa công việc xuất bản này thành hiện thực, bất chấp những khó khăn mà ta có thể tưởng tượng. Những người tiền nhiệm của ông, những người mất sớm, đã không thể làm được điều đó.

Để in chữ Nôm, Việt Nam đã sử dụng kỹ thuật in ống đồng. Phái đoàn Dòng Tên ít nhất đã sử dụng kỹ thuật này ở Bắc Kỳ, trong thời kỳ họ được hưởng đầy đủ tự do[134]. Nhưng kỹ thuật này đã không được điều chỉnh cho phù hợp với bảng chữ cái Latinh, và nhất là quyền tự do bị hạn chế của những người truyền giáo, trong một môi trường nhạy cảm như vậy.

Tỉnh Dòng Nhật Bản đã vận hành một máy in với chữ di động ở Macao, sau đó ở Nhật Bản và một lần nữa ở Macao trong khoảng thời gian từ 1588 đến 1620.96 Vì những lý do không rõ ràng, máy in này sau đó đã bị bỏ rơi hoặc bán ở Manila, đến nỗi thật không may, nó không thể được sử dụng đối với chữ quốc ngữ, giống như đối với tiếng Nhật (bảng chữ cái La Mã và chữ hiragana). Giải pháp thay thế là in nó ở Lisbon. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, đây là một công việc khá tế nhị, tốn thời gian và chi phí tốn kém. Một nhà điều tra người Bồ Đào Nha đương thời viết: The vigilance [of the Inquisition] in ferreting out suspect doctrines is incredible ; and it always was thus in this kingdom [of Portugal], where manuscripts have to be revised so often and approved by so many censors with such rigour, that this is one of the reasons why so few books are published here … Sự cảnh giác [của Tòa án Dị giáo] trong việc tìm ra các học thuyết đáng nghi ngờ là điều đáng kinh ngạc; và ở vương quốc này [Bồ Đào Nha] luôn luôn như vậy, nơi các bản thảo phải được sửa lại thường xuyên và được rất nhiều cơ quan kiểm duyệt phê duyệt một cách nghiêm ngặt, đó là một trong những lý do tại sao có rất ít sách được xuất bản ở đây… 97

Có lẽ chính những lý do này đã khiến Bề trên của Alexandre de Rhodes, phải dùng đến giải pháp của La Mã để cung cấp cho phái bộ truyền giáo Việt Nam những tác phẩm cơ bản mà họ cần gấp nhất.

Đối với từ điển cũng như giáo lý, Rhodes đã thêm tiếng Latin vào phần Việt-Bồ Đào Nha, theo yêu cầu của toà thánh. Ông thay thế từ vựng Bồ Đào Nha – Việt bằng một tiết mục ngắn gọn Latinh-Việt, có lẽ là của riêng ông. Ngoài ra, từ điển còn bao gồm một mô tả ngắn về ngữ âm và ngữ pháp của tiếng Việt, một nghiên cứu chuyên sâu về văn bản này và một văn bản đương đại khác tương tự, cũng đã khiến chúng ta thừa nhận cả hai có một nguồn tiếng Bồ Đào Nha chung, cũng bị thất lạc luôn, do việc xuất bản tác phẩm được in khiến nó không còn tính cách thời sự nữa.

Chỉ có việc công bố và phân tích một cách có phương pháp các nguồn tài liệu mới có thể giúp chứng thực hoặc bác bỏ, nột cách dứt khoát giả thuyết Bồ và các kết luận tạm thời khác mà chúng ta đã đạt được về nguồn gốc của quốc ngữ. Trên thực tế, Jacques nói, chúng tôi đã cam kết chứng minh rằng chính ng âm tiếng Bồ Đào Nha đã được sử dụng vào thế kỷ 16 hơn bất kỳ ngữ âm nào khác, và đã thành công như một công cụ phân tích ngữ âm tiếng Việt trong bối cảnh tạo ra hệ thống bảng chữ cái mới. Chính các nhà ngữ pháp người Bồ Đào Nha đã cung cấp hầu hết các công cụ khái niệm căn bản outils conceptuels, y như công việc của các tu sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha khác về tiếng Nhật, cũng đã cung cấp phương pháp tương đương. Bỏ qua những sự thật này là đang tự đặt mình vào những thử nghiệm lần mò tâtonnements, sai sót vô ích.

Những nghiên cứu tốt nhất được thực hiện về lịch sử quốc ngữ với phiên âm La Mã, đặc biệt là những nghiên cứu của André-Georges Haudricourt, Kenneth Gregerson hay Hoàng Thị Châu[135], những người mà quốc ngữ mắc nợ rất nhiều, cũng mới chỉ mập mờ cho  thoáng nhìn qua vai trò đặc biệt này do người Bồ Đào Nha thực hiện tại nguồn gốc của quốc ngữ. Đối với các nhà ngôn ngữ học, có một công việc cần được tiếp tục, trong đó sự hợp tác đa phương giữa các chuyên gia ngữ học tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Việt dường như rất khẩn trương, mới đủ để kết luận.

Ngược lại với niềm tin phổ biến, như đã đề cập nhiều lần trong tiểu luận, hellođược các tu sĩ Dòng Tên Bồ Đào Nha lựa chọn để truyền bá Kitô giáo đến người Việt không phải là chữ viết Latinh hoá. Về điểm này, đối với người châu Âu, việc xuất bản sách giáo lý và từ điển đã tạo ra một ảo tưởng. Các nhà truyền giáo tại chỗ đã chọn chữ Nôm, xin xem phần nói về Cố Maiorica với 48 tác phẩm Nôm, tức là chữ Việt cổ được phỏng theo chữ tượng hình Trung Quốc[136]. Nôm có ưu điểm là tương đối quen thuộc với giới thượng lưu, giới trí thức Việt Nam và nhược điểm là hầu như không thể tiếp cận được với người  đại đa số các nhà truyền giáo, cũng như với toàn dân. Nhưng vấn đề dẫn đến quyết định này là để không cắt đứt cộng đồng Kitô giáo mới, khỏi nguồn gốc truyền thống của Việt Nam trong văn hóa Trung Quốc, vốn hoàn toàn trái ngược với các nguyên tắc và phương pháp của Dòng Tên Bồ Đào Nha.

Văn hóa Việt Nam có hai nguồn chính, có mối quan hệ biện chứng với nhau, một mặt là truyền thống dân tộc riêng và nền tảng ngôn ngữ không thuộc nhóm Hán ngữ; mặt khác, văn hóa Trung Quốc, được truyền tải bằng ngôn ngữ dưới dạng chữ viết và thông qua nhiều khoản vay mượn. Ngôn ngữ Nôm chiếm một vị trí đặc biệt trong bối cảnh này, ở bản lề của cả hai. Những ký tự âm tiết này đều có nguồn gốc từ ký tự Trung Quốc và góp phần tạo nên uy tín to lớn cho chúng; Nôm trong quá khứ, diễn đạt những ngôn từ Việt Nam đích thực, gần gũi với cảm xúc đặc biệt, Nôm là một thứ văn chương dân tộc thực sự. Cuối cùng, họ có thể vay trực tiếp và miễn phí từ nền tảng Trung Quốc, do đó có sự thẩm thấu liên tục. Tuy chữ Nôm qua vay mượn không đồng dạng không tiết tấu được tất cả âm tiết dồi dào của tiếng Việt. Xin nhắc lại, ch Nôm va đc va đoán! Quốc ngữ buổi giao thời, chưa bao giờ đạt được vai trò biểu tượng tương tự.

Câu hỏi này khá bối rối sương mù, vì thực tế là một số tác giả phương Tây nhầm lẫn giữa vấn đề ngôn ngữ (nói) và vấn đề chữ viết. Trên thực tế, các tu sĩ Dòng Tên phải lựa chọn giữa hai ngôn ngữ: đối với tiếng Hoa, tức Hán Việt hay Chữ Nhoán H (ngôn ngữ hành chính chính thức, ngôn ngữ giáo dục và của tầng lớp trí thức), họ ưa thích chọn tiếng Việt (ngôn ngữ nói của người dân). Họ cũng tiếp nhận, trong những giới hạn đã đề cập, chữ viết truyền thống (nôm) của ngôn ngữ Việt, đồng thời tạo ra một bảng chữ cái Latinh (quốc ngữ) phỏng theo âm Nôm, cho những mục đích sử dụng cụ thể. Việc đưa các cụm từ tiếng Hán ít nhiều phong phú vào tiếng Việt không gắn liền với chữ viết. Cũng phải khẳng định rằng chính sách ngôn ngữ này là thiện ích chung của toàn thể các nhà truyền giáo nói chung; không có lý do gì để nói rằng Alexandre de  Rhodes có quan điểm cá nhân trong vấn đề lựa chọn này.

Lp hc ch Nho. nh Internet.

Roland Jacques: Dù thế nào đi nữa, chúng tôi không đồng ý với nhận định của nhà sử học Việt Nam Lê Thành Khôi khi ông viết: “Việc phát minh ra chữ quốc ngữ chủ yếu xuất phát từ mục đích tuyên truyền tôn giáo. Trên thực tế,  trở ngại lớn cho việc truyền bá đạo Cơ đốc đến từ nền giáo dục Nho giáo phổ cập. Để tiếp cận được tâm trí của quần chúng, các nhà truyền giáo phải tấn công văn hóa Trung Quốc và các biểu tượng đại diện cho nó. Họ cố gắng cung cấp cho người dân phương tiện để làm việc mà không cần chữ viết thống trị và họ đã đạt được điều này bằng cách tưởng tượng ra hệ thống phiên âm tiếng Việt này bằng bảng chữ cái Latinh, kèm theo các dấu phụ để tạo ra các thanh điệu khác nhau của tiếng Việt. Những người cải đạo sử dụng chữ quốc ngữ không còn đọc tiếng Trung Quốc qua Hán Việt, loại ngôn ngữ mà các tài liệu công cộng và hầu hết văn học vẫn được viết. Ở đây chúng ta thấy được ý nghĩa chính trị của sự kiện đã góp phần làm cho người Công giáo Việt Nam trở thành một nhóm tách biệt khỏi cộng đồng dân tộc trong một thời gian dài[137]. Một nhận định như vậy biểu thị một sự hiểu lầm, thiếu hiểu biết nghiêm trọng, trong số những vấn đề khác, về công việc văn hóa được thực hiện bởi chính các tu sĩ Dòng Tên trong sứ mệnh truyền giáo ở Trung Quốc, theo đường hướng của Matteo Ricci (+ 1610). Nó không bám sát các sự kiện, đặc biệt là tác phẩm văn học Kitô giáo quan trọng bằng chữ Nôm, bắt đầu từ những ngày đầu của sứ mệnh. Về cái chết của Jerônimo Mayorica vào năm 1659, bề trên khi truy tặng ông đã đề cập đến thư viện phong phú gồm 48 cuốn sách mà ông đã sáng tác hoặc dịch sang ngôn ngữ và chữ viết của đất nước[138].

Truyn ông Thánh Inaxu ca C Maiorica, ch Nôm, bn lưu ti Thư vin Quc gia Pháp.

Cố Girolamo Majorica, chữ Nôm: 梅烏理哥, Mai Ô Lý Ca; bắt đầu viết sách rất sớm, ngay từ khi đang còn học tiếng Việt ở Đàng Trong (1625-1628), ngài đã cố gắng bắt đầu soạn những văn bản chữ Nôm, tóm lược các điểm giáo lý cơ bản. Rồi các tác  phẩm đầu tiên ra đời từ trước năm 1634  từ những ngày đầu tới Kẻ Rum, Nghệ An. Những sách cuối cùng ngài viết vào khoảng đầu những năm 1640. So sánh với thời điểm xuất bản Phép Giảng TámNgày (1651) của cha Đắc Lộ, và ngay cả khi giả sử cuốn này đã được viết sau năm 1636 và được hoàn thành vào năm 1645, thì chúng ta thấy rõ một số tác phẩm của cha Girolamo Majorica đã có trước cuốn này, và vì thế, tầm quan trọng và ảnh hưởng của các sách của Cố Maiorica thật quan trọng.

Nguồn Wikipedia: Ngoài Thiên Chúa thánh giáo khi mông 天主聖教啟蒙 (1623), phỏng theo sách giáo lý tiếng Ý của Thánh Bellarmino, Cố Maiorica được cho là tác giả chính biên soạn 45 hoặc 48 tác phẩm chữ Nôm.Từ những trao đổi thư tín đương thời của các tu sĩ Dòng Tên và từ chính bản văn, có thể thấy rõ các tác phẩm này được viết với sự cộng tác của các tín hữu người Việt. Hầu hết trong số đó là những người dạy giáo lý được gọi là thầy giảng, họ là những người có chữ nghĩa và thường có địa vị trong cộng đồng trước khi cải sang Kitô giáo. Các tác phẩm của Maiorica có thể chia thành 4 thể loại cơ bản: sách truyện hạnh thánh, phỏng tác kinh thánh, sách giảng thuyết, và sách giáo lý. Nhìn chung đây đều là văn xuôi, ngoại trừ một số phần là kinh cầu nguyện viết theo các thể văn vần. Cố phiên dịch, phóng tác hoặc sáng tác dựa trên nhiều nguồn khác nhau: các văn thư chính thức của Giáo hội (như Kinh thánh Vulgata, Sách lễ Rôma), công trình của các Giáo Phụ, cuốn Tổng luận Thần học của Thánh Tôma Aquinô, tác phẩm của các tu sĩ Dòng Tên, và các sách cùng với truyền khẩu về hnh thánh.

Linh mục Maiorica thiên về từ vựng đơn giản, dễ hiểu hơn từ vựng Hán-Việt, ngay cả trong trường hợp mà từ vựng sau này phù hợp với các thuật ngữ được sử dụng bởi các đồng nghiệp Dòng Tên của ông ở Trung Quốc. Chẳng hạn, ông gọi Thiên Chúa là Đức Chúa Trời Đất (nghĩa đen là Chúa tể trời đất; 德主𡗶坦) thay vì Thiên Địa Chân Chúa 天地眞主 và gọi Bí tích Thánh Thể là Mình Thánh[139] (命聖) thay vì Thánh Thể 聖體. Ngày nay, Thiên Chúa 天主 và Thánh Thể 聖體 lần lượt là những thuật ngữ được ưa chuộng. Nhiều thuật ngữ Cố đặt ra sau này trở nên phổ biến, chẳng hạn như sự thương khó 事傷𧁷 (đam mê), thích linh hồn 磊靈魂 (sự cứu rỗi linh hồn), tin kính 信敬 (tin tưởng, xuất hiện trong tín điều), khiêm tốn liên 謙讓召累 (khiêm tốn và phục tùng), vĩnh viễn 恒𤯩 (sự sống vĩnh cửu), cả sáng 奇創 (thánh hóa, xuất hiện trong Kinh Lạy Cha). Do đó ta thường thấy nói, quốc ngữ một phần khai triển từ Tiếng Nôm; công trình của Cố Maiorica đã rõ ràng chứng thực điều đó.

