Đọc sách chuyên khảo “Nhà Nước Thế Tục”

Vũ Ngọc Phương

Từ những năm 2010 đến nay, trong giới nghiên cứu lý luận ở Việt Nam rộ lên xu hướng nghiên cứu và dẫn giải một chuyên đề về Chủ nghĩa Thế tục và Nhà nước Thế tục. Trước khi bình luận, chúng ta cần trích dẫn một phần căn cứ sử liệu về Chủ nghĩa Thế tục. Về quy luật lozic cho đến tận ngày nay không có bất cứ sự phát minh, sáng tạo nào hoàn toàn mới mà không có kế thừa của quá trình lịch sử.Đây tư tưởng triết học Phương Tây xuất phát từ thời cổ đại của Hy Lạp, La Mã như Marcus Aurelius và Epicurus. Căn bản của hệ thống tư duy này là “ Sự đúc kết kinh nghiệm ngay trong cuộc sống để đạt được đến Bình đẳng, Hạnh phúc, Tự do và Sung sướng”. Sau này trong thời kỳ Phong trào Khai sáng, cũng gọi bằng Phong trào Duy lí, là phong trào tri thức Triết học có ảnh hưởng lớn hệ Tư tưởng vào thế kỷ XVII và XVIII ở Châu Âu. Về luận thuyết chính yếu của tư tưởng Khai sáng là dùng lý trí, đấu tranh cho hạnh phúc, lấy kinh nghiệm đúc kết từ cuộc sống cho chủ thuyết tiến bộ về Tự do, Bác ái và Cộng hòa để phát triển Xã hội. Đại diện của thời kỳ này là các Nhà triết học như Voltaire, Denis Diderot, James Madison, Baruch Spinoza, Thomas Jefferson, Thomas Paine, … cùng các nhà Tư tưởng Tự do như Bertrand Russell, Robert Ingersoll.

Một phần của Chủ Nghĩa Thế tục mới tác động và hình thành Nhà Nước Thế tục. Cuối cùng mới là tư tưởng xây dựng một Nhà nước Lập Hiến, đảm bảo sự độc lập Nhà nước khỏi ràng buộc của Tôn giáo. Như vậy, Nhà nước Thế tục chỉ là một phần của hệ thống triết học Thế tục. Tuy nhiên thời kỳ này không có danh từ “Thế Tục”. Khi nhà văn Anh là George Jacob Holyoake ( 1817 – 1906) dùng từ “ Secularism” vào năm 1851 để diễn tả tư tưởng tự do một xã hội tách rời khỏi tôn giáo với quan điểm độc lập với đức tin Kito giáo, không chống lại Kito giáo. Từ đây danh từ

“Thế Tục” được chính thức định danh cho tư tưởng Tự do thời Khai sáng với danh từ đầy đủ là

“ Chủ nghĩa Thế tục”. Thế giới quan của Chủ nghĩa Thế tục là tìm  được Hạnh phúc, Tự do, Sung sướng trong cuộc đời này bằng kinh nghiệm đã trải qua. Trong tinh thần Khai Sáng, nhiều Học giả Thần học cấp tiến cho rằng sự Thế Tục hóa là sự phát triển của Xã hội và Tôn giáo khi các Giáo lý Tôn giáo đã tiếp thư các giá trị tiến bộ của khoa học kỹ thuật đang ngày một chi phối xã hội trần thế. Trong các xu thế chính trị, ngay từ thời cổ đại gần hết Nhà nước đã có phần tách rời khỏi các giáo lý, tín điều của các Tôn giáo, kể cả một số tôn giáo được tôn vinh là Quốc giáo. Bằng chứng cho hệ quả này là gần như không có Vua, Chúa nào xuất thân là lãnh tụ của Tôn giáo, vì sự tuân theo Giáo luật của một Tu sỹ sẽ hạn chế tham vọng của Vua, Chúa.

