Loạn Bát Vương cuối thời nhà Tấn

loan bat vuogn

Minh Hoàng Phúc

Dịch từ: Serious Trivia

I: TƯ MÃ VIÊM VÀ NHÀ TẤN.

Loạn Bát Vương là một giai đoạn trong lịch sử Trung Hoa xảy ra vào cuối thời nhà Tấn, còn được gọi là Bát Vương Chi Loạn (八王之亂), tức loạn do 8 vị Vương khác nhau. Từ “Vương” (王) ở đây tức là “Vua,” nhưng chỉ cai quản một vùng và vẫn phải phục vụ cho “Đế” (帝) tức “Hoàng đế.” Thời kỳ loạn lạc này diễn ra trong 16 năm kể từ năm 291 đến năm 306 sau Công nguyên, tức hơn 100 năm sau khi thời loạn Tam Quốc bắt đầu.

Để hiểu rõ về giai đoạn này, chúng ta trước tiên phải nói đến việc nhà Tấn thành lập như thế nào, và người sáng lập ra triều đại này, Tư Mã Viêm (司馬炎), cha của 2 trong số 8 vị Vương tham gia Loạn. Vậy Tư Mã Viêm là ai? Nếu mọi người đã quen thuộc với thời Tam Quốc thì không thể không biết tới Tư Mã Ý (司馬懿), Tư Mã Viêm là cháu ruột của của Tư Mã Ý.

Có một số ngộ nhận nhiều người mắc phải là nghĩ Tư Mã Ý là người cướp ngôi nhà Nguỵ và xưng làm Hoàng đế, tuy nhiên, mặc dù sống đến năm 73 tuổi, Tư Mã Ý vẫn dành cả đời của mình để phục vụ dưới trướng Tào Nguỵ, ông có mở một cuộc đảo chính 2 năm trước khi mất, nhưng mục đích là để tự vệ và chỉ giết được nhiếp chính Tào Sảng (曹爽) chứ không ảnh hưởng đến Hoàng đế Tào Phương (曹芳).

Tuy sau khi ông qua đời, hai con là Tư Mã Sư (司馬師) và Tư Mã Chiêu (司馬昭) tiếp tục mở rộng quyền lực chính trị và quân sự của họ Tư Mã nhằm mục đích cướp ngôi nhà Nguỵ từ họ Tào. Nhưng phải tận đến khi Tư Mã Chiêu mất, thì con cả của ông là Tư Mã Viêm mới tiến hành lật đổ Hoàng đế Tào Hoán (曹奐) lúc đó mới 19 tuổi và thành lập nhà Tấn.

Năm 265 là một năm quan trọng đối với họ Tư Mã, khi Tư Mã Chiêu qua đời và gia tộc phải chọn ra người kế vị làm Tấn Vương. Theo truyền thống và văn hoá của Trung Hoa, người kế vị sẽ là con cả trong gia đình, khi con cả đã mất trước đó, thì người con thứ lớn nhất lên thay, trong trường hợp hy hữu không có người con nào thì ngôi vị sẽ được truyền cho em trai. Như mọi người thấy trong hình dưới (thật ra là tóm gọn thôi, phả hệ thật của nhà Tư Mã rối hơn nhiều), Tư Mã Sư là con cả của Tư Mã Ý, khi Tư Mã Ý mất thì Tư Mã Sư là người lên thay.

Nhưng tuy nhiên, Tư Mã Sư lại không có con trai, ông và vợ là Hạ Hầu Huy (夏侯徽), có tận 5 người con nhưng đều là nữ, thấy vấn đề này, Tư Mã Sư xin Tư Mã Chiêu cho ông một người con trai làm con nuôi để nối ngôi. Tư Mã Chiêu đồng ý và cho anh trai nhận nuôi người con thứ 2 của mình là Tư Mã Du (司馬攸), có nghĩa Tư Mã Du thật tế chính là em trai của Tư Mã Viêm. Một điều thú vị khác là mẹ của Tư Mã Viêm và Tư Mã Du là Vương Nguyên Cơ (王元姬) cháu ruột của Tư đồ Vương Lãng (王朗) ( ông trong Tam Quốc Diễn Nghĩa bị Gia Cát Lượng (諸葛亮) chửi chết).

Sau khi Tư Mã Sư mất sớm ở tuổi 48, họ Tư Mã quyết định trao chức Tấn Vương cho Tư Mã Chiêu, vì Tư Mã Du lúc đó chỉ mới 8 tuổi, và Tư Mã Chiêu cũng hứa sẽ nhường ngôi Tấn Vương cho Tư Mã Du sau khi ông mất, vì dù sao Tư Mã Du cũng là con ruột của ông.Nhưng như đã nói, 10 năm sau vào năm 265, Tư Mã Chiêu qua đời lúc 55 tuổi và lại trao quyền kế vị cho con cả là Tư Mã Viêm, người vào cùng năm đó mở cuộc đảo chính lật đổ nhà Tào.

Phần này của câu chuyện vô cùng quan trọng, bởi đây chính là mở đầu cho cuộc mâu thuẫn nội bộ trong gia tộc Tư Mã, và dần dẫn đến cuộc nội chiến sau này gọi là Loạn Bát Vương.Có rất nhiều lý do giải thích việc tại sao Tư Mã Chiêu lại thất hứa và trao ngôi vị lại cho Tư Mã Viêm.

Thứ nhất, sau nhiều năm mở rộng ảnh hưởng, họ Tư Mã đã trở thành gia tộc quyền lực nhất trong nhà Nguỵ và đã đến lúc giành ngôi Đế, nếu chúng ta so sánh hai người con này lúc Tư Mã Chiêu mất, cả hai đều là những lãnh đạo giỏi, tuy Tư Mã Du lúc đó 18 tuổi và chứng tỏ mình là một nho sĩ cai trị tốt nhưng ông không có kinh nghiệm chỉ huy quân đội, còn Tư Mã Viêm lúc đó đã 30 tuổi và lại một tướng quân chỉ huy rất tốt, chúng ta phải nhớ rằng vào thời bấy giờ Đông Ngô vẫn còn tồn tại và thời kỳ Tam Quốc vẫn chưa kết thúc, nên gia tộc lúc đó cần phải có người con lớn tuổi và có kinh nghiệm quân sự hơn dẫn dắt.

Ngoài ra, Tư Mã Chiêu cũng có thể còn có một số lý do tư hơn, biết rằng họ Tư Mã sau này giành ngôi Đế, nếu Tư Mã Du lên làm Hoàng đế thì sẽ truy hiệu cho cha nuôi mình là Tư Mã Sư làm Thái Tổ (太祖), còn Tư Mã Chiêu sẽ bị sử sách coi như một vị Vương bình thường và bị quên lãng. Một điều ông lo lắng khác là nếu Tư Mã Du được lập làm Hoàng đế thì người anh trai Tư Mã Viêm lớn hơn 12 tuổi chắc chắn sẽ không muốn cuối đầu trước em trai cùng cha mẹ và có thể dẫn đến nội chiến.

Vì vậy Tư Mã Viêm lên thay, cùng năm đó ông lật đổ nhà Nguỵ như Tào Phi (曹丕) từng làm với nhà Hán và lên ngôi làm Tấn Vũ Đế. Làm Hoàng đế, Tư Mã Viêm đưa ra rất nhiều quyết định, nhưng trong số đó quan trọng nhất là chia Trung Hoa làm nhiều khu vực và sử dụng lại chế độ phong kiến của nhà Hán, sau đó trao tước “Vương” cho hơn 30 thành viên tộc Tư Mã để cai quản các vùng, nhằm mục đích gia tăng quyền lực cho họ Tư Mã và đảm bảo không một ngoại thích nào có thể cướp ngôi Đế như Tào Phi và chính ông đã làm.

Biết được có một cuộc nội chiến sắp tới, chúng ta có thể nghĩ Tư Mã Viêm đã đưa ra một quyết định ngu ngốc, nhưng nếu đặt mình vào hoàn cảnh của ông, chúng ta có thể thấy là ông đang học hỏi từ lịch sử tiền nhân. Nếu nhìn lại lịch sử, chúng ta có thể thấy nhà Tần sau khi thống nhất Trung Hoa thời Chiến Quốc, đã bãi bỏ chế độ phong kiến và thay vào đó với bộ máy chính quyền tập trung, quan liêu và chia đất nước ra làm nhiều quận cho dễ quản lý. Nhưng mô hình chính quyền tập trung đó thất bại, và nhà Tần chỉ tồn tại 15 năm. Nhà Hán sau đó vẫn chia đất nước thành nhiều quận như nhà Tần, nhưng lập lại chế độ phong kiến và đưa đất cho các thành viên gia tộc Lưu cũng như các quý tộc khác quản lý, mặc dù suy vong vào đầu thời Tam Quốc, nhà Hán đã tồn tại 400 năm và đây được coi là thể chế thành công nhất cho đến hiện tại.

Tiếp theo là triều đại mà Tư Mã Viêm quen thuộc nhất: nhà Nguỵ. Tào Phi, con trai của Tào Tháo (曹操), cũng là Hoàng đế đầu tiên của nhà Nguỵ, cũng bắt chước mô hình chính phủ giống nhà Hán, nhưng lại không muốn đưa các thành viên gia tộc mình lên nắm giữ nhiều quyền lực, bởi sau khi Tào Tháo mất, Tào Phi nắm rất ít binh quyền, đa phần là do họ hàng của mình nắm giữ như Tào Chân (曹真) Tào Hồng (曹洪), Tào Nhân (曹仁), Hạ Hầu Đôn (夏侯惇),… Tào Phi do muốn nắm binh quyền mà họ hàng mình không muốn trao trả nên phải nhờ cậy ngoại thích như Tư Mã Ý làm giảm quyền lực của chú, bác mình, kết quả ra sao thì ai cũng biết rồi, Tào Phi chết sớm ở tuổi 39, để lại những hậu duệ nhỏ tuổi và không có ai trong gia tộc có quyền lực để ngăn được dòng họ Tư Mã cướp ngôi, và nhà Tào Nguỵ chỉ tồn tại được 46 năm.

Như vậy Tư Mã Viêm muốn học được từ tất cả những sai lầm này và quyết định làm theo chế độ nhà Hán, với một số thay đổi nhỏ để phù hợp với hoàn cảnh thời bấy giờ, dưới chế độ nhà Hán, mặc dù các quý tộc họ Lưu được phong đất để cai trị, họ không được quyền xây dựng quân đội. Tuy nhiên, nhà Tấn lúc này vẫn còn trong chiến tranh giai đoạn Tam Quốc, ông cần phải cho các quý tộc Tư Mã này có quân đội riêng để bảo vệ vùng đất họ cai trị và hỗ trợ Hoàng đế khi cần.

Việc này khá hợp lý vào thời điểm đó, nhưng chúng ta sẽ nhanh chóng thấy, đây cũng là một trong những nguyên nhân mở ra thời Loạn Bát Vương, khi mà các thành viên trong dòng họ Tư Mã này đem quân ra giết lẫn nhau.Một sự kiện khác cũng quan trọng đối với nhà Tấn xảy ra vào năm 279, khi nhà Ngô cuối cùng cũng đầu hàng trước nhà Tấn, và thiên hạ tan lâu phải hợp, thời kỳ Tam Quốc đã đi đến hồi kết.

Sự kiện này để lại rất nhiều ảnh hưởng, nhưng có 2 ảnh hưởng quan trọng nhất đối với thời Loạn Bát Vương. Thứ nhất là do cuộc chiến đã kết thúc, không có lý do gì tiếp tục để lại một đội quân lớn như vậy cả, vì vậy Tư Mã Viêm quyết định cho giải thể hầu hết quân đội TRỪ các đội quân địa phương của các Vương họ Tư Mã, nghĩ rằng nếu phần lớn binh quyền khắp nơi đều thuộc về dòng họ Tư Mã thì không ngoại thích nào có thể cướp ngôi cả, vì đã từng có rất nhiều cuộc nổi loạn do các tướng quân trung thành với nhà Tào nổ ra sau khi Tư Mã Viêm cướp ngôi.

Tuy nhiên, bước đi này đã làm suy yếu chính quyền trung ương khi đa phần quân đội của chính quyền bị giải giáp, nhưng trong thời bình, không ai để ý đến việc đó cả.Vấn đề thứ 2 là sau khi đã thống nhất đất nước xong, Trung Hoa đã được thái bình, bắt đầu hồi phục sau chiến tranh, nền kinh tế phát triển và của cải ngày càng tăng. Nhưng chính quyền mới bắt đầu trở nên tham nhũng, vơ vét của cải, dẫn đầu bởi chính Tư Mã Viêm, người ban đầu là một Hoàng đế tài giỏi và anh minh, giờ lại chỉ biết đắm mình trong tửu sắc và cung nữ.

Với hơn 10,000 phi tần trong hậu cung, Tấn Vũ Đế không biết nên ngủ với ai nên đành dùng dê để kéo xe đi khắp chốn hậu cung, nếu xe dừng ở đâu, Hoàng đế sẽ ngủ với cung nữ ở đấy. Vì vậy các cung nữ đều thi nhau để cành dâu trước cửa để dẫn dụ dê kéo Hoàng đế tới chỗ mình. Tham nhũng lan rộng xa khỏi kinh thành, khi mà các quý tộc giờ có sở thích đem tài sản của mình ra khoe với các quý tộc khác xem ai giàu hơn, có người tiêu hơn 1 vạn tiền cho mỗi bữa cơm chỉ để chứng tỏ sự giàu có của mình. Khi ông lâm bệnh sắp qua đời, những người con của ông còn quyết định tăng lên 2 vạn tiền mỗi bữa.Với mức độ tham nhũng và hoang phí như vậy, khiến cho vương triều nhà Tấn suy yếu, nhưng không phải là nguyên nhân trực tiếp mở đầu cho Loạn Bát Vương, để biết về việc đó, quay trở lại với phần 2 khi chúng ta nói về vấn đề đặt Thái tử (太子) và Hoàng đế thiểu năng trí tuệ Tư Mã Trung (司馬衷)

loan bat vuong

2: HOÀNG ĐẾ THIỂU NĂNG TƯ MÃ TRUNG.

94142449_508566429804098_5185790899564576768_n

Trong phần trước, chúng ta đã tập trung nói về sự lớn mạnh của gia tộc Tư Mã và việc Tư Mã Viêm (司馬炎) thống nhất Trung Hoa và thành lập nhà Tấn như thế nào. Trong phần này, chúng ta sẽ chuyển hướng sang nói về con của ông, Thái tử Tư Mã Trung (司馬衷), người bị thiểu năng trí tuệ nhẹ và không phù hợp để cai trị đất nước.

Tư Mã Trung là con thứ 2 của Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm và Hoàng hậu Dương Diễm (楊艷), con cả của hai người là Tư Mã Quỹ (司馬軌) không may mất khi chỉ mới 2 tuổi, do đó Tư Mã Trung trở thành người con lớn nhất trong gia đình.

Không lâu sau khi Tư Mã Viêm lên làm Hoàng đế vào năm 265, ông phải đứng trước lựa chọn xem ai sẽ là Thái tử nối ngôi, và chính quyết định của ông đã gián tiếp khiến nhà Tấn sụp đổ. Vì Tư Mã Trung là người con lớn nhất của Tư Mã Viêm, theo lẽ tự nhiên thì ông sẽ là người nối dõi. Nhưng có một số vấn đề không hề nhỏ, Tư Mã Trung lúc đó đã lớn tuổi nhưng vẫn ngờ nghệch, có lần nghe tin dân bị đói, không có gạo ăn, ông hỏi lại: “Dân không có gạo ăn, sao không ăn thịt?”

Có thể mọi người thắc mắc tại sao Tư Mã Trung như vậy mà lại được chọn làm Thái tử và sau đó làm Hoàng đế? Làm sao Tư Mã Viêm với khả năng thống nhất Trung Hoa thời Tam Quốc không biết con mình bị thiểu năng được? Nếu biết như thế thì tại sao nhất định phải chọn Tư Mã Trung, chắc chắn còn rất nhiều người con khác của ông với 10,000 phi tần để chọn mà? Nhưng Tư Mã Trung có rất nhiều tác nhân giúp ông được làm Thái tử, và lần này chúng ta sẽ dành cả một phần chỉ để nói về các nhân tố đó:

Thứ nhất là chú mình tức Tư Mã Du (司馬攸), nếu các bạn còn nhớ trong phần 1 thì Tư Mã Du chính là em trai cùng cha mẹ của Tư Mã Viêm, con trai của Tư Mã Chiêu (司馬昭), sau này được bác mình là Tư Mã Sư (司馬師) nhận nuôi để nối dõi. Nhưng do Tư Mã Sư mất lúc Tư Mã Du còn quá nhỏ, Tư Mã Chiêu đã lên thay và hứa sau khi ông mất sẽ truyền ngôi Tấn Vương cho Tư Mã Du, nhưng do một số lý do đã nói rõ trong phần 1, Tư Mã Chiêu đã đổi ý và truyền ngôi lại cho con cả là Tư Mã Viêm, người cùng năm làm đảo chính soán ngôi họ Tào lập ra nhà Tấn.

