Nho Giáo và Chữ Lễ có trói buộc con người, không cho sáng tạo không?

1383701_1434581886800707_518635503969870286_n.jpg

Nguyễn Văn Nghệ

    Trong bài viết GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm: “Giáo dục hỏng chính là do triết lý giáo dục sai lầm”, tác giả Nhật Lệ đã đặt câu hỏi với ông Trần Ngọc Thêm: “Ông có thể phân tích thêm về các hệ lụy của “triết lý” này?”. Ông Trần Ngọc Thêm đã trả lời: “… chính là do ảnh hưởng của triết lý giáo dục “con ngoan trò giỏi” mà chúng ta đã khôi phục khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” ở khắp nơi, cứ tưởng rằng xã hội lộn xộn thì chỉ cần gò trẻ em vào lễ là xong. Nề nếp do lễ mang lại ở đâu chưa thấy, trong khi ai cũng biết rằng, Nho giáo và chữ Lễ trói buộc con người, không cho sáng tạo thì rất rõ. Không sáng tạo làm sao có phát triển?”(1)

  Nho giáo và chữ Lễ có trói buộc con người, không cho sáng tạo như nhận định của ông Trần Ngọc Thêm không?

    Tác dụng của Lễ trong cuộc sống

  Nếu ai đã đọc qua phần khái quát chữ Lễ trong tác phẩm Nho giáo của cụ Trần Trọng Kim thì mới thấy chữ Lễ rất là thâm thúy. Lễ đã làm cho tất cả sinh hoạt trong xã hội đều có quy củ: “Đạo đức nhân nghĩa, không có lễ không thành; dạy bảo, sửa đổi phong tục, không có lễ không đủ; xử việc phân tranh kiện tụng, không có lễ không quyết; vua tôi, trên dưới,cha con, anh em, không có lễ không định; học làm quan, thờ thầy, không có lễ không thân; xếp đặt thứ vị trong triều, cai trị quân lính, đi làm quan, thi hành pháp lệnh không có lễ không uy nghiêm; cầu khấn tế tự, cung cấp quỷ thần, không có lễ không thành kính, không trang chính. Bởi thế cho nên quân tử dung mạo phải cung, trong bụng phải kính, giữ gìn pháp độ, thoái nhượng, để làm sáng rõ lễ” (Lễ ký: Khúc lễ thượng)

   Lễ khiến cho sự hành vi của con người có chừng mực, để lúc nào cũng hợp với đạo trung: “Cung kính mà không có lễ thì phiền, cẩn thận mà không có lễ thành ra sợ hãi, dũng mà không lễ thì loạn, trực mà không có lễ thành ra vội vã” (Luận ngữ: Thái Bá, XIII).

    Nếu không có lễ, lấy gì mà phân biệt nghĩa vua tôi, trên dưới cho có đạo lý?: “Trong những cái của dân cậy mà sinh hoạt thì lễ là to hơn cả. Không có lễ thì không phân biệt ngôi vua tôi, trên dưới , lớn bé; không có lễ thì không có thể phân biệt cái lòng thân của trai gái, cha con, anh em, sự giao tiếp về hôn nhân về người thân hay người sơ” ( Lễ ký: Ai công vấn, XXVII)

   Những cái tình của con người thì ẩn khuất ở trong lòng không sao biết được, chỉ có Lễ mới ngăn giữ mà thôi: “ Cái đại dục của người ta là ở việc ăn uống, trai gái, bao giờ cũng có, cái đại ố của người ta là ở sự chết mất, nghèo khổ , bao giờ cũng có. Cho nên dục, ố là cái mối lớn của tâm vậy, người ta giấu kín cái tâm không thể dò xét được; cái hay cái dở đều ở trong tâm, không hiển hiện ra ngoài. Nếu muốn tóm lại làm một để biết cho cùng mà bỏ Lễ (xả lễ) thì lấy gì mà biết được” (Lễ ký: Lễ vận, IX).

   Lễ giống như con đê ngăn lũ: “Phù lễ cấm loạn chi sở do sinh, do phường chỉ thủy chi tự lai dã” (Lễ là sự cấm loạn sinh ra, như đường đê giữ nước không đến vậy – Lễ ký: Kinh giải, XXVI).

