Bi kịch của một dân tộc: Cách Mạng Nga 1897- 1921 (Phần 3: Chương XIV)

12

Tác giả Orlando Figes

Trần Quang Nghĩa dịch

Chương 14

 Chế Độ Mới Toàn Thắng

i Ba Trận Đánh Quyết Định

Hoàng thân Lvov viết cho một doanh nhân người Mỹ Charles Crane vào ngày 12/10/1918:

Chủ nghĩa Bôn-se-vich đã bắt gặp một mảnh đất màu mỡ cho những bản năng thấp hèn và vô chính phủ của quần chúng. Theo ý nghĩa này đó là một chứng bệnh Nga, và chứng bệnh ấy chỉ có thể chữa được bằng sự can thiệp của nước ngoài. Việc tái lập trật tự và sức mạnh lành mạnh ở Nga chỉ có thể thành tựu dưới sự bảo vệ của một đạo quân có tổ chức.

 Hoàng thân từ lâu đã đặt mọi kỳ vọng  giải phóng nước Nga vào Hoa Kỳ. Không giống những người phản cách mạng khác, ông không có ảo tưởng về một cuộc nổi dậy quần chúng chống lại người Bôn-se-vich. Bốn tháng chao đảo ở cương vị cầm đầu Chính quyền Lâm thời đã khiến ông hoài nghi về tiềm năng của nhân dân Nga như một lực lượng dân chủ kiến tạo. ‘Georgi rất thất vọng,’ cô của ông đã nhận xét trong nhật ký của mình sau chuyến thăm nuôi ông tại nhà tù Cheka ở Ekaterinburg vào ngày 13/3. ‘Anh ấy cho rằng Nga thiếu sức mạnh để tổ chức việc giải cứu mình, vì nó đã bị hủy diệt và việc giải cứu chỉ có thể đến từ bên ngoài.’ Lvov không tin tưởng người Cô-dắc Vendee ở miền nam. Ông ngước nhìn lên Siberia, nơi có nhiều hi vọng nhận được sự can thiệp của Đồng minh vào mùa xuân đó.

Lvov ngồi tù ba tháng. Cai tù Bôn-se-vich, trước đây là một người thợ làm dương cầm ở Petrograd, thich ông ngay lập tức và cho phép ông sử dụng vốn hiểu biết về nông nghiệp để tổ chức lại trang trại trong tủ nhằm cải thiện bữa ăn của các bạn tù. Thậm chí sau song sắt Lvov vẫn thi hành cải cách kiểu zemstvo mà ông rất chuyên nghiệp.

Goloshchekin, ông trùm Bôn-se-vich hung hăng ở Ekaterinburg, muốn xử bắn ông vì nghi ngờ ông có dính líu đến một âm mưu phản cách mạng. Nhưng Poliakov, Ủy viên Tư pháp thành phố thuộc SR cánh Tả, tỏ ra không tin tính pháp lý của vụ án , và các thẩm phán, thiếu chứng cứ, cuối cùng buộc phải phóng thích ông. Có nguồn tin – mặc dù chưa bao giờ được kiểm chứng – là chính Lênin đã xin với các lãnh đạo Ekaterinburg thả cựu Thủ tướng. Sau khi được ra tù Lvov chuồn đến Omsk và hợp tác với chính quyền Siberia. Và vào tháng chín ông đi Hoa Kỳ, qua ngõ Vladivostok, để tranh thủ sự can thiệp của Đồng minh vào chiến dịch của Bạch Vệ chống người Bôn-se-vich.

Cho đến lúc này chuyện can thiệp của Đồng minh không khác gì trò đùa. Không có cường quốc phương Tây nào hiểu mục tiêu của mình ở Siberia là gì; nhưng ai cũng muốn dự phần. Dưới cái cớ bảo vệ kho quân nhu của Đồng minh và giữ tuyến đường sắt Xuyên-Siberia được thông thương, các binh lính Tây phương đổ bộ lên Vladivostok. Người Anh là người đầu tiên đến vào đầu tháng 7 với Tiểu đoàn Middlesex do Đại tá Ward cầm đầu. Ngay sau đó là quân Pháp và Mỹ, tiếp theo là quân Nhật, nhưng mục đích của họ vẫn còn chưa rõ ràng. Các cường quốc Tây phương muốn một chính quyền vững chắc ở Siberia để vực dậy quân đội Nga và tái lập Mặt trận phía Đông chống các Cường quốc Trung tâm. Nhưng người Nhật, có tham vọng xáp nhập vùng Viễn Đông của Nga, trái lại muốn nó không vững mạnh. Cả hai bên đều nhắm tới phục vụ mục tiêu của riêng mình bằng cách tài trợ cho thủ lĩnh Cô-dắc, Grigori Semenov, mà chế độ ông ta ở Chita tuyên bố là đã kiểm soát vùng núi phía đông Hồ Baikal. Thật ra Semenov không phục vụ cho ai trừ chính mình. Như những thủ lĩnh khác ở vùng Viễn Đông, Kalmykov và Ungern-Sternberg, Semenov là một tên cướp hơn là một chính trị gia. Đội quân đánh thuê của y cướp bóc và tàn sát dân địa phương một cách dã man không sao nói được. Chưa bao giờ tiền dân đóng thuế của các nền dân chủ Tây phương bị lãng phí một cách tội lỗi như thế.

Với sự xuất hiện của Kolchak, Đồng minh cuối cùng tìm được một người hùng dân tộc Nga mà họ có thể hậu thuẫn với lòng tin cậy để chống người Bôn-se-vich. Nhờ sự ủng hộ của Tướng Knox, người đứng đầu phái bộ quân sự Anh, Kolchak nhận được nhiều hỗ trợ từ London hơn các lãnh đạo Bạch Vệ khác. Một tiểu đoàn Anh thứ hai được phái đến Omsk vào tháng giêng 1919, cùng với một phân đội hải quân nhỏ đánh nhau với phe Đỏ trên Sông Kama, trong khi chính Knox đảm nhiệm việc huấn luyện các sĩ quan của Kolchak ở Vladivostok. Nhưng chính sự hậu thuẫn của Mỹ mới thực sự quan trọng, vì các cường Tây phương chắc chắn là sẽ noi theo sự dẫn dắt của nó. ‘Mọi việc tùy vào nước Mỹ,’ Lvov viết cho Crane từ Tokyo.

Vào ngày 15/11 Hoàng thân cuối cùng đến Washington. Mọi hi vọng của ông dành cho nước Nga giờ chỉ trông vào việc hội kiến với Tổng thống. Là nhà lãnh đạo thế giới tự do, Woodrow Wilson ắt hẳn nhận ra nghĩa vụ đạo lý của việc xiển dương chính nghĩa tự do ở nước Nga. Tất nhiên đây là một ước mơ ngây thơ: nay thế chiến đã kết thúc, người Mỹ không còn lòng dạ nào gởi thêm binh lính tới Siberia. Nhưng, như nhiều nhà cấp tiến Nga, Lvov lý tưởng hóa vùng đất của tự do. ‘Tôi tin tưởng rằng’, ông viết cho Crane ‘Thế Chiến đang khai sinh một trật tự thế giới mới do Hoa Kỳ cầm đầu.’ Lvov cũng tin rằng Tổng thống Wilson sẽ chia sẻ lý tưởng tự do của mình: cuộc gặp gỡ của họ sẽ là cuộc gặp gỡ của những trái tim cũng như trí óc. Vào ngày 21/11 hai bên cuối cùng gặp nhau. Cuộc họp chỉ kéo dài 15 phút. Wilson tỏ ra thân thiện nhưng không sẵn sàng để thảo luận về nghĩa vụ gởi thêm quân. Theo một người phụ tá của ông, tất cả điều ông nói sau khi buổi họp kết thúc là: ‘Cậu có nhận thấy là Hoàng thân có bộ râu đẹp quá không?’

Nếu Lvov là người bình thường, buổi tiếp xúc ắt hẳn làm ông bất mãn và tính lạc quan của ông chắc chắn đã sụp đổ. Sau ba tháng đi vòng quanh thế giới, mọi hi vọng chỉ đưa đến con số không. Nhưng Hoàng thân không phải là người bình thường. Ông kiên trì như giáo sư Pangloss (nhân vật trong tiểu thuyết Candide của Voltaire, luôn lạc quan trong bất cứ hoàn cảnh nào:ND), và tiếp tục đến Paris để truy tìm đạo lý. Tại đó Denikin và Kolchak giao ông dẫn đầu phái đoàn – lập ra từ một Hội nghị Chính trị Nga* – để tranh thủ sự viện trợ của Đồng minh và công nhận chính quyền của họ về mặt ngoại giao tại Hội nghị Hòa Bình Versailles vào tháng giêng. Việc công nhận không xảy ra: Đồng minh cương quyết duy trì lập trường trung lập đạo đức giả đối với cuộc nội chiến ở Nga. Nhưng nhờ có Hoàng thân và phái đoàn, họ gởi số lượng lớn viện trợ cho Kolchak. Trong sáu tháng đầu của năm 1919 Bạch Vệ nhận được từ họ: một triệu súng trường; 15,000 súng máy; 700 pháo dã chiến; 800 triệu viên đạn, cùng quần áo và quân nhu cho nửa triệu quân. Số lượng này gần như tương đương với sản lượng quân nhu Xô-Viết sản xuất được trong cả năm 1919, và chắc chắn đủ để mở ra một chiến dịch lớn chống lại phe Đỏ. Ba mươi ngàn quân Đồng minh (Séc, Mỹ, Anh, Ý và Pháp) bảo vệ hậu phương của Kolchak và duy trì đường tiếp tế dài 4,000 dặm đọc theo Đường sắt Xuyên-Siberia từ Vladivostok đến Omsk.

*  Những phái đoàn khác là V A. Maklakov (Đại sứ của Kerensky tại Paris), Sazonov (Ngoại trưởng của Kolchak — và của Nicholas II) và đảng viên Dân Túy kỳ cựu  N. V Chaikovsky (đứng đầu chính quyền Vùng Bắc đặt căn cứ ở Arkhangelsk). Hội nghị Chính trị Nga là một chính quyền lưu vong hợp bởi các nhà ngoại giao trước kia và những nhân vật quần chúng khác ở Paris. Savinkov, Nabokov, Struve và Konovalov cũng trong số thành viên của nó. 

 

Dưới sự bảo vệ của họ, Kolchak củng cố lực lượng để chuẩn bị trận công kích vào đầu mùa xuân chống lại phe Đỏ. Một số người cho như vậy là quá sớm, vì quân đội của ông chưa thực sự sẵn sàng, mà nên đợi sang mùa hè, khi đó Denikin có thể tiếp sức với ông trong cuộc tấn kích phối hợp trên vùng Volga. Nhưng lúc này có những nguyên do xác định buộc phải tấn công sớm. Cần phải bảo đảm một thắng lợi nào đó để tranh thủ Đồng minh tiếp tục viện trợ và công nhận chính quyền Kolchak. Phe Đỏ đang trên bờ vực sụp đổ. Vào trước Giáng Sinh binh sĩ của Kolchak đã đánh chiếm thành phố kỹ nghệ quan trọng Perm, đánh tan tác Quân đoàn Hồng Quân 3. Điều này mở ra khả năng thọc sâu về hướng Arkhangelsk, tại đó Đồng minh đã thành lập một chính quyền Bạch Vệ dưới quyền lãnh đạo của Tướng Nga K. E. Miller. ‘Thảm hoạ Perm’ hiển nhiên là hậu quả của tình trạng suy sụp liên miên ở hậu phương phe Đỏ. Binh lính bị ném vội vàng ra mặt trận mà không được huấn luyện kỹ càng. Thiếu thốn lương thực và y phục mùa đông để chống chọi với thời tiết khắc nghiệt, họ liền đầu hàng Bạch Vệ hàng loạt. Hàng binh bảo với Bạch Vệ về tình hình nguy cấp phía sau Mặt trận Đỏ. Việc gọi vào lính và trưng thu đã dấy lên làn sóng nổi dậy rầm rộ của nông dân. Khủng Bố Đỏ đã thảm sát hàng ngàn người dân vô tội trong các thành phố ở Ural, biến gần như toàn thể dân chúng, kể cả công nhân , quay sang chống người Bôn-se-vich. Mối quan hệ với dân thiểu số Tatar và Bashkirbo vùng Volga-Ural đặc biệt căng thẳng. Theo lời một ủy viên của phe Đỏ, họ bị xem là một quân đội chiếm đóng thù địch tước đoạt của dân Hồi quyền tự trị và dẫm đạp lên tập tục của họ.

Cuộc tiến công của Kolchak đánh thúc vào phía tây trên ba Mặt trận. Mũi tấn công chủ lực là Quân đoàn phía Tây do Tướng Khanzhin chỉ huy, tiến về Ufa từ đầu tháng ba. Nó được thành lập từ lực lượng còn lại của Quân đội Nhân dân của Komuch và bổ sung lính nghĩa vụ nông dân. Cũng có 10,000 công nhân tình nguyện từ các hãng xưởng nổi dậy ở

Izhevsk và Votkinsk sau khi bị người Bôn-se-vich đánh dẹp vào tháng 11. Bên sườn phải là Quân đoàn Siberia của Gajda, chủ yếu là lính từ nghĩa vụ nông dân, tiến công về hướng Viatka; và bên sườn trái là quân Cô-dắc vùng Siberia, chiến đấu bên cạnh các đơn vị Bashkir do Tướng Dutov chỉ huy. Mục tiêu của họ là đánh chiếm Orenburg và bắt tay với phe Trắng trên thảo nguyên đông-nam, qua đó sẽ cắt đứt lực lượng Đỏ ở Trung Á. Lực lượng tổng cộng ở tiền tuyến quân Kolchak là khoảng 100,000 người.

Vào giữa tháng 4 các lực lượng của Kolchak đã tiến sâu hơn 200 dặm và chiếm được một vùng lớn hơn nước Anh. Nơi đến của họ, Sông Volga, chỉ cách một ít ngày hành quân. Phía sau chiến tuyến của mình phe Đỏ trong lúc này đang ra sức đương đầu với cuộc nổi dậy nông dân lớn nhất cho đến thời điểm đó – cái gọi là ‘Trận Chiến Chapany’ nuốt trọn toàn bộ các huyện của Simbirsk và Samara dưới khẩu hiệu ‘Vạn tuế Xô-Viết! Đả đảo Cộng sản!’ Bạch Vệ râm ran bàn về ‘cuộc đua tới Moscow’ một cách tin tưởng. Ở Paris Lvov thấy được uy tín của Kolchak lên cao trong mắt  Đồng minh. Các tín dụng to lớn hơn được ứng trước cho Omsk. Dường như việc Đồng minh công nhận Bạch Vệ về mặt ngoại giao chỉ ở ngay góc đường.

Nhưng vào ngày 28/4 phe Đỏ mở cuộc phản công. Chỉ huy là Mikhail Frunze, người sau này sẽ trở thành anh hùng Xô-Viết nhưng vào lúc này còn là một người Bôn-se-vich không mấy tiếng tăm. Là một cựu công nhân trong tuổi mới trên 30, kinh nghiệm thực sự duy nhất của ông trên chiến trường là khi đứng đầu một lữ đoàn Đỏ trong cuộc đấu tranh giành quyền lực ở Moscow. Hàng ngàn đảng viên được động viên và gởi ra Mặt trận phía Đông. Komsomol, Đoàn Thanh niên Cộng sản, vừa mới thành lập, gởi 3,000 thành viên. Các Xô-Viết cũng được lệnh tuyển mộ 10 đến 20 người mỗi làng. Do sự phản kháng của nông dân, chỉ có 13,000 tân binh xuất hiện – khoảng 2 người mỗi làng – nhưng nó cũng giúp nghiêng cán cân lực lượng quân số với Bạch Vệ. Phe Đỏ cũng được tiếp tay bởi đa số các đơn vị Bashkir đã đào thoát khỏi phe Kolchak vào tháng 5. Vào giữa tháng 6, lực lượng của Frunze đã đẩy lùi quân Kolchak trở lại nơi họ bắt đầu, phía đông Ufa. Sau đó các thành phố của Ural rơi vào tay phe Đỏ như quân cờ đô-mi-nô khi phe Trắng bị đánh tan tác và tháo chạy cuống cuồng. Orenburg, Ekaterinburg và đoạn cuối đường ray xung yếu ở Cheliabinsk tất cả bị mất vào giữa tháng 8. Không còn nhiều lực lượng để ngăn chặn đà tiến của phe Đỏ vào Omsk. Kolchak giờ chỉ còn chưa tới 15,000 quân trên trận địa, chỉ khoảng một phần tám lực lượng tham chiến tại đỉnh cao của cuộc tiến công.

Có một số nguyên nhân quân sự khiến cuộc tiến công của Kolchak sụp đổ. Nhưng sau tất cả những nguyên nhân đó là chính trị. Đó là tình huống quá giương rộng về mặt quân sự trong khi chế độ ở hậu phương thiếu thốn những phương tiện chính trị giúp giữ vững quân đội ở Mặt trận.

Hãy xét vấn đề chỉ huy. Có rất ít chỉ huy có trình độ trong quân đội Kolchak. Chỉ 5 phần trăm trong số 17,000 sĩ quan đã được huấn luyện trước chiến tranh và hầu hết là những thiếu úy trẻ mới thăng bậc. Tướng Lebedev, người đứng đầu quân đoàn, chỉ mới 36 tuổi. Ông từng là một đại tá trong bộ Tổng Tham mưu thời sa hoàng. Như hầu hết các tư lệnh cao cấp của Kolchak, ông am tường về mưu mô chính trị hơn là khoa học chiến tranh. Các lãnh đạo quân đội, theo lời của Hầu tước Budberg, ‘tự cho mình không chỉ là hạt nhân quân sự mà còn là hạt nhân chính trị’. Rốt cuộc, đây là sự  độc tài quân sự. Các phe phái chính trị chẳng mấy chốc phát triển trong đám người hậu thuẫn các vị chỉ huy, kết quả là quân đội phân rã thành những tập hợp thiếu liên kết gồm những phân đội manh mún, mỗi nhóm theo đuổi cuộc chiến nhỏ của riêng mình. Quân đội càng bị chính trị hoá, bộ máy hành chính càng phình to vượt quá tỉ lệ với quân số ngoài mặt trận. Ở đỉnh cao của cuộc tiến công có đến 2,000 sĩ quan trong ban tham mưu ở Omsk để điều hành 100,000 binh sĩ. Thậm chí ở Semipalatinsk, cách nơi giao tranh 1,500 dặm, có ban tham mưu đông hơn 1,000 người. Thay vì ra phục vụ trên chiến trường quá nhiều chỉ huy chỉ ngồi chơi xơi nước ở văn phòng nơi hậu phương.

Rồi còn vấn đề tiếp tế. Quân của Kolchak, thậm chí hơn cả quân của Lênin, chịu đựng cảnh thiếu thốn ngoài mặt trận. Họ phải tự tìm thực phẩm tại những ngôi làng gần mặt trận, thường phải trưng thu bằng vũ lực, dẫn đến việc xa lánh của dân chúng mà Bạch Vệ hô hào đến giải phóng. Một phần của vấn đề là những chính sách kinh tế thiển cận của Kolchak. Ông không sử dụng số vàng dự trữ thời sa hoàng để chống lạm phát đang phi mã. Nông dân không bán lương thực ra thị trường khi tiền ngân hàng Omsk mất giá. Không có gì được thi hành để cứu vãn tình trạng mãn tính của những ngành kỹ nghệ Siberia.  Hàng hóa tiêu dùng và quân nhu phải mang đến bằng tàu hỏa từ Thái Bình Dương, cách đó 4,000 dặm. Phần nhiều hàng bị đánh cướp bởi các băng đảng phía đông Hồ Baikal, hoặc bởi dân quân nông dân. Toàn bộ những chuyến tàu cũng có khi bị công nhân đường sắt đổi hướng, nhiều người trong số họ có cảm tình với phe Đỏ và tất cả bọn họ đều nhận đồng lương quá thấp. Ngay chính ở Omsk đồ tiếp tế quí giá cũng thường bị xài hoang phí bởi những viên chức tham ô. Tình trạng tham nhũng của chế độ Kolchak rất nặng nề. Ban tham mưu của quân đoàn Gajda nhận khẩu phần cho 275,000 người trong khi đơn vị chiến đấu chỉ có 30,000 người. Thuốc lá hiệu Embassy nhập khẩu từ Anh cho quân nhân được người dân thường ở Omsk hút. Quân phục Anh và đồng phục y tá thì lại thấy dân thường mặc nhan nhản trong khi nhiều binh lính ăn mặc rách rưới. Thậm chí quân nhu Đồng minh được tuồn ra thị trường chợ đen. Knox được gán nhãn Cục Trưởng Cục Quân Nhu của Hồng Quân: Trotsky thậm chí gởi cho ông một thư giễu cợt cảm ơn vì đã giúp tiếp tế cho Hồng Quân.

Không khí tại Omsk dưới chế độ phe Trắng tràn ngập tình trạng tha hóa đạo đức và trụy lạc thối nát. Ma túy và vodka được tiêu thụ với số lượng lớn. Quán rượu, sòng bạc và nhà thổ mở cửa suốt ngày. Chính Kolchak làm gương cho dân chúng, ông sống với nhân tình trong cảnh xa hoa ở Omsk trong khi bà vợ và đứa con trai tội nghiệp bị tống đi Paris. Vị Đô đốc không có tài dùng người nên nội các ông chỉ toàn những kẻ theo đốm ăn tàn của chế độ cũ. ‘Chung quanh anh thật đáng sợ,’ ông phàn nàn với bà vợ. ‘Toàn bọn hư hỏng trụy lạc, hèn nhát, tham lam và phản phúc.’ Nhưng lỗi phần lớn là của ông. Nếu ông đã xoay sở không làm các zemstvo xa lánh mình, thì sự việc đã không tệ hại đến thế, vì họ là nguồn lực địa phương có năng lực quản trị. Budberg khiếp đảm khi chứng kiến tình hình với tư cách là Bộ trưởng Chiến tranh:

Trong quân đội, thối nát; trong Chính quyền, suy đồi đạo đức, chia rẽ và những mưu mô trục lợi bản thân; trong xứ, nổi dậy và hỗn loạn; trong đời sống công cộng, hoảng loạn, vị kỷ, hối lộ và vô lại đủ mọi loại.

Trong tình trạng như thế thử hỏi sẽ làm được gì. Các sĩ quan có trách nhiệm tiếp tế toàn là bọn thối nát và chây lười, bỏ ra hàng tháng trời để soạn ra những thống kê vô nghĩa, những dự án lập pháp và báo cáo chính thức và rồi sau đó xếp xó đi và quên bẵng. ‘Toàn bộ chế độ’, Budberg kết luận, ‘chỉ có vỏ mà không có ruột; các bộ ngành chẳng khác các cối xay gió bề thế, quạt cứ quay mà cối đá thì không có và hầu hết các bộ phận hoạt động bên trong đều gãy hoặc thiếu.’

Đến giờ điểm yếu nhất của quân đội Kolchak là không thể động viên dân chúng địa phương. Cuộc tấn công phải ngừng lại vì thiếu quân tiếp viện, trong khi có quá nhiều tân binh đào ngũ. Đây chủ yếu là vấn đề nông dân. Đúng vậy, cuộc tiến công của Bạch Vệ yếu đi một cách trầm trọng bởi sự đào ngũ của dân Bashkir và Cô-dắc bên sườn phía nam, nhờ đó quân đoàn của Frunze mới chọc thủng được. Nhưng đại đa số dân ở Tây Siberia và vùng Volga-Kama, nơi mũi tiến công được thực hiện hoặc bị bẻ gãy, là nông dân Nga hoặc Ukraine. Về bề ngoài, không có lý do gì nông dân Siberia lại tỏ ra thù địch với Bạch Vệ. Ở miền đông Ural không có ruộng đất của quí tộc, do đó nhân tố chính gắn kết nông dân với cách mạng trong vùng trung tâm nước Nga không có vai trò ở đây. Phần đông những dân lập cư lớn tuổi là những trại chủ nuôi bò sữa giàu có, là những người, theo ta nghĩ, phải đặt cược vào điều kiện hậu chiến của Bạch Vệ vốn tán thành quyền tài sản tư nhân. Vậy mà những nông dân ở phía đông Ural tỏ ra miễn cưỡng đầu quân Kolchak như nông dân phía tây.

Đây một phần là vấn đề về hình ảnh. Chế độ Kolchak, đúng hay sai, gắn liền với việc phục hồi hệ thống Sa hoàng. Điều này được truyền đạt qua hình ảnh cầu vai của các sĩ quan ông; và qua những biện pháp phong kiến thời sa hoàng mà các viên chức địa phương sử dụng, như thường phạt đánh roi các nông dân khi họ bất tuân lệnh của họ. Điều này chắc chắn đưa đến xung đột trực diện với giới nông dân Siberia, mà tổ tiên của họ đã trốn khỏi chế độ nông nô ở Nga và Ukraine, chứng tỏ tình yêu tự do và độc lập của họ rất mạnh.

Bạch Vệ càng tiến gần hơn về trung tâm nước Nga họ càng khó động viên giới nông dân địa phương. Trong vùng Volga xung yếu, điểm xa nhất của mũi tiến công Kolchak, các nông dân đã được hưởng nhiều ruộng đất của quí tộc hơn bất cứ nơi đâu ở Nga do đó họ sợ nhất bọn phản cách mạng. Ở đây Kolchak tự đào mộ cho mình khi không chủ trương cách mạng nông dân về đất đai. Như chế độ Denikin ở phía nam, nơi các chủ đất áp đảo không kém, chính quyền Kolchak hoàn toàn không biết làm gì hơn là một đáp ứng quan liêu quá ư thận trọng đối với biện pháp sống còn của cuộc nội chiến. Đây là một ví dụ cổ điển về những phương pháp lạc hậu của phe Trắng. Bất kỳ sắc luật nào về ruộng đất trong tương lai, ủy ban ruộng đất của Kolchak tuyên bố vào ngày 8/4, sẽ ‘phải căn cứ vào quyền sở hữu tài sản tư nhân’. Chỉ ‘ruộng đất của quí tộc không được sử dụng’ mới  ‘chuyển cho nông dân cày cấy’, và trong trường hợp đó phải thuê lại chính quyền. Một ý kiến chỉ trích cho rằng tuyên bố như thế là ‘một công cụ tuyên truyền tuyệt vời cho người Bôn-se-vich. Họ chỉ việc in ra tuyên bố đó rồi phát cho giới nông nhân.’