Như vậy nếu bạn là Tư Mã Du, bạn sẽ cảm thấy bị lừa, nhưng nếu bạn là Tư Mã Viêm, bạn sẽ cảm thấy bị đe doạ. Đối với Tư Mã Viêm mà nói, Tư Mã Du chính là mối nguy hại nhất cho ngai vàng của mình, bởi lời hứa của Tư Mã Chiêu giúp Tư Mã Du có cớ để cướp ngôi. Vì vậy Tư Mã Viêm đã cố gắng ngăn chặn việc này bằng cách theo truyền thống và phong con cả Tư Mã Trung làm Thái tử. Bởi nếu Tư Mã Viêm phá vỡ truyền thống và đưa con thứ lên nối dõi, thì sau khi ông mất triều đình chắc chắn sẽ tranh cãi về quyết định này, mở đường cho em trai Tư Mã Du vốn được Tư Mã Chiêu hứa nhường ngôi cho lên làm Hoàng đế. Như vậy dù không có ý giúp đỡ Tư Mã Trung, Tư Mã Du đã gián tiếp đẩy Tư Mã Viêm chọn Tư Mã Trung làm Thái tử.

Người thứ hai là mẹ mình tức Hoàng hậu Dương Diễm, khá hợp lý khi bà tìm mọi cách để đưa con mình lên làm Thái tử, ngoài tình cảm mẹ con ra, Dương Diễm đồng thời có nguy cơ mất rất nhiều quyền lực nếu Tư Mã Trung không được nối ngôi. Bởi nếu Tư Mã Trung lên làm Hoàng đế, bà sẽ được làm Hoàng thái hậu, còn nếu không thì bà sẽ từ Hoàng hậu xuống chỉ còn 1 trong số 10,000 phụ nữ chốn hậu cung. May mắn cho bà là Hoàng đế Tư Mã Viêm rất sủng ái và coi trọng ý kiến của bà.

Dương Diễm vốn là thành viên họ nhà Dương, một gia tộc đầy quyền lực từ thời nhà Hán, được gọi là Tứ thế Tam công (四世三公), tức cả bốn đời liên tục đều có người trong dòng họ lên tới chức Tam công, nếu ai quen thuộc với Tam Quốc thì Tứ thế Tam công còn được dùng để miêu tả họ Viên của hai anh em Viên Thiệu (袁紹) và Viên Thuật (袁术), có thể thấy, họ Dương là gia tộc rất có tiếng nói trong kinh thành nên Tư Mã Viêm phải tôn trọng và đối xử tốt với bà. Ngoài ra, Dương Diễm còn được mô tả là một người xinh đẹp và rất giỏi thêu thùa may vá, vốn được coi là một trong những chuẩn mực tốt của phụ nữ thời đó, khiến Tư Mã Viêm rất sủng ái. Cuối cùng, mặc dù có hơn 10,000 phi tần trong cung, Tư Mã Viêm vẫn muốn giữ Hoàng hậu vui lòng và rất ít khi nói không với Dương Diễm, mỗi khi xét chọn phi tần, Hoàng đế cũng phải hỏi qua ý kiến và để Hoàng hậu quyết định.

Như vậy sự ủng hộ của Dương Diễm đối với Tư Mã Trung cũng là ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của Tư Mã Viêm. Vì vậy vào năm 267, chỉ 2 năm sau khi lên làm Hoàng đế, Tư Mã Viêm đã phong Tư Mã Trung, lúc ấy chỉ mới 9 tuổi, lên làm Thái tử. Nhưng mọi việc không suôn sẻ cho lắm đối với Dương Diêm, vào năm 274, ở tuổi 37, Dương Diễm lâm bệnh nặng và giấc mơ làm Thái hậu tan biến. Một điều bà lo lắng hơn cả là vào thời điểm đó Tư Mã Viêm bắt đầu sủng ái Quý tần Hồ Phương (胡芳), sợ rằng sau khi bà mất, Tư Mã Viêm sẽ chọn Hồ Phương làm Hoàng hậu, sau đó Hồ Phương sẽ xin cho con mình làm Thái tử thay Tư Mã Trung vốn bị thiểu năng. Do đó trên giường bệnh của mình, Dương Diễm đã cầu xin chồng lấy em họ mình là Dương Chỉ (杨芷) làm Hoàng hậu, Tư Mã Viêm chưa bao giờ nói không với vợ nên đồng ý.

Điều đó đưa chúng ta đến nhân tố thứ ba giúp đỡ Tư Mã Trung là Dương Chỉ, người vừa là mẹ kế, vừa là dì của Thái tử. Bà biết rằng hôn nhân giữa bà và Hoàng đế chỉ là một bước đi chính trị của gia tộc mình, nên Dương Chỉ đóng vai là một người vợ, người mẹ và Hoàng hậu cực kỳ tốt và nhanh chóng được Tư Mã Viêm sủng ái. Hoàng hậu Dương Chỉ cũng giống như Dương Diễm và làm mọi cách mình có thể để giữ Tư Mã Trung làm Thái tử, mặc dù bà ít có động lực hơn bởi Tư Mã Trung không phải con của bà và biết rằng mình chỉ là một con cờ cho gia tộc Dương mở rộng quyền lực.

Nói về Dương gia, trưởng tộc họ Dương lúc này là Dương Tuấn (杨骏), cha của Dương Chỉ, tức ông ngoại của Tư Mã Trung, do có con làm Hoàng hậu và trước đây vốn làm tướng quân, được thăng tiến nhanh chóng, biết rằng Thái tử Tư Mã Trung bị thiểu năng, Dương Tuấn muốn sau khi Tư Mã Viêm chết thì mình sẽ được lên làm nhiếp chính và đứng sau điều khiển triều đình, việc này sẽ là điểm mở đầu cho Loạn Bát Vương và rất quan trọng đối với các sự kiện diễn ra sau này, nhưng lúc này, chúng ta chỉ cần biết Dương Tuấn là người rất muốn Tư Mã Trung làm Hoàng đế và cũng là người giúp đỡ thứ tư của ông.

Tiếp theo là Tư Mã Duật (司马遹), con cả của Tư Mã Trung, nếu mọi người nghĩ Dương Chỉ vừa là dì, vừa là mẹ kế của Tư Mã Trung đã hơi kỳ rồi, thì đoán xem mẹ của Tư Mã Duật là ai nhé, đó chính là Tạ Cửu (謝玖), một phi tần của Tư Mã Viêm. Tại sao Tư Mã Trung lại làm phi tần của cha mình mang thai? Ngắn gọn thì do Tư Mã Viêm yêu cầu Tạ Cửu dạy cho Tư Mã Trung cách quan hệ, mọi người thấy đó, Tư Mã Trung bắt đầu lấy vợ và phi tần ở tuổi 13, nhưng đã 7 năm trôi qua mà vẫn chưa sinh được đứa con, do đó Tư Mã Viêm nghĩ do có chuyện gì đó xảy ra và có thể đứa con thiểu năng của mình không biết làm chuyện giường chiếu. Thế là… ông cho Tạ Cửu xuống để dạy con mình một số điều cơ bản, có trời mới biết Tạ Cửu làm ăn thế nào mà có thai luôn với Tư Mã Trung (LOLLLLL, Alabama tuổi tý 🐧). Nhưng do Tạ Cửu sống chung với Tư Mã Viêm, Tư Mã Trung còn không biết đến sự tồn tại của đứa con cho đến khi Tư Mã Duật được gặp cha mình lúc 5 tuổi.

Làm thế nào mà đứa trẻ này giúp cha mình được giữ làm Thái tử? Bởi vì Tư Mã Duật sinh ra bởi Tạ Cửu, đứa trẻ này ở bên cạnh Tư Mã Viêm từ nhỏ, và ông cực kỳ yêu thích cháu mình. Mặc dù Tư Mã Duật có người cha bị thiểu năng, ông đã cho thấy mình là một người có tố chất thông minh từ nhỏ, thậm chí còn được xem là ngang ngửa với Tằng tổ của mình: huyền thoại Tư Mã Ý (司馬懿). Truyện kể một tối nọ, khi một phần cung điện bị cháy và Tư Mã Viêm dẫn cháu mình ra xem cảnh dập lửa, Tư Mã Duật đã kéo ông mình vào một góc tối và nói trong trong buổi tối như vậy, rất nguy hiểm nếu Hoàng đế bị nhìn thấy dưới ánh sáng, Tư Mã Viêm coi đây là một câu nói tuyệt vời từ một đứa trẻ 5 tuổi nên giáo dục Tư Mã Duật rất tốt và đi đâu cũng khoe về cháu mình ngang với Tư Mã Ý.

Như vậy trong thâm tâm của mình, Tư Mã Viêm muốn mình sống lâu chút để sau này Tư Mã Trung chỉ trị vì một thời gian ngắn, sau đó nhường ngôi cho cháu là Tư Mã Duật, thiên tài sẽ đem lại một triều đại vàng son cho nhà Tấn. Như vậy Tư Mã Duật cũng là người giúp Tư Mã Trung giữ chức Thái tử.

Cuối cùng, chúng ta đến với vợ của Tư Mã Trung, Giả Nam Phong (賈南風), người sau này sẽ trở thành Giả Hoàng hậu, và khơi mào ra cuộc Loạn Bát Vương. Để biết làm thế nào bà đã gây ra Loạn Bát Vương và giúp đỡ chồng mình là giữ chức Thái tử như thế nào, trở lại với phần 3, khi chúng ta nói về một trong những Hoàng hậu tai tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa.

 

III: HOÀNG HẬU GIẢ NAM PHONG

93788375_509175309743210_687325540524228608_o

Trong phần trước, chúng ta đã nói về việc tại sao Tư Mã Trung (司馬衷) được chọn làm Thái tử, và những nhân tố đã giúp ông giữ chức vị này. Nhưng chúng ta dừng lại khi nhắc tới vợ Tư Mã Trung là Giả Nam Phong (賈南風), lần này, chúng ta sẽ dành trọn 1 phần để nói về vị Hoàng hậu tương lai của nhà Tấn này.

Vậy nhân vật này là ai? Giả Nam Phong là con thứ 3 của tướng quân Giả Sung (賈充) và vợ kế Quánh Hoè (郭槐). Chúng ta không thể nói về Giả Nam Phong mà không nhắc tới cha mẹ của bà được. Cha bà, Giả Sung là một trong những tướng quân thân cận nhất của Tư Mã Chiêu (司馬昭), ông nổi tiếng vì là người đã giết Tào Mao (曹髦), Tào Mao là Hoàng đế bù nhìn thời nhà Nguỵ, biết được họ Tư Mã một ngày nào đó sẽ cướp ngôi, Tào Mao bèn đem quân đội đến dinh thự Tư Mã Chiêu để giết ông, nhưng trên đường đến đó ông lại bị quân của Giả Sung ngăn cản và Tào Mao bị giết trong trận đánh sau đó. Có thể thấy, Giả Sung là một trong những tướng quân được Tư Mã Chiêu tin tưởng.

Mẹ Giả Nam Phong tức Quách Hoè, là con gái của Thái thú Quách Phối (郭配) và là vợ thứ hai của Giả Sung, do vợ đầu của ông là Lý Uyển (李婉) có cha là Lý Phong (李豐) dính líu tới cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tư Mã Sư (司馬師) nên Lý Quyển bị lưu đày, hai câu truyện trên giúp chúng ta thấy rõ việc Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu mở đường cho Tư Mã Viêm (司馬炎) lật đổ nhà Nguỵ không phải dễ dàng gì, và có rất nhiều đối thủ phải bị tiêu diệt nên cần có những đồng minh như Giả Sung mới đạt được kết quả. Quay lại với vấn đề chính, sau khi Lý Uyển bị lưu đày, Giả Sung tái hôn với Quách Hoè, người nổi tiếng là rất hay ghen, ông chỉ có 4 người con gái, 2 con đầu, Giả Bao (賈褒) và Giả Dụ (賈裕), là của ông với Lý Uyển, 2 con sau, Giả Nam Phong và Giả Ngọ (賈午), là con ông với Quách Hoè. Quách Hoè sau này cũng sinh cho ông 2 người con trai, nhưng do bà nghi ngờ Giả Sung ngoại tình với nhũ mẫu của 2 đứa trẻ, bà đã giết cả hai khiến 2 đứa trẻ quá đau buồn và mất khi còn nhỏ tuổi.

Bà đồng thời cũng rất ghen tuông với vợ cả Lý Uyển, người sau này được miễn tội của cha nhưng Quách Hoè vẫn không cho về lại nhà chồng mặc cho mẹ Giả Sung và hai con lớn hết lời cầu xin cho mẹ con họ đoàn tụ với nhau. Một điều khá thú vị là con cả Giả Bao sau này sẽ cưới Tư Mã Du (司馬攸), người được Tư Mã Sư nhận nuôi và được Tư Mã Chiêu hứa sẽ nhường ngôi nhưng chức Tấn Vương lại được truyền cho Tư Mã Viêm. Tư Mã Du và Giả Bao sinh ra một người người con là Tề Vương (齊王) Tư Mã Quýnh (司馬冏), một trong số Bát Vương. Câu truyện của Tư Mã Quýnh sẽ được để dành cho các phần sau, hiện tại mọi người chỉ cần biết vị Tề Vương Tư Mã Quýnh này sinh ra trong một gia đình mà cha mình bị lừa khỏi ngai vàng, và mẹ mình không được đoàn tụ gia đình do Quách Hoè, Giả Nam Phong và Giả Ngọ ghen ghét. Việc này ảnh hưởng rất lớn đến Tư Mã Quýnh, đặc biệt là lúc ông đem quân tham gia cuộc Loạn Bát Vương, sau này sẽ được nói tới.

Quay trở lại với Giả Nam Phong và làm thế nào bà được làm vợ của Tư Mã Trung. Như phần trước đã nói, vào năm 267, Tư Mã Trung lúc đó 9 tuổi được phong lên làm Thái tử, và lúc ông vào khoảng 13 tuổi, Hoàng đế Tư Mã Viêm và Hoàng hậu Dương Diễm (楊艷) đã cố kén dâu cho Thái tử. Rất nhiều quý tộc thi nhau đưa con gái của mình vào mắt xanh của Hoàng đế, nhưng lúc đó có 2 quý tộc nổi bật nhất là Giả Sung, người chúng ta vừa nói tới, và Vệ Quán (卫瓘). Vệ Quán cũng như Giả Sung, là một tướng quân trung thành và thân cận của họ Tư Mã, từng được đảm nhiệm trọng trách trấn thủ các vùng biên cương phía bắc khỏi các ngoại tộc Vu Hoàn, Lực Vi,…, ngoài những chiến công hiển hách, Vệ Quán còn nổi tiếng là một nhà nho, thầy đồ và rất giỏi thư pháp. Ông được Tư Mã Viêm phong làm Thái phó để dạy dỗ Tư Mã Trung, hy vọng sẽ giúp được đứa con thiểu năng của mình. Vì vậy khi Hoàng đế muốn tìm vợ cho Tư Mã Trung, con gái của Vệ Quán đã được Tư Mã Viêm chọn sẵn.

Nhưng Giả Sung lại có một ý khác, khi tin tức về việc Thái tử tìm vợ đến tai ông, Giả Sung lúc đó đang mâu thuẫn với Nhiệm Khải (任愷) và Dữu Thuần (庾純), hai viên quan này mượn cuộc nổi dậy của Thốc Phát Thụ Nông Cơ (禿髮樹機能) để làm cớ tiến cử Giả Sung thống lĩnh quân đội dẹp loạn với Vũ Đế, nhằm mục đích đẩy ông ra khỏi Lạc Dương. Giả Sung vốn đang hưởng thụ cuộc sống xa hoa ở kinh thành nên không muốn chuyển gia đình mình đến sống ở vùng xa mạc phía tây, nên ông tìm cách gả 1 trong số những người con gái của mình cho Thái tử, nhằm mục làm thông gia của Tư Mã Viêm, sau này tiện từ chối hơn.

Để làm được điều này, Giả Sung mang phần lớn báu vật quý trong nhà mình để hối lộ cho Hoàng hậu Dương Diễm, để Hoàng hậu xin Tư Mã Viêm giúp ông. Trong phần trước, chúng ta đã nói về Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm nghe lời Hoàng hậu như thế nào, nhưng khi bà đòi gả Tư Mã Trung cho con gái Giả Sung, Tư Mã Viêm lại phản đối, và theo Tấn Thư (晋書) hay sách lịch sử thời nhà Tấn, thì Tư Mã Viêm miêu tả con gái của Giả Sung là “种妒而少子,丑而短黑,” tạm dịch là “người hay ghen tị, cằn cỗi, xấu xí, lùn, và da đen,” trái ngược với con gái của Vệ Quán, người mà ông miêu tả là “nhân hậu, xinh đẹp, cao và da trắng.” Tuy nhiên, như bao cuộc cãi vã khác với vợ là Dương Diễm, vị Hoàng đế này nắm chắc phần thua.

