Người La Mã- Phần 6

Phần VI: Mười Điều Tâm Niệm

1

Guy de la Bedoyere

Trần Quang Nghĩa dịch

Chương 22

 Mười Bước Ngoặc Trong Lịch Sử La Mã   

 Bước ngoặc là thời điểm trong lịch sử khi mọi thứ thay đổi mãi mãi đối với một nền văn minh. Ý nghĩa của nó tại thời điểm đó không phải  lúc nào cũng thấy rõ, nhưng đối với sử gia thì khác,  kể cả các sử gia La Mã , vốn có thể nhìn lại và nhận ra những giây phút quyết định trong quá khứ của La Mã.

Tống khứ các ông vua (509 BC)

Khi người La Mã tống khứ Tarquinius Superbus vào năm 509 BC, họ thiết lập một nguyên tắc kéo dài nhiều thế kỷ: không cần thêm vua nữa.  Kết quả là nền Cộng hòa La Mã được tạo ra đã định hình toàn bộ hệ thống La Mã cho năm thế kỷ tiếp theo, và ngay cả khi Augustus trở thành hoàng đế, ông phải xử sự như thể mình trị vì trong một hệ thống Cộng hòa. Ban có thể tìm sự kiện này trong Chương 10, và cách thức Augustus giải quyết bài toán làm một vì vua mà không có vẻ là vua trong Chương 15.

Lập ra Bộ Luật 12 Chương (450 BC)

Khi giới bình dân bắt buộc giới quý tộc chấp nhận một bộ luật thành văn nhằm bảo vệ quyền lợi của giới mình, người La Mã đã tạo ra một điều gì đó mà cuối cùng họ rất lấy làm hãnh diện: quan niệm về pháp trị, một nguyên tắc mà hầu hết quốc gia hiện đại đều kế thừa. Đối với người La Mã, nó cũng là hành động công khai chống lại sự Xung Đột Thứ Bậc, cho thấy thứ dân càng ngày càng nắm quyền kiểm soát chính trị qua các hộ dân quan của mình. Bạn sẽ tìm đọc sự Xung Đột Thứ Bậc ở cuối Chương 10 và giai đoạn sau của nó trong Chương 11.

Thắng Chiến tranh Punic lần hai (218-202 BC)

Việc tranh chấp giữa La Mã và Carthage là sự xung đột lớn nhất của thời đại. Chiến tranh  Punic lần 1 (bàn trong chương 12) gần như chấm dứt những tham vọng của Carthage và làm La Mã thêm lừng lẫy. Trong Chiến tranh Punic lần 2, trận chiến càng mang tính quốc tế với nhiều bên tham chiến. Những thất bại thảm khốc tại Hồ Trasimene (217 BC) và Cannae (216 BC) có thể đã quét sạch La Mã khỏi bản đồ thế giới. Sự kiện La Mã nhờ cậy vào đồng minh, trở lại cuộc chiến với lực lượng hùng mạnh hơn, và cuối cùng đánh bại Carthage tại Zama vào 202 BC càng thuyết phục người La Mã thêm tin tưởng vào thiên mệnh của mình và cho thế giới thấy mình có thể hoàn thành được việc ấy. Chiến tranh Punic lần 2 được đề cập trong Chương 12.

Năm 146 BC

Đây là năm cực kỳ đối với người La Mã vì nó khẳng định họ là quyền lực tối cao trong vùng Địa Trung Hải. Nó đánh dấu sự tàn rụi của Carthage như một đối thủ, bị đập tan trong một cuộc chiến nhỏ nhen và cay đắng không đem đến cho La Mã thêm vinh quang nào mà chỉ chứng tỏ những gì La Mã có thể làm nếu muốn. Năm đó cũng chứng kiến sự cáo chung chính thức của Hy Lạp như một xứ độc lập. Với quá nhiều quyền lực, người La Mã giờ đây sa đà vào những việc mà rất nhiều quốc gia hưng thịnh khác đã làm: bắt đầu chia rẽ và tranh cãi nhau vì của cải. Trong hơn một thế kỷ, La Mã bị xâu xé với một loạt những đấu tranh xã hội và thời đại của những impêrato. Chương 12 và 13 bàn về những sự kiện đỉnh cao dẫn đến năm 146 BC, và Phần III tiếp nối những gì xảy ra sau đó.

Những dàn xếp của Augustus với  Viện Nguyên lão vào 27 và 19 BC

Lời khoe khoang tự hào nhất của Augustus là mình đã phục hồi nền Cộng hòa La Mã. Ông khước từ tất cả quyền lực để Viện Nguyên lão có thể trao lại cho ông. Đây là mánh lới chính trị tuyệt vời nhất trong lịch sử La Mã cũng như của thế giới. Augustus rõ ràng là một hoàng đế trên thực tế, nhưng ông tạo ra một hư cấu xuất sắc là mình chỉ giữ vị trí trong hệ thống Cộng hòa  và xác định cách thức các hoàng đế tại vị phải trị vì cho nhiều thế kỷ sắp tới. Điều tuyệt vời là bằng cách này, Augustus có thể khiến nền Cộng hòa sống còn. Quay về Chương 16 để biết ông làm thế nào.

Bẻ gãy mối liên kết giữa hoàng đế và La Mã (AD 68-69)

Sử gia Tacitus nhận ra được ý nghĩa cốt lõi của Nội Chiến 68-69: Các hoàng đế không cần phải được xưng tôn tại La Mã. Họ có thể xưng vương tại bất kỳ nơi đâu miễn là họ có quân đội yểm trợ. Từ đó trở đi, Đế chế La Mã luôn trở thành mồi ngon cho các vị tướng đầy tham vọng có thực lực. Thực đáng ngạc nhiên khi 120 năm sau kể từ điểm mốc đó là những năm quá ổn định, nhưng từ khi Commodus mất vào năm 192,  sự xuất hiện trở lại của thời 68-69 đã định hình hầu hết phần còn lại của thế giới La Mã. Nội chiến 68-69 được đề cập trong Chương 16, và sự hỗn loạn của năm 192 và sau đó bắt đầu từ Chương 18.

Kết thúc truyền thống chinh phục (AD 117-138)

Hadrian là một trong những hoàng đế thú vị nhất La Mã. Một nghệ sĩ, một kiến trúc sư, và một người đam mê du lịch, ông đã tạo ra một số công trình nổi trội nhất của Đế chế La Mã, như Điện Pantheon ở La Mã. Nhưng ông đã làm một quyết định then chốt đi ngược với hướng đi của Đế chế: Biết rằng Đế chế quá rộng lớn để có thể quản lý và bảo vệ, ông lùi lại và củng cố các vùng biên giới và tuyên bố ‘bấy nhiêu là đủ rồi’. Từ thời trị vì của ông trở đi, Đế chế La Mã lội ngược dòng và lui về thế phòng ngự, đôi khi chiến đấu một cách tuyệt vọng để sống còn. Hadrian xuất hiện ở Chương 17.