Để bắt lính nông dân binh lính của Kolchak phải dùng đến biện pháp khủng bố. Không có ban quản trị địa phương hiệu quả để cưỡng bách nghĩa vụ, và quan điểm của phe Trắng trong bất kỳ tình huống nào cũng không thể thuyết phục được người nông dân. Họ quyết rằng người nông dân phải phục trong quân đội Bạch Vệ, cũng như đã từng phục vụ trong hàng ngũ của Sa Hoàng, và nếu từ chối quân đội có quyền trừng trị, thậm chí hành hình nếu cần thiết để cảnh cáo cho người khác. Nông dân bị đánh roi và tra tấn, con tin bị bắt và bắn, và làng bị đốt rụi để cưỡng bách vào lính. Kỵ binh của Kolchak cưỡi ngựa vào thị trấn trong những ngày họp chợ, bố ráp những người trẻ bằng mũi súng và lôi họ ra Mặt trận. Hầu hết những trò khủng bố này đều giấu kín với Đồng minh để không làm ảnh hưởng đến việc viện trợ của họ. Nhưng Tướng Graves, chỉ huy quân Mỹ, khi biết chuyện đó, lấy làm khiếp đảm. Vì ông biết rằng việc bắt lính hàng loạt các nông dân ‘là một bước dài đến việc cáo chung của chế độ Kolchak’. Nó sẽ nhanh chóng phá vỡ kỷ luật và tinh thần chiến đấu của quân đội ông. Với mỗi năm nông dân bị bắt đi, hết bốn người đào ngũ: nhiều người chạy sang phe Đỏ, mang theo cả quân nhu. Knox giận như điên khi lần đầu tiên thấy binh lính Đỏ trên Mặt trận phía Đông mặc quân phục Anh.

Ngay từ đầu chiến dịch, quân Kolchak buộc phải giải quyết nhiều vụ nông dân nổi dậy ở hậu phương, nhất là ở Slavgorod, đông-nam Omsk, và ở Minusinsk trên Yenisei. Nguyên nhân chính là do người Bạch Vệ trưng thu và bắt lính. Vào đỉnh cao của cuộc tiến công, toàn bộ vùng hậu phương của Siberia bị nhận chìm trong các vụ nổi dậy. Các phong trào phe phái này thực ra không thể coi là do người Bôn-se-vich tổ chức, như các sử gia Xô-Viết sau đó tuyên bố, mặc dù những nhà hoạt động Bôn-se-vich, thường cùng với người Anarchist và SR cánh Tả, đóng một vai trò chủ yếu trong đó. Nói chung, phong trào phe phái thể hiện chủ trương cách mạng nông dân trong việc chống đối thù địch với các thị trấn. Một mình họa rõ rệt về ý thức hệ của nó được tìm thấy tại Đại hội Nông dân Khởi nghĩa Lần 1 từ những huyện Kansk, Krasnoyarsk và Achinsk họp vào tháng 4 1919. Nó đề nghị ‘một hiến pháp cho quyền lực nông dân’, với một ‘chính quyền nông dân’, các thuế má công xã phù hợp với các chuẩn mực do Đại hội ấn định, và ‘sự phân phối tài sản đất đai cho giới nông dân cày cấy’. Thậm chí nó thông qua một ‘bộ luật nông dân’ ấn định những bản án của công xã dành cho những người phạm tội chè chén uyên náo, cờ bạc, bắt cá đang trong mùa đẻ và . . . hiếp dâm.

Phong trào phe phái mạnh nhất trong các vùng đó — các tỉnh Tomsk và Yenisei ở trung tâm Siberia, tỉnh  Altai và Semipalatinsk ở phía nam, và thung lũng Amur ở phía đông — nơi tập trung những di dân Nga mới đến gần đây. Đây thường là những nông dân nghèo hơn, nhiều người trong số phải kiếm thêm lợi tức bằng công việc trên đường ray và dưới hầm mỏ. Nhưng phong trào cũng lan rộng đến những vùng nông nghiệp giàu hơn khi chế độ áp bức ở Omsk tăng lên. Các nông dân đào ngũ từ lực lượng Kolchak đóng một vai trò cầm đầu trong các băng nhóm phe phái. Họ có kiến thức kha khá về thế giới bên ngoài có thể đủ trong một cộng đồng nông dân để làm bệ phóng cho một người trẻ nắm lấy quyền lực. Băng nhóm nông dân chiến đấu theo du kích chiến, quá thích hợp với vùng rừng rậm hẻo lánh và hoang dã của rừng taiga. Thỉnh thoảng họ gia nhập các đơn vị Hồng Quân đã lẫn trốn trong rừng taiga kể từ khi người Bôn-se-vich bị đánh đuổi khỏi Siberia trong mùa hè 1918. Họ tàn phá nhiều dặm đường ray và đột kích liên tục các chuyến tàu khiến việc vận chuyển quân lương sống còn trên tuyến Xuyên-Siberia cho lực lượng tấn công của Kolchak phải đình trệ. Hàng ngàn binh sĩ của ông phải rút khỏi Mặt trận đang đánh nhau với phe Đỏ để đánh dẹp bọn du kích. Họ tiến hành một cuộc chiến khủng bố không khoan nhượng, bắn hàng trăm con tin và đốt rụi hàng chục ngôi làng trong căn cứ du kích ở Kansk and Achinsk, nơi địa thế rừng đồi lý tưởng cho việc phục kích tàu hỏa. Nhưng vì khủng bố cũng đổ xuống đầu những ngôi làng không liên quan gì với bọn băng nhóm, chỉ thổi bùng lên ngọn lửa chiến tranh nông dân. Khi quân Kolchak rút lui về phía đông, họ càng thấy mình bị bao vây bởi băng nhóm nông dân thù địch. Phe Trắng hứng hoả lực từ tứ phía, ngay cả bọn Cô-dắc cũng tham gia với nổi dậy. Toàn bộ các đơn vị lính nông dân nghĩa vụ đào ngũ khi cánh quân Kolchak rút lui mang họ đến gần quê quán của mình hơn. Vào tháng 11 1919, binh đoàn Kolchak tan rã. Thêm một lần nữa phe Trắng đã bị hố thẳm giữa họ và nông dân đánh cho thảm bại.

Vào ngày 14/11 lực lượng Kolchak bỏ lại Omsk khi quân Đỏ, với quân số đông gấp đôi, tiến về phía đông. Phe Đỏ chiếm thành phố mà không cần đánh trận nào, tịch thu những kho quân nhu mênh mông mà phe Trắng chưa kịp phá hủy, cùng với 30,000 binh sĩ. Hàng ngàn sĩ quan và gia đình, thư ký và viên chức, thương gia, chủ quán, chủ ngân hàng và gái điếm chạy khỏi thủ đô Trắng và hướng về đông. Những người may mắn đi được bằng tàu hỏa, xui xẻo hơn thì bằng ngựa hoặc lội bộ. Giới tư sản đang tháo chạy. Người bị thương và bệnh hoạn – mà con số phồng to vì dịch sốt phát ban hoành hành – phải bị bỏ lại trên đường. Đây không chỉ là sự sụp đổ về quân sự; mà còn là sụp đổ về đạo lý. Lính Cô-dắc rút lui mang theo với họ số lượng tiếp tế lớn rượu vodka và, khi quyền hành biến mất, lao vào những vụ hiếp dâm tập thể và cướp bóc làng mạc trên đường rút binh. Một nhân vật trong cuốn Bác Sĩ Zhivago, bối cảnh phần lớn dựa vào những trải nghiệm của tác giả Paternak ở Siberia, đúc kết không khí thời đó: ‘Trước đây là nghĩa vụ đủ mọi loại – những bổn phận thiêng liêng đối với đất nước, quân đội, và xã hội. Nhưng giờ đây khi cuộc chiến đã mất, mọi thứ dường như đã bị phế truất, không còn gì thiêng liêng nữa.’

Kolchak hướng về phía thủ đô mới được dự định ở Irkutsk, cách Omsk 1,500 dặm về phía đông. Con tàu dài nhất trong số sáu con tàu, với 29 toa, chất đầy lượng vàng dự trữ thời sa hoàng, đã đoạt được từ tay phe Đỏ ở Kazan và giao lại cho Kolchak. Khi cách nơi đến 300 dặm, tàu của Kolchak bị quân Séc chận lại, và gần suốt tháng 12 nó nằm trơ trọi đâu đó. Trong khi đó, ở Irkutsk, Trung tâm Chính trị, một liên minh các nghiệp đoàn, các zemstvo và các đảng cánh tả chiếm lấy thành phố và tự tuyên bố mình là chính quyền Siberia. Kolchak bị lên án là ‘kẻ thù của nhân dân’ và bị đem ra xét xử. Vào ngày 4/1/1920 Kolchak thoái vị, quyền tư lệnh được chuyển giao cho Sememov và phải đi cùng với người Séc đến Irkutsk, tại đó ông hi vọng mình được giao nộp cho các sứ bộ Đồng minh. Nhưng  ông bị phản bội và bị giao nộp cho người Bôn-se-vich ở Irkutsk. Từ những gì chúng ta biết, dường như chắc chắn là ông và số vàng đã bị quân Séc giao nộp cho Bôn-se-vich để đổi lấy lộ trình được bảo đảm đến Vladivostok, tại đó cuối cùng họ có thể đi tàu đến Hoa Kỳ trên hành trình vòng quanh thế giới trở lại quê nhà. Trung tâm Chính trị lẫn các sứ bộ Đồng minh không ai làm gì để giải cứu vị Đô đốc. Vào ngày 21/1 một ủy ban năm người (hai Bôn-se-vich, hai SR và một Men-se-vich) thẩm vấn ông. Có kế hoạch mang ông về Moscow và xét xử công khai. Nhưng, như vụ xử Nicholas II, kế hoạch bí bãi bỏ và, vào ngày 6/2, ông bị kết án tử. Có lẽ người Đỏ sợ việc bắt giữ Kolchak sẽ đánh động đến tàn dư của ông, đang tụ tập bên ngoài thành phố. Cũng có thể người Bôn-se-vich chỉ muốn ông chết hơn.  Sáng sớm hôm sau Kolchak bị xử bắn. Thi thể ông được chôn dưới lớp băng tuyết của Sông Ushakovka.

Nếu thảm bại cuối cùng của Kolchak diễn ra quá lâu vì phe Đỏ buộc phải chuyển một lực lượng lớn binh sĩ từ Siberia đến Mặt trận phía Nam, nơi Denikin đe doạ thọc sâu vào mùa hè 1919.*

* Đây là mối bất đồng lớn đầu tiên trong giới lãnh đạo Bôn-se-vich. Trotsky và Vatsetis, Tổng Tư lệnh của ông, chống lại việc đuổi theo Kolchak vượt quá Ural để có thể rút binh lính về Mặt trận phía Nam. Nhưng Kamenev, Tư lệnh Mặt trận phía Đông, được Lênin và Stalin hậu thuẫn, khăng khăng đòi đuổi theo Kolchak đến tận phút cuối. Cuộc xung đột kéo dài qua hết mùa hè, làm yếu đi sức lãnh đạo của Hồng Quân tại thời điểm cấp bách này trong nội chiến. Trên hết, nó chứng tỏ uy thế của Trotsky đang giảm sút. Chiến lược của ông, trên cả hai Mặt trận Đông và Nam, đều bị bác bỏ so với chiến lược của Kamenev, người thay thế Vatsetis vào ngày 3/7. Trotsky giận dữ, ngờ rằng Stalin và Nhóm Chống đối Quân sự cố tình muốn hất ông khỏi ban lãnh đạo. Ông viết một bức thư xin từ chức, nhưng Ủy ban Trung ương từ chối vào ngày 5/7. Uy tín của Trotsky càng đi xuống khi RVSR được tái cơ cấu với bốn thành viên mới (Kamenev, Gusev, Smilga và Rykov) vốn đều có mối bất đồng với vị Chủ tịch của nó.

 

Trong tháng 3 và 4, tại đỉnh cao cuộc tiến công của Kolchak, lực lượng Denikin xuất phát từ Rostov đánh chiếm vùng mỏ than Donbass trọng yếu và vùng đông-nam Ukraine. Một số sử gia đã nhìn thấy đây là một sai lầm chiến lược trầm trọng. Kế hoạch ban đầu của Denikin là đánh về hướng Tsaritsyn để bắt tay với lực lượng của Kolchak. Nhưng kế hoạch này bị bãi bỏ vào cuối tháng ba, khi quân Đỏ, vốn đang cần than khẩn cấp, xâm chiếm vùng Donbass và bắc Don. Đối diện phải lựa chọn cứu Don và bắt tay với Kolchak trên vùng Volga, Denikin chọn giải pháp thứ nhất. Ông luôn ưu tiên bảo vệ căn cứ địa Cô-dắc của mình. Đó cũng là lý do mà mùa hè trước ông đã phát động Chiến dịch Kuban Lần Hai thay vì tấn công về hướng Tsaritsyn; và giờ đây cũng vì ưu tiên đó. Quyết định của Denikin bị vài tướng lĩnh hàng đầu kịch liệt chống đối, nhất là Wrangel, thủ lĩnh cao ngồng của Quân đoàn Caucassus, người liên tục mưu tính chống Denikin. Wrangel tố cáo quyết định không tiến đánh Tsaritsyn là ‘hành động phản bội quân Kolchak’, cho phép phe Đỏ ‘đánh bại chúng ta từng người một’. Xét việc binh lính Kolchak chỉ cách Tsaritsyn không tới 200 dặm vào tháng ba, có lẽ Denikin đã sai khi không đánh liều chịu mất Don để bắt tay với họ. Phe Đỏ chắc chắn  sẽ bị đánh bại nếu hai quân đoàn Bạch Vệ phối hợp nhau. Tuy nhiên, phải biện hộ cho Denikin là ông chỉ đáp ứng với điều có thể gọi là cuộc chiến diệt chủng chống dân Cô-dắc. Người Bôn-se-vich đã cho thấy rõ mục tiêu của họ ở vùng bắc Don là tiến hành ‘khủng bố tập thể chống dân Cô-dắc giàu có bằng cách tận diệt họ đến người cuối cùng’ và chuyển đất đai của họ cho nông dân Nga. Trong chiến dịch ‘làm cỏ dân Cô-dắc’ này, vào những tháng đầu của năm 1919, khoảng 12,000 người Cô-dắc, phần lớn là người già cả, bị hành quyết vì tội ‘phản cách mạng’ bởi những tòa án của Hồng Quân xâm lăng.

Chính nhờ cuộc nổi dậy tự phát của Cô-dắc chống lại vụ khủng bố này mà Denikin có thể đột kích qua. Hàng ngàn người Cô-dắc gia nhập quân đội ông khi họ tiến về phía bắc vào mùa xuân. Chủ lực Bạch Vệ ở Donbass do Tướng Mai-Maevsky cầm đầu. Một người có thân hình trái đào mũm mĩm với cặp mắt ti hí và gọng kính gắn mũi, ông không có vẻ gì là một quân nhân.’Nếu ông không mặc quân phục,’ Hầu tước Wrangel viết, ‘ông trông giống một kịch sĩ hài trong một gánh hát tỉnh lẻ.’ Mai-Maevsky mang nhiều tai tiếng vì trác táng: vào cuối cuộc nội chiến ít có nhà thổ nào ở nam Nga không quen biết ông. Vậy mà ông lại là một trong những vị tướng tài ba nhất của Bạch Vệ – một nhà chiến thuật xuất sắc, quả cảm và được 12,000 ‘binh sĩ tạp sắc’ (gọi thế vì mũ của họ có nhiều màu) của ông coi như thần tượng. Dưới quyền chỉ huy của ông, Quân đoàn Tình nguyện tiến lên từ Donbass vào đông-nam Ukraine, dễ dàng đánh bại băng nhóm Đỏ của Makhno trên đường. Kharkov bị chiếm ngày 13/6, Ekaterinoslav ngày 22, khi quân nghĩa vụ nông dân Đỏ chạy tán loạn khi trong thấy lực lượng Bạch Vệ cừ khôi này. Trong khi đó, trong một chiến dịch nổi bật nhất của nội chiến, Quân đoàn Caucassus của Wrangel hành quân 40 ngày băng qua thảo nguyên đông-nam nắng thiêu đốt – và cuối cùng đánh chiếm Tsaritsyn chống lại lực lượng vượt trội vào ngày 19/6. Lực lượng phòng thủ thành phố Volga tháo chạy hoảng loạn ngay khi thấy xe tăng Anh của Wrangel tiến đến. Bốn mươi ngàn Hồng Quân bị bắt cùng với số lượng lớn quân nhu.

Cuộc đột phá của Denikin dễ dàng nhờ vào một số nhân tố. Phe Trắng có lợi thế ở kỵ binh và tiếp tế vượt trội, phần lớn nhờ vào Đồng minh. Dù thân hình phục phịch đi chuyển khó khăn, nhưng Mai-Maevsky là bậc thầy ứng biến trong việc điều động binh lính. Ông sử dụng máy bay Anh để trinh sát địa hình quân địch rồi phái đội kỵ binh tức tốc bằng tàu hỏa đến điểm có thể gây thiệt hại nhiều nhất cho địch. Một đơn vị có thể tiến đánh ba vị trí khác nhau trong cùng một ngày. Phe Đỏ, trong lúc này, rõ ràng bị kéo giãn vì phải đánh cùng lúc trên hai Mặt trận chính – Đông và Nam. Họ cũng gặp khủng hoảng về tiếp tế. Theo Trotsky, đây là lý do chính Mặt trận phía Nam sụp đổ. ‘Không đâu binh sĩ chịu đói khát nhiều như ở Ukraine,’ ông bảo Uy ban Trung ương ngày 11/8. ‘Từ một phần ba đến phân nửa binh sĩ không có giày ống hoặc áo lót và ăn mặc rách rưới. Mọi người ở Ukraine trừ binh lính chúng ta đều có súng trường và đạn dược.’ Khủng hoảng tiếp tế dẫn đến vô kỷ luật và đào ngũ. Trong bảy tháng Denikin tiến đánh, từ tháng 3 đến tháng 10 1919, phe Đỏ tính ra có hơn một triệu người đào ngũ ở Mặt trận phía Nam. Hậu phương thì chìm ngập trong các vụ nổi dậy của nông dân, khi phe Đỏ trưng thu ngựa và lương thực, bắt lính bổ sung.

Vùng đông-nam Ukraine, nơi phe nhóm Makhno kiểm soát, trở thành vùng nổi dậy chính của nông dân ngay tại thời điểm đỉnh cao cuộc tiến công Denikin. Nestor Makhno là Pancho Villa của Cách Mạng Nga (một vị tướng và một trong những nhân vật nổi bật nhất trong cuộc cách mạng Mexico: ND). Ông sinh năm 1889 ở Hulyai Pole, trung tâm của cuộc nổi dậy nông dân của ông. Trong năm 1905 ông gia nhập Anarchist và, sau bảy năm trong nhà lao Butyrka, ông trở lại Huliai Pole vào năm 1917, tại đó ông thành lập Hội Nông dân – sau này được cải cách thành Xô-Viết – và  tổ chức một lữ đoàn, tiến hành chiếm đoạt các điền trang của quí tộc địa phương. Trong thời nội chiến các phe đảng của Makhno gần như đánh nhau với mọi bên: lực lượng Rada; Cô-dắc của Kaledin; quân Đức và Hetmanates; người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraine của Petliura; các băng nhóm tranh chấp của Grigoriev và vô số các thủ lĩnh khác; phe Trắng; và phe Đỏ. Sức mạnh của đạo quân du kích của ông nằm trong chất lượng và tốc độ của kỵ binh, trong sự hậu thuẫn nhận được từ giới nông dân, trong sự am tường địa hình và trong lòng trung thành của binh sĩ. Những kỳ tích được loan truyền của Makhno, kể cả tài uống rượu siêu phàm, tạo cho ông một tên tuổi huyền thoại trong giới nông dân địa phương (họ xưng ông là’Batko’, nghĩa là ‘bố’). Dưới lá cờ đen của người Anarchist, Makhno là biểu tượng của cách mạng nông dân phi quốc gia dựa trên sự tự trị địa phương của các Xô-Viết tự trị và tự do đã xuất hiện trong nước trong năm 1917. Khi Bạch Vệ tiến vào Ukraine Makhno đặt 15,000 quân của ông về phe Đỏ. Để đổi lấy vũ khí từ Moscow, binh lính ông phải theo về dưới trướng Sư đoàn 3 do Dybenko chỉ huy, mặc dù họ còn duy trì tổ chức phe phái nội bộ của mình. Trotsky đổ lỗi cho tính vô kỷ luật của họ khiến quân Đỏ bại trận. * Vào tháng 6 ông ra lệnh bắt giữ Makhno với tội ‘phản cách mạng’ – quan niệm vô chính phủ của cách mạng nông dân địa phương đi ngược với Chuyên chính Vô Sản – và một số người theo ông bị bắn. Băng nhóm Makhno thoát vào rừng và quay súng chống lại phe Đỏ. Phần đông nông dân ở vùng đông-nam Ukraine hậu thuẫn cuộc nổi dậy của ông.

*  Đúng là binh sĩ Makhno thường vỡ trận dưới sức ép của phe Trắng. Nhưng nếu xét họ được phe Đỏ tiếp tế quá nghèo nàn, điều này không có gì ngạc nhiên. Họ chắc chắn không đáng để bị Trotsky miệt thị.

 

Từ Tsaritsyn, vào ngày 3/7, Denikin ban hành Chỉ thị Moscow. Ba lực lượng Bạch Vệ chủ lực sẽ đồng loạt tiến vào thủ đô theo ba mũi giáp công dọc theo các đường sắt chính, đó đó cắt đứt đường tiếp tế về thủ đô. Quân đoàn Caucassus của Wrangel sẽ đi ngược lên Volga từ Tsaritsyn đến Saratov, và từ đó quay đến Penz, Nizhnyi Novgorod và tiếp tục đến Moscow; Tướng Sidorin và Quân đoàn Sông Don tiến theo hướng bắc qua Voronezh; trong khi Quân đoàn Tình nguyện của Mai-Maevsky tiến lên từ Kharkov qua Kursk, Orel và Tula. Đó là canh bạc ăn cả ngã về không, trông cậy vào tốc độ của phe Trắng để khai thác sự yếu kém hiện thời của phe Đỏ. Wrangel cực lực chống đối Chỉ thị. Ông gọi nó là ‘bản án tử’ của Bạch Vệ. Theo ông, tiến quân như vậy là quá nhanh và dàn trải có nguy cơ hậu phương không bảo vệ đầy đủ vì thiếu quân dự trữ đã được huấn luyện thuần thục, quản trị an toàn và đường tiếp tế duy trì được sức tấn công. Wrangel thích tập trung binh sĩ trên một khu vực và tiến chậm mà chắc – cụ thể trong khu vực Volga của ông. Nhưng khi ông đề đạt ý kiến này với Denikin, ông này kêu lên: ‘Tôi tưởng ngài muốn là người đầu tiên đặt chân đến Moscow!’

 Nếu xét lại, rõ ràng Chỉ thị là một lỗi lầm thảm họa: nó bắt Bạch Vệ trả giá bằng cả cuộc nội chiến. Chính Denikin sau này thú nhận rằng Mặt trận quá kéo giãn, phần lớn vì các chỉ huy kỵ binh, mà ông không điều khiển được, đã tự tiện mở rộng vùng chiếm đóng. Đó là tình trạng có quá nhiều tướng mà không có đủ quyền hành. Khi Mặt trận mở rộng, nhu cầu quân số và tiếp tế cũng tăng lên. Nhưng mà lúc này các đơn vị tiền tuyến cách căn cứ phía sau hàng trăm dặm. Họ phải dùng đến biện pháp trưng thu tàn khốc và bắt lính địa phương, do đó càng làm dân chúng mà họ nói là giải phóng xa lánh. Denikin luôn nói rằng việc tiến quân vào Moscow sẽ được ‘nhân dân cả nước nổi dậy tiếp ứng chống chế độ Xô-Viết’; nhưng hậu quả của những hành động của binh sĩ ông chỉ khiến họ tập kết sau lưng người Bôn-se-vich.

Lúc đầu cuộc tiến công khá thuận lợi. Vào ngày 31/7 các lực lượng Denikin chiếm được Poltava, tiếp theo là Odessa và Kiev vào tháng 8, khi quyền lực Xô-Viết ở vùng Ukraine sụp đổ. Trong khi đó, vào tháng 8, quân Cô-dắc của Mamontov, 8,000 người, thọc sâu vào phía sau quân Đỏ về hướng Tambov, phá nổ các kho quân nhu và đường ray và đánh tan tác các tân binh Đỏ mới nhập ngũ. Tambov và Voronezh đều bị chiếm đóng ngắn ngủi và bị cướp bóc theo như kế hoạch của Mamontov phá hoại hậu quân. Trong tháng 9 đà tiến của Mai-Maevsky tiếp tục hướng vào trung tâm nước Nga. Kursk bị lấy ngày 20 và Voronezh, một lần nữa, bị chiếm mười ngày sau đó. Vào 14/10 Bạch Vệ chiếm Orel. Chỉ còn cách Moscow 250 dặm, đây là điểm gần nhất đến thắng lợi. Người Bôn-se-vich bắt đầu hoảng sợ. Chính vào lúc Denikin đang đe doạ đánh chiếm Moscow từ phía nam, thì một quân đoàn Bạch Vệ khác  do Tướng Yudenich chỉ huy đang họp quân ở ngoại vi Petrograd. Lần này Bạch Vệ đã xoay sở để phối hợp tấn công bằng hai quân đoàn chủ lực của họ, và dường như chỉ trong một vài ngày quyết định vào giữa tháng 10 phe Đỏ sẽ thảm bại.

