Vua Khải Định, hình ảnh và sự kiện

214531baoxaydung_image002

Bộ võ phục do vua Khải Định cải biên

Võ Hương  An

Lời thưa

Có thân hữu hỏi tôi tại sao chọn đề tài về Vua Khải Định? Dường như câu hỏi hàm ý thắc mắc rằng Vua Khải Định đâu phải là một khuôn mặt đáng chú ý trong lịch sử, và triều đại của ông có gì đặc biệt đâu để quan tâm?

Vâng, quả đúng như thế. Vấn đề tôi quan tâm là ở chỗ khác.

Thứ nhất, trong mấy năm trở lại đây, trên mạng lưới toàn cầu cũng như trên báo chí, nhiều hình ảnh của Việt Nam thời Pháp thuộc được phổ biến rộng rãi chưa từng có. Đó là một kho tài liệu rất quí giúp chúng ta có thể hiểu một thời quá khứ của đất nước qua nhiều lãnh vực khác nhau, vì một hình ảnh nói nhiều hơn cả trăm trang giấy. Tiếc thay, những hình ảnh đó đã không được chú thích đầy đủ, thậm chí, chú thích sai lầm.

Thứ hai, thời Khải Định là giao thời giữa cũ và mới, trong triều đình cũng như ngoài xã hội. Cái cũ chưa bị xóa đi hay sửa đổi và cái mới chỉ vừa bắt đầu, khác với thời Bảo Đại về sau. Tháng 10 năm 1932, vua Bảo Đại về nuớc cầm quyền. Qua năm 1933, vua đi thăm Bắc kỳ và nam Trung kỳ. Một nhà báo Pháp đã ghi lại những cuộc viếng thăm này trong một phóng sự, về sau xuất bản thành sách, và hai viên quan của triều đình Huế đã dịch ra tiếng Việt. Trong sách đó, khi đăng lại những hình ảnh dưới thời Khải Định – nghĩa là những hình ảnh của hơn mười năm về trước – tác giả đã gọi đó là “những hình ảnh ngày xưa”. Hồi bấy giờ mà đã gọi rằng xưa thì nay đối với chúng ta là đồ cổ. Cái tôi quan tâm là chút đồ cổ đó.

Trong khả năng hạn chế, tôi thu thập những hình ảnh đã được ghi nhận vào thời ấy, kết hợp với những tài liệu khả tín, để trình bày lại một cách trung thực những sinh họat có tính cách nghi lễ của triều Khải Định, từ đó chúng ta có thể thấy và hiểu được những gì vốn chỉ được nghe và hiểu một cách tam sao thất bản.

Thật là buồn cười khi thấy trên một tài liệu quảng cáo du lịch Huế cái cảnh du khách mặc áo đội mũ phường tuồng ngồi ăn cơm giữa cảnh hầu hạ của mấy cô gái mặc áo dài đội khăn vành với chú thích rằng đó là “Ăn cơm vua” (Royal meal)! Chuyện quảng cáo thương mãi thì nói làm gì, nhưng e người ta sẽ yên trí rằng đó là sự thật của quá khứ thì tủi hổ cho lịch sử và văn hóa Việt Nam quá. Cũng vậy, nếu trong một kịch bản điện ảnh hay sân khấu nào đó, mà có tác giả bắt mấy ông vua Nhà Nguyễn mặc y trang của vua Tàu và dùng ngôn ngữ của phim bộ Trung Quốc, Đài Loan, hay Hàn Quốc, thì thật là tội nghiệp cho Nhà Nguyễn.

Bởi thế, bài viết này chỉ là sự thu nhặt hình ảnh của một thời, rải rác đây đó, và trình bày lại một cách có hệ thống với chú giải đáng tin cậy để cung cấp cho độc giả một cái nhìn trung thực hơn về những cảnh đã diễn ra trong một thời quá khứ.

Đến đây, xin cho phép tôi nói lên lời cảm ơn các ông Nguyễn Tấn Lộc và Ngô Công Đức ở Pháp, là những người có lòng nghĩ đến lợi ích văn hóa và lịch sử dân tộc, nên đã bỏ công phổ biến một số những hình ảnh tài liệu lên mạng lưới toàn cầu, giúp chúng tôi có thêm chất liệu căn bản để hoàn thành bài biên khảo này.

Sau cùng, xin cảm ơn quí độc giả đã bỏ chút thì giờ để đọc bài này, và xin biết ơn những chỉ dẫn sai sót mà chúng tôi không thấy.

Trân trọng,
Võ Hương-An

1/ Đường đến ngai vàng của vua Khải Định

Sau khi kinh đô Huế bị thất thủ (23 tháng năm Ất Dậu, 7/5/1885) ) Vua Hàm Nghi chạy ra vùng rừng núi Quảng Bình-Hà Tĩnh, cầm đầu cuộc kháng chiến Cần Vương. Không chiêu dụ được vua trở về, người Pháp đưa người con nuôi thứ hai của Vua Tự Đức là Hoàng tử Chánh Mông lên làm vua (19/9/1885), lấy hiệu là Đồng Khánh. Ở ngôi được hơn ba năm ( 19/9/1885- 25/1/1889) thì vua băng hà lúc mới 25 tuổi, và con còn bé, Hoàng tử Bửu Đảo mới hơn 3 tuổi.