    Tác dụng của lễ thật là quảng đại, thật là tinh vi, đủ chứng là tâm lý học của Nho giáo sâu xa vô cùng. Tác phẩm “ Trung Quốc triết học sử” ghi lời nhận xét của Hồ Thích: “ Trong cái nghĩa rộng chữ Lễ có hàm cái tính chất pháp luật, nhưng lễ thì thiên trọng về cái quy củ tích cực, mà pháp luật thì thiên trọng về cái cấm chế tiêu cực. Lễ thì dạy người ta nên làm điều gì và không nên làm điều gì; pháp luật thì cấm không cho làm những việc gì, hễ làm thì phải tội. Người làm điều trái Lễ thì chỉ bị người quân tử chỉ nghị chê cười, chứ người làm trái pháp luật thì có hình pháp xét xử”

   Dùng Lễ có lợi hơn là có thể ngăn cấm được việc chưa xảy ra, mà dùng pháp luật thì chỉ để trị cái việc đã có rồi, bởi vậy thánh nhân chỉ trọng Lễ, chứ không trọng hình: “ Phàm cái biết của người ta chỉ biết được cái đã có rồi, không biết được cái sắp có. Lễ là để cấm trước cái sắp có, pháp luật là để cấm sau cái đã có rồi… Lễ vậy, lễ vậy, lễ quý là dứt được điều ác từ lúc chưa nảy mầm ra, dấy lòng kính ở chỗ người ta không trông thấy, để cho dân ngày ngày đến gần điều thiện, xa điều tội, mà tự mình không biết”( Đại đái Lễ ký: Lễ tế)(2).

    Người xưa dùng đức trị, Lễ trị chứ không muốn dùng pháp chế: “ Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ. Đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách” ( Nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng, chuyên dùng hình phạt mà trị dân, thì dân sợ mà chẳng dám phạm phép thôi, chớ họ chẳng biết hổ ngươi. Vậy muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh, muốn trị dân, nhà cầm quyền phải dùng Lễ tiết, thì chẳng những dân biết hổ ngươi, họ lại còn cảm hóa và trở nên tốt lành – Luận ngữ: Vi chính, II)

   Nho giáo và chữ Lễ không hề trói buộc con người

   Ông Trần Ngọc Thêm bảo: “trong khi ai cũng biết rằng, Nho giáo và chữ Lễ trói buộc con người…”có vẻ như võ đoán. Theo tôi không phải “ai cũng biết rằng…”, chỉ có những người nghiên cứu Nho giáo một cách hời hợt và bị ảnh hưởng cách giáo dục theo đường lối cộng sản mới có kết luận về Nho giáo như vậy.

   Có những học thuyết mới ra đời chỉ mươi năm mà đã bộc lộ những sai lầm một cách rõ rệt, huống chi học thuyết Nho giáo xuất hiện đã hơn hai ngàn năm thì làm sao tránh khỏi những khiếm khuyết! Nhà nghiên cứu Will Durant đã nhận xét về Nho giáo: “ Không nên trách Khổng tử về tất cả những nhược điểm ấy. Không ai lại đòi một triết gia phải suy tư cho hai chục thế kỷ. Trong một đời người làm sao có thể tìm được con đường đưa tới tri thức cho hết thảy các đời sau. Mà rất ít người làm nhiệm vụ ấy một cách đầy đủ như Khổng tử. Càng hiểu rõ ông, chúng ta càng ngạc nhiên rằng chỉ có một phần nhỏ trong đạo của ông là không hợp với khoa học, với những sự biến đổi do thời gian. Khi ta nhận thấy rằng ngay ở thời đại chúng ta, ông vẫn còn là người chỉ đường chắc chắn cho chúng ta, thì chúng ta quên những lời đôi khi hơi nhàm của ông và đức độ quá hoàn toàn của ông làm cho ta có lúc chịu không nổi” (3)

   Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng – Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã luyến tiếc cho truyền thống Nho giáo đã “bị đứt gãy” ở Việt Nam: “ …với đội ngũ hành chính- công vụ ở các nước Đông Bắc Á, tôi thấy truyền thống Nho giáo sâu xa đã giữ gìn được sự liêm sỉ đích thực.