Ẩn nấp dưới boong-ke trong Điện Kremlin,  Lênin nhận từng giờ các báo cáo qua điện thoại từ các tư lệnh của mình ở hai Mặt trận. Những biện pháp tuyệt vọng được tung ra cho việc phòng thủ cuối cùng Moscow: 120,000 công nhân và nông dân bị cưỡng bách lập thành các đội lao động đào chiến hào trên các đường tiến quân  phía nam. Trong khi đó, người Bôn-se-vich đang sẵn sàng cho điều tồi tệ nhất. Nhiều người xé thẻ đảng và cố lấy lòng với giới tư sản Moscow để hi vọng tự cứu khi phe Trắng đến. Những người khác sẵn sàng chui vào hoạt động bí mật. Nhiều kế hoạch được đặt ra cho việc di tản chính quyền đến vùng Ural. Một số các lãnh đạo đảng cao cấp thậm chí chuẩn bị đi nước ngoài. Elena Stasova, thư ký Đảng, được lệnh tìm kiếm một thông hành giả và một xấp giấy bạc thời sa hoàng cho mỗi Ủy viên Trung ương.

Nhưng những dấu hiệu do việc kéo giãn thế trận của Bạch Vệ bắt đầu lộ rõ. Trong khi lực lượng của họ tăng quân số lên hơn gấp đôi kể từ mùa xuân, họ vẫn còn thiếu quân để giữ vững đà tiến công về hướng Moscow. 150,000 binh của Denikin bị dàn trải quá mỏng dọc theo vài ngàn dặm ở Mặt trận phía Nam, khiến họ dễ bị tổn thương trước một cuộc phản công. Ở hậu quân Bạch Vệ đã để lại số quân không đủ để bảo vệ những cứ điểm chống lại băng nhóm của Makhno, những người  dân tộc Ukraine và Chechen ở vùng Caucassus, và ở đỉnh cao của cuộc tiến công vào Moscow họ buộc phải rút binh lính đang cần về bớt để thanh toán chúng. Họ cũng gặp cản trở vì thiếu viện binh.  Quân Cô-dắc Kuban, mà Wrangel trông cậy sẽ đến  tiếp viện chiến dịch của mình tấn công Saratov trên vùng Volga, từ chối rời bỏ quê nhà. Đây là vấn đề cũ mèm của chủ nghĩa địa phương người Cô-dắc: không bảo đảm quyền tự trị cho vùng Kuban  – nguyên tắc mà Bạch Vệ không sẵn sàng chấp thuận – dại gì họ dự phần hao tốn xương máu trên đất Nga. Nhưng vấn đề thực sự của phe Trắng – và nguyên do lớn nhất tại sao cuộc tiến công của họ đã hết hơi – là họ không có khả năng động viên đủ quân số trong những vùng mới chiếm đóng của ở Ukraine và Nga. Và chính tại nơi đây Bạch Vệ bị đánh bại bởi những biện pháp chính trị của mình.

Trong vùng Ukraine Bạch Vệ bị tê liệt ngay từ đầu là vì chủ nghĩa Sô Vanh Đại Nga của họ. Điều này khiến những nông dân khá giả hơn, phần lớn giớii trí thức và tiểu tư sản nông thôn, tất cả những ai có cảm tình với lý tưởng dân tộc Ukraine, đều quay ra chống đối họ. Trong số những kẻ tranh giành quyền lực ở Ukraine – phe Xanh Lá, phe Đen, phe Đỏ và phe Trắng – Denikin là người duy nhất không nhượng bộ những người dân tộc chủ nghĩa. Đây không phải là việc tính toán sai lầm: nhu cầu bảo vệ Đế chế Đại Nga là niềm tin cơ bản của chế độ Bạch Vệ. Cho dù  nếu không đưa ra những nhượng bộ đó họ không thể thành công, phe Trắng cũng nhất định từ chối nhượng bộ. Dragomirov, Lukomsky và Shulgin, ba người Nga gốc Kiev (thủ phủ của Ukraine) cầm đầu phong trào Bạch Vệ miền nam, còn Nga họ những người Nga ở nước Nga. Denikin thỏa mãn những yêu sách dân tộc của họ. Ông bổ nhiệm những người Nga vào tất cả vị trí chính thức; dẹp bỏ những hợp tác xã nông nghiệp, căn cứ địa của phong trào dân tộc; và ngăn cấm sử dụng ngôn ngữ Ukraine trong tất cả định chế nhà nước kế cả trường học. Ông thậm chí từ chối sự tồn tại của một Ukraine – mà ông gọi là ‘nước Nga Nhỏ’ trong tất cả những tuyên bố của mình. Trong ‘Tuyên cáo đến Nhân dân Nga Nhỏ’ vụng về của mình, ông hứa sẽ thống nhất lại nước Nga với ‘nhánh Nga Nhỏ’, chỉ khiến đẩy nông dân Ukraine về phe quân  đội dân tộc của Petliura, đang quấy nhiễu hậu phương Bạch Vệ. Trong những trận đánh quyết định vào mùa thu phe Trắng buộc phải rút 10,000 quân từ Mặt trận chống phe Đỏ để đánh dẹp các băng nhóm Petliura và dân tộc khác.

Sự yếu kém nguy khốn hơn là việc Bạch Vệ không thể dựng lên một hệ thống quản trị hiệu quả các lãnh thổ vừa được chinh phục. Điều đó có nghĩa họ thiếu những biện pháp động viên giới nông dân và tài nguyên của nó mà không phải dùng đến bạo lực. Điều này trở nên cấp bách khi họ tiến sâu vào nước Nga Xô-Viết và bị cắt đứt khỏi nguồn tiếp tế ở căn cứ. Tại đỉnh cao của trận tiến công rất khó để kiếm đủ lương thực và quân nhu cho binh lính. Makhno đã chiếm những cơ sở tiếp tế nồng cốt ở hậu quân — Mariupol, Melitopol  và Berdiansk — và cùng với những người dân tộc của Petliura, đang chận đánh những chuyến tàu quân sự từ phía nam. Rồi còn có những vấn đề công nhân đường sắt, nói chung chống đối Bạch Vệ và chỉ có thể tuân lệnh họ tại đầu mũi súng. Bên trong những căn cứ kỹ nghệ của Bạch Vệ cũng có những mối căng thẳng với công nhân, khi Denikin dẹp bỏ quyền lợi các nghiệp đoàn và trả nhà máy về cho chủ cũ. Sản lượng than trong vùng Donbass sút giảm ghê gớm khiến nhiều ngành kỹ nghệ và vận tải ngưng trệ. Bạch Vệ phản ứng bằng làn sóng khủng bố, bắn chết công nhân ‘Bôn-se-vich’ để đáp trả với việc giảm sản lượng than. Ở Yuzovka một trong số mười công nhân bị xử bắn hàng ngày bất cứ khi nào mỏ than và hãng xưởng không đạt được chỉ tiêu than và sắt đề ra. Một số công nhân đơn giản bị bắn chỉ vì khẩu hiệu ‘Tay Chai Chết Đi!’. Đây là hình thức trả thù Khủng Bố Đỏ mang tính giai cấp với khẩu hiệu của nó là ‘Tư Sản Chết Đi!’. Nhưng cho dù có đàn áp cỡ nào cũng không thể đảo ngược tình hình sụt giảm sản lượng. Nền kinh tế Bạch Vệ bị lâm vào cảnh hỗn loạn khi hãng xưởng đóng cửa, lạm phát lên cao xoắn ốc và công nhân tiếp tục đình công. Hàng tiếp tế xung yếu cho quân đội hoặc không được sản xuất hoặc không thể vận chuyển ra Mặt trận.

Trong khi đó, vào tháng 8, các chuyến tàu viện trợ Đồng minh giảm hẳn khi các cường quốc Tây phương, chỉnh đốn lại sau sự rút lui của Kolchak, trở nên ngờ vực trước thắng lợi của phe Trắng. Phần lớn hàng tiếp tế đã bị mất mát do tham nhũng: vũ khí, quân phục, vải vóc, chăn, và ngay cả đồ trang bị cho bệnh viện, cũng luồn lách ra chợ đen. Trong trận đánh ở Kharkov vài binh sĩ từ lữ đoàn xe tăng của Denikin bị bắt khi đang đổi máy sưởi chống sương giá lấy rượu vodka cho Khách sạn Metropole. Từ lúc đó, Đồng minh quyết định hàng viện trợ quân sự nên được trao dưới hình thức hàng hóa ‘không thể bán được’ (mặc dù ở Nga cái gì cũng bán được) và phải được Denikin trả bằng tiền mặt hoặc hàng hóa xuất khẩu. Đây là cú nốc ao đối với chiến dịch của Bạch Vệ. Binh sĩ tiền tuyến không có đồ tiếp tế, nhất là trang bị sưởi ấm cho mùa đông sắp đến. Không có một hệ thống quản trị địa phương hiệu quả để xúc tiến việc này, binh lính chẳng mấy chốc tản ra hỗn loạn và đi cướp bóc. Như chính Denikin nhìn nhận, hơn bất cứ lý do nào khác đây chính là điều khiến nhân dân xa lánh và dẫn đến thảm bại của Bạch Vệ.

Hành động cướp bóc tàn tệ nhất do bọn Cô-dắc hoành hành. Họ khinh miệt nông dân Nga và cho mình có quyền cướp bóc họ tùy thích, chẳng khác quân ngoại bang xâm lược. Chỉ huy của họ tự làm luật và, nói chung, cho phép cướp bóc như một phương tiện để tranh thủ lòng trung thành của người Cô-dắc. Cũng chính sự phối hợp đó đã sản sinh ra những vụ bức hại tàn bạo đối với người Do Thái. Mamontov và Shkuro chỉ là những minh họa tai tiếng nhất, khích động binh sĩ bằng của cướp được. Nhưng cũng có hàng chục những chi huy trẻ tự biến thành ‘người hùng Cô-dắc’ theo cách này. Denikin không tán thành những kẻ phiêu lưu này nhưng ông thiếu cứng rắn để trừng phạt họ – một điều mà sau này ông vô cùng hối tiếc. Một số đơn vị Cô-dắc nặng oằn của cướp đến nỗi không chiến đấu được. Kỵ binh của họ kéo theo một hàng dài các toa hàng cướp được – có khi dài đến 30 dặm. Các chuyến tàu ngất ngưởng hàng hóa cướp bóc bị ép phải quay đầu chở về hậu cứ thay vì dùng để vận chuyển đồ tiếp tế ra Mặt trận. Quân Cô-dắc của Mamontov, gia nhập trở lại phe Trắng sau cuộc đột kích tháng 8 của họ vào Tambov, quá lo lắng việc vận chuyển của cướp về vùng Don đến nỗi tất cả chỉ trừ 1,500 người trong số 8,000 quân đều đào ngũ. Wrangel tuyên bố rằng đến thu phe Trắng chỉ còn 3,000 đến 4,000 chiến binh còn quyết tâm trụ lại Mặt trận: ‘phần còn lại là một cái đuôi khổng lồ các tên cướp bóc và bọn đầu cơ. . . Đối với chúng chiến tranh chỉ là cơ hội để làm giàu.’ Với một quân đội như thế, ông kết luận, ‘không thể nào đánh thắng ở nước Nga. Nhân dân đã hóa ra thù ghét chúng tôi.’

* * *

Với việc Denikin chiếm được Orel, công xưởng vũ khí xung yếu Tula, cách đó 100 dặm, bị đe dọa cận kề. Để mất nó, Trotsky tuyên bố, ‘sẽ nguy khốn hơn mất Moscow’. Không có Moscow phe Đỏ chỉ thiếu một thủ đô thanh thế; nhưng không giữ được Tula họ sẽ đánh mất một quân đội. Toàn bộ số phận của chế độ Xô-Viết bám vào việc phòng thủ Tula – và ở trung tâm công cuộc phòng thủ đó là Dmitry Oskin. Là Quân ủy Tula, Oskin đứng đầu hai bộ phận chủ chốt – Hội đồng Quân sự và Ủy ban Cách mạng (Revlon) – cùng cai trị cái gọi là Vùng Củng Cố Tula’ bằng thiết quân luật.

Oskin tin tưởng cần phải thiết quân luật. Anh đã từ lâu bỏ lại phía sau tính phóng khoáng của SR cánh Tả và nhìn nhận nhu cầu kỷ luật thép trong nội chiến. Sự cần thiết càng được nhấn mạnh do sự kiện các công nhân Tula đang đe doạ đình công để phản kháng sự thiếu hụt lương thực. Trong mùa xuân đã xảy ra một trận tổng đình công. Oskin và các đồng chí anh bị công nhân đói khát lên án trong mọi cuộc mít tinh hãng xưởng: ‘Đả đảo các Quân Ủy!’ trở thành khẩu hiệu của cuộc đình công. Để đàn áp đình công người Bôn-se-vich đã phát động nội chiến chống công nhân. Dzerzhinsky đã được Lênin cử xuống tận nơi vào ngày ¾. Các phân đội Cộng sản Đặc Nhiệm đã chiếm đóng hãng xưởng và hơn 1,000 công nhân đã bị bắt. Kể từ đó mối quan hệ với công nhân ít có vấn đề hơn – Oskin đã bảo đảm là việc tiếp tế luơng thực sẽ tốt hơn – nhưng rồi dự trữ lương thực lại cạn kiệt và những vụ đình công mới lại đe doạ. Vì nhu cầu sống còn của việc sản xuất quân nhu ổn định, nên theo Oskin không có lựa chọn nào khác ngoài việc ‘quân sự hoá xí nghiệp và đàn áp công nhân nếu họ tiếp tục đình công’. Không người Bôn-se-vich nào có ảo tưởng là có thể dàn xếp một  thỏa thuận với công nhân: không có đủ thời gian. Và, trong bất kỳ trường hợp nào, như Lênin đã nhìn nhận với Bô Chính trị vào 15/10, ‘quần chúng ở Tula còn lâu mới theo về với chúng ta’. Thật ra, nếu có theo ai, thì họ theo người Men-se-vich, vốn đã dẫn đầu cuộc tổng đình công vào mùa xuân trước và , trước đó, đã nắm đa số trong các Xô-Viết thành phố. Một số người Men-se-vich giờ đây chịu vận động cho phe Đỏ ở Tula để đẩy lùi Denikin. Đây là một biện pháp của người Bôn-se-vich trong tình thế tuyệt vọng, chịu muối mặt trông cậy vào sự hỗ trợ của đối thủ truyền thống của mình. Oskin và đồng chí mình rất ngần ngại nhưng Lênin can thiệp mở rộng cửa các hãng xưởng cho người Men-se-vich. Dan bảo các công nhân Tula là thắng lợi của phe Trắng có nghĩa là sự thảm bại của cách mạng; nhưng các công nhân đang chết đói dường như chẳng buồn nghe. Người Men-se-vich buộc phải kết luận rằng các công nhân ‘vô cùng thù địch với  những người Cộng sản và không lời kêu gọi bảo vệ cách mạng nào có thể làm họ khuây khỏa’.

Nhu cầu có được kết quả cấp bách cũng nằm sau những biện pháp đặc biệt của Oskin nhằm phòng thủ Tula về mặt quân sự. Hàng ngàn nông dân và công dân ‘tư sản’ bị cưỡng chế vào những đội lao dịch. Họ quần quật ngày đêm đốn gỗ đốt lò trong hãng xưởng và đào chiến hào quanh thành phố. Hàng trăm thân nhân của họ bị giữ làm con tin – bị bắn nếu họ lao động không ra hồn. Oskin không bứt rứt khi sử dụng những biện pháp như thế, chúng ‘cần thiết để bảo vệ cách mạng’. Hàng ngàn quân tiếp viện được điều đến Tula, kể cả Sư đoàn Tay Súng Latvia lừng lẫy. Oskin tiến hành gọi nghĩa vụ 20,000 người địa phương để bổ sung. ‘Toàn bộ Tula’, theo lời anh, ‘đã biến thành một doanh trại khổng lồ.’ Binh sĩ được ém trong mỗi tòa nhà bỏ trống. Quảng trường và công viên thị trấn được đơn vị xe tăng và bộ binh trưng dụng để thao luyện. Các ổ súng máy được án ngữ trên các tòa nhà cao nhất dọc theo đường chính và chướng ngại vật có đặt mìn được dựng lên ở lối vào thị trấn. Khắp các huyện phía nam của tỉnh đều là các trạm canh, kết nối điện đàm với Tula, để cảnh báo đà tiến quân của Denikin.

Những thái ấp bỏ rơi của quí tộc biến thành doanh trại. Một trung đoàn đóng quân trên điền trang trước đây của Tolstoy ở Yasnaya Polyana; trong khi một trung đoàn khác đóng trại gần đó trên đất của Hoàng thân Lvov tại Popovka.

Ngay lúc nguy cấp này, với cục diện trận đánh đang cân bằng, thì hàng trăm ngàn nông dân bỏ ngũ quay về với Hồng Quân. Việc trở lại này là một nhân tố quyết định, làm lệch cán cân nghiêng về phe Đỏ, và nó nói lên nhiều điều tại sao người Bôn-se-vich thắng cuộc nội chiến. Các luận bàn của cánh Hữu về nội chiến có khuynh hướng trình bày thắng lợi của phe Đỏ đạt được mà không cần sự hậu thuẫn của quần chúng. Người Bôn-se-vich, họ lập luận, đơn giản là có một căn cứ lãnh thổ rộng lớn hơn để khai thác. Họ có tính hệ thống hơn Bạch Vệ trong việc sử dụng khủng bố và cưỡng chế để rút ra tài nguyên quân sự cần thiết từ dân chúng vốn về cơ bản đều thù nghịch cả hai bên và thờ ơ với kết quả của cuộc chiến. Nói như thế là đúng hai phần ba. Nhưng sự kiện là người Bôn-se-vich ít nhất có thể tuyên bố mình đại diện cho ‘cách mạng’ – và họ đã đoạt lấy biểu tượng quan trọng nhất là Hồng Kỳ – nhờ đó họ có thể động viên đến một mức độ nào đó sự hậu thuẫn, cho dù một sự hậu thuẫn có điều kiện và một lựa chọn ít tệ hơn trong hai, từ giới nông dân, và thật ra như chúng ta sẽ thấy từ một số công nhân cũng vậy, vốn sợ rằng thắng lợi của phe Trắng sẽ làm đảo lộn những lợi lộc họ có được từ cách mạng.

Điều này được chứng minh rõ ràng trong câu chuyện các đào binh  nông dân trở lại đội ngũ Hồng Quân. Cho đến tháng 6, chiến dịch chống bỏ ngũ của phe Đỏ đã trông cậy vào những biện pháp trấn áp dữ dội chống dân làng mà họ nghĩ là bao che đào binh. Hành động này phản tác dụng, gây ra một làn sóng nông dân nổi dậy phía sau Mặt trận Đỏ. Nhưng trong tháng 6 người Bôn-se-vich chuyển sang chiến thuật có tính thỏa hiệp hơn là đặt ra cái gọi là ‘các tuần lễ ân xá’. Trong những tuần này, được tuyên truyền rất mạnh và thường được kéo dài vô hạn định, các đào binh được mời mọc trở về hàng ngũ mà không bị trừng phạt. Theo một nghĩa nào đó, người Bôn-se-vich tin vào sự cần thiết phải cải tạo bản chất người nông dân và làm họ ý thức được nghĩa vụ cách mạng của mình – do đó phe Đỏ chỉ trừng trị những đào binh ‘có dã tâm’ nhưng cố cải tạo những người ‘yếu đuối’ – ngược với cách xử trí của phe Trắng đều hành hình tất cả đào binh như nhau. Giữa tháng 7 và 9, khi thắng lợi của Bạch Vệ đang đến gần, gần một phần tư triệu đào binh quay về Hồng Quân chỉ tính riêng hai quân khu Orel và Moscow. Nhiều người trong số họ khai mình là ‘tình nguyện’ và nói giờ mình sẵn sàng chiến đấu chống Bạch Vệ, trong mắt họ là lực lượng phục hồi giới quí tộc. Đây vốn là những vùng mà giới nông dân địa phương được hưởng thêm ruộng đất vào năm 1917. Tuy nông dân có thể không ưa gì chế độ Bôn-se-vich, với hành động trưng thu khốc liệt và bọn ủy viên phách lối, họ vẫn tiếp tục bảo vệ nó chừng nào – và chỉ chừng nào – nó còn đứng giữa Bạch Vệ và cuộc cách mạng ruộng đất của riêng mình.

Vào tháng 10, phe Đỏ có gần 200,000 quân sẵn sàng quần thảo trên Mặt trận phía Nam. Như vậy quân số họ gấp đôi Bạch Vệ. Để chuẩn bị cho cuộc phản công phe Trắng, Alexander Egorov được giao quyền tư lệnh Mặt trận phía Nam vào ngày 11/10. Con đường binh nghiệp của ông rất giống của Oskin, điển hình của phần tử ưu tú Hồng Quân mới. Ông đã đi lên đến cấp đại tá trong Thế Chiến I, đã gia nhập SR cánh Tả vào năm 1917 và đã chuyển sang Bôn-se-vich vào mùa hè 1918. Egorov là kiến trúc sư chính của thắng lợi Hồng Quân ở phía nam – mặc dù thực sự có rất ít việc lên kế hoạch, vì chiến lược được thay đổi vào phút cuối và phần lớn tùy cơ ứng biến. * Oskin chỉ thấy sự cuống cuồng và lộn xộn tại bộ tư lệnh Mặt trận phía Nam. Không ai biết chắc chắn ‘quân chúng ta đang ở đâu’.

* Chiến lược ban đầu của Hồng Quân, được đề ra vào tháng 7, là tấn công từ Volga đến Don; nhưng chiến lược này thay đổi vào ngày 15/10, ngày mà Orel thất thủ, khi Bộ Chính trị quyết định tập trung mọi lực lượng Đỏ quanh Tula. Kamenev, Tổng Tư lệnh, thậm chí không được hỏi ý kiến về sự thay đổi này.

 

Mặc dù sự rối loạn này, vốn đặc trưng cho toàn bộ cuộc nội chiến, những trận đánh qui mô lớn này vào tháng 10 rất khác với hình thức đánh nhau ở giai đoạn đầu nội chiến. Những trận đánh hồi 1918 thực tình không hơn những trận đột kích lẻ tẻ và đấu pháo. Những lực lượng nhỏ và tạp nhạp chủ yếu lo bảo tồn lực lượng, không có vị trí hoặc Mặt trận cố định, và các thị trấn và lãnh thổ thường lần lượt sang tay. Nó giống chiến tranh kiểu thế kỷ 19 nhỏ lẻ. Nhưng các trận đánh tháng 10 qui mô hơn, giống trận đánh trong Thế Chiến I. Hàng trăm ngàn binh lính tham chiến, hàng triệu viên đạn bắn ra mỗi ngày, có xe tăng, phi cơ, và xe bọc sắt, và trận đánh kéo dài suốt đêm. Với cấu trúc chỉ huy tốt hơn ở cả hai bên, và các sĩ quan được nghiêm lệnh không được rút lui, hàng ngàn sinh mạng của binh sĩ bị phung phí vì những mảnh đất vô nghĩa. Không bên nào nhận tù binh.

Cuộc phản công của phe Đỏ trên Mặt trận phía Nam có hai yếu tố chiến lược chủ chốt. Thứ nhất là mũi đột kích bất ngờ của Nhóm Giáng Trả thuộc Tay Súng Latvia, khoảng 12,000 quân tinh nhuệ đóng ở phía tây Orel, trên sườn trái của Quân đoàn Tình nguyện khi nó thọc về hướng bắc đến Tula. Sau một trận đánh ác liệt và đẫm máu, trong đó gần nửa quân số Latvia bị tàn sát, phe Trắng bị đẩy lùi quá Orel. Tại điểm này yếu tố chủ chốt thứ hai của cuộc phản công được tung ra. Vào ngày 19/10 Hồng Kỵ binh bất ngờ đột kích quân Cô-dắc trên sườn trái của Bạch Vệ, cuối cùng đuổi họ về lại hướng Voronezh. Quân Cô-dắc ắt hẳn sửng sốt trước kỵ sĩ Đỏ, vì họ trước đây gần như chưa dàn quân bao giờ. Trotsky đã luôn đánh giá thấp những lợi điểm của kỵ binh trong một cuộc chiến di động như nội chiến. Chỉ có Trận Đột kích Mamontov mới dạy cho ông khẩu hiệu ‘Hỡi Vô Sản, hãy lên Ngựa!’

Để xây dựng kỵ binh của mình  phe Đỏ vào năm 1918 đã nhờ đến Semen Budenny. Người sĩ quan kỵ binh cao ráo và bệ vệ này, với bộ râu ghi đông, là con trai một nông dân không phải tộc Cô-dắc từ vùng Don. Ông đã từng được gọi lính thời sa hoàng năm 1903, và sau cuộc chiến với Nhật, khi tài cưỡi ngựa của ông được để ý đến, được ghi danh vào Trường Kỵ binh Hoàng gia ở St Petersburg. Năm 1914, Budenny đã thăng thượng sĩ và tuyển vào Imperial Dragon dành cho kỵ binh ưu tú. Ông là một trong nhiều NCO (hạ sĩ quan) gia nhập Bôn-se-vich vào năm 1917; và như nhiều người trong số họ sớm kết với Stalin và nhóm Chống đối Quân sự. Năm 1918 Voroshilov cử ông đứng đầu một lực lượng kỵ binh nhỏ chiến đấu với bọn Cô-dắc của Krasnov gần Tsaritsyn. Lữ đoàn Kỵ binh Đỏ Số 1 phần lớn gồm những nông dân nghèo Cô-dắc hoặc không phải Cô-dắc từ vùng bắc Don. Từ những phần tử này nó được củng cố để phản công Denikin. Đây chính là hạt nhân của Quân đoàn Kỵ binh (Konarmiia) lừng danh của Budenny, đã trở thành bất tử qua những câu chuyện của Banel, kế về những cuộc phiêu lưu của nó trong cuộc chiến chống Ba Lan vào năm 1920. Nhiều tư lệnh được vinh danh nhiều nhất của Stalin, nếu không nói là tài năng nhất, đều xuất thân từ ‘Konarmiia’. Ngoài Thống chế Budenny, được an táng tại Quảng trường Đỏ vào năm 1970, còn có Thống chế Timoshenko (người dẫn Hồng Quân vào Thế Chiến II) và Nguyên Soái Zhukov ( người dẫn nó đến thắng lợi vào năm 1945).