Mặc dù thế trong thời Trung cổ các Vua, Chúa vẫn viện dẫn giáo lý của một tôn giáo nào đó được coi là quốc giáo để thực hiện chính sách cai trị của họ. Đây chính là nguồn gốc nguyên thủy cho sự tiếp thu sau này của Chủ nghĩa Thế Tục ở thời cận đại khi hình thành tư tưởng Nhà nước Thế tục tách rời khỏi giáo lý tôn giáo nhưng không đặt một tôn giáo nào thành quốc giáo, vẫn đảm bảo sự tự do và bình đẳng giữa các tôn giáo.

Gần đây trên văn đàn có cuốn sách “ Nhà nước Thế tục” của tác giả Giáo sư, Tiến sỹ Đỗ Quang Hưng. Đây là một cuốn sách dầy tới 647 trang kể cả mục lục. Sách liệt kê một số quan điểm và luận cứ triết học về Chủ nghĩa Thế tục và Nhà nước Thế tục. Có thể dẫn giải rất nhiều các nội dung được tác giả Đỗ Quang Hưng tra cứu, biên soạn khá dài nhưng trùng lặp. Ý kiến của tác giả chính yếu cho rằng ” … Bằng việc chia tách tôn giáo khỏi nhà nước, nó bảo vệ quyền tự do của mọi người để chọn điều để tin hay không tin trong khuôn khổ luật pháp” – Trang 112, sách đã dẫn. Từ trang 19 đến trang 36, Chương 1/ Tính hiện đại và sự ra đời một xã hội thế tục” được tác giả sử dụng khá nhiều từ “ Hợp lý hóa về nhà nước”, “Tính Hiện đại” đây là nhưng danh từ phổ quát, không có định lượng, định tính, có phần Trừu tượng. Xác định thế nào là Hợp lý – Có bao nhiêu điều kiện đúng và đủ để xác định là sự vật, sự việc đó là Hợp lý ? Cũng như vậy “ Tính Hiện đại” sẽ được xác định về chuẩn đích Thời gian nào là Hiện đại ? Trong suốt thế kỷ XX cho đến ngày nay, từ Hợp lý và Hiện đại trong Ngôn ngữ học, trong văn học, nhất là trong triết học khó thống nhất khái niệm của từ này. Vì vậy, đã là sách chuyên khảo, thiết nghĩ tác giả cần viết có suy xét, cẩn trọng !

Việc lạm dụng và trích dẫn thiếu cụ thể, rõ ràng về nội dung làm người đọc là Trí thức thật sự cũng không hiểu tác giả dẫn giải như thế nào, ví như “ Tôn giáo bị đẩy dồn từ lĩnh vực cái hợp lý sang lĩnh vực cái phi lý” và “ Từ lúc đó nó hoàn toàn thuần túy là một sức mạnh phi lý hoặc phản phi lý và ở trên cá nhân một cách tuyệt đối” – Trang 31, sách đã dẫn. Trong chương 2/ Lý thuyết và tiến trình của khuynh hướng thế tục hóa,…có thể dẫn ra những câu rất tối nghĩa như “ Tôn giáo không cần thiết phải đặt vấn đề về những gì trong thế giới tự nhiên được kết hợp hay liên kết có tính kinh nghiệm thế nào, nó có thể chỉ quan tâm đến câu hỏi tại sao mọi thứ là cái cách là chính nó, dựa trên cái cách mà nó là chính nó” – Trang 51, sách đã dẫn. Nếu bạn đọc là một người thật sự có văn hóa đến trình độ nhất định có thể hiểu là thế nào?

Hãy lưu ý đến các luận điểm của tác giả như : Thanh giáo dưới hình thức một phương pháp cố kết về lối sống trong tổng thể của nó đã góp phần duy trì sự căng thẳng ở tín đồ khi muốn biết xem mình có được sự lựa chọn hay không, mình có được giải thoát hay không,..” – Trang 36, sách đã dẫn. Đây là một nhận xét cực kỳ sai làm của tác giả về Thanh giáo.