Tệ hơn nữa là chính Vệ Quán cũng không mặn mà lắm với cuộc hôn nhân này, bởi ông là người dạy học Tư Mã Trung nên biết rõ mức độ thiểu năng của Thái tử và nhiều lần đề nghị Tư Mã Viêm đổi Thái tử, chuyện kể một lần ông giả vờ say rượu, rồi vỗ lên ngai vàng của Tư Mã Viêm, nói đây là một chỗ ngồi của Thiên Tử, thật tiếc nếu có ai đó không phù hợp ngồi lên, ẩn ý rằng nếu Tư Mã Trung lên làm Hoàng đế thì đất nước sẽ rơi vào đại loạn. Vì không quan tâm lắm đến cuộc hôn nhân, Vệ Quán không làm gì giúp con gái mình được Hoàng đế thích hơn cả. Mặt khác thì Dương Diễm ngày nào, đêm nào cũng cằn nhằn với Hoàng đế đòi đổi ý, nói rằng một người gian trá như con của Giả Sung sẽ thích hợp làm con dâu và giúp được cho Tư Mã Trung thông minh và sẵn sàng làm Hoàng đế hơn.

Vì vậy Hoàng đế đã quyết định vào năm 272, tiến cử con của Giả Sung làm vợ cho Tư Mã Trung. Nếu mọi người để ý một chút, sẽ thấy trong bài dùng từ “con gái của Giả Sung” thay vì “Giả Nam Phong,” lý do là bởi vì ban đầu Giả Sung định gả con út của mình là Giả Ngọ cho Thái tử, người gần bằng tuổi với Tư Mã Trung và xinh đẹp hơn một chút để làm Hoàng hậu tương lai. Nhưng vào ngày cưới hôm đó, khi các thái giám đến dinh thự rước Giả Ngọ đến lễ đường, họ nhận ra một điều là cô con gái Giả Ngọ 12 tuổi này quá lùn để mặc vừa váy cưới, nên Giả Sung lúc đó mang Giả Nam Phong, lúc đó đã 15 tuổi, ra thay thế. Như vậy trời đã quyết định Giả Nam Phong sẽ phải là người được gả vào Hoàng tộc và làm Hoàng hậu tương lai cho nhà Tấn.

Như mẹ của mình, Giả Nam Phong là người cực kỳ tàn bạo và hay ghen tị, khiến cho Thái tử Tư Mã Trung bị thiểu năng rất khiếp hãi. Nhưng bà biết tương lai của dòng họ mình phụ thuộc vào Tư Mã Trung nên luôn tìm mọi cách để giúp Tư Mã Trung giữ chức Thái tử.

Khi Tư Mã Trung ngày càng lớn lên, việc ông bị thiểu năng ngày càng khó giấu, và có rất nhiều đại thần trong triều thắc mắc liệu Tư Mã Trung có thích hợp làm Hoàng đế tương lai. Nhưng Tư Mã Viêm muốn giữ chức Thái tử cho Tư Mã Trung, lý do thì đã nói trong phần trước, nên Hoàng đế quyết định phối hợp với Giả Nam Phong lừa triều đình, một ngày nọ, ông mở một yến tiệc chiêu đãi các bá quan văn võ trong triều, trong lúc dự tiệc, ông yêu cầu các quan đưa ra một số câu hỏi cho Tư Mã Trung để thử thách trí tuệ của Thái tử, các câu hỏi sau đó được đưa đến dinh thự của Tư Mã Trung và một giờ sau, Thái tử đã trả lời hết. Hoàng đế sau đó đưa các câu trả lời cho các đại thần xem, nói rằng con mình đang cải thiện và học hỏi từ từ, sẽ dần đủ thông minh để quản lý đất nước. Tất nhiên, Tư Mã Trung không có trả lời bất kỳ câu hỏi nào cả, tất cả đều được Giả Nam Phong dựng lên, bà cho gọi các nho sĩ đến đợi sẵn ở dinh thự Tư Mã Trung, đưa câu hỏi cho họ trả lời và yêu cầu chồng mình sao chép lại để không ai nghi ngờ về chữ viết.

Một trong những viên quan có mặt ở đó là Vệ Quán, người dạy học cho Tư Mã Trung, khi vừa nhìn vào câu trả lời, ông biết ngay đó không phải là của Thái tử. Và mặc dù lúc đó Vệ Quán không lật tẩy ra, biểu hiện trên mặt ông đã tự nói lên tất cả. Tin tức này nhanh chóng đến tai Giả Nam Phong, khiến bà căm ghét Vệ Quán hơn nữa, vốn là người trước đây khiến Giả Nam Phong suýt không được chọn cưới Thái tử.

Giả Nam Phong không chỉ gian xảo và tàn bạo, bà còn rất hay ghen, bà với Tư Mã Trung có 4 người con, nhưng không ai trong số đó là con trai cả. Khiến cho mỗi lần một phi tần nào đó của Tư Mã Trung mang thai, thì bà lại nổi cơn ghen. Một lần, khi cơn khen lên quá giới hạn, bà đã lấy một cây thương đánh chết một phi tần đang mang thai của Tư Mã Trung. Giả Nam Phong đồng thời rất ghét Tư Mã Duật (司马遹) và mẹ là Tạ Cửu (谢玖), nhưng do Tạ Cửu là phi tần của Tư Mã Viêm nên bà không thể đụng vào, mặc dù vậy, bà không bao giờ chịu nổi sự thật là Tạ Cửu có con trai còn bà thì không nên luôn nuôi ý định giết Tư Mã Duật.

Giờ chúng ta đã biết rõ hơn về Giả Nam Phong, hãy quay trở lại và đến với những sự kiện mở đầu cho Loạn Bát Vương. Để bắt đầu, chúng ta phải nói tới Dương Tuấn (杨骏), nếu mọi người còn nhớ trong phần trước thì Dương Tuấn là trưởng tộc dòng họ Dương, cha của Hoàng hậu Dương Chỉ (楊芷) và ông ngoại của Tư Mã Trung. Dương Tuấn muốn trở thành nhiếp chính cho Hoàng đế thiểu năng tương lai: Tư Mã Trung, từ đó trở thành người đứng sau điều khiển triều chính. Cơ hội của ông xuất hiện vào năm 290, khi Tư Mã Viêm bị bệnh nặng và bất tỉnh một thời gian dài. Trong thời gian đó, Dương Tuấn và Dương Chỉ đã thay thế các chức quan trong triều bằng những người trung thành với họ Dương, và chuẩn bị kế hoạch cho cái chết của Tư Mã Viêm.

Nhưng Tư Mã Viêm bất ngờ hồi phục và tỉnh dậy, đủ lâu để thấy sự thay đổi trong triều và biết rằng không thể tin tưởng Dương Tuấn, Tư Mã Viêm bí mật viết di chúc yêu cầu chú mình là Nhữ Nam Vương (汝南王) Tư Mã Lượng (司馬亮) cùng đảm nhiệm chức nhiếp chính với Dương Tuấn. Tư Mã Lượng là một trong số Bát Vương và cai trị khu vực Nhữ Nam. Ông là con trai thứ 3 của Tư Mã Ý (司馬懿), tức em trai của Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu, ông-chú của Tư Mã Trung. Tại thời điểm lúc Tư Mã Viêm lâm bệnh, Tư Mã Lượng là người lớn tuổi nhất còn sống trong dòng tộc Tư Mã, đây có lẽ là lý do vì sao Hoàng đế chọn ông làm nhiếp chính để bảo vệ Tư Mã Trung.

Nhưng tuy nhiên vào thời bấy giờ, Tư Mã Lượng cũng như nhiều vị Vương khác, không ở kinh thành mà sống và làm việc ở những vùng đất họ quản lý, nên không có mặt khi Tư Mã Viêm lâm bệnh. Buồn thay, Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm hồi phục chưa được bao lâu thì bệnh tái phát và qua đời ở tuổi 55, tệ hơn nữa, bức di chúc bí mật bị rơi vào tay Dương Tuấn và bị thủ tiêu trước khi đến được với Tư Mã Lượng.

Dương Tuấn sau đó trở thành nhiếp chính cùng với sự giúp đỡ của Thái hậu Dương Chỉ, và nhanh chóng kiểm soát triều đình. Bởi ông đã đọc bức di chúc bí mật của Tư Mã Viêm nên lo sợ Tư Mã Lượng đã biết chuyện này, nên đã triệu Tư Mã Lượng vào kinh thành dự lễ tang nhằm ám sát ông. Tuy nhiên, Tư Mã Lượng không ngu và lấy cớ tuổi cao và bệnh tình khiến ông đi được. Điều này càng làm Dương Tuấn nghi ngờ hơn và lên kế hoạch đưa quân bao vây và tấn công Nhữ Nam Quận của Tư Mã Lượng. Biết được tin, Tư Mã Lượng buộc phải chạy về Nghiệp Thành và nương nhờ Tào Hoán (曹奐), Hoàng đế cuối cùng của nhà Nguỵ sau khi bị Tư Mã Viêm lật đổ và giáng chức xuống Trần Lưu Vương (陳留王).

Nhưng chiến dịch quân sự này không bao giờ được thực hiện, bởi vì Dương Tuấn nghĩ mối nguy hại nhất đối với mình chính là Tư Mã Lượng, nhưng thực chất không phải vậy. Một mối nguy khác lại xuất hiện ngay tại kinh thành và chấm dứt giấc mộng làm nhiếp chính của Dương Tuấn và mở đầu Loạn Bát Vương, để biết mối nguy đó là gì và vòng đầu tiên của Loạn Bát Vương diễn ra như thế nào, trở lại với phần sau nhé.

 4: VÒNG 1: TƯ MÃ LƯỢNG VÀ TƯ MÃ VĨ

94436010_509622899698451_8983566484957560832_o

Trong phần trước, chúng ta kết thúc với cái chết của Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm (司馬炎) và biến loạn ngay lập tức xảy ra sau đó, Nhữ Nam Vương (汝南王) Tư Mã Lượng (司馬亮) đã bỏ chạy và Dương Tuấn (杨骏) giờ đã kiểm soát triều chính. Nhưng Hoàng hậu Giả Nam Phong (賈南風) không có bị thiểu năng như chồng mình, Tư Mã Trung (司馬衷), và sẽ không bao giờ chấp nhận được ông chuyện ông bị biến thành Hoàng đế bù nhìn.

Vì vậy trong phần này, chúng ta sẽ tập trung vào cuộc chiến giữa Hoàng hậu Giả Nam Phong và nhiếp chính Dương Tuấn, khi mà vòng 1 của cuộc Loạn Bát Vương bắt đầu. Đầu tiên nói chút về Dương Tuấn, mặc dù đã lên nắm quyền và đuổi được Tư Mã Lượng đi, nhưng ông vẫn không dám động binh, do bản thân không có kinh nghiệm chỉ huy và chỉ lên chức nhờ là trưởng tộc Dương gia có Dương Diễm (杨艳) và Dương Chỉ (杨芷) làm Hoàng hậu. Ngoài ra thì các đại thần trong triều cũng không ưa gì Dương Tuấn, càng cạch mặt ông sau khi Tư Mã Viêm mất.

Một năm sau khi Tư Mã Viêm băng hà, Dương Tuấn lo sợ những người thân cận với Tư Mã Trung sẽ khuyên vị Hoàng đế thiểu năng này chống lại ông, nên Dương Tuấn cử hai cháu trai của mình vào làm thái giám nhưng không yêm cát, để giám sát Hoàng đế mọi lúc mọi nơi. Tấu sớ của quan chức đưa lên cho Hoàng đế phê chuẩn cũng do Thái hậu Dương Chỉ ra quyết định cuối cùng do cha mình là Dương Tuấn giật dây.

Những việc này khiến quan hệ giữa Dương Tuấn và Giả Nam Phong ngày càng xấu đi, biết rõ tính cách của bà, Dương Tuấn vô cùng lo sợ, nhưng do Giả Nam Phong giờ là Hoàng hậu, ông không thể làm gì được. Do vậy, Dương Tuấn bèn đưa người của mình lên thay thế nắm giữ các chức tướng quân quan trọng ở Lạc Dương để ngăn Hoàng hậu hại mình. Bước đi này lại càng khiến ông bị giới quan chức, nho sĩ và các quý tộc địa phương phản đối hơn, do lo sợ ông sẽ nhân cơ hội đảo chính. Với Giả Nam Phong, việc này đã đẩy bà vào một góc, và giờ mạng sống của bà đang gặp nguy.

Vì vậy, Hoàng hậu liên minh với thái giám Đổng Mãnh (董猛) cùng tướng quân Mạnh Quán (孟觀) và Lý Triệu (李肇), viết thư bí mật gửi cho Nhữ Nam Vương Tư Mã Lượng, lúc này đã về lại Nhữ Nam sau khi nhận ra Dương Tuấn sẽ không dám động binh. Nhưng khi đọc xong lá thư, Tư Mã Lượng viết lại cho Giả Nam Phong rằng Dương Tuấn là một tên ngu ngốc và những hành động của Dương Tuấn sẽ như tự đào mộ chôn mình, và Hoàng hậu không nên lo lắng quá. Nói thẳng ra là cáo già Tư Mã Lượng không muốn dính líu đến cuộc chiến này.

Vì vậy, Giả Nam Phong viết thêm một lá thư nữa cho Sở Vương (楚王) Tư Mã Vĩ (司馬瑋), cũng một trong số Bát Vương, vào lúc Giả Hoàng hậu viết thư cho ông, Tư Mã Vĩ lúc đó chỉ mới 21 tuổi, vậy tại sao Hoàng hậu lại nhờ một người trẻ như vậy để giúp mình, và bản thân Tư Mã Vĩ là ai? Tư Mã Vĩ là con trai thứ 5 của tiên Đế Tư Mã Viêm, tức em trai của Tấn Huệ Đế Tư Mã Trung. Vào năm 289, vài tháng trước khi lâm bệnh, Tư Mã Viêm đã phong cho con trai thứ 3 là Tư Mã Giản (司馬柬), con trai thứ 5 là Tư Mã Vĩ, con trai thứ 10 là Tư Mã Sung (司馬充) lên tước vương và cai quản các vùng chiến lược xung quanh kinh thành để giúp anh trai Tư Mã Trung khi có biến. Vào thời điểm đó, Tư Mã Vĩ đã nổi tiếng là một tướng quân có tài, do tuổi còn trẻ nên muốn chứng tỏ bản thân, vì vậy khi Hoàng hậu viết thư cầu cứu liền đồng ý.

Tữ Mã Vĩ bèn viết tấu cho triều đình xin cho ông cùng quân đội của mình vào kinh. Mặc dù đây là một yêu cầu kỳ lạ, Dương Tuấn, vì lý do nào đó mà không được lịch sử ghi chép, lại đồng ý. Và vào tháng 3 năm 291, chưa đầy 1 năm sau khi Tư Mã Viêm băng hà, Sở Vương Tư Mã Vĩ đã mang quân đội đến kinh thành và Hoàng hậu Giả Nam Phong ngay sau đó lên kế hoạch đảo chính.

Vào một buổi tối tháng 3, Hoàng đế Tư Mã Trung bị Hoàng hậu ép viết thánh chỉ rằng nhiếp chính Dương Tuấn cậy quyền lộng hành, và âm mưu tạo phản, nên bị cách chức và đưa vào ngục chờ ngày xét xử. Cùng thời điểm đó, quân đội của Tư Mã Vĩ nhanh chóng kiểm soát Hoàng cung để bảo vệ Hoàng đế và Hoàng hậu, và trao quyền kiểm soát Ngự Lâm Quân cho Tư Mã Do (司馬繇). Tư Mã Do không nằm trong số Bát Vương, nhưng ông là con trai thứ 3 của Tư Mã Trụ (司馬伷), còn Tư Mã Trụ là con thứ 4 của Tư Mã Ý (司馬懿) huyền thoại, mọi người chỉ cần biết Tư Mã Do là chú họ của Tư Mã Trung là được. Tư Mã Do sau đó đem quân đến chỗ Dương Tuấn, lúc này đang ở dinh thự cũ của Tào Sảng (曹爽), nhiếp chính thời nhà Nguỵ bị Tư Mã Ý đảo chính, gần kho vũ khí để tiện trang bị nhanh chóng cho quân đội. Nhưng bản thân Dương Tuấn lại chần chừ, thiếu quyết đoán, ông không nghe lời các mưu sĩ của mình cho huy động quân đội nên bị Tư Mã Do giết.