    Ở các nước ấy truyền thống Nho giáo liền mạch, chứ không bị đứt gãy như ở Việt Nam. Thời phong kiến xưa, ở Việt nam ta từng có những ông quan sẳn sàng xây dựng kênh rạch tưới tiêu xuyên qua đất của mình. Có liêm chính, có tinh thần phụng sự quốc gia, những người này sẳn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích quốc gia, chứ tuyệt đối không nắn chỉnh kênh rạch thành một “đường cong mềm mại”.

    Tất nhiên vào những thời suy, quan lại phong kiến tha hóa, xấu xa không phải là không có, nhưng vào những thời thịnh, số lượng quan thanh liêm là rất nhiều. Sự thịnh trị có được chính là nhờ vào đội ngũ quan lại thanh liêm như vậy.

   Bây giờ chúng ta phải tìm cách khơi gợi, nuôi dưỡng trở lại cái tinh thần bị đứt gãy ấy. Lương bổng là cần, nhưng lương bổng chỉ là một nửa của vấn đề. Một nửa còn lại chính là tinh thần, đạo đức, cốt cách và sự liêm sỉ”(4)

   Cách nhận định về Nho giáo của ông Trần Ngọc Thêm rất là hời hợt. Trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của ông có 13 trang viết về Nho giáo và Văn hóa Việt Nam, ông đã đưa ra nhiều dẫn chứng sai lạc về Nho giáo. Ông đã ca ngợi ông Hồ Chí Minh: Chính vì đặt nước lên trên mà một người xuất thân từ dòng dõi Nho gia như Hồ Chí Minh dám đi ngược lại giáo huấn của Nho giáo: Dám bỏ lại cha già để đi tìm đường cứu nước tại trời Tây xa xôi( theo Nho giáo thì “phụ mẫu tại bất viễn du” – cha mẹ còn, con không được đi xa)(5).

   Cách giải thích như vậy chúng tôi gọi là giải thích theo kiểu “tắc tử” kiểu “nửa vời”. Nho giáo nào cấm cha mẹ còn, con không được đi xa. Sách Luận ngữ, ở thiên Lý nhân ghi rõ ràng: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương” (Trong khi cha mẹ còn sanh tiền, phận làm con chớ có đi chơi xa, như có đi chơi xa thì thưa trước cho cha mẹ biết để cha mẹ an tâm).

   Trong câu ấy gồm hai vế, nhưng ông Trần Ngọc Thêm chỉ lấy vế đầu giải thích để đạt được mục đích là ca ngợi ông Hồ Chí Minh, cho nên câu giải thích của ông Trần Ngọc Thêm trở thành “câu què, câu cụt”.

   Hậu quả của việc bỏ cũ theo mới ở Việt Nam hiện nay

   Trong thời gian trước đây, những ai sinh ra và lớn lên được giáo dục dưới mái trường xã hội chủ nghĩa đều bị nhồi nhét tư tưởng cho rằng “Nho giáo là bảo thủ lỗi thời và kiềm hãm sự phát triển của xã hội”. Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”“tàn dư tệ hại của Khổng giáo” cho nên “ chúng ta không thể dung hòa được với Khổng giáo và hệ tư tưởng phản động và bảo thủ của nó” “chúng ta phải kiên trì đấu tranh để quét sạch nó ra khỏi mọi lãnh vực của đời sống xã hội như quét sạch những đống rác bẩn vậy!”(6)

   Dân tộc Việt Nam đã trải qua một thời gian dài chịu ảnh hưởng Nho giáo. Khi những người cộng sản Việt Nam nắm chính quyền ở Miền Bắc thì quyết tâm phá bỏ nền văn hóa cũ để xây dựng một nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Riêng ở Miền Nam, vào năm 1958, Tổng thống Ngô Đình Diệm ra lệnh thành lập Hội Khổng học trên tất cả các tỉnh thành để tiếp tục duy trì quảng bá đạo đức cương thường của tổ tiên.

