
Những cuộc chiến ở Trung Đông kể từ 1948, hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ những toan tính của hai cường quốc thực dân Anh và Pháp trong Thế chiến I và ý đồ địa chính trị của các siêu cường mới nổi sau Thế chiến II
I. HIỆP ƯỚC SYKES-PICOT VẼ LẠI BẢN ĐỒ TRUNG ĐÔNG
Với một vài nét bút mà sử gia James Barr gọi là “đường vẽ trên cát”, Anh và Pháp đã tùy tiện vẽ lại bản đồ Trung Đông nhưng không để ý đến yếu tố văn hóa, chủng tộc, tôn giáo, bản sắc và như thế đã phá vỡ cấu trúc xã hội của đế chế Ottoman được xây dựng từ nhiều thế kỷ trước vốn dĩ có khả năng tự hóa giải những xung khắc tại địa phương. Điều đó đã đặt nền móng cho nhiều cuộc xung đột vũ trang kéo dài tới hôm nay mà các nước Trung Đông và cả thế giới phải bận tâm.
Vào ngày 16 tháng 5 năm 1916 cách đây hơn 100 năm, Anh và Pháp ký kết hiệp ước Sykes-Picot để phân chia thuộc địa và thỏa thuận các vùng bảo hộ của khu vực Trung Đông trong thời đại hậu-Ottoman. Mặc dù biên giới sau cùng của các nước không được xác định cho đến nhiều năm sau hiệp ước Sykes-Picot, tức là sau khi Thế chiến I chấm dứt, nhưng thực tế là hiệp ước này đã đặt ra khuôn khổ cho các biên giới được thiết lập sau này, điều đã gây ra sự phẫn nộ đối với mọi thành viên liên hệ, chưa kể một quốc gia người Kurds không còn hiện hữu trên bản đồ thế giới. Vì thế, các cuộc xung đột tất yếu đã xảy ra và kéo dài cho đến thế kỷ 21 [xem Encyclopedia]. Vậy hiệp ước Sykes-Picot là gì?
Hiệp ước lấy tên của hai nhà ngoại giao đứng đầu hai phái đoàn đàm phán là Mark Sykes của Anh và François Georges-Picot của Pháp. Trong lúc Thế chiến I chưa chấm dứt, Anh và Pháp đàm phán để đạt một thỏa thuận bí mật giữa hai nước, với sự đồng thuận của Nga, nhằm mục đích phân chia một phần lớn lãnh thổ của đế chế Ottoman thành nhiều vùng thuộc địa và khu vực bảo hộ để giải quyết vấn đề hậu-Ottoman sau khi chiến tranh chấm dứt. Đế chế Ottoman lúc ấy đang theo phe “trung tâm” Đức và Áo-Hung, vì thế khi chiến tranh chấm dứt, Ottoman là đế chế thua trận và cũng bị tan rã, chỉ còn lại hậu thân sau đó là Thổ Nhĩ Kỳ chiếm một vùng địa lý bị thu nhỏ, chưa bằng 1/5 diện tích của đế chế Ottoman vào năm 1900.
Mark Sykes (Anh) và François Georges-Picot (Pháp)
Với thế lực áp đảo của hai cường quốc thực dân mạnh nhất lúc đó, Anh và Pháp đã đàm phán với nhau để vẽ lại bản đồ Trung Đông bằng những nét bút dọc ngang tùy tiện trên tấm bản đồ thô sơ, mà sau này sử gia James Barr người Anh gọi là “một đường vẽ trên cát”, như tựa đề cho cuốn sách nổi tiếng của ông “A line in the sand” về sự tranh giành quyền lực ở Trung Đông [xem Hermann]. Cho đến đầu thế kỷ 20, Anh và Pháp là hai đế quốc lớn nhất và mạnh nhất trên thế giới. Nếu so sánh tầm ảnh hưởng của Mỹ trên toàn cầu ở giai đoạn cuối thế kỳ 20 mạnh mẽ như thế nào, thì Anh và Pháp vào đầu thế kỷ còn mạnh hơn, và cũng không có một quốc gia thứ ba nào có đủ điều kiện cạnh tranh quyền lực với Anh và Pháp. Đế chế Ottoman lúc đó đã suy yếu, đã mất vào tay Anh và Pháp nguyên một vùng đất rộng lớn ở Bắc Phi kéo dài từ Marocco bên bờ Đại Tây Dương sang đến Ai cập ở bán đảo Sinai.
Với lòng kiêu ngạo từ sức mạnh áp đảo đó, hai nhà ngoại giao Sykes và Picot đã dùng thước kẻ, vạch một đường ngang từ vùng Palestine ở phía Tây sang vùng Kirkuk ở phía Đông giáp giới Ba Tư, cắt nguyên khu vực Ả Rập thuộc Ottoman thành hai vùng; ở phía trên đường ranh giới đó là vùng xanh của Pháp và bên dưới là vùng đỏ của Anh. Trước đó, trong một kỳ họp với Thủ tướng Anh Herbert Henry Asquith vào buổi sáng ngày 16 tháng 12 năm 1915 ở số 10 Downing Street, nhà ngoại giao trẻ 37 tuổi Mark Sykes đã kéo ngón tay trên tấm bản đồ Trung Đông trải trên bàn họp và phát biểu một cách kiêu hãnh rằng, “Tôi sẽ vạch một đường thẳng từ Acre bên bờ Địa Trung Hải sang điểm cuối ở Kirkuk” [xem Wright]. Ông cắt nghĩa cho Asquith và ba bộ trưởng có mặt rằng, tất cả vùng đất bên dưới đường kẻ đông-tây ấy sẽ là vùng đỏ thuộc Anh, “tất cả người Ả Rập ở đó sẽ nằm dưới quyền kiểm soát của chúng ta”. Với phong cách đó, hai nhà ngoại giao Sykes và Picot đã tùy tiện phân chia khu vực Trung Đông vốn dĩ trước đó thuộc đế chế Ottoman thành ba vùng thuộc địa và ba vùng bảo hộ.
Các thuộc địa là:
1) Thuộc địa của Anh (xem hình bên dưới, màu tím) bao gồm vùng đất bên bờ Tây vịnh Ba Tư, ngày hôm nay bao gồm Kuwait, một phần của Iraq và một phần của Saudi Arabia;
2) Thuộc địa của Pháp (màu xanh đậm) bao gồm khu vực ở bờ Đông Địa Trung Hải, Lebanon và một phần của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay;
3) Thuộc địa của Nga (màu cam) bao gồm Armenia hiện nay, một phần của Thổ Nhĩ Kỳ và khu vực ở giữa Biển Đen và Biển Caspian.
Ba vùng bảo hộ là:
a) Vùng Palestine (màu đỏ) sẽ được đặt dưới quyền quản lý quốc tế, trước mắt là Anh, Pháp và Nga;
b) Vùng bảo hộ của Anh (màu hồng) bao gồm một phần của Iraq, Jordan và Saudi Arabia ngày nay;
c) Vùng bảo hộ của Pháp (màu xanh nhạt) gồm một phần của Iraq, Jordan và Lebanon.
Hiệp ước giữa nhà ngoại giao Anh, Mark Sykes và nhà ngoại giao Pháp, François Georges-Picot quy định sự phân chia lãnh thổ Ottoman ở Trung Đông sau Thế chiến I, vì thế nó chủ yếu phản ánh lợi ích chiến lược của các cường quốc thắng trận, hơn là lợi ích sắc tộc, bản sắc văn hóa và cảm xúc dân tộc đang phát triển của người dân địa phương. Sau khi đế chế Ottoman tan rã, Pháp và Anh đã chiếm đóng các khu vực đã thỏa thuận trong hiệp ước Sykes-Picot. Kết quả là, các cuộc nổi dậy đã nổ ra trong khu vực suốt 20 năm, nhưng đã bị quân đội Anh và Pháp đàn áp đẫm máu. Tại Hội nghị San Remo năm 1920 của các nước thắng trận, quy định tương lai của khu vực đã được quyết định. Sau đó, Hội Quốc Liên đã trao cho Pháp và Anh các nhiệm vụ đối với các lãnh thổ mà họ muốn. Vùng Lưỡng Hà và Palestine trở thành lãnh thổ bảo hộ của Anh, trong lúc Pháp nhận lãnh quyền bảo hộ đối với Syria và Lebanon [xem BPB].
Nước Anh đặc biệt chú ý tới vùng Palestine vì đó là cửa ngõ duy nhất từ các vùng ảnh hưởng của Anh ra biển Địa Trung Hải và tiếp cận đến kênh đào Suez để đi đến thuộc địa Ấn Độ. Từ những đường ranh giới tùy tiện mơ hồ như “đường vẽ trên cát” ấy, biên giới của các nước Trung Đông dần dần định hình rõ rệt trong tiền bán thế kỷ 20. Trước hết, đế chế Ottoman không còn tồn tại, thay vào đó, quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ được thành lập và tuyên bố nền cộng hòa vào năm 1923. Ở Trung Đông, sau những cuộc nổi dậy vũ trang kéo dài nhiều thập kỷ, và bị Anh và Pháp đàn áp đẫm máu, biên giới các quốc gia dần được định hình, lúc đầu là các vùng được Anh và Pháp bảo hộ, sau dần dần trở thành những quốc gia độc lập. Riêng vùng Palestine vẫn còn là vùng ủy thác của Anh và đến năm 1947 trở thành thảm kịch muôn đời cho người Palestine, khi Anh trao lại quyền ủy thác cho Liên Hiệp Quốc.
Nội dung hiệp ước Sykes-Picot có nhiều mâu thuẫn cơ bản với các cuộc đàm phán giữa Anh và các Tiểu vương quốc Ả Rập, nên hiệp ước đó được ký kết trong bí mật và chỉ phổ biến nội bộ giữa Anh, Pháp và Nga, còn gọi là liên minh Triple Entente. Thật không may, cách mạng Nga nổ ra vào tháng 10 năm 1917 và thành công, phe Bolsheviks lên nắm quyền, Lenin rút Nga ra khỏi liên minh Triple Entente và công bố nội dung hiệp ước ra công luận vào cuối tháng 11 năm 1917. Ba ngày sau, các tờ báo lớn ở Anh và Pháp cũng công khai hóa nội dung hiệp ước. Đúng là một cơn địa chấn trong nền chính trị châu Âu!
Song song với sự kiện đó, vào tháng 11 năm 1917 Bộ trưởng Ngoại giao Anh Arthur James Balfour gởi một bức thư quan trọng đến Lionel Walter Rothschild, chủ tịch cộng đồng Do Thái ở Anh, bức thư sau đó được đặt tên là Công bố Balfour với nội dung chính như sau: “Chính phủ Hoàng gia coi trọng việc thành lập một quốc gia cho người Do Thái ở Palestine và sẽ cố gắng hết sức để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạt được mục tiêu đó, với điều kiện là không được làm gì để xâm phạm các quyền dân sự và tôn giáo của những người không phải là người Do Thái hiện sinh sống tại đó, cũng như không đặt lại vấn đề về quyền hạn và địa vị chính trị của người Do Thái đang sinh sống ở các quốc gia khác”. Với hiệp ước Sykes-Picot và Tuyên bố Balfour, tương lai của vùng đất rộng lớn Trung Đông đã được định hình, với những hệ lụy kéo dài tới bây giờ cho số phận của một số dân tộc.
Sự lật lọng của Anh dần dần được phơi bày với những thỏa thuận hoàn toàn mâu thuẫn không thể thỏa hiệp: Trước hết là những thỏa thuận với Ả Rập năm 1915 về một vùng Ả Rập độc lập rộng lớn; rồi thỏa thuận với Pháp năm 1916 để chia cắt vùng Trung Đông, mặc dù các biên giới được vẽ ra hoàn toàn mâu thuẫn với thỏa thuận Ả Rập trước đó một năm; rồi đến Công bố Balfour năm 1917 hỗ trợ việc thành lập quốc gia Do Thái ở Palestine, mặc dù trước đó đã có thỏa thuận với người Ả Rập về một quốc gia Palestine độc lập. Tất nhiên là Anh vô cùng bẽ mặt và khó ăn nói với các nước tham chiến khi hiệp ước Sykes-Picot bị Nga đưa ra công luận. Nhưng dù sao, chiến tranh chỉ còn một năm là chấm dứt và Anh cũng không quan tâm lắm, vì lúc ấy, chiến thắng đã đến trong tầm tay và vai trò của người Ả Rập trong chiến tranh không còn quan trọng nữa. Các cuộc hòa đàm sau đó, kể cả Hội Quốc Liên, đều dễ dàng được lèo lái bởi các đại cường, chủ yếu là Anh, Pháp với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ.
Trung Đông như chúng ta biết ngày nay là kết quả của các quyết định mà các cường quốc thực dân đưa ra trong và sau Thế chiến I. Sự thất bại và sụp đổ của Đế chế Ottoman là một cơn địa chấn đã phá hủy hoàn toàn trật tự cũ ở Trung Đông. Nhiều thỏa thuận giữa các đại cường từ năm 1915 đến 1922, trong đó quan trọng nhất là hiệp ước Sykes-Picot, được ký kết nhằm tạo ra một trật tự mới trong khoảng trống hậu-Ottoman. Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể, trật tự đó là một “hòa bình để chấm dứt mọi nền hòa bình”, như tựa đề tác phẩm nổi danh của nhà sử học người Mỹ David Fromkin vào thời điểm đó “A Peace to End All Peace – Creating the Modern Middle East 1914–1922”. Fromkin viết trong phần kết của lần tái bản năm 2009: Trước Thế chiến I, thế giới Ả Rập tồn tại trong trạng thái “còn ngái ngủ”. Tuy nhiên, với trật tự mới được tạo ra bởi các nước thắng trận, nó đã trở nên “cuồng nộ” với “tình trạng vô trật tự ngày càng tăng”[xem Hermann].
Trong bối cảnh đó, hiệp ước Sykes-Picot đã khởi động một quy trình phức tạp kéo dài 9 năm – với các thỏa thuận, tuyên bố và những hiệp ước khác – đã tạo ra các quốc gia Trung Đông hiện nay thoát khỏi cái xác Ottoman. Mặc dù các đường biên giới mới cuối cùng không hoàn toàn giống dự kiến ban đầu của Sykes-Picot, nhưng bản đồ của hai nhà ngoại giao này vẫn được xem là nguyên nhân gốc rễ của nhiều vấn đề phiền toái đã xảy ra kể từ đó cho đến nay [xem Wright]. Về phía các đại cường, hiệp ước Sykes-Picot là một bộ phận quan trọng của “ván bài vĩ đại”: Trong thế kỷ 19, câu hỏi “Trung Cận Đông” trở thành một vấn đề trọng yếu, làm thế nào để khi đế chế Ottoman tan rã, thế cân bằng của các đại cường châu Âu không bị ảnh hưởng, cũng không thể tạo thêm lợi thế cho Nga. Vì thế, việc phân chia các vùng đất của Ottoman, nhất là tại Trung Đông, phải đạt được mục tiêu là giữ thế cân bằng quyền lực ấy cho các đại cường châu Âu. Thật không may, sự tính toán hời hợt của Sykes và Picot không những đã phá hủy thế cân bằng quyền lực, mà các thuộc địa của Anh và Pháp ở khắp nơi trên thế giới kể từ thập niên 1950 cũng dần dần thoát khỏi vòng cai trị của các thế lực thực dân, trở thành những quốc gia độc lập.