Cái chết của Dương Tuấn khiến cho Hoàng hậu có thể tiện tay diệt Dương gia, và bà viết thánh chỉ nhân danh chồng mình cho chu di hàng nghìn người trong họ Dương, ngay cả Thái hậu Dương Chỉ cũng bị cách chức và giam giữ. Tấn Huệ Đế Tư Mã Trung lúc đó chỉ biết ngồi nhìn vợ tàn sát cả nhà mẹ kế mình.

Mặc dù sau chiến thắng đó Giả Nam Phong đã kiểm soát được chồng mình là Tư Mã Trung, và Tư Mã Vĩ ngay sau đó được phong chức tước cao hơn, các đại thần trong triều quyết định chọn Nhữ Nam Vương Tư Mã Lượng, người lớn tuổi nhất trong gia tộc Tư Mã hiện tại, và Thái phó Vệ Quán (衛瓘) làm 2 nhiếp chính cho triều đình. Tin này khiến Giả Nam Phong vô cùng tức giận, vốn đã căm thù Vệ Quán, lý do đã nói trong phần trước, và Tư Mã Lượng, vì ông không giúp bà lật đổ Dương Tuấn.

Tư Mã Vĩ, mặt khác, lại bắt đầu thích cuộc sống ở kinh thành, bởi người dân ở đây rất yêu quý ông nhờ lật đổ Dương Tuấn, Tư Mã Vĩ lại muốn làm gì đó để các quan chức trong triều tôn trọng mình nên không có ý định rút quân khỏi Lạc Dương. Nhưng Tư Mã Lượng và Vệ Quán lại yêu cầu ông rút đi, bởi rất bất thường khi một vị Vương đưa quân đội khỏi khu vực mình quản lý, và còn bất thường hơn nữa khi đội quân đó lại đóng tại kinh thành, nhất là giờ không còn mối nguy hại gì nữa. Việc này khiến mâu thuẫn giữa Tư Mã Vĩ và 2 vị nhiếp chính này ngày càng tăng, do Tư Mã Vĩ vốn nghĩ rằng 2 lão già Tư Mã Lượng và Vệ Quán không làm gì cũng có quyền, trong khi mình là người giúp lật đổ Dương Tuấn thì không. Do đó, Tư Mã Vĩ nghĩ rằng 2 người chỉ đang ghen tị với mình và mặc kệ lời yêu cầu, nhưng Tư Mã Lượng không bỏ qua và tìm cách cướp quân đội của Tư Mã Vĩ bằng cách cử một tướng quân khác lên thay ông, nhưng vị tướng này quá sợ Tư Mã Vĩ và từ chối đến chỗ làm việc, tin tức truyền ra ngoài khiến quan hệ của Tư Mã Lượng và Tư Mã Vĩ lại càng xấu.

Vì lý do đó, Tư Mã Vĩ và Giả Nam Phong liên minh với nhau, âm mưu lên kế hoạch lật đổ Tư Mã Lượng. Vào một đêm khác, chỉ 3 tháng sau khi Dương Tuấn bị lật đổ, một thái giám bí mật đưa Thánh chỉ tới cho Tư Mã Vĩ, nói rằng Tư Mã Lượng và Vệ Quán âm mưu đổi Hoàng đế Tư Mã Trung bị thiểu năng, và lệnh cho Tư Mã Vĩ đến bắt giữ 2 tên “phản tặc” này. Mặc dù rất khó tin là hai vị nhiếp chính được kính trọng này âm mưu đổi Hoàng đế, nhưng mọi người trong triều ai cũng biết Vệ Quán không tin tưởng học trò Tư Mã Trung trị vì đất nước, và cho dù khó tin đi chăng nữa thì giờ Tư Mã Vĩ đã có cớ để loại Tư Mã Lượng và Vệ Quán.

Với thánh chỉ trong tay, Tư Mã Vĩ lệnh cho toàn bộ lực lượng quân đội trong kinh thành bỏ vũ khí và để mình bắt giữ cả 2 người. Cả 2 cũng không phản kháng và nghĩ mình sẽ tự chứng minh trong sạch vào sáng hôm sau, các mưu sĩ của họ cũng khuyên như vậy do Thánh chỉ nói chỉ bắt giữ 2 người. Tuy nhiên, Thánh chỉ này lại bí mật yêu cầu Tư Mã Vĩ giết phạm nhân ngay tại chỗ, nên sau đó ông cũng tiện tay giết luôn ông chú mình là Tư Mã Lượng, con trai Tư Mã Cự (司馬矩), tức chú Tư Mã Vĩ và Vệ Quán cùng 9 người con, cháu của ông sau khi bắt giữ.

Sau khi giết cả hai nhiếp chính, mưu sĩ thân cận của ông là Kỳ Thành (岐盛) khuyên nhân cơ hội đánh luôn Giả Nam Phong, bằng cách tiêu diệt người nhà của bà và lên làm nhiếp chính. Tư Mã Vĩ không đồng ý với kế hoạch này, bởi ông coi cuộc đảo chính của ông không phải để nhằm gia tăng quyền lực, mà ông chỉ làm nó theo ý Thánh chỉ của anh mình là Tư Mã Trung.

Ông không hề biết rằng, Hoàng hậu lại có kế hoạch khác, ngay sáng hôm sau cuộc đảo chính, một bản cáo trạng của triều đình do Giả Nam Phong đứng sau giật dây được đưa ra, nói rằng Tư Mã Vĩ đã giả Thánh chỉ để giết 2 nhiếp chính là Tư Mã Lượng và Vệ Quán. Nghe được bản cáo trạng này, Tư Mã Vĩ hoàn toàn sốc và quân đội ông buôn bỏ vũ khí khi Ngự Lâm Quân đến bắt giữ ông. Không thông qua xét xử, Tư Mã Vĩ được đưa thẳng đến pháp trường, ông sau đó đã đưa bản Thánh chỉ mà ông nhận được ra và nói với những người ở đó rằng với tư cách là con trai thứ 5 của tiên Đế Tư Mã Viêm, ông chỉ muốn giúp anh trai mình là Hoàng đế Tư Mã Trung. Nhưng vô ích, Sở Vương Tư Mã Vĩ đã bị tử hình sau đó.

Chỉ trong vòng 3 tháng, Giả Nam Phong đã lợi dụng Tư Mã Vĩ để loại bỏ tất cả những đối thủ cản đường, từ đó kiểm soát hoàn toàn triều chính, với cái chết của Tư Mã Lượng và Tư Mã Vĩ, vòng 1 của cuộc Loạn Bát Vương đã kết thúc. Nhưng cuộc chiến sẽ vẫn còn tiếp diễn và sẽ ngày càng đẫm máu hơn.

 5: VÒNG 2: TƯ MÃ LUÂN CƯỚP NGÔI

94494826_510230166304391_2814588950646095872_n

Trong phần trước, chúng ta đã thấy Giả Nam Phong (賈南風) bắn một mũi tên trúng hai đích, sau đó tiện tay vứt luôn mũi tên, với nhiếp chính Dương Tuấn (杨骏), Thái hậu Dương Chỉ (杨芷), đồng nhiếp chính Nhữ Nam Vương (汝南王) Tư Mã Lượng (司馬亮) và Vệ Quán (卫瓘), Sở Vương (楚王) Tư Mã Vĩ (司馬瑋) đều bị tiêu diệt, Giả Hoàng hậu đã hoàn toàn kiểm soát triều chính và cai quản đất nước dưới danh nghĩa chồng mình, Hoàng đế thiểu năng Tư Mã Trung (司馬衷). Và bà chứng minh mình là một người cai trị khá tốt, trong vòng 8 năm cai quản của mình, nhà Tấn đã vô cùng phát triển.

Nhưng vào năm 299, một biến cố khác lại xảy ra với Hoàng hậu Giả Nam Phong, khiến cho nền hoà bình tạm thời này chấm dứt và một lần nữa đẩy Trung Hoa vào nội chiến với quy mô chưa từng có kể từ thời Tam Quốc.

Nhưng trước khi chúng ta nói tới việc triều đình Giả Nam Phong sụp đổ như thế nào, cần phải giới thiệu thêm một vị Bát Vương nữa tham gia biến loạn, Triệu Vương (趙王) Tư Mã Luân (司马伦). Tư Mã Luân là con trai thứ 9 của huyền thoại Tư Mã Ý (司馬懿), tức ông chú Tấn Huệ Đế Tư Mã Trung, em trai Nhữ Nam Vương Tư Mã Lượng.

Trước đây chúng ta chưa bao giờ nhắc đến ông, vì vậy cũng nên biết Tư Mã Luân đã làm gì trong suốt thời gian này, Tư Mã Luân được phong tước Triệu Vương và cai trị nước Triệu, bao gồm cả Nghiệp Thành phía bắc Trung Hoa, từ năm 274, ông được giao cho 1 nhiệm vụ đơn giản là gìn giữ hoà bình với một số ngoại tộc phương bắc vốn đã đồng ý làm chư hầu cho nhà Tấn.

Nhưng mặc dù là con trai của Tư Mã Ý, Tư Mã Luân từ nhỏ đã chán việc học hành và chỉ lo nghiên cứu những thứ mê tín như phép thuật phù thuỷ. Năm 291, cùng năm mà Giả Nam Phong lên nắm quyền, hai bộ tộc phương bắc đã nổi lên chống lại nhà Tấn do sự quản lý tệ hại của ông, và Tư Mã Luân ngay lập tức bị triệu về kinh lãnh tội. Tuy nhiên, khi đến Lạc Dương, Tư Mã Luân lập tức tìm cách mua chuộc Giả Nam Phong và mẹ Quách Hoè (郭槐) nên không những không bị trị tội mà còn được phong làm Thái phó thay cho Vệ Quán đã chết và chịu trách nhiệm dạy học cho Thái tử là Tư Mã Duật (司马遹).

Trong 8 năm tiếp theo, Tư Mã Luân tiếp tục ở kinh thành giúp đỡ Giả Nam Phong và còn được phong làm Tả Trung Lang Tướng (左中郎將).Mặc dù đây là tin rất vui cho Tư Mã Luân, nhưng còn vùng đất Triệu ông bỏ lại thì sao? Mặc dù Tư Mã Luân chưa bao giờ bỏ chức Triệu Vương, nhưng ông cũng không thèm quan tâm khu vực đó. Thay vào đó, vào năm 292, Thành Đô Vương (成都王) Tư Mã Dĩnh (司马颖) được đưa ra trấn giữ Nghiệp Thành và ngăn chặn mối đe doạ từ phía bắc thay cho Tư Mã Luân.

Đây là lần đầu tiên chúng ta nhắc đến Tư Mã Dĩnh, nên hãy tìm hiểu chút về ông, bởi ông cũng là một trong số Bát Vương. Tư Mã Vĩnh là con trai thứ 16 của Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm (司馬炎), tức em trai Tư Mã Trung.Năm 289, một năm trước khi Tư Mã Viêm băng hà, mẹ của Tư Mã Dĩnh là một phi tần của Tấn Vũ Đế, xin ông trước khi chết phong cho con trai mình được một chức tước gì đó, Tư Mã Viêm, vốn ít khi dám nói không với phụ nữ, nên đồng ý và cho Tư Mã Dĩnh làm Thành Đô Vương ở Thục. Tuy nhiên lúc đó vì Tư Mã Dĩnh còn quá nhỏ nên không ra khỏi kinh thành đến Thành Đô cai trị được.

Ông lớn lên ở Lạc Dương và hay chơi cùng với anh trai là Thái tử, nên mối quan hệ của hai người rất thân thiết. Cho đến năm 299, vị Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh 17 tuổi này vẫn không đến Thành Đô làm việc mà chỉ ở kinh thành chơi chung với anh trai, giờ là Tấn Huệ Đế Tư Mã Trung.Tại thời điểm đó, Giả Nam Phong và nhiều người nhà của bà đã quen với việc cai trị đất nước, và không còn coi trọng ngôi vị nữa. Giả Hoàng hậu ngang nhiên đem người tình của mình vào cung, và một trong số cháu trai của Giả Nam Phong là Giả Mật (賈謐) thường hay hỗn xược với Thái tử Tư Mã Duật khi 2 người này chơi cờ vây. Một lần nọ khi Tư Mã Dĩnh ở đó, ông đã mắng Giả Mật, hỏi rằng tại sao Giả Mật có gan hỗn láo với Hoàng đế tương lai.

Tức giận vì việc này, Giả Mật sau đó báo chuyện lại cho Hoàng hậu Giả Nam Phong, và bà cho rằng tốt nhất là nên cho Tư Mã Dĩnh rời khỏi Lạc Dương nên thăng chức và giao cho ông nhiệm vụ trấn thủ Nghiệp Thành khỏi quân nổi loạn thay cho Triệu Vương Tư Mã Luân, người chỉ muốn ở kinh thành làm việc với Giả Nam Phong.

Giờ chúng ta biết mặt các nhân vật rồi, hãy quay trở lại với sự kiện làm nổ ra vòng 2 của cuộc Loạn Bát Vương. Nếu mọi người còn nhớ trong phần 3 thì Tư Mã Viêm đã từng nói Giả Nam Phong là người hay ghen tị, xấu xí, lùn và da đen, lời này dường như trở thành lời nguyền, và đến tận năm 299, cuộc hôn nhân 28 năm giữa bà và Tư Mã Trung vẫn không đem lại đứa con trai nào, điều này càng làm cơn ghen của bà ngày càng lớn và bà đổ dồn hết sự ghen tức đó lên đầu Thái tử Tư Mã Duật.

Trong phần 2 khi chúng ta nói về Tư Mã Duật, có thể thấy ông là một người thông minh từ nhỏ và rất được ông mình là Tư Mã Viêm yêu quý, Tư Mã Viêm muốn nhường ngôi cho Tư Mã Trung để sau này cháu Tư Mã Duật được kế vị. Nhưng sau khi Tấn Vũ Đế băng hà, đời sống của Tư Mã Duật bắt đầu đi xuống. Quan hệ của ông với Hoàng hậu Giả Nam Phong ngày càng xấu đi. Tệ hơn nữa, Tư Mã Duật lại được Thái phó Tư Mã Luân dạy học, người mà không phải nho sĩ giỏi giang gì mà chỉ là vị Vương không quản lý nổi đất của mình và thích phép thuật phù thuỷ. Nên tại thời điểm này, Tư Mã Duật không còn hy vọng trở thành vị Hoàng đế có trí tuệ ngang với Tư Mã Ý nữa, mà chỉ ở trong cung bán thịt cho thái giám.

Mặc dù vậy, nhiều đại thần trong triều vẫn hy vọng vào một ngày Tư Mã Duật sẽ lên ngôi, đưa nhà Tấn và họ Tư Mã trở về với thời hoàng kim trước đây. Do ông quá được các đại thần kính nể dẫn đến Giả Nam Phong và Giả Mật càng lo sợ Tư Mã Duật hơn nữa, sợ rằng nếu một ngày nào đó Tư Mã Trung băng hà thì Tư Mã Duật sẽ nối ngôi và quét sạch họ Giả.Vì vậy Giả Hoàng hậu lại tìm kế hoạch khác để loại bỏ Tư Mã Duật, vào mùa đông năm 299, Giả Nam Phong gọi Tư Mã Duật đến dinh thự mình, nói rằng Hoàng đế đang bị bệnh nặng.

Khi tới nơi, ông được một phi tần mang thức ăn và rượu đến phục vụ, Hoàng hậu nói rằng Tư Mã Trung vẫn chưa đủ khoẻ để vào thăm, và Hoàng đế đã dọn sẵn thức ăn và đồ uống cho con trong khi ngồi ở ngoài chờ. Tư Mã Duật mặc dù là người có tửu lượng nhỏ và rất ít khi uống rượu, nhưng ông không thể từ chối Thánh chỉ được cho dù có hơi nghi ngờ. Ông uống hết chỗ rượu đã được chuẩn bị và rồi say xỉn, trong cơn say, Giả Nam Phong đem ra cho ông một bức thư và yêu cầu Tư Mã Duật sao chép từng chữ trong lá thư. Tư Mã Duật đang say xỉn thì đồng ý nhưng sao chép được một nửa thì ngất đi nên Giả Nam Phong phải tự mình giả chữ Tư Mã Duật sao cho giống nhất có thể.