Dưới ảnh hưởng của người Pháp, triều đình Huế lập người con của Vua Dục Đức — Hoàng từ Bửu Lân — lên làm Vua, lấy hiệu là Thành Thái ( 1/2/1889- 3/9/1907).

Vua Thành Thái có tư tưởng chống Pháp, vì vậy năm 1907, lấy cớ nhà Vua bị bệnh tâm thần, người Pháp gây áp lực buộc Vua thoái vị và lập người con trai thứ 7 của ông là Hoàng tử Vĩnh San lên làm Vua, lấy hiệu Duy Tân (5/9/1907- 3/5/1916).

Năm 1916, mới 16 tuổi, Vua Duy Tân đã cùng với hai nhà cách mạng Trần Cao Vân và Thái Phiên mưu tổ chức một cuộc binh biến tại các tỉnh miền Trung để lật đổ sự thống trị của người Pháp. Cuộc binh biến thất bại vì bị nội phản, nhà Vua bị bắt và bị đày cùng với Phụ hoàng sang Phi châu. Triều đình Huế và người Pháp lập Phụng Hóa Công Bửu Đảo, con của Vua Đồng Khánh, lên làm Vua, lấy hiệu là Khải Định.

khaidinh101

Kỵ binh vào đầu thời Khải Định qua nét vẽ màu nước của Gras. Về sau, vua cho kỵ binh mặc sắc phục mới, áo đỏ, quần trắng, theo kiểu Tây phương

vuadk

Vua Đồng Khánh (1885-1889) Vua Thành Thái (1889-1917)

2/ Lễ đăng quang Vua Khải Định

       Vua Khải Định húy Nguyễn Phúc Bửu Đảo, là con trai trưởng của Vua Đồng Khánh, sinh ngày 8/10/1885 (ngày 1 tháng 9 năm Ất Dậu). Khi Vua Đồng Khánh mất năm 1889, Hoàng tử Bửu Đảo mới hơn ba tuổi, và đấy cũng là lý do khiến ông không được nối ngôi trong hoàn cảnh phức tạp lúc bấy giờ.  Phải chờ 27 năm sau ngai vàng mới lại trở về tay ông.

       Đêm 3/5/1916 Vua Duy Tân bí mật rời khỏi hoàng cung để tham gia cuộc binh biến lật đổ người Pháp, do hai ông Trần Cao Vân và Thái Phiên tổ chức. Ba ngày sau, Vua bị quân Pháp bắt và tạm giam tại khu Mang Cá để chờ quyết định của triều đình và chính quốc. Ngai vàng bỏ trống.

       Ngày 10/5/1916 Hội đồng Nhiếp chính và Hội đồng Tôn Nhơn đã họp và quyết định truất phế Vua Duy Tân, đồng thời  chọn Phụng Hóa Công Bửu Đảo làm người kế vị. Đề nghị này được gởi đến Toàn quyền Đông Dương là Roume, bấy giờ đang có mặt ở Huế để theo dõi tình hình. Sau khi  điện báo cáo về Paris và nhận được chỉ thị từ chính quốc, Roume chấp thuận các đề nghị trên và thông báo cho triều đình hay.

       Ngày 16/5/1916, triều đình làm lễ nhập cung cho Vua mới. Hai giờ chiều hôm đó, một phái đoàn gồm có các ông: Đoàn Đinh, Thượng thư Bộ Hộ (đại diện quan văn); Hường Thỏa, Trung quân Đô thống (đại diện quan võ); Ưng Huy, Hữu Tôn Khanh của Tôn Nhơn Phủ (đại diện Hoàng tộc), cùng một số các quan và quân lính tùy tùng đi đến phủ Phụng Hóa ở làng An Cựu để rước Phụng Hóa Công vào cung. Ông Hoàng được đưa lên xe song mã, có năm kỵ binh cầm cờ dẫn đầu, và quan quân hộ tống, tiến về kinh thành. Trên đường đi, Phụng Hóa Công ghé vào Tòa Khâm sứ để chào cảm ơn Khâm sứ Charles, vì ông này  đã thân hành đến phủ Phụng Hóa chúc mừng ngay từ sáng sớm.

         Đám rước Phụng Hóa Công vào Đại Nội bằng cửa Hiển Nhơn, và dừng lại trước Đại Cung Môn (xem bản đồ đính kèm). Các vị Thượng thư mặc áo rộng xanh (áo thụng xanh), đầu đội khăn đóng đen, đang đứng chờ sẵn bên cửa cung rộng mở để đón chào. Ông Hoàng mặc áo rộng màu lục, đội khăn đóng đen, bước xuống xe, tiến qua Đại Cung môn, theo sau có các thượng thư.