Chính Anh và Pháp, với thiết kế Sykes-Picot rất phi lý từ ban đầu, đã để lại một vùng Trung Đông chưa bao giờ được yên ổn suốt hơn 100 năm. Một ví dụ điển hình là việc khai sinh nước Iraq hiện đại nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Anh, được thành lập trên cơ sở các tỉnh Baghdad, Mosul và Basra cũ của Ottoman. Đó là sự hợp nhất tùy tiện giữa các tỉnh có nhiều nhóm dân tộc và tôn giáo khác nhau sinh sống, và kết quả là sự không đồng nhất về văn hóa xã hội và sự khó khăn trong việc tạo nên bản sắc dân tộc thuần nhất. Đó chính là một trong những điểm yếu cơ bản của nước Iraq hiện đại: Người Ả Rập Marsh – chủ yếu là người Bedouin – sống dọc theo các tuyến đường thủy ở phía nam được gom lại trong một quốc gia với người Sunni thiểu số cầm quyền và người Shia có đa số dân cư, tất cả sống trên vùng đồng bằng chính của Iraq ngày nay [xem Dingley]. Cho nên, chúng ta không ngạc nhiên rằng, sau khi chế độ độc tài Sadam Hussein bị Hoa Kỳ và Anh truy quét, dù Hoa Kỳ đã đổ vào đó hơn 700 tỉ đô la trong tám năm, họ vẫn không mang lại an ninh cho Iraq để rồi phải quyết định rút quân năm 2011, để lại một quốc gia Iraq hỗn loạn hơn 12 năm nay vẫn chưa dứt.
Sykes-Picot đã trở thành nhãn hiệu của toàn một vùng rộng lớn, trong đó các đại cường từ bên ngoài đến để áp đặt ý chí của họ, vẽ lại các đường biên giới, thiết lập tầng lớp lãnh đạo địa phương bù nhìn, chia để trị người bản địa. Cho nên, khi thế lực các đại cường ấy sụp đổ, thì khoảng trống quyền lực ấy sẽ nhanh chóng dẫn đến hỗn loạn, xung đột triền miên.
Không ai đoán được tương lai của Trung Đông sẽ thế nào. Ngay cả những nhà quan sát chính trị có kinh nghiệm và những người quen thuộc với khu vực cũng không thể dự đoán được tình hình trong tương lai. Giám đốc Quỹ Nghiên cứu Khoa học và Chính trị, Volker Perthes viết trong cuốn sách năm 2015 của ông Sự kết thúc của Trung Đông như chúng ta biết: “Đơn giản là chúng ta không biết khu vực và từng quốc gia đang phát triển như thế nào. Điều chắc chắn là, sẽ có sự tái tổ chức các quốc gia và biên giới ở Cận Đông và Trung Đông. Tương tự như vậy, sẽ không còn Syria và Iraq được cai trị bởi các đảng đơn lẻ” [xem Schareika].
Nhưng ai là tác nhân chính tổ chức việc này và chuyện gì sẽ xảy ra thì không ai dám đoán trước. Hiện nay, có luận điểm nghi ngờ rằng, phương Tây đang âm thầm rút lui khỏi các nỗ lực để giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay ở Trung Đông. Xét một cách công bằng, với sự phụ thuộc lẫn nhau và sự can thiệp của các cường quốc châu Âu và Hoa Kỳ kể từ hiệp ước Sykes-Picot, chúng ta có quyền đòi hỏi rằng các quốc gia này phải nhận lãnh trách nhiệm. Nhưng đó chính xác là những gì họ đã không làm cho đến nay. Chiến lược của các đại cường phương Tây dường như là để đảm bảo các lợi ích một cách có chọn lọc và nếu thấy không đạt được gì thì không làm để khỏi bị cuốn vào xung đột. Trong mọi trường hợp, cho đến nay vẫn chưa có thông tin gì về chiến lược tái tổ chức bí mật, một loại “Sykes-Picot 2.0”. Từ những phi lý trong quá khứ để lại, có lẽ Hoa Kỳ, Anh, Pháp và nói chung phương Tây khó lòng tranh thủ ảnh hưởng đến các quốc gia Ả Rập, trừ khi có những lợi ích kinh tế đặc biệt. Dường như sân chơi Trung Đông đã được dọn sẵn cho Trung quốc và các cường quốc khu vực như Thổ Nhĩ Kỳ, Saudi Arabia, Iran và trong tương lai có thể thêm Ai Cập và Iraq.
Chung quanh chủ đề Sykes-Picot, hiện nay có ba vấn đề quan trọng – trong nhiều vấn đề khác – cần được khảo sát trong nền chính trị Trung Đông liên quan đến các đại cường thực dân:
1) Xung đột giữa Do Thái và Palestine.
2) Người Kurds trở thành vô tổ quốc trên chính quê hương của mình.
3) Hơn 100 năm hỗn loạn tại Trung Đông. Vì sao?
II. HIỆP ƯỚC SYKES-PICOT VÀ BI KỊCH PALESTINE
Nhiều nguyên nhân xung đột ở Trung Đông có thể được tìm thấy ở châu Âu. Cơ sở cho các tranh chấp được đặt ra bởi những lời hứa mâu thuẫn của người Anh với người Ả Rập và Do Thái trong Thế chiến I về quyền tự quyết ở Palestine, và bởi các địa vị khác nhau mà người bản địa được hưởng dưới Khế ước Ủy thác của Hội Quốc Liên trao cho Anh từ năm 1922 trở đi. Cuộc diệt chủng người Do Thái ở châu Âu trong nửa đầu thế kỷ 20 đã nâng cao sự ủng hộ quốc tế đối với một nhà nước Do Thái ở Palestine, theo đề xuất của Liên Hiệp Quốc vào năm 1947 với kế hoạch phân chia của họ [xem Asseburg].
Trước Thế chiến I, Palestine là một phần của Đế chế Ottoman với chủ yếu là người Ả Rập sinh sống và một số rất ít người Do Thái. Vùng đất này vốn không có giá trị chiến lược gì đáng kể, và Jerusalem cũng chỉ là một thành phố nhỏ chưa tới 10 ngàn dân, nhưng đó là đất Thánh của giáo dân thuộc ba tôn giáo lớn: Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Đi ngược về thế kỷ 19, sự gia tăng chủ nghĩa bài Do Thái và các cuộc tàn sát giáo dân ở châu Âu đã dẫn đến sự thành hình chủ nghĩa phục quốc Do Thái (Zionism) với nhà tư tưởng đi tiên phong là Theodor Herzl người gốc Hung. Ông chủ trương thành lập một nhà nước riêng, hoặc ở vùng Nam Mỹ hoặc lý tưởng là vùng Palestine với đất thánh Jerusalem. Theodor Herzl diễn giải sáng kiến này trong cuốn sách “Quốc gia Do Thái – Thử tìm lời giải cho vấn đề Do Thái” (Der Judenstaat – Versuch einer modernen Lösung der Judenfrage) được xuất bản năm 1896.
Trong lúc không ít người Do Thái, những người đã hoàn toàn hòa nhập vào xã hội Tây Âu, xem ý tưởng của Herzl là kỳ quặc hão huyền, thì ngược lại, tư tưởng của ông là động lực làm cho việc người Do Thái di cư đến Palestine ngày càng nhiều. Trong lúc đó, người Palestine và các quốc gia Ả Rập cũng có ý định thành lập quốc gia Palestine trên “vùng đất Thánh”, lấy Jerusalem làm thủ đô. Sau Thế chiến I, với sự gia tăng nhập cư của người Do Thái, xung đột bắt đầu xảy ra đồng thời với sự phát triển của các tổ chức tiền chính phủ và xây dựng nhà nước, cũng như sự cạnh tranh ngày càng tăng về đất đai, nguồn nước và tài nguyên giữa các nhóm dân tộc [xem Asseburg]. Để tranh thủ mọi lớp người đứng lên chống lại Ottoman, chính phủ Anh hứa hẹn mọi điều với mọi dân tộc khác nhau trong vùng: Hứa hẹn thành lập quốc gia Do Thái trên vùng Palestine, đồng thời hứa hẹn trả lại vùng Palestine độc lập cho người Ả Rập. Trong lúc đó ở sau hậu trường, Anh và Pháp đã bí mật chia nhau vùng ảnh hưởng qua hiệp ước Sykes-Picot, thực chất là muốn duy trì chính sách thuộc địa tại Trung Đông, chứ những lời hứa độc lập ở trên chỉ là chiến thuật ngoại giao mang tính chất lừa bịp.
Ở giai đoạn cuối của Thế chiến I, tức vào năm 1917/1918, quân đội Anh chiến thắng Ottoman ở khu vực Palestine. Họ duy trì sự có mặt của quân đội để chiếm đóng khu vực đó và sau chiến tranh, được Hội Quốc Liên chính thức hóa chủ quyền ủy thác vào tháng 7 năm 1922. Ngay sau đó, Anh thông báo rằng, tuyên bố Balfour sẽ có hiệu lực từ năm 1923. Điều đó có nghĩa là Anh ủng hộ việc thành lập một quốc gia Do Thái và cho phép người Do Thái di cư đến vùng đất Palestine, nơi mà người Do Thái chỉ chiếm chưa tới 10% tổng số dân lúc ấy. Cuộc “xung đột thế kỷ” giữa dân Palestine và Do Thái bắt đầu từ đây, mà báo chí thường gọi tắt là “xung đột Trung Đông” vì mức độ quan trọng của nó cho toàn vùng. Người Do Thái thì tranh đấu để việc thành lập quốc gia được thực hiện sớm. Người Ả Rập thì đòi hỏi chủ quyền của quốc gia Palestine. Trước đó trong lúc còn chiến tranh, để tranh thủ người Ả Rập đứng dậy chống lại đế chế Ottoman, Anh hứa hẹn sẽ thành lập nhà nước Palestine độc lập trên vùng đất Palestine. Đồng thời, để thuyết phục giáo dân Do Thái khắp nơi trong đế chế Ottoman, thí dụ vùng Balkans, cầm súng chống lại Ottoman, Anh và Pháp cũng tuyên truyền giải pháp thành lập quốc gia Do Thái ở Palestine. Những sáng kiến vô cùng mâu thuẫn.
Giờ đây sau khi chiến tranh chấm dứt, người Anh không những không trao trả chủ quyền cho người Palestine mà còn lợi dụng Hội Quốc Liên như một diễn đàn quốc tế có uy tín nhất lúc ấy để chính thức hóa vai trò bảo hộ của Anh tại Palestine kể từ 1922. Như vậy, Anh hiển nhiên duy trì sự chiếm đóng bằng quân đội và cảnh sát để có thể đàn áp các cuộc nổi dậy của người địa phương, Ả Rập cũng như Do Thái. Nhắc lại trước đây, Palestine được thỏa thuận là vùng quản lý của Anh, Pháp và Nga. Sau cách mạng tháng 10 năm 1917, Nga không còn vai trò gì nữa trong sự chia chác liên quan đến hiệp ước Sykes-Picot. Qua thỏa thuận năm 1918 giữa hai Nguyên thủ Clemenceau của Pháp và Lloyd George của Anh, sau đó được ghi nhận trong hòa ước San Remo năm 1920 và chính thức hóa bởi Hội Quốc Liên năm 1922, vùng Palestine được qui định thuộc quyền ủy thác của Anh. Như thế kể từ 1922 đến 1948, Anh phải chịu mọi trách nhiệm về những điều gì xảy ra ở Palestine.
Kể từ 1920, Anh không muốn nhớ điều gì đã hứa hẹn với người Do Thái và Palestine trong lúc còn chiến tranh, mà chỉ muốn duy trì hiện trạng để dùng Palestine làm vùng đệm thông thương từ các vùng khác ở Trung Đông để đi vào Địa Trung Hải, làm cầu nối thông qua kênh đào Suez để đi đến thuộc địa Ấn Độ. Đó chính là cơ sở cho các tranh chấp được đặt ra bởi những lời hứa mâu thuẫn của người Anh với người Ả Rập và người Do Thái trong Thế chiến thứ nhất về quyền tự quyết ở Palestine, và bởi các địa vị khác nhau mà người bản địa được hưởng dưới sự ủy thác của Anh từ năm 1922 trở đi. Cộng đồng Ả Rập cảm thấy bị người Anh lừa dối và phản bội. Sự bất mãn tập thể này đã đưa đến tâm lý thù ghét Anh, Pháp và nói rộng hơn thù ghét thế giới phương Tây trong cộng đồng Ả Rập bắt đầu từ đây và kéo dài hơn 100 năm sau vẫn không suy giảm.
Trong thời gian cai trị, Anh đứng trước một thế lưỡng nan: Một mặt, hiệp ước ủy thác do Hội Quốc Liên đưa ra đòi hỏi lực lượng ủy thác, tức là Anh ở Palestine, phải đưa dân chúng đến mức độ “trưởng thành chính trị cần thiết” để trao quyền độc lập cho họ. Mặt khác, Palestine là một vùng đệm quan trọng để tiếp cận Địa Trung Hải cần được duy trì ảnh hưởng bằng mọi giá. Cho nên, mặc dù mục tiêu rất rõ ràng và nhất quán, nhưng để đạt đến, Anh có lúc thì cần lấy lòng những người phục quốc Do Thái, lúc khác thì tìm sự ủng hộ của người Ả Rập để khẳng định lợi ích của mình, cho nên chính sách của Anh ở Palestine lúc đầu rất mâu thuẫn và khắc nghiệt. Palestine kể từ 1920 thường xuyên sôi động như một lò lửa. Không những là Anh phải đương đầu với các cuộc nổi dậy của cả người Palestine và người Do Thái, mà giữa người Do Thái và Palestine cũng thường xuyên xảy ra xung đột bạo lực. Giả dụ Anh trả lại độc lập cho Palestine từ 1920 thì chắc hẳn Trung Đông sẽ không hỗn loạn như hiện nay.
Sau cuộc bạo loạn của người Palestine năm 1929, chính phủ Anh thành lập ủy ban điều tra nguyên nhân sâu xa, cuối cùng phát hành “sách trắng Passfield”, trong đó qui định sự hạn chế số lượng người Do Thái nhập cư vào Palestine, cũng như hạn chế quyền mua đất của những người Do Thái giàu có. Người Do Thái nổi dậy phản đối, thêm vào đó là những đợt vận động mạnh mẽ trên bình diện quốc tế của những người phục quốc Do Thái vốn dĩ lúc ấy có ảnh hưởng rất lớn tại Anh và Hoa Kỳ. Vì thế, mặc dù sách trắng Passfield không được rút lại, nhưng chính phủ Anh âm thầm xếp nó vào hộc tủ, những điều khoản trong sách trắng trong thực tế cũng không hề được thi hành.