Phân chia thế giới La Mã (284-305)

Diocletian là người cuối cùng trong hàng các hoàng đế quân nhân ở thế kỷ thứ ba. Nhưng không giống như nhiều hoàng đế tiền nhiệm, ông biết Đế chế La Mã sắp sửa phải thay đổi để đối mặt với các thách thức của tương lai. Nó đã phình to và gánh vác quá nhiều vấn đề biên giới mà một người có thể trị vì. Vì thế Diocletian phân chia Đế chế ra làm hai: Đông và Tây. Vào lúc đó, ý nghĩa thảm họa của phân chia này chưa thấy rõ, nhưng ông đã tạo ra mầm mống để Đế chế tách ra làm hai vào thế kỷ thứ năm. Miền Tây sẽ sụp đổ, trong khi miền Đông còn đi tiếp thêm một ngàn năm nữa. Nước đi cùng cực của Diocletian xuất hiện ở Chương 20.

Sắc luật Milan (AD 313)          

Vận mạng của La Mã đã được ‘tiên định’ bởi các thần linh __ một câu chuyện đóng một vai trò trung tâm trong tác phẩm Aeneid của Virgil __ vậy mà thiên tài của Constantine I (AD 3407-337) lại ngộ ra rằng Cơ đốc giáo có thể giúp giữ Đế chế hợp nhất. Sắc Luật Mila của ông khởi đầu một tiến trình biến Đế chế La Mã thành một nhà nước Cơ đốc bằng cách tuyên bố rằng mọi tôn giáo đều được bao dung __ đó là một cách nói để đón nhận những người Cơ đốc vào. Sư thay đổi làm nảy sinh những bài toán đặc thù, và nó đưa lịch sử La Mã rẻ sang một chiều hướng khác hoàn toàn mới và định hình không chỉ trong thế kỷ thứ tư mà còn toàn bộ bản chất của quyền lực và nhân diện của Đế chế La Mã miền Đông, sẽ kéo dài thêm 1,100 năm nữa. Xem Chương 20 về sự kiện này.

Sự thất thủ của La Mã (AD 410)

Khi La Mã rơi vào tay Alaric người Goth vào 410, sự san chấn tâm lý thật là to lớn. Ta hầu như không thể tưởng tượng sự kiện này sẽ tác hại ra sao. Nó không chỉ là sự thiệt hại về vật chất khi thành phố bị đột kích mà là sự tổn thương mà toàn bộ nền tảng của thế giới được biết đến phải gánh chịu, làm đầu óc tê tái. La Mã đã kiệt quệ sau hàng thập niên chiến chinh, nhưng một khi mà La Mã thất thủ, cho dù đoạn kết chỉ thực sự đến vào năm 476, mỗi người đều chắc chắn hiểu rằng những gì giống như xưa sẽ không bao giờ trở lại nữa. Chương 21 kể câu chuyện này.

    

Chương 23

 Mười Nhân Vật La Mã Thú Vị và Đôi Khi Tử Tế

Trong mỗi giai đoạn lịch sử, có một số ít con người nổi bật khỏi đám đông vì có năng lực định hình thời đại họ đang sống. Họ không nhất thiết phải là những nhân vật chọc trời khuấy nước, nhưng họ phần nào đang đứng ngay trung tâm của các sự kiện.

Cincinnatus (519-438 BC)

Lucius Quinctius Cincinnatus là một trong những con người thuộc truyền thống vĩ đại của Cộng hòa La Mã. Cincinnatus là quan chấp chính vào 460 BC, nhưng vào năm 458 BC, trong khi đang cày ruộng, ông được phong làm thống soái và nắm vị trí chỉ huy cuộc chiến chống người Volsci và Aequi. Cincinnatus hoàn thành trách nhiệm chỉ trong 16 ngày, sau đó ông trao lại chức tư lệnh và trở về cày ruộng. Năm 439 BC, ông lại được phong làm thống soái lần nữa, mặc dù lúc đó đã 80 tuổi, để đánh dẹp bọn mưu phản. Ông chỉ mất 21 ngày để hoàn thành nhiệm vụ rồi từ chức mà không chịu nhận ban thưởng. Cincinnatus là biểu hiện cao quí nhất của lý tưởng La Mã __ một con người trọng danh dự và có tài lãnh đạo và không mong muốn điều gì hơn là có thì giờ cày trên mảnh ruộng của mình. Thành phố Hoa kỳ Cincinnati trong bang Ohio được đặt theo tên ông.

Scipio Africanus Lớn (236-185 BC)

Publius Cornelius Scipio Africanus là đại anh hùng của Chiến tranh Punic lần 2. Thật ra, chiến tranh là bối cảnh của toàn thể cuộc đời ông.  Không chỉ ông ở Cannae vào 216 BC, mà trong năm 211, ông lại nghe tin cha và chú mình bị tử trận trong khi chiến đấu tại Tây Ban Nha. Phải gánh vác nhiệm vụ của người chủ gia đình khi mới 24 tuổi, Scipio được phong danh hiệu thống đốc đế quốc chưa từng có tiền lệ ở một tuổi quá trẻ và được cử đi trả thù cho gia đình mình. Ông đánh bại quân Carthage một cách oanh liệt tại Tây Ban Nha vào năm 206 BC và rồi ở châu Phi tại Zama vào năm 202 BC, khiến ông vang danh đại anh hùng La Mã. Cuối cùng bị kết án vì tội tham nhũng do Cato truy tố, Scipio kết thúc cuộc đời trong chốn lưu đày. Nhưng Scipio bước vào truyền thuyết La Mã như một anh hùng La Mã trọng danh dự và được mọi người tôn kính. Về sau gia đình ông bao gồm cả Scipio Aemilllianus Africanus Trẻ và anh em nhà Gracchius, mà bạn có thể đọc trong Chương 14.

Marcus Sergius (cuối thế kỷ thứ ba BC)

Một số người cho rằng Marcus Sergius là người La Mã can trường nhất từng sống. Vào thời Chiến tranh Punic lần 2, ông đã bị thương đúng 23 lần, trong đó có lần mất đi bàn tay phải, và chiến đấu trong bốn trận chỉ dùng bàn tay trái. Hannibal  bắt được ông hai lần, nhưng ông trốn thoát cả hai lần mặc dù bị xiềng xích và đánh đập trong 20 tháng. Có nhiều dự tính loại ông khỏi ban pháp quan vì có tật, nhưng Sergius vẫn kiên trì và được bầu lại. Ông có bàn tay phải bằng sắt chế tạo cho mình và tiến hành cuộc vây hãm Cremonia vào 200 BC trong cuộc chiến chống người Gaul Cisalpine, và chiếm được 12 doanh trại của địch. Mỉa mai thay cho một con người can trường và tấm gương vươn lên của người La Mã, các chắt của ông lại là tên Sergius Catilinus vô lại (xem y tại Chương 24).