       Bên trong Đại Cung môn, trước sân điện Cần Chánh, các quan văn, võ thuộc hàng ấn quan  mặc áo rộng xanh, đội khăn đóng đen, đã dàn sẵn hai bên để vái chào. Phụng Hóa Công đi vào điện Cần Chánh rồi qua điện Quang Minh là nơi ông sẽ tạm trú trong khi chờ đợi tiến hành những lễ nghi chính thức theo điển lễ triều đình. Thị vệ dâng trà, các Thượng thư vái chào rồi lui ra, nhường chỗ cho các quan khác vào tâu trình công việc. Địa vị của Phụng Hóa Công lúc này là một chuẩn-Hoàng-đế chứ chưa phải là một Hoàng đế nên cách xưng hô cũng phải theo một phép tắc khác. Chẳng hạn các quan khi thưa bẩm không dùng chữ Tâu hay Tấu, mà dùng chữ Khải, vìTâu hay Tấu chỉ dành cho Vua mà thôi. Ông sẽ là một vị Vua mới thay thế Vua cũ mà không có quan hệ thừa kế nên người ta gọi ông là Tân quân, để phân biệt với Trừ quân là trường hợp con lên kế nghiệp vua cha.   

       Hôm sau, 17/5/1916, mới tảng sáng, Bộ Lễ đã lo đặt một cái bàn sơn vàng (Hoàng án) ngay căn giữa của điện Cần Chánh. Trên đó, họ trân trọng bày bốn món quốc bảo:

       –  một cái trắp nhỏ sơn son thếp vàng đựng ngọc tỷ (ấn bằng ngọc); trên ngọc tỷ có khắc chín chữ Đại Nam Thụ Thiên Vĩnh Mạng Truyền Quốc Tỉ 大南受天永命傳國璽
       –  một bộ Hoàng bào.
       –  một cái hốt bằng ngọc trên có khắc hai chữ Vương Mạng  王命
       –  Một cuốn sách bằng vàng có tên là Thánh Chế Mạng Danh Kim Sách (gọi tắt là Kim sách)  聖製命名 金冊.

       Tám giờ, Tân quân mặc áo rộng màu lục, đội khăn đóng đen, ra điện Cần Chánh, đến tại chiếc bàn màu vàng xem xét các bảo vật trước sự hiện diện của các vị Thượng thư.  Xong  lui về thay lễ phục và các quan cũng rút lui để chuẩn bị cho buổi thường triều sắp diễn ra. Các bảo vật vẫn được trưng bày tại chỗ, dưới sự canh phòng cẩn mật.

       Bấy giờ, trước sân điện Cần Chánh, trên những chiếc chiếu đã trải sẵn, các quan  mặc áo rộng xanh, sắp hàng ngay ngắn chờ làm lễ. Ở giữa là lối đi, quan văn bên trái, quan võ bên phải (văn tả, võ hữu), theo thứ tự cấp lớn đứng trước, cấp nhỏ đứng sau, theo phẩm sơn làm chuẩn, quay mặt vào bên trong điện. Tân quân lần này xuất hiện trong áo rộng màu vàng, và đội khăn đóng vàng.

       Ông đứng ở gian thứ nhất bên trái (tả-nhất), của điện Cần Chánh, quay mặt về hướng tây, nơi gian giữa có đặt cái bàn màu vàng với bốn bảo vật truyền quốc trên đó. Tân quân tiến đến trước bàn, bắt đầu lạy năm lạy. Cùng lúc đó, ở ngòai sân các quan cũng hướng vào trong điện lạy năm lạy.

       Xong năm lạy, tân quân quì xuống, trong khi bên ngoài các quan đứng nghiêm tại vị trí.  Hai vị đại thần, một  văn một  võ, đã được triều đình đề cử, bước đến bên cái bàn màu vàng, chia nhau nâng ngọc tỷ, hoàng bào, và hốt ngọc, quì  dâng lần lượt lên cho tân quân. Tân quân đưa hai tay tiếp nhận, nâng lên ngang trán, xá một cái, xong đưa lại cho các quan để trả về chỗ cũ.

       Bấy giờ, một vị quan của Nội Các tiến đến bên bàn, mở trắp sơn son thếp vàng, lấy Kim sách ra, đem đến quì dâng trước tân quân. Ông lần giở Kim sách, tới trang kê 20 chữ viết với bộ nhật 日, theo thứ tự, tìm đến chữ thứ chín, đó là tên mới của vua. Ông nhẩm đọc và ghi nhớ, xong đứng dậy lui về vị trí ban đầu (gian tả-nhất). Trang sách vẫn được mở ra và để trên bàn.  Các vị đại thần tiến đến trước bàn, quì xuống, kính cẩn nhìn vào trang Kim sách đang mở ra để cùng xác nhận tên mới của vua là đúng như đã ghi, xong họ lui ra, trở về vị trí cũ. Viên quan Nội Các lo chép lại tên mới của vua trong một cánh thiệp màu đỏ để dùng về sau. Xong, Kim sách được cho vào trắp và khóa lại. Bấy giờ, tân quân tiến đến trước bàn, vái ba vái. Đó là lễ tạ, dấu hiệu buổi lễ chấm dứt. Ở ngoài sân các quan cũng vái ba vái. Tân quân lui về nghỉ ở điện Quang Minh, các quan cũng giải tán. Các bảo vật được cho vào tủ khóa lại và một hội đồng gồm các đại thần ký giấy niêm phong.