Tuy nhiên kể từ thập niên 1930, sự gia tăng đáng kể lượng người Do Thái trốn chạy Đức Quốc xã đến Palestine đã dẫn đến tình trạng bất ổn mới. Sau khi bắt đầu cuộc tẩy chay của người Ả Rập vào năm 1936, Anh thành lập “Ủy ban Peel” và sau đó công bố báo cáo của mình vào tháng 7 năm 1937. Báo cáo này lần đầu tiên nói về sự phân chia vùng Palestine thành hai quốc gia, Do Thái và Ả Rập. Đối với những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, sau những cuộc thảo luận sôi nổi, Đại hội Thế giới của họ đã chấp nhận đề xuất thành lập hai quốc gia, nhưng người Ả Rập ở Palestine thì bác bỏ nó ngay lập tức, vì như thế họ phải chia đất và chủ quyền cho một bộ phận thiểu số mới nhập cư sau này. Điều này dẫn đến bạo lực gia tăng, nhiều nhà lãnh đạo Palestine bị bắt giữ và người lãnh đạo tối cao của Palestine Mohammed Amin al-Husaini phải bỏ trốn ra nước ngoài [xem Philipp]. Tuy kế hoạch chia đất của Ủy ban Peel không được thực hiện, nhưng ý tưởng này vô tình là cơ sở cho một giải pháp 10 năm sau dưới ảnh hưởng của một đại cường khác.
Phân chia lãnh thổ theo kế hoạch của Ủy ban Peel
Năm 1939, sau ba năm bất ổn của Palestine và trước thềm Thế chiến II, chính phủ Anh đã xuất bản một sách trắng khác. Nó quy định rằng trong vòng 10 năm, một nhà nước Palestine độc lập sẽ được thành lập, trong đó người Ả Rập và người Do Thái sẽ được đại diện bình đẳng và tham gia vào chính phủ. Dòng người nhập cư Do Thái nên được giới hạn ở mức 75.000 người trong 5 năm tới. Những người nhập cư bất hợp pháp sẽ bị trừ vào khoản này. Việc bán đất cho những người phục quốc Do Thái giàu có cần bị hạn chế. Cả phía Do Thái và Ả Rập đều bác bỏ sách trắng ấy.
Việc quản lý vùng Palestine theo khế ước ủy thác năm 1922 đã làm cho Anh kiệt quệ về sức lực cũng như tài chính. Quyền lực do Hội Quốc Liên ủy thác cũng không giúp cho Anh đạt được lợi ích gì trong suốt hơn 20 năm, và Anh bất lực trong việc tìm kiếm một giải pháp có thể được hai bên chấp thuận để mang lại hòa bình cho vùng Palestine. Việc xây dựng sự thống nhất về chính trị và lãnh thổ của Palestine chưa có tiền lệ lịch sử nào để người ta có thể tham khảo, do đó, câu hỏi về bản sắc dân tộc và lòng trung thành chính trị hoàn toàn bỏ ngỏ, dẫn đến nhiều chia rẽ và xung đột. Có thể nói, sự chiếm đóng vùng Palestine hơn 20 năm sau chiến tranh là một sai lầm nghiêm trọng của Anh về chính sách đối ngoại, không những làm suy yếu chính mình mà còn gây thảm họa cho Palestine suốt 100 năm. Sau Thế chiến II, nước Anh càng trở nên suy yếu hơn, Palestine không còn là vùng đất đầy hứa hẹn cần phải giữ bằng mọi giá, và nhất là khi Ấn Độ được độc lập vào năm 1947, thì “Xa lộ Hoàng gia” – tên gọi của con đường huyết mạch từ Trung Đông sang kênh đào Suez để đến Ấn Độ – cũng mất chức năng của nó. Vì thế, chính phủ Anh quyết định từ bỏ dự án Palestine và vào tháng 2 năm 1947, Anh trao lại quyền ủy thác cho Liên Hiệp Quốc, một tổ chức mới được thành lập sau Thế chiến II, lúc ấy gồm 56 nước thành viên, trong đó chỉ có 6 quốc gia Ả Rập.
Đến đây xuất hiện một tác nhân mới với quyền lực tuyệt đối của một đại cường đã từng lãnh đạo thế giới chống lại Đức Quốc Xã dẫn đến việc chấm dứt Thế chiến II vào năm 1945. Đó là Hoa Kỳ. Nếu Trung Đông trước 1945 được định hình bởi Sykes-Picot của Anh và Pháp, thì mọi diễn biến lịch sử Trung Đông sau 1945 không nằm ngoài toan tính của Hoa Kỳ. Về vấn đề Palestine, Tổng thống Harry S. Truman đứng trước một quyết định tế nhị. Một mặt, về khía cạnh lo-gic và đạo đức thì Hoa Kỳ phải ủng hộ những đòi hỏi của người Ả Rập ở Palestine vốn dĩ từ ngàn xưa là cư dân truyền thống của khu vực đó. Nhưng mặt khác, về quyền lợi chính trị thì Do Thái mang lại nhiều lợi ích hơn. Đứng trước cuộc bầu cử Tổng thống vào năm sau, Truman phải quyết định phục vụ cho giới cử tri nào. Lúc đó, người Ả Rập tại Hoa Kỳ chưa tới 100 ngàn người và không có một vai trò xã hội nào đáng kể, trong lúc cộng đồng Do Thái nhập cư vào Hoa Kỳ đã lên đến 4,5 triệu người chủ yếu đến từ các nước châu Âu, trong đó có rất nhiều khoa học gia tiếng tăm (thí dụ Albert Einstein), chính trị gia xuất sắc (thí dụ Henry Kissinger), triết gia, văn sĩ hàng đầu (thí dụ Hannah Arendt, Max Horkheimer, Erich Fromm …), doanh nhân thành đạt và nhiều người chủ ngân hàng. Con số 4,5 triệu lá phiếu cử tri có thể mang lại quyết định cho cuộc bầu cử, cho nên Truman chọn lựa ngã về Do Thái và làm mọi cách để lấy lòng cử tri Do Thái. Đó không phải là quyết định nhất thời chỉ có giá trị một lần, mà nó còn định hướng chính sách Trung Đông của Hoa Kỳ suốt một thời gian dài cho đến ngày nay, bất kể vị Tổng thống thuộc đảng Dân chủ hay Cộng hòa. Quyết định này chính là bước đầu làm tăng tốc quá trình suy tàn của dân tộc Palestine và gắn liền với nó là những xung đột vũ trang liên tục mà Trung Đông và cả thế giới phải quan tâm.
Vào tháng 5 năm 1947, Liên Hiệp Quốc thành lập Ủy ban đặc biệt (UNSCOP – United Nations Special Committee on Palestine) gồm 11 nước thành viên để tìm giải pháp cho vùng Palestine. Giải pháp thiểu số khuyến cáo việc thành lập một quốc gia liên bang (được ủng hộ bởi ba nước: Ấn Độ, Ba Tư và Nam Tư) trong lúc giải pháp đa số khuyến cáo nên thành lập hai quốc gia độc lập (Canada, Guatemala, Hà Lan, Peru, Thụy Điển, Tiệp Khắc, Uruguay, Úc). Theo đề nghị của UNSCOP, ngày 29 tháng 11 năm 1947, đại hội đồng Liên Hiệp Quốc quyết định chia Palestine làm hai, một quốc gia Ả Rập và một quốc gia Do Thái nằm trên vùng Palestine hiện đang được Anh cai trị. Những người Palestine sống ở đó, mặc dù là những người sở hữu hơn 90% đất đai nhưng đã không được phỏng vấn. UNSCOP phân chia đất đai như sau: Jerusalem được đặt dưới sự quản lý quốc tế. Đất đai được chia cho gần 600.000 người Do Thái chiếm 56% diện tích toàn vùng, trong lúc 1,3 triệu người Palestine chiếm khoảng 43% tổng diện tích của khu vực, kể cả những vùng sa mạc Negev cằn cỗi. Xin xem bản đồ bên dưới về các khu định cư của hai giống dân Ả Rập và Do Thái trước và sau khi bị chia cắt, tức ở mốc thời gian 1947.
Bản đồ phân chia của Liên Hiệp Quốc (hình bên phải, sau 1947).
Khu vực dân cư Do Thái trong vùng Palestine (hình bên trái, trước 1947)
Nhìn vào bản đồ phân chia đất, chúng ta cũng thấy sự bất hợp lý của giải pháp. Trước hết về dân số, Palestine có 2/3 tổng số dân định cư truyền thống mà chỉ được 43% đất đai, trong lúc người nhập cư Do Thái sau này chỉ có 1/3 tổng số dân mà được hưởng 56% đất. Hơn nữa, Do Thái chiếm vùng ven biển tiếp cận đến Địa Trung Hải với nhiều hải cảng và vùng đất màu mỡ ở phía Bắc. Sự bất hợp lý này có nguyên do phần nào ở 8 nước thành viên lúc lập kế hoạch chia đất. Đó là những nước đồng minh trong Thế chiến II đã hàm ơn Hoa Kỳ về sự hỗ trợ tài chính và vũ khí. Ngoài ra Hoa Kỳ cũng đóng vai trò rất quan trọng trong kế hoạch này. Với sức ép của giới vận động hành lang Do Thái ở Hoa Kỳ, Truman phải chuyển tiếp sức ép này đến UNSCOP để đưa ra giải pháp có lợi cho Do Thái, và tất nhiên UNSCOP cũng phải thực hiện dưới sức ép của Hoa Kỳ. Toan tính chính trị của Tổng thống Truman đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa hận thù của người Ả Rập đối với Hoa Kỳ và với cả phương Tây. Đó cũng chính là nguồn gốc của những xung đột không ngừng sau này ở Palestine và cả vùng Trung Đông.
Bản đồ phân chia được 33 phiếu thuận trong đó có Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp; 13 phiếu chống trong đó có 6 nước Ả Rập trong Liên Hiệp Quốc; và 10 phiếu trắng. Quyết định này trở nên hiệu lực khi nước Anh chính thức trả lại chủ quyền bảo hộ cho Liên Hiệp Quốc ngày 15.5.1948 và rút quân khỏi khu vực. Trong ngày hôm đó, David Ben Gurion tuyên bố quốc gia Israel độc lập được thành lập. Hoa Kỳ và Nga thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel. Cực kỳ bất mãn với những sự kiện đó, ngày hôm sau, sáu nước Ả Rập là Ai Cập, Jordan, Syria, Lebanon, Iraq và Saudi Arabia xua quân vào vùng Palestine và khai chiến với Israel. Đây là cuộc chiến tranh qui ước đầu tiên giữa Ả Rập và Do Thái trong cuộc tranh chấp vùng đất Palestine.
Israel đã thắng oanh liệt trận chiến năm 1948. Với sự dàn xếp của Liên Hiệp Quốc, hai bên đồng ý ngưng chiến vào năm 1949, nhờ thế Do Thái có thể bành trướng lãnh thổ từ 14.100 cây số vuông lên 20.700. Khu vực này trở thành lãnh thổ cốt lõi của Israel cho đến ngày nay, trong lúc Palestine chỉ còn lại hơn 6.000 cây số vuông. Qua cuộc chiến này, 750.000 người Ả Rập đã bị trục xuất hoặc rời khỏi làng mạc của họ. Những người khác ở lại và trở thành công dân Israel gốc Ả Rập. Những người tị nạn Palestine không được các quốc gia Ả Rập láng giềng cho nhập cư, mà chỉ có quy chế tạm cư vĩnh viễn trong các trại tị nạn. 39% người tị nạn ở lại vùng phía Tây do Jordan kiểm soát, 26% trốn sang Dải Gaza do Ai Cập kiểm soát và 14% di cư đến Lebanon. Israel không cho phép người tị nạn quay trở lại. Ở trong những ngôi làng không bị phá hủy, người Do Thái được đưa đến để chiếm đất và định cư vĩnh viễn [xem Asseburg].
Xung đột ở Trung Đông giữa Ả Rập và Do Thái xảy ra dồn dập sau đó đều có nguyên do trực tiếp và gián tiếp đến Palestine. Trước hết là cuộc khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956, sau đó là cuộc chiến 6 ngày năm 1967 với hậu quả bi thảm cho Palestine: Israel chiếm thêm đất và tiến vào đất Thánh Jerusalem, biến vùng phía tây thành phố thành vùng quản lý của Israel. Trong vòng 20 năm từ 1948 đến năm 1967, Palestine mất vào tay người Do Thái hơn một nửa đất đai, nhất là vùng đất Thánh Jerusalem đã bị Israel chiếm một nửa. Kể từ đây, diện tích đất đai của Israel chiếm 78%. Tất cả vùng đất còn lại của Palestine đều bị Israel kiểm soát. Ở đó, Israel thiết lập những khu vực định cư mới cho người Israel di dân đến ngày càng nhiều, cho nên hiện nay, số đất đai thực sự của người Palestine chỉ còn 15% trên vùng đất truyền thống của họ.
Bản đồ khu dân cư Palestine (màu xanh) từ 1946 đến nay (2020)
Những cuộc chiến tiếp theo đó không mang lại thành quả nào cho Palestine: cuộc chiến Jom-Pikur năm 1973, cuộc chiến Lebanon năm 1982, cuộc tổng nổi dậy của người dân Palestine năm 1982, còn được gọi là Intifada lần thứ nhất, không mang lại kết quả nào. Palestine được các nước Ả Rập ủng hộ tinh thần, vật chất, vũ khí đồng thời được Liên Xô hỗ trợ trên các diễn đàn quốc tế; trong lúc Israel được Hoa Kỳ và các nước phương Tây đứng sau lưng để cung cấp vũ khí hiện đại và bênh vực Israel trong các tổ chức quốc tế. Liên Hiệp Quốc đã nhiều lần lên án Israel và đòi hỏi Israel phải trả lại các vùng đất đã chiếm nhưng mỗi lần như thế đều bị Hoa Kỳ sử dụng quyền phủ quyết để vô hiệu hóa các quyết định. Mọi cố gắng của khối Ả Rập để đưa Palestine làm thành viên của Liên Hiệp Quốc cũng đều bị Hoa Kỳ phủ quyết. Trong bối cảnh đó, cuộc đấu tranh của người Palestine chống lại Israel là một cuộc đấu không cân sức, cho nên mãi đến nay, người Palestine vẫn không có quyền tự chủ trên chính quê hương truyền thống của mình.
Với chiến lược bành trướng lãnh thổ bằng chiến thuật tằm ăn dâu, Israel lấn dần đất đai sau mỗi cuộc chiến tranh. Họ cho phép công dân Israel xây dựng các khu định cư mới trong vùng đất của Palestine và đưa quân đội đến để bảo vệ. Bằng cách đó, không gian sống của người Palestine ngày càng bị thu hẹp. Hơn thế nữa, Israel còn phong tỏa đường biên giới để cô lập hóa Palestine không thể thông thương ra bên ngoài, làm suy yếu nền kinh tế bằng biện pháp cấm Palestine xuất nhập khẩu, mọi giao dịch phải thông qua lãnh thổ và chính quyền Israel. Nguồn sống người Palestine hoàn toàn phụ thuộc vào Israel. Ngoài ra kể từ 1967, Israel không công nhận giải pháp hai quốc gia như Liên Hiệp Quốc đề nghị năm 1947, mặc dù mọi nước, kể cả Hoa Kỳ, luôn luôn kêu gọi việc thực hiện giải pháp hai quốc gia trên vùng đất đó. Palestine cho đến nay chỉ được Israel thừa nhận là vùng tự trị chứ không phải là một quốc gia độc lập.