Marcus Porcius Cato (234-149 BC)

Cato (đôi khi cũng gọi là ‘Cato Lớn’) được ngưỡng mộ trong lịch sử La Mã như một người tuân thủ nghiêm nhặt phẩm hạnh của truyền thống La Mã. Ông chiến đấu trong Chiến tranh Punic lần 2 (Chương 12) trong khi chỉ 17 tuổi. Cato được tiếng tăm vì không  là người dễ sa ngã vào thú vui trác táng. Ông chỉ uống nước và dùng thức ăn đơn giản. Cato ghét xa xỉ, bê tha, và đồi trụy dưới bất kỳ hình thức nào, thậm chí không ưa nghệ thuật  Hy Lạp vì cho rằng nó sẽ phá hỏng truyền thống giản dị kiểu nông thôn của La Mã. Ban có thể đọc về quyển cẩm nang người nông dân, tác phẩm có nhiều ảnh hưởng nhằm tôn vinh thần thoại La Mã về nguồn hạnh phước và thuần khiết nông thôn trong Chương 4. Những lời dạy nghiêm khắc về đạo lý của ông vang vọng xuống qua nhiều thế hệ về sau, và Virgil đã chọn ông làm một trong các phán quan của địa ngục trong thi phẩm Aeneid

Gaius Gracchus (mất 121 BC)

Gaius Gracchus (xem Chương 14) là một con người xuất chúng, như anh mình Tiberius, biết rằng La Mã không thể tồn tại nếu giới quý tộc nghị sĩ chỉ lo vun vén của cải của La Mã về mình. Không như Tiberius, Gaius Gracchus có đầu óc tổ chức và có một chương trình cải cách sâu rộng. Gaius Gracchus cũng hiểu rằng các đồng minh Ý của La Mã cần được tưởng thưởng tư cách công dân và tư cách Latinh. Các biện pháp ông đưa ra để phục hồi tự do cho dân chúng khiến giới quý tộc rất căm ghét ông, và như anh mình, ông trả giá bằng mạng sống của mình. Nhưng anh em Gracchus trở thành các thánh tử đạo trong sự nghiệp cải tổ chính trị, và Viện Nguyên lão không có lựa chọn nào ngoài chấp nhận nhiều điều họ đã làm. Các cái chết dữ dội của họ tạo sắc thái u ám của nền chính trị La Mã, kéo dài cho đến gần một thế kỷ sau khi Augustus lên nắm quyền.

Julius Caesar (102-44 BC)

Caesar xứng đáng có chỗ trong danh sách này vì ông là người La Mã lừng danh nhất từng sống. Hãy nêu thẳng một điều: Caesar không phải là hoàng đế, dù đôi khi ông mô tả như thể mình là hoàng đế. Nhưng ông là một nhà chính trị lão luyện, nhà vận động quần chúng thiên tài và thao túng các đối thủ cạnh tranh. Là một nhà truyền bá không mệt mõi về bản thân mình, Caesar có tầm nhìn cho hậu thế và để lại đời sau các ghi chép của ông về một số hoạt động này. Cuối cùng ông đi quá xa đối với bọn phản động vu cáo ông đang tự biến mình thành vua. Họ có thể đã giết ông nhưng tất cả điều họ làm là củng cố vị trí của Caesar trong lịch sử và tạo ra một thời kỳ khủng hoảng dẫn đến việc người cháu Augustus của Caesar thiết lập một chế độ quân chủ. Chính tên tuổi của Caesar đã vang vọng qua nhiều thời đại, ảnh hướng đến mỗi nhà lãnh tụ quân sự vĩ đại kể từ đó.

Augustus (63 BC – AD 14)

Augustus là một lựa chọn hiển nhiên, không thể nào không nhắc đến ông ở đây. Ông không phải là vị tướng vĩ đại, nhưng ông là kẻ chiến thắng ở giai đoạn cuối của tất cả những cuộc nội chiến kinh khiếp vào thế kỷ đầu BC, và thay vì sử dụng quyền lực mình để làm giàu và tự biến mình thành kẻ chuyên quyền, ông lại tạo ra chế độ nguyên thủ (Đế chế được ngụy trang như là một nhà nước Cộng hòa được phục hồi với ông là ‘đệ nhất công dân’ __ xem Chương 16). Điều ông ta hoàn thành chính là hình ảnh hoàng đế của mình, một nhân diện không có tuổi phổ quát kết nối mỗi thành phần của thế giới La Mã lại với nhau dưới một cái dù duy nhất. Ít có người kế vị nào sánh được như ông về mặt này, và đó là hồng phúc của La Mã  có được một người như ông. Augustus chắc chắn không hoàn hảo về mọi mặt, nhưng nếu đem so với một số hoàng đế về sau, ông là một hoàng đế La Mã anh minh như kỳ vọng.

 

Pliny Lớn (AD 23-79)

Tôi yêu quí Pliny Lớn. Ông say mê thế giới quanh mình và, nhờ trời, ông ghi chép hết cho riêng mình và cho chúng ta. Quyển Lịch Sử Tự Nhiên của ông chất đầy những kiến thức lưu truyền của khoa học La Mã, cùng với vô vàn những giai thoại, những lý thuyết còn non nớt, những sự kiện lịch sử, và những chuyện vặt vãnh. Cuốn sách rất thu hút, cũng như  vui tươi. Niềm say mê về thế giới quanh ông khiến ông thực sự là một trong những người ‘hiện đại’ đầu tiên __ nếu ông sống sau nhiều thế kỷ ông có thể là một trong những thiên tài của thời Phục hưng hoặc một nhà khoa học thời Victoria. Ông chết thật thích hợp khi đến tận nơi quan sát núi lửa Vesuvius phun trào vào AD 79. Thật là một con người thực sự cuốn hút.

Carausius (trị vì AD 286-293)

Bao gồm Carausius vào đây là một ưu ái hiển nhiên về phần tôi. Tôi thực sự mê hoặc con người này, từ một nơi hoàn toàn mờ mịt trên bờ Biển Bắc của Bỉ bổng nổi lên nắm quyền chỉ huy hạm đội La Mã được cử đến để dẹp bọn hải tặc. Cuối cùng ông tự xưng mình là hoàng đế ở Anh và một phần xứ Gaul, trước sự thịnh nộ của Diocletian và Maximian. Carausius làm sống lại các truyền thống, thần thoại và văn học  La Mã cổ xưa. Ông tuyên bố chế độ mình là một Đế chế La Mã được phục hồi, hoàn toàn mới. Ông là sản phẩm tột cùng mang dấu ấn của Augustus và báo trước kiểu hoàng đế La Mã mà thời trung cổ phỏng theo vì thế giới La Mã đã tạo ra một khuôn mẩu  của quyền lực.  