Tác giả E. Ostrowski xác định một số sách của Cố Girolamo Maiorica: Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông, Đức Chúa Giê-su (Chi-Thu, Chi-Su), Dọn Mình Trước Chịu Cô-mô-nhong, Thiên Chúa Thánh Giáo Hối Tội Kinh, Qua-da-giê-si-ma Mùa Ăn Chay Cả, Những Điều Ngắm Trong Những Ngày Lễ Trọng Quyển Chi Nhất, Ông Thánh I-na-xu Truyện, … Và một số chủ đề và tựa đề các tác phẩm của cha Girolamo Maiorica nhưng chưa được tìm thấy: Kịch về cuộc đời thánh Alêxù, suy gẫm về tình yêu Đức Kitô, về các tội của lưỡi, về đức khiết tịnh, về tử đạo, Sách Gương Phúc Gương Tội, Kinh Đọc Sớm Tối[140].

Sách Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông rất có thể là cuốn sách đầu tay của cha Girolamo Maiorica, hoàn thành vào khoảng trước năm 1634, được soạn dựa trên tác phẩm của thánh Rôbertô Bellarminô, viết theo lệnh của Giáo Hoàng Clêmentê VIII, vào năm 1597-1598 cho giới bình dân và trẻ em. Ở đây xin tìm hiểu thời Cố Maiorica, rồi đến thời Đắc Lộ, Kinh Ly Cha, có những thể dạng như thế nào. Và đi đến bản 1905. Đây là những dữ kiện lịch sử của chữ Quốc ngữ lúc bình minh.

Để có một ý niệm khá tiêu chuẩn về sinh hoạt của Quốc ngữ, tưởng không có gì chính đáng hơn là tìm hiểu Kinh Ly Cha trong Cơ Đốc giáo, từ thuở khai sinh của kinh ấy. Kinh Lạy Ca trong Lịch sử ngôn ngữ, có từ năm 1632, tiến hoá đến năm 1905, thì văn bản trở thành giống như Kinh hiện nay của Giáo Hội Ky Tô Việt Nam. Khởi từ Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông của Linh mục Girolamo Maiorica, rồi hiện diện qua từ ngữ có trong ba tác phẩm của Cố Đắc Lộ, Phép Ging Tám Ngày, Bn Báo Cáo vn tt v tiếng Annam hay Đông kinh, T đin Annam-Lusitan-Latinh[141] hay thường biết qua cụm từ Việt-Bồ-La.

Dòng Tên dẫ có ước lệ trong việc soạn thảo từ điển dùng La mã tự để chuyển tiếng nói thổ địa Nhật Bản và Trung hoa; điều này cho thấy ảnh hưởng quan trọng của tiếng Bồ-Đào-Nha trong giai đoạn đầu của quá trình truyền đạo ở Đông Á. Hai nhà truyền đạo dòng Tên tiên phong ở xứ Trung là Michele Ruggieri (1543-1607) và Matteo Ricci (1552-1610) đều là người Ý cho ra đời Bồ Hán Từ Điển 葡漢辭典, cuốn tự điển đầu tiên dùngchữ La Tinh một cách có hệ thống để phiên âm chữ Hán. Các tài liệu về Bồ Hán Từ Điển có thể tìm thấy từ Viện Ricci, Đại Học San Francisco – Courtesy of the Ricci Institute, University of San Francisco.

Trong bài Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes – Kinh Lạy Cha (phần 5A), nhà ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông[142], phân tích Kinh với nhiều khả năng nhận xét rất cao. Xin theo Ông dưới đây.

Tiếng Trung gọi Kinh Lạy Cha là Thiên Chúa Kinh 天主經 hay Chúa/Ch Đảo Văn 主禱文, tiếng Việt, Kinh Tại Thiên, Kinh Lạy Cha. Để truyền giáo, dịch là một trong những công việc chuyển ngữ đầu tiên và cần thiết ngay cả trước Kinh Thánh. Kinh tóm tắt hầu như tất cả nội dung của Kinh Thánh, các yếu tố thần học quan trọng như tin/xin/giữ/chịu/làm, cũng như là lời cầu nguyện của chính Chúa Giê Su truyền lại. Dịch từ bản gốc tiếng Latinh, dịch từ Bản Hy Lạp cổ, (Vulgate): Pater noster, qui es in caelis, sanctificetur nomen tuum, adveniat regnum tuum, fiat voluntas tua, sicut in caelo, et in terra. Panem nostrum supersubstantialem da nobis hodie; et dimitte nobis debita nostra, sicut et nos dimittimus debitoribus nostris; et ne inducas nos in tentationem; sed libera nos a Malo.

Bản kinh Latinh có 49 chữ[143] và dùng vài từ nguyên bản Hi Lạp cổ; như supersubstantialem hàng ngày, debita (nợ); debita (debitum) quq quốc ngữ thành nợ (tiền bạc), nhưng phải hiểu thêm, debita có thể chỉ tội lỗi/sai trái dựa vào các ngôn ng c, tỷ dụ như tiếng Aramaic. Tiếng Anh có lúc dùng trespass vi phạm so với debt (n), tiếng Pháp dùng chữ offense (xúc phm).

Kinh Ly Cha theo B Hán T Đin 葡漢辭典:

Từ giữa thế kỷ XVI, Kinh Lạy Cha đã được xuất bản qua 22 ngôn ngữ, theo ghi chép trong cuốn (1555) Mithridates. De differentiis linguarum, Về sự khác biệt của ngôn ngữ, của học giả Thụy Sĩ Conrad Gessner (1516-1565). Học giả người Anh Dan Brown (1713) viết cuốn The Lord’s Prayer in above 100 Languages, Versions and Characters, Kinh Lạy Cha bằng hơn 100 ngôn ngữ, phiên bản và ký tự.

Dictionarium Annnamiticum Lusitanum et Latinum, ope Sacrae.

Trong sách Các nhà truyn giáo B Đào Nha và thi k đu ca Giáo hi công giáo Vit Nam, Roland Jacques có ghi liên quan đến Kinh Ly Cha bn 1632.

Cách viết ciúm ~ chúng dùng tám lần trong kinh cũng giống như cách kí âm trong Bồ Hán Từ Điển 葡漢辭典 (1579) của các Linh mục Michele Ruggieri / Matteo Ricci.

Do đó, ta có thể giải thích được các tương quan bum ~ vâng (liên hệ bồ – việt vào thời Việt Bồ La khá rõ nét trong tiếng Việt – xem thêm chữ bi ~ vy), sám ~ sáng, bum ~ vâng (liên hệ bồ -việt), bàm ~ bng (dùng hai lần), cium ~ chưng (dùng bốn lần), tlom ~ trông, hàm ~ hng/hàng, dum ~ dùng.

Cách viết cia ~ cha cũng từ thời Ruggieri, Ricci đổi ci- thành ch-. Việt Bồ La hoàn toàn dùng ch- thay vì ci-; và vẫn còn dùng dạng bl- như bli ~ tri, và cả hai dạng tlên và trên.

Cách dùng chữ ít khá lạ, theo Việt Bồ La, nghĩa là cũng là (etiam/Latinh).

Bản Kinh Lạy Cha năm 1632 có 70 chữ. Tất nhiên, không thấy de Rhodes đề cập trực tiếp đến nội dung kinh trong các tác phẩm của ông, nhưng lại ghi tất cả các từ liên hệ đến kinh; như cha/chưng/danh/chúng tôi/k/tai/dữ … nhất là các đoạn quan trọng; Vit B La VBL, Phép Ging Tám Ngày PGTN, Bn Báo Cáo BBC:

  • Ở trên trời (mục trên/tlên VBL 809)
  • Cha chúng tôi ở trên trời, Lạy Cha chúng tôi ở trên trời (BBC trang 19)
  • Danh cha cả sáng (danh Đức Chúa Trời cả sáng PGTN trang 319)
  • Hàng ngày dùng đủ (ghi lại hai lần: mục dùng và mục đủ – VBL)
  • Mà tha nợ chúng tôi (mục nợ VBL trang 564)
  • Ít (nghĩa là cũng như – một cách dùng đặc biệt vào thời LM de Rhodes – VBL trang 352)

Từ Danh dùng thay cho Tên vì nét nghĩa rộng hàm ý tiếng tăm, cách sống/đạo đức.

Từ Chưng xuất hiện bốn lần trong Kinh Lạy Cha 1632: VBL giải thích là một phụ từ làm cho câu thêm đầy đủ (particula expletiva/Latinh), cũng như giải thích của Béhaine/Taberd (particula auxiliaris/Latinh ~ phụ từ). Chưng có một dạng chữ Nôm là trưng 徵 hay 烝 蒸 (một trong nhiều nét nghĩa của chưng là cất, hấp/chưng): Bng tôi nào tha ích chưng dân Nguyễn Trãi, ỨcTrai Thi Tập, Tôi bng mt mình lc đến chưng đây Thiên Nam Ngữ Lục … Kí ức tập thể của dân gian qua câu ca dao sau đây cho thấy chưng đã từng được dùng thường:

Tôi đi tìm bạn tôi đây / Bạn thấy tôi khó chưng nay chẳng chào.

Từ điển chữ Nôm hiện đại: 徵chưng [chu, rưng, trâng, trưng]  U+5FB5, bộ xích 彳, phồn thể, hình thanh & hội ý. Từ điển Hồ Lê, vì chưng; chưng din; chưng bày. Hai chữ chưng烝 蒸bộ hoả, dùng trong chưng tht hay bánh chưng.

Ch ít tr. 352 (tambem, etiam) và cuc, nước tr.142 (quốc, reino, regnum) Vit B La

Bản Kinh Lạy Cha 1603 chuẩn hoá theo từ điển VBL có từ quc (cuc/VBL) nghĩa là nước (quốc gia) trong cách dùng quc (cuc) cha tr đến, cả hai chữ nướcquc Hán Việt U+570B 國 đều hiện diện vào thời VBL, nhưng nước dùng nhiều hơn, như trong Phép Giảng Tám Ngày: nước Ngô (trang 12, 111), nước Đại Minh (trang 104, 112,126), nước Judaea (trang 164, 144, 125, 173 …), nước Israel (trang 271), ging tin lành s quc trên tri (trang 182), quc trên tri đã đến gn (trang 177), mà chẳng có khi nào làm việc tiểu gì lành (trang 254), Thiên Trúc quốc (trang 105, 108, 109,110), Nước India (trang 105, tức là nước Thiên Trúc Ấn Độ),

Cố de Rhodes và cộng sự viên có khuynh hướng giữ nguyên dạng tiếng gốc thay vì kí âm gần đúng bằng tiếng Việt (chữ quốc ngữ) như Cố Majorica với nhiều tiếng Việt kí âm hơn. Lại có lúc dùng nước và quốc trong cùng một đoạn văn như nước Thiên Trúc trong PGTN (trang 110); so với các bản Nôm của Majorica trong Thiên Chúa thánh giáo khi mông TCTGKM; phn ming k còn nước Thiên Trúc (trang 109, 112, 114); quc (cuc) cha tr đến (trang 98, 99). – Đôi khi, quốc và nước đều hiện diện trong cùng một đoạn văn (trang 99).

Xin để ý, Từ thời vua Trần Nhân Tông (1208-1358), quốc 國 (quốc gia) đã hiện diện so với nước 渃 (chất lỏng). Tự điển Nôm, chữ quốc (như tổ quốc); 囯,囻,国,國. Trong khi nước (lỏng) viết, 匿, 渃. Nôm viết nước trong đt nước bằng ký tự U+2BB54.

Từ điển Việt Bồ La trang 575-576, chữ nước đã có 2 định nghĩa rõ rệt, nước agoa, aqua như nước lả, nước gà nấu, nước bl(tr)ái nho, vv …, có cả ngã nước hay phải nước fesche mal a agoa, aquailli nocuit. Và nước reyno, regnum như làng nước, trị nước, nước annam, …

Trang 629 và 639 VBL trong tư liệu của chúng tôi, bị bỏ trống nên không tra được chữ quc, dừng ở qui (thằng quội, nói quội), quôn, qun, qun. Nhưng trang 142 cho chữ cuốc, nước, (quốc) reino, regnum.

Cụm từ Quân quc (exercitus/Latinh) là quân lính/quân đội của nước, lại thường gặp trong các văn bản chữ Nôm/Quốc Ngữ thời Cố Đắc Lộ. Tỉ dụ trong Phép Ging Tám ngày trang 21: có đại thần cả và nước và quân quc đều cùng thiên hạ đi cùng; bản Latinh multa militum frequentia, sự hiện diện đông đảo của binh lính. Trong Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông trang 23: làm dấu Câu-Rút trên mình cho thiên hạ được biết ta là quân quc về vua cả trên hết các vua. Quân quốc là cách dùng để Việt hóa quc quân Hán Việt 國軍 ở thế kỷ 17.

Các  cứ liệu VBL/PGTN và TCTGKM chưa thấy dùng tên Kinh LạyCha, nhưng có những cách gọi khác như:

  • Kinh Chúa (per Orationem Dominicam/L – Phép Gỉang Tám Ngày trang 306): mà qu gi nguyn mt kinh Chú Li nguyn mt kinh Ave, xin cùng rt thánh đng thân Maria, là đc M Chúa Tri cu cho chúng tôi.
  • Kinh Đức Chúa Giê Su (est Orationis Dominica/L – PGTN trang 133): Vì vy thì nên trao kinh Đức Chúa Giê Su và kinh đc Chúa Bà Maria, cùng kinh mười hai đy t c, cho hc thuc lò
  • Kinh Tại Thiên dùng 7 lần trong Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông: Khi y dy tôi Kinh Ti Thiên, A-Ve cùng Kinh Tin Đức Yếu Đoan, trang 18.

Trong cuốn Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông / TCTGKM, Cố Majorica dành một số trang để giải thích căn kẽ từng câu và chữ quan trọng trong Kinh Lạy Cha, từ trang 96 đến trang 107. Từ các từ vựng này, kinh này có thể được phục hồi sau khi dịch từ chữ Nôm ra chữ quốc ngữ hiện đại. (Nguyễn Cung Thông). Các chữ in đậm là trích từ TCTGKM, các chữ khác là thêm vào cho rõ nghĩa dựa vào bản 1632. Dưới đây là Kinh Cố Maiorica.

Cha chúng tôi trên tri, chúng tôi nguyn danh Cha c sáng. Quc cha tr đến, ý Cha vâng dưới đt bng chưng tri vy. Chúng tôi trông Cha rày cho hàng ngày dùng đ, mà tha n chúng tôi bng chúng tôi cùng tha n (k có n chúng tôi vy). Li ch đ chúng tôi sa chưng cám d, bèn cha chưng s d. A-men.