Bị truy đuổi bởi Kỵ binh Đỏ, Quân Cô-dắc thoát về nam đến Don, bỏ Voronezh cho người Bôn-se-vich vào ngày 24/10. Từ thành phố chiến lược này, kỵ binh của Budenny tiến tới Kastornoe, một ga đầu mối đường sắt quan yếu giữa Moscow và Don. Cuối cùng họ chiếm được nó vào ngày 15/11 sau vài ngày giao tranh khốc liệt với quân Cô-dắc của Shkuro. Thắng lợi này khép lại số phận của cuộc tiến công Denikin. Phe Trắng giờ này bị đe đọa trước viễn cảnh bị quân Đỏ bao vây hoàn toàn và họ buộc phải tháo chạy về nam. Không bao giờ họ dám xông vào trung tâm nước Nga lần nữa.

 

* * *

Tháng 10 là một tai họa đúp mà phe Trắng mất trắng. Tại đỉnh cao cuộc chiến ở Orel một chủ lực Bạch Vệ thứ hai, Quân Tây-Bắc, tiến quân đến ngoại vi Petrograd.

Với những hạn chế của nó, thật bất ngờ khi Quân đoàn Tây-Bắc tiến được xa như vậy. Nó được thành lập ở Pskov với sự trợ giúp của quân đội Đức trong năm 1918. Sau khi người Đức bị đánh bại, vì Hồng Quân đã tiến về phía tây, nó phải rút lui vào Estonia, lúc đó là một nhà nước mới độc lập quẫn bách vì nội chiến của mình. Ở đó nó có thể củng cố lực lượng phía sau rào cản thiên nhiên là Hồ Peipus. Vào tháng 5 1919, nó trở lại Nga và mở cuộc tấn công vào Petrograd, quân đoàn đông đến 16,000 người, hầu hết là tù binh Nga được Đức giao lại cho phe Đỏ nhưng bỏ trốn.

Quân đoàn do Tướng Yudenich, người hùng một thời trong Thế Chiến I mà Kolchak đã nhận là chỉ huy của mình ở vùng Baltic. 57 tuổi và cân nặng 18 stone (mỗi stone nặng 6.4 kí), Nikolai Yudenich vừa già vừa béo để làm một lãnh đạo thu hút. Với đôi má xệ, cái đầu hói và bộ râu xoắn, ông trông không khác một nhà quí tộc Nga luộm thuộm mà ông vốn là. Yudenich không bao giờ thực sự nuốt trôi được sự sụp đổ của Đế chế Sa Hoàng – và đây là nguyên do khiến ông sụp đổ.

Như tất cả các vị tướng Bạch Vệ, bản năng của Yudenich là chôn vùi chính trị dưới những quan tâm về chiến dịch quân sự. ‘Chống người Bôn-se-vich không cần Chính trị’ là khẩu hiệu của ông. Chính quyền Tây-Bắc là một món hàng bày ở tủ kính mang lớp dân chủ để làm đẹp lòng Đồng minh. Nó không có thực lòng muốn trị vì nước Nga. Yudenich khước từ sự cần thiết phải có cương lĩnh cải cách, và không trông cậy vào sự nổi dậy của quần chúng để lót đường cho quân ông đến Petrograd: đây phải là một cuộc chinh phục quân sự chứ không phải việc  tranh thủ nhân tâm. Thật ra điều ngược lại đã xảy ra. Ngay khi quân ông vào đất Nga, nó gặp sự chống đối của dân chúng và những lính đăng ký người Nga bắt đầu đào ngũ. Việc thiếu sự hậu thuẫn trong nước Nga khiến ông buộc phải kêu gọi binh sĩ nước ngoài. Nhưng Đồng minh tỏ ra lạnh nhạt với sứ mạng của ông – họ đang tính rút lui khỏi cuộc nội chiến – nên chỉ gởi cho ông rất ít đồ tiếp tế. Đúng là tàu chiến Anh có phong tỏa Petrograd và thậm chí tấn công Kronstadt; nhưng không có bộ binh nào được gởi đến Yudenich. Thậm chí nếu họ muốn hỗ trợ Bạch Vệ trong cuộc tiến công Petrograd, mối quan hệ của Yudenich với người Đức cũng đủ ngăn cản Đồng minh ủng hộ ông.

Không có sự ủng hộ của Đồng minh thành công của Yudenich giờ chỉ còn dựa vào thiện chí  của Phần Lan hoạt động như một bàn nhún và căn cứ tiếp tế cho quân đội ông. Biên giới Phần Lan chỉ cách Petrograd 20 dặm – gần 10 lần ngắn hơn đường vào Nga qua  Pskov. Vậy mà thậm chí ở đây – với giải thưởng là Petrograd trong tầm tay – các vị tướng quân vẫn để cái hợm hĩnh của uy thế Đế chế Nga ngăn trở mình thỏa thuận với người Phần Lan.

Lữ đoàn Phòng Vệ Phần Lan dưới quyền Tướng Mannerheim đã lớn mạnh thành một quân đội quốc gia chủ lực từ khi nó đánh bại Hồng Quân ở Helsingfors trong mùa xuân 1918. Chính quân Phần Lan chứ không phải là Bạch Vệ ở Petrograd làm cho người Bôn-se-vich khiếp sợ. Vào tháng 6 1919, người ta ước tính có tới 100,000 quân Phần Lan ở quanh Hồ Pagoda. Một phần tư lực lượng đang đối diện Petrograd. Cái giá để được người Phần Lan hậu thuẫn rất hời: Yudenich phải bảo đảm nền độc lập của họ. Đây chỉ là hình thức: thực tế mà nói, Phần Lan đã là một nhà nước độc lập và được hầu hết các cường quốc Tây phương công nhân. Vậy mà Bạch Vệ vẫn thấy cái giá này còn quá cao để trả. Tính hoài niệm khờ khạo về Đế chế Nga, mà họ quyết tâm phục hồi, đã ngăn họ thỏa thuận với những người dân tộc chủ nghĩa. ‘Lịch sử sẽ không tha thứ tôi nếu tôi để mất những gì Peter Đại Đế đã chinh phục,’ Kolchak đã từng tuyên bố những lời hoa mỹ điển hình khi bị thúc giục nhượng bộ những điều kiện của Phần Lan. Hoàng thân Lvov và Hội nghị Chính trị ở Paris cực lực chống đối ý tưởng công nhận Phần Lan cho đến khi vị thế của nó được rốt ráo giải quyết bởi Quốc hội Lập hiến ở Nga. Đây cũng là điển hình của sự cố chấp vào bộ khung luật pháp của quá khứ – sự cố chấp ngăn cản họ đương đầu với thực tế chính trị hiện tại. Mannerheim rất sẵn lòng vì chính nghĩa chống Bôn-se-vich. Nhưng thậm chí ông cũng không thể thuyết phục người Phần Lan chán ngấy chiến tranh hậu thuẫn cho Bạch Vệ mà không cần bảo đảm sự công nhận. Phe Đỏ, trái lại, đã công nhận độc lập của Phần Lan 18 tháng trước. Giờ họ đang đưa ra một thỏa ước hòa bình với người Phần Lan nếu họ giữ trung lập trong nội chiến, trong khi đe doạ sẽ ‘hủy diệt không thương tiếc nếu họ tiếp tay với phe Trắng’. Đồng minh thúc giục Yudenich công nhận Phần Lan, biết rằng nếu không được Phần Lan hậu thuẫn, cuộc tấn còn của ông ta sẽ thảm bại. Nhưng vị tướng Bạch Vệ vẫn không lay chuyển. Điều này khiến Mannerheim, vốn đang đối mặt với cuộc bầu cử vào tháng 7, không còn lựa chọn nào khác ngoài phủi tay khỏi phe Trắng. Ông từ chối đưa quân cho Yudenich hoặc cho phép quân ông hành quân trên đất Phần Lan. Điều này gây khó cho phe Trắng, buộc họ phải tiến đánh Petrograd bằng con đường dài hơn và thù địch hơn qua ngõ Hamburg và Gatchina.

Yudenich từng ra một nỗ lực tuyệt vọng cuối cùng là tranh thủ sự hậu thuẫn của người Estonia. Nhưng họ chỉ là một quốc gia nhỏ, non trẻ và yếu ớt, và họ không muốn giúp phe Trắng nhiều quân, nhất là bù lại Bạch Vệ còn chưa công nhận sự độc lập của Estonia. Phe Đỏ nhanh chóng khai thác tình thế – như trong trường hợp Phần Lan – trao cho Estonia thỏa ước hòa bình nếu họ giữ trung lập trong nội chiến. Khuynh hướng tự nhiên của người Estonia là tránh dính líu vào nội chiến do đó trùng hợp với lợi ích tốt đẹp nhất của họ là một nhà nước độc lập buộc phải sống sát bên với người Xô-Viết.

Chỉ còn trơ trọi một mình, Yudenich ra lệnh xông đến Petrograd vào ngày 10/10. Ông lợi dụng phe Đỏ bị kẹt phải bận giao chiến trên Mặt trận phía Nam. Thoạt đầu, canh bạc đền đáp. Đúng là người Bôn-se-vich đã chuyển nhiều đơn vị về nam. 25,000 quân của Hồng Quân Số 7, ở lại để phòng thủ Petrograd, hoàn toàn mất tinh thần và bắt đầu đào ngũ. Được sự hỗ trợ của Đại tá Liundkvist,  Tham mưu trưởng của Quân đoàn 7, đào ngũ sang Bạch Vệ, cung cấp họ những thông tin về vị trí của Hồng Quân, 18,000 quân của Yudenich tiến công nhanh chóng. Vào ngày 20 họ đã đến vùng đồi Pulkovo nhìn qua ngoại ô Petrograd. ‘Kia là mái vòm thánh đường St Isaac và trôn ốc dát bạc của Dinh Đô đốc,’ một sĩ quan nhớ lại, ‘người ta thậm chí có thể nhìn thấy tàu hỏa chạy ra khỏi Ga Nikolai.’ Quá tin tưởng là họ sẽ thắng lợi ngày hôm đó đến nỗi một vị tướng từ chối nâng ly khi quan sát thành phố vì, như ông nói, họ thế nào cũng xuống phố Nevsky Prospekt ngày hôm sau để uống rượu mừng.

Tin tức cuộc tiến công của phe Trắng gây hoảng loạn trong quân đội Đỏ. Lênin muốn bỏ rơi Petrograd và tập trung vào Mặt trận phía Nam. Nhưng Trotsky quyết liệt bảo vệ nơi khai sinh của cách mạng với bất cứ giá nào, cho dù phải đánh nhau trên đường phố, và ông thuyết phục Lênin thay đổi ý kiến. Ngày 16/10 Trotsky được cử xuống kinh đô cũ để lãnh nhiệm vụ phòng thủ. Zinoviev, ông trùm đảng ở Petrograd, đã hoàn toàn mất hết nhuệ khí và không thể làm gì ngoài việc nằm dài trên sofa tại Smolny. Đây là một trong số ít cơ hội trong nội chiến khi sự hiện diện của Trotsky tại Mặt trận giúp quyết định cục diện của trận đánh.

Việc đầu tiên của Trotsky là vực dậy tinh thần binh sĩ – và đây là điều ông làm với tài năng hùng biện xuất chúng  trước ba quân. Ông cổ vũ binh sĩ không bỏ cuộc và chế giễu xe tăng Anh của kẻ thù mà quân Đỏ ngán sợ, mô tả chúng không có gì khác hơn là những cái hôp ‘làm bằng gỗ được sơn phết’. Ông thậm chí ra lệnh nhà máy Putilov chế ra một ít xe có hình thù giống xe tăng để trấn an binh sĩ họ cũng có những cỗ máy này bên phía mình. Công việc tiếp theo của ông là biến Petrograd thành pháo đài và chuẩn bị nhân dân chiến đấu trên đường phố. Thiết quân luật được ban bố trong thành phố và áp đặt giới nghiêm ban đêm. Hàng ngàn công nhân và dân tư sản được đóng viên để xây chướng ngại vật trên đường phố và quảng trường. Lênin hối thúc Trotsky gầy dựng 30,000 người, ‘chĩa súng máy vào lưng họ và bắn vài trăm người để xua họ ào ạt vào quân địch.’ Hệ thống cống rãnh của thành phố bị kéo lên để sử dụng xây chướng ngại vật. Chiến hào được đào ở ngoài ô phía nam và ổ súng máy được bố trí trên tất cả tòa nhà dọc theo đường chính tiến vào trung tâm. Xe quân sự và xe mô tô lượn quanh Petrograd ngày đêm; người Bôn-se-vich trong áo chẽn da rảo quanh dãy phố, súng khoác lên vai; và tất cả trụ sở chính đều có các đội công nhân tình nguyện bảo vệ.

Mặc dù Petrograd, giống như bao thành phố khác, đều rối rắm trước những vụ đình công thường xuyên, nhưng khi có đe đọa bị Bạch Vệ đột kích, thì nhiều công nhân phấn khích lao vào việc phòng thủ chế độ Xô-Viết. Như một do thám của phe Trắng ở Petrograd cho biết:

Các phần tử công nhân, ít nhất một đại bộ phận của nó, vẫn còn nghiêng về Bôn-se-vich. Như một số phần tử dân chủ khác, họ xem chế độ, mặc dù còn tệ, như là của họ. Tuyên truyền về những hành vi tàn ác của Bạch Vệ có tác dụng mạnh mẽ với họ . . .

Về mặt tâm lý, họ đồng nhất chế độ hiện tại với sự bình đẳng và quyền lực Xô-Viết còn Bạch Vệ với chế độ cũ và thói khinh miệt quần chúng.

Hàng trăm công nhân tự vũ trang súng trường và trình diện để bảo vệ Smolny. Trong khi đó, trong sân bộ tư lệnh Xô-Viết, một chục mô tô chực sẵn để sẵn sàng vọt đi mang theo các lãnh đạo đảng nếu Petrograd thất thủ. Viktor Serge và bà vợ mang bầu bỏ phòng của họ ở Khách sạn Astoria để ngủ đêm trên xe cứu thương đậu ở ngoại ô. Với một túi hành lý nhỏ và hai thông hành giả, họ sẵn sàng chuồn bất cứ lúc nào.

Trong khi vội vã tiến vào Petrograd, Bạch Vệ quên cắt đứt tuyến đường sắt vào Moscow. Sai sót nghiêm trọng này cho phép phe Đỏ đưa quân tiếp viện vào đúng lúc để phản công vào ngày 21/10. Đây là dấu hiệu của sự tuyệt vọng khi ngay ở đỉnh cao trận đánh với Denikin phe Đỏ sẵn sàng chuyển lực lượng dự trữ từ Tula đến Petrograd. Lênin đưa ra quyết định quan trọng, trực tiếp điện cho Oskin. ‘Tôi hoàn toàn nín thở khi có tiếng trên máy điện thoại nói”Lênin đây”, ‘ Oskin sau đó viết. Anh hứa với Lênin dành nguyên một lữ đoàn dự trữ những người Cộng sản kỷ luật  cao để đóng một vai trò sinh tử trong trận phản công. Kamenev, Tổng Tư lệnh Đỏ, gọi chúng là ‘con Đầm Pích của chúng ta’ – lá bài tẩy cuối cùng cần có để thắng trận. Chống lại ,15,000 quân của Yudenich, phe Đỏ giờ có gần 100,000  – dù sử dụng phung phí cũng đủ để lật ngược thế trận. Sau ba ngày chiến đấu ác liệt và kiên cường để chiếm vùng đồi Pulkovo – phe Đỏ dũng cảm đẩy lùi xe tăng địch chỉ bằng súng trường – Bạch Vệ bị đẩy trở lại hướng Estonia. Không quân tiếp viện, họ rút lui cũng nhanh như khi tiến công. Vào giữa tháng 11 người Estonia cho phép lực lượng Yudenich đi vào xứ sở mình  sau khi đã tước vũ khí họ. Trotsky muốn truy đuổi Bạch Vệ vào tận Estonia (‘chuồng chó giữ nhà cho bọn phản cách mạng’). Nhưng việc này là không cần thiết. Yudenich từ chức và giải tán quân đội. Vào ngày cuối năm Estonia ký hiệp ước đình chiến với nước Nga Xô-Viết, tiếp theo là một hiệp ước hòa bình – hiệp ước đầu tiên của Moscow với các nhà nước giáp biên – vào ngày 2/2/1920.

Để vinh danh vai trò của Trotsky trong cuộc phòng thủ Petrograd, ông được thưởng Huân chương Hồng Kỳ, huân chương cao quý nhất. Trotsky được phong anh hùng. Gatchina, nơi nhiều trận giao tranh xảy ra, được đổi tên Trotsk. Đó l8qà thị trấn Xô-Viết đầu tiên được đặt tên của một người Cộng sản còn sống.

 

CUỘC SỐNG THƯỜNG NHẬT DƯỚI CHẾ ĐỘ BÔN-SE-VICH

1

Khủng hoảng năng lượng trong thành phố. Trên: Người Muscovite đó một ngôi nhà ở thị trấn để làm gỗ sưởi ấm. Dưới: một giáo sĩ được trưng dụng để giúp vận chuyển gỗ. Nhiều ngựa đã chết vì thiếu lương thực nên phải thay bằng sức người.

2

3

Bán để kiếm ăn. Trên: các phụ nữ thuộc ‘tầng lớp trước đây’ bán đi những món sở hữu cuối cùng trên đường phố Moscow. Dưới: một bình sĩ mua một đôi giày từ một nhóm tư sản đã thất thế vào thời buổi khó khăn.

4

5

6 Bán để kiếm ăn. Trên: một viên chức đảng cấp thấp đang mặc cả một khăn choàng lông thú với một con buôn tại chợ Smolensk, Moscow, 1920. Phụ nữ bên trái trông có vẻ một tư sản. Dưới: các con buôn ở chợ Smolensk, Moscow, 1920. Phụ nữ có túi đeo và ổ bánh mì chắc chắn là một gái điếm.

6

Bắt các tầng lớp thanh lịch lao động. Hai sĩ quan thời sa hoàng bị buộc phải vệ sinh đường phố dưới sự giám sát của một ủy viên và lính gác, chợ Apraksin ở Petrograd, 1918. Mục đích chính của hình thức lao dịch cưỡng chế này là làm nhục và hạ giá các tầng lớp đặc quyền của chế độ cũ.

7

 Cuộc chiến chống thị trường của người Bôn-se-vich. Binh sĩ Cheka đóng các xạp buôn bán trên Phố Okhotnyi Riad ở  Moscow, tháng 5 1919.

8

Trưng thu thóc gạo nông dân

9

 Dân buôn chuyến tới lui vùng quê trao đổi lương thực lấy hàng hóa sản xuất. Kết quả tình trạng hỗn loạn trên đường sắt.

10

Lao động ‘tình nguyện’ ngày 1 tháng 5 trên Quảng trường Đỏ ở Moscow, 1920.

11

Vào năm 1920 nhà nước nuôi ăn – hoặc đúng ra nuôi cầm hơi – 30 triệu người trong những nhà ăn tạm bợ như thế này tại Ga Kiev ở Moscow.

12

 Giai cấp cai trị mới: các phái đoàn của Đại hội Đảng Toàn Nga Lần 9, Moscow, 1920

13

 Một ví dụ điển hình về bộ máy hành chính mới: Phòng Tuyên Truyền và Vận Động của Ủy ban Cung Ứng và Phân Phối Miền Bắc. Chú ý chân dung của Marx, ủy viên ngồi ghế bọc da, và các con gái của tư sản phục vụ làm thư ký với số lượng lớn.

14

 Viện Smolny vào ngày kỷ niệm cú đảo chính tháng 10. Nhưng nó nhanh chóng trở thành không chỉ là một thành trì của cách mạng Mác-xit mà còn là sự biến chất của thành phần ưu tú trong đảng.

* * *

Khi lực lượng Denikin chuồn về nam họ mất tất cả nền nếp kỷ luật và bắt đầu tan vỡ trong hoảng loạn. Napoleon có lần đã nhận xét về cuộc lui binh của mình khỏi Moscow: ‘từ thiêng liêng đến khôi hài chỉ có một bước’. Nói như thế cũng đúng về cuộc rút lui của Denikin.

Không phải chỉ phe Đỏ mới gây ra cơn hoảng loạn cho Bạch Vệ. Phe nhóm của Makhno, lực lượng dân tộc của Petliura và những băng đảng khác nhau phục kích các đơn vị Bạch Vệ từ mọi phía khi họ rút về Biển Đen. Lực lượng Denikin băng qua lãnh thổ mà dân chúng ở đó, theo lời của Wrangel, ‘đã biết căm thù chúng tôi’. Rồi, vào  cuối tháng 11, nghe tin người Anh không hậu thuẫn cho Bạch Vệ nữa. Cộng với tin Kolchak thảm bại, điều này đã làm  tinh thần sụp đổ hoàn toàn. ‘Trong một vài ngày không khí ở Nam Nga đã thay đổi,’ một nhân chứng kể. ‘Những mục tiêu gì vững chắc trước đây giờ đã tan thành mây khói, bất kỳ điều tồi tệ nào cũng có thể xảy ra.’ Binh lính và sĩ quan đào ngũ hàng loạt. Quân Cô-dắc vỡ mộng với Bạch Vệ, không muốn tiếp tục chiến đấu.

Có sự vỡ mộng tương tự trong  dân chúng theo phe Trắng. Dân chúng không còn tin vào thắng lợi, và chỉ nghĩ cách chuồn ra nước ngoài. Cửa hàng và quán xá đóng cửa. Người ta điên cuồng đổi đồng rúp Don do Denikin phát hành để lấy ngoại tệ. Cảnh tượng hoảng loạn lập lại như ở Omsk, hàng ngàn sĩ quan và dân chúng giành nhau lên tàu hỏa đi về cảng ở Biển Đen. Người bị thương và ốm bị điềm nhiên bỏ lại. Không còn có thể gọi là một ‘cuộc tháo chạy của tư sản’ nữa. Phần đông các dân tị nạn hiện giờ không một xu dính túi, dù trước đây có thể giàu có thế nào. Đây chỉ là một tập thể khốn nạn những con người trần trụi chuồn kiếm đường sống.

Như để hả giận cho tình trạng tinh thần mình sụp đổ, Khủng Bố Trắng lên đến đỉnh điểm và những vụ bức hại tồi tệ nhất chống Do Thái được tiến hành. Đó là một hành động trả thù dã man chống lại một chủng tộc mà nhiều người Bạch Vệ đổ lỗi cho cách mạng.

Chống Do Thái là một thực tế cuộc sống ở nước Nga trong suốt thời kỳ cách mạng. Tấn công người Do Thái thường chiếm một phần trong bạo lực của đám đông. Việc lấy người Do Thái làm kẻ giơ đầu chịu báng cho những thù hằn của đất nước đã trở nên tràn lan sau năm 1914. Vòng rào bao quanh khu định cư dành riêng cho người Do Thái đã bị gãy đổ vì chiến tranh và người Do Thái tứ tán khắp nơi. Họ xuất hiện trong các thành phố lớn ở miền bắc lần đầu tiên với số lượng lớn. Trong cách mạng người Do Thái bước vào chính quyền và giữ những vị trí hành chính cũng lần đầu tiên. Không có nhiều người Do Thái theo Bôn-se-vich, nhưng nhiều nhà lãnh đạo Bôn-se-vich là người Do Thái. Đối với phần đông người dân Nga bình thường, mà thế giới của họ đã bị đảo lộn, thì việc người Do Thái thình lình xuất hiện nắm giữ những chức vụ và vị trí quyền hành trước đây không dành cho họ có ít nhiều dính líu đến sự tan tành của xứ sở. Từ đây chỉ một bước ngắn là đi đến kết luận người Do Thái là thủ phạm làm nước Nga sụp đổ. Hậu quả là một làn sóng căm thù người Do Thái. ‘Căm thù người Do Thái’, một nhà xã hội học hàng đầu viết vào năm 1921, ‘là một trong những đặc điểm nổi bật nhất của đời sống Nga ngày nay; thậm chí có thể là nổi bật nhất. Người Do Thái bị thù ghét khắp nơi – ở phía bắc, ở phía nam, ở phía đông, và ở phía tây. Họ bị thù ghét bởi dân chúng bất kể giai cấp hoặc trình độ học vấn, chính kiến, chủng tộc, hoặc tuổi tác.

Trong những thời kỳ đầu của phong trào Bạch Vệ ở phía nam chủ nghĩa bài Do Thái đóng một vai trò mờ nhạt. Thậm chí có người Do Thái trong Quân đoàn Tình nguyện, một số họ là người hùng của Hành trình Băng Giá. OSVAG, cơ quan tuyên truyền của Denikin, sử dụng nhiều người Do Thái. Nhưng khi phe Trắng tiến vào Ukraine, nơi dân Do Thái sống tập trung hơn ở vùng Don, hàng ngũ của họ bị nhận chìm trong cơn thù hằn đối với Do Thái. Chính quân Cô-dắc và các sĩ quan trung đoàn của họ khởi xướng, mặc dù Denikin, một người bài Do Thái thụ động, không làm gì nhiều để phản đối, trong khi một số tướng lãnh lại cổ vũ. Người Do Thái buộc phải bị tống ra khỏi quân đội và ban quản trị Denikin. Tuyên truyền của Bạch Vệ mô tả chế độ Bôn-se-vich là âm mưu của người Do Thái và loan truyền tin đồn là tất cả lãnh đạo cao cấp của nó đều là người Do Thái trừ Lênin. * Là người đứng đầu Hồng Quân, Trotsky được tách ra như ‘tên giết người Nga hàng loạt gốc Do Thái’ khủng khiếp. Người Do Thái bị đổ tội đã giết Sa Hoàng, cho việc bức hại Giáo hội Chính thống và Khủng Bố Đỏ. Giờ thì đúng là người Do Thái nổi bật trong các cơ quan Cheka ở Kiev và các thành phố khác. Nhưng đây chỉ là cái cớ để trả thù đẫm máu dân Do Thái xét chung. Phần đông những lãnh đạo Bạch Vệ, trong đó có Denikin, có quan điểm là người Do Thái đã tự mang sự bức hại đến cho mình vì đã ‘ủng hộ’ chế độ Bôn-se-vich. Toàn bộ phong trào Bạch Vệ đều chung ý kiến là việc bức hại người Do Thái phần nào có thể biện minh là một phương thức phản cách mạng được nhân dân ủng hộ. Theo Shulgin, phát ngôn nhân chủ yếu về tội lỗi tập thể của người Do Thái, nhìn nhận rằng việc bức hại là việc trả thù của phe Trắng đối với Khủng Bố Đỏ. Họ la, ‘Tư sản hãy chết đi!’ Và chúng ta đáp lại, ‘Do Thái, hãy chết đi!’.