     Việc bỏ cũ theo mới được cụ Trần Trọng Kim nhận xét trong “lời phát đoan” của tác phẩm Nho giáo: “Xét ra cho kỹ, sự bỏ cũ theo mới của ta hiện thời bây giờ không phải là không cần cấp, nhưng vì người mình nông nổi, không suy nghĩ cho chín, chưa gì đã đem phá hoại cả đi, thành thử cái xấu, cái dở của mình thì vị tất đã bỏ đi được, mà lại làm hỏng mất cái phần tinh túy đã giữ cho xã hội của ta được vững bền hàng mấy nghìn năm nay. Phàm người ta muốn bỏ cái cũ đã hẩm nát, tất là phải có cái mới tốt hơn, đẹp hơn để thay vào. Nay ta chưa có cái mới mà đã vội vàng bỏ cái cũ đi, thành ra đổ nát cả, mà không có cái gì thay vào được. Ấy là cái tình trạng nước ta ngày nay là thế, khác nào như chiếc thuyền đi ra giữa biển, đánh mất địa bàn chỉ nam, không biết phương hướng nào mà đi cho phải đường, cứ lênh đênh mãi, không khéo lại bị sóng gió va vào đá vỡ tan mất cả. Đó là điều ta nên biết để tìm cách mà chữa lại được chút nào chăng”(7).

   Chính do những người cộng sản chủ trương đoạn tuyệt với nền luân lý đạo đức duy lý nhã nhặn mà tổ tiên ta đã hấp thụ để chạy theo học thuyết duy lý hung hăng của Đức, Nga mà hậu quả theo kết quả điều tra ở Việt Nam vào năm 2006 cho thấy: Tỷ lệ nói dối cha mẹ ở học sinh cấp Tiểu học là 22%, cấp Trung học Cơ sở là 50%, cấp Trung học Phổ thông là 64%, Sinh viên là 80% (8)

   Chữ Lễ không hề trói buộc con người như lập luận của ông Trần Ngọc Thêm. Người Việt Nam ai cũng sợ mang tiếng là “đồ vô lễ”.Con người mà “vô lễ” thì sẽ không từ bỏ bất cứ hành động gian ác nào.

    Để ngày càng hoàn thiện trên con đường đạo đức, mỗi người luôn “khắc kỷ phục lễ” (chế thắng lòng tư dục của mình và theo về lễ tiết- Luận ngữ: Nhan Uyên, XII), phải “ước ngã dĩ lễ” ( dùng lễ tiết mà ước thúc thân tâm ta – Luận ngữ: Tử Hãn, IX), thì khi ấy người người sẽ thực thi: “ Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” (không phải lễ thì chớ trông, không phải lễ thì chớ nghe, không phải lễ thì chớ làm – Luận ngữ: Nhan Uyên , XII).

   Người giàu sang biết Lễ thì không dâm tàn, không kiêu căng; người bần tiện biết Lễ thì không nản chí, không làm bậy; cán bộ, viên chức mà biết Lễ thì biết cách lo cho dân, cho nước.

   Nếu như cán bộ quan chức trong bộ máy đảng và chính quyền nước ta hiện nay biết “ khắc kỷ phục lễ”, biết “ước ngã dĩ lễ” thì đâu đến nỗi bà cựu Phó Chủ tịch Nguyễn Thị Doan phải thốt lên trước bàn dân thiên hạ: “…Cái liều vacxin tiêm cho một cháu lại san ra tiêm cho hai cháu ngay tại Hà Nội. Tôi càng đi càng thấy buồn, “ăn” của dân không từ một cái gì”. Nói theo ngôn ngữ dân gian thì quan tham “ăn tận đáy quần chúng”.

   Những gì là tinh hoa văn hóa của nhân loại (không phân biệt Tây hoặc Tàu) thì chúng ta sẳn sàng tiếp nhận để làm cho nền văn hóa của dân tộc ta ngày càng thêm phong phú!

 


    Chú thích:

    1-https://laodong.vn/archived/gstskh-tran-ngoc-them-giao-duc-hong-chinh-la-do-triet-ly-giao-duc-sai-lam-712932.ldo

    2-Lệ Thần Trần Trọng Kim, Nho giáo quyển thượng (in lần thứ tư) Nxb Tân Việt, Saigon- Việt Nam, tr. 147- 156

    3-Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa (Nguyễn Hiến Lê dịch), Nxb Văn hóa Thông tin, tr. 92-93

    4-antgct.cand.com.vn/Tro-chuyen-cuoi-thang/Nguyen-pho-chu-nhiem-van-phong-Quoc-hoi-Tien-si-Nguyen-Si-Dung-Phai-khoi-goi-nhung-gia-tri-dut-gay-kien…