Trong văn bản Nôm, Linh Mục Majorica thường viết Kinh Ti Thiên 經在天, có thể do ảnh

hưởng tài liệu của các giáo sĩ dòng Tên tiên phong như Matteo Ricci (1552-1610); chẳng hạn. Cha Ricci dịch ra như sau: 在天我等父者 Ti thiên ngã đẳng ph giả / 我等願爾名見聖 Ngã đẳng nguyn nhĩ danh kiến thánh… Thành ra, khi đọc kinh này, ta thường nhớ mấy chữ đầu, và kết quả là có tên Kinh Tại Thiên (ở trên trời). Hai câu trên theo tiếng Trung Hoa thời nay là 我們的天父 Ngã môn đích thiên ph / 願祢的名受顯揚 Nguyn n đích danh th hin dương…

Bản Kinh Lạy Cha bằng chữ Hán (1713) trích từ cuốn The Lord’s Prayer in above 100 Languages, Versions and Characters của Dan Brown, theo Nguyễn Cung Thông, có thể dùng để dựng KLC vào khoảng những năm 1700-1750 (có tất cả 79 chữ):

Chúng tôi ly thiên đa chân chúa trên bli là cha chúng tôi. Chúng tôi nguyn danh [cha] c sáng. Cuc cha tr đến. Vâng ý Cha [làm] dưới đt bng trên bli vy. Chúng tôi xin cha rày [cho] chúng tôi hng ngày dùng đ. Mà tha n chúng tôi bng chúng tôi cũ tha k có n chúng tôi vy. Xin ch đ chúng tôi sa chưng cám d. Bèn cha chúng tôi chưng s d.

Để ý cách dùng tên Chúa Kinh主經 Kinh Chúa/Chủ như trong PGTN, và câu 在天我等父者 tại thiên ngã đẳng phụ giả (chép lại rất đơn giản/thiếu nét).

Tiếp theo, xin kể lịch trình tiến hoá của Kinh Lạy Cha 1632 cho đến 1905, và cuối cùng là Kinh hiện đại dùng ở Việt Nam (2017)

  • Kinh Lạy Cha vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, Nguyễn Cung Thông chép lại theo nguyên bản chữ La Tinh – Nôm – quốc ngữ trong Sách Các Phép 1736 – Giám mục Bishop Hilario a Jesu Costa, O.A.D). Cha chúng tôi là k trên tri (mli) xin cho tên (tin) người nên thánh nước người cai tr đến (ðến) vưng ý (êý) dưới đt bng trên tri (mli) vy hãy ban cho chúng tôi hôm nay ca ăn chúng tôi quen dùng mi ngày cùng (cũ) tha cho chúng tôi nhn n (nh/na/na) chúng tôi bng chúng tôi cũng tha k có n (na) chúng tôi vy xin (cũ) ch đ chúng tôi sa chưng cám d (de) bèn cha chúng tôi khi s d.

 

  • Kinh Lạy Cha trích từ tác phẩm (1787) Saggio practicco delle Lingue con prolegomeni e una raccolta di orazioni dominicali in più di trecento lingue e dialetti Giới thiệu kinh Lạy Cha qua hơn 300 các ngôn ngữ và phương ngữ trên thế giới (NCT) trang 134.Tác giả là Linh Mục dòng Tên Lorenzo Hervás y Panduro (1735-1809), một nhà ngôn ngữ nổi tiếng với nhiều tác phẩm có giá trị.
  • Kinh Lạy Cha trích từ cuốn Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ”/TGYLQN của Cố Pigneau de Béhaine (Bá-Đa-Lộc), xuất bản năm 1774 (Quảng Đông) và tái bản (Đàng Trong, 1837): Ly Cha chúng tôi trên tri, chúng tôi nguyn danh Cha c sá Nước Cha tr đến, vâng ý Cha làm dưới đt bng trên tri vy chúng tôi xin rày hng ngày dùng đ, và tha n chúng tôi như chúng tôi cũng tha k có n chúng tôi, li ch đ chúng tôi phi sa cám d, bèn cha chúng tôi cho khi s d. A-men.
  • Kinh Lạy Cha năm 1855, bản chữ Nôm trong Notice sur le langue annamique, tác giả Léon de Rosny (1855), Nguyễn Cung Thông chuyển qua chữ quốc ngữ hiện đạ Chữ hay dấu hiệu o chỉ cách ngắt câu vào thời bấy giờ. Để ý là có tất cả 49 chữ. Năm xuất bản KLC này (1855) là thời kỳ bang giao giữa Pháp và Đại Nam rất căng thẳng. Ly cha chúng tôi trên tri o danh cha c sáng o ý cha làm dưới đt bng tri vy o xin hàng ngày dùng đ o cùng tha n chúng tôi như chúng tôi tha k có n chúng tôi ch đ sa cám d bèn cu cho khi s d o. Nguyên cả câu Quc Cha tr đến, cắt bỏ trong kinh này.
  • Kinh Lạy Cha năm 1870 trích từ cuốn The Lord’s Prayer in 250 Languages and 180 Forms of Writing Chủ biên Pietro Marietti, Wendell Jordan S. Krieg – NXB Brain Books (1870). Có tất cả 77 chữ.
  • Kinh Lạy Cha năm 1891 (có tất cả 63 chữ) trong cuốn The Lord’s Prayer in Five Hundred Languages (KLC dịch ra 500 ngôn ngữ/NCT) của nhà Đông phương học Reinhold Rost (1822-1896).
  • Và, Kinh Lạy Cha tiếng Việt hiện đại (2017) có tất cả 71 chữ hay 72 chữ. Ly Cha chúng con trên tri, chúng con nguyn danh Cha c sáng, nước Cha tr đến, ý Cha th hin dưới đt cũng như trên tr Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thc hng ngày, và tha n chúng con như chúng con cũng tha k có n chúng con. Xin ch đ chúng con sa chước cám d, nhưng cu chúng con cho khi (mi) s d.

Nguyễn Cung Thông viết: Kinh Lạy Cha là cánh cửa sổ hé mở cho ta xem lại quá trình hình thành của chữ quốc ngữ, từ cách viết thời sơ khai cho đến bây giờ, cũng như cách dùng (phạm trù nghĩa) của tiếng Việt theo trục thời gian và không gian (tiếng địa phương). Trước đây ba thế kỷ, không ai hiểu Kinh Lạy Cha là kinh gì, cũng như không ai dùng phụ từ chưng trong tiếng Việt hiện đại. Tuy vỏn vẹn chỉ có vài chục chữ, mà một số lại là lặp lại (như cách dùng chúng tôi, chưng), nhưng KLC không thiếu chiều sâu lịch sử cũng như tư tưởng.

Đây không phải để phát biểu chỉ có Kinh Lạy Cha trong Kinh thư Gia Tô, làm gốc mối và tiêu biểu cho phát triển quốc ngữ. Bản Kinh Kính Mng bằng chữ Nôm có từ tiền bán thế kỷ  17. Linh Mục Majorica đã dịch ra chữ Nôm bản kinh trong Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông và giải thích rất chi tiết từ trang 109 đến trang 116. Từ Nôm tự, Nguyễn Cung Thông, tạm phục nguyên Kinh A Ve thời Majorica như sau: A Ve Ma Ri A, đy ga ra sa, Chúa Dêu cùng Bà, n trung Bà có phúc l, Bà thai t Giê Su , Người là M Đức Chúa Tri, thì  xin cu cho chúng tôi vì là k có ti , li xin phù h khi còn sng và khi rình qua đi. 

Nhận xét về các bản Nôm Maiorica và chữ quốc ngữ de Rhodes: Kinh Kính Mừng có tên là kinh Ave (so với cách gọi Kinh Lạy Cha là kinh Thiên Chúa / kinh Tại Thiên vào cùng thời kì. Ghi âm các tiếng La Tinh trực tiếp như Ave, Maria, gratia, Giê Su (~ Da Tô), Deo (hay Dêu ~ Chúa trời), A Men – không có dịch ra ngôn ngữ bản địa như bây giờ.

Trong Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ (thư viện tòa thánh La Mã), có hình chụp bản Nôm Kinh Ave, gồm 56 chữ. Nguyễn Cung Thông dịch: Kinh o A Ve Ma Ri A o đy ga ra sa o đc Chúa Tri cùng bà o có phúc l hơn mi n o và Giê Su con lòng bà gm phúc l o Sang Ta Ma Ri A o đc M Chúa Tri o khi nay cu cho chúng tôi o là k có ti o đến khi chết li cu gi o A Miên (Men)”. Đầy ga ra sa (gratia), đầy ân phúc. Sang Ta, không có chữ Nôm tương đương.

nh Hai Bn ch Nôm Kinh Kính Mng thư vin Toà thánh La mã và Bn Nôm ca Cha Philiphê Bnh

Cho đến giữa thế kỷ XX, dưới chế độ thực dân Pháp, các nhà xuất bản Công giáo ở Việt Nam cũng đã cung cấp cho người theo đạo Thiên chúa nhiều sách bằng chữ Nôm và chữ Hán Việt.

Tại sao Francisco de Pina và những người kế nhiệm ông lại dành nhiều công sức và bí quyết như vậy để tạo ra và sau đó phát triển chữ viết La Mã, quốc ngữ nổi tiếng? Thực tế là nó được thiết kế trước hết cho, và nhằm mục đích sử dụng của các nhà truyền giáo. Nó cung cấp cho họ một giao diện rất thuận tiện với ngôn ngữ nói. Ngoài ra, nó còn cung cấp cho họ một phương tiện trao đổi trí tuệ và giao tiếp bằng văn bản với các nhà lãnh đạo chính của cộng đồng Thiên chúa giáo người Việt, những người được yêu cầu học chữ viết mới vì mục đích này. Tình trạng đó, đặc trưng bởi sự phổ biến rất hạn chế của chữ quốc ngữ khi mới bắt đầu, sẽ phát triển chậm từ giữa thế kỷ 17. Chỉ khi đó việc viết theo thứ tự bảng chữ cái mới bắt đầu trở nên phổ biến hơn trong cộng đồng Cơ đốc giáo; điều này sẽ vì lý do an ninh khi đối mặt với chế độ thẩm tra, và có lẽ cũng vì tính dễ sử dụng của nó.

Xin đọc André Marillier, Cha chúng ta trong đức tin. Ghi chú về giáo sĩ Công giáo Bắc Kỳ từ 1666 đến 1765, tập. 3, [Paris], Các Giáo Hội Châu Á, [1995], tr. 170-172, Nos pères dans la foi. Notes sur le clergé catholique du Tonkin de 1666 à 1765. Tác giả đã ghi chú một cách có hệ thống trong kho lưu trữ của Hội Truyền Giáo Paris những ám chỉ liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ và hai chữ viết Nôm và Quốc ngữ; những kết luận ông rút ra hoàn toàn phù hợp với những gì được trình bày ở đây. Điều này đòi hỏi phải sửa lại những quan niệm thành kiến đã có trước ; xin đưa ra một ví dụ, một quan điểm rất ôn hòa, của Jean Comby: Alexandre de  Rhodes không phải là người phát minh ra quốc ngữ, nhưng ông đã góp phần vào việc khái quát hóa nó  (Alexandre de Rhodes n’est pas l’inventeur du quc ng, mais il a contribué à sa généralisation, Deux mille ans d’évangélisation, Tournai, Desclée, 1992, p. 165-166).

Nói về sự khái quát hóa Quốc ngữ ở thế kỷ 17 là hoàn toàn lỗi thời, vì quốc ngữ chưa phôi thai hoàn toàn. Điều tương tự cũng xảy ra với khẳng định của Henri Bernard-Maître: Alexandre de Rhodes phải được coi là người truyn bá chính cho phát minh xuất sắc này, Alexandre de Rhodes doit être considéré comme le principal propagateur de cette géniale invention (Le P. de Rhodes et les Missions d’Indochine 1615-1645 », in Simon Delacroix (dir.), Histoire universelle des Missions catholiques, t. II, Paris, Grund, [1957], p. 53-69 : p. 57.

Quả thực, các tác phẩm in của Rhodes rất ít được truyền bá khi ấy! Chỉ được xử dụng vào những năm 1651 trong phạm vi và môi trường truyền giáo Propaganda Fides.

Trong bài báo Khảo về chữ Quốc Ngữ đăng trên tạp chí Nam phong số 122, năm 1927, học giả Phạm Quỳnh đã cho rằng: chữ Quc Ng là do các c Tây sang ging đo bên Vit Nam đt ra vào đu thế k XVII; các c đó, người B Đào Nha có, người Ý Đại Li có, người Pháp Lan Tây có, chc cùng nhau nghĩ đt, châm chước, sa sang trong lâu năm, ch không phi mt người nào làm ra mt mình vy.

La ngữ âm hóa Tiếng Việt đáng ghi nhớ là những Francisco de Pina, Cristoforo Borri, Gaspar do Amaral, António de Barbosa, Girolarmo Majorica và Onofre Borgès, mà trong số đó người đầu tiên đáng được ghi nhớ nhất, và lẽ tất nhiên, là Francisco de Pina đáng phải được tôn vinh như là người khai sinh ra chữ Quốc Ngữ.

Và hôm nay để suy gẫm: Francisco de Pina là cha đ của quốc ngữ và Alexandre de Rhodes là B  đ đu[144], Godfather!


 

La Farigoule tháng 9 năm 2024

Bất Tiếu Nguyễn Quốc Bảo

Ngoài những sách đã dẫn ở đầu bài, dưới đây là các tài liệu tham khảo khác.

Léonard Aurousseau “Sur le nom de Cochinchine” –  Bulletin de l’École française d’Extrême-Orient, Année 1924, Tome XXIV, pp. 563-579.

Nguyễn Đình Đầu: “Chữ Nôm và vai trò của nó trong văn học Việt Nam”: Tác phẩm này phân tích sự phát triển của chữ Nôm và những khó khăn mà nó gặp phải trong việc phổ biến.

Trần Duy Nhiên: Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các giáo sĩ Dòng Tên tại Việt Nam: Tác phẩm này đưa ra cái nhìn tổng quan về hoạt động truyền giáo của Dòng Tên và ảnh hưởng của họ đến văn hóa Việt Nam.

Bùi Kha: Phê bình các tác phẩm về lịch sử truyền giáo / “Lịch sử truyền giáo và các giáo sĩ tại Việt Nam”

Antôn Bùi Kim Phong: “Một số suy nghĩ về sự hiện diện của Công giáo ở Việt Nam”

Trần Đức Anh Sơn:  “Cochinchina với ý nghĩa là Nam Kỳ (giai đoạn 1862 – 1883) trên một bản đồ vẽ 3 kỳ của Việt Nam thời Pháp thuộc”

Nguyễn Duy Chính:”A Voyage to Madagascar and the East Indies” – Tác phẩm dịch từ Alexis Rochon, có phần chú thích về tên gọi Cochinchina trong bối cảnh lịch sử Việt Nam.

Tomé Pires:Suma Oriental” – Tác phẩm ghi chép về các chuyến thám hiểm, trong đó có đề cập đến tên gọi Cauchy Chyna để chỉ nước Đại Việt.

Peter C. Phan:”Mission and Catechesis: Alexandre de Rhodes & Inculturation in Seventeenth-Century Vietnam” – Tác phẩm phân tích vai trò của Alexandre de Rhodes trong bối cảnh truyền giáo tại Việt Nam.