Trong thực tế kể từ 1967, Palestine là những người vô tổ quốc trên chính quê hương của mình, chịu sự cai trị vô cùng hà khắc của Israel. Bên trong lãnh thổ, người Palestine sống như trong một nhà tù khổng lồ, thường trực đối diện với bạo lực và hoàn toàn bó tay khi Israel lấn chiếm đất đai để xây dựng thêm khu vực định cư người Do Thái. Ở các nước Ả Rập chung quanh, người Palestine tị nạn vẫn chưa được hưởng quyền công dân, vẫn sống tạm bợ trong các khu vực tập trung thiếu phương tiện sinh sống, nói gì tới việc phát triển văn hóa. Hơn 60 năm, tức khoảng ba thế hệ trẻ em người Palestine sống thường trực với chiến tranh, với điều kiện khắc nghiệt về vật chất, bạo lực về tinh thần, bản sắc dân tộc cũng ngày càng mờ nhạt. Chấn thương tâm lý của ba thế hệ liên tục sẽ gây những hậu quả khó lường cho cả dân tộc, nếu quả thật vẫn còn một dân tộc Palestine sẽ tồn tại mãi mãi như chúng ta hy vọng. Thật khó để tưởng tượng được rằng, sau hơn 60 năm sống trong bạo lực từ lúc còn trẻ thơ, con người Palestine trong tương lai có thể phát triển bình thường như mọi quốc gia lành mạnh khác.
Thảm kịch Palestine là di sản trực tiếp của chính sách thuộc địa do Sykes và Picot để lại, được tiếp nối bởi toan tính địa chính trị của Hoa Kỳ ở Trung Đông sau Thế chiến II và sau cùng là Israel làm kẻ thừa hành cộng thêm mộng bành trướng đất đai và quyết tâm tiêu diệt người Palestine. Vì thế, tình hình vẫn tiếp tục hỗn loạn với bạo lực và chiến tranh. Nếu Israel vẫn không chấp nhận giải pháp hai quốc gia cùng tồn tại song song, bạo lực sẽ tiếp tục và mọi bên, kể cả Israel, còn phải đối đầu với bất ổn chính trị làm cản trở công cuộc phát triển, hoặc là Israel phải thẳng tay diệt chủng dân tộc Palestine. Có Hoa Kỳ và thế giới phương Tây chống lưng, đó là kịch bản rất có thể xảy ra. Dân tộc Palestine có còn tồn tại sau 50 năm nữa? Không ai có thể trả lời được.
Trong phần sau, chúng ta sẽ đề cập đến số phận của dân tộc Kurds ở một mức độ bi thảm hơn so với người Palestine. Tất cả đều liên quan mật thiết đến những “đường vẽ trên cát” mà Sykes và Picot đã thỏa thuận vào năm 1916.
./.
Tài liệu tham khảo
- Asseburg, Muriel: Der Nahostkonflikt (Xung đột ở Trung Đông). Landeszentrale für Politische Bildung – Baden Würtemberg (Trung tâm giáo dục chính trị bang Baden-Würtemberg).
- Avalon Project (Yale University of Law): The Sykes-Picot agreement of 1916 (Toàn văn bản Hiệp ước Sykes-Picot năm 1916).
- Avalon Project (Yale University of Law): United Nations General Assembly Resolution 181 (Nghị quyết số 181 của Liên Hiệp Quốc về việc phân chia Palestine thành hai quốc gia).
- BBC Monitoring: Sykes-Picot marked with bitterness and regret by Arab media (Truyền thông Ả Rập ghi nhận Sykes-Picot với sự cay đắng và ân hận). BBC 2016.
- BPB Editor: Vor 100 Jahren: Großbritannien und Frankreich vereinbaren das Sykes-Picot-Abkommen (Cách đây 100 năm: Anh và Pháp ký hiệp ước Sykes-Picot). Bundeszentrale für Politische Bildung, 2016.
- Dingley, James: Kurdistan zwischen Autonomie und Selbstveranwortung (Kurdistan giữa tự trị và tự lãnh trách nhiệm). APuZ – Aus Politik und Zeitgeschichte.
- Encyclopaedia Britannica: Sykes-Picot Agreement 1916.
- Hermann, Rainer: Wurzel des Nahostkonflikts (Nguồn gốc các xung đột ở Trung Đông). Frankfurter Allgemeine Zeitung FAZ, 2016.
- Muir, Jim: Sykes-Picot – The map that spawned a century of resentment (Bản đồ sản sinh một thế kỷ hận thù). BBC 2016.
- Ottaway, Marina: Learning from Sykes-Picot (Bài học từ Hiệp ước Sykes-Picot). Publication of Wilson Center, Washington DC – Middle East Program 2015.
- Philipp, Thomas: Die Palästinensische Gesellschaft zu Zeiten des Britischen Mandats (Xã hội người Palestine trong thời kỳ Anh cai trị ủy thác). BPB – Bundeszentrale für Politische Bildung.
- Sahin, Memo: Ein Grosskurdistan aus den Trümmern Iraks und Seriens? (Một đại quốc gia Kurdistan từ đống tro tàn của Irak và Seria?). Network of the German Peace Movement.
- Schareika, Nora: Wie Willkür zum Dauerzustand wurde (Sự tùy tiến biến thành tình trạng lâu dài như thế nào). N-TV.
- Wright, Robin: How the Curse of Sykes-Picot Still Haunts the Middle East (Tại sao Hiệp ước Sykes-Picot vẫn ám ảnh Trung Đông). The Newyorker 2016.
III. HIỆP ƯỚC SYKES- PICOT VÀ 100 NĂM HỖN LOẠN Ở TRUNG ĐÔNG
ự hỗn loạn suốt một thế kỷ ở Trung Đông là hậu quả của Sykes-Picot cho đến hiện tại. Hoa Kỳ, Nga và ở một mức độ nào đó là Liên minh châu Âu là những cường quốc quốc tế mới đã thay thế Anh và Pháp trong việc cố gắng định hình khu vực Trung Đông. Họ có những toan tính riêng liên quan đến cách thức khu vực này nên phát triển như thế nào. Họ đã đầu tư mạng sống và tiền bạc để hiện thực hóa những toan tính đó. Ngoài ra, những cường quốc lớn trong khu vực như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và Saudi Arabia lại có những kế hoạch riêng cho tương lai của khu vực. Nhưng một lần nữa, chính sự thay đổi không ngừng của các chủ thể địa phương, các tác nhân nhà nước và phi-nhà-nước sẽ định hình kết quả cuối cùng cho khu vực [xem Ottaway].
Khi đế chế Ottoman kêu gọi “thánh chiến” chống lại phe Triple Entente (Anh, Pháp, Nga) vào tháng 11 năm 1914, Vương quốc Anh đã cố gắng thuyết phục người Ả Rập nổi dậy chống lại Ottoman, nhất là sau khi Anh thua trận ở Gallipoli. Bắt đầu từ năm 1915, Cao ủy Anh tại Ai Cập, Sir Henry McMahon và Tiểu Vương Husayn của Mecca đã đàm phán về các điều khoản của một cuộc nổi dậy của người Ả Rập chống lại sự cai trị của Ottoman. Để đổi lấy cho hoạt động quân sự này, Anh cam kết hỗ trợ việc thành lập một quốc gia Ả Rập độc lập sau khi chiến tranh chấm dứt. Cả hai bên đều nhận thấy thế hợp tác cộng sinh để đạt mục đích riêng của mỗi bên. Tuy nhiên vào thời điểm đó, người Ả Rập không hề biết rằng Pháp và Anh đã thực hiện các thỏa thuận khác trong khuôn khổ Hiệp ước Sykes-Picot [xem BPB]. Chính vì những mâu thuẫn rõ rệt về nội dung hai cuộc thương lượng song song nói trên, cho nên Sykes và Picot đã phải đàm phán và ký kết hiệp ước trong bí mật.
Sự sắp xếp bí mật giữa Anh, Pháp và Nga ngay từ đầu đã mâu thuẫn với những cam kết mà người Anh đã hứa hẹn cho vương triều Hashemite Ḥusayn Ibn Ali, Tiểu vương vùng Mecca, trong suốt thời gian thương thảo và thư từ qua lại giữa hai bên trong năm 1915. Dựa trên sự thỏa thuận rằng người Ả Rập cuối cùng sẽ hưởng quyền độc lập, Ḥusayn đã tổ chức người Ả Rập ở Hejaz nổi dậy chống lại lại Ottoman kể từ giữa năm 1916 [xem Encyclopedia]. Trong bối cảnh đó, hiệp ước Sykes-Picot là một công cụ của Anh và Pháp mang tính chất đánh lừa người Ả Rập. Những hứa hẹn về độc lập trong lúc còn chiến tranh chỉ là lời hứa suông có tính chiến thuật ngắn hạn nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi lâu dài của Anh và Pháp ở khu vực Trung Đông.
Khi Ngoại trưởng Balfour báo cáo về hiệp ước Sykes-Picot cho Edward House, cố vấn chính sách đối ngoại của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson, thì House chỉ phê bình trong nội bộ: “Mọi chuyện được thiết kế thật tồi tệ và tôi đã nói với Balfour như thế. Đây là cách họ tạo ra lò ấp trứng cho một cuộc chiến trong tương lai”. Thực vậy, nhà sử học người Anh James Barr gọi kế hoạch Sykes-Picot là một “bài tập hàn lâm” chứ không phải là một bản thiết kế cẩn thận của một chính phủ sáng suốt. Khi đế chế Ottoman tan rã, các cường quốc châu Âu trở thành thế lực chiếm đóng và tất nhiên giữ trách nhiệm vùng Trung Đông. Nói cách khác, “người Thiên Chúa giáo sẽ cai trị cộng đồng Hồi giáo”. Những công chức thuộc địa vốn dĩ không hiểu gì về văn hóa địa phương, đã vẽ lên những đường biên giới để phân chia quyền lợi của các cường quốc thực dân mà không hể để ý đến yếu tố chủng tộc, văn hóa, bản sắc của cư dân địa phương; cứ thế, những quốc gia mới mẻ được thành hình một cách tùy tiện, như Syria, Iraq, Jordan [xem Hermann].
Thực sự Anh và Pháp chưa hiểu văn hóa bộ tộc ở địa phương, mà lại không chịu học hinh nghiệm của đế chế Ottoman vốn đã cai trị thành công khu vực này suốt bảy thế kỷ. Dưới sự thống trị của Ottoman, vùng đất này tương đối sống trong hòa bình. Đế chế Ottoman đã chia khu vực thành những vùng nhỏ có dân cư đồng nhất để ngăn ngừa xung đột vốn dĩ có thể xảy ra khi nhiều nhóm dân tộc khác nhau được gộp chung vào nhau. Ngoài ra, vùng dân cư càng nhỏ thì càng dễ quản lý. Các cường quốc thực dân châu Âu không hiểu nguyên lý đó: Họ đã gộp ba tỉnh của Ottoman (Baghdad, Mosul und Basra) để tạo nên một quốc gia mà họ đặt tên là Iraq với ba giống dân khác nhau Ả Rập, Kurds và Thổ khó lòng đoàn kết, thêm vào đó là xung khắc tôn giáo giữa phái Sunni và Shia, mỗi bên chiếm gần một nửa cư dân Hồi giáo. Nước Syria thì được tạo thành bởi ba tỉnh khác mà trong thực tế, một quốc gia như thế khó lòng trở thành hiện thực. Để giữ cho những quốc gia nhân tạo đó được sống trong hòa bình, người ta cần trước hết là quân đội và cảnh sát của các thế lực thực dân bảo hộ và sau đó là những chế độ độc tài cai trị bằng bàn tay thép. Khi các sức mạnh đó không còn tồn tại, cả vùng đất rộng lớn sẽ rơi vào chiến tranh và hỗn loạn [xem Hermann].
Đó là trường hợp chúng ta có thể thấy rõ ở Iraq và Syria, cho đến thế kỷ 21 vẫn còn hỗn loạn, chia rẽ, xung khắc tôn giáo, nội chiến. Nguyên do chính vì sự thiếu đồng nhất về dân tộc tính trong quốc gia, tạo nên xung khắc nội bộ mà để áp chế nó, họ cần một nhà nước chuyên chế với một thủ lĩnh cứng rắn, cai trị đất nước bằng bạo lực. Suốt một thế kỷ dài, phản ứng chua chát đối với quá trình thực hiện hiệp ước Sykes-Picot thể hiện qua những ý thức hệ chính trị cực đoan dần dần thành hình trong các quốc gia, thí dụ như học thuyết Nasser ở Ai Cập, học thuyết Baath ở Iraq và Syria, tất cả đều đặt trên nền tảng của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi có mặt khắp nơi trên vùng đất Trung Đông. Hậu quả tai hại nhất là từ đó thành hình phong trào phục hồi Nhà nước Hồi giáo. Chúng ta còn nhớ năm 2014, khi Nhà nước Hồi giáo muốn xóa biên giới giữa Syria và Iraq, họ tuyên bố sẽ xóa bỏ tất cả biên giới các nước Trung Đông và khai tử hiệp ước Sykes-Picot. Sau khi càn quét những vùng đất rộng lớn ở Syria và Iraq, thủ lĩnh Abu Bakr al-Baghdadi của họ tuyến bố rằng, “sự bành trướng này sẽ không dừng lại cho đến lúc chúng ta đóng chiếc đinh cuối cùng lên chiếc quan tài của mưu đồ Sykes-Picot” [xem Wright]. Bất kể số phận của Nhà nước Hồi giáo hiên nay như thế nào, tương lai của hai nước Syria và Iraq dường như rất vô định, khó ai đoán được tương lai của họ sẽ như thế nào.