*  Huyền thoại còn lan truyền đến chính giới phương Tây. Tướng Holman, chẳng hạn, người đứng đầu sứ bộ quân sự Anh đến Denikin, bảo một phái đoàn Do Thái rằng trong số 36 Dân Uỷ ở Moscow chỉ có Lênin không phải là người Do Thái.

 

Vụ bức hại lớn đầu tiên do các băng nhóm Ukraine của Petliura nhúng tay vào mùa đông 1918-19. Phe đảng của Makhno và Grigoriev cũng tiến hành những vụ bức hại,như người Ba Lan đã làm vào năm 1920, và một số đơn vị Hồng Quân. Trong tất cả vụ bức hại này, trừ ra những vụ của người Ba Lan (mà động lực là vấn đề sắc tộc), bạo lực chống Do Thái luôn đi kèm với cướp bóc và phá hủy tài sản. Binh lính gốc nông dân Ukraine căm ghét Do Thái chủ yếu vì họ là những thương nhân, chủ quán trọ và người cho vay, tóm lại ‘bọn tư sản’ của các thị trấn ‘nước ngoài’ luôn bóc lột ‘những dân làng quê mùa’ và khiến họ sống trong cảnh bần hàn. Thường những tên cầm đầu áp đặt một số tiền thuế cách mạng to tát lên đầu người Do Thái – vì tin rằng họ giàu có kết sù – và rồi giết các con tin khi thuế không trả được. Người Bôn-se-vich cũng sử dụng một phương sách như vậy trong Khủng Bố Đỏ. Các tên cầm đầu cũng cho phép binh lính mình cướp bóc các cửa hiệu và nhà cửa Do Thái, tàn sát và hiếp dâm, và cho phép dân địa phương người Nga tiếp tay hôi của, dưới cái cớ là người Do Thái đã làm giàu trên đầu cơ  kinh tế và của cải chúng phải trả về cho nhân dân. Người Bôn-se-vich gọi việc này là cướp bóc kẻ cướp bóc.

 

Việc bức hại mà binh lính Denikin thực hiện chủ yếu do thúc đẩy của cùng cái bản năng cướp bóc, hiếp dâm và giết một dân tộc được coi là giàu có, khác chủng tộc và yếu đuối. Nhưng khác hơn những vụ bức hại trước chúng được kích động bởi hận thù chủng tộc đối với người Do Thái, và theo lời của sĩ quan Bạch Vệ, là ‘những người được Bôn-se-vich chọn lựa’. Toàn bộ thị trấn Do Thái bị đốt rụi và tiêu hủy với lý do họ tiếp tay cho bọn Đỏ. Các ngôi sao đỏ được vẽ trên các nhà thờ Do Thái. Người Do Thái bị bắt làm con tin và bị bắn để trả thù cho Khủng Bố Đỏ. Thi thể Do Thái bị phơi bày trên đường phố mang bản án ‘Bọn phản bội’, hoặc một Ngôi Sao Đỏ cắt vào da thịt.

Khi chiếm lại được một thị trấn từ tay phe Đỏ, các sĩ quan Trắng thường cho phép binh sĩ mình đôi ba ngày tự do cướp bóc và giết hại người Do Thái tùy thích. Một trong những vụ bức hại tàn bạo nhất xảy ra ở Kiev, ngay dưới mũi chính quyền Bạch Vệ. Từ 1 đến 5 tháng 10 quân Cô-dắc bố ráp khắp thành phố xông vào nhà người Do Thái, vòi vĩnh tiền bạc, hiếp dâm và giết chóc. Sĩ quan và giáo sĩ địa phương xúi giục họ với lời buộc tội ‘Bọn Do Thái giết tất cả dân chúng chúng ta và tiếp tay bọn Bôn-se-vich.’ Ngay cả Shulgin, một người bài Do Thái quyết liệt, cũng không yên tâm trước không khí ‘khủng bố thời trung cổ’ trong đường phố và ‘tiếng thét khiếp đảm’ của người Do Thái ban đêm ‘nghe thật đứt ruột’. Vậy mà Tướng Dragomirov, người cai trị thành phố, đến ngày thứ 6 mới ra lệnh dừng hành động bức hại, thì khi đó cơn điên loạn đã tắt ngấm rồi.

Nhiều vụ bức hại có mức độ dã man cũng  ghê tởm và tàn khốc không thua Khủng Bố Đỏ.

Nhờ những thư khố mới được công khai, giờ chúng ta có một cái nhìn đầy đủ hơn về số người Do Thái bị giết trong những vụ bức hại ở nội chiến. Còn số chính xác sẽ không bao giờ được biết. Thậm chí các vụ bức hại do Bạch Vệ, được biết rõ nhất, vẫn gặp khó khăn với dữ liệu thống kê; và biết bao vụ bức hại khác mà số nạn nhân không ai buồn đếm. Nhưng ta có thể nói với một mức độ chắc chắn rằng con số nạn nhân Do Thái phải cao hơn nhiều con số 31,071 lần chôn cất chính thức được vào sổ hoặc là con số 50,000 – 60,000 do các học giả đưa ra trong quá khứ. Tư liệu quan trọng nhất xuất hiện từ thư khố Nga trong những năm gần đây, một báo cáo 1920 từ một cuộc điều tra do một tổ chức Do Thái ở nước Nga Xô-Viết tiến hành, cho biết là ‘có hơn 150,000 cái chết được báo cáo’ và lên đến 300,000 nạn nhân, kế cả người bị thương và người chết.

 

* * *

Hàng ngàn người thuộc chế độ Denikin tháo chạy dồn ứ ở Novorossiisk, cảng Đồng minh chính trên Biển Đen, với hi vọng được tàu Đồng minh di tản. Vào tháng ba 1920, thị trấn đầy nghẹt dân tị nạn tuyệt vọng. Các viên chức chế độ cũ ngủ lăn lóc cả chục mạng trong mỗi phòng. Bệnh sốt phát ban hoành hành thu hoạch thẳng tay trong đám nhân sinh bẩn thỉu. Hoàng thân E. N. Trubetskoi và Purishkevich chết trong những điều kiện đáng sợ ở Novorossiisk. Không ai còn nghĩ đến việc đánh nhau với phe Đỏ, mà kỵ binh của họ đang bao vây thị trấn. Bảy năm chiến tranh và cách mạng đã nuôi dưỡng trong những con người này một tâm lý chủ bại – và giờ họ chỉ còn nghĩ đến việc trốn chạy. Súng ống người Anh cho bị ném xuống biển. Quân Cô-dắc bắn chết ngựa của mình. Mọi người ai cũng muốn rời bỏ nước Nga nhưng các tàu Đồng minh không thể chở đi hết. Ưu tiên được dành cho quân đội, 50,000 binh sĩ được chở đến Crimea vào ngày 27/3. Còn ở lại 60,000 Bạch Vệ dưới quyền sinh sát của phe Đỏ. Giữa cơn hoảng loạn cuối cùng để giành nhau lên tàu xảy ra nhiều cảnh tệ hại: các ông hoàng kêu gào như các bà bán cá ngoài chợ; các ông bà quì mọp trên bến tàu và xin xỏ các sĩ quan Đồng minh cứu mạng; một số người nhảy xuống biển.

Đối với những lời phê phán Denikin, cuộc di tản vụng về này là giọt nước tràn ly. Khi đến Crimea, người ta yêu cầu Denikin phải từ chức. Tướng Wrangel lộ diện như người kế tục đương nhiên từ cuộc thăm dò giữa các chỉ huy cao cấp. Vì họ không ưa cái ý tưởng ‘bầu ra’ một lãnh đạo mới – nghe có mùi dân chủ đã phá hủy quân đội vào năm 1917 – họ chủ trương Denikin tự nguyện từ chức và ‘chỉ định’ Wrangel là người kế tục ông. Đây là hành động sỉ nhục cuối cùng đối với Denikin, vì mới đây ông đã cách chức đối thủ của mình. Giờ đây ông buộc phải triệu hồi ông ta từ

Constantinople, nơi ông ta đang lưu vong. Cũng con tàu Anh mang Wrangel trở lại Nga sẽ chở Denikin đến kinh đô Thổ Nhĩ Kỳ. Ông không bao giờ thấy lại tổ quốc.

Dưới chỉ huy của Tướng Wranglel phe Trắng lập một căn cứ cuối cùng chống lại người Bôn-se-vich. Nhưng rõ ràng ngay từ đầu nhiệm vụ này rồi cũng sẽ thảm bại. Trận chiến Xô-Viết đang chống lại Ba Lan đã rút bớt quân Đỏ từ Mặt trận phía Nam, tạo cơ hội ngắn ngủi cho phe Trắng lập được bàn đạp ở Crimea. Nhưng chỉ là vấn đề thời gian trước khi phe Đỏ quay lại xử lý  họ một lần nữa: và khi đó kết quả thực sự là không sao tránh khỏi. Xét về mọi mặt, Bạch Vệ bị đánh bại vào tháng 4 1920.

Đâu là nguyên do nền tảng cho sự thảm bại của họ? Các cộng đồng di dân Bạch Vệ ray rứt nhiều năm liền về câu hỏi này. Các sử gia có cảm tình với chính nghĩa phe Trắng cũng thường nhấn mạnh ‘những nhân tố khách quan’ được cho là gây bất lợi cho họ. Phe Đỏ có quân số áp đảo vượt trội, họ kiểm soát địa hình rộng lớn của vùng trung tâm nước Nga với những thủ phủ đầy thanh thế, hầu hết vùng kỹ nghệ và hạt nhân  mạng lưới đường sắt của đất nước, khiến họ có thể chuyển quân từ Mặt trận này đến Mặt trận khác. Bạch Vệ, trái lại, bị ngăn cách bởi những Mặt trận khác nhau, khiến họ khó lòng phối hợp những cuộc hành quân; và họ phụ thuộc vào tiếp tế của những Đồng minh không đáng tin cậy. Các sử gia khác nhấn mạnh những sai lầm chiến lược của phe Trắng, trên hết là Chỉ thị Moscow, và tài lãnh đạo vượt trội, quyết tâm và kỷ luật của phe Đỏ.

Tất cả những nhân tố này không nghi ngờ gì là rất hợp lý – và trong một cuộc chiến qui ước chúng đủ sức giải thích kết quả. Nhưng nội chiến Nga là một dạng chiến tranh rất khác. Nó là cuộc xung đột giữa các lực lượng không thể nhờ vào sự trung thành của các binh sĩ phần lớn là nghĩa vụ lẫn sự hậu thuẫn của dân chúng trong những lãnh thổ mà họ kiểm soát. Phần lớn dân chúng không muốn dính líu tới nội chiến: họ luôn cúi đầu xuống và cố giữ trung lập. Như một người Do Thái bảo với Babel, tất cả quân đội đều tuyên bố chiến đấu vì công lý, nhưng tất cả bọn họ đều cướp bóc như nhau. Vào năm 1920, khi Nga đang trên bờ vực chết đói, nhiều người dân chắc chắn sẽ chào đón bất kỳ ‘sa hoàng’ nào miễn là ông ta có thể lo cho họ đủ bánh mì. Cả Đỏ và Trắng đều bị tê liệt vì những vụ đào ngũ hàng loạt, tiếp tế sụp đổ, đình công của công nhân và nổi dậy của nông dân ở hậu cứ. Nhưng khả năng duy trì chiến dịch của họ vượt qua những khó khăn này tùy thuộc vào nhân tố quân sự ít hơn là nhân tố chính trị. Đó cơ bản là vấn đề tổ chức chính trị và động viên tập thể. Tất nhiên khủng bố cũng đóng một vai trò. Nhưng chỉ khủng bố thôi thì không đủ – dân chúng thì quá đông và các chế độ thì quá yếu để có thể áp dụng cho mọi nơi – và, trong bất kỳ tình huống nào, khủng bố thường hóa ra phản tác dụng.

Ở đây phe Đỏ có một lợi thế quyết định khiến họ có thể lấy được nhiều lính hơn cho chiến trường khi cần kíp: họ có thể tuyên bố mình đang bảo vệ cho ‘cách mạng’ – một biểu tượng đa trị thuận lợi qua đó người dân có thể phóng chiếu những ý tưởng của mình. Có thể chiến đấu dưới Hồng Kỳ mạng lại cho người Bôn-se-vich một ưu thế quyết định. Quyền lực mang tính biểu tượng là tác nhân kêu gọi những nông dân, kể cả hàng trăm ngàn người đã đào ngũ, tập kết về Hồng Quân trong khi Bạch Vệ đang tiến công Moscow vào mùa thu 1919. Các nông dân tin tưởng rằng thắng lợi của phe Trắng sẽ đảo ngược cuộc cách mạng ruộng đất của họ. Chỉ sau khi Bạch Vệ bị đánh bại hoàn toàn các cuộc nổi dậy của nông dân chống Bôn-se-vich mới tiếp tục lại với qui mô lớn. Cũng cuộc ‘bảo vệ cách mạng’ kiểu này đã khiến nhiều công nhân, dù bất mãn với người Bôn-se-vich, cũng tập kết sau lưng chế độ Xô-Viết trong cuộc tiến công của Yudenich vào Petrograd.                                                            

Tại cội nguồn của thảm bại phe Trắng là sự thảm bại về chính trị. Họ cho thấy mình không thể và không muốn đóng khung các chính sách có khả năng lôi kéo được quần chúng về phía mình. Phong trào của họ đặt trên nền móng, theo cụm từ của Wrangel, là ‘lưỡi gươm tàn bạo của sự trả thù’; ý tưởng duy nhất của họ là quay kim đồng hồ trở lại những ‘ngày hạnh phúc’ trước 1917; và họ không thấy được nhu cầu phải thích ứng với những thực tế của cách mạng. Sự thất bại của phe Trắng không chịu công nhận cách mạng ruộng đất nông dân và các phong trào độc lập dân tộc đã đưa họ đến thảm bại. Như Denikin là người đầu tiên đã nhìn nhận, thắng lợi phụ thuộc vào cuộc nổi dậy của quần chúng chống phe Đỏ bên trong vùng trung tâm nước Nga. Vậy mà cuộc nổi dậy đó không hề xảy ra. Thay vì tập kết nhân dân về phe mình, Bạch Vệ, theo lời của Wrangel, ‘đuổi họ sang phía kẻ thù’.

Một phần đây còn là vấn đề của hình ảnh. Mặc dù Kolchak và Denikin cả hai đều chối mình bảo hoàng, trong hàng ngũ họ có quá nhiều người hậu thuẫn sự phục hồi chế độ sa hoàng, tạo ra hình ảnh phổ biến – và cho chất liệu để kẻ thù lấy đó mà tuyên truyền – rằng họ gắn kết với chế độ cũ. Bạch Vệ không thực sự nỗ lực để giải quyết vấn đề này bằng hình ảnh của mình. Lối tuyên truyền của họ cực kỳ sơ khai và, trong bất cứ hoàn cảnh nào, đều không có tác dụng. Vấn đề của lực lượng phản cách mạng Nga chính xác là: họ quá phản cách mạng.

Với sự thảm bại của phe Trắng nước Nga cũ của Hoàng thân Lvov cuối cùng đã bị chôn vùi. ‘Trái tim tôi chảy máu’, ông viết cho Rodichev vào tháng 11 1920, ‘cho quê hương khốn khổ và xa xôi. Lòng tôi quặn đau khi nghĩ về bạn bè và người thân – và thật ra mọi người – đang oằn oại dưới nỗi thống khổ.’

Vào năm 1918 Lvov đã đề cao sự cần thiết chiến đấu chống phe Đỏ bằng những biện pháp quân sự. Ông không tin tưởng vào khả năng của một phong trào dân chủ bên trong nước Nga. Vậy mà vào năm 1920 ông đã thấy ra là mình sai. ‘Chúng ta sai khi nghĩ rằng người Bôn-se-vich có thể bị đánh bại bằng lực lượng vật chất,’ ông viết cho Bakhmetev vào tháng 11. ‘Họ chỉ có thể bị đánh bại bởi nhân dân Nga. Và để được điều đó Bạch Vệ sẽ cần một cương lĩnh dân chủ.’

 

ii Đồng Chí và Ủy Viên

Một báo cáo chấn động đặt trên bàn viết của Lênin vào tháng 9 1919. Nó báo rằng Smolny, thành trì của Cách Mạng Tháng Mười, đầy nạn tham nhũng. ‘Tiền bạc chảy tự do từ két sắt của Xô-Viết Petrograd vào túi các lãnh đạo đảng,’ người đứng đầu Bộ phận Công Nhân viết cho Lênin. Trong vài tháng Bộ Lương Thực đã thất bại trong việc phân phối thực phẩm đến các khu công nhân, vậy mà trong khi đó từ sau lưng Smolny lương thực được bán từng lô lớn cho những con buôn chợ đen. ‘Những công nhân đói ăn nhìn các Hoàng hậu ăn vận sang trọng của các Sa Hoàng Xô-Viết bước ra chợ với những túi xách thức ăn và chui vào ô tô phóng đi. Họ nói chả có gì khác như ngày trước với dòng dõi Romanov và những Fraulein, Madame Vyrubova của họ. Họ không dám phản ảnh với Zinoviev (ông trùm đảng ở Petrograd) vì ông ta được bao quanh bởi các tay sai có súng lục hăm dọa công nhân đặt quá nhiều câu hỏi.’  Bị sốc trước báo cáo này, Lênin ra lệnh cho Stalin, với tư cách Dân Uỷ Kiểm tra Nhà nước, tiến hành một cuộc ‘thanh tra các văn phòng ở Smolny tối nghiêm nhặt’. Ông muốn hoàn tất mà không cho Zinoviev hoặc nhân viên của ông ta hay biết. Nhưng Stalin từ chối ‘việc rình rập các đồng chí mình’, nói ràng điều này sẽ phá vỡ hoạt động của đảng tại một thời điểm cấp bách của cuộc nội chiến. Đây là điển hình của thái độ ông: mối ràng buộc tình đồng chí và sự sống còn của đảng còn quan trọng hơn bất kỳ chứng cứ lạm dụng quyền lực nào.

Sự kiện này là triệu chứng của một vấn đề phổ quát trong đảng: quyền lực nuôi dưỡng thối nát. Thối nát này bắt rễ sâu hơn hình thức hối lộ thông thường xảy ra trong mọi chính quyền. Đảng Bôn-se-vich không giống như các đảng Tây phương. Họ giống một tầng lớp cai trị hơn, theo nhiều mặt tương tự như giới quí tộc, mà Lênin thường so sánh. ‘Nếu 10,000 quí tộc có thể cai trị toàn thể nước Nga – thì tại sao chúng ta không thể?’ Lênin có lần nói. Các đồng chí hình như đang bước vào giày của họ. Gia nhập đảng sau năm 1917 giống như gia nhập giới quí tộc. Nó đem lại lợi ích hơn chức vụ hành chính, một vị thế ưu tú và đặc quyền và một cổ phần cá nhân trong nhà nước đảng trị. Tính đảng chi phối mọi lãnh vực của đời sống công cộng ở nước Nga Xô-Viết, cũng chính xác như tính quí tộc đã chi phối đời sống công cộng trong nước Nga sa hoàng. Có lẽ sự thối nát này ắt hẳn phải xảy ra trong một đảng như Bôn-se-vich mà việc xây dựng nhà nước trong thời nội chiến đặt cơ sở trên sự tuyển mộ tập thể những người thuộc tầng lớp thấp kém. Trong một cuộc cách mạng xã hội, như cách mạng này, một trong những động lực chủ yếu để vào đảng ắt là do viễn cảnh được thăng tiến. Nhưng vấn đề càng trầm trọng hơn do sự kiện là những người Bôn-se-vich làm việc ở văn phòng hành  động vượt quá bất kỳ sự kiểm tra thực sự nào. Thật ra, đó là một hệ thống khách hàng, với các phe phái có quyền lực và mạng lưới bao che địa phương và quyền hành vượt qua sự kiểm tra của bất kỳ cơ quan đảng nào ở thủ đô. Có nhiều khi đảng Bôn-se-vich hoạt động giống một băng mafia địa phương hơn là một đảng cai trị  một đất nước rộng lớn nhất thế giới.

Trong thời nội chiến các lãnh đạo Bôn-se-vich mắt lấp tai ngơ trước tình trạng thối nát như thế. Đây là lúc các đồng chí được kêu gọi phải cống hiến và hi sinh lớn lao cho cách mạng – nhiều người lăn xả và năng nổ điên cuồng cho đảng – và chút đặc ân nhỏ lẻ dường như là một giá quá nhỏ phải trả. Trong đầu năm 1918 chính Lênin đã hậu thuẫn một kế hoạch tổ chức một nhà hàng khép kín đặc biệt cho người Bôn-se-vich ở Petrograd trên cơ sở là họ không thể được kỳ vọng cầm đầu một cuộc cách mạng với cái bụng rỗng. ‘Các công nhân sẽ thông cảm sự cần thiết của việc này.’ Từ lúc đó nguyên tắc dần dần được nới rộng để, vào cuối nội chiến, họ cho rằng những đảng viên cần lãnh lương cao hơn và nhận những khẩu phần đặc biệt, được cấp chỗ ở trong những khách sạn và căn hộ, được mua tại những cửa hàng độc, chữa trị trong những bệnh viện riêng, có nhà mát riêng ở nông thôn, ô tô với tài xế riêng, đi tàu hạng nhất và được nghỉ lễ ở nước ngoài, không kể vô số những đặc quyền khác trước đây đã dành cho giới quí tộc ưu tú thời sa hoàng.

5,000 người Bôn-se-vich và gia đình họ sống trong Kremlin và những khách sạn đặc biệt, như National và Metropole, ở trung tâm Moscow. Khu sinh hoạt của Kremlin có hơn 2,000 nhân viên phục vụ và phức hợp dịch vụ của nó, bao gồm một cơ sở làm tóc và một phòng tắm hơi, một bệnh viện và nhà trẻ, và ba khách sạn lớn với đầu bếp đào luyện tại Pháp. Ngân sách hoạt động trong năm 1920, khi tất cả dịch vụ này được công bố miễn phí, cao hơn ngân sách tiêu tốn cho an sinh xã hội của toàn Moscow. Ở Petrograd các ông trùm đảng chóp bu sống ở Khách sạn Astoria, gần đây được phục dựng tình trạng hoành tráng như trước sau khi bị hư hại trong cách mạng thành Đệ nhất Công trình Xô-Viết. Từ các căn hộ nhiều phòng của họ, họ có thể gọi tới phục vụ tại phòng ‘các đồng chí bồi phòng’, được huấn luyện phải đánh gót giày và xưng với họ là ‘đồng chí chủ nhân’. Các thói xa hoa từ lâu đã quên, như rượu xâm banh, nước hoa và bàn chải đánh răng, được cung ứng thừa mứa. Khách sạn đóng kín cửa với dân chúng bởi một nhóm bảo vệ vai u thịt bắp mặc áo chẽn da màu đen. Vào chiều tối các ô tô nhà nước đậu hàng dài ở lối vào để mang các cư dân ưu tú đến các nhà hát hoặc đến Smolny dự tiệc chiêu đãi.

Các lãnh đạo đảng chóp bu có điền trang trưng thu từ giới quí tộc ưu tú thời sa hoàng. Lênin chiếm điền trang của Tướng Morozov ở Gorki, ngay phía ngoài Moscow. Trotsky có một trong những điền trang lộng lẫy nhất nước, đã từng thuộc về nhà Yusupov. Về phần Stalin, ông ta an vị trong lâu đài thôn quê của ông trùm tư bản dầu lửa trước đây. Có hàng chục điền trang rải rác quanh thủ đô mà Ủy ban Chấp hành đã giao cho các lãnh đạo đảng sử dụng làm của riêng. Mỗi người đều có đoàn tùy tùng phục dịch đông người, chẳng khác ngày xưa.

Các cấp bậc đảng thấp hơn thì quyền lợi thấp hơn nhưng vẫn cùng một tình trạng tham ô lộ liễu như nhau. Tất nhiên cũng có những đồng chí vào đảng vì những lý tưởng cao cả nhất, vẫn sống đạm bạc và thực hiện chủ nghĩa binh đẳng mà các lãnh đạo họ rao giảng. Chính Lênin vẫn sống trong ba phòng nhỏ ở Kremlin và không hề nghĩ đến lợi lộc tài chính. Nhưng có rất nhiều người khác đối với họ những lý tưởng như thế chỉ ở ngoài đầu môi  còn động lực thực sự thì ở sát mặt đất. Tình trạng nhận hối lộ, ăn cắp và bán tài sản công tràn lan như bệnh dịch xảy ra trong đảng. Gần như mọi thứ đều có thể mua được từ những quan chức biến chất: thực phẩm, thuốc lá, rượu, xăng dầu, nhà ở, súng đạn và giấy phép đủ loại. Vợ và bồ bịch của các ông trùm đảng đi ra đường, theo lời Zinoviev, ‘với cả một tủ kính bày nữ trang treo quanh cổ’. Nhà cửa họ chứa đầy đồ quí giá kiếm được bằng đút lót. Một viên chức ở Bộ Ngoại giao có hai bình hiệu Sevres và một cây súng bạc từng thuộc về Peter Đại Đế. Không có gì ngạc nhiên, những đồng chí thối nát nhất nằm trong cơ quan Cheka. Suy cho cùng, công việc của nó là ‘vắt kiệt bọn tư sản’. Rabkrin (Bạn Thanh tra của Công nhân và Nông dân) báo cáo hàng trăm trường hợp nhân viên Cheka đã lạm dụng quyền lực để móc tiền và nữ trang của nạn nhân họ. Tù nhân hối lộ để được thả.