       Ngày hôm đó, nhân danh tân quân, Triều đình ra  tờ chiếu  như sau:

“Ngày 16 tháng 4 năm Duy Tân thứ 10 [17/5/1916]

       Đức Thánh Tổ Nhơn Hòang Đế [Minh Mạng], vào năm thứ 4, đã có sáng kiến làm một bài thơ 20 chữ, lựa trong số những chữ có bộ nhật. Các chữ này được chạm vào những trang Kim sách để cho đời sau nhận lãnh. Trong lời tựa của Kim sách, Đức Minh Mạng đã dạy rằng khi một vị Hoàng đế lên nối ngôi sẽ chọn một trong các chữ đó làm tên chính thức. Bộ nhật 日 là biểu tượng của đế vương. Cái tên của tân quân khi mới sinh sẽ chỉ còn dùng như tục danh. Di huấn này đã luôn luôn được cẩn trọng tuân thủ.

             Sau khi ở ngôi sáu năm, Hoàng đế Duy Tân đã tự ý thoái vị. Các  thành viên của Hội đồng Tôn Nhơn  và các đại thần của triều đình, với sự đồng ý của quan Toàn quyền Đông Dương, sau khi tham khảo Chính phủ Cộng hòa Pháp quốc, đã đề nghị ta lên ngôi. Chọn ngày giờ tốt, ta đã ra lệnh cho các đại thần cung kính mở Kim sách. Chiếu theo nội dung thì chữ thứ chín, bên trái là bộ Nhật日  bên phải là chữ Thụ 受, là tên chính thức của ta. Về cái tên ta mang từ thời thơ ấu  là Bửu Đảo 寶壔, nay chỉ còn dùng như tục danh. Ta đã ra lệnh làm lễ kính cáo việc này tại đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, và tôn miếu của Liệt Thánh  để bảo lưu cái tư tưởng vinh quang của Đức Hoàng đế Minh Mạng trong di phẩm của Ngài. Ta ra lệnh thông báo những qui định ta vừa mới tiếp nhận này đến toàn thể quan lại và dân chúng Kinh đô cùng các tỉnh (được rõ).”

       Cái tên  mới của tân quân theo Kim sách là Tuấn 暖, Theo phép tắc, tên này được gọi là ngự danh, thuộc loại trọng húy, vì vậy không bao giờ viết hẳn ra chữ mà phải dùng lối miêu tả theo kiểu chiết tự, như thấy rõ trong tờ chiếu vừa nói.

Ngay hôm Phụng Hóa Công nhập cung (16/5/1916), các quan Nội Các đã lo tìm những chữ có ý nghĩa tốt, liệt kê ra và dâng lên để tân quân lựa chọn làm niên hiệu của triều đại mới. Một bản sao cũng được gởi đến Hội đồng Thượng thư để các vị ấy xem xét. Ngay hôm đó Nội Các báo cho Hội đồng Thượng thư biết rằng trong danh sách dâng lên, hai chữ Khải Trung đã được chiếu cố, nhưng tân quân dùng bút son khoanh tròn chữ Khải 啟, gạch bỏ chữ Trung, và thay vào đó bằng chữ Định  定. Như vậy, ý của tân quân là muốn chọn hai chữ Khải Định  啟  定, — có nghĩa là khởi đầu một thời thanh bình và ổn định — để làm niên hiệu.

       Ngày 18/5/1916 (17 tháng 4 Bính Thân) triều đình thiết đại triều nghi  tại điện Thái Hòa để chính thức làm lễ đăng quang. Mọi việc đều do Bộ lễ chủ trì sắp xếp với sự tham gia của các Bộ liên hệ. Tại gian giữa của điện Thái Hòa người ta đặt hai cái bàn màu vàng, và kế đó, ở gian tả-nhất, đặt hai cái bàn màu đỏ. Các quan Bộ Lễ mang trắp sơn son thếp vàng đựng Kim sách  và một cái trắp khác đựng hạ biểu  để trên cái bàn vàng thứ hai. Hai cái bàn đỏ do Nội Các phụ trách. Trên bàn thứ nhất, Nội Các mang để một cái trắp đựng cái ấn bằng ngọc, trên có khắc bốn chữ Hoàng Đế Ngọc Tỉ  皇帝玊璽, và một cái kim phụng đồng đựng ân chiếu và trên chiếc bàn đỏ thứ hai là một hộp son dùng để đóng ấn.

       Bên ngoài, từ sân Đại triều nghi ra cho đến bên trong Ngọ Môn, Bộ Lễ đã cho dàn bày nghi trượng đúng nghi thức qui định, nào quân hầu, tàn, lọng, lỗ bộ, đại nhạc v.v.  Chỉ có các ông Hoàng và 5 viên quan có phận sự đặc biệt được đứng trong điện Thái Hòa, mà thôi. Trong năm người đó, một người đọc Kim sách, là Hữu Tôn Khanh Ưng Huy, và  một người đọc hạ biểu là Tham Tri Lưu Đức Xưng, đang giữ chức Toản tu ở Quốc Sử Quán; còn ba người kia là quan Nội Các túc trực phụ giúp khi hành lễ. Tất cả đều đứng ở căn tận cùng phía đông, tựa lưng vào bức đố. Tất cả các quan văn, võ còn lại đều theo thứ bậc mà sắp hàng trên sân, quan văn bên trái, quan võ bên phải. Các Tôn tước sắp hàng chung với quan võ.