Việc Sykes và Picot tùy tiện vẽ lại các đường biên giới tưởng tượng đưa đến hậu quả là, khi sau này trở thành những quốc gia độc lập, không có một quốc gia nào có dân cư đồng nhất về văn hóa, bất kể biên giới được vẽ lại thế nào sau chiến tranh. Trong lịch sử thực dân, Anh và Pháp chỉ có kinh nghiệm về chuyện chiếm đất, kiểm soát người bản xứ, đàn áp các cuộc nổi dậy và quản lý thuộc địa thế nào để mang lại lợi ích cho mẫu quốc, chứ chưa hề có kinh nghiệm về việc thành lập quốc gia mới, huống hồ không chỉ là một mà hàng loạt quốc gia mới cần được thành lập ở Trung Đông sau Thế chiến I. Anh và Pháp có đủ sức mạnh để đàn áp phe phản kháng và giữ quyền kiểm soát, nhưng không có thời gian hoặc năng lực để xây dựng một hệ thống chính trị hoạt động tốt với các định chế cần thiết, và kiến tạo một bản sắc chung bên trong các biên giới [xem Ottaway]. Vì thế, các quốc gia được thành lập vẫn trống rỗng và bất lực, trong thời kỳ còn bị bảo hộ, cũng như sau này khi đã độc lập một thời gian dài. Bất ổn, nổi loạn, đảo chánh quân đội là chuyện xảy ra thường kỳ. Thí dụ, chỉ riêng tại Iraq trong năm 1941, có năm cuộc đảo chánh. Tóm lại, Trung Đông vẫn tiếp tục hỗn loạn, nhất là khi chiến tranh lạnh bắt đầu từ 1948, sự tranh giành ảnh hưởng tại đây giữa hai ý thức hệ càng làm cho khu vực này hỗn loạn hơn. Trung Đông trở thành bãi chiến trường thường trực suốt một thế kỷ và chắc hẳn còn tiếp tục kéo dài.
Bất chấp thỏa thuận Sykes-Picot, ban đầu, người Anh vẫn tỏ ra ủng hộ quyền tự quyết của người Ả Rập, giúp con trai của Ḥusayn là Fayṣal và lực lượng của ông ta tiến vào Syria (vùng của Pháp) vào năm 1918 và thành lập chính phủ ở Damascus. Tuy nhiên, tại Hội nghị San Remo vào tháng 4 năm 1920, các cường quốc Entente đã đồng ý phân chia quyền quản lý khu vực thành các nhiệm vụ riêng biệt, theo các đường lối tương tự như những đường lối đã được thỏa thuận trong Hiệp ước Sykes-Picot. Biên giới của các lãnh thổ này chia cắt các vùng đất Ả Rập và cuối cùng dẫn đến các biên giới hiện đại của Iraq, Israel và các lãnh thổ Palestine, Jordan, Lebanon và Syria, bất chấp tình trạng phân hóa về chủng tộc và giáo phái của các nhóm dân cư. Các cuộc xung đột đẫm máu hiện nay ở Syria và Iraq chứng tỏ rằng, sự chia cắt tùy tiện vùng Trung Đông rộng lớn dựa vào thiết kế của Sykes-Picot và hội nghị San Remo chỉ dẫn đến xung đột không bao giờ dứt.
Sykes và Picot cố gắng vẽ lại các đường biên giới của khu vực Ả Rập, nhưng hoàn toàn bất lực trong việc định hình các nhà nước trong biên giới đó có khả năng đoàn kết người dân. Ngoài ra, hai nhà ngoại giao này không hề cứu xét đến những yếu tố phức tạp của một vùng rộng lớn, nơi nhiều dân tộc, bộ tộc và giáo phái khác nhau đã định cư ở đó lâu đời, với những phong tục tập quán, văn hóa và tôn giáo khác nhau, phần nào là thù địch nhau. Trong lúc đàm phán hiệp định, Anh và Pháp đã bỏ qua nhiều yếu tố, không chỉ phớt lờ vấn đề về quyền tự quyết của người Ả Rập trong lãnh thổ do họ định đoạt, mà còn thiếu tầm nhìn về phản ứng của họ có thể xảy ra.
Chủ quan tin chắc rằng người Ả Rập chưa đủ điều kiện để tự cai trị, hai thế lực thuộc địa châu Âu này dường như cũng tin rằng người Ả Rập sẽ giữ thế thụ động. Thực tế thì ngược lại, cách tiếp cận kiêu ngạo của hai cường quốc châu Âu đã khuấy động chủ nghĩa dân tộc trong tâm lý người Ả Rập có cơ hội hình thành, phát triển sâu rộng và lâu dài. Song song với sự suy yếu của đế chế Ottoman, những người theo chủ nghĩa dân tộc phát triển đặc biệt mạnh mẽ ở Ai Cập, Syria, Iraq và những vùng khác [xem Ottaway]. Đấy là chưa kể những người theo chủ nghĩa dân tộc Thổ dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal Ataturk đã tranh đấu ngoan cường chống lại liên minh Triple Entente để cuối cùng giữ được quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ với ranh giới cho đến hôm nay, dù diện tích quốc gia bị thu hẹp chỉ còn 1/5 so với tiền thân Ottoman trước đó.
Nói cách khác, những tác nhân địa phương không những không thụ động, mà còn tích cực hoạt động làm cho những toan tính ban đầu của Sykes và Picot về một trật tự hậu-Ottoman khó lòng được thực hiện tốt đẹp. Điều phiền toái hơn là chủ nghĩa dân tộc Hồi giáo có cơ hội phát triển mạnh mẽ, để lại nhiều tai họa cho đến thế kỷ 21, nhất là điều mà ngày nay chúng ta gọi là Nhà nước Hồi giáo khủng bố. Khi Hoa Kỳ vươn dậy mạnh mẽ ở giai đoạn cuối của Thế chiến I, các cuộc hòa đàm sau chiến tranh đã diễn tiến khác hẳn toan tính của Anh và Pháp trước đó, và chính trị Trung Đông cũng trở nên phức tạp hơn nhiều.
Nhìn theo cách này hay cách khác, Trung Đông sau Thế chiến I đã trở thành thuộc địa và vùng bảo hộ chủ yếu của Anh, Pháp và thêm vài cường quốc khác. Hậu quả tất yếu là các cuộc nổi dậy của cư dân bản địa đứng lên đòi độc lập. Anh và Pháp thẳng tay đàn áp suốt nhiều thập niên. Thống đốc tỉnh Erbil của Iraq, Nawzad Hadi Mawlood nhận xét rằng, “hàng trăm ngàn người đã bỏ mạng vì hiệp ước Sykes-Picot và những vấn đề do nó sinh ra. Nó đã thay đổi tiến trình lịch sử Trung Đông cũng như bản chất chính trị của vùng này”. Kỷ niệm 100 năm hiệp ước Sykes-Picot, chúng ta phải cay đắng đặt thêm câu hỏi rằng, với những biến cố cuồng nộ trong vùng, liệu biên giới hiện nay sẽ còn tồn tại lâu dài hay không. Cựu Thủ tướng Iraq, Barham Salih phát biểu trong diễn đàn Sulaimani của người Kurds ở Iraq rằng, “hệ thống được xây dựng cả 100 năm vừa qua đang sụp đổ. Tôi không biết một cách chắc chắn rằng, một hệ thống khác với hình thù như thế nào sẽ thay thế hiện trạng” [xem Wright].
Đến thế kỷ 21, sau cuộc tấn công của Hoa Kỳ và Anh vào Iraq vào năm 2003, Sadam Hussein bị hạ bệ và Iraq rơi vào tình trạng trống rỗng về quyền lực chính trị, cho nên các lực lượng khủng bố Hồi giáo tập hợp dưới ngọn cờ “chống lại sự thống trị của Hoa Kỳ và phương Tây”. Đây là thời khắc sinh thành của Nhà nước Hồi giáo (IS – Islamic State) dẫn đến thời kỳ hỗn loạn mới tại Trung Đông kéo dài tới tận hôm nay vẫn chưa dứt. Cuộc chiến Iraq từ 2003 đến 2011 làm cho 5.000 lính Hoa Kỳ – Anh và 10.000 lính Iraq tử trận, 108.000 thường dân Iraq thương vong. Tốn kém của Hoa Kỳ là 700 tỉ đô la, chưa kể những con số trong bóng tối, thí dụ như kinh tế gia đoạt giải Nobel, Joseph Stiglitz phỏng đoán con số 3.000 tỉ đô la. Dù cho những thiệt hại to lớn đó, Hoa Kỳ vẫn thất bại trong sứ mệnh mang lại ổn định cho Iraq. Sau khi rút quân vào năm 2011, Hoa Kỳ để lại một tình trạng hỗn loạn về chính trị, bất ổn về an ninh hơn trước đó rất nhiều. Vì thế, lực lượng IS càng hoạt động mạnh mẽ hơn, để cuối cùng ba năm sau, vào năm 2014 IS đã càn quét nguyên một vùng rộng lớn tại Iraq và Syria.
Tiền đề của chính sách của Hoa Kỳ – cũng như mọi cường quốc bên ngoài khác – ngày nay trong việc ổn định tình trạng khó khăn ở Iraq, chấm dứt cuộc nội chiến hủy diệt ở Syria và đối đầu với Nhà nước Hồi giáo, là bảo vệ các biên giới liên quan đến Sykes-Picot. Kể từ tháng 8 năm 2014, Hoa Kỳ đã đầu tư hơn 11 triệu đô la mỗi ngày cho các hoạt động quân sự, bao gồm gần 9.000 cuộc không kích vào Iraq và hơn 5.000 cuộc không kích vào Syria. Đối với cuộc khủng hoảng tị nạn nhân đạo tồi tệ nhất thế giới hiện đang tràn ra khỏi Syria trên khắp các quốc gia Trung Đông và châu Âu, Washington đã cam kết bảy trăm triệu đô la vào năm 2016, với nhiều hứa hẹn hơn nữa. Phần còn lại của thế giới – từ châu Âu đến các vương quốc vùng Vịnh, Nga đến Iran – đã đổ hàng tỷ USD vào việc duy trì biên giới, ngay cả khi họ theo đuổi các kết quả chính trị khác nhau [xem Wright].
Để có một cái nhìn tổng quát về tình hình an ninh ở Trung Đông, chúng ta thử lược qua một liệt kê ngắn những cuộc chiến lớn – chưa kể những xung đột lẻ tẻ – từ sau Thế chiến II cho đến ngày nay. Trong một dịp khác chúng ta sẽ phân tích thêm nguyên nhân và hậu quả của những cuộc chiến đó.
Biên niên sử:
Đến đây chúng ta thử ghi lại những cuộc chiến ở Trung Đông kể từ 1948, hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ những toan tính của hai cường quốc thực dân Anh và Pháp trong Thế chiến I và ý đồ địa chính trị của các siêu cường mới nổi sau Thế chiến II. Chưa kể những xung đột lẻ tẻ, sau đây là danh sách (chưa đầy đủ) các cuộc chiến lớn trong vùng Ả Rập Trung Đông:
1948: Cuộc chiến giữa sáu nước Ả Rập và Israel, sau khi Israel tuyên bố thành lập quốc gia mới trên vùng đất Palestine. Kết quả là Israel chiếm thêm 6.000 cây số vuông đất của người Palestine.
1956: Chiến tranh Ả Rập-Israel lần thứ hai, với sự hỗ trợ của Anh và Pháp dành cho Israel, sau khi Ai Cập quốc hữu hóa kênh đào Suez. Israel chiếm bán đảo Sinai của Ai Cập và giải Gaza của Palestine.
1967: Chiến tranh Ả Rập-Israel lần thứ ba, còn gọi là “chiến tranh sáu ngày“. Hậu quả là Israel chiếm thêm đất của Palestine, tiến vào Tây Jerusalem và chính thức chiếm đóng tất cả vùng đất thuộc Palestine. Kể từ đây, Palestine bị chiếm đóng và cai trị bởi quân đội Israel.
1973: Chiến tranh Ả Rập-Israel lần thứ tư. Lần đầu tiên các nước Ả Rập, với vũ khí tối tân của Liên Xô, đã thắng Israel, làm sụp đổ huyền thoại “bất khả chiến bại“ của Israel. Cuộc chiến này cũng đánh dấu một giai đoạn mới về cuộc đọ sức vũ khí giữa Liên Xô và Hoa Kỳ. Tình hình Trung Đông kể từ đây càng phức tạp hơn nhiều với sự vươn dậy của những lực lượng khủng bố vốn đã từ chối giải pháp hòa bình. Trong bối xung đột gay gắt, các nước xuất khẩu dầu mỏ ở Trung Đông (OPEC – Organization of Petroleum-Exporting Countries) lần đầu tiên dùng dầu mỏ làm vũ khí chống lại phương Tây, dẫn đến cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới năm 1973 và kéo dài hai năm chưa dứt.
1975-1990: Chiến tranh Lebanon, một cuộc chiến dai dẳng kéo dài 15 năm, bắt đầu từ xung đột giữa cộng đồng Ả Rập và giáo dân Thiên chúa giáo thân phương Tây. Cuộc chiến dần dần lôi kéo các lực lượng ủng hộ từ các nước láng giềng như Syria, Jordan. Israel cũng tham gia bằng cách xua quân vượt qua biên giới Lebanon để tiêu diệt PLO (Palestine Liberation Organization) và củng cố các nhóm dân quân thân Israel ở Lebanon.
1980: Israel thôn tính cả Đông và Tây Jerusalem, tuyên bố Jerusalem từ đây là thủ đô vĩnh viễn của Israel. Sự kiện này mở đầu cho những xung đột mới Trung Đông càng khốc liệt hơn trước. Dù Liên Hiệp Quốc không thừa nhận việc này nhưng, với lá phiếu phủ quyết của Hoa Kỳ, cũng không ép được Israel rút quân ra khỏi Jerusalem và các vùng thôn tính khác.
1980-1988: Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất (giữa Iraq và Iran) kéo dài 9 năm với kết quả thiệt hại nhân mạng chưa bao giờ có ở Trung Đông. Nguồn thống kê tin cậy phỏng đoán rằng, 300 ngàn người Iraq và 500 ngàn người Iran thiệt mạng qua cuộc chiến. Có nguồn khác thì phỏng đoán hơn một triệu người tử vong ở cả hai bên, nguồn khác phỏng đoán bảo thủ là 367 ngàn nhân mạng cả hai bên. Đấy là chưa kể thiệt hại cơ sở vật chất của Iran lên đến 644 tỉ đô la và Iraq 452 tỉ đô la [xem Wikipedia]. Cuối cùng, kẻ hưởng lợi nhiều nhất là những nước cung cấp vũ khí cho cả hai bên: Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, Đức và một vài nước khác.
1982: Chiến tranh Ả Rập-Israel lần thứ năm (chiến tranh Lebanon). Đây là cuộc chiến giữa một bên là Israel và các nhóm dân quân địa phương tiến vào Lebanon với mục đích là tiêu diệt PLO và các lực lượng ủng hộ từ Seria. Dù ngưng chiến sau hai tháng giao tranh, nhưng Lebanon vẫn không thể ổn định một thời gian dài. Israel chiếm miền nam Lebanon cho đến năm 2000 mới rút quân. Ủy ban điều tra của Israel kết luận vào năm 1983 rằng, đây là sai lầm của Thủ tướng Israel Benin và Bộ trưởng Quốc phòng Ariel Scharon đã không kiểm soát tình hình dẫn đến bạo lực đáng bị lên án. Cả hai phải từ chức sau đó.
1982: Trong bối cảnh chiến tranh Lebanon nói trên, Hisbollah vươn dậy và được thành lập vào năm 1982 với tư cách là một tổ chức bán quân sự ngầm thông qua sự hợp nhất của nhiều nhóm Shia khác nhau chống lại cuộc xâm lược của Israel vào thời điểm đó. Căn cứ địa của tổ chức này là miền nam Lebanon, trong thung lũng Bekaa ở phía nam Beirut. Đứng đầu họ là các học giả Shia; cơ quan tinh thần tối cao là nhà lãnh đạo cách mạng của Cộng hòa Hồi giáo Iran. Những hỗn loạn xảy ra sau này giữa Palestine, Lebanon và Israel đều ít nhiều có bàn tay Hisbollah dính vào.