Sextus Valerius Genialis (cuối thế kỷ thứ nhất AD)

Sextus Valerius Genialis là một nhân vật vô danh, nhưng tôi thêm ông vào đây vì ông đúc kết Đế chế La Mã. Vật duy nhất còn lưu lại của người này là bia mộ của ông. Nó cho biết ông đến từ Frisia, vừa bên kia biên giới sông Rhine. Genialis gia nhập quân đội La Mã và phục vụ 20 năm, chết ở tuổi 40 khi đang đi chiến dịch ở Anh trong cuối thế kỷ thứ nhất AD với một cánh kỵ binh từ Thrace  vào bắc Hy lạp.  Tên ông cho thấy là ông là công dân La Mã, đây là điều bất thường đối với một binh lính hổ trợ khi ông không phải đợi cho đến khi về hưu mới được trở thành một công dân La Mã. Chắc hẳn ông được tưởng thưởng khi đang làm nhiệm vụ. Nếu không  đề cập Frisia trên mộ bia, chúng ta chắc chắn không biết Genialis xuất thân từ đâu. Genialis là một ký hiệu của hàng triệu người không kể xiết khác từ những nơi cách La Mã hàng trăm dặm, một thành phố ông chắc hẳn không hề nhìn thấy, với tham vọng lớn nhất trong đời là trở thành một công dân La Mã. Việc họ khao khát điều đó và được cho phép làm điều đó là một trong những lý do khiến Đế chế La Mã trở nên hùng mạnh như thế.   

 

Chương 24 

Mười Người La Mã (Hầu Hết Là) Xấu

 Như mọi lịch sử dù tốt đẹp cỡ nào, lịch sử La Mã cũng đầy những tên vô lại. Những tên vô lại làm nên những sự trọng đại, và những người La Mã vui thích khi bắt những tên phạm tối xấu xa nhất được hậu thế nhớ mãi. Tôi đã chọn ra mười tên, nhưng tôi dám chắc bạn có thể chọn ra mười lần nhiều hơn thế.

Tarquinius Superbus (535-509 BC)

Trong biên niên sử La Mã, Tarquinius Superbus (xem Chương 10) sẽ được biết đến như là tên vô lại tệ hại nhất của mọi thời. Không chỉ là một người Etruscan, hắn còn trở thành vua bằng cách âm mưu sát hại cha vợ mình. Hắn được gọi là Superbus vì sự hãnh tiến và hống hách của mình (superbus có nghĩa là ‘xấc láo, hống hách’). Hắn phớt lờ Viện Nguyên lão và các hội đồng bình dân, vì thế cả hai đều căm ghét hắn.  Người ta đồn rằng nhiều công dân bị ép đi làm việc trong hệ thống thoát nước công cộng tìm cách tự tử vì quá sức chịu đựng. Tarquinius đóng đinh trên thập giá các thi thể những người xấu xố này cho thú dữ ăn thịt. Hắn còn bòn rút sạch ngân khố. Khi con hắn Sextus phạm tội hiếp dâm Lucretia, đó là giọt nước làm tràn ly đối với dân chúng La Mã. Khi Tarquinius bị đánh đuổi ra khỏi La Mã, đó là đoạn cuối của thời La Mã bị các ông vua cai trị.

Coriolanus (527-490 BC)

Caius Marcius là anh hùng tại Trận Đánh Hồ Regillus vào 496 BC trong cuộc chiến với Liên minh Latinh (xem Chương 11). Y tham gia trong trận vây hãm thị trấn Corioli, thuộc bộ tộc Volscian Latinh. Bọn Volscian tràn ra tấn công quân La Mã, nhưng Marcus dẫn một toán quân và đẩy lùi chúng vào lại Corioli. Vì chiến công này y được trao danh hiệu Coriolanus. Nhưng Coriolanus là một nhà quý tộc và các thứ dân không ưa cung cách của y __ thậm chí y còn ngừng phát gạo cho đến khi thứ dân chịu tẩy chai các hộ dân quan của họ. Sau khi bị buộc phải rời La Mã, y liền theo phe người Volscian và dẫn họ tấn công La Mã. Đây coi như là một hành động phản bội tráo trở đê hèn nhất có thể tưởng tượng được. Y chỉ rút lui khi vợ và mẹ y ra cổng thành La Mã yêu cầu y lui quân. Sau này William Shakespeare lấy câu chuyện của y cho một vở kịch nổi tiếng của ông.

Sulla (138-78 BC)

Sulla (xem Chương 14) bước vào lịch sử như một người hành quân vào và chiếm đóng La Mã. Với hành động đó, y bị nguyền rủa tới muôn đời trong lịch sử La Mã. Là một trong những người chịu trách nhiệm trong việc thất thủ của Cộng hòa La Mã, ông  vươn đến tiếng tăm và quyền lực như một đối thủ chính của tướng Gaius Marius và bào chữa cho việc chiếm La Mã vì lúc đó nó trong tay của một nhóm do Marius cầm đầu. Sulla vô cùng tàn nhẫn không thương xót đối với kẻ thù, nhưng đó là một dấu ấn của thời đại mà trật tự tương đối mà y áp đặt có nghĩa là y được bổ nhiệm làm một nhà chuyên chế. Lịch sử La Mã nhớ mãi thời trị vì của y là một thời kỳ khủng khiếp với bắt bớ, hành hình vô cớ, lưu đày, và tịch biên. Không lấy gì ngạc nhiên klhi sử gia Appian người Hy lạp viết trong đầu thế kỷ thứ hai AD gọi thời trị vì của y là một ‘thời độc tài tuyệt đối ‘ của quyền lực và bạo lực.

Sergius Catilinus (mất 63 BC)

Lucius Sergius Catilinus là một trong những sĩ quan của Sulla, vì thế không có gì ngạc nhiên khi y cũng một tên vô lại khát máu. Là sản phẩm điển hình của thời đại, Catilinus ly hôn vợ và lấy một người được thừa kế để bảo đảm cho tham vọng chính trị của mình. Là một thống đốc tỉnh lỵ, y tham ô tiền bạc và không đủ tư cách được bầu làm chấp chính khi bị điều tra. Y tìm kiếm tiền tài và quyền lực bằng  mưu mô. Y đã bị Cicero mạt sát trong những bài diễn văn lừng danh của ông trong đó Cicero kết án y là kẻ lừa đảo cần phải loại ra nếu không muốn La Mã bị chà đạp bởi những những người như y.

Gaius Verres (khoảng 109-43 BC)

Verres khét tiếng là người vơ vét đến tận cùng những tỉnh lỵ mà y đến trấn nhậm. Verres chiếm đoạt của thừa kế, thông qua những sắc luật để moi tiền các nhà nông, đòi tiền hối lộ để tha bổng những kẻ phạm tội, và thậm chí __ đây được xem là tội nặng nhất trong tất cả tội __ tra khảo và hành hình những công dân La Mã như bọn nô lệ. Y tuyệt đối là loại quan La Mã tệ hại nhất có thể tưởng tượng được, vì những người như y có thể quét sạch tiếng tăm mà La Mã tạo dựng được. Vào năm 70 BC,  quan tòa Cicero lãnh trách nhiệm luận tội Verres về cáo buộc tống tiền. Mặc dù Verres và đồng bọn ra sức hối lộ để chạy tội, nhưng chứng cứ thì đầy dẫy. Vì thế trước khi vụ xử kết thúc, Verres trốn thoát và y trở thành kẻ sống ngoài vòng pháp luật với tiền thưởng cho người bắt được y. Y bị Mark Antony hành quyết  khoảng 43 BC.