Lênin thích lý giải  tình trạng tham ô bằng ý kiến cho rằng những yếu tố hủ hoá từ tiểu tư sản đã ăn vào bộ máy Xô-Viết khi nó phình to ra trong thời nội chiến. Đúng là những thành phần thấp kém của bộ máy nhà nước có nhiều người phi vô sản chen vào chế độ Bôn-se-vich chủ yếu vì lợi lộc riêng tư. Nhưng vấn đề thối nát không chỉ giới hạn trong số họ. Nó nhận chìm toàn bộ đảng, kể cả những người phục vụ đảng lâu năm nhất và có khuynh hướng luôn ở trên chóp bu. Tóm lại, sự thối nát là kết quả của sự buông lỏng quyền lực. 

Nó không chỉ là vấn đề của chế độ độc đảng trong các Xô-Viết, vốn đã được hoàn tất trong hầu hết thành phố vào mùa hè 1918 – trước khi nạn tham nhũng trở thành bệnh dịch. Nó cũng là vấn đề khi những Xô-Viết này được chuyển từ những bộ phận cách mạng, trong đó hội đồng là quyền lực tối cao và kiểm soát hoạt động điều hành, thành những cơ quan hành chính của nhà nước đảng trị nơi tất cả quyền lực thực sự nằm trong tay người Bôn-se-vich trong các ban điều hành và hội đồng không kiểm tra họ. Sự thối nát là kết quả của sự hành chính hóa cũng nhiều như của sự độc quyền trong quyền lực.

Đây là tiến trình kép liên quan đến một số diễn tiến xảy ra đồng thời bên trong nhà nước đảng trị. Không có kế hoạch chủ đạo. Khi người Bôn-se-vich lên nắm quyền họ không có ý tưởng xác định – mà chỉ là sự thôi thúc chung chung muốn kiểm soát và tập trung – về phương cách cấu trúc các mối quan hệ có tính định chế giữa đảng và các Xô-Viết. Những mối quan hệ này phát triển tự phát từ những điều kiện tổng quát của cách mạng. Các Xô-Viết và cơ quan đảng địa phương có tính phi tập trung rất cao và tính ứng biến trong những tháng đầu của năm 1918. Nhiều người trong số họ tuyên bố ‘cộng hòa’ và ‘chuyên chính’ trong địa phương họ, phớt lờ một cách mù quáng các chỉ thị của Moscow. Thực tế là thường xảy ra tình trạng các Xô-Viết nông thôn xé các chỉ thị của chính quyền trung ương để làm giấy vấn thuốc lá hút nhiều đến nỗi khi Lênin giao các cán bộ về vùng quê để vận động áp dụng Sắc lệnh về Ruộng đất, ông cũng gởi kèm theo các cuốn lịch cũ để phân phát với hi vọng chúng được xé vấn thuốc thay việc xé sắc lệnh. Tỉnh Kaluga đã nổi tiếng vì tính đối kháng với trung ương tập quyền vào năm 1918. Ở đó đã thành lập Cộng Hòa Xô-Viết Tối Cao các Huyện Tự Trị ở Kaluga. Đó là trình trạng mà nước Nga tiến gần nhất đến một cấu trúc quyền lực có tính vô chính phủ, với Xô-Viết của mỗi huyện nắm quyền kiểm soát biên giới trong lãnh thổ của nó. Theo đó các đặc vụ nhà nước ở Moscow buộc phải xin giấy thông hành từ mỗi Xô-Viết huyện mới được đi từ huyện này đến huyện khác. Chỉ trong thời nội chiến, khi họ đề cao nhu cầu kiểm soát tập trung hóa nghiêm nhặt để động viên nguồn lực của xứ sở, người Bôn-se-vich mới lên kế hoạch cho một cấu trúc tổng thể nhà nước đảng trị.

Ưu tiên thứ nhất của họ là tranh thủ quyền kiểm soát các Xô-Viết và các cơ quan xung yếu khác, như các nghiệp đoàn. Người Men-se-vich và SR vẫn còn có mặt trong các bộ phận này, mặc dù với tư cách là đại biểu ‘phi đảng phái’ sau khi đảng của họ đã bị cấm hoạt động trong mùa hè 1918.* Tất cả chiến thuật bầu cử của Cộng sản được sử dụng trong thế kỷ này nhằm lật đổ các bộ phận dân chủ đều được phát triển đầu tiên trong thời nội chiến Nga. Người Bôn-se-vich tham dự vào các bộ máy tổ chức bầu cử khắp nơi và hù doạ các phe chống đối. Bỏ phiếu ở các Xô-Viết và các đại hội nghiệp đoàn gần như luôn luôn bằng cách giơ tay công khai để ai bầu chống đối người Bôn-se-vich sẽ bị Cheka đến sờ gáy. Trong bất kỳ cuộc bầu cử nào sự hiện diện của Cheka luôn được cảm nhận mạnh mẽ. Nếu bầu kín, người Bôn-se-vich sẽ không chắc thắng nhiều cuộc đầu phiếu. ‘Xô-Viết không có người Cộng sản!’ là khẩu hiệu ngày càng tăng của công nhân và nông dân. Nhưng người Bôn-se-vich không chơi ‘cái thói dân chủ tư sản’ này viện cớ rằng một cuộc đầu phiếu kín không còn cần thiết trong ‘một hình thức tự do cao hơn’ mà nhân dân Xô-Viết được hưởng.

* Từ 1918 đến 1922 lệnh cấm các người Men-se-vich và SR hoạt động thỉnh thoảng được dỡ bỏ ngắn hạn. Nhưng thậm chí trong những thời kỳ này người Bôn-se-vich cũng bức hại các nhà hoạt động của họ.

 

Và với hệ thống bầu phiếu công khai – vốn là truyền thống công xã làng Nga – rất ít cuộc bầu cử nào mà họ thua. Thậm chí các nghệ sĩ của Nhà hát Opera Marinsky, ắt hẳn không hề là thành trì của chủ nghĩa Cộng sản, cũng nhất trí bầu người Bôn-se-vich vào Xô-Viết năm 1919.

Việc ép buộc bầu theo liên danh đảng cũng là lợi thế của người Bôn-se-vich. Là đảng duy nhất hợp pháp bên trong các Xô-Viết, chỉ họ mới có thể hội đủ điều kiện hợp kín để phối hợp chiến lược, trong khi những đảng phái khác luôn chia rẽ trên thềm Đại hội. Điều này có nghĩa, cho dù là thiểu số, người Bôn-se-vich thường có thể thắng cử trong các Xô-Viết địa phương bằng cách trình diện mình là đảng duy nhất có khả năng chịu trách nhiệm cho những hành động của chính quyền trung ương. Với đa số rõ ràng liên danh Bôn-se-vich thường cấu thành bạn điều hành Xô-Viết hơn là chỉ một số ghế được phân bổ tùy theo sức mạnh của các phe phái khác.

Một khi đã nắm quyền điều hành Xô-Viết, người Bôn-se-vich nhắm tới việc tập trung quyền lực dưới quyền kiểm soát của họ. Các đại hội Xô-Viết ít khi triệu tập và, trong khi họ vắng mặt, quyền lực được triển khai bởi các ban điều hành Xô-Viết cùng với phòng ban thường trực, được bổ nhiệm theo từng lãnh vực chính sách. Phe chống đối xã hội chủ nghĩa gọi điều này là chuyên chính điều hành. Trong thời kỳ cách mạng các ban điều hành Xô-Viết phần lớn gồm những nông dân và công nhân tình nguyện. Bây giờ chúng phần lớn gồm những nhân viên hành chính chuyên nghiệp toàn thời gian được nhà nước trả lương và ít khi được bầu lại. Người cầm cày đã được thay bằng người cầm viết.

Dần dần, công việc của các Xô-Viết được giao cho bộ máy đảng. Đảng đang bành trướng quyền kiểm soát cả việc quản trị lẫn các ngành chính trị của nhà nước. Cho đến 1919, đảng đúng nghĩa đã biến mất khi lực lượng của nó đã bước vào các Xô-Viết. Ủy ban Trung ương gần như không tồn tại – Lênin và Sverdlov làm hầu hết công việc với nhau một cách qua loa –  và chỉ có liên hệ yếu ớt nhất với các đảng bộ địa phương. Một số người Bôn-se-vich thậm chi còn đề nghị rằng đảng đã hoàn tất mục đích của mình rồi và có thể bãi bỏ vì nó đã kiểm soát các Xô-Viết. Đối với nhiều người Bôn-se-vich các đảng bộ, theo lời của Nikolai Krestinky, chẳng khác nào là ‘các phòng ban vận động của các Xô-Viết địa phương’. Tất cả điều này thay đổi vào mùa xuân 1919. Có một điều, cái chết bất ngờ của Sverdlov, người đứng đầu cả đảng lẫn bộ máy hành chính Xô-Viết, đề xuất nhu cầu phải tách riêng hai cấu trúc. Một điều nữa, trong thời nội chiến người Bôn-se-vich, chật vật đương đầu với bộ máy Xô-Viết hỗn loạn, giờ bỗng nhận ra rằng cấu trúc đảng có thể được sử dụng để đưa vào những hình thức tập trung hơn cho việc kiểm soát Xô-Viết.

Tiếp theo Đại hội Đảng Lần 8 vào tháng 3 bộ máy đảng trung ương được xây dựng để chuẩn bị nắm quyền kiểm soát các Xô-Viết. Một Bộ Chính trị năm người (Lenin, Trotsky, Stalin, Kamenev và Krestinsky) đưa ra các quyết sách của đảng. Bộ sậu của Ủy ban Trung ương tăng gấp năm lần trong năm sau, với chín bộ và nhiều phòng bên dưới để hoạch định những chính sách trong những lãnh vực khác nhau, cùng với Ban Bí thư và Văn phòng Tổ chức Đảng (Orgburo) để bố trí những lực lượng đảng trên khắp đất nước. Tính tập trung nghiêm nhặt được áp đặt lên các đảng bộ địa phương: các thành viên của chúng giờ được lệnh thực thi tất cả chủ trương của những đảng bộ cấp trên chứ không phải chủ trương của các Xô-Viết. Vì những chủ tịch của các Xô-Viết địa phương đều là các đảng viên – và thường là bí thư của các đảng bộ địa phương – điều này rốt cục là bắt toàn bộ bộ máy Xô-Viết lệ thuộc vào đảng. Người Bôn-se-vich bắt đầu nói về các Xô-Viết và những bộ phận công khác, như nghiệp đoàn, đều là ‘băng chuyền’ của nền đảng trị. Đó là cụm từ mà Stalin sẽ làm cho nổi tiếng.

Các đảng bộ cao hơn càng ngày càng có khuynh hướng bổ nhiệm các ủy viên đặc biệt của họ vào các vị trí trong Xô-Viết thay vì trước đây được bầu từ bên dưới. Vào năm 1920, Ủy ban Trung ương đã thực hiện khoảng 1,000 việc bổ nhiệm như thế mỗi tháng. Đảng bộ tỉnh tiến hành việc bổ nhiệm tương tự ở cấp làng và huyện. Oskin ở Tula là một trong những người tai tiếng nhất ưa thực thi lối bổ nhiệm này. Mục đích là để tăng cường quyền kiểm soát của Trung ương đối với các bộ máy địa phương bằng cách cử xuống những đồng chí tin cậy và trung thành nhất nắm quyền chỉ huy nó theo kiểu quân đội. Nhưng điều này cũng đôi khi phản tác dụng. Các ủy viên dòm ngó và đụng chạm đến các lợi ích của những cán bộ địa phương sẽ làm họ xa lánh, đưa đến sự chống đối gây trì trệ và mất đoàn kết trong đảng. Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn là việc bổ nhiệm này có nghĩa nhiều Xô-Viết bị cai trị bởi các ông trùm đảng hoàn toàn xa cách với địa phương và dễ đưa đến sự lạm quyền. Semen Kanatchikov là một đại diện điển hình cho tầng lớp ủy viên ‘du mục’ này. Mặc dù quê quán ở tỉnh Moscow, ông được Ủy ban Trung ương  bổ nhiệm vào những chức vụ cao cấp ở Tomsk, Perm, Sverdlovsk, Omsk, Cộng Hòa Tatar Republic và Petrograd trong thời nội chiến. Trong gần hai năm, ông không gặp mặt vợ và hai con nhỏ mà ông dấu ở Barnaul. ‘Chủ nghĩa bổ nhiệm’ này chỉ góp thêm trong tâm thức dân chúng và hàng ngũ đảng ý nghĩ là quyền lực Xô-Viết là thứ gì đó xa lạ và áp bức.

* * *

Không có gì ngạc nhiên cho một nhà nước đảng trị muốn kiểm soát toàn bộ xã hội, khi bộ máy hành chính Xô-Viết phình to dữ dội trong năm đầu Bôn-se-vich cai trị. Trong khi nhà nước sa hoàng giao nhiều việc vào tay các định chế quần chúng và tư nhân, như các zemstvo và tổ chức từ thiện, chế độ Xô-Viết bãi bỏ tất cả và lãnh trách nhiệm trực tiếp cho những hoạt động mà họ đã đảm đương. Kết quả là hiện tượng hành chính hóa gần như mọi lãnh vực của đời sống Nga, từ ngân hàng và kỹ nghệ đến giáo dục. Từ 1917 đến 1921 số công chức chính quyền tăng hơn bốn lần, từ 576,000 đến 2.4 triệu. Vào năm 1921, số viên chức hành chính nhiều gấp hai số công nhân ở Nga. Họ là nền tảng xã hội của chế độ. Đây không phải là Chuyên chính Vô sản mà là Chuyên chính Hành chính. Moscow, theo lời Lênin, ‘sưng phù với các viên chức’: nó chứa gần một phần triệu nhân viên, một phần ba toàn thể lực lượng lao động trong thành phố vào cuối năm 1920. Trung tâm Moscow trở thành một khối khổng lồ các văn phòng, khi các ủy ban chất chồng lên các hội đồng và phòng chất chồng lên các ban.

Có lẽ một phần ba bộ máy hành chính được sử dụng trong việc điều hợp nền kinh tế kế hoạch. Đó là một tình trạng bất hợp lý: trong khi nền kinh tế đang khựng lại, hoạt động hành chính của nó phát triển. Đất nước khan hiếm nghiêm trọng năng lượng nhưng có cả một quân đoàn nhân viên hành chính để điều hành hoạt động phân phối gần như không tồn tại. Trong cửa hàng không có giấy nhưng ở các văn phòng có cả núi giấy (90 phần trăm giấy sản xuất ở Nga trong bốn năm đầu được tiêu thụ trong văn phòng). Một trong số ít các hãng thực sự bận rộn là Hãng Điện thoại Moscow. Yêu cầu gọi điện của vương quốc hành chính này lớn đến nỗi danh sách đợi kết nối lên đến 12,000 cuộc.

Sự tương quan này – hãng xưởng vắng vẻ còn văn phòng thì đầy ắp – không phải là tình cờ. Hàng hóa càng khan hiếm, việc kiểm soát sự phân phối càng khó khăn, chợ đen sung túc lên nhờ vào khan hiếm, vì thế nhà nước càng tăng cường sự can thiệp. Kết quả là các văn phòng sinh sôi nảy nở bên trong nền kinh tế. Ngoài những bộ trung ương (như lương thực, lao động, vận tải) và những cơ quan địa phương của chúng trong các Xô-Viết, còn có mạng lưới các cơ quan phụ thuộc với VSNKh, Hội đồng Toàn Nga về Kinh tế, bao gồm các hội đồng kinh tế địa phương, các tổ hợp sản xuất và các phòng đặc biệt nhằm điều tiết các tiện ích cá nhân (Glavki). Rồi còn có những cục đặc biệt dựng lên để cung ứng cho quân đội, như Hội đồng Lao động và Phòng Vệ hoặc những con quái vật có tên viết tắt như  Chusosnabarm (Cục Đặc Biệt Cung Ứng Quân Đội), mà về nguyên tắc có thể đứng trên các cơ quan kinh tế khác. Tất nhiên, trong thực tế, chỉ có lộn xộn và tranh giành giữa các cơ quan khác nhau. Nhà nước càng tập trung kiểm soát, càng thực sự kiểm soát được ít hơn. Phía dưới thang bậc, ở cấp hãng xưởng, hoạt động hành chính càng cho thấy thiếu hiệu quả. Với mỗi 100 công nhân đứng máy có 16 nhân viên hành chính vào năm 1920. Trong một số hãng xưởng con số còn cao hon: trong số 7,000 nhân công làm việc ở nhà máy kim khí Putilov nổi tiếng, chỉ có 2,000 công nhân cổ áo xanh (trực tiếp sản xuất); còn lại là viên chức vặt vãnh và thư ký (nhân viên cổ áo trắng). Những lợi thế về vật chất của công việc cổ áo trắng, ít nhất là nhận được lương thực và hàng hóa trong thời buổi khan hiếm, tốt đến nỗi loại ký sinh trùng này tăng cao khi khủng hoảng kinh tế càng sâu sắc. Tất cả những nghị quyết đình công trong những năm tháng này thường là kêu ca về việc các viên chức hãng xưởng ‘sống trên lưng các công nhân’.

Lênin thích tuyên bố rằng tệ nạn hành chính là di sản của thời sa hoàng. Đúng là hành chính Xô-Viết thừa kế văn hóa hành chính thời chế độ cũ. Nhưng vào năm 1921 nó cũng lớn gấp 10 lần thời sa hoàng. Có tính liên tục về nhân sự, đặc biệt trong  các cơ quan trung ương của nhà nước. Hơn phân nửa số nhân viên hành chính trong các văn phòng ủy ban Moscow vào tháng 8 1918 đã từng làm việc trong ngành hành chính  nào đó trước tháng 10 1917. Nhiều cơ quan trung ương cũng mướn đông đảo các thiếu nữ con nhà tư sản, phần nhiều trước đây chưa từng động móng tay, vào làm những công việc giấy tờ vặt vãnh. Một nhân chứng nhớ lại cảnh mỗi buổi sáng hàng trăm ‘cựu tiểu thư’ lội bộ qua tuyết từ các ngoại ô Moscow để đến trung tâm thành phố. Tại đó họ làm việc suốt ngày trong những văn phòng không máy sưởi, giày và quần áo ướt không hề khô ráo, rồi chiều đến trở về ngoại ô để giúp nuôi sống người thân đang thiếu đói. Tuy nhiên, càng xuống thấp bộ máy, nó càng bị áp đảo bởi những tầng lớp thấp kém hơn lần đầu tiên bước vào thế giới hành chính. Đa số những phần tử này, nhất là trong các thị trấn tỉnh lỵ, xuất thân từ các tầng lớp trung lưu thấp – tầng lớp mà người Mác-xit gọi là ‘tiểu-tư sản’: nhân viên giữ sổ sách, phụ tá cửa hàng và thư ký quèn; buôn bán cầm chừng và thợ thủ công; nhân viên hợp tác xã; kỹ sư và nhân viên nhà máy; và tất cả những ai đã từng làm kỹ thuật viên hay chuyên gia trong các zemstvo và cơ quan thị xã. Về phần công nhân, giai cấp trên đó chế độ được thành lập, họ chỉ đại diện một tỉ lệ rất nhỏ những người bước vào bộ máy hành chính: chắc chắn không hơn 10 phần trăm (dựa trên số người cổ áo xanh trước năm 1917). Thậm chí trong việc quản lý các ngành kỹ nghệ công nhân chiếm không đến một phần ba viên chức. Có lý để kết luận hầu hết những giai tầng trung lưu thấp phấn khởi đến với chế độ Xô-Viết vì lý tưởng cách mạng thì ít mà vì lương bổng tương đối cao và giờ làm việc ngắn trong ngành hành chính thì nhiều. Chắc chắn đó là một triển vọng hấp dẫn hơn cái đói lạnh chực chờ những người tư sản lớn tuổi chọn con đường bất hợp tác với Bôn-se-vich. Một ngày điển hình của một viên chức Xô-Viết là ‘tám chuyện’ trong các hành lang, hút thuốc và uống cà phê, hoặc đứng xếp hàng để lãnh khẩu phần đặc biệt chỉ dành cho thành phần Xô-Viết ưu tú.

Ở vùng quê ảnh hưởng của chế độ Xô-Viết xâm nhập còn sâu hơn thời sa hoàng. Vào thời nội chiến đa số các ban điều hành Xô-Viết ở cấp làng đã chuyển từ các cơ quan dân chủ của cuộc cách mạng nông dân sang cơ quan hành chính lo thu thuế cho nhà nước. Trong vùng Volga, nơi tiến trình này được khảo sát, 71 phần trăm ban điều hành Xô-Viết làng xã ít nhất có một thành viên Bôn-se-vich vào mùa thu 1919, so sánh với chỉ 38 phần trăm trong mùa xuân trước. Hai phần ba các thành viên điều hành được đăng kí là người Bôn-se-vich. Điều này cho chế độ một chỗ bám trong ban điều hành Xô-Viết, ít nhiều kiểm soát được việc trưng thu và bắt lính. Không còn kiểm soát được Xô-Viết, nông dân rút về làng xã, tập kết quanh các công xã của mình và quay lưng với các Xô-Viết làng. Mối xung đột càng lớn mạnh giữa giới nông dân và nhà nước đảng trị được giao tranh trên cùng một chiến tuyến – giữa làng xã và Xô-Viết – cũng như mối xung đột trước đây giữa giới nông dân và giới quí tộc.

Chia khóa cho tiến trình xây dựng nhà nước này của người Bôn-se-vich là sự hậu thuẫn của tầng lớp nông dân trẻ có học đã rời bỏ làng quê trong chiến tranh. Oskin là một ví dụ điển hình. Trong vùng Volga 60 phần trăm thành viên ban điều hành Xô-Viết làng có tuổi từ 18 đến 35 (so sánh với 31 phần trăm cử tri đoàn) và 66 phần trăm có học (số sánh với 41 phần trăm). Đây là thời đại đã hưởng lợi từ cuộc bùng nổ trường học ở nông thôn vào đầu thế kỷ và đã được động viên trong chiến tranh. Năm 1918 họ đã trở về làng quê, vừa được rèn luyện kỹ năng quân sự và làm quen với hai ý thức hệ của thế giới đô thị, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa vô thần. Nông dân thường xem họ là những lãnh tụ đương nhiên trong cuộc cách mạng ruộng đất. Những lão nông cũ, như Maliutin ở Andreevskoe, thường ít học nên không đảm đương được các nhiệm vụ quản trị phức tạp khi mà giờ đây giới quí tộc và trí thức không còn ở đó để hướng dẫn họ. Đối với nhiều binh sĩ nông dân này, với khát vọng càng tăng lên khi xa quê, triển vọng được làm việc trong các Xô-Viết là một cơ hội để thăng tiến. Sau khi rời quân ngũ viễn cảnh phải trở về thế giới ‘tăm tối’ nơi quê nhà với công việc làm nông nặng nhọc nhàm chán thật là nản lòng. Bằng cách làm việc trong các Xô-Viết và gia nhập đảng họ có thể thăng hoa uy thế và quyền hành. Họ có thể kiếm được một việc làm văn phòng sạch sẽ, với triển vọng và đặc quyền, và một giấy thông hành bước vào một chốn văn minh đô thị của chế độ Xô-Viết.

 

* * *

Nông dân là thành phần đa số tràn vào đảng. Từ 1917 đến 1920, có 1.4 triệu người gia nhập đảng Bôn-se-vich – và hai phần ba số này xuất thân từ giới nông dân. Các chức vụ hành chính cao cấp luôn giao cho các đảng viên, bất kể chuyên môn và tay nghề.

Các lãnh đạo Bôn-se-vich khuyến khích việc gia nhập tập thể những đảng viên mới. Với việc mất mát liên tục do nội chiến, luôn có nhu cầu thêm nhiều cỏ khô cho đảng. Những Tuần Đảng Đặc Biệt được tổ chức định kỳ, khi những yêu cầu thông thường để được giới thiệu vào đảng tạm treo lại và những cán bộ được gởi đến các nhà máy và làng mạc để cổ vũ ghi tên vào đảng càng đông càng tốt. Tuần  Đảng Tháng 10 1919, tại đỉnh cao cuộc tiến công của phe Trắng, số thành viên đông hơn gấp đôi sỉ số của đảng với 270,000 đảng viên mới làm đơn xin gia nhập.

Nhưng người Bôn-se-vich cũng lo lắng số lượng chiêu mộ quá đông không xem xét kỹ có thể làm giảm chất lượng của đảng. Tính bá quyền của giai cấp công nhân trong đảng – mặc dù thực sự luôn là hư cấu vì hầu hết lãnh đạo đều xuất thân từ trí thức – giờ hình như bị giới nông dân đe doạ. Sự tràn vào hàng loạt của những đảng viên tầng lớp thấp này cũng làm giảm mức độ học vấn, một trở ngại lớn cho mục tiêu làm chủ công cuộc quản trị nhà nước. Vào năm 1920 có không tới 8 phần trăm đảng viên có học vấn đến cấp hai; 62 phần trăm chỉ có trình độ tiểu học; trong khi 30 phần trăm còn lại chưa qua trường lớp nào cả. Chính mức độ hiểu biết thấp kém như thế trong tập thể những viên chức địa phương khiến cho bất kỳ mẫu giấy nào có đóng dấu thật lớn, thật nhiều , đều có thể gây ấn tượng với họ đó là một văn thư nhà nước. Một người Anh đi du lịch khắp nước Nga không có  giấy thông hành nào khác hơn là một hóa đơn may đồ ở phố Jermyn mà y ấn vào mặt các viên chức địa phương. Với tiêu đề bằng kiểu chữ ấn tượng trên hóa đơn, dấu triện to đỏ chói và chữ ký, không viên chức nào dám cật vấn.

Về trình độ chính trị của hàng ngũ đảng viên, cũng chỉ là sơ đẳng. Một cuộc khảo sát trong các công nhân nữ ở Petrograd đã gia nhập đảng trong thời nội chiến cho thấy hầu hết chưa từng nghe hoặc hiểu những từ như ‘chủ nghĩa xã hội’ hoặc ‘chính trị’ trước năm 1917. Đảng bộ Moscow thành lập năm 1920 mà nhiều đảng viên còn không biết Kamenev là ai (Chủ tịch Xô-Viết Moscow). Những sự dốt nát như thế không chỉ giới hạn trong các Bôn-se-vich tầng lớp thấp. Tại một trường huấn luyện cho các nhà báo Bôn-se-vich không ai trong lớp có thể cho biết  Lloyd George hoặc Clemenceau (Thủ tướng Anh và Pháp thời kỳ đó:ND) là ai. Một số còn cho rằng chủ nghĩa đế quốc là một nước cộng hòa nào đó ở Anh.