Trước hết, Thanh giáo là triết học thần học, tuyệt đối không phải là một phương pháp. Lịch sử Thanh giáo cho thấy đây là một khuynh hướng cải cách tiến bộ Cải cách Kháng cách, mô hình Cơ Đốc giáo Kháng giáo này còn được gọi là ” Truyền thống Cải cách – Reformed ”, “đức tin Cải cách”, hoặc “thần học Cải cách” ở vào thế kỷ 16 – 17 ở Anh đối với  hệ thống Kito giáo. Một trong các Nhà triết học vĩ đại thười kỳ này là Nhà Thần học Calvin. Chủ thể Thanh giáo Jean Calvin (tên khai sinh là Jehan Cauvin, 10/07/1509 – 27/05/1560) chủ trương tách rời khỏi quốc giáo đã xác lập theo Định chế Tôn giáo thời Elizabeth. Thần học Calvin ( Anh ngữ Calvinism) là cơ sở thành lập nên các giáo hội Trưởng LãoBaptist và Tự trị Giáo đoàn. Giáo lý Thanh giáo lấy hoàn chỉnh các giá trị tôn giáo, đạo đức, và xã hội để thực hiện các kỳ vọng của cộng đồng. Mối quan hệ bên trong gia đình hạt nhân, cùng với sự tương tác giữa gia đình với cộng đồng. Học giả Thanh giáo là Thomas Gataker đã phân tích ý nghĩa hôn nhân theo giáo lý Thanh giáo là Dù phục tùng chồng theo quy ước xã hội, phụ nữ được xem là bình đẳng với nam giới trong lĩnh vực tâm linh và khi kết hợp với nhau trong hôn nhân. Do đó, người phụ nữ Thanh giáo được mặc nhận có thẩm quyền trong việc quản trị gia đình và giáo dưỡng con cái. Thanh giáo xác tín rằng Tình Mẫu Tử là cao quý nhất của người phụ nữ. Người mẹ Thanh giáo nên nỗ lực giáo dưỡng con mình theo đuổi nếp sống công chính và trải nghiệm sự cứu rỗi, trẻ con phải được học. Để có ân điển của Chúa mỗi người cần đổi mới luôn, tranh đấu với bản thân chống lại áp lực của tội lỗi hàng ngày, để có nếp sống công chính đẹp lòng Chúa. Mỗi tín hữu Thanh giáo cần phải sống kiêm nhường. Văn hóa Thanh giáo nhấn mạnh đến nghiêm khắc tự tra xét mình. Đây cũng là nguyên lý trọng tâm của trải nghiệm Tin Lành. Một đặc biệt khác của Thanh giáo là phụ nữ được xem là nhân tố chính trong nỗ lực bảo vệ và duy trì các giá trị gia đình.”

 Mặt khác giáo lý Thanh giáo không cấm đoán việc uống rượu có chừng mực và xem sự thụ hưởng hạnh phúc vợ chồng là quà tặng quý báu của Chúa. Triều Edward VI, Giáo hội Anh tiến hành được cải cách, sau khi Edward chết năm 1533 thì người chị là Mary I lên ngôi Nữ Hoàng Anh đã tiến hành tàn sát những người Kháng cách. Nhiều lãnh đạo Kháng cách như John Hooper, Thomas CranmerNicholas Ridley, … bị thiêu sống, một phần lớn các Học giả và lãnh đạo khác trốn thoát đã tỵ nạn sang Châu Âu, chủ yếu là Đức và Thụy sỹ. Năm 1630, John Winthrop vượt Đại Tây Dương đến New England, sáu năm sau khi đặt chân lên vùng đất mới, người Thanh giáo đã thành lập Đại học Harvard.

Có nhiều quan điển triết học nhận định Thần học Calvin đã làm cơ sở cho sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản châu Âu. Tiêu biểu cho quan điểm này là các Học giả R. H. Tawney (1880-1962), và Max Weber (1864-1920). Thanh giáo tạo lập nên hai trào lưu Tự do (Latitudinarian) và Tin Lành (Evangelical) trong Giáo hội Anh.