Caligula (trị vì AD 37-41)

Tính côn đồ của Caligula là một trong những câu chuyện vô giá của Đế chế La Mã. Y chỉ là vị hoàng đế thứ ba đi theo sau bước chân của Augustus với tất cả thành tựu của mình, và sau đó hoàng đế Tiberius khốn khổ ít nhất có được thành tích là một người hùng chiến chinh. Caligula không có được thứ gì trong những điều trên để dâng tặng cho dân chúng La Mã, và y hoàn toàn bất lực. Thêm vào đó, cơn bạo bệnh xảy đến là nguyên liệu của tai họa. Phần còn lại của thời trị vì của y là một vòng tuần hoàn những ảo tưởng điên loạn, biến thái, trụy lạc, và tàn bạo không thương xót.

Nero (trị vì AD 54-68)

Nero, người cuối cùng của dòng họ Julio-Claudian, là một nhân vật buồn cười, nhưng là một món quà đối với các sử gia Suetonius và Tacitus, những người thích kể câu chuyện của gã thanh niên lố bịch này. Tự lừa dối là người có tài năng nghệ thuật vĩ đại, cả cuộc đời trưởng thành của y (sau khi đã thanh toán xong mẹ mình Agrippina) là một chuỗi những trò trác táng, bạo lực, tô chuốt bản ngã, và ngông cuồng biến thái. Không ngạc nhiên khi các giai thoại về việc trị vì của y biến y thành một điển hình của kẻ bạo ngược trong những thời đại về sau.

Commodus (trị vì AD 180-192)

Commodus có chỗ trong danh sách này vì y là tên hoàng đế kết thúc Thời đại của Năm Vị Minh quân. Từ 96-180 (xem Chương 17), Đế chế La Mã và hầu hết những người tự do sống trong giai đoạn này đều hưởng được thời kỳ tuyệt vời của sự hưng thịnh và ổn định. Rồi tất cả đều hóa tệ vì Commodus là con trai của Marcus Aurelius mà hổ phụ lại sinh ra cẩu tử (tất cả những hoàng đế khác đều không có con trai, nên quyền lực được giao cho những con người xứng đáng nhất). Commodus là một thằng điên đần độn nên mới giao cả quyền hành cho những viên chức biến chất và suốt ngày chỉ lo biểu diễn trong đấu trường.  Quả là một bi kịch cho La Mã, và cái chết bất đắc kỳ tử của y là điều không tránh được, báo trước một thế kỷ nội chiến liên miên và một loạt những hoàng đế quân nhân kế tiếp nhau.

Didius Julianus (trị vì AD 193)

Điều làm Didius Julianus nổi bật là, không giống các hoàng đế trước, y chỉ biết quan tâm đến y và gia đình y và không gì khác. Thậm chí y không có một quân đội để hậu thuẩn. Tất cả thứ y có là bà vợ đầy tham vọng Manlia Scantilla và con gái Didia Clara. Vào đầu năm 193, y ra giá 25,000 xettec cho mỗi tên lính nếu họ tôn y làm hoàng đế, trước sự ghê tỡm của mọi người. Kết quả là một lời kêu gọi trả thù dâng cao, và Đế chế La Mã bùng nổ một cuộc nội chiến khi những phe báo thù đối kháng đánh nhau để giành quyền kiểm soát tối cao (xem Chương 18). Didius Julianus đã đưa Đế chế xuống một mức thấp mới__ mỉa mai thay y không hề trả lương cho binh lính và bị hạ sát chỉ sau hai tháng.

Caracalla (trị vì AD 211-217)

Khi Septimius Severus chọn Caracalla và em trai Geta làm cặp hoàng đế và người kế vị của y, mục đích là sáng lập một triều đại mới. Còn gì sai quấy hơn? Ngay khi Severus qua đời vào 211, là Caracalla tác oai tác oái. Anh em lìa nhau và Caracalla sát hại em và bọn tay chân, và không từ vợ mình. Thời gian trị vì ngắn ngủi và tàn bạo còn lại của y là một vòng xoáy những âm mưu và giết chóc khi y đắm chìm trong hoang tưởng ngở mình là hiện thân của Alexander Đại Đế. Không lạ gì khi chính y cũng bị sát hại. Thời trị vì ngắn ngủi và côn đồ của y là  thời trị vì đầu tiên của nhiều thời kỳ tệ hại theo sau  kéo dài ngót một thế kỷ.

Elagabalus (trị vì AD 218-222)

Elagabalus là nạn nhân của tham vọng ngông cuồng của bà mẹ mình (Chương 19). Nhưng ông làm điều đó thêm tồi tệ bằng những trò trụy lạc đầy ám ảnh của mình, không chừa cả việc cưới một nữ tu đồng trinh. Hành động này làm người La Mã nổi giận, và rồi việc thờ cúng Thần Mặt Trời mà y sùng bái bằng cách xây dựng một đền thờ khổng lồ trên đồi Palatine ở La Mã lại làm họ ghê tỡm. Điều cốt lõi là Elagabalus tuyệt đối không hiểu chút gì về trách nhiệm của một hoàng đế La Mã ngoài việc cho đó là cơ hội để dấn sâu vào những hành vi hoàn toàn khác lạ với phẩm giá tương xứng với cương vị mình nắm giữ. Y làm La Mã và Đế chế phẫn nộ, là tiền đề của cái chết dữ dội chờ đón y.

Chương 25

 Mười Kẻ Thù Lớn Nhất của La Mã   

Hannibal (247-182 BC)

Phần thưởng cho kẻ thù không đội trời chung bậc nhất của La Mã thuộc về Hannibal của Carthage. Cha ông Hamilcar bắt ông thề căm thù người La Mã suốt đời, và chiến dịch ở Tây Ban Nha của ông bảo đảm La Mã sẽ lâm chiến. Những năm tháng hào hùng nhất của Hannibal  là trong Chiến tranh Punic lần 2 (218-202 BC) khi ông dẫn dắt binh lính của mình trên cuộc hành quân huyền thoại và hào hùng vượt qua dãy núi Alps vào đất Ý ở đó ông đánh bại người La Mã tại Trasimene và Cannae. Ông sống sót qua chiến tranh và vẫn còn nắm quyền ở Carthage, nhưng điều đó cho La Mã cái cớ để ngờ vực toan tính của ông. Cuối cùng ông phải chạy thoát đến Antiochus III, nhưng sau khi La Mã đánh bại Antiochus, Hannibal phải tự tử. Đó là một kết thúc bi đát cho một quân nhân kiệt xuất mà tên tuổi và tai tiếng quá lớn đến nổi Carthage vẫn còn là cơn ác mộng của La Mã, cuối cùng dẫn đến Chiến tranh Punic lần 3 vô cớ và dữ dội. Xem Chương 13 về Hannibal.