    4-https://nghiencuulichsu.com/2017/05/22/noi-co-sach-mach-co-chung/

    6-nhavantphcm.com.vn/…duong-van-hoc/ve-khau-hieu-“tien-hoc-le-hau-hoc-van”.htm…

    7-Lệ Thần Trần Trọng Kim, Nho giáo quyển thượng (in lần thứ tư), Nxb Tân Việt, Saigon- Việt Nam, tr. XV ( Lời phát đoan)

    8-www.nguoiduatin.vn/ti-le-hoc-sinh-noi-doi-tang-dan-theo-tuoi-a106618.html

 

 

  

10 thoughts on “Nho Giáo và Chữ Lễ có trói buộc con người, không cho sáng tạo không?

  1. Lễ là một Kinh của Nho Giáo (tứ Thư và ngũ Kinh). Nội dung của Lễ rất rộng, nhưng chung quy là cách đối xử với Thần Linh (phải kính cẩn, nhưng không nên gần gúi).
    Mở rộng, đó là cách bề dưới đối xử với bề trên. Nói chung là lễ phép, kính trọng và vâng lời.
    Trong bài này, tác giả dùng lời lẽ của những bậc Nho Gia ca ngợi chữ Lễ. Các bậc nho Gia đi đến kết luận, đã đi học thì học Lễ trước, học Văn sau.

    Thời nào cũng phải học ứng xử, thời vua quan (phong kiến) có những quy ước (rất nghiêm) trong ứng xử với bề trên. Nay là thời khác xưa, vẫn phải học ứng xử, nhưng dân không cần quỳ lạy các quan (công chức, bộ trưởng), Lạy vua (chủ tịch nước) phải 3 lần quỳ gối, khi cúi thì trán phải chạm đất. Nay không thế nữa.

  2. Tác giả lập luận rất hay! tôi không phải người nghiên cứu nhưng cũng thích đọc sách 50 năm nay nên cũng võ vẽ thế nào là ” Nho” thế nào là “nhe”. Ông Trần Ngọc Thêm chắc là xu thời, hò theo đám đông ” thoát Tàu” “thoát Trung” nên mới vội vàng chửi ” Nho” như vậy. Thiết nghĩ ở mức độ nào đó ông cũng là Nho đấy. Cũng cần nói về việc ông Thêm bàn rằng Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước là rứt bỏ ràng buộc của Nho giáo, tác giả đã nói là ông ăn bớt trong việc trích văn. Về ý này thì tôi nghĩ ông Thêm cố tình quên hay không biết là người Tàu cũng định nghĩa rất rõ ràng về Nho, Bác Hồ của chúng ta mới thực là Nho Quân tử “dĩ Thiên hạ vi kỷ nhiệm- 以天下為己任“ chứ không phải là Nho chỉ biết đọc sách ngâm thơ. Nịnh Bác Hồ kiểu ông Thêm chỉ làm Bác thêm buồn. Thế mới biết chỉ vì câu nói thôi mà có khi đang là “Nho” lại thành “nhe” vậy.
    Thay vì hô hào thoát Tàu (không biết có thoát nổi không?) chúng ta nên học theo người Nhật là phải ” Hòa”, nhân đây mới thấy niên hiệu ” Lệnh Hòa-令和” của Nhật Hoàng mới đăng quang thâm thúy thật. Chỉ cần một Niên hiệu mà có thể thay thế cho nhiều tuyên ngôn khẩu hiệu xáo ngôn xáo ngữ.

  3. Cả hai ý kiến nói trên đều có lý.
    Tuy vậy, tôi vẫn không hiểu vì sao:
    1) Thời nay, học sinh Trung Quốc từ rất lâu đã không được học Lễ nữa. Nói chung, trường phổ thông bên Tàu không “tiên học Lễ” nữa.
    Tàu đã bỏ đi, liệu VN ta có nên rước về hay không?
    2) Châu Âu không học Lễ (họ học đạo đức kiểu khác, dạy trẻ mạnh dạn, không khúm núm như sách Lễ hướng dẫn) sao nhanh chóng có văn minh công nghiệp, còn chấu Á vẫn chỉ là văn minh nông nghiệp (trừ Nhật, bỏ Nho giáo từ thời Duy Tân).
    3) Ở VN, muốn học Lễ thì học sách nào (tiếng Việt), tìm mua ở đâu?