1987-1991: Intifada lần thứ nhất. Intifada tiếng Ả Rập có nghĩa là nổi dậy hoặc ly khai, lần này mang ý nghĩa bất hợp tác, bất phục tòng với bộ máy cai trị của Israel. Phong trào bắt đầu từ một trung tâm định cư người tị nạn Palestine, rồi lan rộng ra dải Gaza và Tây Jordan, ngày càng cực đoan và bạo động, kéo dài bốn năm đến 1991 mới từ từ lắng xuống.
1990-1991: Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai giữa Iraq và liên minh do Hoa Kỳ lãnh đạo. Vào tháng 8 năm 1990, Iraq xâm chiếm Kuwait và sát nhập Kuwait vào lãnh thổ Iraq. Đây là cuộc chiến đầu tiên giữa hai nước Ả Rập. Để bảo vệ quyền lợi dầu mỏ, Hoa Kỳ tập hợp một lực lượng đồng minh kể cả các nước không Ả Rập ở trong vùng như Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran – với sự chính thức hóa của LHQ qua nghị quyết 618 – tấn công Iraq, và sau bốn tháng, đẩy lùi quân Iraq và trả lại độc lập cho Kuwait.
2000-2005: Intifada lần thứ hai. Lãnh tụ đối lập của Israel Ariel Sharon trong lúc vận động tranh cử đã đến thăm đền Tempelberg, vốn ở trong vùng Đông Jerusalem thuộc Palestine. Mục đích của Sharon là gởi một tín hiệu đến cử tri rằng, toàn bộ Jerusalem thuộc về Israel. Điều này làm cho người Palestine giận dữ và tổ chức Intifada lần thứ hai với quy mô lớn hơn, nhiều bạo lực hơn và thiệt hại nhân mạng cũng rất cao.
2003: Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ ba. Lấy lý do truy lùng vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq, Hoa Kỳ và Anh – dù không có sự hợp thức hóa của Liên Hiệp Quốc và sự chống đối hầu hết các nước đồng minh cũ – tấn công Iraq, chiếm Baghdad trong vòng hai tháng. Sadam Hussein bị bắt sống vào cuối năm đó. Có thể xem đây là sai lầm chiến lược của Hoa Kỳ. Suốt 8 năm sau, người ta không tìm thấy bằng chứng nào về việc nghiên cứu và sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt tại Iraq. Trong 8 năm chiếm đóng, Hoa Kỳ đã tiêu tốn hơn 700 tỷ đô la, 5.000 lính Mỹ, 10,000 lính Iraq và 108.000 thường dân tử vong. Cuộc chiến này làm cho cộng đồng Ả Rập càng thù ghét Tây Phương, nhất là Hoa Kỳ. Quốc gia Hồi giáo được thành lập trong giai đoạn này, làm cho Trung Đông ngày càng hỗn loạn hơn.
2004: Khi Hoa Kỳ càn quét Iraq và hạ bệ Sadam Hussein trong vòng vài tháng nhưng chưa kịp thiết lập hệ thống quyền lực địa phương, các nhóm Hồi giáo cực đoan tập hơp lực lương và thành lập Quốc gia Hồi giáo (IS – Islamic State). Đến đây, tình hình Iraq nói riêng và cả Trung Đông nói chung trở nên phức tạp hơn với một tác nhân mới hoạt động với mục đích biến vùng Trung Đông thành một quốc gia Hồi giáo (Caliphate) như trước đó 1000 năm trong đế chế Ả Rập.
2006: Cuộc chiến Lebanon kéo dài 33 ngày giữa Israel và lực lượng Hisbollah. Ban đầu cuộc chiến tranh mang tính chất cục bộ ở miền Nam Lebanon dọc biên giới với Israel. Dần dần cuộc chiến leo thang với sự phong tỏa đường biển bởi hải quân Lebanon và oanh tạc nhiều địa phận khác nhau ở khắp Lebanon. Cuộc chiến chấm dứt với hơn 1500 người tử vong, đa số là thường dân chết vì các cuộc không kích của Israel. Thiệt hại vật chất, nhất là chung cư cao tầng, thì vô số kể.
2013-2017: Sự vương dậy của Quốc gia Hồi giáo (IS). Sự thành hình lực lượng IS thực ra đã bắt đầu từ năm 1999 ở Iraq. Để chống lại chính sách cai trị hà khắc của Sadam Hussein, phong trào phảng kháng được dấy lên dưới sự lãnh đạo của một nhóm sĩ quan quân đội và cảnh sát có kinh nghiệm chiến đấu. Đến khi Hoa Kỳ xâm chiếm Iraq năm 2003 và cuối cùng phải rút quân vào năm 2011, họ đã để lại một khoảng trống quyền lực và rối loạn an ninh, cho nên IS bắt đầu vươn dậy mạnh mẽ, lực lượng ngày càng đông để cuối cùng thành lập Quốc gia Hồi giáo. Vào năm 2014, sau khi càn quét một vùng rộng lớn liền kề ở Tây Bắc Iraq và Đông Syria, IS tuyên bố thành lập Vương quốc Hồi giáo (Califate) với viễn kiến phục hồi đế chế Hồi giáo theo mô hình của Đấng tiên tri Mohammed. Mặc dù IS đã bị đẩy lùi sau ba năm, nhưng mầm mống vẫn còn và lực lượng vũ trang của IS rút về khu vực Trung Phi, tạo nên một sự bất ổn mới cho đại lục Phi Châu.
Kể từ 2017, Trung Đông vẫn tiếp tục hỗn loạn. Syria thì chiến tranh liên miên hơn 10 năm nay, không chỉ là giữa ba phe nội bộ đối lập (chính quyền Assad, IS và Kurdistan), mà Syria đã trở thành bãi chiến trường không những giữa các siêu cường quốc tế Hoa Kỳ, Nga mà còn bị xâu xé bởi các cường quốc khu vực Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Hisbollah. Viễn tượng hòa bình ở Syria dường như không thể tiên đoán được lúc nào sẽ đến. Ở Iraq, tình hình cũng tồi tệ không kém. Chính phủ trung ương Bagdah chưa hề thành lập được một chính phủ ổn định có khả năng cân bằng quyền lực của các phe tranh chấp. Người Kurds vẫn tiếp tục đấu tranh cho quyền tự trị và chính sách bình đẳng từ trung ương. Chúng ta cũng không quên rằng, chính quyền địa phương người Kurds có một lực lượng quân sự rất mạnh, bất cứ lúc nào cũng có thể trở thành mối đe dọa cho an ninh quốc gia. Một nước Iraq giàu có với trữ lượng dầu mỏ khổng lồ cách đây 30 năm, nay chỉ còn là một cái xác không hồn. Triển vọng để dân chúng đạt được phồn vinh như 30 năm trước dường như là một giấc mơ khó biến thành hiện thực. Cũng không ai tiên đoán được, bao giờ thì chiến tranh Iraq-Iran sẽ bộc phát trở lại; xung đột biên giới giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Syria có thể bùng phát thành chiến tranh giữa hai quốc gia hay không.
Không biết Sykes và Picot có tiên đoán kế hoạch của họ cách đây 100 năm, nay đã trở thành ác mộng cho cả khu vực?
./.
Tài liệu tham khảo
- Asseburg, Muriel: Der Nahostkonflikt (Xung đột ở Trung Đông). Landeszentrale für Politische Bildung – Baden Würtemberg (Trung tâm giáo dục chính trị bang Baden-Würtemberg).
- Avalon Project (Yale University of Law): The Sykes-Picot agreement of 1916 (Toàn văn bản Hiệp ước Sykes-Picot năm 1916).
- Avalon Project (Yale University of Law): United Nations General Assembly Resolution 181 (Nghị quyết số 181 của Liên Hiệp Quốc về việc phân chia Palestine thành hai quốc gia).
- BBC Monitoring: Sykes-Picot marked with bitterness and regret by Arab media (Truyền thông Ả Rập ghi nhận Sykes-Picot với sự cay đắng và ân hận). BBC 2016.
- BPB Editor: Vor 100 Jahren: Großbritannien und Frankreich vereinbaren das Sykes-Picot-Abkommen (Cách đây 100 năm: Anh và Pháp ký hiệp ước Sykes-Picot). Bundeszentrale für Politische Bildung, 2016.
- Dingley, James: Kurdistan zwischen Autonomie und Selbstveranwortung (Kurdistan giữa tự trị và tự lãnh trách nhiệm). APuZ – Aus Politik und Zeitgeschichte.
- Encyclopaedia Britannica: Sykes-Picot Agreement 1916.
- Hermann, Rainer: Wurzel des Nahostkonflikts (Nguồn gốc các xung đột ở Trung Đông). Frankfurter Allgemeine Zeitung FAZ, 2016.
- Muir, Jim: Sykes-Picot – The map that spawned a century of resentment (Bản đồ sản sinh một thế kỷ hận thù). BBC 2016.
- Ottaway, Marina: Learning from Sykes-Picot (Bài học từ Hiệp ước Sykes-Picot). Publication of Wilson Center, Washington DC – Middle East Program 2015.
- Philipp, Thomas: Die Palästinensische Gesellschaft zu Zeiten des Britischen Mandats (Xã hội người Palestine trong thời kỳ Anh cai trị ủy thác). BPB – Bundeszentrale für Politische Bildung.
- Sahin, Memo: Ein Grosskurdistan aus den Trümmern Iraks und Seriens? (Một đại quốc gia Kurdistan từ đống tro tàn của Irak và Seria?). Network of the German Peace Movement.
- Schareika, Nora: Wie Willkür zum Dauerzustand wurde (Sự tùy tiến biến thành tình trạng lâu dài như thế nào). N-TV.
- Wright, Robin: How the Curse of Sykes-Picot Still Haunts the Middle East (Tại sao Hiệp ước Sykes-Picot vẫn ám ảnh Trung Đông). The Newyorker 2016
IV. HIỆP ƯỚC SYKES- PICOT VÀ THẢM KỊCH NGƯỜI KURDS
Khi bức tường Bá Linh sụp đổ vào năm 1989, Willy Brandt phát biểu: “Những gì thuộc về nhau sẽ cùng nhau phát triển”. Người Kurds diễn đạt lại như sau: “Cái gì không thuộc về nhau thì không cùng nhau phát triển”. Đây chính xác là những gì mà người Kurds đã trải nghiệm trong thế kỷ vừa qua ở bốn quốc gia: Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Iraq và Syria. Với biện pháp cưỡng bức, đàn áp, tàn sát cũng như diệt chủng văn hóa, tất cả bốn quốc gia này đã cố gắng đồng hóa người Kurds thành dân bản địa. Đây là lý do dẫn đến các cuộc nổi dậy không ngừng của người Kurds, khiến hàng trăm nghìn người thiệt mạng [xem Sahin]
Để hiểu tình trạng người Kurds ở Trung Đông do Sykes và Picot tạo ra, chúng ta có thể hư cấu một kịch bản sau đây để so sánh: Giả dụ vào cuối thế kỷ 19, nếu Anh và Pháp đủ mạnh để thao túng vùng châu Á và vẽ lại bản đồ Đông Nam Á tương tự như hiệp ước Sykes-Picot đã làm ở Trung Đông, thì Việt Nam có thể bị chia làm ba vùng: Bắc Kỳ (Tonkin) bị sát nhập vào Trung Hoa, Trung Kỳ (Annam) bị sát nhập vào Lào, còn Nam Kỳ (Cochinchina) bị sát nhập vào Cam Pu Chia. Việt Nam biến mất trên bản đồ thế giới và người Việt trở thành dân tộc thiểu số ở ba nước nói trên, đau khổ và hoài niệm tổ quốc giống như người Chàm hiện nay trên đất Việt. Tình trạng người Kurds hiện nay ở Trung Đông cũng chính xác như thế suốt hơn 100 năm qua.
Kurds là một dân tộc khá đồng nhất về văn hóa. Từ cả thiên niên kỷ trước, họ sống tập trung trong một vùng rộng lớn trên dưới 500 ngàn cây số vuông, tức khoảng gấp rưởi Việt Nam. Vùng đất định cư người Kurds được gọi là Kurdistan, bất kể đó là khu vực hiện nay thuộc quốc gia nào. Nếu xét trên bản đồ ngày nay, địa phận Kurdistan trước đây (xem bản đồ bên dưới, màu vàng) bao phủ vùng biên giới Tây Bắc Ba Tư, Đông Nam Thổ Nhĩ Kỳ, Bắc Syria và Đông Bắc Iraq. Trong đế chế Ottoman, Kurds là giống dân thuần nhất, sống tập trung trong những tỉnh tự trị dưới sự bảo hộ của chính quyền trung ương Ottoman.
Khu vực sinh sống từ ngàn năm của người Kurds (màu vàng)
Mặc dù nằm lọt vào khu vực Trung Đông và tiếp giáp Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng người Kurds không phải là Ả Rập, cũng không phải người Thổ mà là một dân tộc riêng, với truyền thống văn hóa riêng, ngôn ngữ riêng theo ngữ hệ Ấn-Âu (Indogermanic) với nhiều phương ngữ, cho nên giữa người Kurds ở những vùng khác nhau đôi khi cũng khó khăn để hiểu nhau. Đa số người Kurds theo Hồi giáo nhánh Sunni. Theo thống kê dân số năm 2020, người Kurds sống tập trung trong một vùng liên kết nhau giữa biên giới bốn nước kể trên tổng cộng hơn 30 triệu người [xem Wikipedia]. Khi Sykes và Picot vẽ lại đường biên giới để phân chia vùng ảnh hưởng, họ không hề quan tâm đến một dân tộc tương đối đồng nhất về văn hóa đã định cư lâu đời ở đó, sống cùng nhau trên một vùng đất rộng lớn gấp đôi nước Anh và gần bằng nước Pháp.
Những “đường vẽ trên cát” của Sykes và Picot khi Ottoman tan rã giống như những nhát dao xẻ vào da thịt người Kurds. Thay vì gom họ vào nhau để thành lập một quốc gia tương đối thuần nhất, Anh và Pháp đã chia rẽ họ thành bốn cộng đồng riêng lẻ, làm cho họ trở thành dân tộc thiểu số trong bốn quốc gia khác nhau và như thế, họ thực chất đã trở thành những người vô tổ quốc trên chính mảnh đất truyền thống của mình. Sau Sykes-Picot, không những là 100 năm, mà có lẽ thêm 100 năm nữa, người Kurds ở bốn vùng khác nhau kể trên chưa chắc có thể đấu tranh thành công để thành lập một quốc gia chung, và như thế, vấn đề người Kurds sẽ tiếp tục là một trong những nguyên nhân quan trọng của xung đột bạo lực ở Trung Đông. Cố vấn của Chủ tịch khu tự trị Kurdistan ở Iraq, Zikri Mosa nhận xét: “Sykes-Picot là một sai lầm lớn. Nó giống như một đám cưới ép buộc. Nó đã phá sản ngay từ ngày đầu. Nó vô đạo đức, vì nó tự ý quyết định tương lai của các dân tộc mà không hề hỏi ý kiến của họ” [xem Wright].