Antiochus III (242-187 BC)

Antiochus III ‘Đại Đế’ xứ Syria kế vị cha mình Seleucus II vào năm 223 BC, mà thời trị vì là một loạt những bất hạnh, bao gồm thất trận trước Ai Cập và Parthia. Antiochus quyết tâm tái thiết vương quốc Seleucid ở Syria và, vào năm 206 BC, đã chiếm Armenia và cũng đặt Parthia dưới quyền kiểm soát. Vấn đề của bất kỳ nhà chuyên chế muốn bành trướng nào như Antiochus là không sớm thì muộn cũng phải đụng độ với La Mã. Vì thế kế hoạch phân chia của cải của Ai Cập với Philip V khiến La Mã phải đề phòng, và khi ông xâm chiếm Thrace rồi Hy Lạp, chiến tranh lập tức bùng nổ. Chắc chắn Hannibal là người xúi giục Antiochus khiêu khích La Mã lâm trận và cũng góp ý Antiochus xâm lăng Ý. Không may cho cả hai, Antichus thảm bại tại Thermopylae và Magnesia, cũng như trên biển và nền hòa bình ông bắt buộc phải chấp nhận vào năm 188 BC phá vỡ cơ hội cho người Seleucid trở thành một lực lượng đáng gờm trong vùng Địa Trung Hải. Antichus bị giết chết vào năm 187 BC khi đang cố đánh chiếm kho báu đền thờ của vương quốc phương đông Susiana để lấy tiền trả phạt hàng năm cho La Mã. Xem Chương 13 để biết thêm về Antichus.

Mithridates VI, Vua xứ Pontus (120-63 BC)

Đối thủ kiên cường nhất của La Mã ở miền Đông là Mithridates, một người ngưỡng mộ Alexander Đại Đế. Khi Mithridates V xứ Pontus (ở Tiểu Á) bị vợ Laodice mưu sát tại Sinope, Mithdates VI thoát chạy và lẫn  trốn cho đến khi tập họp được binh lính và trở về. Mithdates đánh chiếm Sinope, hạ sát em mình, tống mẹ mình vào ngục tối và tiếp quản vương quốc. Ông tiếp tục công việc mở rộng  vương quốc mà cha mình đã bỏ dở, nhưng đụng phải La Mã khi ông thử thời vận tại Cappadocia và cuộc chiến bùng phát. Mithridates bị Sulla đánh bại năm 85 và đuổi ra khỏi Hy Lạp, nhưng rồi đến năm 81 lại đánh nhau với người La Mã lần nữa. Chiến tranh bùng nổ một lần nữa vào năm 74 khi La Mã cố chiếm lấy Bithynia và kéo dài đến 63 BC khi  sự cai trị áp bức của Mithridates đã làm dấy lên một cuộc nổi dậy lại do chính con trai ông là Pharnaces cầm đầu. Ông bị một tên cận vệ hạ sát.

Spartacus (chiến đấu 73-71 BC)

Spartacus là một nô lệ người Thrace trở thành một võ sĩ giác đấu từ trường huấn luyện ở Capua. Ông có học thức và thể chất cường tráng. Cuộc nổi dậy bùng phát vì ông chủ trường, Lentulus Batiatus, quá tàn bạo. Spartacus được bầu làm một trong nhóm thủ lĩnh. Dân nô lệ khắp nơi nổi loạn, đánh bại vài đoàn quân La Mã, hết lần này đến lần khác. Nhưng Spartacus thấy không thể nào thuyết phục được các nô lệ trốn chạy khỏi Ý vì họ còn say sưa cướp bóc. Cuối cùng ông bị Marcus Licinius Crassus dồn vào đường cùng vào năm 71 BC và bị đánh bại hoàn toàn, sau đó bị giết chết hoặc bị bắt và đóng đinh trên thập giá.

Cleopatra VII xứ Ai Cập (69-31 BC)

Không giống như các kẻ thù khác của La Mã trong danh sách này, Cleopatra  đùa cợt với người La Mã hơn là đánh lại họ. Bà biết rằng người La Mã có lực lượng hùng mạnh và cách tốt nhất là lèo lái họ để phục vụ cho lợi ích của mình. Nổi tiếng vì sắc đẹp và tài trí, Cleopatra tranh thủ tối đa để rù quến Julius Caesar và sau đó Mark Antony. Caesar hoàn toàn bị nữ hoàng Ai Cập chinh phục mặc dù lúc ấy bà chỉ mới 17 tuổi (và ông 52). Bà sinh

cho ông một con trai tên caesarion và sau đó lại có con với Antony.

Chuyện tình ái của Cleopatra và hai người đàn ông kiệt xuất này là một trong những chuyện phi thường nhất của thời cổ đại và là chủ đề của nhiều phim bom tấn của Holywood.

Vercingetorix (chiến đấu 52 BC, mất 46 BC)

Vercingetorix lãnh đạo người Gaul nổi dậy chống Julius Caesar vào 52 BC. Cuộc chiến kéo dài 6 năm, và lần đầu tiên Vercingetorix thống nhất được các bộ tộc xứ Gaul cùng hiệp lực cho chính nghĩa. Quân Vercingetorix dùng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến, phá hủy nông trại và làng mạc, cắt đứt khâu tiếp tế lương thực của quân La Mã. Người Gaul có công sự, thành lũy trên đỉnh đồi, có thể chịu được sức công thành của Caesar. Các đoàn quân của ông ồ ạt tiến vào Avaricum (Bourges ngày nay) và tàn sát gần 40,000 dân cư, nhưng Vercingetorix đánh bại Caesar tại Gergovia khiến ông bẽ mặt và vực dậy tinh thần của quân nổi dậy. Đỉnh điểm của cuộc chiến là trận vây hãm Alesia (Alexia) tại đó quân Caesar, với đa số áp đảo,  xây dựng những công sự vây hãm khổng lồ ngăn không cho quân tiếp viện đến được với quân trong thành Alesia. Alesia thất thủ trong trận đánh cuối cùng, và Vercingetorix phải đầu hàng, bị Caesar hành hình tại La Mã vào năm 46 BC. Nhưng ông đã trở thành một khẩu lệnh xung phong cho chủ nghĩa dân tộc Gaul.

Caratacus (chiến đấu AD 43-51)

Caratacus lãnh đạo cuộc kháng chiến chống người La Mã xâm lược Anh ngay từ khi người La Mã đặt chân đến vào năm 43. Không giống hầu hết những cuộc kháng chiến chống La Mã, cuộc kháng chiến của ông kéo dài đáng kể, nếu xét những lực lượng đánh lại ông. Là ông hoàng của bộ tộc Catuvellauni, lãnh thổ của ông nhanh chóng bị quân địch tràn ngập, ông phải chạy thoát về vùng đồi núi xứ Wales tại đó ông tập họp các bộ tộc và ngăn chận quân La Mã tại vùng nông thôn cao nguyên hiểm trở. Ông bắt đội quân hùng mạnh nhất của thời cổ đại phải chạy đôn chạy đáo săn lùng ông. Cuối cùng quân La Mã đánh bại ông trong một trận đánh chủ lực, nhưng Caratacus cũng thoát được và ẩn náu cùng với một nữ thủ lĩnh bộ tộc tên Cartimandua. Rủi thay cho Caratacus, bà ta bán đứng ông, giao nộp ông cho quân La Mã, và ông được đưa về La Mã. Không như Vercingetorix, ông được hoàng đế Claudius đối xử  tử tế, trợ cấp cho ông suốt đời. Ông sống đến cuối đời tại La Mã, không ngừng thắc mắc tại sao người La Mã lại quan tâm đến việc chinh phục một nơi heo hút, sơ khai như Anh quê ông.