  4. Tôi rất đồng tình với những nội dung mà tác giả nêu ra trong bài viết. Nay xin được bổ sung thêm vài thắc mắc để được rõ nghĩa hơn:
    Cần phân biệt hai khái niệm Nho học và Nho giáo? Nền tảng Nho học của Khổng Mạnh là học thuật, là triết lý và nhân sinh quan trong xã hội phong kiến, chứ không phải là thứ “tôn giáo” mà chế độ vương quyền đã “biến tướng” từ thời Hán đến thời cận đại. Tư tưởng Nho học từ thời của Đổng Trọng Thư đời Hán, đến Chu Hy đời Tống, Vương Dương Minh đời Minh, ngày càng xa rời và biến dạng.
    Nếu điều kiện cho phép, nhất là lãnh vực Nho học thì cần phải tìm hiểu nguyên tác (nếu được) thì sẽ khách quan hơn, tối thiểu phải đọc và hiểu được chữ Hán (Trung văn), những sách dịch chỉ tham khảo là chính.
    Sử dụng nhiều nguồn khác nhau, thí dụ về Nho học, ngoài các bậc thầy cận đại như Trần Trọng Kim, Phan Bội Châu, Nguyễn Hiến Lê ……, các bậc thầy “tự do” như Phó Bội Vinh (傅佩榮) học giả Đài Loan, Vương Đông Nhạc (王东岳) học giả Trung Quốc …. Sẽ thấy được nét thâm sâu, tuyệt vời, vượt thời gian của Nho học Khổng Mạnh, vẫn còn có giá trị để ứng dụng vào xã hội hiện nay của Trung Quốc và Việt Nam.
    Những gì là tinh hoa văn hóa của nhân loại (không phân biệt Tây hoặc Tàu) thì chúng ta sẳn sàng tiếp nhận để làm cho nền văn hóa của dân tộc ta ngày càng thêm phong phú! (Nguyễn Văn Nghệ). Đồng ý và “hoan hô hai tay”. Rất mong được đón nhận thêm những bài viết với chủ đề Nho Học.
    Là kẻ hậu học, tự mày mò qua sách vở, tìm hiểu thêm trên mạng Internet, nay xin mạn phép góp vài ý (thiển cận) về nội dung bài viết, rất mong các bậc học giả chỉ dạy thêm.
    Kỳ Thanh.

  5. Tôi rất đồng tình với những nội dung mà tác giả nêu ra trong bài viết. Nay xin được bổ sung thêm vài thắc mắc để được rõ nghĩa hơn:
    Cần phân biệt hai khái niệm Nho học và Nho giáo? Nền tảng Nho học của Khổng Mạnh là học thuật, là triết lý và nhân sinh quan trong xã hội phong kiến, chứ không phải là thứ “tôn giáo” mà chế độ vương quyền đã “biến tướng” từ thời Hán đến thời cận đại. Tư tưởng Nho học từ thời của Đổng Trọng Thư đời Hán, đến Chu Hy đời Tống, Vương Dương Minh đời Minh, ngày càng xa rời và biến dạng.
    Nếu điều kiện cho phép, nhất là lãnh vực Nho học thì cần phải tìm hiểu nguyên tác (nếu được) thì sẽ khách quan hơn, tối thiểu phải đọc và hiểu được chữ Hán (Trung văn), những sách dịch chỉ tham khảo là chính.
    Sử dụng nhiều nguồn khác nhau, thí dụ về Nho học, ngoài các bậc thầy cận đại như Trần Trọng Kim, Phan Bội Châu, Nguyễn Hiến Lê ……, các bậc thầy “tự do” như Phó Phối Vinh (傅佩榮) học giả Đài Loan, Vương Đông Nhạc (王东岳) học giả Trung Quốc …. Sẽ thấy được nét thâm sâu, tuyệt vời, vượt thời gian của Nho học Khổng Mạnh, vẫn còn có giá trị để ứng dụng vào xã hội hiện nay của Trung Quốc và Việt Nam.
    Những gì là tinh hoa văn hóa của nhân loại (không phân biệt Tây hoặc Tàu) thì chúng ta sẳn sàng tiếp nhận để làm cho nền văn hóa của dân tộc ta ngày càng thêm phong phú! (Nguyễn Văn Nghệ). Đồng ý và “hoan hô hai tay”. Rất mong được đón nhận thêm những bài viết với chủ đề Nho Học.
    Là kẻ hậu học, tự mày mò qua sách vở, tìm hiểu thêm trên mạng Internet, nay xin mạn phép góp vài ý (thiển cận) về nội dung bài viết, rất mong các bậc học giả chỉ dạy thêm.
    Kỳ Thanh.