Sau đó, Giả Nam Phong đưa lá thư này cho Tư Mã Trung, trong thư yêu cầu Hoàng đế và Hoàng hậu nhường ngôi cho Tư Mã Duật và vợ ông, tất nhiên, Hoàng đế thiểu năng không cần suy xét ra lệnh bắt giữ và chém đầu con trai Tư Mã Duật. Nhưng tất nhiên là có những đại thần trong triều có não và không tin lời của Hoàng hậu, họ đòi thu thập thêm bằng chứng rồi mới kết luận. Sợ rằng một cuộc điều tra sẽ được mở ra gây bất lợi cho mình, Giả Nam Phong thoả hiệp với triều đình và hứa sẽ tha mạng cho Tư Mã Duật, nhưng nói rằng hành động này của Tư Mã Duật không thể tha thứ và ông sẽ bị phế chức Thái tử đồng thời giam lỏng ở thành Kim Dung cho đến khi có nhiều bằng chứng hơn.

Không dám đòi thêm gì từ Hoàng hậu và phe cánh của bà, triều đình đồng ý và Tư Mã Duật bị giam giữ.Một tháng sau khi Tư Mã Duật bị bắt, nhiều đại thần trong triều trung thành với Tư Mã Duật bắt đầu lên kế hoạch đảo chính lật đổ Giả Nam Phong. Các đại thần này sau đó thông báo cho Tư Mã Luân biết về kế hoạch của mình, bởi lúc bấy giờ ông đang là Tả Trung Lang Tướng và nắm giữ binh quyền, họ cũng nghĩ rằng Tư Mã Luân là người của gia tộc Tư Mã nên sẽ không muốn triều đình bị Giả Nam Phong kiểm soát. Và Tư Mã Luân nhanh chóng đồng ý.

Tuy nhiên, bản thân ông lại có kế hoạch khác, mặc dù Tư Mã Luân không phải là người thông minh cho lắm, ông dựa rất nhiều vào mưu sĩ Tôn Tú (孫秀) để đưa ra tất cả kế hoạch. Tôn Tú và Tư Mã Luân có rất nhiều điểm chung, họ đều người mê tín và tin vào phép thuật phù thuỷ, đồng thời 2 người cũng ngủ chung giường với nhau, bởi Tôn Tú là một nam sủng (情夫) của Tư Mã Luân (thời này quan hệ đồng giới bình thường như ở Hy Lạp cổ đại vậy, và nhiều quý tộc cũng có quan hệ ở cả 2 giới,… ).

Sau khi đồng ý với kế hoạch của các đại thần, Tôn Tú tới gặp Tư Mã Luân và nói rằng nếu họ phản bội Giả Nam Phong và lập lại Thái tử, thì họ cũng không nhận được gì cả. Vì vốn trước đây Tư Mã Luân luôn liên minh với Giả Nam Phong, nên cho dù bây giờ đổi phe thì Tư Mã Duật vẫn có thể không tin tưởng và có thể bị trừ khử cùng các đồng đảng khác của Hoàng hậu sau khi Tư Mã Duật lên làm Hoàng đế.

Vì vậy, Tôn Tú ra một kế hoạch là khuyên Giả Nam Phong giết Tư Mã Duật, sau đó lấy cớ là báo thù cho Thái tử để động binh giết Hoàng hậu. Với cả Hoàng hậu và Thái tử bị tiêu, Tư Mã Luân có thể lấp đầy khoảng trống quyền lực và còn có cơ hội làm Hoàng đế.Tư Mã Luân khi nghe mình có thể làm Hoàng đế thì khoái chí, ra lệnh cho Tôn Tú thi hành kế hoạch ngay. Tôn Tú sau đó phao tin Tư Mã Duật đang cùng các đại thần lên kế hoạch đảo chính lật đổ Giả Nam Phong và lấy lại chức Thái tử cho không ai khác ngoài Giả Mật, người vốn rất ghét Tư Mã Duật và luôn hỗn xược với Thái tử khi chơi cờ vây như chúng ta đã thấy, Giả Mật sau đó báo lại tin này cho Giả Nam Phong.

Ngay lập tức, Hoàng hậu cho người đến đầu độc Tư Mã Duật, tuy nhiên, Tư Mã Duật cũng không ngu và đòi tự nấu thức ăn cho mình, nếu không sẽ tuyệt thực. Thấy rằng không còn cách nào bí mật đầu độc Tư Mã Duật, Hoàng hậu cho người vào thẳng thành Kim Dung và ép Thái tử uống thuốc độc, Tư Mã Duật cố gắng chống cự nhưng không thành. Người cháu mà Tấn Vũ Đế tin tưởng thông minh như Tư Mã Ý và sẽ mang lại thời hoàng kim cho nhà Tấn đã chết dưới tay Hoàng hậu Giả Nam Phong và ông chú Triệu Vương Tư Mã Luân.

Khi tin tức về cái chết của Tư Mã Duật truyền ra ngoài, Tư Mã Luân ngay lập tức huy động quân đội và kêu gọi Tề Vương (齊王) Tư Mã Quýnh (司馬冏) cùng tham gia. Khi chúng ta nhắc đến Tư Mã Quýnh trong phần 3, chúng ta biết Tư Mã Quýnh là con trai của Tư Mã Du (司馬攸) và Giả Bao (賈褒), con cả Giả Sung (賈充), và là chị cùng cha khác mẹ của Giả Nam Phong, giống như trong lọ lem, Giả Bao bị hà hiếp bởi mẹ con Quách Hoè và Giả Nam Phong, không được đoàn tụ với mẹ ruột mình là Lý Uyển (李婉). Vì vậy Tư Mã Quýnh đã quyết tâm trả thù cho mẹ mình và diệt Giả Nam Phong.

Ngày 3 tháng 4 năm 300, Tư Mã Luân giả Thánh chỉ hạ lệnh cho quân đội chiếm giữ kinh thành và bắt giữ tất cả những người thuộc họ hàng của Giả Hoàng hậu. Trong khi đó, Tư Mã Quýnh tự mình dẫn 100 quân lính xông vào dinh thự của Hoàng hậu, chém Giả Mật và bắt giữ Giả Nam Phong. Và hơn một nửa các quan chức trong triều đều bị giết, bởi Tư Mã Luân hạ lệnh chém đầu tất cả những người từng làm việc cho Giả Nam Phong (trừ bản thân Tư Mã Luân, tất nhiên), và có rất nhiều quan chức từng làm việc cho Hoàng hậu, dù sao thì bà cũng đã từng cai trị được 8 năm rồi.

Như vậy là trong một đêm, Tư Mã Luân đã kiểm soát hoàn toàn triều đình nhưng đồng thời cũng không xét xử mà chém vô số các quan chức trong triều. Ngày hôm sau, Tư Mã Luân tự phong mình là Sử trì tiết, Đại Đô đốc, Đốc Trung ngoại chư quân sự và Tướng quốc, quyền lực ngang với cha mình là Tư Mã Ý thời Tào Nguỵ trước đây. Vì vậy, các quý tộc khác bắt đầu lo sợ Tư Mã Luân sẽ giống như cha và một ngày nào đó làm đảo chính cướp ngôi. Nỗi lo sợ này khiến Tư Mã Luân mâu thuẫn với 2 người là Tề Vương Tư Mã Quýnh, vốn vừa giúp ông đảo chính; và Hoài Nam Vương (淮南王) Tư Mã Sung (司馬充).

Tư Mã Quýnh tuy hỗ trợ Tư Mã Luân đảo chính vào đêm hôm đó, nhưng động cơ chỉ là do ghét Giả Nam Phong, người sau đó đã bị đầu độc trong tù, nên ông nghĩ rằng giờ mình đã trả thù cho mẹ xong, không có lý do gì ủng hộ Tư Mã Luân nữa. Tư Mã Luân đồng thời cũng cảm nhận được Tư Mã Quýnh không thực sự ủng hộ mình nên cố tìm cách đẩy ông ra khỏi kinh thành và lệnh cho Tư Mã Quýnh đi trấn thủ Hứa Xương.

Mặc dù đây là công việc nắm giữ binh quyền, Tôn Tú đã cài người vào nội bộ quân đội ở Hứa Xương để giám sát Tư Mã Quýnh.Trong phần trước khi giới thiệu Sở Vương Tư Mã Vĩ, chúng ta có nhắc đến tên Tư Mã Sung. Tư Mã Sung là con thứ 10 của Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm, và là một trong 3 người con được ông phong Vương của các vùng đất gần kinh thành trước khi băng hà, nhằm giúp anh trai Tư Mã Trung phòng khi có biến cố xảy ra.

Vì là Hoài Nam Vương nên Tư Mã Sung có đất và quân đội, thấy những hành động của Tư Mã Luân sau cuộc đảo chính, Tư Mã Sung cho rằng Tư Mặc Luân còn tệ hơn Giả Nam Phong nên cáo bệnh không đến kinh thành Lạc Dương. Ông ngầm xây dựng một đội quân gồm 700 kiếm sĩ tinh nhuệ ở Hoài Nam nhằm lật đổ Tư Mã Luân.Thấy rằng Tư Mã Sung đang trốn tránh triều chính, Tôn Tú nghi ngờ và khuyên Tư Mã Luân nên thăng chức cho Tư Mã Sung lên một chức quan nội chính nào đó ở Lạc Dương, nhằm lấy đi binh quyền của ông.

Tư Mã Luân đồng ý và viết thư triệu Tư Mã Sung vào kinh thăng chức. Nhưng Tư Mã Sung vẫn cáo bệnh và vờ như không nhận được lá thư. Việc này khiến cho Tôn Tú càng nghi ngờ và ông giả Thánh chỉ đến bắt Tư Mã Sung. Lúc quân lính của Tư Mã Luân đến nơi, Tư Mã Sung đòi xem Thánh chỉ, quả thực là do Tôn Tú viết và ông còn coi thường không thèm để dấu ngọc tỷ lên.Đây là giọt nước tràn ly và đội kiếm sĩ tinh nhuệ của Tư Mã Sung lập tức xông ra giết hết đội quân do Tôn Tú cử tới, và tiến thẳng từ Hoài Nam đến Hoàng cung, do Tư Mã Sung biết ông cần phải nắm giữ Hoàng đế mới có chính danh giết Tư Mã Luân.

Tôn Tú thấy vậy liền hạ lệnh cho quân đội đóng cổng Hoàng cung, không cho Tư Mã Sung tiến vào. Tư Mã Sung thấy vậy nên chuyển đổi kế hoạch và ra lệnh cho các kiếm sĩ của ông đánh thẳng vào dinh thự của Tư Mã Luân. Mặc dù Tư Mã Luân có hơn 20,000 vệ quân ở khắp kinh thành, không một người nào trong số đó có thể chống lại đội kiếm sĩ tinh nhuệ từ Hoài Nam, thề rằng sẽ trung thành đến chết, của Tư Mã Sung.

Và từ lúc đội quân này tiến vào kinh thành, họ đã giết hơn 1,000 binh sĩ của Tư Mã Luân, với rất ít tổn thất. Việc này khiến cho đội vệ quân thiếu tổ chức của Tư Mã Luân sợ hãi và bỏ chạy, bản thân Tư Mã Luân sau đó buộc phải tìm chỗ chốn trong dinh thự, chờ viện binh tới giúp, khi mà quân Tư Mã Sung bao vây và liên tục bắn cung vào chỗ ở của Tư Mã Luân từ buổi lúc tối cho đến tận trưa ngày hôm sau.Lúc viện quân đến nơi, Tư Mã Luân đã sống sót nhờ có quân lính lấy thân mình che cung cho ông. T

uy nhiên, dù có viện quân trong tay, Tư Mã Luân cũng không thể đẩy lùi được đội quân tinh nhuệ của Tư Mã Sung. Khi mà Tư Mã Luân đã sắp bị giết, một nhóm thái giám từ Hoàng cung bỗng xuất hiện, họ cầm Thánh chỉ trong tay và đến xin gặp mặt Tư Mã Sung, nói rằng Hoàng đế đã chính thức ủng hộ cuộc đảo chính của ông để lật đổ Tư Mã Luân.

Thấy vậy, Tư Mã Sung vui mừng, lập tức cho quân lính dừng tấn công và đến nhận Thánh chỉ. Khi ông vừa mở ra thì phát hiện đó là một tờ giấy trắng, ngay lập tức, một nhát kiếm xuất hiện đâm thẳng vào tim Tư Mã Sung, kết thúc cuộc đời ông ở tuổi 29. Thì ra, nhóm thái giám này đã được Tôn Tú và con trai thứ 3 của Tư Mã Luân là Tư Mã Kiền (司馬虔) mua chuộc để giả Thánh chỉ và ám sát Tư Mã Sung nhằm cứu nguy cho tình hình.

Với cái chết của Tư Mã Sung, quân đội của ông nhanh chóng đầu hàng, và Tư Mã Luân, tức giận do mình suýt chết, trả thù bằng cách giết hết 3 đứa con nhỏ của Tư Mã Sung và hàng nghìn người khác có liên hệ với ông.

Giờ đã không còn đối thủ cản đường, Tư Mã Luân đã sẵn sàng soán ngôi Hoàng đế. Để có được chính danh ngôn thuận, Tôn Tú sử dụng những thứ mình học được trong lúc nghiên cứu về phép thuật phù thuỷ và đưa ra hàng tá những mê tín dị đoan, nói rằng Thiên-Địa đang đòi đổi ngôi.

Về phần Tư Mã Luân thì giả vờ như mình là một đại thần trung thành với Hoàng đế nên từ chối nhiều lần và diễn như thể tất cả những người khác đang ép mình làm Hoàng đế vậy.Như vậy vào đầu năm 301, Tư Mã Luân cướp ngôi cháu và trở thành Hoàng đế và giam giữ Tư Mã Trung ở thành Kim Dung. Con cả của ông là Tư Mã Phức (司馬荂) được phong làm Thái tử, và cả 3 người con thứ của ông lẫn Tôn Tú đều được nắm giữ các chức quan cao trong triều.

Nhưng Tư Mã Luân là một lãnh đạo bất tài, và bản thân còn không giữ nổi một quận lúc làm Triệu Vương, và càng không thể quản lý nổi một Trung Hoa rộng lớn. Vương triều của ông không kết thúc bằng một cuộc đảo chính hay ám sát, mà kết thúc bằng một cuộc nội chiến đẫm máu giữa các thành viên trong họ Tư Mã. Để biết ai sẽ lật đổ Tư Mã Luân, trở lại với phần sau nhé.

 

6: VÒNG 3: HỢP BINH ĐÁNH TƯ MÃ LUÂN

Trong phần trước, chúng ta thấy ngọn lửa chiến tranh tiếp tục bùng phát sau 8 năm hoà bình, khi mà sự đố kỵ của Giả Nam Phong (賈南風) đã báo ứng với bà sau khi Hoàng hậu giết chết Thái tử Tư Mã Duật (司马遹), mở đường cho Triệu Vương (趙王) Tư Mã Luân (司馬倫) lên soán ngôi Tư Mã Trung (司馬衷) làm Hoàng đế.

Chỉ trong 1 tháng sau khi Tư Mã Luân cướp ngôi, các vị Vương khác trong Hoàng tộc đã lần lượt nổi dậy phản đối, dẫn đầu trong số đó là Tề Vương (齊王) Tư Mã Quýnh (司馬冏), trong phần trước đã hỗ trợ Tư Mã Luân đảo chính giết chết Giả Nam Phong. Nhưng tham vọng của Tư Mã Luân khiến 2 người mâu thuẫn với nhau, và Tư Mã Luân đã gửi Tư Mã Quýnh đến Hứa Xương, xa khỏi kinh thành và đưa một số gián điệp đến đó theo dõi Tư Mã Quýnh. Nhưng Tư Mã Quýnh lừa được các gián điệp này, khiến họ báo thông tin sai về cho Tư Mã Luân và Tôn Tú (孫秀), cho phép ông chuẩn bị phát động chiến tranh.

Chưa đầy 1 tháng sau đó, Tư Mã Quýnh truyền hịch cho các sĩ nhân trong thiên hạ, tố cáo các tội danh của Tư Mã Luân, và kêu gọi các vị Vương như Thành Đô Vương (成都王) Tư Mã Dĩnh (司马颖), Hà Gian Vương (河間王) Tư Mã Ngung (司馬顒) và nhiều người khác, cùng ông xuất binh tiến đánh Lạc Dương để lật đổ Tư Mã Luân và trao ngôi vị lại cho Tư Mã Trung.

Khi Tư Mã Quýnh tiến quân đến kinh thành, Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh là người đầu tiên ủng hộ lời kêu gọi của ông. Như đã nói trong phần trước, Tư Mã Dĩnh là người bị Hoàng hậu đuổi khỏi Lạc Dương bằng cách đưa đi trấn thủ Nghiệp Thành sau khi ông mắng Giả Mật (賈謐), đây vốn là công việc cũ của Tư Mã Luân. Mặc dù Tư Mã Dĩnh không được thông minh cho lắm, ông rất sẵn lòng lắng nghe các ý kiến của mưu sĩ Lư Chí (卢志), chắt của Lư Thực (卢植), tướng quân giúp nhà Hán dẹp loạn Khăn Vàng, thầy của Lưu Bị (刘备) và Công Tôn Toản (公孫瓚). Quay trở lại với Lư Chí, ông là một mưu sĩ rất được Tư Mã Dĩnh tin tưởng và khuyên vị Vương này nên liên minh với Tư Mã Quýnh. Tư Mã Dĩnh đồng ý, bởi nhờ Lư Chí mà ông đã thành công suốt 2 năm trấn giữ Nghiệp Thành, xây dựng được một đội quân gồm 200,000 người, khiến ông trở thành vị Vương mạnh nhất tại Trung Hoa lúc bấy giờ.