  1. Ferrand: “Le K’ouen-louen et les anciennes navigations interocéaniques dans les mers du sud”

Fernão Mendes Pinto: “Peregrinação”: Tác phẩm ghi chép về các cuộc phiêu lưu của tác giả, trong đó có những trải nghiệm dọc theo bờ biển Bán đảo Đông Dương vào năm 1540. Ông đã mô tả các mối quan hệ thương mại và văn hóa giữa người Bồ Đào Nha và các vùng đất châu Á.

Alphons Mulders: “Les Missions Jésuites au Vietnam”

Manuel Teixeira: “Os Portugueses na Ásia”: Tác phẩm đề cập đến sự hiện diện của người Bồ Đào Nha ở châu Á, trong đó có cả Việt Nam và mối liên hệ thương mại.

Cố Thảo Poncet: “Bulletin des Amis du Vieux Hué” (1941): Cố Poncet đã viết về những người An Nam đầu tiên theo đạo Công giáo, và ông đề cập đến các sự kiện lịch sử liên quan đến các nhà truyền giáo ở Việt Nam, cùng với những thông tin trong gia phả họ Đỗ.

Sách chữ Nôm của Cố Maiôrica

Ngày nay, chỉ còn lại 15 tác phẩm chữ Nôm trong số 48 của Cố Maiorica, tổng cộng 4,200 trang và 1,2 triệu chữ Nôm. Phần lớn được lưu trữ tại Thư viện quốc gia Pháp ở Paris. Hầu hết các tác phẩm của Ngài đều có tựa đề bằng chữ Hán, mặc dù nội dung được viết bằng chữ Nôm. Một số văn bản được cho là của Cố  được xác định bằng cụm từ Nôm xuất hiện ở phần đầu, Giê-su hội sĩ Giê-rô-ni-mô Mai-ô-ri-ca thuật 技秋㑹士支由尼謨梅烏移(X)哥述.Trên đây thiếu chữ ca (X) Nôm nguyên bản, tôi không có Unicode để gõ. Tôi thế bằng Nôm tự U+54E5哥 ca như trong đại ca. Nếu viết theo dạng Hán ngữ, thì bính âm sẽ đọc, Jì qiū huì shì zhī yóu ní mó méi wū yí (X) gē shù.

Dưới đây danh sách một số tác phẩm chữ Nôm của Cố Maiorca. Ngoài ra, Linh mục Philipphê Bỉnh SJ. còn nêu ra trong một bài viết, Giáo sĩ Thừa sai Maiorica cũng tham gia vào nỗ lực dịch các lời cầu nguyện trong Thánh lễ sang tiếng Việt (Nôm).Xin lưu ý, đọc các sách tiếng Vit chữ Nôm này, cũng như đọc văn bản Nôm của Kim Vân Kiều truyện.

  • Đức Chúa Giê-su 德主支秋 [The Virtuous Lord Jesus] – dựa trên Phúc âm, based on the Gospels.
  • Dọn mình trước chịu Cô-mô-nhong 扽命略召姑模戎 [Preparing Oneself Before Receiving Communion]
  • Thiên Chúa thánh giáo hối tội kinh 天主聖教悔罪經 [The Classic of Repentance (theo Thánh Giáo lý của Chúa trên trời, according to the Holy Teaching of the Heavenly Lord)].
  • Thiên Chúa thánh giáo khải mông 天主聖教啟蒙 [Enlightenment in the Holy Teaching of the Heavenly Lord] (1623) – dựa trên Sách Giáo lý tiếng Ý của Robert Bellarmine, based on the Italian-language catechism by Robert Bellarmine.
  • Kinh những lễ mùa Phục sinh 經仍禮務復生 [The Classic of Masses of the Easter Season]
  • Qua-da-giê-si-ma, Mùa ăn chay cả 戈椰支差嗎務咹齋奇 [Quadragesima, The Great Season of Fasting]
  • Những điều ngắm trong các ngày lễ trọng 仍調吟𥪝各𣈜禮重 [Things to Ponder on the Solemnities]
  • Thiên Chúa thánh mẫu 天主聖母 [The Holy Mother of the Heavenly Lord]
  • Các Thánh truyện 各聖傳 [Stories of the Saints] (1646)
  • Ông Thánh I-na-xu truyện 翁聖⾐那樞傳 [The Story of St. Ignatius] (1634)
  • Ông Thánh Phan-chi-cô Xa-vi-e truyện 翁聖幡支姑車為𠲖傳 [The Story of Saint Francis Xavier]
  • Truyện Bà Thánh I-sa-ve 傳妑聖衣沙蟡 [The Story of Saint Elizabeth]
  • Sách gương phúc gương tội 冊𦎛福𦎛罪 [Book of Models of Happiness and of Sins] (thất lạc)
  • Kinh đọc sớm tối 經讀𣌋最 [Matins and Vigil Prayers] (thất lạc)

[1] https://gpquinhon.org/q/

[2] Đỗ Hoàng Anh –  https://archives.org.vn

[3] Hoa Bằng & Tiên Đàm, “Ông Alexandre de Rhodes (1591-1660)”, trong Tri Tân Tạp Chí, số 2-10, Juin, 1941. Các Ảnh trên đây của Internet.

[4] Các bài diễn thuyết được in lại trong Trung hòa nhật báo, Số 2547, 7 Tháng Sáu 1941, và được trang https://gpquinhon.org/q/ đưa lên trong mục Ôn cố tri tân.

[5] Tổng Giám Mục Giáo phận Huế Giuse Nguyễn Chí Linh quê quán giáo xứ Ba Làng, thuộc xã Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia (nay là phường Hải Thanh, thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa. Tôi hân hạnh mấy lần được cùng đi ăn phở với ngài ở Little Saigon. Ngày trước, ở đây có Tiểu Chủng Viện Petit séminaire.

[6] Bản chữ Nho không có chữ Đức, có thể dịch từ Pháp ngữ Monseigneur, mà dùng chữ Thị – 氏, A Lịch Sơn Đắc Lộ Thị – 亞厤山得路氏. Thị 氏 nghĩa là Họ, nên nghĩa trong bia là Tiểu sử A Lịch San Đắc Lộ. Phiên bản chữ Nho cho thấy ảnh hưởng của Hán Việt còn mạnh vào năm 1941.

[7] Bernard de Feyssal đã tóm tắt quá trình lập quỹ xây dựng đài kỷ niệm, bắt đầu từ khoảng năm 1923-1924 với thiếu hay trung tá Bonifacy, một người yêu mến sử Việt, và ông Henri Cucherousset, chủ nhiệm báo Éveil Économique de l’Indochine

[8] SỐ PHẬN TẤM BIA CỦA CHA ALEXANDRE DE RHODES – Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính

[9] Đặng Thái Mai là Bố vợ Võ Nguyên Giáp.

[10] Năm Nhâm Tuất 1862 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm 3 tỉnh Gia Định, Định Tường và Biên Hòa.  Năm Đinh Mão 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.   Hòa Ước năm Giáp Tuất 1874 công nhận chủ quyền của Pháp trên toàn thể lãnh thổ Nam Kỳ.  Nam Kỳ chính thức trở thành thuộc địa (colonie) của Pháp. Hai hòa ước năm Quí Mùi 1883 và năm Giáp Thân 1884 (thường được gọi là Hòa Ước Patenôtre) công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.  Bắc Kỳ và Trung Kỳ trở thành đất bảo hộ (protectorat) của Pháp

[11] Sau khi Trương Vĩnh Ký trở về nước vào năm 1865, Chuẩn đô đốc Roze, khi ấy đang tạm quyền Thống đốc Nam Kỳ, đã mời ông ra làm quan. Petrus Ký từ chối và xin lập một tờ báo chữ Quốc ngữ mang tên là Gia Định báo. Lời yêu cầu được chấp thuận và Nghị định cho phép xuất bản được ký ngày 1 tháng 4 năm 1865, nhưng không phải ký cho ông mà lại ký cho một người Pháp tên là Ernest Potteaux, một viên thông ngôn làm việc tại Soái phủ Nam Kỳ. Và phải đến ngày 16 tháng 9 năm 1869 mới có Nghị định của Chuẩn Đô đốc Ohier ký giao Gia Định báo cho Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài (tiếng Pháp: rédacteur en chef), nay gọi là giám đốc hay chủ nhiệm; Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút. Đến năm 1897, Gia Định báo chấm dứt hoạt động.

[12] Facebook, DVD eBook Gia Định Báo – Tờ Báo Đầu Tiên Bằng Chữ Quốc Ngữ – Wikipedia.

[13] Vua Khải Định ra chiếu bỏ chữ Hán, dùng quốc ngữ ngày 28/12/1918.

[14] Thân phụ tôi có học trường Hậu Bổ, cùng hai cụ Ngô Đình Diệm và Trần Văn Lý là đồng môn.

[15] https://thanhhaphung.wordpress.com/2011/09/12/he-thong-giao-duc-thoi-phap-thuoc/

[16] Chữ Nôm – Wikipedia tiếng Việt.

[17] HN NKX Công trình nghiên cứu tiếng Việt của người Thuy sĩ ở Kẻ Chợ Đàng Ngoài Onufre Borges 1614-1664 : góp ý với Roland Jacques về công trình nghiên cứu tiếng Việt của mấy người Bồ tiền phong cho đến 1650. L’œuvre de recherches sur la langue vietnamienne d’un Suisse, Onufre Borges (1614-1664), réalisée à la capitale du Tonkin. Une opinion sur la position de Roland Jacques, au sujet de l’œuvre de recherches sur la langue vietnamienne des pionniers portugais jusqu’en 1650, Paris, tác giả xuất bản [Fountain Valley, Ca. (États-Unis), Thánh Linh, 1996. Tác phẩm dày 221 trang này dịch sang tiếng Việt các văn bản viết tay Roland Jacques đã xuất bản và bao gồm hầu hết các chú thích. Tác phẩm của một số nhà tiên phong Bồ Đào Nha, được trích dẫn ở trên; Tài liệu này mất đi nhiều sự quan tâm vì giọng điệu mang tính bút chiến được tác giả sử dụng để bảo vệ luận điểm truyền thống cho rằng chỉ có Rhodes mới có quyền tác giả chính trong việc La-tinh hóa tiếng Việt.

[18] Sau này, NKX đã sửa sai, dùng chiến sĩ thay cho lính chiến.

[19] Sau này, NKX đã sửa sai, dùng chiến sĩ thay cho lính chiến.

[20] rfa Đài Á châu tự do: Nguyễn Đắc Xuân, thừa nhận đã tham gia chiến dịch Huế Xuân 68 từ đầu đến cuối trong bài viết Đến bao giờ mới minh oan cho những người đã chết vì sự sai lầm trong chiến tranh Mậu Thân 1968 đăng trên facebook của mình và trên trang web http://sachhiem.net.

[21] https://www.giaodiemonline.com/2009/09/images/cgcs-3.htm

[22] Hagiography (từ tiếng Hy Lạp cổ ἅγιος / hágios, thánh, và γράφω / gráphô, “viết”) là cách viết về cuộc đời và/hoặc tác phẩm của các vị thánh. Wikipedia.

[23] Hành trình từ chữ Nho, chữ Nôm đến chữ Quốc ngữ. Tác giả: Nguyễn Hải Hoành

[24] Một âm đơn giản nôi, cần đến 8 chữ Nôm, 挼 nôi • 枘 nôi • 浽 nôi • 𣊌 nôi • 𥱮 nôi • 𥷓 nôi • 𪰤 nôi • 𪸯 nôi, … Âm ni có 9 kiểu viết chữ Nôm. Theo tài liệu, vào giữa thế kỷ 17 đã có khoảng 80.000 chữ Nôm (Bảng tra chữ Nôm năm 1976) cho biết có 8.187 chữ. Từ điển Chữ Nôm dẫn giải của Nguyễn Quang Hồng (2015) có 9.450 chữ Nôm, gồm gần 3.000 chữ tự tạo, ghi 14.519 âm tiết tiếng Việt.

[25] Nguồn Wikipedia.

[26] Ngày 13 tháng 12 năm 1545, Hội đồng Trent và phản cải cách. Năm 1542, Giáo hoàng Paul III Farnese đã triệu tập một công đồng đại kết ở Trent, trên dãy núi Alpes, mục tiêu là phục hồi Giáo hội Công giáo, vốn sẽ bị biến đổi sâu sắc. Phong trào này lấy tên là Phản Cải Cách, hay Cải Cách Công Giáo, Contre-Réforme, ou Réforme, để phản đối cuộc Cải Cách Tin Lành của Luther, Calvin, Zwingli.

[27] Ignatius de Loyola (Ignazio Loiolakoa tiếng Basque, Íñigo López de Loyola tiếng Tây Ban Nha), là một linh mục và nhà thần học người Basque-Tây Ban Nha, sinh năm 1491, tại Loiola và qua đời ngày 31 tháng 7 năm 1556 tại Rome. Xứ Basque có hai địa dư, Tây Ban Nha và Pháp.

[28] Alain Guillemin, « Alexandre de Rhodes a-t-il inventé le quốc ngữ ? », http://moussons.revues.org/2921.

[29] Guillemin: Tổ tiên của Đắc Lộ là người Marranes, người Do Thái Tây Ban Nha đã cải đạo sang Ky Tô giáo nhưng vẫn tiếp tục thực hành tôn giáo của họ một cách bí mật. Họ đã trốn khỏi Tòa án dị giáo (dico) vào thế kỷ 15 để ẩn náu ở Avignon, lúc đó thuộc quyền cai trị của Giáo hoàng, không giống như nhiều vị vua châu Âu, người rất nhân từ độ lượng đối với người Do Thái.

Guillemin chép: hầu hết các nhà khảo cứu Việt Nam dường như bỏ qua tiểu sử chi tiết nhất về Alexandre de Rhodes của Daniel Bordreuil, một mục sư Tin Lành và một học giả về Việt Nam. Có lẽ vì luận văn thạc sĩ thần học của ông chỉ là nghiên cứu tiểu sử sơ đồ, étude biographique schématique sur le R. P Alexandre de Rhodes, s. j, (1591-1660) Tông đồ của Đế quốc An Nam thế kỷ 17 (với ba bản đồ), Khoa Thần học Tin lành Aix-en-Provence, 1954; đã không được xuất bản thành tác phẩm..

[30] Phản hồi bài viết GS Phạm văn Hường: Đi tìm nguồn gốc chữ Quốc ngữ. http://ttntt.free.fr/archive/duynhienTran.html

[31] Barnouin – La parenté vauclusienne d’Alexandre de Rhodes (1593-1660), trong Mémoires de l’Académie de Vaucluse (Avignon), Số 8, tháng 4, 1995: Về giả thuyết cho Cố có nguồn gốc Do Thái , theo Cha Michel Barnouin, tu hội Xuân Bích thì không chắc chắn.