       Khi mọi việc sắp xếp đâu vào đấy, hai viên quan, một thuộc Bộ Lễ, một thuộc bên võ, lần lượt xướng to lên:

– Tấu: Trung nghiêm 奏中嚴!  (Tâu: bên trong đã nghiêm)
– Tấu: Ngoại chỉnh 奏外整!   (Tâu: bên ngoài đã chỉnh tề)

   Bấy giờ người ta mới mời Vua ra. Từ chỗ ở là điện Quang Minh, Vua đi qua điện Cần Chánh. Cửa điện chưa mở, hai người lính hầu gõ cặp sanh và hô to:

– Giá hạ 駕下!  (Vua đến)

Lập tức cửa mở ra, Vua bước vào điện, đi đến ngồi trên chiếc sập sơn son thếp vàng kê ở căn giữa. Một viên Vệ úy theo cửa bên phải của Đại Cung Môn đi ra, hai tay cầm trường kiếm đưa lên trước mặt và hô to

– Hộ vệ bài loan giá 護衛俳鑾駕! (Quân hộ vệ, hãy sẵn sàng xe vua đi)

Liền có tiếng “Dạ” đáp lại rập ràng vang lên.

Viên quan truyền lệnh xong bèn trở vào, thu gươm lại, quì trước sân hô to:

– Tấu: Thỉnh thăng liễn 奏請陞輦!  (Tâu: xin mời Vua lên liễn)

       Vua bước xuống thềm điện và lên ngồi trên liễn. Sau khi vua đã an tọa, viên Vệ úy lại hô  “Dịu” (nâng lên một cách nhẹ nhàng). Mười sáu người lính lập tức cúi mình xuống từ tốn nâng các tay đòn lên và gánh chiếc liễn đi. Viên vệ úy dẫn đầu đoàn rước, tiểu nhạc được tấu lên suốt lộ trình. Lúc bấy giờ chuông và trống trên lầu Ngọ Môn cũng được đánh lên, báo hiệu Vua đang thăng điện.

       Khi  xa giá  đến thềm phía bắc (tức mặt sau) của điện Thái Hòa thì dừng lại, chiêng trống trên lầu Ngọ Môn cũng vừa ngưng. Mọi việc được tính toán kỹ, diễn ra rất là ăn khớp, nhịp nhàng. Vua xuống liễn, đi vào điện và bước lên ngồi trên ngai.

       Lúc đó là tám giờ, vừa lúc, Khâm sứ Trung Kỳ, Charles, dẫn đoàn tùy tùng, gồm những quan chức cao cấp người Pháp đang làm việc tại Huế, xuống xe trước cửa Ngọ Môn. Đại diện triều đình là Thượng thư Bộ Binh Nguyễn Hữu Bài và Thượng thư Bộ Học Hồ Đắc Trung đón phái đoàn tại đầu cầu Kim Thủy (bên ngoài Ngọ Môn) và hướng dẫn vào điện Thái Hòa.  Khâm sứ Charles chào Vua; Vua  đứng trên bệ hơi nghiêng mình đáp lễ.

       Đại diện Chính phủ Pháp, Khâm sứ Charles đọc diễn văn, chào mừng vua mới, không quên kể công nước Pháp, và bày tỏ hy vọng một sự hợp tác tốt đẹp giữa hai nước… Sau khi Vua đáp từ, phái đoàn Pháp đứng lui phía sau, phía tay trái của vua.

       Buổi lễ đăng quang theo nghi thức triều đình bắt đầu.

       Viên quan Bộ lễ phụ trách điều khiển chương trình bắt đầu xướng:

1- Bài ban 俳班  (chỉnh đốn hàng ngủ ngay thẳng)
2- Ban tề  班齊 (quay mặt về phía ngai vàng)
3- Cúc cung bái  鞠躬拜 (lạy năm lạy)
4- Hưng 興 (đứng lên)
5- Bình thân 平身(đứng thẳng người)
6- Hành tấn quang lễ 行晉光禮 (làm lễ đăng quang)
7- Bách quan giai quị 百官皆跪 ( Tất cả các quan đều quì xuống)

Bấy giờ, một viên quan Nội Các bước đến, mang trắp đựng Kim sách để qua bên bàn vàng thứ nhất, xong lui ra một bên chờ. Khi đó, Hữu Tôn Khanh Ưng Huy, người được triều đình cử ra đọc Kim sách cũng bước ra, hướng mặt về phía ngai vàng và quì xuống, tiếp nhận Kim sách viết trên giấy vàng do một quan Nội Các trao lại, mở ra sẵn sàng. Sau tiếng xướng Tuyên sách 宣冊 (đọc sách) của viên quan Bộ Lễ, quan Hữu Tôn Khanh bắt đầu đọc:

          Ngày 17 tháng 4 măm Bính Thìn, năm Duy Tân thứ 10 [18/5/1916].