  6. Nếu để Hội Đống lý luận ca ngợi chủ nghĩa Mác thì hay tới mức con kiến trong lỗ phải bò ra mà nghe.
    Tác giả bài này dùng quan điểm nho giáo để bàn về LỄ thì ca ngợi bao nhiêu vẫn không đủ.
    Nội dung Lễ ngày xưa rất chặt chẽ, cụ thể. Nay không thể làm theo được. Nếu làm khác đi, thì không được phép gọi đó là Lễ.

  7. “Tiên học lễ hậu học văn”, học “văn” là học cái gì vậy? “Văn”: của thời Khổng Tử có khác gì với “văn” ngày nay không? Có khác với “văn” cách đây 1000 năm, 500 năm không? Thậm chí với “học” cũng vậy, “học” thời KT có còn mang cái nghĩa học của ngày nay không? “Học” thời đó là thế nào? Học thời nay là thế nào? “Thấy” thời đó, “dạy” thời đó có giống như “thấy”, như “dạy” ngày nay không? 2000 năm qua “lễ nghĩa” của nhân loại đã đi từ đâu tới đâu? Sao lại cứ bám vào một KT? Tứ Thư, Ngũ Kinh cũng chẳng phải do KT viết ra! (chỉ viêt một trong Ngũ Kinh) Ai viết thì chỉ có người đó hiểu chính xác nghĩa của câu chữ. Không phải là nguời viết mà diễn nghĩa thì chỉ là đoán mò. Mà đoán mò thì lợi chắc chắn không bằng hại! Hơn nữa, Cái gì lâu quá, cũ quá thì nên vứt đi. Nếu có năng luợng, có năng lực trí tuệ thì hãy nói học ngày nay có phải khác học ngày xưa hay không? Tại sao phải khác hay tại tại sao không cần phải khác? 2000 năm rồi, hãy để những con khủng long ngủ yên trong nhà bảo tàng.

  8. Đề tài này rất hay. Quan điểm rất khác nhau, nếu thảo luận cho ra nhẽ tôi tin rằng sẽ rất bổ ích. Như cách đây mấy năm bạn đọc của NCLS thảo luận thích thú về Nguyễn Trường Tộ và “bộ ngũ” vậy

    Theo tôi biết, từng có rất nhiều bài thảo luận về Tiên học lễ. Dịp này, tôi có nguyện vọng bác nào tìm được những bài đã công bố, xin giới thiệu cho tôi rinh về (cảm ơn rất nhiều).

    Tôi thấy cần làm rõ nội hàm của Lễ trong đạo Nho. Khi nội hàm đã rõ (và hiểu thống nhất) mới có thể quyết định có học Lễ hay không. Tôi đã vào Wikipedia để tìm hiểu Tứ Thư, Ngũ Kinh (trong đó có kinh Lễ). Bước đầu, thấy rằng rất khó học Lễ (vì không hợp thời nữa).

  9. ” Có nhiều người khi nghe nói đến Nho giáo, liền công kích Nho giáo, bảo Nho giáo “lỗi thời, kiềm hãm sự phát triển của xã hội”. Nhưng khi được hỏi: Anh (chị) có khi nào đọc “Lời phát đoan” của cụ Trần Trọng Kim khi viết tác phẩm Nho giáo không?

    Và câu trả lời là : Chưa!

    Cần phải đọc đi, đọc lại nhiều lần “Lời phát đoan”, rồi mới đọc nội dung tác phẩm Nho giáo, khi ấy chúng ta mới có cái nhìn không bị thiên lệch về Nho giáo.