Vậy mà trên một bình diện quan trọng chính sự thiếu hiểu biết những điều tinh tế là một trong những sức mạnh vĩ đại nhất của đảng. Cho dù các viên chức trong hàng ngũ đảng có lạm dụng cỡ nào, đặc tính độc đáo của họ trong mắt người dân bình thường là việc họ nói cùng một loại ngôn ngữ đơn giản như họ, là việc họ ăn mặc và xử sự giống hệt họ, tóm lại là việc họ là ‘người của phe ta’. Điều này tạo cho người Bôn-se-vich một nét hấp dẫn mang tính biểu tượng, một nét hấp dẫn mà cơ quan tuyên truyền của họ không ngừng khai thác, như ‘một chính quyền của nhân dân’, cho dù ngay từ đầu họ đã đi ngược với điều này. Đối với nhiều người thuộc tầng lớp thấp kém sự thân thiết có tính biểu tượng này đủ cho họ đồng nhất được chính mình với chế độ  Bôn-se-vich, thậm chí cho dù họ nghĩ nó xấu xa, vẫn hậu thuẫn nó chống Bạch Vệ (vốn không phải ‘người phe ta’) khi chúng đe đọa đột kích.

Không nghi ngờ gì nhiều người Bôn-se-vich địa phương này thực lòng cống hiến cho lý tưởng cách mạng: sự tinh tế chính trị và sự trung thực ít có tương quan trong chính trị, như bất cứ ai trong những nền dân chủ tiên tiến đều phải hiểu. Nhưng nhiều người khác đã gia nhập đảng vì những lợi thế mà nó có thể mang lại. Các lãnh đạo Bôn-se-vich liên tục cảnh báo về những mối nguy hiểm của ‘những phần tử tư lợi, tham quyền cố vị tiểu tư sản’ làm thối nát hàng ngũ đảng. Họ đặc biệt bực bội khi biết được rằng một phần tư những đảng viên thời nội chiến giữ những chức vụ chính thức cao cấp đã bỏ một đảng khác để gia nhập Bôn-se-vich, hầu hết là đảng SR và Men-se-vich. Tính phản cách mạng dường như đang xâm nhập đảng. Trotsky gọi những tên xâm nhập này là ‘củ cải’ – đỏ vỏ trắng lòng.

Thực ra, các lãnh đạo Bôn-se-vich không nắm được thực sự những gì đang xảy ra cho đảng của họ. Họ giải thích việc số đảng viên lớn mạnh bằng hạn mức giai cấp trong khi tình hình thực tế phức tạp hơn nhiều. Tập thể hàng ngũ không phải nông dân hay công nhân, mà là những đứa con của một cuộc khủng hoảng xã hội sâu sắc đã phá vỡ sự phân chia gọn gàng như thế. Đảng viên Bôn-se-vich nam điển hình trong những năm này vừa là cựu nông dân vừa là cựu công nhân. Y chắc hẳn đã bỏ làng ra đi khi còn trẻ trong thời kỳ bùng nổ kỹ nghệ của thập niên 1890, lang thang từ hãng này đến xưởng khác để tìm kiếm việc làm, rồi dính vào phong trào công nhân, trải qua nhiều nhà tù khác nhau, đánh nhau trong chiến tranh, rồi trở về các thành phố phía bắc, chỉ để phân tán khắp vùng quê, trong và sau năm 1917. Y là một nhân vật không nguồn cội, không giai cấp – như cách mạng, một sản phẩm của thời đại mình.

Về nhiều mặt người Bôn-se-vich mới ngoan ngoãn hơn nhiều so với người Bôn-se-vich cũ. Đó là do họ thiếu học thức. Trong khi họ có khả năng phun ra như máy một ít cụm từ Mác-xit, họ không đủ trình độ để suy nghĩ độc lập cho chính mình hoặc cật vấn lãnh đạo đảng về những vấn đề chính sách trừu tượng. Sự tuân phục không thắc mắc, mà người Bôn-se-vich gọi là ‘kỷ luật’ và ‘kiên định’, được coi trọng hơn lương tri cá nhân. Một đồng chí tốt làm những gì được ra lệnh; y yên tâm để việc suy tính quan trọng cho Ủy ban Trung ương.

Và vậy mà, dù ngoan ngoãn về mặt chính trị, tập thể hàng ngũ của Đảng Bôn-se-vich không hẳn là dễ chế ngự. Một phần đó là vấn đề bè phái tham nhũng đã hoành hành tỉnh ủy. Ở Nizhnyi Novgorod, chẳng hạn, mọi việc đều được mafia địa phương gồm các viên chức Bôn-se-vich cấu kết với chợ đen. Họ thách thức mệnh lệnh của Moscow và suốt nhiều tháng đã phá hoại những nỗ lực của đặc vụ, một chàng Anastas Mikoyan, do Văn phòng Tổ chức Đảng phái xuống để áp đặt quyền kiểm soát. Nhưng ở một mức độ nào đó toàn bộ bộ máy đảng đã phát triển như một hệ thống khách hàng với nhiều lãnh đạo ở cấp độ quốc gia kiểm soát mạng lưới bao che riêng của họ ở các tỉnh lỵ hoặc trong những bộ ngành của nhà nước. Lunacharsky lắp đầy Ủy ban Khai sáng với bạn bè và bộ hạ của mình. Ngay cả Lênin cũng ban vài chức vụ trong Sovnarkom (nội các) cho bạn bè thân nhất và người thân:

 Bonch-Bruevich và Fotieva, cả hai là bạn bè thân tín từ ngày ở Geneva, được cử làm bí thư; Krupskaya, vợ Lênin, được bổ nhiệm Phó Dân ủy (Thứ trưởng) Giáo dục; Anna Ul’ianova, em gái Lênin, được cử đặc trách phúc lợi thiếu nhi; trong khi chồng bà, Mark Elizarov, là Dân Uỷ Đường sắt. Nhưng trong số tất cả những người bao che đảng, Stalin đến giờ vẫn là người quyền lực nhất. Qua vai trò trùm  Văn phòng Tổ chức Đảng ông không ngừng cắt cứ những bô hạ thân tín của mình vào những vị trí chóp bu ở tỉnh. Hiệu quả của những bố trí này là đảng ắt sẽ biến thành một tập hợp lỏng lẻo những vương triều cai trị, mỗi vương triều tự tổ chức những ‘gia tộc’  riêng, phân rã thành những phe nhóm lợi ích riêng.

Lênin không hiểu được bản chất vấn đề hành chính của đảng ông. Ông không thể thấy là bộ máy cai trị của Bôn-se-vich sẽ nhanh chóng trở thành một giai cấp xã hội khác biệt với những đặc quyền riêng xa lạ với lợi ích của quần chúng lao động mà nó tuyên bố đại diện. Ông ta đối phó các lạm dụng của bộ máy cai trị bằng những biện pháp hành chính, như thể một vài điều chỉnh kỹ thuật vụn vặt đủ sức giải quyết căn cơ vấn đề, trong khi những gì cần thiết, ở mức độ ít nhất, là một cải cách triệt để toàn bộ hệ thống chính trị. Hầu hết các biện pháp của ông đều tỏ ra phản tác dụng.

Đầu tiên, ông cố ngăn chặn nạn cấu kết bè phái địa phương tham nhũng bằng cách ra lệnh cho Văn phòng Tổ chức Đảng luân phiên chuyển các cán bộ hàng đầu của đảng từ vị trí này đến vị trí khác. Nhưng việc này chỉ làm gia tăng cách biệt giữa các lãnh đạo và hàng ngũ và do đó làm yếu đi trách nhiệm của người tiền nhiệm. Nó cũng làm gia tăng sự bảo che của Stalin với tư cách người đứng đầu Văn phòng Tổ chức Đảng.

Rồi Lênin ra lệnh những cuộc thanh trừng định kỳ để nhổ sạch những phần tử biển chất bám vào đảng. Cuộc thanh trừng đầu tiên được tiến hành vào mùa hè 1918: nó cắt giảm phân nửa số đảng viên từ 300,000 còn 150,000. Trong mùa xuân 1919 một cuộc thanh trừng lớn thứ hai được cơ cấu giảm số đảng viên đến 46 phần trăm. Và một lần nữa, vào mùa hè 1920, 30 phần trăm số đảng viên bị thanh lọc ra khỏi đảng. Phần đông những cuộc thanh trừng là nhằm loại những nông dân và người phi Nga, được coi là mắc xích yếu nhất về mặt xã hội. Sự kêu gọi đảng viên thường xuyên đến Mặt trận cũng là một hình thức thanh lọc vì nó thúc đẩy những đảng viên kém cỏi nhất xé bỏ thẻ đảng. Hiệu quả của tất cả những vụ thanh trừng này là làm mất ổn định hàng ngũ đảng (chỉ có 30 phần trăm những người vào đảng giữa 1917 và 1920 là còn ở lại vào năm 1922) và điều này ắt hẳn khó cổ vũ lòng trung thành.

Cuối cùng Lênin ra lệnh thường xuyên thanh tra guồng máy. Việc này làm nhớ lại những vụ thanh tra đều đặn trong thời sa hoàng mà Gogol đã chế giễu trong truyện Thanh Tra Nhà Nước. Ủy ban Thanh tra Nhân dân  hiểu dưới tên Rabkrin được thành lập vào tháng 2 1920 vì mục đích này với Stalin đứng đầu. Nó phối hợp hai chức năng của thanh tra nhà nước và kiểm tra công nhân vốn trước đây được giao cho các bộ phận riêng biệt. Ý của Lênin là để chống thói quan liêu và tăng cường hiệu năng qua việc xét lại thường xuyên tất cả những định chế nhà nước bằng các ban thanh tra gồm các công nhân và nông dân. Bằng cách này, ông nghĩ nhà nước có thể lãnh trách nhiệm một cách dân chủ hơn. Nhưng kết quả thi ngược lại. Rabkrin chẳng bao lâu biến thành một con quái vật hành chính (và một căn cứ địa bao che lớn mạnh của Stalin) với ước tính có khoảng 100,000 viên chức, đa số là công nhân cổ áo trắng vào cuối năm 1920. Thay vì giúp để cắt giảm bộ máy hành chính, nó càng làm nó phình to ra.

* * *

‘Anh sống sao đây? – đó không phải là câu chuyện thú vịt,’ Gorki viết cho Ekaterina vào tháng 2 1919. ‘Chỉ những Ủy viên là sống cuộc sống thú vị những ngày này. Họ ăn cắp nhiều như có thể từ người dân thường để bao cho các nhân tình và trả cho các thứ xa xí không có tính xã hội chủ nghĩa của họ.’ Gorky không phải là người duy nhất bất mãn cay cú những đặc quyền của thành phần Cộng sản tinh hoa. Những giai thoại trong quần chúng và những tranh tường chế giễu người Bôn-se-vich là những tư sản Nga thực sự ngược với bọn tư sản đã ra ma trong tuyên truyền của họ. ‘ Tất cả bọn gà đi đâu cả rồi?’, ‘Tại sao không còn xúc xích? – có hàng trăm biến thể của câu đố nhưng câu trả lời chỉ có một: ‘Người Cộng sản xơi cả rồi.’ Cái từ ‘đồng chí’, có thời là cách xưng hô của niềm tự hào tập thể, giờ trở thành một hình thức lăng mạ. Một phụ nữ, khi được gọi là ‘đồng chí’ trên chuyến xe điện, đã trả lời: ‘Đồng chí này là thế nào! Có mà mang “đồng chi” của cậu xuống địa ngục đi!’ Các viên chức cao cấp bị dội bom bằng những lời phàn nàn là những người Cộng sản sống bám vào lưng dân thường’. Công nhân khắp nơi lên án những quí tộc Đỏ mới. Một nhà máy ở Perm kiến nghị ‘tất cả áo da và mũ lưỡi trai của các ủy viên nên được sử dụng để may giày cho công nhân’.

Nhà Brusilov có một lý do đặc biệt để bất mãn. Họ bị cưỡng bách phải chia sẻ căn hộ nhỏ của mình ở Moscow cho một ủy viên nào đó với bà mẹ và cô bồ của hắn. Người này trước kia là lính mà vị tướng đã có lần cứu khỏi tội tử hình tại Mặt trận. Brusilov mô tả tình trạng một cách sống động:

Thô lỗ, xấc xược và luôn say xỉn, với một thân hình đầy sẹo, y giờ tất nhiên là một nhân vật quan trọng, cận kề Lênin v. . . Giờ tôi tự hỏi tại sao mình lại cứu con người này! Căn hộ của chúng tôi, từng sạch sẽ và ngăn nắp trước khi y đến, bây giờ thì lộn xộn với những chầu nhậu và ẩu đả, trộm cắp và nói tục. Thỉnh thoảng y bỏ đi một vài ngày rồi trở về với một túi thực phẩm, rượu vang và trái cây. Chúng tôi thực sự chết đói nhưng họ thì có bột, bơ, và bất cứ thứ gì họ muốn. Điều chúng tôi bất mãn nhất là chúng tích trữ dầu. Đó là mùa đông lạnh giá của năm 1920, khi các hạt băng bám vào tường phòng khách. Các lò sưởi dầu đã ngưng hoạt động từ lâu và chúng tôi sắp chết cóng. Còn họ có một lò sưởi sắt lớn và nhiều dầu mặc sức mà xài.

Những lời phàn nàn về cấp tinh hoa Bôn-se-vich cũng được lan truyền trong nội bộ đảng. Trong hàng ngũ cấp dưới người ta có cảm giác là giới lãnh đạo đang trở nên quá xa cách hàng ngũ. Nhiều lời kích bác này được bày tỏ bởi nhóm Tập trung Dân chủ và Công nhân Phản kháng, hai phe phái lớn làm rung chuyển giới lãnh đạo đảng trong năm 1920-21 (xem các trang sau). Như một đảng viên kỳ cựu ở Tula viết cho Lênin vào tháng 7 1919: ‘Chúng ta đã tự cắt đứt mình khỏi quần chúng và không còn lôi kéo họ dễ như trước được. Tinh thần đồng chí ngày xưa đã chết hoàn toàn. Giờ nó được thay thế bởi sự cai trị mới chỉ bằng một người trong đó ông trùm đảng điều hành tất cả. Nạn nhận hối lộ đã trở nên phổ biến: không có nó các đồng chí Cộng sản chúng ta đơn giản là không sống được.’ Viết cho Trotsky tháng 5 sau, Yoffe bày tỏ cùng nỗi sợ về sự biến chất của đảng:

Có một sự bất bình đẳng khủng khiếp và lợi ích vật chất của đảng viên tuỳ vào vị trí của y trong đảng; anh phải công nhận tình thế này thật nguy hiểm. Tôi luôn nghe nói, chẳng hạn, trước vụ thanh trừng cuối cùng những người Bôn-se-vich Lớn Tuổi sợ chết khiếp sẽ bị đá ra ngoài chủ yếu vì sợ mất quyền được cư ngụ trong Khách sạn National và những đặc quyền liên quan khác. Tinh thần đảng ngày xưa, tinh thần hi sinh cách mạng và  tình đồng chí keo sơn đã biến mất! Tuổi trẻ ngày nay được nuôi dưỡng trong những điều kiện mới này: đó là điều làm người ta sợ nhất cho Đảng và Cách Mạng của chúng ta. ‘

 

iii Một Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa

Ở tuổi 66, trong khi hầu hết những người đàn ông đang lên kế hoạch chơi đùa với con cháu, thì Brusilov lại muốn thay đổi mạnh mẽ cuộc đời binh nghiệp của mình khi tình nguyện phục vụ trong Hồng Quân. Đó không phải là việc đào ngũ bình thường khỏi hàng ngũ các tướng lĩnh sa hoàng. Brusilov là quân nhân nổi tiếng nhất của Nga, người hùng duy nhất của Thế Chiến I, và là biểu tượng sống cuối cùng của một quá khứ thượng lưu vàng son. Tin tức về việc ông được bổ nhiệm vào tháng 5 1920 tại một Hội nghị Đặc biệt của Hội đồng Quân sự Cách mạng đến như một cú sốc thô bạo đối với bất kì ai còn hoài niệm về những ngày trước 1917. ‘Brusilov đã phản bội nước Nga,’ một cựu đại tá viết. ‘Làm sao ông ta có thể thích bảo vệ bọn Bôn-se-vich và Do Thái hơn tổ quốc của ông ta chứ?’ vợ của một cựu sĩ quan Phòng Vệ nói thêm. Những tin đồn lan truyền cho rằng Brusilov đã nhận một số tiền hối lộ kết sù (hai triệu rúp, một căn hộ ở Kremlin) cho việc phục vụ phe Đỏ. Vị tướng nhận được hàng đống thư hằn học. Làm sao, một người hỏi, một quí tộc như ông lại có thể chịu phục vụ cho bọn Đỏ tại một thời điểm mà ‘nhà tù Cheka chứa đầy những sĩ quan Nga’? Việc này ‘không gì khác hơn là một hành động phản bội’. Tất cả những điều này đè nặng lên lương tâm của Brusilov.* ‘Đó là thời khắc nghiệt ngã nhất trong cuộc đời tôi,’ ông viết năm năm sau đó. ‘Suốt thời gian đó nhà cửa lạnh tanh. Người thân phải đi rón rén và trao đổi thì thầm. Vợ và em gái tôi nước mắt lưng tròng. Như thể họ thương tiếc cho quá khứ của mình.’

* Brusilov cố đưa ra điều kiện mình phục vụ cho phe Đỏ là phóng thích các sĩ quan. Trotsky đồng ý là bản thân sẽ làm những gì có thể nhưng nhìn nhận rằng mình ‘không hòa thuận với Cheka và rằng

Dzerzhinsky thậm chí có thể bắt giam mình’. Sau đó Brusilov lập ra một văn phòng đặc biệt kêu gọi phóng thích các sĩ quan – và kết quả những nỗ lực này là có vài trăm sĩ quan được phóng thích.

Việc đầu quân sang phe Đỏ của Brusilov là một tình huống đặt xứ sở lên trên giai cấp. Ông có mọi lý do để căm thù người Bôn-se-vich, và thường gọi họ là bọn Anarchist. Họ không chỉ giam cầm ông mà cũng thực sự giết chết đứa em trai bệnh hoạn của ông và bắt vài người bạn thân nhất trong vụ Khủng Bố Đỏ. Vậy mà Brusilov từ chối theo Bạch Vệ. Hai vết thương – vết thương ở chân và vết thương ở lòng tự hào khi đối thủ cũ Kornilov của ông được Bạch Vệ nịnh hót – đã ngăn ông đi đến vùng Don. Ông vẫn còn tin rằng bổn phận mình là ở lại Nga, đứng bên nhân dân cho dù họ có chọn phe Đỏ. Chủ nghĩa Bôn-se-vich, theo quan điểm của vị tướng già, ắt phải ‘là một chứng bệnh tạm thời’ vì ‘triết lý về chủ nghĩa quốc tế của nó’ về cơ bản là xa lạ với nhân dân Nga’. Bằng cách hợp tác với người Bôn-se-vich, những người yêu nước như ông có thể định hướng cách mạng về cứu cánh quốc gia. Theo ông thấy, đó là vấn đề pha trộn Đỏ với Trắng – ‘biến Sao Đỏ thành Thập tự Trắng’ – và do đó hòa hợp cách mạng với những nối tiếp của lịch sử Nga. ‘Ý thức nghĩa vụ đối với quốc gia của tôi đã thường bắt tôi không được tuân thủ những khuynh hướng xã hội tự nhiên của mình,’ Brusilov nói vào năm 1918. Là một quí tộc thượng lưu ông hiển nhiên có cảm tình với Bạch Vệ và phấn khởi khi quân đội của họ tiến về Moscow, nhưng ông luôn nghĩ rằng chính nghĩa của họ bị tì vết vì phụ thuộc vào sự can thiệp của Đồng minh và chắc chắn thảm bại. Số phận của nước Nga, dù tốt hơn hay xấu hơn, phải được quyết định bởi nhân dân mình.

Trong năm qua có hai việc đã xảy ra củng cố thêm sự quyết tâm của ông. Một là việc con trai duy nhất của ông bị Bạch Vệ giết chết. Anh là chỉ huy một đoàn Hồng Kỵ binh bị Bạch Vệ bắt trong trận đánh Orel vào tháng 9 1919. Không ai biết chắc chắn Alexei chết ra sao nhưng Brusilov tin rằng anh đã bị hành hình theo lệnh của Denikin khi phe Trắng phát hiện anh là ai. Denikin được cho là rất khinh bỉ Brusilov vì đã giám sát ‘sự hủy diệt của quân đội’ trong năm 1917. Việc Alexei chỉ tham gia phe Đỏ với hi vọng thuyết phục Cheka tha chết cho cha mình đã để lại cho Brusilov sự hối tiếc khôn nguôi. Ông cho vì mình mà Alexei phải chết và quyết tâm sẽ trả thù. Máu thịt, chứ không phải giai cấp, đã làm ông hóa Đỏ.

Chủ nghĩa dân tộc Nga cũng làm thế. Việc Ba Lan xâm lược vùng Ukraine là một nhân tố quyết định khác đứng đằng sau việc Brusilov quay sang phe Đỏ. Bị chia phần trong thế kỷ 18, Ba Lan đã sống dưới bóng đen của ba đế chế lớn vùng Đông Âu (Cuối thế kỷ 18, đất nước Ba Lan biến mất và bị xâu xé ba phần chia cho ba đế chế Nga, Phổ và Áo. Sau Thế Chiến I, đất nước Ba Lan được phục hồi:ND).  Nhưng bất ngờ với Hiệp ước Versailles sau Thế Chiến I nó bỗng thấy mình được bảo đảm độc lập và được các cường quốc Tây phương chiến thắng cho thêm nhiều lãnh thổ mới làm vùng độn giữa Đức và Nga. Thật khó hiểu khi một quốc gia mới đây là nạn nhân giờ lại xử sự như một quốc gia xâm lấn; ngay khi được độc lập Ba Lan bắt đầu nhảy cỡn lên với các toan tính đế quốc cho mình. Thống chế Pilsudski, người đứng đầu nhà nước và quân đội Ba Lan, đã huyênh hoang về việc phục hồi ‘Ba Lan lịch sử’ có thời trải dài từ vùng Baltic đến Biển Đen. Ông hứa sẽ lấy lại vùng đất biên giới phía đông – vùng Lithuania được những nhà ái quốc Ba Lan của thế kỷ 19 quá đỗi thân thương – đã xáp nhập vào Nga trong thời chia phần. Đây là những vùng pha trộn sắc tộc – các thành phố Ba Lan và Do Thái như Lvov, các điền chủ trước đây người Ba Lan và nông dân Ukraine và Belorussia – mà cả Ba Lan và Nga đều giành làm chủ. Khi người Đức rút quân khỏi miền đông, binh sĩ của Pilsudski tiến vào vùng đất biên giới. Pilsudski chỉ huy chiếm lấy Wilno vào tháng 4 1919. Trong mùa hè người Ba Lan tiếp tục tiến vào Belorussia và tây Ukraine, đánh chiếm Minsk và Lvov. Cuộc chiến dừng lại trong mùa đông khi Ba Lan và Nga đôi co nhau về vấn đề biên giới. Nhưng những thương thảo này sụp đổ vào mùa xuân 1920, khi Ba Lan mở cuộc tiến công mới. Được tiếp tế mạnh mẽ bởi Đồng minh, và đã ký một hiệp ước với Petliura, Pilsudski dẫn một đạo quân phối hợp giữa người Ba Lan và người quốc gia Ukraine tiến như vũ bão về Kiev, khi đó được những người Bôn-se-vich bám giữ rất kiên cường. Đó là một nước bài tuyệt vọng nhằm biến Ukraine thành một nhà nước vệ tinh của Ba Lan. Cội nguồn của cuộc phiêu lưu này đi ngược trở lại mùa đông trước, khi Petliura, bị quân Đỏ đuổi ra khỏi Ukraine, đã dừng quân ở Warsaw và ký một thỏa ước với Pilsudski. Theo thỏa ước này lực lượng dân tộc Ukraine của Petliura sẽ hỗ trợ người Ba Lan tái xâm chiếm Ukraine và, một khi họ được tái cơ cấu quyền lực ở Kiev, sẽ nhượng cho Ba Lan vùng tây Ukraine. Đây chính là một Brest-Litovsk của Ba Lan. Quân Ba Lan tiến nhanh về hướng Kiev, trong khi phe Đỏ, cũng đang đối mặt với Bạch Vệ ở phía nam, vỡ trận chạy tán loạn. Ngày 6/5 Ba Lan chiếm được Kiev mà không gặp nhiều kháng cự. Không giống một vụ xâm lược mà giống một cuộc diễu binh hơn. Dân cư Kiev nhìn những người cai trị mới diễn hành vào thành phố với sự dửng dưng lộ liễu. Phải vậy thôi, kể từ năm 1917 đây là lần thứ 11 mà Kiev bị chiếm đóng – và không phải là lần cuối cùng. *

*  12 lần thay đổi chế độ ở Kiev diễn ra như sau: (1) 3/3 đến 9/11/1917: Chính quyền Lâm thời; (2) 9/11/1917 đến 9/2/1918: Cộng Hòa Quốc Gia Ukraine (UNR); (3) 9 đến 29/2/1918: Cộng Hòa Xô-Viết Ukraine Thứ Nhất; (4) 1/3/1918: quân đội UNR chiếm đóng; (5) ⅔ đến 12/12/1918: quân Đức chiếm đóng; (6) 14/12/1918 đến 4/2/1919: Hội Đồng UNR; (7) 5/2 đến 29/8/1919: Cộng Hòa Xô-Viết Ukraine Thứ Hai; (8) 30/8/1919: chiếm đóng bởi lực lượng của Hội đồng UNR: (9) 31/8 đến 15/12/1919: Bạch Vệ chiếm đóng; (10) 15/12/1919 đến 5/5/1920: Cộng Hòa Xô-Viết Ukraine Thứ Ba; (11) 6/5 đến 11/6/1920: Ba Lan chiếm đóng;(12) 2/6/1920: Cộng Hòa Xô-Viết Ukraine cuối cùng.