Vậy nên nhận xét của tác giả Đỗ Quang Hưng như đã dẫn ở trên hoàn toàn trái với bản chất giáo lý cũng như hiện tượng thực tiễn của tất cả các loại hình Tôn giáo có bản chất giáo lý hướng Thiện và là nơi “ Ẩn náu Bình yên” của tất cả các tín đồ trốn tránh khổ đau trong cuộc sống sinh thời. Nếu vào “ Chốn Linh thiêng với Giáo lý” gây căng thẳng thì Tôn giáo không thể tập hợp đến 97% Nhân loại có Niềm tin Tôn giáo như thống kê của UNESCO được. Dân gian Việt Nam có câu Thành ngữ: “ Trẻ vui nhà, Già vui chùa” – Đạo Phật cũng là một tôn giáo như các tôn giáo khác, tìm đến Chùa, tìm đến Thánh đường là để tìm sự an ủi, bình yên nơi Siêu linh.

Cách viết dẫn giải và từ ngữ chính tả tiếng Việt tối nghĩa, khó hiểu của tác giả như trên có rất nhiều trong cả cuốn sách. Có một sự khá kỳ lạ là khi viết về Tôn giáo nhưng như là tác giả chưa hiểu Tôn giáo là thế nào? Cũng trong chương này và nhiều chương tiếp theo, tác giả viện dẫn nhiều học giả Phương Tây và Kito giáo, nếu chỉ có như vậy thì cần gì mất công viết một quyển sách dầy như vậy để chép lại những ý kiến như ở Mục 2.3 Những Mô thức của Thế tục hóa. Dẫn giải hai học giả “ Trường hợp Dvid Martin, Trường hợp Richard Fenn”,… cách viết chỉ như sự thống kê. Vậy sự Chuyên Khảo của tác giả là gì? Hoàn toàn không có.

Chúng ta hãy cùng xem tiếp theo các Chương 3/ “Ý tưởng về xã hội Thế tục” được tác giả trích dẫn nội dung, quan điểm của một số học giả Phương Tây rồi bỏ ngỏ toàn bộ sự bình luận của tác giả, hoặc sự viết nhận xét không rõ ràng, nước đôi như “ Nói chung, lý thuyết cá nhân hóa có vẻ được tin cậy hơn lý thuyết thế tục hóa. Cá nhân hóa tôn giáo sẽ làm tăng tính tự trị của quyết định cá nhân,….đóng góp vào giải thể chế hóa tôn giáo”-  Ngay tại câu này tác giả lại trích của Học giả Berk,1992. Cũng tại các trang 70&71 có rất nhiều câu khó hình dung là nên theo bên nào. Xin dẫn “ Dưới đây, chúng tôi đưa ra trường hợp Emile Poulat trong tiểu luận “ Tính Thế tục của nền Cộng hòa chúng ta”. Xin nhắc lại rằng, chính E . Poulat đã nói một câu nói nổi tiếng: “ Ở Châu Âu, tất cả chúng ta đều là người Thế tục” – Đây là một sự dẫn giải tầm phào, rất vô nghĩa vì thế nào là Thế tục lại không được tác giả chú giải. Nếu “Thế tục” là không tôn giáo thì nên nhớ rằng gần như 100% dân Châu Âu là theo một Tôn giáo nào đó.

Nguồn gốc Chủ nghĩa Thế tục được hình thành một Chủ nghĩa Tự do từ phong trào Khai sáng (Duy lý) đã lược ghi ở trên. Đây mới chính là một trong các hệ tư tưởng hình thành các mô hình Nhà nước ngày nay trên thế giới. Trường phái Chủ nghĩa Tự do được chia ra: Chủ nghĩa Tự do cổ điển, Chủ nghĩa Tự do bảo thủ, Chủ nghĩa Tự do Văn hóa, Chủ nghĩa Tự do kinh tế, Chủ nghĩa tự do mới, Chủ nghĩa ý chí tự do, Chủ nghĩa Tân tự do, Chủ nghĩa tự do Đức, Chủ nghĩa tự do cực đoan, Chủ nghĩa tự do xã hội,… Chúng tôi sơ lược như trên để thấy mô hình Nhà nước trên thế giới là rất phức tạp về tư tưởng và ý thức hệ. Khó có thể suy luận quy kết như tên sách Nhà nước Thế tục của tác giả Đỗ Quang Hưng cũng chỉ là một khái niệm tương đối, phần nào có tính gán ghép.