       Chúng tôi, các Hoàng tử và Quận công của Hoàng tộc, các thành viên của Hội đồng Tôn Nhơn, các thành viên của Hội đồng Nhiếp chính, cùng toàn thể quan lại lớn nhỏ trong triều và các tỉnh, cung kính cúi đầu xin  hân hạnh  bày tỏ như sau…

       Nội dung của Kim sách ghi nhận rằng sau biến cố bất ngờ (ám chỉ vụ Vua Duy Tân), ngai vàng bỏ trống; đất nước không thể không người làm chủ. Nhận thấy Phụng Hóa Công là người thông minh đức độ, nên toàn thể triều đình và dân chúng đã  thỉnh cầu Phụng Hóa Công lên ngôi trị vì để đem lại hạnh phúc cho toàn dân và thái bình cho đất nước.

       Tuyên xong, Kim sách được trao lại cho quan Nội Các đem trả lại trong trắp, xong cả hai lui về vị trí cũ, đứng sát vào bức đố. Viên chấp sự lại xướng:

7- Phủ phục 俯伏 (cúi mình xuống)
8- Hưng 興 (đứng lên)
9- Bình thân 平身 (đứng thẳng người}
10- Cúc cung bái 掬躬拜 (lạy năm lạy)
11- Hành khánh hạ lễ 行慶賀禮 (làm lễ mừng)
12- Bách quan giai quị 百官皆跪 (tất cả các quan quì xuống)

Đến đây, một quan Nội Các khác bước đến căn tả-nhất, nơi có hai cái bàn đỏ, mang cái trắp đựng tờ hạ biểu đem để trên cái bàn vàng thứ nhất (đã có Kim sách trên đó), xong bước lui vài bước. Tham Tri Lại Đức Xứng — người được triều đình cử ra đọc hạ biểu – tiến ra giữa điện, hướng về ngai vàng, quì xuống, tiếp nhận tờ hạ biểu viết trên giấy đỏ từ quan Nội Các, mở ra và chờ có tiếng xướng Độc hạ biểu 讀賀表 (đọc hạ biểu) rồi mới bắt đầu đọc. Hạ biểu là một hình thức diễn văn chúc mừng của triều đình và thần dân đối với nhà vua nhân lễ đăng quang.  Sau khi hạ biểu được đọc xong, các quan phụ trách lui về vị trí cũ.

Ngoài sân, một viên quan thuộc Bộ Lại bước ra khỏi hàng, quì trên lối đi ở giữa –gọi là dũng đạo — hướng vào điện hô lớn:

13- Thỉnh dụng ngọc tỉ 請用玉璽 (kính mời dùng ấn ngọc)

       Ở trong điện, nghe tiếng xướng đó, hai viên quan Nội Các trực sẵn, bước đến cái bàn có ngọc tỉ, mở trắp lấy ngọc tỉ in vào hộp son rồi đóng vào ân chiếu. Ân chiếu  này là một tuyên cáo về việc lên ngôi của Vua, và công bố niên hiệu mới — Khải Định — cho thần dân được rõ. Cùng lúc với việc đóng ngọc tỉ vào ân chiếu, chín phát trống lệnh nổ vang trước Kỳ đài, báo hiệu một triều đại mới bắt đầu.

       Sau lễ đóng ngọc tỷ, một vị quan thuộc Bộ lễ bước ra khỏi hàng, quì giữa sân, hô lớn:

14- Tấu: khánh hạ lễ thành 奏慶賀禮成 (Tâu: lễ mừng đã xong)

Vua bước xuống ngai, ra khỏi điện Thái Hòa,  trở về điện Cần Chánh. Theo chân nhà Vua có Khâm sứ Trung kỳ, các quan chức Pháp, các ông Hoàng và các vị đại thần. Nhà Vua đã cho dọn sẵn một bữa tiệc mừng tại điện Cần Chánh để thết đãi các quan khách cao cấp nhân ngày lễ đăng quang.

       Trong khi tại điện Cần Chánh yến tiệc diễn ra thì tại điện Thái Hòa các quan có phận sự đang lo hoàn tất nhiệm vụ còn dang dở. Ngay khi Vua vừa xây lưng rời khỏi điện Thái Hòa thì một quan của Nội Các đã bưng cái trắp đựng Kim sách và cái trắp đựng hạ biểu giao ngay cho các Thị vệ  để mang về điện Vua ở.

       Hai quan Nội Các khác mang trắp đựng ngọc tỉ vào điện Cần Chánh, để trên một cái bàn đặt tại căn tả-nhất. Các quan Bộ Lại sẽ mang các bản phó ân chiếu đến đóng ngọc tỉ rồi mới gởi đi các tỉnh (mỗi tỉnh một bản) để bố cáo cho toàn dân biết một triều đại mới bắt đầu.