Xa hơn nữa ở phía bắc, Thường Sơn Vương (常山王) Tư Mã Nghệ (司馬乂) cũng ủng hộ lời kêu gọi của Tư Mã Quýnh. Đây là lần đầu tiên chúng ta nhắc đến Tư Mã Nghệ, cũng là một trong số Bát Vương, ông sinh năm 277, và là con thứ 6 của Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm (司馬炎), tức em trai Tư Mã Trung, ông đồng thời cũng là em trai cùng cha mẹ của Sở Vương (楚王) Tư Mã Vĩ (司馬瑋) đã bị Giả Nam Phong giết. Năm 289, ở tuổi 12, Tư Mã Nghệ được Tấn Vũ Đế phong cho làm Trường Sa Vương (長沙王), trước khi băng hà. Khi Giả Nam Phong hại Tư Mã Vĩ, Trường Sa Vương Tư Mã Nghệ lúc đó còn ở trong kinh thành do tuổi còn quá nhỏ, do Tư Mã Vĩ và Tư Mã Nghệ có cùng mẹ, Hoàng hậu sợ rằng sau này Tư Mã Nghệ sẽ báo thù cho anh mình nên phế ông từ Trường Sa Vương xuống làm Thường Sơn Vương. Mặc dù nghe có vẻ giống nhau, nhưng Trường Sa là một vùng đất rộng và giàu tài nguyên ở phía nam, thời Tam Quốc là căn cứ của Tôn Kiên (孫堅), còn Thường Sơn là một vùng núi nhỏ phía bắc, nổi tiếng là quê của Triệu Vân (趙雲). Không chỉ bị phế chức, ông còn bị đuổi khỏi kinh thành đến quận mình cai trị là Thường Sơn ở tuổi 14, thời gian trôi qua 10 năm, và giờ đây Tư Mã Nghệ đã tham gia khởi binh cùng với Tư Mã Quýnh, mục đích để phế bỏ vị Hoàng đế Tư Mã Luân và lập ngôi vị lại cho anh mình là Tư Mã Trung. Mặc dù quân đội của ông rất nhỏ, Tư Mã Nghệ sẽ đóng một vai trò quan trọng giúp bảo vệ sườn cho Tư Mã Dĩnh tiến quân trong chiến dịch này.

Vị Vương cuối cùng cần nhắc tới trong phần này là Hà Gian Vương Tư Mã Ngung. Đây cũng là lần đầu tiên chúng ta nhắc tới Tư Mã Ngung, ông là con của Thái Nguyên Vương (太原王) Tư Mã Côi (司馬瓌), Tư Mã Côi là con của Tư Mã Phu (司馬孚), em trai huyền thoại Tư Mã Ý (司馬懿). Nhắc tới Tư Mã Phu, có một sự thật thú vị là trong suốt quá trình Tư Mã Sư (司馬師) và Tư Mã Chiêu (司馬昭) cố mở rộng quyền lực họ Tư Mã để cướp ngôi, chú của 2 người là Tư Mã Phu vẫn quyết trung thành với nhà Tào Nguỵ và từ chối bất kỳ chức tước nào Tư Mã Viêm ban cho sau khi ông lật đổ Hoàng đế Tào Hoán (曹奐). Mặc dù là họ hàng khá xa của Tư Mã Trung, Tư Mã Ngung chứng tỏ mình là một tướng quân rất giỏi, và được giao nhiệm vụ trấn thủ Nghiệp Thành vào 291 và Quan Trung vào năm 299.

Khi tin tức về Tư Mã Quýnh huy động quân đội tấn công Tư Mã Luân, một tướng lĩnh địa phương ở phía tây là Hạ Hầu Hân (夏侯欣) cũng có ý định đưa quân đến hỗ trợ ông, nhưng sau khi Tư Mã Ngung đánh giá sơ bộ tình hình, ông quyết định gia nhập Tư Mã Luân và sai bộ tướng của mình là Trương Phương (張方) đem quân giết Hạ Hầu Hân. Không chỉ vậy, khi sứ giả của Tư Mã Quýnh đến gặp ông để đưa thư hỏi ông có ủng hộ khởi binh hay không, Tư Mã Ngung chém đầu người này và trao thủ cấp về cho Tư Mã Quýnh.

Vui mừng khi thấy đội quân tinh nhuệ phía tây vẫn trung thành với mình, Tư Mã Luân viết thư kêu gọi Tư Mã Ngung cùng hợp binh tại Lạc Dương với ông. Và giờ chúng ta có 5 vị Vương là Triệu Vương Tư Mã Luân, Tề Vương Tư Mã Quýnh, Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh, Thường Sơn Vương Tư Mã Nghệ và Hà Gian Vương Tư Mã Nghệ cùng tiến đánh lẫn nhau, tương lai của nhà Tấn bị đe doạ nghiêm trọng.

Trận đánh đầu tiên diễn ra trong chiến dịch này là ở phía đông khi mà đội quân ở Lạc Dương của Tư Mã Luân đánh nhau với quân của Tư Mã Quýnh. Mặc dù đã chuẩn bị từ trước, Tư Mã Quýnh vẫn bị đánh bại bởi đội quân của Trương Hồng (张虹) do Tư Mã Luân cử tới. 20 vạn quân của Tư Mã Dĩnh cũng bị đẩy lùi, mất đến 8,000 binh lính, trong trận đánh với bộ tướng của Tư Mã Luân là Từ Siêu (徐超). Vị Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh 23 tuổi lần đầu tiên chỉ huy đánh trận đã hoảng sợ và đòi trở về Nghiệp Thành, nhưng nhờ có mưu sĩ Lư Chí can ngăn, ông nhanh chóng tập hợp lại quân đội và tiếp tục chiến dịch.

Giai đoạn đầu tiên của chiến dịch hai bên chỉ cầm cự và không ai thắng thế cả. Trong thời gian đó, Tư Mã Luân và Tôn Tú chỉ ở kinh thành và tổ chức lễ tế thần, nhằm xin chỉ dẫn từ Thượng đế và cầu nguyện cho quân đội ở chiến trường. Tôn Tú một lần nữa dùng mánh cũ của mình là lợi dụng các thứ mê tín dị đoan ông học được trong khi nghiên cứu về phép thuật phù thuỷ để loan tin về những chiến thắng vĩ đại trên chiến trường, nhằm khích lệ binh sĩ. Nhưng không ai tin cả và các đại thần trong triều bắt đầu cảm thấy mệt mỏi với những thứ mê tín nhảm nhí của Tư Mã Luân và Tôn Tú.

Tệ hơn nữa là Tư Mã Luân phản ứng cực kỳ thái quá với các tin tức ở chiến trường. Bất kể khi nào có tin tức chiến thắng về, ông lại phóng đại nó với các quan chức và tổ chức lễ tế thần để cảm ơn Thượng đế. Nhưng khi có bất cứ tin tức về thất bại nào được truyền tới, ông lại giấu đi và hạ lệnh cho toàn bộ toán quân rút về Lạc Dương để phòng thủ, rồi sau đó lại huỷ lệnh sau khi bình tĩnh xem xét tình hình. Những lệnh rút lui rồi lại tiến công này khiến cho các cấp chủ huy hoàn toàn rối loạn.

Sự rối loạn này khiến cho đạo quân phía bắc của Tư Mã Luân, vốn đã phải chống lại đội quân khổng lồ của Tư Mã Dĩnh, bị tiêu diệt hoàn toàn. Với chiến thắng quyết định này, Tư Mã Dĩnh ngay lập tức hạ lệnh cho quân đội chuẩn bị vượt sông Hoàng Hà và tiến thẳng vào kinh thành. Cùng thời điểm đó, quân của Tư Mã Quýnh lại không thành công cho lắm và bế tắc với quân Tư Mã Luân tại Hứa Xương. Tư Mã Nghệ trong khi đó đã giúp dẹp yên một cuộc khởi nghĩa của phe cánh ủng hộ Tư Mã Luân ở Nghiệp Thành, giữ vững hậu phương cho Tư Mã Dĩnh đang chuẩn bị tiến vào Lạc Dương.

Ở phía tây, Tư Mã Ngung khi đang tiến quân đến kinh thành thì nghe tin đạo quân phía bắc của Tư Mã Luân bị Tư Mã Dĩnh đánh bại nên quyết định đổi phe và tham gia liên minh của Tư Mã Quýnh. Với Lạc Dương bị bao vây từ mọi phía, Tư Mã Luân và Tôn Tú đã lên kế hoạch chuẩn trốn khỏi kinh thành. Nhưng Tả Trung Lang Tướng (左中郎將) lúc bấy giờ Vương Duật (王遹) đã cùng 700 quân lính làm một cuộc đảo chính và giết chết Tôn Tú, bắt Tư Mã Luân đầu hàng, trả ngai vàng lại cho Tư Mã Trung. Tư Mã Luân lúc đó không còn cách nào khác liền đổ hết tội lên đầu Tôn Tú để bảo vệ mạng sống của mình. Tư Mã Luân sau đó được áp giải đến thành Kim Dung, chờ các vị Vương khác quyết định số phận. Nhưng trước khi có bất cứ vị Vương nào tới được kinh thành, các quan chức trong triều vốn đã căm thù Tư Mã Luân sau khi cướp ngôi nên ép ông uống thuốc độc tự sát. Chỉ sau 3 tháng tại vị, Hoàng đế Tư Mã Luân đã bị giết chết, và 4 người con của ông sau đó cũng bị xử trảm.

Với cái chết của Tư Mã Luân, vòng 3 của cuộc Loạn Bát Vương đã kết thúc, nhưng với nhiều vị Vương như vậy, vòng tiếp theo của cuộc Loạn Bát Vương sẽ nhanh chóng nổ ra. Trong số này, Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh là người đầu tiên đến được kinh thành, ông nghe theo lời của mưu sĩ Lư Chí nên chỉ cho quân đội đóng ngoài thành, vào kinh một mình để cho thấy bản thân tôn trọng anh trai Tấn Huệ Đế Tư Mã Trung, và trao quyền kiểm soát lại cho Tề Vương Tư Mã Quýnh, người thành lập liên minh, ông đòng thời cũng đưa một phần quân đội mình tới hỗ trợ Tư Mã Quýnh, lúc này đang đánh nhau bế tắc trước tàn dư của quân trung thành với Tư Mã Luân.

Tuy nhiên, đội quân này cũng nhanh chóng đầu hàng sau khi nghe tin về cuộc đảo chính của Vương Duật và cái chết của Tư Mã Luân. Sau đó quân của Tư Mã Quýnh cuối cùng cũng đến được kinh thành. Tư Mã Quýnh hạ lệnh cho 10 vạn quân của mình tiến thẳng vào trong kinh thành, còn mình thì đến ở chỗ dinh thự cũ của cha là Tư Mã Du (司馬攸). Hoàng đế sau khi nghe Tư Mã Dĩnh nói Tư Mã Quýnh là người đầu tiền khởi binh đánh Tư Mã Luân thì trọng thưởng, cho ông nhiếp chính.

Tư Mã Quýnh sau đó ban thưởng cho các vị Vương đã đưa quân tới giúp mình. Ông muốn phong Tư Mã Dĩnh làm Đại tướng quân nhưng Tư Mã Dĩnh từ chối và đơn giản chỉ muốn trở về căn cứ Nghiệp Thành để trấn thủ biên cương phía bắc cho nhà Tấn. Tư Mã Nghệ thì được phong trở lại làm Trường Sa Vương, và được giữ một chức quan tại kinh thành. Tư Mã Ngung dù trước đây liên minh với Tư Mã Luân nhưng vẫn được thăng chức mặc dù bị yêu cầu quay trở lại Quan Trung để bảo vệ biên giới phía tây.

Mặc dù Tư Mã Quýnh không muốn soán ngôi như Tư Mã Luân, ông cũng là một nhiếp chính bất tài và tham lam, nghĩ rằng dinh thự của cha mình quá nhỏ so với chức vị hiện tại, ông bắt hơn 100 hộ gia đình phải bỏ đi nơi khác để mở rộng dinh thự cho mình, bắt tất cả các tấu sở phải đến tay ông trước rồi mới truyền cho Hoàng đế.

Trong khi ông lo sống hưởng thụ trong vinh hoa phú quý, các chỉ huy dưới quyền ông cũng lo đấu đá tranh giành quyền lực. Một trong những chỉ huy thua trong cuộc đấu đá này là Lý Hán (李汉), khiến ông bị mất một chức quan cao. Vì vậy vào tháng 4 năm 302, không lâu sau khi Tư Mã Quýnh được phong làm nhiếp chính, Lý Hán viết thư cầu cứu cho Tư Mã Ngung, biết rằng ông đang ghét Tư Mã Quýnh sau khi được ban thưởng ít như vậy mặc dù đổi phe chống lại Tư Mã Luân. Trong thư, Lý Hán nói mặc dù Tư Mã Quýnh không có tham vọng cướp ngôi, hành động kiêu ngạo và lấn quyền của Tư Mã Quýnh là không thể chấp nhận được, và xin Tư Mã Ngung viết hịch kêu gọi các vị Vương khác hợp binh đánh Tư Mã Quýnh sau đó lên thay làm nhiếp chính.

Như chúng ta đã thấy qua việc Tư Mã Ngung đổi phe, ông không có ngu để làm quân cờ cho người khác và biết rằng đang yên bình thì viết hịch kêu gọi khởi binh một lần nữa là không thể. Nên đã lên kế hoạch khác để có danh chính ngôn thuận đem quân đi đánh Tư Mã Quýnh. Đầu tiên, ông bí mật viết thư cho các vị Vương thân cận với mình, nhất là Tư Mã Dĩnh lúc này nắm giữ một đội quân hùng hậu, rằng ông đang lên kế hoạch lật đổ Tư Mã Quýnh. Sau đó, ông cho người của mình ở kinh thành phao tin rằng các vị Vương khác đang chuẩn bị hợp binh để đánh Tư Mã Quýnh, và Trường Sa Vương Tư Mã Nghệ, lúc này đang ở kinh thành, sẽ thông đồng mở một cuộc đảo chính lật đổ Tư Mã Quýnh từ bên trong. Tư Mã Nghệ vốn chỉ là một vị Vương nắm rất ít binh quyền sau khi bị Hoàng hậu phế chức, nên không được Tư Mã Ngung thông báo cho kế hoạch. Tư Mã Ngung chỉ hy vọng rằng tin đồn này sẽ khiến Tư Mã Quýnh xử trảm Tư Mã Nghệ, giúp ông có cớ liên minh với Tư Mã Dĩnh đánh Tư Mã Quýnh.

Quả đúng như vậy, sau khi tin đồn đến được tai Tư Mã Quýnh, ông liền hạ lệnh bắt giữ và chém đầu Tư Mã Nghệ. Tuy nhiên, không muốn làm tốt thí trong trận chiến giữa Tư Mã Ngung và Tư Mã Quýnh, Tư Mã Nghệ lúc đó chỉ huy chưa tới 100 vệ binh đã mở một cuộc đảo chính thần kỳ, giúp tên tuổi ông được xếp ngang hàng với các Bát Vương khác trong sử sách. Để biết Tư Mã Nghệ đã làm gì, trở lại với phần sau nhé.

 7: VÒNG 4: TƯ MÃ NGHỆ VÀ CUỘC CHIẾN Ở LẠC DƯƠNG

93995804_511362786191129_5385477350928416768_o

Trong phần trước, Hoàng đế Tư Mã Luân (司馬倫) đã bị tiêu diệt và Tư Mã Quýnh (司馬冏) được lên thay thế, nhưng ông lại không học được từ lịch sử và đạp lên vết xe đổ của Tư Mã Luân. Vì tin đồn Tư Mã Nghệ (司馬乂) định liên minh với các vị Vương khác lật đổ mình, Tư Mã Quýnh cho người đến bắt Tư Mã Nghệ. Chỉ có khoảng 100 vệ sĩ trong tay, số phận của Tư Mã Nghệ có lẽ đã được định sẵn là tốt thí trong trò chơi vương quyền này.