Tôn giáo là một triết học tối cổ, theo các di tích khảo cổ thế giới, có thể Tôn giáo xuất hiện từ thời đại Đá cũ trước khi có chữ viết khi người Nguyên thủy không thể hiểu, không thể giải thích được hiện tượng kỳ vĩ của tự nhiên, sự sinh ra, sống và chết,… Họ cho rằng tất cả các hiện tượng đó phải do một Đấng Siêu nhiên tể trị. Tôn giáo chia ra Cõi Trời, Cõi Trần, Cõi Địa ngục, phân loại Con Người ra Thể xác và Linh hồn, các kiếp, sự Luân hồi,…Đến nay: Tôn giáo có thể được định nghĩa là một hệ thống các văn hoá, tín ngưỡng, đức tin bao gồm các hành vi và hành động được chỉ định cụ thể, các quan niệm về thế giới, thể hiện thông qua các kinh sách, khải thị, các di tích linh thiêng, lời tiên tri, quan niệm đạo đức, hoặc tổ chức, liên quan đến nhân loại với các yếu tố siêu nhiên, siêu việt,…” – Viện Thống kế UNESCO. Ở Việt Nam còn chia ra Tôn giáo là các tổ chức được Pháp luật công nhận, còn Tín ngưỡng là Niềm tin Linh thiêng có tính Dân gian.

Trước khi phân tích phê bình một tác phẩm thể loại Triết học, chúng ta cần giới thiệu về một số sử liệu khái quát về thời kỳ tập trung nhất của Phong trào Khai sáng được tác giả coi là chủ đạo của Chủ nghĩa Thế tục và Nhà nước Thế tục.

Cần xét rõ tư liệu lịch sử để thấy Tư tưởng Khai sáng là kế thừa từ Tư tưởng Nhân Văn thời kỳ Phục Hưng. Về quy luật duy vật biện chứng lịch sử, các tư tưởng triết học, sự hình thành các Chủ nghĩa của Nhân loại đều xuất phát từ sự phát triển của Sức sản xuất và Quan hệ Sản xuất. Một trong các Nhà tư tưởng nổi tiếng thời kỳ này là Francis Bacon, các phong trào triết học này đều xuất hiện sau Cách mạng Khoa học. Thời điểm của Phong trào Khai sáng cũng còn những ý kiến khác nhau, một số học giả lấy Rene Descartes khi viết triết lý ” Cogito, ergo sum – Tôi nghĩ cho nên tôi còn“. Một luận điểm khác là năm 1687 khi Isaac Newton viết Principia, trong khi đó các học giả Pháp lấy khoảng thời gian từ 1715 vua Louis XIV chết và Cách mạng Pháp 1789 là thời đại Khai sáng. Lịch sử cũng ghi nhận phong trào Khai sáng thoái trào vào đầu thế kỷ XIX.

Dù thế nào, các Nhà triết học nổi tiếng nhất thời kỳ Khai sáng là Voltaire, Thomas Jefferson, Denis Diderot, James Madison, Thomas Paine, Bertran Russell,…Đã để lại những tác phẩm quan trọng thời kỳ này. Danh từ ” Thế tục” được Nhà văn Anh George Jacob Holyoake ( 18117 – 1906) sử dụng danh từ ” Secularism – Chủ nghĩa Thế Tục”. Tại khu vực Trung Á tiếp cận với các phong trào triết học của Châu Âu, nhà lãnh đạo giành độc lập cho Thổ Nhĩ Kỳ 1919 – 1922 là Mustafa Kemal Ataturk đã thực hiện chương trình Thế tục cấp tiến. Học giả Ali Abd ArRaziq đã xuất bản sách Der Islam und die Grundlagen Herrschaft – Hồi giáo và những thống trị năm 1925 ủng hộ tư tưởng Người Hồi giáo được phép tự do chọn Nhà nước vì Mohammed, kinh Koran và Sunna cũng không cấm điều nay.

Chúng tôi dẫn giải một số bằng chứng lịch sử để thấy Chủ nghĩa Thế tục và Nhà nước Thế tục không thể suy luận giản lược như tác giả Đỗ Quang Hưng. Một sự khó hiểu là có nhiều phần đã viết có phần trùng hợp giữa các chương, mục.