Nhắc lại khi Thế chiến I chấm dứt, theo đề nghị 14 điểm của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson, các vùng Kurdistan sẽ được hưởng quyền tự trị. Đề nghị đó được các cường quốc thắng trận đồng ý và đưa vào điều 62 của hòa ước Sèvres năm 1920; điều khoản đó quy định rằng, một vùng tự trị người Kurds sẽ được thành lập. Ngoài ra, điều 64 còn hứa hẹn là một quốc gia người Kurds có thể được thành lập sau đó, dưới một số tiền đề nhất định. Nhưng vì sự chia chác đất đai Trung Đông giữa Anh và Pháp, nhất là sau khi Thổ Nhĩ Kỳ chính thức trở thành một quốc gia độc lập được thừa nhận qua hiệp ước Lausanne năm 1923, điều khoản 62 của hòa ước Sèvres bị hủy bỏ. Một vùng tự trị người Kurds không còn là đòi hỏi của các nước thắng trận, nhất là khi Anh cũng không muốn thực hiện điều này. Vì quyền lợi địa chính trị, số phận người Kurds đã bị các cường quốc thắng trận bỏ rơi, và vùng đất người Kurds trở thành món hàng trả giá trong các cuộc đàm phán quốc tế.
Kể từ đó, người Kurds ở Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq và Syria trở thành dân tộc thiểu số và viễn tượng thành lập quốc gia Kurdistan độc lập cũng rơi vào quên lãng. Nói cho cùng, những quốc gia nhỏ yếu thế luôn là quả bóng để các cường quốc trả giá trao đổi quyền lợi với nhau. Những hứa hẹn, thậm chí hòa ước nhiều lúc chỉ là những văn kiện mang tính đạo đức hai mặt. Nếu các cường quốc thực dân như Anh, Pháp và sau này là Hoa Kỳ không thừa nhận tội ác của mình trong thế kỷ 19 và 20, đồng thời có những biện pháp cụ thể để bù trừ những tội ác trong quá khứ, thì những tuyên bố đạo đức ngày hôm nay về nhân quyền, dân chủ vẫn bị xem là lối diễn trò đạo đức hai mặt, không thuyết phục được ai, nhất là không thể thuyết phục những quốc gia mà thuật ngữ ngày nay gọi là “Nam bán cầu”, tương tự như thuật ngữ “thế giới thứ ba” trước đây vài thập niên. Các nước Ả Rập ở Trung Đông và nhất là người Kurds đã, đang và sẽ không bao giờ có sự tin cậy đối với các cường quốc phương Tây. Dân chủ, giá trị cốt lõi của phương Tây vì thế càng bị xói mòn và không còn là giá trị chuẩn mực để họ coi trọng.
Đối với người Kurds, việc ký kết thỏa thuận Sykes-Picot đặc biệt đau đớn vì nó chia cắt khu vực người Kurds thành bốn khu vực khác nhau bằng sự vi phạm trắng trợn các quyền căn bản của con người. Ở cả bốn nơi đó, người Kurds đều có một số phận chung về tình trạng bị đàn áp: từ phân biệt đối xử đến cô lập, đồng hóa, cho đến truy lùng diệt chủng. Tuy nhiên, nhiều tác nhân người Kurds vẫn tìm cách đấu tranh cho quyền tự chủ, thể hiện qua hình thức tự trị khu vực hoặc đi xa hơn để tiến đến quyền tự quyết dân tộc.
Nguyện vọng chung hiện nay của tất cả người Kurds là, “cộng đồng quốc tế hiện nên xem xét nguyện vọng của dân tộc này để có được các quyền hợp pháp và thành lập quốc gia hợp pháp của mình, tức Kurdistan”. Hiệp hội các nhà văn và ký giả người Kurds ở Syria đã đưa ra một tuyên bố rằng: “Mọi người Kurds nên biết trang lịch sử đen tối này về âm mưu quốc tế đã lấy đi quyền của chúng ta với tư cách là một dân tộc. Sự chia cắt địa lý khắc nghiệt càng trở nên tồi tệ hơn khi quê hương của chúng ta bị chuyển từ bàn tay của các cường quốc thực dân để giao lại cho sự thống trị của các chế độ bản địa độc đoán và phân biệt chủng tộc, những chế độ đã bóc lột chúng ta theo những phương cách khủng khiếp hơn” [xem BBC Monitoring].
Trong thời kỳ Quốc gia Hồi giáo (IS) càn quét Iraq và Syria, điều thật trớ trêu là hai lực lượng hùng mạnh nhất trong vùng Kurdistan lại đang tấn công vào cổ họng của nhau, mặc dù cả hai đều công khai phủ nhận di sản Sykes-Picot: đó là các chiến binh IS và người Kurds ở phía bắc của Iraq và Syria. Ở cả hai quốc gia này, người Kurds đã chứng tỏ là đồng minh hiệu quả nhất của liên minh phương Tây trong cuộc chiến chống IS, mặc dù cả hai bên có chung quyết tâm vẽ lại bản đồ khu vực. Chủ tịch Khu tự trị người Kurds ở Iraq, Massoud Barzani nói trong một cuộc phỏng vấn với BBC rằng, “Không chỉ là quan điểm riêng của tôi, mà thực tế là Sykes-Picot đã thất bại, mọi chuyện đã kết thúc. Phải có một công thức mới cho khu vực. Tôi rất lạc quan rằng trong công thức mới này, người Kurds sẽ đạt được yêu cầu lịch sử về quyền độc lập của họ”. Và ông nói thêm: “Chúng tôi đã trải qua những kinh nghiệm cay đắng kể từ khi thành lập nước Iraq sau Thế chiến I. Chúng tôi đã cố gắng duy trì sự thống nhất của Iraq, nhưng chúng tôi không chịu trách nhiệm về sự chia rẽ hiện nay – chính những người khác đã phá vỡ trật tự đã có. Chúng tôi không muốn trở thành một phần của sự hỗn loạn và các vấn đề bao quanh Iraq từ mọi phía” [xem Muir].
Ở Iraq, mặc dù vùng tự trị người Kurds được ghi trong hiến pháp, nhưng thường có sự khác biệt giữa hiến pháp chính thức và nguyện vọng bất thành văn của người Kurds và những người ủng hộ họ. Tương lai có thể phức tạp hơn so với vẻ ngoài chính thức cho thấy, bởi vì nhiều người Kurds vẫn quyết tâm đấu tranh giành độc lập, chứ không chỉ là được hưởng vùng tự trị. Ngoài ra, một số người còn mơ ước thống nhất tất cả người Kurds trong toàn vùng thành một quốc gia duy nhất, điều này sẽ gây ra những hậu quả sâu sắc đối với bốn quốc gia Iraq, Iran, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ – những quốc gia có đông người Kurds sinh sống. Những thay đổi lãnh thổ như vậy sẽ đe dọa gây thêm bất ổn cho khu vực vốn đã bất ổn liên tục từ lâu [xem Dingley].
Đến đây, chúng ta thử khảo sát tình trạng người Kurds ở Thổ Nhĩ Kỳ và Iraq. Tình trạng người Kurds ở Syria cũng giống như ở Iraq. Riêng người Kurds tại Iran, vấn đề cũng tương tự, nhưng vì vùng đó không liên quan gì đến hiệp ước Sykes-Picot, cho nên chúng ta tạm gác lại vào dịp khác.
***
Người Kurds ở Thổ Nhĩ Kỳ: Có khoảng chừng 15 triệu người Kurds sống ở Thổ Nhĩ Kỳ, tức khoảng 19% tổng dân số nước này. Theo hiệp ước Sèvres năm 1920, người Kurds được công nhận quyền tự trị. Nhưng đến hiệp ước Lausanne năm 1923, quyền tự trị bị hủy bỏ trong khuôn khổ mới, khi Thổ Nhĩ Kỳ vừa trở thành một quốc gia độc lập. Sau đó, Thổ Nhĩ Kỳ không thừa nhận sự hiện hữu của dân tộc Kurds trên đất Thổ, mà chỉ xem họ là “người Thổ vùng núi” (mountain Türks). Khi đế chế Ottoman chính thức tan rã vào năm 1924, chính quyền Kemal Atatürk ban hành nhiều đạo luật, qua đó, những trường tôn giáo tiếng Kurds và các hội Huynh đệ Hồi giáo người Kurds bị cấm hoạt động [xem Savelsberg]. Người Kurds không được hưởng những quyền lợi của một dân tộc thiểu số. Mục đích của chính quyền Kemal Atatürk là xóa bỏ ký ức lịch sử người Kurds để dần dần đồng hóa họ thành một bộ phận của Thổ Nhĩ Kỳ.
Từ đó, chưa kể hơn 20 cuộc nổi dậy lẻ tẻ, nhiều cuộc nổi dậy lớn của người Kurds nổ ra để đòi tự trị, thí dụ như cuộc nổi dậy Scheich Said năm 1925, những cuộc nổi dậy ở Ararat suốt thời gian dài từ 1926 đến 1930, nổi dậy ở vùng Dersim 1938, nhưng tất cả đều bị quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đàn áp đẫm máu. Ngôn ngữ Kurds bị cấm sử dụng trong giáo dục. Cho đến 1991, truyền thông tiếng Kurds bị cấm phát hành, việc nói chuyện hoặc hát bằng tiếng Kurds ở nơi công cộng là chuyện phạm pháp. Người Kurds chịu ảnh hưởng của chính sách đồng hóa ngặt nghèo, thậm chí bộ trưởng tư pháp Mahmut Esat Bozkurt tuyên bố năm 1930 để ám chỉ người Kurds rằng, “người không phải thuần chủng Thổ chỉ có một quyền duy nhất, đó là quyền làm tôi tớ hoặc nô lệ”. Chính sách của Thổ Nhĩ Kỳ lúc ấy là dần dần xóa bỏ bản sắc dân tộc Kurdistan để đồng hóa họ vào cộng đồng người Thổ.
Khi các cuộc đấu tranh ôn hòa không đạt đến kết quả, đảng Lao động Kurdistan (KWP – Kurdistan Workers’ Party) chuyển qua đấu tranh vũ trang, kéo dài 15 năm cho đến khi chủ tịch đảng Abdullah Öcalan, với sự giúp sức của CIA, bị tình báo Thổ Nhĩ Kỳ bắt tại Nairobi năm 1999. Sau đó, ông bị kết án tù chung thân. Theo báo cáo của Öztürk Türkdoğan trước quốc hội năm 2012, trong vòng 30 năm, có 34 ngàn người chết, bao gồm 27 ngàn người chết trong các cuộc xung đột vũ trang, thêm 7 ngàn người dân sự chết vì xung đột chính trị, bị mất tích hoặc chết trong tù. Mặc dù hệ thống luật pháp của Thổ Nhĩ Kỳ có những cải cách tiến bộ kể từ 1960 để nới rộng quyền lợi của người Kurds, nhờ thế họ có thể thông qua các đảng chính trị thân Kurds cử người đại diện vào quốc hội, nhưng tương lai một cộng đồng Kurdistan tự trị trong lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn là một ước mơ khó lòng được thực hiện trong vòng vài thập niên sắp đến.
Kể từ bước chuyển tiếp qua thế kỷ 21, trong khuôn khổ đàm phán để Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Liên Âu và dưới sức ép của Liên Âu, Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu đưa ra những cải cách trong chính sách người Kurds. Liên Âu nhiều lần lên tiếng đòi hỏi Thổ Nhĩ Kỳ giải quyết ôn hòa vấn đề Kurdistan phù hợp với nguyên tắc pháp quyền và nhân quyền, nhờ thế người Kurds bắt đầu hưởng một đời sống dễ chịu hơn với nhiều quyền tự do về ngôn luận, báo chí, đi lại được luật pháp thừa nhận.
Tuy nhiên, quá trình đầy hy vọng này đã kết thúc vào mùa hè năm 2015. Đảng Dân chủ Nhân dân (HDP) thân Kurds nhận được hơn 10% số phiếu bầu trong cuộc bầu cử quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 6. Những người Thổ Nhĩ Kỳ cánh tả cũng nằm trong số cử tri của họ . Tuy nhiên, thành công này không mang lại hiệu quả về mặt chính trị. Vào tháng 7, KWP đã hủy bỏ lệnh ngừng bắn và những nạn nhân đầu tiên vào tháng 7 năm 2016 là hai sĩ quan cảnh sát ở Diyarbakir. Xung đột bạo lực bắt đầu trở lại giữa người Kurds và chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi người Kurds ở Syria đánh bại Nhà nước Hồi giáo (IS) ở thị trấn Kobane vào tháng 1 năm 2015 và ở thị trấn Tall Abyad của Syria vào tháng 6 năm 2015, ban lãnh đạo KWP có lẽ cảm thấy đủ mạnh để nối lại cuộc đối đầu công khai với Thổ Nhĩ Kỳ. Rốt cuộc, những chiến thắng chống lại IS đã góp phần đáng kể vào sự công nhận quốc tế về viễn tượng một dân tộc tự trị. Tuy nhiên, điều này diễn ra đúng thời điểm đối với đảng cầm quyền AKP, những người hy vọng rằng, với chính sách cứng rắn hơn đối với người Kurds, họ có thể giành lại số phiếu mà họ đã mất và có thể một mình cầm quyền trở lại sau cuộc bầu cử mới dự kiến diễn ra vào cuối năm 2015 [xem Savelsberg].
Vào tháng 7, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu ném bom các mục tiêu KWP ở Thổ Nhĩ Kỳ và người Kurds ở Iraq. Kể từ tháng 12, xung đột vũ trang leo thang đến giữa tháng 3 năm 2016 mới thôi, với hậu quả là hơn 350.000 người phải di tản và ít nhất 250 thường dân bị giết. Sự hạn chế tự do báo chí và tự do ngôn luận càng gia tăng. Bất đồng quan điểm về chính sách người Kurds hầu như không được dung thứ ở Thổ Nhĩ Kỳ nữa. Nội chiến trở lại và không có dấu hiệu nào cho thấy hồi kết của bạo lực. Trước đây, Liên Âu vẫn thường gây sức ép để hỗ trợ người Kurds, nhưng trong vòng 5 năm trở lại đây, khi Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một tác nhân quan trọng để ngăn chặn dòng người di tản nhập cư bất hợp pháp vào châu Âu, Liên Âu đành im tiếng. Nhờ thế, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ càng rảnh tay hơn trong các vấn đề nội bộ và gia tăng đàn áp người Kurds. Viễn tượng tự trị ngày càng bị đẩy lùi ra xa hơn. Thật ra với thế mạnh chính trị, Hoa Kỳ và Liên Âu có thể góp phần giải quyết vấn đề người Kurds, nhưng dường như họ chẳng thà ve vuốt các nước chủ nhà vì lợi ích kinh tế và toan tính địa chính trị, hơn là hỗ trợ cho một dân tộc mà trước mắt không có tài nguyên gì để cống hiến.