    Một số người bảo là Nho giáo không thể dung hòa với xã hội hiện nay. Chúng ta lắng nghe một đoạn trong “Lời phát đoan” của cụ Trần Trọng Kim: ” Đến nay thời cục biến đổi, thế lực tân học mạnh lên, lòng người thiên về đường trí xảo, tình cảm càng ngày càng đơn bạc, văn hóa vật chất cực thịnh. Nho giáo tự hồ cái nhà cũ đã hẩm nát hết cả, động đến là đổ bẹp xuống. Đó là lỗi của bọn Nho học không biết theo đúng tông chỉ của Khổng tử, phải tùy thời mà biến đổi cho hợp lẽ tự nhiên, cho nên mới thành ra kết quả tồi tụy như ngày nay. Giả sử ta biết nhận cái lỗi ấy, rồi tìm cách mà sửa đổi lại cho hợp thời, thì biết đâu sau này Nho giáo dung hòa với khoa học, lại không thành ra cái học có giá trị lắm hay sao?”

    Thực hành chữ Lễ, không có nghĩa là chúng ta bê nguyên xi những gì đã thực hành cách nay hơn 2000 năm, mà chúng ta ” phải tùy thời mà biến đổi cho hợp lẽ tự nhiên”.

    Thực hành Lễ là chúng ta tuân thủ những nguyên tắc luân lý xã hội mà chúng ta đang sống. Học Lễ không khó, những bậc phụ huynh, thầy cô chẳng những lấy lời nói dạy dỗ mà còn phải là tấm gương sáng để thế hệ trẻ noi theo (dĩ ngôn vi giáo, dĩ thân vi giáo)

    Những ai đã đọc qua câu chuyện “Học trò biết học” trong tác phẩm “Cổ học tinh hoa” thì thấy rõ cách học Lễ giáo của Công Minh Tuyên cùng với thầy giáo Tăng tử rất là tinh tế.

    Hãy đọc kỹ phần “Chữ Lễ” trong tác phẩm Nho giáo rồi ứng dụng một cách uyển chuyển vào xã hội hiện nay thì sẽ thấy tác dụng của chữ Lễ

    – Nguyễn Văn Nghệ-

  10. Thời nào cũng vậy (xưa và nay) và bất cứ ở đâu cũng vậy (Á và Âu)… thì nền Giáo Dục ở mỗi quốc gia đều phải dạy trẻ em cách ứng xử cho phù hợp.
    Châu Á dạy Lễ, châu Âu không dạy Lễ mà dạy cái khác. Châu Á dạy Lễ thực chất là để tạo ra những thần dân gương mẫu, biết ứng xử ở xã hội vua quan. Châu Âu muốn xã hội có những công dân gương mẫu trong một xã hội đã xóa bỏ chế độ vua quan.
    VN theo bên nào? Hay là dung hòa?
    Cụ Trần Trọng Kim (khi nghiên cứu Nho Giáo) đã chính thức nói: Nho Giáo hiện nay như căn nhà xập xệ, đụng vào đâu cũng muốn đổ ụp. Chữ Lễ trong căn nhà này cũng như vậy. Vì nó sinh ra từ 2000 năm trước. Cần thay đổi Nho và Lễ cho hợp thời đại. Câu hỏi: Thay đổi thế nào? Ai đề xuất những thay đổi cụ thể?

    Tác giả Nguyễn Văn Nghệ đã lên tiếng.
    Ông nói: Hãy đọc kỹ phần “Chữ Lễ” trong tác phẩm Nho giáo rồi ứng dụng một cách uyển chuyển vào xã hội hiện nay thì sẽ thấy tác dụng của chữ Lễ (Nguyễn Văn Nghệ).

    Liệu tác giả NVNghe có thể làm được không? Chỉ cần một cái dàn ý là tạm đủ.
    Xin nhắc rằng, ông NVN tha hồ thay đổi Nho và Lễ (theo chỉ thị của cụ Trần Trọng Kim), nhưng thay tới mức mất cả cái gốc ban đầu (thậm chí đảo ngược) thì phải đổi tên (không còn gọi là Nho và Lễ nữa).
    Ngoài ra, tác giả NVN còn phải bác bỏ việc dạy trẻ em hiện nay đang làm “ngược” với Lễ. Ví dụ dạy các cháu suy nghĩ độc lập, dạy phản biện khi thấy cái sai (dù do lãnh tụ nói)…

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s