Boudica (mất AD 61)

Vào 60-61, Boudica cầm đầu một cuộc nổi dậy hủy diệt ở Anh chống ách cai trị của người La Mã (xem Chương 16). Bà được mô tả là một người phụ nữ ấn tượng  và mạnh mẽ với bờm tóc đỏ rực. Boudica và gia quyến là nạn nhân của lối cai trị áp bức của người La Mã. Nhưng điều khiến bà thực sự tuyệt vời là cách thức các sử gia như Tacitus và Dio mô tả Boudica như đối lập chính xác với Nero. Nero là một người đàn ông ẻo lả không có phẩm chất nào mà một nhà lãnh đạo La Mã nên có, còn Boudica là một phụ nữ man rợ đầy nam tính với tất cả những phẩm chất lãnh đạo, can trường, và ái quốc.

                           

Simon Bar Cochba (chiến đấu AD 132-135)

Tên Bar Cochba nghĩ là ‘con trai của vì sao’.  Ông lãnh đạo cuộc nổi dậy vĩ đại của người Do Thái chống lại người La Mã ở Palestine dưới thời Hadrian, hậu quả của những thập kỷ bất mãn kể từ khi người La Mã phá hủy Jerusalem và Đền Thờ vào năm 70. Hadrian khích động cuộc nổi dậy khi cấm tập quán cắt da quy đầu của người Do Thái và dự định xây dựng một thành phố mới trên địa phận của Jerusalem. Bar Cochba sáng lập nhà nước Do Thái độc lập và được một số người cho rằng ông chính là Đấng Tiên tri của người Do Thái. Hadrian cử một vị tướng tên Julius Severus, đã từng dạn dày chinh chiến ở Anh, dẹp tan cuộc nổi dậy. Sử gia Dio cho rằng cuộc chiến đã phá hủy 50 pháo đài và 985 ngôi làng, cướp đi sinh mạng của 580,000 người. Con số chắc chắn đã được thổi phồng, nhưng rõ ràng đây là một cuộc chiến đẫm máu. Khi quân nổi dậy tan rã, một số lẫn tránh ở những hang động vùng Biển Chết, nhưng Bar Cochba thì bị tử trận trong một cuộc đột kích của quân la Mã tại một nơi tên Bethar. Jerusalem được thay thế bằng một thành phố có tên Aelia Capitolina.

Các bộ tộc Đức

Ngay khi La Mã tiến về phía bắc vào xứ Gaul và trung tâm châu Âu, họ trở thành mồi ngon cho các bộ tộc Đức. Sông Rhine đánh dấu biên cương, và trong suốt chiều dài lịch sử Đế chế La Mã, giữ vững biên cương ấy là một cơn ác mộng triền miên trong đó sự tồn tại của La Mã phụ thuộc vào. Quân Đức bắt đầu trở thành vấn đề lớn dưới thời Augustus mặc dù những nỗ lực kết thân với các thủ lĩnh các bộ tộc Đức. Thảm họa AD 9 khi ba quân đoàn La Mã bị tiêu diệt (xem Chương 16) là một chấn thương tâm lý cho La Mã. Một trong các bộ tộc tham chiến là Chatti, sau đó có tham gia trong cuộc Nổi Dậy Civilis (69-70) (cũng trong Chương 16). Domitian (81-96) phải cho củng cố khoảng hở giữa sông Rhine và Danube để đẩy lùi quân Chatti và đã thành công. Dưới thời Marcus Aurelius (161-180), chiến tranh lại bùng nổ trên vùng biên giới lần nữa. Trong suốt thế kỷ 3 và 4, chiến tranh đến rồi đi. Người Đức đóng một vai trò của mình trong những ngày cuối cùng của Đế chế La Mã miền Tây, thậm chí còn chọc tức Valentinian I đến chết vào năm 374 (Chương 21).

Chương 26 

Mười (hoặc đại loại thế) Điểm Tham Quan Tuyệt Vời của La Mã  

La Mã và Ostia

Hai địa điểm này là lựa chọn hiển nhiên. La Mã còn lại di tích của quảng trường, cung điện, Pantheon, cầu La Mã gốc, và Colosseum, tất nhiên, tất cả địa danh này đã xuất hiện trong sách. Ngoài ra, không có di tích nào sánh được với di tích cảng La Mã ở Ostia, cách nửa giờ đi tàu hỏa theo bờ biển ở cửa sông Tiber. Với đường phố, nhà kho, các khu căn hộ, và lăng mộ, nó gợi lên hình ảnh xa xưa của La Mã.

Một cảnh ở Ostia

 

Pompeii và Herculaneum

Pompeii là nơi duy nhất trong Đế chế La Mã, ngoài Ostia, là nơi ban có thể có một ý niệm về một thị trấn La Mã như một cơ chế vận hành. Nơi đây ta có thể bắt gặp những nhà hát và những ngôi nhà với tường được trang trí. Nhưng muốn được một cảm xúc thật sự của nơi này, hãy thơ thẩn trên đường phố và ngắm nhìn những vết lún mòn sâu của những nền đá __ chứng cứ của cuộc sống thực sự đã được chạm khắc nơi đây trước khi nôi này bị núi lửa Vesuvius chôn vùi vào tháng 8 năm 79. Cách vài dặm về phía bắc cảnh tượng còn nổi bật hơn nữa, nhưng ít được thăm viếng, đó là phế tích Hercylaneum. Bị nhấn chìm bởi nham thạch phun trào, Herculaneum bị chôn vùi sâu hơn, với đủ thứ tàn tích hữu cơ được bảo quản, cho đến những mẩu bánh mì bị cháy xem trong quán rượu bên đường. Ở đây bạn có thể trong thấy những ngôi nhà La Mã có các phòng trên tầng và một quán có giá gỗ treo các bình gốm amphorae.

Một cảnh ở Herculaneum

Ravenna

Hầu như bị quên lãng ở miền đông-bắc Ý, Ravenna là nơi triều đình miền Tây tọa lạc vào cuối thế kỷ thứ tư. Do ở vị trí cô lập, nhiều nhà thờ La Mã hoành tráng và những dinh cơ khác còn tồn tại hầu như còn nguyên vẹn. Có lẽ tòa nhà gây kinh ngạc nhiều nhất là lăng mộ của Theodoric Đại Đế, vua của dân Ostrogoth (cai trị Ý AD 493-526) với mái vòm bằng đá Istrian nguyên khối, rộng 10 mét và nặng khoảng 300 tấn. Những công trình này, dù được xây dựng muộn hơn các công trình La Mã khác, vẫn lưu giữ được những đặc điểm kỹ thuật mà nơi khác đã không còn. Hãy đến Chương 21 để có thông tin về Galla Placida và Theodoric Đại Đế.