[32] Alain Guillemin Alexandre de Rhodes a-t-il inventé le quốc ngữ ? Sáu bức chân dung của Cha de Rhodes đã được bảo tồn, một ở Dòng Tên Florennes, ở Bỉ; một ở Chủng viện MEP; một bản sao ở Marseille, ở một địa điểm không xác định, một ở Bảo tàng Calvet ở Avignon; một bản sao tại Bảo tàng Khải Định ở Huế. Những bức chân dung này cho thấy một số khác biệt. Mặt khác, tất cả có một điểm chung theo Cha Cadière, người “[…] tin rằng chúng ta không có những nét thực sự của Cha de Rhodes […] nhưng một hình ảnh để đi qua khắp nơi, image passe partout, hiển thị mà không cần quan tâm đến tính chính xác của cá nhân, ý tưởng nói chung về nhà truyền giáo Thiên chúa giáo ở Viễn Đông, như Rhodes được hình thành vào thế kỷ 17 (Cadière 1938: 45).

[33] Đến ngày 16/9/1995, UBND TPHCM ra quyết định đổi tên đường Thái Văn Lung thành tên đường Alexandre De Rhodes như trước đây. Tương tự, lý giải tên đường Trương Vĩnh Ký, theo Sở VH&TT, hiện nay đường Trương Vĩnh Ký nằm trên địa bàn phường Tân Thành, quận Tân Phú, từ đường Lũy Bán Bích đến đường Tân Sơn Nhì. Đường dài khoảng 946 m, lộ giới 21 m, đi qua ngã tư Nguyễn Thái Học, ngã ba Vạn Hạnh, các ngã tư Nguyễn Bá Tòng, Nguyễn Hậu, ngã ba Ngô Quyền, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Xuân Khoát, Hòa Bình. Đường có từ năm 1967 khi thành lập khu dân cư Tân Phú và mang tên Trương Vĩnh Ký. Tin Báo Sài Gòn.

[34] Le Portugal et la romanisation de la langue vietnamienne – Faut-il réécrire l’histoire? par Roland Jacques.

[35] Roland Jacques. Đối với cách diễn đạt thông thường romanisation de la langue vietnamienne La-tinh hóa tiếng Việt, không ổn và gây bối rối. Thuật ngữ Latinh hóa có thể gợi ý một sự biến đổi ngôn ngữ của người La Mã Romains (người châu Âu) theo quan điểm riêng của họ, với những gợi ý về chủ nghĩa thực dân. Trên thực tế, nó là sự thể hiện các âm vị của tiếng Việt nói bằng hệ thống bắt nguồn từ bảng chữ cái Latinh, thay vì sử dụng các ký hiệu âm tiết bắt nguồn từ hệ thống tiếng Trung. Tuy nhiên, thuật ngữ này khó tránh, đã trở thành thông dụng.

[36] Tài liệu Wikipedia.

[37] Xin xem phần dưới nguồn gốc thuật ngữ Cochinchina.

[38] NÓI THÊM VỀ TÊN GỌI COCHINCHINE/COCHINCHINA. Đăng 05/03/2016 bởi Trần Đức Anh Sơn

[39] Léonard Eugène Aurousseau, sinh ngày 12 tháng 7 năm 1888 tại Cannes và mất ngày 24 tháng 1 năm 1929 tại Yerres, là một nhà Đông phương học, nhà Hán học, giáo viên, nhà sử học và nhà khảo cổ học người Pháp. Ông là thành viên của Trường Viễn Đông Pháp (EFEO) từ năm 1911 đến năm 1926 và sau đó là giám đốc của trường này từ năm 1926 đến năm 19291. Léonard Aurousseau tốt nghiệp Trường Ngôn ngữ Phương Đông, bằng tiếng Trung Quốc, và trường École Pratique des Hautes Études (EPHE). Ông đến Đông Dương lần đầu tiên vào năm 1909, với tư cách là một người lính thuộc trung đoàn bộ binh của thuộc địa thứ 10, ông được phép làm việc cùng lúc tại EFEO. Mùa hè năm 1913, Léonard Aurousseau được Toàn quyền Albert Sarrault triệu về tạm thời đảm nhận vai trò gia sư cho Hoàng đế Duy Tân (1899-1945), trị vì từ năm 1907 đến 1916. Do đó, ông đã nắm lấy cơ hội ở lại Huế, thủ đô của An Nam vào thời điểm này, để đào sâu kiến ​​thức và nâng cao công việc nghiên cứu về lịch sử Việt Nam.

[40] 1515, Janeiro 8. — Malaca. Carto do capitâo de Malaca, Jorge de Albuquerque, para el-rei D- Manuel, sobre os seus actos no desempenho desse cargo; p. 133-139 de Cartas de Affonso de Albuquerque, seguidas de documentes que as elucidam, publicadas de ordem da classe de sciencias moraes, politicas et bellas-lettras da Academia real das sciencias de Lisboa e sob a direcçào de Raymundo Antonio de Bulhâo Pato, III,Lisboa, MDCccciii (Collecçao de monumentos ineditos para a historia das conquistas dos Portugueses em Africa, Asia e America, Tomo XIII, ia Série, Historia da Asia).

[41] Vindo este Perduca Raja no fim de Abril de quinhentos e vinte e très com estas quarenta lancharas, em se recolhendo pera dentro do rio de Muar quasi sobre a noite, houve vista délies Duarte Coelho, 0 quai hia em hum navio seu descubrir a enseada de Cochinchina per mandado d’El Rey D. Manuel, porter sabido ser aquella enseada cousa de que sahiam mercadorias ricas. A quai terra os Chijs chamam Reyno de Cacho, e os Siames, e Malayos Cochinchina, á differença do Cochij do Malabar….

Xem Barros, Đà Á… (Lisboa, 1777) III, ii. trang 290-291- Về Duarte Coelho, xem thêm Les Voyages avantureux de Fernand Mendez Pinto…. được dịch từ tiếng Bồ Đào Nha sang tiếng Pháp bởi Bernard Figuier, Paris, 1645, Trang 993 trong đó ngày tháng năm 1518 được liên kết (năm 1555) với ký ức về chuyến đi của Duarte Coelho ở “Vịnh Cauchenchine”.

[42] « La Cocincina cosi detta da Portoghesi ; da proprij Paesan, si chiama Anam, voce, che significa parte occidentale, essendo veramente questo Regno occidentale rispetto alla Cina, per la medesima ragione fù da Giapponesi in lingua propria detta Coci, che significa l’istesso che Anam in lingua Cocincina ; ma li Portoghesi essendosi introdotti per mezzo di Giapponesi à contrattare in Anam ; del medesimo vocabolo de Giapponesi, Coci ; et di quest’altra voce, Cina, ne formarono questo terzo nome Cocincina, appropriandolo à questo Regno, quasi dicessero Cocin délia Cina, per maggiormente distinguerlo da Cocin città dell’India, habitata da medesimi Portoghesi ; et il trouarsi nelli Mappamôdidescritta la Cocincina, ordinariamëte sotto nome diCaucincina, 6 Cauchina, о altro simile, ciô non è proceduto da altro, che 6 da corrottione del proprio nome ; ô perche hanno voluto gli Autoři di dette Mappe dar’ad inten- dere esser questo Regno principio délia Cina.

«Confina questo Regno dalla parte di mezzo di coi Regno di Chiampà in eleuatione di gradi undici del Polo Artico da Tramontana, piegando alquanto al Grecale, con il Tunchim ; dall’ Oriente, ha il mare Cinico ; dall’ Occidente, verso Maestrale, il Regno delli Lai.

«Quanto alla grandezza sua, parlera io qui solo délia Cocincina, che è una parte del gran Regno del Tunchim…

« Si diuidela Cocincina in cinque Prouincie ; la prima côfinante con il Tunchim, nella quale risiede questo Rè, si chiama Sinuà ;. la seconda Cacciam, et in questa risiede, e gouerna il Prencipe figlio del Rè ; la terza si chiama Quamguya. La quarta Quignin, che da Portoghesi vien detta Pullucambi ; la quinta, che confina con Chiampà si chiama Renran. »

[43] Cf. BEFEO, XX, iv, m.

[44] Sđd; Divers voyages du P. Alexandre de Rhodes en la Chine et autres royaumes de l’Orient…, 2fc éd., Paris, 1666, p 65-68. 

[45] Cao Ci; Wikipedia Giao Chỉ (chữ Hán: 交趾) là địa danh một phần lãnh thổ Việt Nam trong lịch sử, từ thời Hùng Vương đến các kỳ thời Bắc thuộc. Nó cũng là tên Bắc Tống và Nam Tống gọi 3 nhà nước của nhà Đinh, nhà Tiền Lê, và nhà Lý từ 975 đến 1164. Hiện có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của địa danh Giao Chỉ. Sau đây là một số thuyết giải nghĩa dân gian (folk etymology) dựa trên các văn liệu, sử liệu thời cổ: Theo thiên Vương Chế (王制) trong Lễ ký (禮記), hai chữ Giao Chỉ (交趾) được dùng để mô tả đặc điểm ngoại hình của các tộc Nam Man, và có thể được giải nghĩa là “chân trẹo hướng vào nhau” (James Legge)hoặc “ngón chân cái… bắt chéo” (James M. Hargett). Hậu Hán Thư (後漢書) dẫn đoạn tương tự trong Lễ ký, nhưng lại giải nghĩa Giao Chỉ là phong tục tắm chung sông của nam nữ xứ đó. Đỗ Hựu trong bộ Thông điển cho rằng: “Giao Chỉ là người Nam di, ngón chân cái toạc ra, đứng thẳng hai bàn chân thì ngón chân cái giao vào nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ (chỉ là ngón chân cái)”. Bộ Thái bình ngự lãm (太平御覽) thời nhà Tống trích lời của sử gia Ưng Thiệu (應劭) trong Hán quan nghi (漢官儀) rằng: “Vũ Hoàng Đế nam bình Bách Việt […] đặt Giao Chỉ (交阯) […] khai thủy ở phương Bắc, toại giao (交) ở phương Nam, vì tử tôn cơ chỉ (阯) tại đó.” Giao Chỉ nguyên là tên gọi của một bộ trong số 15 bộ của nước Văn Lang thời xưa. Bộ Giao Chỉ thời Hùng Vương tương đương miền Hà Nội ngày nay và miền hữu ngạn sông Hồng.

[46] Xem hội nghị được đưa ra vào ngày 14 tháng 6 năm 1883 bởi Blancsubé (Bulletin de la Société de Géographie de Lyon, trang 101-116), trong đó Indochine Đông Dương, An Nam được đưa ra là bao gồm ba tiểu quốc gia: Tonkin, An Nam và Cochinchine; Xem R. Postel, L’Extrême-Orient, Cochinchina, Annam, Tonkin, Paris, 1883; Xem lại hiệp ước ngày 6 tháng 6 năm 1884, tại Bouinais và Paulus, roc. trích dẫn, tr. 772 và tiếp theo. Điều này không có nghĩa là trong hai hoặc ba năm một số biến động đã không xảy ra trong danh pháp địa lý của các vùng thuộc Đông Dương An Nam. Đối với Launay, người viết năm 1883 (Lịch sử cổ đại và hiện đại của An Nam, tác phẩm xuất bản năm 1884, Trang 3~4 et passim), An Nam chỉ định Tonkin Bắc Kỳ, Cochinchine Nam Kỳ và Cochinchine francaise Nam Kỳ thuộc Pháp; Năm 1885, Hầu tước d’HERVEY de St Denys (Comptes Rendus de l’Académie des Inscriptions et Belles Lettres, 1885, tr. 360-367) đã đề tựa một trong những đóng góp của ông: L’Annam ou Tong-king et la Cochinchine từ quan điểm lịch sử và triết học; Cuối cùng M-Henri Cordier, vẫn vào năm 1886, đã đưa cho Grande Encyclopédie (tập 3, trang 21 và tiếp theo) một bài báo mang tựa đề: Annam hay Cochinchine. Dường như từ năm 1887, danh pháp đã được cố định một cách dứt khoát, với những sửa đổi phù hợp liên quan đến phạm vi chính xác, ở các thời kỳ khác nhau, của Tonkin, An Nam và Cochinchine.

[47] Từ điển Thiều chửu: trn 鎭U+93AD, bộ kim 金. Một chỗ chợ chiền đông đúc gọi là trấn. Một khu đất đủ năm vạn người trở lên gọi là trấn. Nhà Thanh gọi quan Tổng binh là trấn. Một cánh quân có đủ quân kị quân bộ, lính thợ, lính tải đồ, cộng một vạn năm trăm sáu mươi hai người gọi là một trấn, hợp hai trấn gọi là một quân, bây giờ gọi là sư (21124 người).

[48] Aurousseau phiên âm Giao Chỉ Quốc 交趾國 là Kiao-tche kouo, mà bây giờ Pyin viết Jiāozhǐ guó. Thổ ngữ Quảng Đông (Jyutping): gaau1- zi2. Trong khi Hanyu Pinyin là Jiāozhǐ; Wade–Giles là Chiāo1-chǐh4. Quốc ngữ Hán (國語, Guóyǔ) viết phồn thể hay giản thể, sau đó romanizations la mã hoá bởi Hanyu Pinyin, Gwoyeu Romatzyh, Wade–Giles và Yale. Cách viết Hán ngữ bằng mẫu tự Latinh của Aurousseau đặc biệt. Vì là bài viết của ông, nên xin tiếp tục như thế. Tuy nhiên, cách đó khác với các kiểu La mã khác khá nhiều; khi đi tìm từ nguyên Cochinchine, xin chú ý về điều này.

[49] Cf. BEFEO, XX, iv, 86, tableau hors-texte I, 1509-1516. Thổ ngữ Quảng Đông (Jyutping): gaau1- zi2. Trong khi Hanyu Pinyin là Jiāozhǐ; Wade–Giles là Chiāo1-chǐh4.

[50] Cf. Relations de voyages et textes géographiques arabes, persans et turks… par G. Ferrand, tome 1, p. 204.

[51] a) Relations de voyages et textes géographiques arabes, persans et turks relatifs à l’ Extrême-Orient du VIIIe au XVIIIe siècles, Paris, Leroux, 2 vol. 1913-1914;

  1. b) Le K’ouen-louen et les anciennes navigations interocéaniques dans les mers du sud, dans Journal Asiatique, 1919;
  2. c) Le pilote des mers de l’Inde, de la Chine et de l’Indonésie par Sihab ad-dïn Ahmad bin Mâjid, texte arabe du manuscrit 2292 de la Bibliothèque nationale, Paris, Geuthner, 8 fascicules, 1921-1922;
  3. d) Id., par Sulayman al-Mahrï et Sihâb ad-dln Ahmad bin Mâjid, texte arabe du manuscrit 2559 de la Bibliothèque nationale, Paris, Geuthner;
  4. e) Voyage du marchand arabe Sulaymán en Inde et en Chine, rédigé en 851, suivi de remarques par Abu Zayd Hasan (vers 916), Paris, Bossard, 1922;
  5. f) Le pilote arabe de Vasco de Gama et les instructions nautiques des Arabes au XVe siècle, dans Annales de Géographie, n° 172, 15 juillet 1922, p. 289-307;
  6. g) Notes de géographie orientale, dans Journal Asiatique, janvier-mars 1923 ;
  7. h) Les instructions nautiques de Sulayman al-Mahri fXVIe siècle), dans Annales de Géographie, n° 178, 15 juillet 1923, p. 298-312;
  8. i) L’élément persan dans les textes nautiques arabes des XVe et XVIe siècles, dans Journal Asiatique, avril-juin 1924, p. 193-25

[52] Ḥājj al-Ḥaramayn al-Sharīfayn Shihāb al-Dīn Aḥmad ibn Mājid ibn Muḥammad ibn ʿAmr ibn Faḍl ibn Duwayk ibn Yūsuf ibn Ḥasan ibn Ḥusayn ibn Abī Muʿallaq al-Saʿdī ibn Abī Rakāʾib al-Najdī (Arabic: حاج الحرمين الشريفين شهاب الدين أحمد بن ماجد بن محمد بن عمر بن فضل بن دويك بن يوسف بن حسن بن حسين بن أبي معلق السعدي بن أبي الركايب النجدي). Bố là Muhammad bin Omar, và ông nội là Majid bin Muhammad.