       Một quan Nội Các tiến ra căn giữa điện Thái Hòa, đứng chếch về bên trái một chút, mặt hướng về phía Bắc –nơi có ngai vàng — quì xuống và nói to:

– Tấu: thỉnh lãnh chỉ 奏請領旨 (Tâu: xin nhận chỉ).  Nói xong, ông ta  đứng dậy, xoay người  ra phía ngoài sân sân điện Thái Hòa, hô lớn:

15- Hữu ti dĩ chiếu thơ ban thị trung ngoại 有司以詔書頒示中外 (các quan có phận sự hãy mang chiếu thơ ban bố khắp trong ngoài). Truyền lệnh xong, ông ta xoay người lại, đi về phía trái của điện Thái Hòa, đứng gần sát bức đố.

       Một quan Bộ Lại và một  quan Bộ Hộ bước ra khỏi hàng, đến bên cái bàn màu đỏ mang kim phụng đồng — có ân chiếu trong đó — đem để trên long đình sắp sẵn ngoài thềm điện, có lính tráng cầm lọng và vũ khí theo hầu, rước kim phụng đồng ra Phu Văn Lâu, có ban nhạc đi theo tấu mừng. Tại đây, ân chiếu sẽ được niêm yết trong ba ngày, có lính canh gác ngày đêm, để cho toàn thể dân chúng được rõ, sau đó cũng chính hai viên quan cùng quân lính và ban nhạc vừa nói,  lại rước ân chiếu đem về giao cho Nội Các, theo đúng nghi thức như khi rước đi.

       Các quan chức thuộc Bộ Lại và Bộ Lễ được phân nhiệm sẽ phối hợp với nhau chuyển bản sao ân chiếu đến các tỉnh. Khi ân chiếu đến nơi, quan đầu tỉnh phải tổ chức lễ đón mừng ân chiếu một cách long trọng tại hành cung và việc này phải được báo cáo ngay về Bộ một cách đầy đủ.

khaidinh108

tư thế ban tề, sẵn sàng làm lễ. Sân đã được trải chiếu sẵn.

khaidinh109

Các quan cấp nhỏ (thuộc quan) sắp hàng trên sân Đại triều nghi chuẩn bị làm lễ. Các bia đá nhỏ là phẩm sơn.

khaidinh110

Ban đại nhạc trên sân Đại Triều nghi đang trình tấu

khaidinh111

Trong Đại Triều nghi, nghi trượng phải được dàn bày đầy đủ với voi, ngựa, tàn, lọng, cờ, lỗ bộ, đại nhạc. Trong hình, kỵ binh đang tập trung bên trong Ngọ Môn để dàn hầu.

khaidinh112

Hai voi này dùng dàn hầu trong Đại Triều nghi

khaidinh113

Ban tiểu nhạc đang chờ ở cửa Nhật Tinh để theo hầu xa giá ra điện Thái Hòa. Đại Cung môn ở giữa hai cửa Nhật Tinh và Nguyệt Anh. Phía sau là bức tường của Tử Cấm thành.

khaidinh115

Bên phải là trang chính của Thánh Chế Ngự Danh Kim Sách, có tựa đề là Nhựt Tự Bộ Nhị Thập, kê 20 tên Vua viết với bộ nhựt, trong đó, ngự danh của Vua Khải Định là chữ thứ chín, có gạch dưới (VHA).

khaidinh116

B.A.V.H., No3, 1942 Trắp đựng Kim sách về việc lên ngôi của Vua Gia Long. Mỗi Vua Nhà Nguyễn đều có một Kim sách như thế.

khaidinh117

Từ Điện Cần Chánh ra điện Thái Hòa, Vua di chuyển bằng liễn do lính gánh. Phía trước, viên Vệ úy đang điều khiển việc gánh liễn.

khaidinh120

Phái đoàn Pháp (Khâm sứ Trung kỳ, có khi có cả Toàn quyền Đông Dương) ra về sau khi dự lễ tại điện Thái Hòa. Chỉ vào những dịp long trọng họ mới dự.

khaidinh121

Tòa Khâm sứ Huế (thường gọi tắt là Tòa Khâm), hồi đầu thế kỷ 20, chưa tân trang. Đây là cơ quan quyền lực cao nhất của chính quyền Bảo hộ tại miền Trung, cạnh triều đình Huế. Mọi quyết định quan trọng tại Trung kỳ đều phát xuất từ nơi này, kể cả ngai vàng.