Lăng mộ Theodoric Đại Đế

Ephesus

Nằm trên bờ biển phía tây của Thổ Nhĩ Kỳ và cách một giờ xe chạy về hướng nam từ cảng Izmir là Ephesus, từng là một trong những thành phố lớn nhất Tiểu Á. Từng là một cảng sầm uất, Ephesus đã chết khi cảng bị bùn lấp cạn. Phong thái cổ đại của Ephesus được phản chiếu trong qui mộ hùng tráng của phế tích, trong đó có Đại Hí Viện, nơi St Paul giàng đạo cho người Ephesus vào giữa thế kỷ thứ nhất AD, và mặt tiền sừng sững của Thư viện Celsus, đã được dựng lại từ phế tích. Khi đi thơ thẩn quanh nơi đây, tôi cảm nhận được ý nghĩa thấm đẫm của sự vô thường của cuộc đời.

 

Aphrodisias

Aphrodisias ở Thổ Nhĩ Kỳ, và chỉ sau những khai quật gần đây, mới có được nhiều điều để xem. Aphrodisias là trung tâm của kỹ nghệ điêu khắc, xuất khấu những sản phẩm khắp thế giới La Mã, và một số tạo tác của họ có thể được chiêm ngưỡng trong bảo tàng tại đó. Nhưng cảnh tượng đáng nhớ hơn hết là trường đua chiến mã xa được bảo tồn tốt nhất trong toàn cõi Đế chế La Mã (hình dưới).

Sbeitla

Vào thời cổ đại, Sbeitla được gọi dưới tên Sufetula, giờ là Tunisia ở Bắc Phi. Sbeitla từng là một tỉnh lỵ La Mã trù phú bậc nhất nơi nông nghiệp phát triển và những vườn ô liu xum xuê. Hiện giờ, sa mạc Sahara đã dịch về phía bắc, bạn phải xuất phát từ bờ biển, băng qua sa mạc mới đến được đó. Vì thị trấn hẻo lánh nên nó tránh khỏi sự tàn phá tệ hại nhất của thời gian, cho nên những đền thờ hầu như còn nguyên vẹn, bao quanh là những phế tích của phần còn lại của thị trấn với những tranh khảm đặc sắc. Tôi thích nơi này vì nó chứng tỏ ngay một thị trấn nhỏ xa xôi vẫn có những công trình công cộng chủ yếu mang dấu ấn La Mã.

Piazza Armerina

Ở Sicily, ban có thể bắt gặp một trong những điền trang (villa) lớn nhất của Đế chế La Mã, giờ được biết dưới tên Villa Romana del Casle. Được xây dựng giữa những năm AD 300 và 320, nó chiếm một diện tích 3,500 mét vuông mặt sàn có khảm tranh trong một phức hợp những gian phòng, sân trong, mái cổng, phòng tiếp khách, và phòng tắm. Một số tranh khảm mô tả những thú tiêu khiển nông thôn như săn heo rừng, hưu, câu cá, và săn bắt thú dữ ở Phi châu sử dụng cho đấu trường. Không ai biết chủ sở hữu của Piazza Armerina, nhưng có thể một hoàng đế đã từng sống ở đó, có lẽ là Maximian I, đã ‘về hưu’ vào năm 305 (xem Chương 20), hoặc con trai ông Maxentius. Đây là đỉnh cao của cuộc sống ở điền trang, được những người giàu có khắp Đế chế La Mã bắt chước theo.

  

Bức tường của Hadrian

Biên giới dài nhất của La Mã chạy dài từ Newcastle đến Carlisle ở miền bắc nước Anh. Nó đơn giản là một đài tưởng niệm quân sự lớn nhất còn sót lại của thế giới La Mã với mạng lưới các đồn lũy, tháp canh, hào, bia khắc, đền thờ, điện thờ đã đổ nát, tất cả tạo nên một khung cảnh hoang liêu hoành tráng. Các bảo tàng lớn tại Carlisle và Newcastlke còn lưu giữ một số hiện vật tốt nhất, nhưng các đồn lũy tại Wallsend và South Shields ở phía đông là trung tâm, không chỉ của những bảo tàng tuyệt vời lưu trữ những tạo tác được khai quật mà còn của những công trình tái dựng tiên phong. Wallsend có những bộ sao chép qui mô các phòng tắm công cộng, trong khi Soth Shields tái dựng các cổng đồn, nhà chỉ huy, và khu ở của binh sĩ. Không ở đâu bạn có thể thấy được những điều như vậy.    

Petra

Petra ở Jordan, từng là một phần đất của Syria La Mã. Được thành lập vào thế kỷ thứ sáu, Petra chỉ bị người La Mã chiếm đóng từ cuối thế kỷ thứ nhất AD. Nó là địa điểm ngoạn mục trên bờ sa mạc và bao quanh bởi những đồi sa thạch khổng lồ rực rỡ sắc màu cam, vàng, đỏ. Đá rất dễ khắc chạm, cho nên các lăng mộ tráng lệ nhất được được đục trong sườn đồi có mặt tiền cổ điển, trang trí tinh xảo.  

 

Dendara

Đền thờ Hathor ở Dendara là đền thờ Ai Cập đẹp nhất còn tồn tại. Lý do tôi đề cập nó là vì những bộ phận của đền thờ chính và một số những đền thờ bao quanh và những tòa nhà khác thực sự được xây dựng trong thời La Mã. Các ‘pha-ra-ông’ điêu khắc trên tường của những đền thờ nhỏ thực ra là những hoàng đế La Mã, trong đó có cả Augustus và Trajan, trong khi đại sảnh có cột đỡ trần trong đền thờ lớn là do Tiberius xây dựng. Trên mặt tường sau là Cleopatra với con trai của bà và Caesar, Caesarion, vì thế nó mang một ý nghĩa lịch sử.  

Đây là một nơi hùng tráng đáng bỏ công lái xe một vài giờ theo hướng bắc của Luxor để đến tham quan. Biết Ai Cập là một nền văn minh trải dài hàng ngàn năm nên người La Mã không dám tự tiện áp đặt phong cách kiến trúc hoặc thần linh của mình. Thay vào đấy họ thích ứng theo phong cách bản địa và chọn tư thế như những nhà cai trị Ai Cập sùng bái các thần linh Ai Cập trên các đền thờ Ai Cập, và cho chạm khắc tên mình theo lối chữ tượng hình.

 

Bath

Bath, ở Avon (Anh), có cội nguồn là một con suối nước nóng thiên nhiên, và người La Mã đã biến nó thành một phức hợp giải trí, chữa bệnh, và tôn giáo với đền thờ cúng, các phức hợp phòng tắm khổng lồ, và một mạng lưới các cửa hàng và dịch vụ thỏa mãn các du khách đến thăm từ khắp nơi trên thế giới La Mã. Ban có thể bước xuống đến những hành lang ngầm nơi lộ ra những khu thánh thất của đền, từ đó đi qua các cửa sổ nơi khách hành hương La Mã đứng ném lễ vật của mình vào dòng suối thiêng, đọc lời nguyền và kinh cầu cho thần Sulis-Minerva, và ngâm bàn tay của bạn vào dòng nước của các phòng tắm La Mã, vẫn còn ấm đến 4702 C suốt thời gian vì chảy từ dòng suối ngầm.


Hết        

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s