Nhưng chúng ta sẽ không có phần này nếu như Tư Mã Nghệ chỉ đầu hàng trước số phận. Tuy nhiên, sau khi nghe tin Tư Mã Quýnh đòi xử trảm mình, Tư Mã Nghệ đã mở một trong những cuộc đảo chính thành công nhất lịch sử. Chỉ với 100 binh lính trong tay, ông biết rằng mình cần hỗ trợ mới đánh được với Tư Mã Quýnh, nhưng không ai trong kinh thành dám đứng lên phản đối nhiếp chính Tư Mã Quýnh quyền lực cả.

Vì vậy ông và quân đội mình bất ngờ xuống đường với Tư Mã Nghệ dẫn đầu, họ không không chạy trốn khỏi kinh thành, mà là tiến thẳng đến cổng Hoàng cung. Không giống như cuộc đảo chính thất bại cùng 700 kiếm sĩ Hoài Nam của Tư Mã Sung (司馬充). Tư Mã Nghệ và quân đội đã vào được bên trong Hoàng cung trước khi lính gác kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, vì dinh thự của Tư Mã Quýnh nằm trong góc khuất không thể thấy cổng Hoàng cung. Tư Mã Nghệ sau đó bắt giữ Tư Mã Trung (司馬衷) làm con tin và dùng danh nghĩa Hoàng đế để triệu tập Ngự Lâm Quân và hạ lệnh cho đóng tất cả cổng Hoàng cung.

Sau đó, trong hai ngày liên tiếp, quân của Tư Mã Quýnh và Tư Mã Nghệ giao tranh quyết liệt tại kinh thành. Ngay cả khi nắm Ngự Lâm Quân trong tay, quân của Tư Mã Nghệ vẫn ít hơn nhiều so với Tư Mã Quýnh, vì vậy Tư Mã Nghệ cho người đốt các vị trí chiến lược quan trọng tại kinh thành, khiến Tư Mã Quýnh phải dàn mỏng quân đội đi dập lửa, còn mình thì tập trung lực lượng tại Hoàng cung.

Tư Mã Quýnh sau đó cho người lấy trộm Quân kỳ trong cung, nhằm mục đích lấy lại quyền kiểm soát Ngự Lâm Quân. Mặc dù Ngự Lâm Quân được chỉ định là phải tôn trọng lệnh từ người nắm giữ Quân kỳ như thể đó chính là lệnh từ Hoàng đế, Tư Mã Nghệ lại luôn giữ Tư Mã Trung bên cạnh, khiến Tư Mã Quýnh không có cách nào nói Hoàng đế theo phe mình.

Trong hai ngày liên tiếp kinh thành hoàn toàn rơi vào hỗn loạn, khi mà cả 2 bên đều nói mình được Hoàng đế ủng hộ, và bên còn lại mới chính là phản tặc. Các lực lượng còn lại ở Lạc Dương cũng liên tục đổi phe và không biết phải ủng hộ cho ai. Nhưng cuối cùng, Tư Mã Nghệ nhờ có Hoàng đế trong tay nên thắng thế và bắt giữ được Tư Mã Quýnh, mặc dù ban đầu quân đội nhỏ hơn rất nhiều.

Sau khi bắt giữ Tư Mã Quýnh, ông thấy rằng mình không có đủ lực lượng trong kinh thành để giữ mạng sống cho Tư Mã Quýnh, lo lắng rằng phe cánh trung thành với Tư Mã Quýnh sẽ mở một cuộc đảo chính một lần nữa, Tư Mã Nghệ hạ lệnh chém đầu Tư Mã Quýnh và những người trung thành với ông để kiểm soát hoàn toàn Lạc Dương. Sau 2 ngày liên tiếp đánh nhau tại kinh thành, lại có thêm 2,000 người bị xử trảm.

Không như các vị Vương trước đây, Tư Mã Nghệ sau khi kiểm soát kinh thành không tự phong mình làm nhiếp chính hay các chức quan cao khác, ông vẫn phục vụ cho Hoàng đế Tư Mã Trung, xin lỗi Hoàng đế vì bắt ông làm con tin do tình hình lúc đó cần thiết. Và ông thề rằng sẽ tận tâm phục vụ cho người dân tại Lạc Dương, trao chức nhiếp chính lại cho em trai là Thành Đô Vương (成都王) Tư Mã Dĩnh (司马颖), hiện tại đang ở Nghiệp Thành. Tư Mã Nghệ rất tôn trọng Tư Mã Dĩnh, nhất là sau khi ông nhường chức nhiếp chính cho Tư Mã Quýnh, trong khi mình là người tiêu diệt đạo quân phía bắc của Tư Mã Luân. Chúng ta đã biết trong phần trước, Tư Mã Dĩnh là vị Vương quyền lực nhất Trung Hoa lúc bấy giờ, với quân đội hơn 20 vạn người. Có lần khi cả hai đến viếng thăm lăng cha mình là Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm (司馬炎), Tư Mã Nghệ đã nói với Tư Mã Dĩnh rằng triều đại này do tổ tiên chúng ta dày công gây dựng, đừng nên để nó bị sụp đổ. Có thể thấy, Tư Mã Nghệ hoàn toàn tin tưởng em trai Tư Mã Dĩnh.

Cuộc sống quay trở lại bình thường tại Lạc Dương, và sử sách không hề ghi nhận gì về những sự kiện diễn ra sau khi Tư Mã Nghệ đảo chính. Đủ để cho thấy ông không làm những chuyện gì “quái lạ” như các vị Vương khác, từ cố gắng được nổi tiếng sau khi giết nhiếp chính như Tư Mã Vĩ (司馬瑋), dùng những thứ mê tín dị đoan để soán ngôi như Tư Mã Luân, hay coi thường Hoàng đế và xây cả một dinh thự khổng lồ như Tư Mã Quýnh. Tư Mã Nghệ không làm những việc này và nhường chức nhiếp chính cho Tư Mã Dĩnh, nhưng Tư Mã Dĩnh càng ngày càng tự cao và bắt đầu âm mưu soán ngôi làm Hoàng đế.

Trong khi đó ở phía tây, chúng ta cũng không nên quên mất người đã gây ra tất cả việc này, Hà Gian Vương (河間王) Tư Mã Ngung (司馬顒). Tư Mã Ngung ban đầu cho rằng tin đồn của mình sẽ khiến Tư Mã Nghệ bị xử trảm, giúp ông có cớ động binh đánh Tư Mã Quýnh. Nhưng giờ Tư Mã Quýnh đã chết và Tư Mã Nghệ lại trở thành anh hùng trừ gian giúp nước trong mắt người dân nên ông không có cớ để đưa quân đội đến kinh thành làm nhiếp chính.

Tướng quân Lý Hán (李汉) từng viết thư xin Tư Mã Ngung đánh Tư Mã Quýnh giờ lại bị Tư Mã Ngung sai ám sát Tư Mã Nghệ, nhưng Lý Hán ám sát không thành và lại bị giết. Tức giận, Tư Mã Ngung dùng cái chết của Lý Hán làm cớ đem 70,000 quân đi đánh Tư Mã Nghệ, người chỉ có trong tay 50,000 quân vào thời điểm đó.

Nghe có vẻ lực lượng hai bên không chênh lệch mấy, điều xảy ra tiếp theo lại khiến Tư Mã Nghệ hoàn toàn sốc. Người em trai mà ông tin tưởng là Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh cũng đem 200,000 quân từ Nghiệp Thành đến tấn công Tư Mã Nghệ từ phía đông. Do lo sợ anh trai mình quá giỏi, mà Hoàng đế giờ lại không còn con trai sau khi Thái tử Tư Mã Duật (司馬遹) bị Giả Nam Phong (賈南風) hại chết, Tư Mã Dĩnh sợ sau khi Tư Mã Trung chết, các quan chức trong triều sẽ cử Tư Mã Nghệ lên thay, mặc dù bản thân Tư Mã Nghệ muốn nhường chức nhiếp chính cho ông. Trước đây Tư Mã Dĩnh cũng gửi sát thủ tới giết Tư Mã Nghệ như Tư Mã Ngung đã làm, và sát thủ đó cũng thất bại nhưng may mắn là Tư Mã Nghệ không bao giờ nghi ngờ em trai mình. Vì vậy lần này thay vì đem sát thủ đến, Tư Mã Dĩnh đem cả đội quân 20 vạn người để đảm bảo tiêu diệt Tư Mã Nghệ một lần và mãi mãi.

Và rồi đột nhiên lực lượng nhỏ bé của Tư Mã Nghệ lại phải một lần nữa chống chọi với đối thủ lớn hơn. Ở phía tây, 70,000 quân của Tư Mã Ngung dưới sự chỉ huy của tướng Trương Phương (張方); ở phía đông bắc, 200,000 quân của Tư Mã Dĩnh dưới trướng Lục Kỳ (陸机), cháu nội của Lục Tốn (陸遜), tướng quân nổi tiếng của Đông Ngô thời Tam Quốc, giúp Ngô giết được tướng Quan Vũ (關羽) của Lưu Bị (刘备).

Sau khi Đông Ngô bị nhà Tấn lật đổ, những người đến từ các gia tộc lớn phía nam như Lục Kỳ đã đầu quân cho Tư Mã Dĩnh, vốn đã nổi tiếng từ khi ra trấn thủ Nghiệp Thành. Sự nổi tiếng này không chỉ giúp ông có 20 vạn quân, mà còn giúp ông thu phục được nhiều người tài, ví dụ như Lư Chí (卢志), chắt của Lư Thực (卢植) đã nhắc đến trong phần trước, và giờ là cả Lục Kỳ. Khi Tư Mã Dĩnh lựa người chỉ huy quân đội, ông đã chọn người đến từ một gia tộc lớn phía nam là Lục Kỳ để lấy lòng khu vực này, tiện cho việc sau này lên làm Hoàng đế. Nhưng quyết định này cũng khiến nhiều tướng sĩ dưới trướng không hài lòng bởi đa phần họ là người phương bắc.

Hai cánh quân của Tư Mã Dĩnh và Tư Mã Ngung hợp binh bao vây Lạc Dương được 5 tháng. Mặc dù lương thực dần cạn kiệt, kinh thành vẫn tiếp tục được giữ vững nhờ sự tài trí của Tư Mã Nghệ. Nhưng đến tháng 1 năm 304, một số quan chức trong triều cho rằng việc Tư Mã Nghệ cố thủ cũng vô ích và hiện tại, đầu hàng là lựa chọn duy nhất.

Dẫn đầu nhóm quan chức này là Đông Hải Vương (東海王) Tư Mã Việt (司馬越), vị Bát Vương cuối cùng tham gia loạn. Đây là lần đầu tiên chúng ta nhắc đến Tư Mã Việt, nhưng ông trước đây cũng có tham gia Loạn Bát Vương rồi. Tư Mã Việt là con của Cao Mật Vương (高密王) Tư Mã Thái (司馬泰), Tư Mã Thái là con của Tư Mã Quỳ (司馬馗) em trai thứ tư của Tư Mã Ý (司馬懿). Tư Mã Việt ngay từ đầu luôn ở kinh thành và còn giúp Giả Nam Phong lật đổ nhiếp chính Dương Tuấn (杨骏) ở phần 3. Nhờ như vậy mà ông được Giả Nam Phong cân nhắc trở thành Đông Hải Vương. Sau khi được phong chức tước, Tư Mã Việt chỉ ở lại kinh thành và im hơi lặng tiếng suốt nhiều năm trong khi các vị Vương khác chém giết lẫn nhau.

Giờ đây với nguồn lương thực cạn kiệt, Tư Mã Việt cuối cùng cũng liên minh với các quan chức khác làm đảo chính, bắt giữ Tư Mã Nghệ và xin Hoàng đế cho mình thương lượng hoà bình với các Vương địa phương. Sau khi chính quyền Lạc Dương ra thương lượng với Tư Mã Ngung và Tư Mã Dĩnh thì mới phát hiện quân đội của các vị Vương này cũng đang dần cạn kiệt hậu cần, tướng Trương Phương dưới trướng Tư Mã Ngung đã phải đem chém hết 1 vạn nô lệ làm thức ăn cho quân đội vào mùa đông.

Khi các quan chức này biết được tin quân của Tư Mã Ngung và Tư Mã Dĩnh sắp bị đánh bại, họ bàn bạc với nhau và muốn thả Tư Mã Nghệ ra tiếp tục chỉ huy. Trong khi tất cả mọi người đang chuẩn bị ăn mừng chiến thắng, Tư Mã Việt lại sợ sau khi Tư Mã Nghệ lên nắm quyền trở lại sẽ hận mình do làm đảo chính. Nên ông bí mật liên lạc với quân của Tư Mã Ngung, mang họ vào thành để giải Tư Mã Nghệ cho Trương Phương. Sau đó Trương Phương hạ lệnh thiêu sống Tư Mã Nghệ. Vị Trường Sa Vương (長沙王) vốn đang trên đà chiến thắng thì bị Tư Mã Việt đâm sau lưng và bị Trương Phương thiêu sống, hưởng thọ 28 tuổi.

Với cái chết của Tư Mã Nghệ, lực lượng quân đội ở Lạc Dương cũng nhanh chóng đầu hàng và một lần nữa Tư Mã Dĩnh và Tư Mã Ngung tiếp tục đưa quân vào kinh thành. Vì Tư Mã Dĩnh là vị Vương đông quân nhất, lại có gia phả gần với Tư Mã Trung hơn, Tư Mã Ngung buộc phải chấp nhận Tư Mã Dĩnh làm Thái đệ, kế vị Tư Mã Trung, đồng thời là nhiếp chính cho nhà Tấn.

Mặc dù đã đến quá gần với chức vị Hoàng đế, Tư Mã Dĩnh lại đưa ra một quyết định kỳ lạ không thể tin nổi. Ông nói sẽ chấp nhận làm Thái đệ và nhiếp chính nhưng lại không đóng quân ở Lạc Dương mà quyết định rút về Nghiệp Thành. Ông làm vậy bởi mẹ ông cảm thấy thích Nghiệp Thành hơn và không muốn dời về Lạc Dương, ngoài ra Nghiệp Thành cũng là nơi nam sủng (情夫), tức “bạn trai” của ông (thời này quan hệ đồng giới khá bình thường), cuối cùng thì dù sao ông cũng làm nhiếp chính ở Nghiệp Thành từ lúc Tư Mã Nghệ trao chức đó cho ông rồi, nên Tư Mã Dĩnh cũng không lo lắng lắm.

Do đó, với Tư Mã Dĩnh rút về Nghiệp Thành, Tư Mã Ngung rút về Quan Trung, khoảng trống quyền lực ở kinh thành Lạc Dương đột nhiên rơi vào tay không ai khác ngoài Tư Mã Việt. Trước đây chưa ai nghĩ vị Vương im hơi lặng tiếng này sẽ gây nguy hiểm gì nhiều, nhưng giờ đây Tư Mã Việt biết rằng thời cơ đã đế và ông lên kế hoạch để làm Hoàng đế.

Để biết kế hoạch của Tư Mã Việt là gì và kết quả cuối cùng của Loạn Bát Vương, trở lại với phần sau, và cũng là phần cuối của series, khi mà cả 3 vị Vương cuối cùng hỗn chiến lẫn nhau cho đến khi chỉ còn 1 người duy nhất.

PHẦN CUỐI: TAM VƯƠNG HỖN CHIẾN

Trong phần trước, Thành Đô Vương (成都王) Tư Mã Dĩnh (司馬穎) đã chọn rút về Nghiệp Thành sau khi được phong làm Thái đệ nối ngôi và nhiếp chính, để cai trị. Với quyền lực lớn như vậy, sự tự cao của ông càng ngày càng thể hiện rõ, Tư Mã Dĩnh chỉ lo ăn chơi không màn chính sự, khiến những mưu sĩ và tướng quân trước đây giúp ông gây dựng sự nghiệp dần chán nản. Khi các mưu sĩ này đến khuyên ông, Tư Mã Dĩnh lại cho rằng mình đã nắm giữ triều chính nên mặc kệ họ.Trong vài tháng sau đó, sự ủng hộ Tư Mã Dĩnh bị suy giảm nghiêm trọng, mở đường cho Đông Hải Vương (東海王) Tư Mã Việt (司馬越), lúc này đang ở kinh thành tiến đánh.

Ông viết hịch nói rằng Tư Mã Dĩnh coi thường Hoàng đế vì sống xa hoa hơn Tư Mã Trung (司馬衷) và xin Tấn Huệ Đế đem quân đánh Tư Mã Dĩnh, phế ông khỏi chức Thái đệ. Biết rằng mình không có tiếng nói với các tướng lĩnh và Vương địa phương, Tư Mã Việt xin Hoàng đế đứng ra chỉ huy quân đội để lực lượng địa phương cùng tham gia. Kế hoạch thành công và nhiều vị Vương khác cũng đem quân đến Lạc Dương để cùng Hoàng đế thảo phạt.Vì vậy vào tháng 7 năm 304, Tư Mã Việt đem 10 vạn quân từ Lạc Dương tiến đánh căn cứ của Tư Mã Dĩnh ở Nghiệp Thành, với Hoàng đế Tư Mã Trung dẫn đầu.