Đã hơn 100 năm nay, người Kurds vẫn phải tiếp tục làm người vô tổ quốc trên chính quê hương của mình, đó là một trong những thành quả bi thảm của bản đồ Trung Đông do Sykes và Picot vẽ ra.
Người Kurds ở Iraq: Có khoảng 6 triệu người Kurds ở Iraq, chiếm 15% tổng dân số. Họ sống chủ yếu tập trung trong các tỉnh Duhok, Arbil, Sulaimaniya và Kirkuk ở vùng Đông Bắc Iraq. Đó là vùng đất mà trước kia là tỉnh Mosul của đế chế Ottoman. Về mặt chính thức, hiện nay người Kurds ở Iraq không còn là dân tộc thiểu số. Thậm chí trong hiến pháp năm 1970 dưới thời kỳ của đảng Baath, Kurdistan được xem như một “quốc gia thứ hai” bên cạnh cộng đồng Ả Rập. Nhưng trong thực tế, họ phải đối diện với nhiều bất công áp bức từ chính quyền trung ương ở Baghdad.
Bản đồ những vùng Kurdistan ở Iraq
(vùng tự trị và vùng đang tranh chấp)
Trở lại thập niên 1920, ở Trung Đông luôn luôn có những lực lượng đối lập người Kurds chống lại sự thống trị của người Anh. Ngay từ năm 1919, Mehmud Berzinci, Thống đốc vùng Sulaimaniyya nổi dậy chống lại thực dân Anh, nhưng bị không quân hoàng gia đàn áp đẫm máu. Đến cuối năm 1922, Berzinci một lần nữa công bố thành lập Vương quốc Kurdistan ở Sulaimaniyya, đứng lên chống trả mọi cuộc đàn áp của không quân Anh, nhưng đến cuối năm 1924 cuộc nổi dậy bị đập tan, Sulaimaniyya bị Anh trở lại chiếm đóng và cuộc nổi dậy hoàn toàn thất bại.
Khi Iraq được Anh trao trả độc lập vào năm 1932, Kurdistan vẫn chưa được thừa nhận là khu tự trị, mà chỉ là một vài tỉnh thuộc quyền quản lý trung ương Baghdad. Ngoài ra, người Kurds vẫn luôn luôn là đối tượng của chính sách đồng hóa, đàn áp và cô lập của người Iraq Ả Rập. Phải gần 50 năm đấu tranh với hàng chục ngàn người tử vong, Kurdistan mới được hiến pháp Iraq năm 1970 thừa nhận là khu tự trị, mặc dù quyền lợi của họ vẫn bị hạn chế nhiều mặt, từ kinh tế đến giáo dục và phát triển ngôn ngữ. Cộng đồng người Kurds vẫn là đối tượng của sự phân biệt đối xử và đàn áp tàn bạo của chính quyền trung ương ở Baghdad, nhất là từ khi Sadam Hussein lên nắm quyền. Kể từ đó, người Kurds bị chính quyền Sadam Hussein đàn áp một cách có hệ thống, bị truy sát và trục xuất. Chúng ta có thể nhớ lại vào năm 1988, chính quyền Hussein đã dùng vũ khí hóa học để tàn phá hàng trăm làng mạc trong vùng Kurdistan, với hơn 182.000 người bị giết hoặc bị bắt giam. Chỉ riêng ngày 16 tháng 3 năm 1988, với những cuộc không kích bằng bom hóa học, hơn 5000 người Kurds bị thiệt mạng [xem Savelsberg]. Báo New York Times còn cho rằng con số tử vong vì vũ khí hóa học có thể lên đến 6800 người trong ngày hôm đó. Sự kiện này được ghi nhận là thảm họa lớn nhất trong lịch sử xung đột giữa Kurdistan và Iraq.
Sau Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ 2 vào năm 1991, các khu vực Kurdistan do Iraq chiếm đóng đã được giải phóng bởi các đảng của người Kurds và từ đó trở đi, Kurdistan trở thành nơi ẩn náu an toàn của các nhóm đối lập chính trị ở Iraq. Từ năm 1991 đến năm 2003, các đảng người Kurds trên thực tế đã phát triển Kurdistan thành một “quốc gia độc lập” với Iraq, họ thành lập một quốc hội do dân bầu cử, có quân đội và một chính quyền hoạt động hiệu quả. Ngay cả sau đó, sau khi chế độ độc tài của Saddam sụp đổ vào năm 2003, Kurdistan vẫn đóng vai trò là thỏi nam châm thu hút các nhóm Shia và Sunni. Nếu ngày nay chúng ta nói đến quốc gia Iraq, thì điều đó chỉ khả thi nhờ các bên của người Kurds tham gia. Nếu không có họ, gần như không thể tạo ra được một hiến pháp mới dựa trên sự phân tán quyền lực cho các địa phương, dung hòa các giáo phái và các nhóm dân tộc khác nhau. Tuy nhiên, kể từ năm 2007, người Kurds đã kiên nhẫn chờ đợi điều 140 của hiến pháp Iraq được thực thi, theo đó các cuộc trưng cầu dân ý sẽ được tổ chức để xác định lại, liệu các khu vực của người Kurds ở Kirkuk, Khanaqin/Xaneqîn và Sinjar/Shengal vốn dĩ đang được quản lý bởi Baghdad, nay sẽ tiếp tục thuộc quyền kiểm soát của chính quyền trung ương ở Baghdad, hay được quản lý bởi chính quyền người Kurds [xem Sahin].
Dù cho những tiến bộ đạt được so với người Kurds ở các nước khác, cuộc đấu tranh của người Kurds ở Iraq xem ra vẫn còn gay go để đạt đến sự thừa nhận quốc tế về một quốc gia Kurdistan độc lập. Tuy nhiên họ vẫn không ngừng đấu tranh. Chủ tịch Barzani vùng Kurdistan ở Iraq cho biết nỗ lực giành độc lập là rất nghiêm túc và các công việc chuẩn bị đang được tiến hành “hết tốc lực”. Ông cho rằng, bước đầu tiên phải là “đàm phán nghiêm túc” với chính quyền trung ương ở Baghdad để đạt được sự thỏa hiệp về một giải pháp lâu dài, hướng tới điều mà các nhà lãnh đạo người Kurds gọi một cách lạc quan là “sự chia cắt thân thiện”. Ông nói, nếu điều đó không mang lại kết quả, thì người Kurds sẽ đơn phương tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý để khẳng định ý chí độc lập [xem Muir]. Nhưng dù người Kurds ở Iraq có giành được độc lập chính thức hoàn toàn trong tương lai gần hay không, thì họ cũng đã thành lập một thực thể có biên giới, quốc kỳ, sân bay quốc tế, quốc hội và chính phủ cũng như lực lượng an ninh riêng – tức mọi thứ cần thiết của một quốc gia, ngoại trừ hộ chiếu và đồng tiền riêng của họ. Ở mức độ đó, họ thực sự đã vẽ lại bản đồ. Và vùng bên cạnh ở phía bắc Syria, những người Kurds đồng bào của họ về cơ bản cũng làm như vậy, kiểm soát và điều hành những vùng đất rộng lớn dọc biên giới Thổ Nhĩ Kỳ dưới danh nghĩa “tự quản”. Nhưng dù cho thực tế đó, cuộc đấu tranh để xác lập nền độc lập vẫn còn nhiều cam go, còn nhiều lực cản, từ cộng đồng quốc tế, từ các cường quốc khu vực Trung Đông, đến sự tranh chấp với chính quyền trung ương Baghdad cũng như mâu thuẫn nội bộ.
Tuy nhiên, bên cạnh cuộc tranh đấu gay gắt để giành chủ quyền đã gây ra nhiều khó khăn cho sự phát triển, người ta cũng có thể ghi nhận những tiến bộ không ngừng của công đồng người Kurds tại Iraq, so với các khu vực còn lại của quốc gia. Nhìn trên khía cạnh kinh tế, khu vực Kurdistan đã thay đổi từ vị trí ngoại vi trở thành trung tâm điểm trong những năm gần đây về sự thu hút vốn đầu tư và hàng tiêu dùng. Điều này chủ yếu do một số yếu tố: Đầu tiên, với trữ lượng dầu trong vùng, Kurdistan kể từ 2003 được kết nối vào hệ thống khai thác xăng dầu của Iraq và nhận được 17% doanh thu dầu mỏ của toàn quốc gia, từ đó, điều kiện sống, đặc biệt là của tầng lớp trung lưu, đã được cải thiện rất nhiều. Thứ hai, trong lúc cuộc chiến liên tục diễn ra ở các vùng còn lại của Iraq cho đến 2014, thì vùng Kurdistan vẫn ổn định, điều đó làm cho Kurdistan trở thành một nơi hấp dẫn hơn cho những nhà đầu tư nước ngoài. Thứ ba, đà tăng trưởng kinh tế nhờ vào nguồn tiền mà các lãnh chúa người Kurds đã tích lũy từ nhiều thập kỷ, cũng như các khoản đầu tư từ cộng đồng người Kurds ở hải ngoại vốn là những doanh nhân có mạng lưới kinh doanh toàn cầu. Thứ tư, chính phủ người Kurds tìm thấy và khai thác các mỏ dầu và khí tự nhiên, theo đuổi các chiến lược tiếp thị độc lập. Tuy nhiên, điều này cũng là một trong những lý do làm gia tăng căng thẳng với người Ả Rập thuộc dòng Shia, đại diện cho giới tinh hoa chính trị ở Baghdad. Ngoài ra còn có sự bất đồng về cái gọi là »khu vực tranh chấp«, tức là các vùng Ả Rập đông dân cư nhưng với tỉ lệ người Kurds cao, chẳng hạn như Kirkuk, nơi mà cả Baghdad và chính quyền địa phương người Kurds đều xem là vùng ảnh hưởng của mình [xem Savelsberg]. Điều này xem ra là hiểm họa lâu dài chi phối nền chính trị Iraq và an ninh khu vực.
Nói tóm lại, người Kurds đang và sẽ vẫn là đối tác, đồng thời là nạn nhân của chính sách địa chính trị của các cường quốc phương Tây ở Trung Đông. Ở Syria, kế hoạch rút quân đội Hoa Kỳ là thí dụ mới nhất về số phận của một dân tộc vốn đã từng mơ ước có thể trở thành nhà nước trong hàng trăm năm qua, nhưng cũng thường xuyên phải chôn vùi những giấc mơ đó. Những diễn biến địa chính trị vượt quá phạm vi ảnh hưởng của họ. Sự chia chác quyền lợi giữa các cường quốc, sự kình địch trong khu vực, sự ngạo mạn và tranh chấp nội bộ nhiều lần khiến người Kurds thất bại [xem Güsten].
Ngay cả trong tình hình hiện tại ở Iraq và Syria, họ chỉ có một vài lựa chọn giữa một số lựa chọn không mấy khả quan, nếu không nói là những lựa chọn rất tồi tệ đối với một dân tộc đang khát khao độc lập và giữ gìn bản sắc. Tuy nhiên ý chí giành độc lập của người Kurds vẫn không suy giảm. Nếu không có giải pháp hợp lý cho Kurdistan, thì vấn đề người Kurds – bên cạnh vấn đề Palestine – sẽ là những nhân tố gây xung đột tại địa phương và tạo ra bất ổn thường trực cho vùng Trung Đông, thậm chí trong một mức độ nào đó sẽ ảnh hưởng đến an ninh thế giới.
./.
Tôn Thất Thông – Tháng sáu, 2023
Tài liệu tham khảo
- Asseburg, Muriel: Der Nahostkonflikt (Xung đột ở Trung Đông). Landeszentrale für Politische Bildung – Baden Würtemberg (Trung tâm giáo dục chính trị bang Baden-Würtemberg).
- Avalon Project (Yale University of Law): The Sykes-Picot agreement of 1916 (Toàn văn bản Hiệp ước Sykes-Picot năm 1916).
- Avalon Project (Yale University of Law): United Nations General Assembly Resolution 181 (Nghị quyết số 181 của Liên Hiệp Quốc về việc phân chia Palestine thành hai quốc gia).
- BBC Monitoring: Sykes-Picot marked with bitterness and regret by Arab media (Truyền thông Ả Rập ghi nhận Sykes-Picot với sự cay đắng và ân hận). BBC 2016.
- BPB Editor: Vor 100 Jahren: Großbritannien und Frankreich vereinbaren das Sykes-Picot-Abkommen (Cách đây 100 năm: Anh và Pháp ký hiệp ước Sykes-Picot). Bundeszentrale für Politische Bildung, 2016.
- Dingley, James: Kurdistan zwischen Autonomie und Selbstveranwortung (Kurdistan giữa tự trị và tự lãnh trách nhiệm). APuZ – Aus Politik und Zeitgeschichte.
- Encyclopaedia Britannica: Sykes-Picot Agreement 1916.
- Güsten, Susanne: Die Kurden: Partner – und Opfer westlicher Großmachtsinteressen (Người Kurds: Đồng minh và nạn nhân của quyền lợi các đại cường phương Tây). BPB – Bundeszentrale für Politische Bildung.
- Hermann, Rainer: Wurzel des Nahostkonflikts (Nguồn gốc các xung đột ở Trung Đông). Frankfurter Allgemeine Zeitung FAZ, 2016.
- Lemke, Bernd & Brenner, Stefan Maximilian: Irak und Serien – Wegweiser zur Geschichte (Iraq và Seria – Hướng dẫn lịch sử). ZMFB – Zentrum für Militärgeschichte und Sozialwissenschaften der Bundeswehr.
- Muir, Jim: Sykes-Picot – The map that spawned a century of resentment (Bản đồ sản sinh một thế kỷ hận thù). BBC 2016.
- Ottaway, Marina: Learning from Sykes-Picot (Bài học từ Hiệp ước Sykes-Picot). Publication of Wilson Center, Washington DC – Middle East Program 2015.
- Philipp, Thomas: Die Palästinensische Gesellschaft zu Zeiten des Britischen Mandats (Xã hội người Palestine trong thời kỳ Anh cai trị ủy thác). BPB – Bundeszentrale für Politische Bildung.
- Sahin, Memo: Ein Grosskurdistan aus den Trümmern Iraks und Seriens? (Một đại quốc gia Kurdistan từ đống tro tàn của Irak và Seria?). Network of the German Peace Movement.
- Savelsberg, Eva & Siamend Hajo & Andrea Fischer-Tahir: Die Kurden: Minderheit in allen Staaten der Region (Người Kurds: dân tộc thiểu số trong tất cả quốc gia trong vùng). Trong Lemke, Bernd trang 157-169).
- Schareika, Nora: Wie Willkür zum Dauerzustand wurde (Sự tùy tiến biến thành tình trạng lâu dài như thế nào). N-TV.
- Wright, Robin: How the Curse of Sykes-Picot Still Haunts the Middle East (Tại sao Hiệp ước Sykes-Picot vẫn ám ảnh Trung Đông). The Newyorker 2016.