[53] Ibn Majid được ghi nhận là người đã thiết lập các quy tắc hàng hải ở nước ngoài, ở Biển Ấn Độ, và các bài viết cũng như sự phát triển của ông về các công cụ dẫn đường như la bàn và hoa gió, boussole et la rose des vents, trong lĩnh vực hàng hải vẫn phổ biến ở Biển Đỏ Mer Rouge (Bahr al-Qalzum), Vịnh Ả Rập, Biển Ấn Độ, và có lẽ cả ở Biển Đông trong một thời gian dài. Ông là người nổi tiếng nhất trong số những người viết về chủ đề hướng dẫn hàng hải hiện đại. La bàn hàng hải,chia thành 22 độ, vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay.

[54] Bồ Đào Nha gọi Ibn Mạid là almirante, Arab Admiral (أمير البحر العربي có nghĩa là hoàng tử biển, đô đốc).

[55] Dấu năm AH Anno Hegirae Hồi Lịch Thị 回历是Huílì shì, là một tham chiếu lịch Hồi giáo với năm đầu tiên bắt đầu vào năm 622 sau Công nguyên. Trong năm này, Nhà tiên tri Hồi giáo Muhammad đã di cư từ Mecca đến Medina. Lịch AH dựa trên lịch âm lunar calendar, của Hồi giáo và sử dụng kỷ nguyên Hijri, trong khi lịch AD dựa trên lịch dương của Gregorian và sử dụng kỷ nguyên Anno Domini. Lịch AH có những năm ngắn hơn, với 354 hoặc 355 ngày, và một hệ thống khác để xác định năm nhuận.

[56] Abu Muhammad Abdallah Ibn Ahmad Ibn al-Baitar Dhiya al-Din al-Malaqi (được gọi là Ibn al-Baitar, khoảng năm 1197–1248 sau Công nguyên) là một nhà khoa học, nhà thực vật học, dược sĩ và bác sĩ người Ả Rập Andalucia. Ông sinh ra ở Malaga, Tây Ban Nha và qua đời ở Damascus, Syria. Ông được coi là một trong những nhà khoa học lớn của Tây Ban Nha theo đạo Hồi.

[57] Cïna Mahâcïna सीना महाचना

[58] Zakariyya’ al-Qazwini (tên đầy đủ: Abū Yaḥyā Zakariyyāʾ ibn Muḥammad ibn Maḥmūd al-Qazwīnī, tiếng Ả Rập: أبو يحيى زكرياء بن محمد بن محمو د القزويني) , còn được gọi là Qazvini (tiếng Ba Tư) : قزوینی), (sinh c. 1203 ở Qazvin , Iran và mất năm 1283), là một nhà vũ trụ học và địa lý học.

[59] 蠻子 / 蛮子 đến từ 南蛮. Và 蛮子 có nghĩa là man rợ. Đặc biệt 南蛮 có nghĩa là man rợ miền Nam. Đây không phải là do giọng nói. 南蛮/蛮子 được gọi như vậy vì họ bị coi là những người thiếu văn minh. Không chỉ người miền Nam Trung Quốc mới được gọi như vậy mà cả người Đông Nam Á cũng thế. Vào thời cổ đại, miền nam Trung Quốc có rất nhiều bộ lạc, vào khoảng năm 0 sau Công nguyên, Tứ Xuyên và Giang Đông (Giang Tô, An Huy hiện đại) đã có nền văn minh. Bây giờ man rợ蛮子 chủ yếu đề cập đến Quảng Đông, Phúc Kiến hoặc Quảng Tây.

[60] Rashīd al-Dīn Ṭabīb (tiếng Ba Tư: رشیدالدین طبیب;‎ 1247–1318; còn được gọi là Rashīd al-Dīn Faḍlullāh Hamadānī, tiếng Ba Tư: رشیدالدین فضل ‌الله هدان ) là một chính khách, nhà sử học và bác sĩ ở Ilkhanate Iran. Sau khi chuyển sang đạo Hồi từ đạo Do Thái ở tuổi 30 vào năm 1277, Rashid al-Din trở thành vizier quyền lực của Ilkhan Ghazan. Ông được Ghazan ủy quyền viết Jāmiʿ al-Tawārīkh, hiện được coi là nguồn quan trọng nhất về lịch sử thời kỳ Ilkhanate và Đế quốc Mông Cổ.

[61] Quần đảo Nicobar là một chuỗi đảo quần đảo ở phía đông Ấn Độ Dương. Chúng nằm ở Đông Nam Á, cách Aceh trên đảo Sumatra 150 km về phía tây bắc và tách biệt với Thái Lan về phía đông bởi biển Andaman.

[62] Sheikh Shams al-Din al-Ansari al-Dimashqi hay al-Dim (1256–1327) là một nhà địa lý Ả Rập thời trung cổ. Sinh ra tại Damascus—như tên Dimashqi của ông.

[63] Các tài liệu Trung Quốc đề cập đến một địa danh có tên là Shilifoshi (thất lợi phật thệ室利佛逝), và điều này được hiểu là Srivijaya. Tuy nhiên, sau năm 904, tên này đã đổi thành Sanfotsi hoặc Sanfoqi (三佛齊, tam phật tề nghĩa đen là ba vijayas). Biên niên sử nhà Tống ghi lại một số phái đoàn được gửi từ Sanfoqi trong khoảng thời gian từ năm 960 đến năm 1018. Sanfotsi là một tiểu bang được ghi lại trong nhiều nguồn tài liệu Trung Quốc như biên niên sử Trung Quốc Chu-fan-chi do Chau Ju-kua viết và Ling-wai tai-ta của Chou K’u-fei (tiếng Trung: 周去非; bính âm: Zhōu Qùfēi; Wade–Giles: Chou Ch’ü-fei)

[64] Seydi Ali Reis sinh ra ở Galata bên kia Sừng Vàng Golden Horn từ Constantinople, là con trai của một gia đình người Thổ Nhĩ Kỳ có nguồn gốc từ Sinop trên bờ biển Biển Đen của Thổ Nhĩ Kỳ.

[65] Xem G- Ferrand, L’élément persan dans les textes nautiques arabes, trong Journal Asiatique, avril-juin 1924, p. 247.

[66] Sự cần thiết của sự phân biệt này, Kawči của Cïn với Kôcï của Ấn Độ, đã được chứng thực từ xa xưa. Xem Barros, phần trên, tr. 565; Borri, p. 567 và Cha de Rhodes, tr. 570. — X. cũng là ghi chú của Ông Paul Pelliot, BEFEO, III, 299, n. 1.

[67] Giao Chỉ 交趾Jiāozhǐ, là một khu vực lịch sử do nhiều triều đại Trung Quốc cai trị, tương ứng với miền bắc Việt Nam ngày nay. Vương quốc Nam Việt (204–111 TCN) thành lập Quận Giao Chỉ (tiếng Trung: 交趾郡, 交阯郡, một đơn vị hành chính tập trung ở Đồng bằng sông Hồng tồn tại trong suốt thời kỳ Trung Quốc cai trị Việt Nam lần thứ nhất và lần thứ hai. Trong thời nhà Hán, quận này là một phần của một tỉnh cùng tên (sau đổi tên thành Giao Châu) bao gồm miền bắc và miền trung Việt Nam ngày nay cũng như Quảng Đông và Quảng Tây ở miền nam Trung Quốc. Vào năm 670 SCN, Giao Chỉ được sáp nhập vào Chính quyền đô hộ An Nam do nhà Đường thành lập. Sau đó, tên gọi chính thức Giao Chỉ đã được thay thế bằng An Nam và các tên gọi khác của Việt Nam, ngoại trừ trong giai đoạn cai trị ngắn ngủi thứ tư của Trung Quốc khi nhà Minh cai trị Việt Nam với tên gọi là tỉnh Giao Chỉ. Nguồn Wikipedia. Tiếng phổ thông: Hán ngữ bính âm: Jiāozhǐ; Chú âm: ㄐㄧㄠ; Bính âm Tongyong: Jiaojhǐh; Wade–Giles: Chiao1-chih3; Yale: Jyāu-jř. Tiếng Quảng Đông (Quảng Châu–Hồng Kông)Jyutping: gaau1 zi2; La Mã hóa Quảng Đông: gao1 ji2. Diễn âm EFEO Kiao-tche.

[68] Những dấu ngoặc lịch sử, nếu Bồ Đào Nha thuộc địa Việt nam như họ đã làm và đồng hoá Brazil với chữ Bồ là quốc ngữ, liệu chữ quốc ngữ Việt của các giáo sĩ Bồ có được phát triển như ngày nay không?

[69] Pierre-Yves Manguin, Les Portugais sur les côtes du Viêt-Nam et du Champa. George Bryan Souza, The Survival of Empire. Portuguese Trade and Society in China and the South China Sea, 1630-1754, Cambridge (Grande-Bretagne), 1986. Manuel Teixeira, Relaçôes comerciais de Macau corn o Vietnam, Macao, Imprensa Nacional, 1977.

[70] Pierre-Yves MANGUIN – Les Portugais sur les côtes du Viet-nam et du Campa. Ecole Francaise d’Etrême-Orient, Paris 1971.

[71] Vasco da Gama, Bá tước thứ nhất của Vidigueira là một nhà thám hiểm và quý tộc người Bồ Đào Nha, là người châu Âu đầu tiên đến Ấn Độ bằng đường biển. Chuyến đi đầu tiên của ông đến Ấn Độ qua Mũi Hảo Vọng (1497–1499) là chuyến đi đầu tiên nối châu Âu và châu Á bằng tuyến đường biển, nối Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương. Vì những đóng góp của mình, vào năm 1524, da Gama được bổ nhiệm làm Thống đốc Ấn Độ, với tước hiệu Phó vương, và được phong làm Bá tước Vidigueira vào năm 1519.

[72] Cương mục: q. 33, 6b. Une note identique est redonnée au q. 41, 24a. Les deux notes commentent des interdictions du catholicisme, respectivement en 1663 et 1754. La première a été traduite par Deloustal, 1913, 56 (Trad. de Hanoi, XVI, 8 et XVIII, 71).

[73] Cương mục q.33, 6b. Một ghi chú tương tự ở q. 41, 24a. Cả hai ghi chú bình luận về các lệnh cấm Công giáo lần lượt vào năm 1663 và 1754. Bản đầu tiên được Deloustal dịch, 1913, 56 (Trad. de Hanoi, XVI, 8 và XVIII, 71).

[74] Theo Roland Jacques, các tu sĩ dòng Phanxicô Tây Ban Nha đến Nam Kỳ lần đầu tiên vào năm 1583.

[75] Xin xem toàn bộ dạng pdf, https://quangduc.com/images/file/_voL837d1AgQANJp/kham-dinh-viet-su-thong-giam-cuong-muc-quoc-su-quan-trieu-nguyen.pdf

[76] Lĩnh Nam chích quái 嶺南摭怪; Chọn lựa những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam, là một tập hợp các truyền thuyết và cổ tích dân gian Việt Nam được biên soạn vào khoảng cuối đời nhà Trần.

[77] Licencié en langue, littérature et civilisation vietnamiennes. D.E.A. de Droit canonique (Paris XI). D.E.A. sur l’Extrême-Orient et l’ Asie-Pacifique, mention Asie du Sud-Est (Institut national des Langues et Civilisations orientales, Paris). Boursier de la Fondation Calouste Gulbenkian (1994-1996), stagiaire à l’Institut de Linguistique, Centre national des Sciences sociales et humaines, Hanoi, Viêt-nam. RFHOM, t. 85 (1998), n° 318, p. 21 à 54.

[78] Revue française d’histoire d’outre-mer, tome 85, n°318, 1er trimestre 1998.

[79] (a) Dictionnarium annamiticum, lusitanum et latinum, Rome, S.G de Propaganda Fide, 1651 ; rééd. en fac-similé avec traduction en vietnamien moderne : Từ Điển Annam-Lusitan-Latinh, Ho Chi Minh- Ville, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1991. – (b) Catechismus pro ijs, qui volunt suscipere Baptismum, in octo dies divisus. Phép giảng tám ngày…, Rome, S.C. de Propaganda Fide, [1651] ; réédition en fac-similé avec introduction de Nguyễn Khắc Xuyên, trad. en vietnamien moderne d’André Maruxier et en français d’Henri Chappoulie, [Ho Chi Minh-Ville], Tủ Sách Đai Kết, 1993.

[80] Jean-Louis TABERD: Dictionnarium Annamitico-Latinum, Serampore [Inde], 1838

[81] Chữ quốc-ngữ là một thứ chữ dùng tự mẫu (chữ cái) La Mã để phiên âm tiếng an-nam. Quốc-ngữ nghĩa đen là tiếng nói của nước: vậy cái từ ngữ ấy dùng gọi thứ chữ mới đặt ra đây, kể thì không đúng, vì đó là một thứ chữ chứ không phải là một thứ tiếng ; nhưng từ ngữ ấy đã dùng quen rồi, không thể đổi được nữa. Dương Quảng Hàm VN VĂN HỌC SỬ YẾU Thiên thứ năm.

[82] Sắc lệnh đưa quốc ngữ vào các kỳ thi hành chính được Thống đốc Paul Doumer ký năm 1898; nhưng việc áp dụng sắc lệnh này vẫn chưa dứt khoát cho đến tận năm 1909. Năm 1917, một chiếu chỉ của triều đình đã bãi bỏ giáo dục truyền thống để chuyển sang giáo dục dựa trên quốc ngữ và tiếng Pháp. Xem Nguyễn Thị Chân Quỳnh, “Concours de mandarins”, in La jaune et la rouge [Paris, École polytechnique], n° 525, 5.1997 (p. 31-37), p. 36-37.

[83] Georges TABOULET, La geste française en Indochine : Histoire par les textes de la présence de la France en Indochine des origines à 1914, 2 t., Paris, Adrien Maisonneuve, 1955-1956 : 1. 1, livre I, chap. I, p. 9-22.