Tại trang 296 của Chương 3/ Các mô hình Nhà nước thế tục, tác giả Đỗ Quang Hưng cổ súy cho mô hình Nhà nước Xingapo “ Có thể nói đó là cách đặt vấn đề đúng đắn,… duy trì những học thuyết Nho giáo, kỷ cương được tóm tắt trong khẩu hiệu “ Nền Dân chủ không có chủ nghĩa tự do” – Trang 296, sách đã dẫn. Chúng tôi đã tra cứu không rõ nội dung trên được tác giả Đỗ Quang Hưng dẫn là thế nào vì nếu không có Tự do thì không thể Dân chủ, Dân chủ không thực hiện được nếu không có Tự do ! Đây là quy luật lozic bất biến. Tự do không phải là khái niệm mới mà Chủ nghĩa tự do là một hệ tư tưởng và quan điểm triết học xuất phát từ các giá trị về Tự do, Bình đẳng xuất hiện từ sách của Nhà lập pháp bang Athena thời cổ đại là Solon  vào khoảng năm 639 – 559 Tr.CN.

Sự dẫn giải không có biện chứng của khoa học duy vật của tác giả còn được thể hiện rõ trong nội dung sau: “ Ngày nay tình thế đã đảo ngược. Nhiều giáo dân cảm thấy “ Đơn lẻ” trên đất nước họ. Và hình như dưới chế độ thế tục thì chính những giáo dân Thiên chúa giáo lại bị đe dọa và đi ngược dòng thời đại” – Trang 77, sách đã dẫn. Đọc dòng này, chúng tôi thấy thất vọng vì có lẽ tác giả không xem thời sự các Thánh Lễ trên quảng trường, trong các nhà thờ Công giáo La mã hay Kháng cách (Tin Lành) ở Châu Âu, các Lễ Hội ở Trung Đông và Đông Á.

Chương 3/ Các mô hình Nhà nước thế tục, chương này từ trang 199 đến 294, đơn thuần hơn cả là sự thống kê, trích dẫn. Tư duy của tác giả chỉ là sưu tầm các thống kê, các số liệu nhưng tuyệt nhiên không có “ Chuyên khảo” gì hết. Nhận định của tác giả Đỗ Quang Hưng “ Theo chúng tôi, có lẽ Xinhgapo, Malaixia là quốc gia có những thành công lớn trong chính sách tôn giáo, góp phần quan trọng trong việc ổn định và phát triển đất nước bền vững” là một nhận định chủ quan nhất thời và phiến diện. Hãy tổng hợp các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội trước đây và hiện nay của hai quốc gia này để có cái nhìn đúng hơn. Quy luật của phát triển, ổn định của một Nhà nước quốc gia phải được phân tích đánh giá khả năng sinh tồn của Thể chế Nhà nước đó trước những biến động lớn, dữ dội của lịch sử mới có thể xác quyết tương đối chính xác được.

Chương 4/ Nhà nước Thế tục và Tôn giáo, sau khi đọc nội dung từ trang 319 đến trang 418 vẫn theo cách sưu tầm, sao chép, dẫn giải không có chính kiến của tác giả. Có rất nhiều các trích dẫn dài, lan man xoay quanh từ “ Thế tục” rồi lặp lại nhiều lần nội dung đã được ghi đi, ghi lại ở các phần trên sách về Nhà nước Thế tục là tách rời khỏi tôn giáo, nào là tạo ra sự bình đẳng các tôn giáo, quyền tự do tôn giáo,… Tạo cảm giác đây là bài viết của nhiều người trong một đề tài khoa học sáo rỗng cần chép cho nhiều, cho dầy tương xứng với kinh phí của đề tài !