 

Với những người yêu nước Nga như Brusilov việc người Ba Lan chiếm được Kiev là một thảm họa quốc gia. Đó không chỉ là mất một thành phố mà mất một nơi sinh quán của nền văn minh Nga. Không thể tưởng tượng được Ukraine – ‘Nga Nhỏ’ – không thể theo thứ gì khác ngoài Chính thống giáo. Các tổ tiên của Brusilov trong thế kỷ 18 đã hi sinh tính mạng mình để bảo vệ Ukraine chống lại bọn Ba Lan, và kết quả là dòng họ Brusilov đã được cấp sổ lượng lớn đất đai ở đó. Đã trải qua chiến tranh và hàng triệu sinh mạng Nga để bảo vệ vùng tây Ukraine khỏi tay bọn Áo, Brusilov thề không thể để nó sang tay người Ba Lan mà không chiến đấu. Ông nghĩ là ‘Wrangel không thể tha thứ được nếu tấn công Nga vào lúc này’, và thậm chí còn hơn thế, rõ ràng là họ trù hoạch tấn công đồng thời với người Ba Lan. Phe Trắng đang đặt quyền lợi giai cấp mình lên trên quyền lợi của Đế chế Nga – một điều mà Brusilov đã từ chối làm. Vào ngày ⅕ ông viết cho N. I. Rattel, một Thiếu tướng trong quân đội hoàng gia và hiện giờ là Tham mưu trưởng của Trotsky, muốn ra giúp sức phe Đỏ chống lại quân Ba Lan. ‘Đối với tôi’, ông viết, ‘dường như điều quan trọng nhất là phát động một ý thức ái quốc trong quần chúng.’ Cuộc chiến chống Ba Lan, theo quan điểm ông, chỉ có thể thắng dưới lá cờ Nga’, vì chỉ có điều này mới đoàn kết được toàn thể nhân dân Nga:

Chủ nghĩa Cộng sản hoàn toàn không thể hiểu được đối với hàng triệu nông dân ít học và không chắc họ sẽ chiến đấu vì nó. Nếu Cơ đốc giáo không thể đoàn kết nhân dân trong hai ngàn năm, làm sao chủ nghĩa Cộng sản có thể hi vọng làm được điều đó khi hầu hết chưa từng nghe nói đến nó cách đây ba năm? Chỉ có ý thức về nước Nga mới có thể làm được điều này. 

Trotsky ngay lập tức thấy việc có Brusilov vào phe Đỏ là một cơ hội tuyên truyền tuyệt vời. Ngay hôm sau ông thông báo việc bổ nhiệm tướng quân với tư cách là Chủ tịch Hội nghị Đặc biệt chỉ huy Mặt trận phía Tây. * Xuất hiện trên mặt báo Pravda ngày 7/5, thông báo là một điển hình của giọng điệu bài ngoại cao độ của ngôn từ Bôn-se-vich. Nó kêu gọi mọi người yêu nước hãy gia nhập quân đội và ‘bảo vệ Tổ quốc’ khỏi ‘bọn xâm lược Ba Lan’, ‘đang ra sức xé nát khỏi chúng ta những phần  lãnh thổ từ lâu đã thuộc về người Nga.’ Trotsky tuyên bố người Ba Lan bị xúi giục bởi ‘lòng căm thù nước Nga và người Nga’.

*  Ngoài Brusilov hội nghị còn có hai người bạn thân nhất của ông trong quân đội sa hoàng tham dự, Tướng Klembovsky và Zaionchkovsky, cũng như đồng minh già của ông, Polivanov, cựu Bộ trưởng Chiến tranh.

 

Người Bôn-se-vich sửng sốt trước mức độ thành công của công tác tuyên truyền ái quốc của mình. Trong một vài tuần sau khi bổ nhiệm Brusilov, 14,000 sĩ quan đã gia nhập Hồng Quân, hàng ngàn người dân tình nguyện lao động cho chiến trường, và hơn 100,000 đào binh đã quay lại hàng ngũ ở Mặt trận phía Tây. Nhiều cuộc biểu tình yêu nước rầm rộ với các hình nhân Pilsudski và Curzon bị đốt cháy. ‘Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ,’ Zinoviev thổ lộ, ‘nước Nga có quá nhiều người yêu nước đến thế.’

Đúng là những động lực ái quốc thúc đẩy Brusilov tham gia phe Đỏ cũng được nhiều người từ chế độ cũ chia sẻ. Chủ nghĩa Bôn-se-vich Dân tộc, như niềm tin của họ sau này được gọi, thúc giục giới trí thức ái quốc tập kết sau lưng nhà nước Xô-Viết, giờ họ đã thắng cuộc nội chiến vì sự phục sinh Đại Nga. Theo một nghĩa nào đó, Chủ nghĩa Bôn-se-vich Dân tộc là kẻ chiến thắng thực sự cuộc nội chiến. ‘Chúng ta thua nhưng lại thắng,’ Shulgin cánh Hữu viết vào năm 1920. ‘Người Bôn-se-vich đánh bại chúng ta nhưng  họ giơ cao ngọn cờ của một nước Nga đoàn kết.’ Đó không chỉ là vấn đề của phe Hữu, những người bảo hoàng cũng có mặt trong số những người đầu tiên tập kết quanh ngọn cờ Đỏ của Đại Nga. Đối với phe Tả, cũng vậy, đó là một bước ngắn từ việc tôn thờ ‘nhân dân’ và sức mạnh hủy diệt của nó đến việc chấp nhận chế độ Bôn-se-vich như là kết quả của ‘cuộc cách mạng dân tộc’ đó và phương tiện duy nhất để phục sinh nước Nga. Đó là lô-gic khiến nhiều người xã hội chủ nghĩa gia nhập Bôn-se-vich sau nội chiến.

Sự bùng phát chủ nghĩa yêu nước này không nghi ngờ gì đã góp phần ảnh hưởng đến quyết định của người Bôn-se-vich quay từ cuộc chiến phòng vệ sang cuộc chiến tấn công. Đã đánh đuổi quân Ba Lan khỏi Kiev, vào giữa tháng 7 phe Đỏ vượt qua Đường Curzon – nơi Đồng minh vạch đường biên giới Ba Lan-Nga – và tiếp tục tiến lên về thủ đô Warsaw của Ba Lan. Vì đây không phải là lần cuối cùng Hồng Quân vượt qua biên giới Nga vào Âu châu – họ sẽ làm lần nữa vào 1945 – nó quan trọng để tìm ra những động lực của người Bôn-se-vich trong cuộc phản công chống Ba Lan này. Một số sử gia, như Norman Davies và  Richard Pipes, đã đặt cược tiếng tăm học thuật của mình trên lập luận rằng, nếu Warsaw thất thủ trước Hồng Quân, Lênin ắt đã ra lệnh dấn tới đến Berlin để chuẩn bị một cuộc tấn công toàn diện vào Tây Âu.

Đúng, như Pipes và Davies đã lập luận, là người Bôn-se-vich nhìn cuộc xâm lấn Ba Lan như một chất xúc tác cho cách mạng không chỉ ở Ba Lan mà còn khắp châu Âu. Theo chân Hồng Quân đến Warsaw là Ủy ban Cách mạng Ba Lan Lâm thời do Dzerzhinsky cầm đầu, sẽ giao quyền lực cho những người cộng sản một khi họ đến được thủ đô Ba Lan. Đó là đỉnh cao của tinh thần lạc quan Bôn-se-vich trong việc xuất khẩu chủ nghĩa Cộng sản. Kỳ vọng của họ lên cao khi bùng phát cuộc Nổi dậy kiểu Spartacus ở Berlin và các Cộng Hòa Xô-Viết non yểu ở Hung và Bavaria trong năm 1919. Vào mùa xuân đó, khi Comintern (Cộng Sản Quốc Tế) được thành lập, Zinoviev đã dự đoán rằng ‘chỉ trong một năm toàn thế châu Âu sẽ thành Cộng sản’. Có thời, ông sau đó thú nhận, khi ‘chúng tôi đã nghĩ chỉ vài ngày hay thậm chí vài giờ còn lại trước khi bùng phát cuộc cách mạng không tránh khỏi’. Vào mùa hè 1920 Comintern đã truyền bá ảnh hưởng của mình sang khắp các thủ đô châu Âu. Hiếm có tháng nào trôi qua mà không có một phái đoàn những nhà xã hội chủ nghĩa Tây phương nào đó đến Nga để quan sát và báo cáo lại về Cuộc Thực Nghiệm Vĩ Đại. Moscow biến thành một ngôi làng Potemkin (ngôi làng kiểu mẫu có tính cách tuyên truyền) rộng lớn, với những nhóm công nhân hạnh phúc và những tiệc chiêu đãi cho những khách tham quan nước ngoài ngây thơ, để họ trở về nước không tiếc lời ca tụng. Đại hội Comintern Lần Hai, họp tại Moscow tại đỉnh cao cuộc tiến quân về hướng Warsaw, mục tiêu là thành lập Đảng Cộng sản Âu châu dưới sự lãnh đạo của Moscow. Tâm trạng của Đại hội rất hồ hởi. Mỗi ngày các phái đoàn theo dõi cuộc tiến quân của Hồng Quân trên một bản đồ lớn treo trên tường phòng Đại hội. Lênin, người đã khăng khăng phải xâm chiếm Ba Lan chống lại lời khuyên của Trotsky lẫn Stalin, tin rằng cuộc cách mạng Âu châu chỉ ở góc đường. Theo quan điểm Mác-Xít giáo điều của ông, mỗi quốc gia khác đều nên đi đến Tháng Mười của họ là điều không sao tránh khỏi.

Nhưng từ điều tự nguyện này đến việc Lênin muốn áp đặt cách mạng của mình vào các nước phương Tây bàng lưỡi lê là điều xa vời. Nếu thực lực của Hồng Quân là có thể chiếm Berlin hoặc thậm chí Budapest Lênin có thể đã ra lệnh làm điều đó. Nhưng người Bôn-se-vich đau đớn nhận ra quân đội nông dân của mình, và nền kinh tế kiệt quệ của mình, không thể thực hiện một cuộc tấn công mùa đông, nhất là trên chiến trường nước ngoài. Đó là lý do tại sao họ nhanh chóng làm hòa với Ba Lan trong mùa thu 1920, cho dù họ phải mất một chỗ đứng lãnh thổ Galicia mà, theo lời Lênin, có thể ‘mở ra một con đường thẳng cách mạng. . . đến Tiệp và Hung’.

Những bài học về thất bại của phe Đỏ ở Ba Lan thật khó nuốt đối với người Bôn-se-vich. Chắc chắn đó là những sai lầm về mặt quân sự. Quân đoàn phía Tây của Tukhachevsky đã vội vã tiến về hướng Warsaw trước, đánh giá thấp quyết tâm bảo vệ thủ đô của người Ba Lan. Họ cắt đứt  quân đoàn ông khỏi đường tiếp tế. Quân đoàn Tây-Nam không thể hậu thuẫn họ, tiếp tục tiến sâu vào theo hướng ngược lại về hướng Lvov, mà Stalin dường như định đánh chiếm với bất cứ giá nào. Kết quả là sườn phía nam của Tukhachevsky bị hở, cho phép Pilsudski mở cuộc phản công và đuổi quân Đỏ trở lại đất Nga, ở đó, những đợt tuyết đầu tiên đã rơi vào tháng 10, Mặt trận phải giữ ổn định. Nhưng căn nguyên của thảm bại là về mặt chính trị: các công nhân Ba Lan đã không đứng lên để hậu thuẫn Hồng Quân xâm lược, mà ngược lại, đã tập kết sau lưng Pilsudski. Chủ nghĩa dân tộc cho thấy mình là một lực lượng hùng mạnh hơn chủ nghĩa Cộng sản Quốc tế. Chẳng bao lâu Lênin nhận ra sai lầm của mình. ‘Ba Lan chưa sẵn sàng cho một cách mạng xã hội chủ nghĩa,’ ông bảo tại Hội nghị Đảng vào tháng 9. ‘Chúng ta đương đầu với một cuộc nổi dậy dân tộc từ những phần tử tiểu tư sản * khi cuộc tiến công của chúng ta vào Warsaw làm họ sợ cho sự sống còn của dân tộc mình.’ Lênin nhận ra rằng điều tương tự cũng đúng cho phần còn lại của châu Âu. Cố áp đặt chủ nghĩa Cộng sản từ bên ngoài chỉ có tác dụng biến những người hậu thuẫn tiềm năng thành người theo chủ nghĩa dân tộc.

* Ý ông các công nhân và nông dân chưa đủ tiến bộ để lãnh hội chủ nghĩa Bôn-se-vich.

 

Thất bại ở Ba Lan cuối cùng khiến người Bôn-se-vich từ bỏ hoang tưởng về một cuộc cách mạng Âu châu. Hiệp ước Riga, ký với Ba Lan vào tháng ba 1921, đánh dấu khởi đầu của một thời kỳ mới cùng tồn tại hòa bình giữa Nga và phương Tây. Moscow công nhận một Ba Lan mở rộng – và theo Hiệp ước Versailles – phải nhượng phần lớn lãnh thổ Belorussia. Thương mại nối lại với Anh trong cùng tháng. Không ai ở phương Tây xem mối đe doạ xâm lược Xô-Viết là nghiêm trọng nữa. Thảm họa Ba Lan rõ ràng chứng tỏ rằng quân đội nông dân Nga không đủ mạnh để duy trì một cuộc tiến công chống lại thậm chí một cường quốc Tây phương nhỏ hơn. Bài học cho người Bôn-se-vich là rõ ràng: cơ hội tốt nhất để xuất khẩu chủ nghĩa Cộng sản của họ nằm về phương Đông.

Chiến lược Á châu đầu tiên đã được Trotsky đề xuất trong một ghi nhớ bí mật viết ngay từ tháng 8 1919:

Không nghi ngờ gì nữa Hồng Quân của chúng ta chỉ là lực lượng hùng mạnh không thể so sánh được trên lãnh thổ Á châu của nền chính trị thế giới hơn là trên lãnh thổ Âu châu. Đây đó mở ra trước mắt chúng ta một khả năng vững chắc vừa chờ đợi thời cơ lâu dài ở châu Âu, vừa điều khiển hoạt động trong miền đất Á châu. Con đường đến Ấn Độ có thể cho thấy tại một thời điểm cho trước  chúng ta sẽ sẵn sàng bước đi và đi ngắn hơn con đường đến nước Hung Xô-Viết. . . Còn đường đến Paris và London phải đi qua các thị trấn của Afghanistan, Punjab và Bengal.

Vào mùa hè 1920 một chính sách kép đã thành hình: vận động cách mạng ở phương Đông kết hợp với hậu thuẫn cho các phong trào giải phóng dân tộc, cho dù có bản chất ‘tư sản’, chống lại chủ nghĩa đế quốc Tây Âu. Trong khi giảng hòa với  người Anh ở phương Tây, người Bôn-se-vich theo đuổi cuộc chiến không tuyên bố chống họ ở phương Đông. Họ ủng hộ những cuộc nổi dậy của người Afghanistan và lật đổ các vùng bảo hộ Anh ở bắc Ba Tư. Thậm chí có chứng cứ cho thấy Lênin tính thành lập một quân đội gồm các bộ lạc vùng Trung Á để xâm nhập Ấn Độ qua ngõ Afghanistan.

Đại hội các Dân tộc phương Đông, họp ở Baku vào tháng 9 1920, là nỗ lực đầu tiên để truyền bá chủ nghĩa Cộng sản vào châu Á. Nó cũng là nỗ lực cuối cùng. Chắc chắn không khí hỗn loạn của thềm Đại hội có liên quan đến điều này. Với 1,900 đại biểu từ hơn một chục nước xa tận Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản, phải mất biết bao công sức để dịch những bài diễn văn ra tất cả ngôn ngữ. Một số đại biểu có lý lịch đáng ngờ: có những vị khan bek hóa ra là những thương gia núp bóng và trốn họp để đi bán thảm tại các chợ ở Baku. Ngoài các đại biểu, Đại hội nhận được hàng trăm thư ủng hộ từ các thị trấn và làng mạc khắp châu Á. Một bức thư cho biết đã giết hiến tế một trăm con trừu và gia súc để chào mừng việc giải phóng nhân dân, và yêu cầu nhờ Đại hội giúp phương tiện vận chuyển đến Baku. Các đại biểu ăn mặc y phục dân tộc và diễu hành qua Baku. Các hình nhân của Lloyd George, Millerand và Wilson, mặc quần áo tù nhân và bị phóng hỏa. Các diễn giả tuyên bố lòng căm thù sâu sắc với chủ nghĩa đế quốc Anh; trong khi Zinoviev, phủi qua một bên Ba Lan, tuyên bố rằng ‘cách mạng thực sự chỉ bùng lên khi chúng ta được tiếp tay bởi 800 triệu dân châu Á.’ Nếu xét ảnh hưởng của nó đối với châu Á, Đại hội gần như không có tác dụng gì.

* * *

Brusilov vui mừng trước việc thiết lập Đế chế Nga, cho dù dưới Sao Đỏ chứ không phải Thập Giá. Sau cuộc chiến với Ba Lan giờ phe Đỏ đang hướng sự chú ý của mình sang Bạch Vệ ở Crimea. Brusilov nổi giận việc Wrangel tấn công Nga trong khi họ giao chiến với Ba Lan. Theo quan điểm ông, điều đó chứng tỏ Bạch Vệ sẵn sàng phản bội Nga vì những cứu cánh chính trị hẹp hòi của mình. Chủ nghĩa yêu nước là động lực chính của Brusilov để đứng về phe Đỏ chống lại những kẻ bảo vệ cuối cùng của nước Nga cũ. Nó hẳn đã dấy lên những cảm xúc kỳ lạ; vì Brusilov đang tiếp tay phá hủy giai cấp của mình.

Lẽ ra Bạch Vệ nên dừng chân trên bán đảo Crimea ngoạn mục này. Đây là vùng nghỉ dưỡng của Nga, với những rặng cọ và bách tùng, các vườn nho và núi non, đã từng là sân chơi cho các quí tộc thượng lưu, có dinh thự mùa hè xếp hàng dọc bờ biển phía nam. Giờ, vào mùa hè 1920, nó là mảnh đất cuối cùng trên đất Nga mà phe Đỏ chưa chiếm. Nó là nơi nghỉ dưỡng cuối cùng của những ông hoàng bà chúa, các tướng lĩnh và thống đốc và  giám mục, các địa chủ không điền trang, các chính khách không chức vụ, các luật sư không việc làm và các nghệ sĩ không sân khấu. Giới tư sản không còn nơi nào khác để chạy trốn.

Đứng đầu chính nghĩa rách bươm này là Hầu tước Peter Wrangel, một nhà quí tộc quân sự chế độ cũ, đã vươn lên qua lực lượng Cận Vệ Hoàng Gia ưu tú. Không giống Denikin võ biền, Wrangel biết rõ nhu cầu tiến hành nội chiến vừa bằng phương tiện chính trị cũng như quân sự. ‘Không phải chỉ nhờ một cuộc hành quân thắng lợi từ Crimea đến Moscow mà nước Nga sẽ được giải phóng,’ ông bảo trong một cuộc họp báo vào tháng 4, ‘nhưng phải bằng việc tạo ra – trên một vùng đất Nga dù nhỏ thể nào – một chính quyền như thế với những điều kiện sống như thế để nhân dân Nga giờ đang rên siết dưới ách Đỏ sẽ đồng loạt đứng lên về theo chính nghĩa này.’ Bạch Vệ, Wrangel biết rõ, không thể nắm được quyền lực chừng nào họ được xem là đang chiến đấu cho sự phục hồi chế độ cũ. Họ phải cam kết hậu thuẫn cho việc cải cách triệt để, tranh thủ sự hậu thuẫn của giới nông dân, công nhân và dân tộc thiểu số. Wrangel gọi nó là ‘tạo ra những chính sách thiên tả bằng cánh tay thiên hữu.

Thoạt đầu, Wrangel đã bác bỏ ý định tấn công. Người Anh từ chối hậu thuẫn một cuộc tấn công và bản thân ông cũng muốn củng cố căn cứ địa trên bán đảo hơn. Nhưng với việc Ba Lan tấn công Nga, Wrangel thấy đây là cơ hội của mình. Vào ngày 6/6 ông đổ bộ bằng thuyền lên bờ biển Azov và trong một ít ngày sau đưa thêm bộ binh sâu hơn về phía bắc vào vùng Tauride. Việc này tạo ra một đầu cầu vào nội địa, được một lãnh thổ lớn gấp hai lãnh thổ của Wrangel và có được nguồn tài nguyên nông nghiệp cần thiết cho dân số đang phình to của Crimea. Trong tháng 8 và 9 Wrangel cố tiến sâu về hướng bắc, vào vùng Don và Kuban. Nhưng lực lượng của ông, vừa được tuyển mộ vội vã từ các nông dân Tauride, nhanh chóng tan rã (đang là mùa thu hoạch) và binh đoàn Cô-dắc tốn nhiều công sức săn bắt bọn đào ngũ. Vào tháng 10, với cuộc chiến Ba Lan hoàn tất, phe Đỏ quay về thanh toán Wrangel. Vào ngày 20 họ mở cuộc phản công: chỉ mất 6 ngày 130,000 Hồng Quân đã đuổi 35,000 Bạch Vệ trở lại Crimea. Các phe đảng của Makhno dẫn đầu cuộc giao tranh và gây cho mũi tấn công của phe Đỏ tổn thất nặng nề. Trotsky hứa tưởng thưởng cho họ bằng lệnh truy bắt và hành quyết.

Bạch Vệ cầm cự cuộc tiến công của Hồng Quân vào Crimea, xây dựng công sự tại Perekop Isthmus, trong khi chuẩn bị di tản. Không ai còn có ảo tưởng là họ có thể giữ vững lâu và thật ra mọi người có liên quan đến chính quyền Trắng đều muốn lên tàu Đồng minh. Người ta hoảng loạn tranh mua ngoại tệ: vào ngày 28/10, 600,000 rúp mua được 1 bảng Anh ở Sevastopol; vào 1/11 giá tăng đến 1 triệu rúp; và ngày 10, khi cuộc di tản bắt đầu, giá là 4 đến 5 triệu. Xét về số lượng khổng lồ người muốn ra đi, việc di tản là hình mẫu của một công tác tổ chức hoàn hảo. Không có tình trạng hoảng loạn và mất trật tự như trong lần di tản lực lượng Denikin khỏi Kuban vào tháng ba. Binh sĩ rút lui trong trật tự, cầm chân quân Đỏ đủ lâu để gần 150,000 người tị nạn leo lên hạm đội Anh, Pháp và các tàu Nga mang họ đến Constantinople. Wrangel trong số những người cuối cùng lên tàu vào ngày 14/11. Tàu mang ông đi thích hợp được gọi tên Tướng Kornilov: người đã khởi đầu phong trào Bạch Vệ mang đi nhà chỉ huy cuối cùng vào chốn lưu vong.

Đối với Brusilov cuộc thảm bại của phe Trắng có một kết thúc bi thảm. Không lâu trước cuộc di tản ông đã được Skliansky, Phó Ủy viên Quân vụ của Trotsky, tiếp cận. Ông ta cho biết một số lớn sĩ quan của Wrangel không muốn rời bỏ nước Nga và có thể thuyết phục để quay sang phe Đỏ nếu Brusilov đưa ra tuyên bố sẽ ân xá họ. Skliansky sẽ giao ông chỉ huy một quân đoàn Crimea mới gồm những tàn tích lực lượng Wrangel. Brusilov bị hấp dẫn trước ý tưởng một quân đội thuần Nga gồm những sĩ quan yêu nước. Điều này khiến ông có thể Nga hoá thành phần tinh hoa của Hồng Quân, như ông vẫn hằng ao ước, và cứu mạng nhiều sĩ quan. Ông đồng ý đề xuất của Skliansky và chuẩn bị đến Crimea. Ba ngày sau ông được cho hay là  kế hoạch đó đã bị hủy bỏ: các sĩ quan của Wrangel, Skliansky bảo ông, không tỏ ra có thiện chí muốn quay đầu gì hết. Sau này Brusilov tìm ra là điều này là không thực. Trong cuộc di tản cuối cùng ở Sevastopol phe Đỏ đã phân phát – đúng ra là thả xuống từ phi cơ – hàng ngàn tờ rơi với lời ân xá và chữ ký của Brusilov. Hàng trăm sĩ quan tin lời đã ở lại và đầu hàng phe Đỏ. Tất cả bọn họ đều bị xử tử.

Năm năm sau Brusilov còn thấy khó sống với lương tâm trĩu nặng. Năm 1925 ông viết những lời này trong hồi ký của mình (chưa được in ra):

Xin Chúa Trời và nước Nga  xét xử tôi. Sự thật là tôi không biết – làm sao tôi có thể nhận tội mình đã gây ra trò tàn bạo này, nếu như thực sự nó đã xảy ra? Tôi chưa hề điều tra xem nó có thực sự xảy ra theo như được kể lại: chuyện này đúng đến mức nào? Tôi chỉ biết rằng đây là lần đầu tiên trong đời tôi đã gặp một điều ác và lừa đảo kinh tởm như thế và tôi rơi vào một tâm trạng phiền não không sao chịu được đến nỗi, tôi xin thề, bất kỳ ai trong hoàn cảnh này, cũng thấy thà bị bắn còn dễ chịu hơn nhiều.

 Nếu tôi không phải là một tín đồ ngoan đạo, tôi có thể đơn giản tự tử. Nhưng niềm tin rằng mỗi cá nhân đều có trách nhiệm cho những hậu quả của những tội lỗi mình gây ra vô tình hay hữu ý đã ngăn cản tôi làm việc đó. Trong cơn bão tố cách mạng, trong cuộc hỗn loạn đảo điên, tôi không thể lúc nào cũng hành động hợp lý, hay dự đoán được mọi ngóc ngách của số phận: có thể tôi đã phạm nhiều sai lầm, và tôi phải nhìn nhận. Nhưng tôi có thể nói với một lương tâm trong sáng, trước Chúa Trời, là tôi chưa hề nghĩ đến lợi ích riêng tư, hoặc an toàn cho bản thân, mà chỉ nghĩ cho Tổ Quốc mình.

 Chín tháng sau, vị Tướng già qua đời.


 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s