[84] Nicolas Boileau-Despréaux (1 tháng 11 năm 1636 – 13 tháng 3 năm 1711), thường được gọi đơn giản là Boileau, là một nhà thơ và nhà phê bình người Pháp. Ông đã làm nhiều việc để cải cách thể thơ Pháp đang thịnh hành, giống như cách mà Blaise Pascal đã làm để cải cách văn xuôi. Ông bị ảnh hưởng rất nhiều bởi Horace.

[85] Đắc Lộ, cha là người Marrano Tây Ban Nha phần bên xứ Pháp Aragon và mẹ là người Ý, lẽ ra đã học tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, thậm chí cả tiếng Do Thái (gốc gia đình Do Thái), tại nhà như là mẫu ngữ. Về những khẳng định nguy hiểm này, hãy xem phần giải thích tiếp theo.

[86] Khẳng định này lại xuất hiện một lần nữa dưới ngòi bút của François Rideau, Mes rapports avec la langue vietnamienne, Mối quan hệ của tôi với tiếng Việt, trong La jaune et la rouge [Paris, École polytechnique], n° 525, 5.1997, p. 25-30: tr. 27.

[87] Michel Barnouin: “Dòng dõi Vauclusian của Alexandre de Rhodes (1593-1660)”, trong Mémoires de l’Académie de Vaucluse [Avignon], loạt thứ 8, 4, 1995, tr. 9-40; và thư mục được trích dẫn.

[88] Một số tu sĩ Phanxicô người Tây Ban Nha bị lạc vào bờ biển Việt Nam từ năm 1583-1584, nhưng biến mất hầu như không để lại dấu vết và chưa bao giờ học được những điều căn bản về ngôn ngữ địa phương.

[89] André Georges Haudricourt, Origine des particularités de l’alphabet vietnamien Nguồn gốc những đặc thù của bảng chữ cái tiếng Việt”, trong Bản tin “Dân Việt-Nam” (Trường phái Viễn Đông Pháp [= EFEO]) 3, 1949, tr. 61-68. Haudricourt cũng còn là tác giả của nhiều bài viết đáng chú ý về tiếng Việt và lịch sử của nó; trong số các tài liệu khác: « Les consonnes préglottalisées en Indochine », in Bulletin de la Société de linguistique de Paris 46, 1950, p. 172-182 ; «Les voyelles brèves du vietnamien », ibid. 48, 1952, 90-93 ; «La place du vietnamien dans les langues austroasiatiques », ibid. 49, 1953, p. 122-128 ; à Jésus-Christ, De l’origine des tons du vietnamien », in Journal asiatique 242, 1954, p. 69-83 ; etc. Các phụ âm tiền thanh môn hóa ở Đông Dương, trong Bản tin của Hội Ngôn ngữ học Paris 46, 1950, tr. 172-182; Các nguyên âm ngắn của tiếng Việt, ibid. 48, 1952, 90-93; Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á, ibid. 49, 1953, tr. 122-128; Với Chúa Giêsu Kitô, Về nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt, trong Asian Journal 242, 1954, tr. 69-83; vân vân.

[90] Let’s do Justice to Alexandre de Rhodes, Hãy thực thi công lý đối với Alexandre de Rhodes, đăng trong Khoa học xã hội Việt Nam (Hà Nội) 40, 2/1994, tr. 88-89, dựa theo một bài viết của Minh Hiền đăng trên tuần báo Lao Động [Hà Nội] ngày 21/11/1993. Xem thêm hội thảo khoa học về Alexander xứ Rhodes tại Hà Nội ngày 22/12/1995 do Bộ Văn hóa và Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia tổ chức. Sự can thiệp chính thức vào hội nghị này của một trong những nhân vật cao nhất của Nhà nước, lúc bấy giờ, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, đã đánh dấu đỉnh cao của sự phục hồi của Rhodes. Xem nội dung của bài can thiệp này: A. de Rhodes, nhà hoạt động văn hóa có cống hiến cho sự phát triển ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam Xưa và Nay (Hà Nội), cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, 1/1996, tr. 19-20.

[91] Bảo trợ của Vua Bồ Đào Nha đối với các sứ mệnh ở phương Đông, trong đó có Dòng Tên Bồ mà Cố Đắc Lộ là giáo sĩ truyền giáo, hãy xem cụ thể: Antonio da Silva Rego, Người bảo trợ phương Đông của Bồ Đào Nha, tổng quan lịch sử, Lisbon, Agência Gérai do Ultramar, 1957; Adelhelm JANN, Die katholischen Missionen in Allemand, China und Japan: Ihre Organisation und das portugiesische Patronat, vom 15. bis ins 18. Jahrhundert, Các cơ quan truyền giáo Công giáo ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản. Tổ chức của họ và giới chủ Bảo trợ Bồ Đào Nha từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, Paderborn, Ferdinand Schôningh, 1915.

[92] Để hiểu thêm vấn đề, bằng cách duyệt qua các thư mục dành cho khu vực này và thời kỳ này. Trong số những tài liệu gần đây nhất có thể kể đến: Nguyễn Thế Anh, Bibliographie critique sur les relations entre Viêt-Nam et Occident Thư mục phê bình về quan hệ giữa Việt Nam và phương Tây (sách và bài viết bằng ngôn ngữ phương Tây), Paris, Maisonneuve và Larose, 1967. Kennedy G. TREGONNING, Đông Nam Á: A critical bibliography Một thư mục phê bình, Tucson, Nhà xuất bản Đại học Arizona, [1969]. Chantai Descours-Gatin, và Hugues Vmjers, Guide de recherches sur le Viêt Nam : bibliographies, archives et bibliothèques de France Hướng dẫn nghiên cứu về Việt Nam: thư mục, cơ quan lưu trữ và thư viện của Pháp, Paris, L’Harmattan, 1983. Để tìm hiểu về giai đoạn trước, hãy xem tác phẩm cổ điển cơ bản của Henri Corder, Bibliotheca Indosinica: Dictionnaire bibliographique des ouvrages relatifs à la péninsule indochinoise Từ điển thư mục các tác phẩm liên quan đến bán đảo Đông Dương, 4 tập, Paris, Ernest Leroux, 1912-1915, và Mục, của M.-A. Roland-Cabaton, Paris, Van Oest-Leroux, 1932 (tái bản số 5 1.: New York 1967 và Taipei 1969). Pour ce qui est de la bibliographie des missions catholiques Về thư mục của các cơ quan truyền giáo Công giáo (nguồn và nghiên cứu). Tác phẩm tham khảo thiết yếu là: Robert STREIT et suce, (ed.), Bibliotheca Missionum, 30 vols., Munster, Aix-la-Chapelle, Rome/Freiburg im Breisgau/Vienna, Herder, 1916-1975. Về Đông Dương, đặc biệt xem tập 4 [1245-1599], 5 [1600-1699], 6 [1700-1799], 11 [ 1800-1909], và 29 [1910- 1970]); công việc này được tiếp tục bởi Bibliografia Missionaria (Johannes RoMMERSKlRCHEN et suce, ed.), được xuất bản hàng năm ở Rome kể từ năm 1935. Về lịch sử của Dòng Chúa Giêsu, ta cũng có các thư mục cụ thể, trong số đó có Laszlô PÔLGAR, Bibliographie sur l’histoire de la Compagnie de Jésus 1901-1980: trang II/2, Các quốc gia: Châu Mỹ, Châu Á, Châu Phi, Châu Đại Dương, Rome, 1986.

[93] Ngày 18/1/1996, nhân chuyến thăm chính thức của Hội đồng Giám mục Pháp, nhật báo La Croix (Paris) đăng bài dưới chữ ký của Frédéric Mounier L’Église de France se tourne vers l’Église du Viêt-nam Giáo hội Pháp hướng về Giáo hội Việt Nam”; nhà báo trích dẫn trong dấu ngoặc kép những lời của chủ tịch Hội nghị: Cette Église est d’origine française. Elle a été fondée grâce aux efforts des missionnaires français Giáo hội này có nguồn gốc từ Pháp. Nó được thành lập nhờ vào nỗ lực của các nhà truyền giáo người Pháp. Xem bản cập nhật của Roland Jacques, được đăng muộn trên cùng một tờ báo ngày 12 tháng 6 năm 1997 với tựa đề L’Église catholique du Vietnam est-elle française? Giáo hội Công giáo Việt Nam có phải là người Pháp không? “.

[94] Trong số các sử gia Việt Nam, có thể xem Lê Thành Khôi, Histoire du Viêt-nam des origines à 1858, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1858, Paris, Sudestasie, 1982. Trong số các sử gia về các cơ quan truyền giáo Công giáo ở Việt Nam, có thể thấy luận án của Nguyễn Hữu Trọng, Le clergé national dans la fondation de l’Église au Viêt Nam. Les origines du clergé Vietnamien (Các giáo sĩ trong việc thành lập Giáo Hội tại Việt Nam. Nguồn gốc của giáo sĩ Việt Nam (Paris, Catholic Institute, 1955), xuất bản tại Sài Gòn, Tinh Việt, 1959. Cùng với với những lời bác bỏ do Eusebio Arnâiz cung cấp, En torno al patronato portugués, in Boletim Eclesiâstico da Diocèse de Macau 57, 1959 et 58, 1960, et par Manuel TEIXEIRA, As Missôes Portuguesas no Vietnam (cité note 38), passim.Xung quanh sự bảo trợ của người Bồ Đào Nha”, trong Bản tin Giáo hội của Giáo phận Ma Cao, và của Manuel TEIXEIRA, Phái đoàn Bồ Đào Nha tại Việt Nam.

[95] Nguyễn Đức Diệu, éd., Đô thị cổ Hội An. Hội thảo quốc tế tổ chức tại Đà Nẵng ngày 22, 23-3-1990, Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1991 ; Anh ngữ: Ancient Town of Hôi An. International Symposium held in Dà Nang on 22-23 March 1990, Hà Nội, Thế Giới Publishers, 1993.

[96] Mọi nỗ lực của Tây Ban Nha nhằm thiết lập một đầu cầu trên lục địa châu Á, đặc biệt là ở Đông Dương, hoàn toàn vô ích. Xem thêm L.P. Briggs, Missionnaires Portugais et Espagnols au Cambodge, 1555-1603, in Bulletin de la Société des études indochinoises 25, 1950, Những nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha ở Campuchia, 1555-1603. A Gallego, “Espana en Indochina, Expediciones religioso-militares”, trong Espana misionera, 7, 1951, tr. 298-310. Vân vân.

[97] Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, quyển I. Tôi lớn lên ở Thanh Hoá, nên tên Ba Làng rất quen thuộc. Ở đó có Tiểu Chủng Viện, sau khi bị tiêu thổ kháng chiến, thì dời lên thị xã Thanh Hoá. Chính ở nơi đây, tôi đã đi tu một năm. Theo gia phả nhà Họ Đỗ bên Bà ngoại, nhà thờ bé nhỏ đầu tiên dựng lên cho Cố Đắc Lộ khi Cố mới tới, dường như do một người họ Đỗ thực hiện.

[98] 譜 phổ hay phả, âm đọc tuỳ theo miền. Sử có ghi Đỗ Công Biểu/Biều từng đậu Cống tại khoa thi Hương năm Kỷ Dậu đời Chính trị (Lê Anh Tông) năm thứ bảy. Ông Biều làm quan đến năm Chính trị thứ 15 được khâm sắc là Kiệt tiết tuyên lực Công thần, đặc tấn Kim tử Vinh lộc Đại phu, giữ chức Lại bộ Thuyên khảo Thanh lại ty Viên ngoại lang, tước Lương khê Nam, tên thụy là Mỹ trinh hiền, hiệu Trúc lâm tiên sinh. Ông Biểu có vợ mang họ Dương, hiệu là Từ Ái. Ông bà sinh được ba người con, con đầu là Đỗ Viên Đức, con thứ là Đỗ Hưng Viễn.

[99]  Cống sĩ / sanh 貢士 từ thời Gia Long trở về trước gọi là Hương cống 鄉貢; tới thời Minh Mạng gọi là Cử Nhân 舉人là một loại học vị trong hệ thống khoa bảng Việt Nam thời phong kiến, tức là đỗ tứ trường khoa thi Hương

[100] Lê Anh Tông 黎英宗 1532 – 1573, tên húy là Lê Duy Bang 黎維邦, là hoàng đế thứ ba của Nhà Lê Trung hưng và là hoàng đế thứ 14 của nhà Hậu Lê nước Đại Việt. Ông trị vì từ năm 1556 đến năm 1572, tổng cộng 16 năm, trong thời kỳ Nam-Bắc triều. Nguồn Wikipedia. Tông – Tôn, xem Bài Tông/Tôn Giáo và vấn đề Kỵ huý.

[101] Hoàng giáp 黃甲 là một loại (gọi là giáp) danh hiệu của học vị Tiến sĩ Nho học trong hệ thống khoa bảng thời xưa. Loại danh hiệu này được xác định trong kỳ thi Đình, còn gọi là tiến sĩ xuất thân 進士出身. Vì đứng thứ hai trong hệ thống các loại học vị tiến sĩ, trên đệ tam giáp, nhưng dưới đệ nhất giáp, tức tam khôi (trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa) nên còn gọi là Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân. Wikipedia.

[102] Sử chép, Bộ Lại đặt ra các ti là Lại bộ ti, Tư phong ti, Tư huân ti, Khảo công ti.

[103] Hán Việt Từ điển. 郎lang bộ邑 ấp U+90CE; Mĩ danhxưng dùng cho đàn ông. Như: Chu lang 周郎 chàng Chu, thiếu niên lang 少年郎 chàng tuổi trẻ. Danh tự Gọi phụ nữ cũng dùng chữ lang trong Liêu trai chí dị. Tiếng phụ nữ gọi chồng hoặc tình nhân.

[104] Cần lưu ý rằng những chữ được dịch bởi Ngài đối với Đỗ Biểu Tương Công, là một cách diễn đạt áp dụng cho một quan dân sự, và đối với Đỗ Cảnh Tướng Công, Ngài Tư lệnh, áp dụng cho quan quân sự.