Đến Chương 5/ Tính thế tục và Nhà nước từ trang 423 đến trang 490 có lẽ khó mà bình luận gì khi nội dung cũng tương tự như các chương trước của sách. Kết thúc chương 5, Giáo sư, Tiến sỹ Đỗ Quang Hưng nhận xét “ Cần xem xét, so sánh tính thế tục của các nhà nước đương đại nhằm có được những hiểu biết thấu đáo về bản chất của chủ nghĩa đa nguyên, vai trò của tôn giáo trong xã hội hiện đại, mối quan hệ giữa tôn giáo và dân chủ, và thực tế là những câu hỏi cơ bản về mối quan hệ của tôn giáo và nhà nước” – Trang 490, sách đã dẫn, nếu như vậy ai cũng nói được, viết được. Đến đây chúng tôi thấy rằng tác giả hoàn toàn không phân tích lý giải, kể cả sự lý giải sai về vấn đề cần phải có trong cuốn sách dầy 641 trang Nhà nước Thế tục. Một cuốn sách được ghi rõ là Chuyên khảo nhưng sưu tầm tản mạn, đại khái, sao cho thật dầy nhưng không để lại cho người đọc một kiến thức nào về Chủ nghĩa Thế tục và Nhà nước Thế tục một cách mạch lạc, thuyết phục.

Cuối cùng là Chương 6/ Từ Chủ nghĩa Thế tục đến tính thế tục: Mô hình nhà nước thế tục ở Việt Nam từ trang 491 đến trang 636 thì không còn gì để bình luận vì vẫn biên chép như trên. Nếu chỉ như vậy tốt nhất chúng ta hãy đọc hàng trăm nghìn trang trong các chuyên mục Sử học, Triết học, Văn học,… về Việt Nam thời kỳ thế kỷ XX và 20 năm đầu thế kỷ XXI đã viết nhiều, viết rõ hơn tác giả Đỗ Quang Hưng. Về khái niệm Nhà nước thế tục có lẽ là sự quy nạp của Chủ nghĩa Thế tục, nơi quyền lực của Nhà nước là chính thức trung lập về các vấn đề tôn giáo, không hỗ trợ cũng không phản đối bất kỳ tôn giáo nào. Tuy nhiên, nhà nước Thế tục không được coi là vô thần, hay bất khả tri, vì nhà nước Thế tục chấp nhận niềm tin vào Thiên Chúa ( Siêu Linh ). Hiện có 193 quốc gia trên thế giới. Trong đó chỉ có 10 nước không hoàn toàn Thế tục có liên quan đến tôn giáo trong văn bản Hiến pháp, Pháp luật: 1/ Argentina . 2/ Armenia. 3/ Bangladesh . 4/ Brazil . 5/ Canada. 6/  El Salvador. 7/ Georgia. 8/  Indonesia. 9/ Ireland . 10/ Phần Lan.

Như vậy không chỉ từ nhận thức giản lược Nhà nước Thế tục là Thể chế một hệ thống pháp luật Nhà nước tách rời Tôn giáo. Xét về thể chế các Nhà nước hiện nay được hình thành từ rất nhiều tư duy triết học, chính trị, kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của mỗi Quốc gia – Dân tộc. Vì thế Nhà nước Thế tục chỉ là cách áp đặt, quy nạp, phiến diện từ quan điểm của một số người và không thật sự có giá trị.

Trước khi kết thúc bài viết, chúng tôi thấy cần dẫn lại ” Sự mất đi các tôn giáo trong xã hội hiện đại đã được nhiều nhà lý luận dự báo trước” , lại tiếp “ Nhiều nhà lý luận từ thập niên 1970 đã có cái nhìn mới mẻ hơn….” Trang 37, sách Nhà nước Thế tục đã dẫn – Là để đưa ra một thông tin chung để chúng ta cùng suy ngẫm: “Trên Thế giới hiện có khoảng 10.000 tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới, nhưng khoảng 84% dân số thế giới theo một trong năm nhóm tôn giáo lớn nhất, đó là Kito giáoHồi giáoẤn Độ giáoPhật giáo và các dạng tôn giáo dân gian:

1/ Kito giáo (thuật ngữ phiên âm) hay Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, đặt nền tảng trên giáo huấn, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Giêsu Kitô như được ký thuật trong Kinh thánh Tân Ước. Kito giáo đóng một vai trò quan trọng trong nền văn hóa và văn minh phương Tây. Kito giáo là tôn giáo lớn nhất thế giới với khoảng 2 tỷ 400 triệu tín hữu, chiếm hơn 31% dân số thế giới (năm 2015).