Khi Tư Mã Dĩnh biết được tin anh trai Tư Mã Trung định thảo phạt mình, ông hoảng sợ và định bỏ Nghiệp Thành rút lên phía bắc. Nhưng các mưu sĩ lúc đó can ngăn, nói rằng không chỉ chúng ta đông quân hơn, mà quân sĩ dưới trướng cũng vô cùng tinh nhuệ sau nhiều năm chinh chiến xa trường. Tư Mã Dĩnh sau khi bình tĩnh suy xét lại thì sai tướng là Thạch Siêu (石超) đem 5 vạn quân ra chặn đánh.

Chỉ trong một trận đánh duy nhất, 10 vạn quân ô hợp từ các quân phiệt địa phương của Tư Mã Việt và Tư Mã Trung nhanh chóng tan rã. Thạch Siêu sau đó bắt giữ được Hoàng đế Tư Mã Trung, lúc này đang bị thương nặng do dính 3 mũi tên và bị quân lính bỏ mặc trên chiến trường. Với Hoàng đế giờ bị bắt giam và Tư Mã Việt chạy bán sống bán chết về đất được phong là Đông Hải, Tư Mã Dĩnh đã có một chiến thắng quyết định.Quay trở lại với phía tây, chúng ta lại tiếp tục quên mất Hà Gian Vương (河間王) Tư Mã Ngung (司馬顒), người là đồng minh thân cận với Tư Mã Dĩnh.

Sau khi nghe tin Tư Mã Việt mang quân đến đánh Tư Mã Dĩnh, ông sai tướng Trương Phương (張方) đem 2 vạn quân đến Nghiệp Thành hỗ trợ Tư Mã Dĩnh. Khi Trương Phương gần đến kinh thành, tin về chiến thắng của Tư Mã Dĩnh truyền đến tai ông, Trương Phương liền chủ động cho quân lính đánh chiếm Lạc Dương, lúc này không ai bảo vệ. Sau khi chiếm được Lạc Dương, Trương Phương lại hạ lệnh cho quân đội đốt phá và cướp bóc khắp kinh thành, cảnh tượng vô cùng khủng khiếp.

Ở Nghiệp Thành, sau khi Tư Mã Dĩnh tiêu diệt được quân đội của Tư Mã Việt, ông chuyển hướng tiến công lên phía bắc vào U Châu, biên cương phía bắc của Trung Hoa, gần nơi ở của ngoại tộc Ngũ Hồ. Ở thời Loạn Bát Vương, U Châu được trấn thủ bởi tướng quân Vương Tuấn (王浚), trước đây ủng hộ Triệu Vương (趙王) Tư Mã Luân (司馬倫) nên gây thù chuốc oán với Tư Mã Dĩnh, nhưng do Vương Tuấn đóng quân quá xa ở phía bắc, Tư Mã Dĩnh không có thời gian thảo phạt ông, trước đây sau khi diệt được Tư Mã Nghệ (司馬乂) thì có cử bộ tướng là Hà Diễn (何眼) và mua chuộc các bộ tộc phương bắc để cùng hợp binh giết Vương Tuấn, nhưng do trời mưa quá lớn nên tiến độ quân bị chậm lại, đồng thời ngoại tộc cho đây là dấu hiệu không lành nên phản lại Tư Mã Dĩnh, giết chết Hà Diễn và gia nhập Vương Tuấn.

Chiến thắng của Tư Mã Dĩnh làm thay đổi hai thứ. Thứ nhất là Hoàng đế đã bị bắt giữ ở Nghiệp Thành và không còn mối đe dọa nào ở phía nam. Thứ hai là em trai của Tư Mã Việt là Tư Mã Đằng (司馬騰) cũng đóng quân ở phía bắc, sợ rằng Tư Mã Đằng sẽ liên minh với anh trai, Tư Mã Dĩnh quyết định sai tướng là Vương Bân (王斌) đưa quân lên thảo phạt cả Vương Tuấn và Tư Mã Đằng. Vương Tuấn bèn liên minh với các ngoại tộc phía bắc như Tiên Ti và Ô Hoàn để đánh Tư Mã Dĩnh, do kỵ binh của các bộ tộc này quá mạnh, quân của Vương Bân chưa đánh đã bỏ chạy.

Vương Tuấn thấy vậy lại bắt đầu lên kế hoạch nam tiến chiếm Nghiệp Thành, Tư Mã Dĩnh cử tướng Thạch Siêu, vừa đánh bại Tư Mã Việt xong, đến cố thủ nhưng vẫn không chống nổi kỵ binh Tiên Ti.Vì quân đội gần như đã bị tiêu diệt, Tư Mã Dĩnh bỏ Nghiệp Thành, đem tàn quân còn lại cùng Hoàng đế Tư Mã Trung chạy về Lạc Dương, Vương Tuấn và bộ lạc Tiên Ti mặc kệ không thèm truy đuổi, mà lo cướp bóc, đốt phá, thảm sát Nghiệp Thành.

Mặc dù chiến dịch này không phải là cuộc chiến giữa Bát Vương với nhau, nhưng đây là mầm móng cho giai đoạn “Ngũ Hồ loạn Hoa,” mở ra thời kỳ Thập Lục Quốc sau này. Các sử gia coi Loạn Bát Vương là giai đoạn trung gian giữa thời kỳ nhà Tấn bắt đầu sụp đổ và thời kỳ Ngũ Hồ Thập Lục Quốc. Nhưng chúng ta phải biết là không phải tự nhiên mà các ngoại tộc phương bắc xuống tấn công nhà Tấn bị suy yếu, mà chính là do các vị Vương tham gia loạn mời những bộ tộc này xuống phía nam để làm “lính đánh thuê” thay cho quân đội bị suy yếu của mình, dẫn tới sau này các tộc Ngũ Hồ nam tiến và xâm lược nhà Tấn.

Trở lại với câu chuyện, sau khi Tư Mã Dĩnh bắt Tư Mã Trung chạy về Lạc Dương, ông mới phát hiện kinh thành đã bị Trương Phương đốt phá, Tư Mã Ngung sau khi thấy quân đội của Tư Mã Dĩnh đã bị tiêu diệt, hết giá trị lợi dụng, ông sai Trương Phương bắt Tư Mã Dĩnh và Tư Mã Trung làm con tin, phế luôn chức Thái đệ của Tư Mã Dĩnh. Trương Phương sau đó cho quân lính cướp bóc luôn Hoàng cung, rồi hạ lệnh cho quân đội giết hết người dân ở Lạc Dương và bắt Hoàng đế về Trường An. Nhưng Lư Chí (盧志) lúc đó đi cùng Tư Mã Dĩnh xin Trương Phương tha cho người dân ở kinh thành, nói rằng nếu làm vậy, sử sách sẽ ghi nhận ông là Đổng Trác (董卓) thứ 2.

Trương Phương sau khi suy tính thì đồng ý tha cho người dân, với điều kiện là Hoàng đế và tức cả quan chức phải dời về căn cứ của Tư Mã Ngung ở Trường An. Tư Mã Dĩnh giờ đây trở thành con cờ cho Tư Mã Ngung sau khi mất hết quân đội.Hành động đốt phá ở kinh thành và bắt Hoàng đế về Trường An của Trương Phương giúp Tư Mã Việt có cớ để một lần nữa viết hịch kêu gọi lực lượng quân phiệt ở phía đông hợp binh đánh Tư Mã Ngung, sau khi ông thành công xây dựng lực lượng quân đội mới ở Đông Hải. Liên quân Tư Mã Việt thành lập gồm ông và 3 em trai là Tư Mã Đằng, Tư Mã Lược (司馬略), Tư Mã Mô (司馬模) cùng em họ là Tư Mã Thành (司馬城), liên quân tôn Tư Mã Việt làm chỉ huy và đem quân tây tiến.

Chiến dịch tây tiến đã gặp khó khăn ngay từ ban đầu, Thứ sử Vũ Châu lúc đó là Lưu Kiều (刘钊) ban đầu ủng hộ Tư Mã Việt, nhưng Tư Mã Việt muốn em họ ông là Tư Mã Thành giữ Dự Châu, nên sai Lưu Kiều đến trấn giữ Nghiệp Thành. Lưu Kiều không muốn mất vùng Trung Nguyên nên đổi phe và ngăn chặn đường tiến quân của Tư Mã Việt.Trong khi Tư Mã Ngung đang bàn bạc với các tướng lĩnh nên làm gì tiếp theo, Trương Phương lúc đó nói với ông rằng mặc dù họ có ít quân lính hơn, Trương Phương vẫn có thể giữ chân liên quân nếu có 10 vạn quân, ông khuyên Tư Mã Ngung cho ông đưa Hoàng đế thiểu năng về Lạc Dương để liên minh không có cớ đánh tiếp và đưa Tư Mã Dĩnh về Nghiệp Thành để làm phân tán lực lượng của Tư Mã Việt.

Tư Mã Ngung tuy nhiên rất lo sợ về Trương Phương, ông không muốn đưa hết quân độ và Hoàng đế cho vị tướng quân này, sợ rằng Trương Phương sẽ phản bội ông và làm những việc không ngờ tới như tự phong mình làm nhiếp chính. Vì vậy Tư Mã Ngung lấy cớ là Lưu Kiều đã đổi phe rồi nên không cần lo lắng, đưa một lực lượng nhỏ tới giúp Lưu Kiều chặn đường tấn công và chỉ đồng ý một phần kế hoạch của Trương Phương là trả Tư Mã Dĩnh về Nghiệp Thành xây dựng quân đội để làm phân tán lực lượng của Tư Mã Việt.Ban đầu thì quân đội của Lưu Kiều và viện quân của Tư Mã Ngung khá mạnh, khiến quân của Tư Mã Việt thua liên tục.

Tuy nhiên, sau khi Tư Mã Việt liên minh với Vương Tuấn cùng các bộ tộc Tiên Ti, quân của Tư Mã Việt nhanh chóng mạnh lên và tiêu diệt được Lưu Kiều cùng viện quân của Tư Mã Ngung.Tàn dư quân đội của Tư Mã Ngung bỏ chạy về Lạc Dương, vừa đúng lúc Tư Mã Dĩnh cũng tới kinh thành trên đường đến Nghiệp Thành. Nhận thấy rằng tiếp tục tiến lên phía bắc là tự sát với đội quân khổng lồ của Tư Mã Việt, Thành Đô Vương Tư Mã Dĩnh cùng tàn dư quân đội quyết định tiếp tục chạy về căn cứ Trường An của Tư Mã Ngung.

Biết được tin về lực lượng lớn mạnh của liên minh Tư Mã Việt, Tư Mã Ngung vô cùng tức giận, cho rằng vì Trương Phương đốt phá kinh thành và ép Hoàng đế về Trường An nên mới xảy ra chuyện. Nên ông cho người bí mật ám sát Trương Phương, tướng quân giỏi nhất của mình và dùng thủ cấp của Trương Phương đưa cho Tư Mã Việt để cầu hoà.

Nhưng Tư Mã Việt khi thấy tướng địch giỏi nhất đã chết thì không những từ chối mà còn thúc giục quân lính tiến nhanh hơn.Hối hận vì quyết định của mình, lại không còn quân đội để giữ Trường An, Tư Mã Ngung bỏ thành và chạy lên núi trốn. Tư Mã Việt sau đó cho phép tộc Tiên Ti cướp phá Trường An như là phần thưởng đã giúp đỡ mình, khiến hơn 2 vạn người chết. Tư Mã Việt chiến thắng và bắt được Hoàng đế, đưa Tư Mã Trung trở về Lạc Dương.

Tuy nhiên, câu chuyện của Tư Mã Ngung chưa kết thúc, bởi lúc này ở Trường An có nhiều người trung thành với ông, họ ám sát Thái thú Trường An do Tư Mã Việt cử tới và mời Tư Mã Ngung quay trở lại, tuy nhiên, do còn quá ít quân đội, Tư Mã Ngung chỉ có thể cố thủ Trường An trước sự bao vây của các Thái thú được lệnh Tư Mã Việt đến giết ông. Tư Mã Ngung mặc dù giữ được Trường An nhưng không còn ảnh hưởng để mở rộng địa bàn ra ngoài thành nữa.

Một vị Vương khác cũng lên núi trốn là Tư Mã Dĩnh, ông sau đó định tìm đường trốn về Nghiệp Thành, để cùng những tướng lĩnh trung thành mở một cuộc nổi loạn khác. Nhưng ông bị quân của Tư Mã Thành, em họ của Tư Mã Việt bắt ở Nghiệp Thành. Tư Mã Thành quyết định tha mạng cho ông, vì dù sao vẫn là người trong gia đình.

Đáng buồn thay, Tư Mã Thành không lâu sau bị bệnh mất, và được Lưu Dư lên thay, Lưu Dư sợ Tư Mã Dĩnh có quá nhiều tướng lĩnh trung thành tại Nghiệp Thành sẽ nổi binh làm loạn, nên liền cho người siết cổ chết Tư Mã Dĩnh cùng 2 người con.Quay trở lại kinh thành, Tư Mã Việt được phong làm Thái phó và nhiếp chính cho triều đình.

Nhưng ông chứng tỏ mình có gan hơn nhiều so với các tất cả các Vương trước đây, ít lâu khi trở về Lạc Dương, Hoàng đế Tư Mã Trung đã băng hà do bị đầu độc chết. Mặc dù sử sách không ghi nhận lại bất kỳ bằng chứng nào, nhiều người cũng nghĩ và biết rằng đây là âm mưu của Tư Mã Việt. Mặc dù giờ Tư Mã Trung đã băng hà, Tư Mã Việt cũng không thể làm Hoàng đế do họ hàng quá xa với Tư Mã Trung. Thay vào đó, Tư Mã Xí (司馬熾), con trai thứ 25 của Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm (司馬炎), tức em trai Tư Mã Trung được lựa chọn nối ngôi, Tư Mã Việt vẫn giữ chức thái phó và nhiếp chính.

Để ăn mừng đại lễ đăng quang, Tư Mã Xí viết Thánh chỉ cho phép tha tội cho tất cả các tội phạm khắp Trung Hoa. Tư Mã Ngung cũng được ân xá và được mời về Lạc Dương làm quan. Mừng rỡ trước việc này, Tư Mã Ngung cùng 3 người con tới kinh thành để nhậm chức, nhưng trên đường đi, em trai của Tư Mã Việt là Tư Mã Mô có tư thù với ông nên chặn đường và siết cổ chết 4 người.

Với cái chết của Tư Mã Ngung, Loạn Bát Vương cuối cùng cũng kết thúc và Tư Mã Việt trở thành vị Vương duy nhất còn sống sót, trở thành Thái phó và nhiếp chính cho Hoàng đế mới là Tư Mã Xí, người mà ông sẽ nhanh chóng nhận ra là khó kiểm soát hơn nhiều so với anh trai Tư Mã Trung. Mặc dù Tư Mã Việt là người chiến thắng cuối cùng, ông chỉ còn sống thêm được 4 năm nữa trước khi lâm bệnh do quá mệt mỏi và căng thẳng trong công việc, vì trong 4 năm liên tục vừa phải đảm đương triều chính, vừa phải củng cố quyền lực, vừa phải chống lại các cuộc xâm lược từ những ngoại tộc phương bắc.

Chưa đầy 1 năm sau khi Tư Mã Việt chết, tộc Tiên Ti từ phía bắc do Lưu Thông (刘聪) chỉ huy đã đánh chiếm Trung Hoa, chiếm được Lạc Dương và bắt Hoàng đế Tư Mã Xí làm nô lệ, kết thúc nhà Tây Tấn.Triều đại mà Tư Mã Viêm ước mơ sẽ kéo dài như nhà Hán chỉ tồn tại 51 năm, và hai thế hệ Hoàng đế. Bởi mâu thuẫn nội bộ giành quyền kiểm soát Hoàng đế thiểu năng Tư Mã Trung đã làm suy yếu trầm trọng vương triều này.

Về phần Tư Mã Trung mặc dù bị thiểu năng, ông lại là người được sống hưởng thụ nhất trong thời loạn lạc giữa các vị Vương trước khi băng hà ở tuổi 48 do bị đầu độc. Đối với bản thân Bát Vương, 4 người bị xử trảm, 2 người bị siết cổ chết, 1 người bị thiêu sống, và ngay cả người chiến thắng là Tư Mã Việt cũng không sống được bao lâu trước khi quá mệt mỏi với công việc. Chúng ta cũng không thể không nhắc đến số quân lính và dân thường chết trong giai đoạn này là nhiều vô số kể, có thể lên đến 1 triệu người.

Và đó, là kết thúc của Loạn Bát Vương.


One thought on “Loạn Bát Vương cuối thời nhà Tấn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s