[105] Có năm quân đoàn; các Quân đoàn Trung ương, Đông, Nam, Tây, Bắc. Quân đoàn miền Nam bao gồm các huyện Thiên Trường và Thuận Hóa. Các huyện Thanh-Hoá và Nghệ An trực thuộc Quân đoàn Trung ương. Đứng đầu mỗi Quân đoàn có một hoặc hai Đô đốc (Cf Cương Mục quyển 20, trang 2, 3 — Hiến chương cuốn 39)

[106] Tiene questo huomo un figlio di sedici ani il più uiuo et habile di quel loco, et il migliore scrittore nella Ira Cinese, cosa che tra di loro è di molta stima. […] Questo giouane che battizato si chiama Pietro, con le sue lrô fà di grande agiuto al prô, per tradurre nella lingua délia terra il Pater noster, Ave Maria, Credo, et Decalogo ; che li Xpiani già hano imparato à mente. Compose anche il prô nella lingua gl’articoli délia fede, ne quali bastantemk si déclara hauer un Dio solo, li misterij

[107] Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics Prior to 1650 / L’oeuvre de quelques pionniers portugais dans le domaine de la linguistique vietnamienne jusqu’en 1650, Roland Jacques, Bangkok, Orchid Press, 2002

[108] Trần Quốc Anh 2016. Các giáo sĩ Dòng Tên và công cuộc La Tinh Hoá Tiếng Việt ở thế kỷ 17-18

[109] Giáo sĩ Gaspar do Amaral sinh năm 1592 tại Bồ Đào Nha, gia nhập dòng tên năm 1608. Ông đã làm giáo sư La văn, triết học, thần học tại các chủng viện ở Bồ Đào Nha. Năm 1923, ông rời Bồ Đào Nha đi Áo Môn hoạt động truyền giáo và đến  Đàng Ngoài vào tháng 10 năm 1629. Sau 7 năm ở Đàng Ngoài, tức vào năm 1638, ông dược gọi về Áo Môn giữ chức Viện trưởng Học viện Madre de Pina Deus. Ba năm sau, ông được cử làm phó Giám tỉnh dòng Tên Nhật Bản (gồm các nước Nhật, Xiêm, Việt Nam, Miên, Lào, đất Áo Môn và hai tỉnh Quảng Đông Quảng Tây). Năm 1645, ông lại đáp tàu từ Áo Môn đi Đàng Ngoài truyền giáo, nhưng tàu bị đắm ở gần đảo Hải Nam, ông chết đuối ngày 23/12/1645.

[110] Giáo sĩ António de Barbosa sinh năm 1954 tại Bồ Đào Nha, gia nhập dòng Tên năm 1624. Cuối tháng 4/1636, ông đến truyền giáo ở Đàng Ngoài, nhưng vì thiếu sức khỏe, nên phải trở về Áo Môn vào tháng 5/1642, rồi qua đời năm 1647 trên đường về từ Áo Môn về Goa để dưỡng bệnh. Ông là tác giả cuốn từ điển Bồ – Việt: Diccionário português – amanita.

[111] «Era il P. Pina di nation Portoghese, in età di quaranta anni, caro anche a gl’idolatri, percioche ne parlaua la lingua quanto Cocincinese natiuo » (La Cina, p. 834).

[112] Antonio de Fontes, sinh năm 1569 tại Lisbon, gia nhập Công ty năm 1584; ông là giáo sư ở Coimbra và Braga, trước khi lên đường sang Phương Đông vào năm 1617; ông được bổ nhiệm đi sứ mệnh Nam Kỳ từ năm 1624 đến năm 1631, rồi đến Bắc Kỳ nơi ông đã lưu trú nhiều lần cho đến năm 1648.

[113] Nghiên cứu tốt nhất về chủ đề này chắc chắn là của Linh mục Dòng Tên Việt Nam Joseph Đỗ Quang Chính: Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, Sài Gòn, 1972; tái bản Paris, Duttag Moi, 1985. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả đã bị trở ngại không ít do không thông thạo tiếng Bồ Đào Nha. Nghiên cứu này xứng đáng được lặp lại và bổ sung với sự đóng góp của toàn bộ tập bản thảo. Về sự khởi đầu của văn học Kitô giáo, xem Georg Sœurhammer, “Annamitische Xaveriusliteratur” Văn học Việt Nam liên quan đến Francis Xavier, trong Johannes Rommerskirchen và Nikolaus Kowalski (eds.), Missionswissenschaftliche Studien, Festgabe Pr. Các nghiên cứu về khoa học truyền giáo, lễ hội tưởng nhớ Giáo sư J.D., Aix-la-Chapelle, Wilhelm Metz, [1951], tr. 300-314; Võ Long Tê, Dẫn nhập nghiên cứu tiếng Việt và chữ quốc ngữ [Reichstett (Pháp)], Trung tâm Nguyễn Trường Tộ, 1997 ; và Nguyễn Văn Trung, Sách và tạp chí định kỳ của các tác giả Công giáo, thế kỷ 17-19, Khoa Văn thư Đại học Hồ Chî Minh -Ville, 1993, nổi bật là sự đóng góp của Thanh Lãng và Võ Long Tê.

[114] J. F. Schùtte, Textus Catalogorum (cité note 38), p. 1034-1050. Voir les documents : ARSI, Jap.-Sin. 80, fol. 35-38v et 73-81 ; Lisbonne, Biblioteca da Ajuda, Jesuitas na Âsia, 49/V/13, fol. 351-373 et 661-663 ; 49/V/32, fol. 308-327v.

[115] Xin xem các tài liệu Lisbonne, Biblioteca da Ajuda, Jesuitas na Âsia, 49/V/32, fol. 521- 522V et 681-681V ; 49/IV/61, fol. 23T-252″ et 362v-377.

[116] 因父,及子,及圣神之名。阿门。nhân ph, cp t, cp thánh thn chi danh. a môn.

[117] Manoscitto, em que se proue, que a forma do Bauptismo pronunciada em lingoa Annamica he verdadeira, Bản thảo, trong đó chứng minh hình thức Rửa tội được phát âm bằng tiếng An Nam là đúng

[118] Latinh : In nomine Patris et Filii et Spiritus Sancti. Hylạp Koinē: εἰς τὸ ὄνομα τοῦ Πατρὸς καὶ τοῦ Υἱοῦ καὶ τοῦ Ἁγίου Πνεύματος, Lamã hoá: eis to ónoma toû Patros kai toû Huioû kai toû Hagíou Pneúmatos. Tiếng Việt Dấu Thánh Giá đơn: Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen. Kép: Lạy Chúa chúng con, vì dấu (+) Thánh giá, xin chữa (+) chúng con cho khỏi (+) kẻ thù. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.

[119] http://daminhrosalima.net/tu-co-trong-sach-kinh/tu-co—dau-thanh-gia-32825.html

[120] Daniello Bartoli, Dell’Historia délia Compagnia di Giesu. La Cina. Terza parte dell’Asia, Rome, Stamperia del Varese, 1663 ; voir manuscrit (365 fol.), conservé à Rome, aux Archives de la Compagnie de Jésus ; nombreuses rééditions, dont : La Cina : Storia délia Compagnia di Gesù, Milan, Bompiani, 1975.

[121] ARSI, Lus. 37-11, fol. 379-385. So sánh với các thơ của Joseph Tissanier datées 15.11.1658, 29.10.1659, 12.11.1659 : ARSI, Jap.-Sin. 80, fol. 120-121 et 149-152.

[122] Thành ngữ Pháp! Une histoire à dormir debout, c’est une histoire qui n’a aucun sens, qui est complètement illogique, qui est incroyable, qui est absurde, qui ne peut pas être vraie. Chuyện phải ngủ đứng để nghe, một chuyện hoang đường, một câu chuyện vô nghĩa, hoàn toàn phi logic, không thể tin được, vô lý, không thể có thật!

[123] tông tòa đại diện vicaire apostolique bổ nhiệm bởi Giáo Hoàng.

[124] IRFA https://irfa.paris/zonesgeographiques/vietnam/

[125] Nguồn Wikipedia.

[126] Jean-Pierre Charbonnier, The MEP in China: A Chronology from the 17th Century to the Present, Pages 245–268.

[127] Alain Guillemin Alexandre de Rhodes a-t-il inventé le quốc ngữ ?Cet acte révélait une certaine étroitesse d’esprit, une méconnaissance totale de l’histoire et, de toute manière, c’était indigne de notre peuple. Et Alexandre de Rhodes n’at-il pas aussi œuvré pour le peuple vietnamien ? L’écriture romanisée, d’apprentissage beaucoup plus facile que les idéogrammes, a favorisé l’accès au savoir et à l’information de larges pans de la population […] Et le missionnaire était aussi un humaniste, proche de la population.

[128] Xin xem, tỉ dụ như Nicole-Dominique LE, Les Missions Étrangères et la pénétration française au Viêt-Nam, Paris / La Haye, Mouton, 1975 ; THE Hâng, « L’Église catholique et la colonisation française », in Les Catholiques et le mouvement national, Études Vietnamiennes (Hà Nôi)n°53, 1978, p. 9-81 ; Trần Tam Tỉnh, Dieu et César : les catholiques dans l’histoire du Viêt Nam, Paris, Sudestasie, 1978 ; [Collectif] Một số vấn đề lịch sử Đạo Thiên Chúa trong Lịch sử dân tộc Việt Nam. Kỷ yếu hội nghị khoa học tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 và 12-3-1988. Sự di dân qua đạo Kitô của người Việt trên thực tế đang bị chia rẽ. Nhiều người Công giáo tuyên xưng sùng kính Alexandre de Rhodes, điều này không phải lúc nào cũng an toàn trước phản ứng cường điệu quá khích. Các giới khác, tự xưng là theo chủ nghĩa dân tộc, thì sự sùng bái dành cho Rhodes một người Pháp, như một nhà hảo tâm lỗi lạc của Việt Nam, đối với họ, dường như là một nỗ lực nhằm biện minh cho việc thuộc địa hóa Việt Nam và bị lên án như vậy.

[129] Accord de Bangkok du 5 décembre 1786 » Pierre-Yves Manguin, dans Les Nguyễn, Macau et le Portugal (1773-1802), Paris, EFEO, 1984, p. 55-73 ; ainsi que le texte p. 62-67.

[130] Đối với các tài liệu lưu trữ có liên quan của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, hãy xem các tài liệu Josef Franz SchûTTE, El ‘Archivo de Japon’, Vicisitudes del Archivo jesuitico del Extremo Oriente y del fondo existente en la Real Academia de la Historia de Madrid, Madrid, Real Academia de la Historia, 1964 ; et Antonio da Silva Rego, « Jesuitas na Âsia », in Biblioteca da Ajuda. Revista de Divulgaçâo, 1/1, 5.1980, p. 95-112 ; Maria Augusta da Veiga e Sousa, Roteiro e descriçâo sumâria dos documentos que existent, em microfilmes, na filmoteca do Centra de Estudos de Historia e Cartografia antiga [= BFUP n° 47], Lisbonne, 1986. Về tài liệu của Rôma, là Kho lưu trữ của Hiệp hội Chúa Giêsu (ARSI), nhất là tài liệu Jap.-Sin. et Fondo GESumco; ở mức độ thấp hơn, từ Thư viện Trung ương Quốc gia, Fondo GESUmco và Kho lưu trữ Truyền Giáo Fide. Tất cả các tổ chức này đều mở cửa cho các nhà nghiên cứu và cung cấp các công cụ nghiên cứu cần thiết.

[131] Vương Lộc (ed.), Annam dịch ngữ [Bản dịch thuật ngữ (tiếng Trung) cho An Nam], Hà Nội, Trung tâm Từ điển học, 1995. Đây là một bản chú giải thuật ngữ sử dụng của chính quyền Trung Quốc (Đế quốc Minh) chịu trách nhiệm trong quan hệ với các nước chư hầu.

[132] Alexandre de Rhodes, Histoire de la vie et de la glorieuse mort de cinq pères de la compagnie de Jésus, qui ont souffert au Japon. Avectrois séculiers, en l’année 1643, Paris, 1653. Lịch sử cuộc đời và cái chết vinh quang của năm vị linh mục của Dòng Chúa Giêsu, những người đã chịu đau khổ ở Nhật Bản. Với ba người thế tục, vào năm 1643

[133] Metelle Saccano, Relation des progrèz de la Foy au royaume de la Cochinchine es années 1646, et 1647, Paris, Sébastien et Gabriel Cramoisy, 1653, p. 129.

[134] Xem báo cáo thường niên của Gaspar do Amaral le 31.12.1632: Lisbonne, Biblioteca da Ajuda, collection Jesuitas na Âsia, volume 49/V/31, fol. 219V.

[135] Kenneth J. Gregerson, A Study of Middle Vietnamese Phonology , in Bulletin de la Société des études indochinoises, nouv. série 44/2, 1969, p. 131-193. Hoàng Thị Châu, Tiếng Việt trên các miền Đất nước (Phương ngữ học) Hà nội, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1989.

[136] Minh họa cho điều này được cung cấp bởi Phạm Xuân Hy, Ba bản Kinh Tin Kính bằng chữ Nôm, Trần Anh Dũng, Hàng Gíao phẩm Công giáo Việt Nam 1960-1995, Paris, tác giả xuất bản, 1996, tr. 487-503. Về chữ Nôm thì có rất nhiều thư mục bằng tiếng Việt. Roland Jacques chỉ trích dẫn: Trần Nghĩa, Giới thiệu chung, trong Danh mục sách Hánm / Di sản Hán Nôm Việt Nam thiết mục Đề yếu, hướng dẫn của Trần Nghĩa và François Gros, Hà Nội, Ed. Khoa học xã hội, 1993, 1. 1, tr. 15-47; Nguyễn Đình Hòa, Chữ Nôm Hệ thống chữ viết bình dân ở Việt Nam, trong Journal of the American Oriental Society Tạp chí của Hiệp hội Đông phương Hoa Kỳ, 1959.

[137] Lê Thành Khôi, Histoire du Viêt Nam des origines à 1858, Paris, Sudestasie, 1982, p. 290.

[138] Uma copiosa liuraria de 48 volumes, que compos, ou uerteo nesta lingoa, e letra natiua » : Francisco Rangel, Annua du Tonkin 1659, ARSI, Jap.-Sin. 64, fol. 366V. Girolamo Maiorica một giáo sĩ Dòng Tên nười Ý ở Bắc Bộ. Xem Hoàng Xuân Hãn, « Girolamo Majorica. Ses oeuvres en langue vietnamienne conservées à la Bibliothèque nationale de Paris », in Archivum Historicum Societatis Iesu, 22, 1953, p. 203-214, Girolamo Majorica. Tác phẩm bằng tiếng Việt của ông được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia Paris.

[139] Thế hệ tôi, lúc đi tu tại Chủng viện Thanh Hoá năm 1949, chỉ biết dùng từ Mình Thánh, tiếng Hán 命聖mìngshèng.

[140] NGÔN NGỮ BIỂU TRƯNG TRONG GIÁO LÝ: SÁCH GIÁO LÝ CỦA CHA GIROLAMO MAIORICA VÀ SÁNG KIẾN HỘI NHẬP VĂN HOÁ – Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Hai Tính, S.J.

[141] Một trong những mạng để tra khảo là University Microfims International Michigan Uni.Google Book, Iniversithttps://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false

[142] Nghiên cứu tiếng Việt độc lập ở Melbourne (Úc) – địa chỉ nguyencungthong@yahoo.com. http://chimvie3.free.fr/baivo/nguyencungthong/ncthong_TiengVietDeRhodes_P05A_KinhLayCha.pdf

[143] So với bản dịch 49 chữ tiến Latinh, tiếng Anh thường dùng khoảng 55 chữ, tiếng Pháp khoảng 58 chữ, tiếng Bồ-Đào-Nha khoảng 59 chữ, tiếng Hán khoảng 55 chữ vào thời LM Matteo Ricci so với khoảng 80 chữ hiện nay; khôngkể A-men hay đoạn kinh vinh danh Đức Chúa Trời, thêm vào sau này (Doxology).

[144] Tiếng Trung Godfather gọi là Bọ.

Bình luận về bài viết này