2/ Hồi giáo là tôn giáo có khởi nguồn từ Abraham, đầu tiên là Ả Rập. Hồi giáo dòng Sunni chiếm đến 70-90%. Hồi giáo hiện có 1 tỷ 500 triệu tín đồ.

3/ Ấn Độ giáo hay còn gọi gọn là Ấn giáo hay Hindu là những nhánh tôn giáo chính có tương quan với nhau và hiện ở Ấn Độ. Ấn Độ giáo là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất trên thế giới có 900 triệu tín đồ.

4/ Đạo giáo (道教) hay còn gọi là Tiên Đạo, là một nhánh triết học và tôn giáo Trung Quốc. Đạo giáo có 400 triệu tín đồ.

5/ Tôn giáo ở Trung Quốc gồm Nho giáo và tôn giáo dân gian Trung Quốc có 394 triệu tín đồ.

6/ Phật giáo: Một tôn giáo lớn khác cũng xuất phát từ Ấn Độ sau đó truyền giáo ở nhiều nước chủ yếu là Châu Á.. Phật giáo có 365 triệu tín đồ.

7/ Tôn giáo của các bộ tộc.Bộ tộc (tiếng Anh: Kinship) hay còn gọi là dòng tộc hay thân tộc là một hình thức tổ chức cộng đồng dân cư được hình thành từ sự liên kết của nhiều bộ lạc và liên minh các bộ lạc trên cùng một vùng lãnh thổ nhất định. Tôn giáo các bộ tộc 300 triệu tín đồ.

8/ Nho giáo (儒教), còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết lý giáo dục và triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng. Nho giáo có khoảng 150 triệu tín đồ.

9/ Tôn giáo truyền thống Châu Phi. Người Phi châu theo nhiều loại tôn giáo, khoảng 20% dân số còn lại theo các tôn giáo châu Phi bản địa có số lượng khoảng 100 triệu tín đồ.

10/Thần đạo Nhật Bản tôn thờ đến 8 triệu (神 kami) vị Thần Thánh. Những thần trú ngụ ở tầng cao nhất trên thiên đàng gọi là “cao thiên nguyên” (高天原 takama-ga-hara), và chỉ rời khỏi đó khi được mời xuống các đền thờ trong các nghi lễ. Nghi lễ trong Thần đạo để cầu nguyện hay cảm tạ các thần thường được tổ chức tại các thần xã (神社) hoặc những nơi linh thiêng đặc biệt. Những linh vật thường được dâng lên thần linh là vải, gương hay kiếm. Thần đạo Nhật Bản có khoảng 30 triệu tín đồ”.

Như vậy, trong thời đại khoa học, công nghệ phát triển như vũ bão lại có nhiều hiện tượng tự nhiên trên trái đất, trong vũ trụ nhưng không thể phân tích, chứng minh và lý giải đã được các tôn giáo áp dụng để “ Linh Thiêng hóa” những giáo lý, tín điều trước đây hàng nghìn năm. Thông tin về Hội nghị Nguyên tử Châu Âu:  “Sau 45 năm nghiên cứu, tháng 5/2012, tại Geneva, các cơ quan nghiên cứu nguyên tử Châu Âu từ máy gia tốc hạt ( Large Hadron Collider – LHC) đã công bố phát hiện hạt boson Higgs – đây là một trong những phát minh lớn nhất của thế kỷ XXI để tìm ra lý thuyết tốt nhất về sự vận hành của vũ trụ. Có thể sự phát hiện hạt boson Higgs sẽ tìm ra sự kỳ lạ hơn. Tất cả mọi vật chất chúng ta có thể nhìn thấy chỉ chiếm 4% vũ trụ,phần còn lại được tạo bởi vật chất và năng lượng đen. Hạt Higgs có thể là cầu nối để hiểu 96% phần vũ trụ chưa biết đến”.Giáo sư Stephen Hawking nói với  BBC News : “Đây là một kết quả quan trọng và ông Peter Higgs đáng được tặng giải Nobel”.


Hà nội, ngày 12 tháng 07 năm 2021

 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s