3. Vài nét về vua Khải Định
 
            Người ta nói rằng Vua Khải Định là một người có vẻ “màu mè”, đỏm dáng. Có lẽ người ta căn cứ vào những tấm hình của vua với đầy đủ áo mão cân đai, huy chương, bội tinh đầy trên ngực, mà phán đoán như thế. Đây là những hình ảnh có tính cách chính thức của triều đình nên Vua phải ăn mặc cho thật trang trọng, đúng địa vị của người quyền quí, chẳng hạn Vua Thành Thái cũng có một tấm hình như thế, điều này có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, việc trên hai bàn tay của vua có đến tám chiếc nhẫn kim cương là điều khác thường, và so với hình ảnh của mấy ông Vua khác như Thành Thái “Thành Thái” , Duy Tân “Duy Tân” , Hàm Nghi thì rõ ràng vua Khải Định có phần đỏm dáng hơn.  Chính điều này đã góp thêm phần làm cho người ta tin tưởng vào tin đồn vua là một người  đàn ông bất lực, vô sinh. Khi triều đại đang còn, người ta chỉ dám xầm xì. Sau này, đã có nhiều sách và bài báo viết hẳn về nghi vấn này, nhưng vẫn chưa có một kết luận tích cực nào [1].
            Việc tiếp xúc với Tây phương, trực tiếp là người Pháp, đã ảnh hưởng lớn đến cảm quan của Vua Khải Định. Trong cách ăn mặc của vua, ảnh hưởng này thấy rất rõ. Chỉ có bộ phẩm phục đại triều là thuộc về lễ nghi truyền thống, có tính cách thiêng liêng, nên Vua không dám đụng tới, còn ngoài ra thì Vua  mượn cảm hứng từ phương Tây mà chế tác thoải mái.
 

            Điển hình là bộ võ phục của Vua, như thấy qua các hình ảnh còn sót lại ngày nay. Trong bộ võ phục này, căn bản là chiếc áo dài đàn ông may chẽn, nhưng là áo của vua nên phải thuộc loại gấm vóc, thêu rồng vẽ phượng  khác hơn người thường. Điều đáng  nói là vua đã cho gắn thêm hai cái ngù vai (épaulette, còn gọi là khiên chương) — là thứ thường thấy trên lễ phục của sĩ quan Pháp. Ngoài ra, thay vì mang hia, vua đi ủng da (botte) láng bóng, có trang trí hoa văn bằng bạc, ngang lưng mang đai cẩn ngọc, mang kiếm Pháp, tay mang bao tay trắng, quần tây trắng, nhưng đầu vẫn bịt khăn đóng và có khi đội nón chóp. Cái nón này lợp bằng lông vũ, bọc lụa vàng, có chóp bằng vàng. Vua cũng có một cái nón chóp khác màu đen. Chính lối phục sức nửa Tây nửa ta này, cùng với hai bàn tay mang tám chiếc nhẫn mặt ngọc, đã làm cho nhiều người đương thời dè bỉu, bài bác. Phan Châu Trinh “Phan Châu Trinh” , trong Thư thất điều “Thư thất điều”  năm 1922, đã đem khoản ăn mặc này kết thành tội thứ năm, gọi là “Phục sức lố lăng”, không theo đúng qui định của Hội điển  [2], làm mất thể thống quốc gia. 

            Hiển nhiên là Vua rất thích lọai trang phục này nên  thường thấy mặc trong các buổi lễ chính thức, như thấy trong những hình ảnh ghi nhận  vào dịp Vua đi thăm miền Bắc năm 1918, và đi Pháp “Vĩnh Thụy”  dự cuộc đấu xảo Marseille năm 1922.

kdtt

Vua Thành Thái đi thăm Sài Gòn năm 1898 Vua Khải Định với võ phục (cải tiến), trong một buổi lễ chính thức tại Paris, 1922

Riêng tôi, khi được nhìn thấy một tấm hình khác của Vua Thành Thái thì  lại có một ý nghĩ khác về sự“cải cách y phục” của vua Khải Định. Tấm hình này do Léon Sogny, trùm Mật thám Trung kỳ, đồng thời cũng là một cây bút chủ lực của Bulletin des Amis du Vieux Hue, công bố trong BAVH số 1 , tháng 1-3 năm 1942, trong mục Hình ảnh quá khứ (Images du passé) với chú thích
 
“Vua Thành Thái, Toàn quyền P. Doumer và tướng Bichot tại Sàigòn vào tháng 12 năm 1899”
 
            Hẳn nhiên, đây là một buổi lể chính thức — lễ đón tiếp Vua thăm Sàigòn  năm 1899– nên ai cũng phải mặc lễ phục. Vua không thể mặc đồ đại triều vì không phải phép, nên chọn võ phục (để ý tay áo chẽn chứ không phải tay áo rộng). Có lẽ Vua đang cùng Toàn quyền và Tướng Bichot duyệt đội quân dàn chào theo lễ nghi quân cách Tây phương, nhưng trông Vua có vẻ luộm thuộm, không oai, như ai đó mặc đồ hát bội. Phải chăng rút kinh nghiệm này mà Vua Khải Định, khi cờ tới tay, đã tự thiết kế cho mình một trang phục thích hợp hơn? Nếu quả đúng như thế thì cũng không nên khe khắc thái quá về lối phục sức của Vua, vì ít ra trông cũng gọn ghẽ, được mắt hơn, như có thể thấy trong tấm hình sau:
 
            Không những Vua cải cách y phục cho riêng Vua mà còn cải cách cho cả các cận thần, chẳng hạn, các Thị vệ. Thay vì mang hia, Vua cho các Thị vệ mang giày ống, trông  gọn gàng và mạnh mẽ hơn. Đồng phục của kỵ binh cũng được đổi mới theo kiểu Tây phương, thay vì mặc áo trấn thủ, chân đất quấn xà cạp thì được mặc áo nỉ đỏ, mặc quần trắng, đi giày, đội nón kiểu Tây. Tinh thần cải cách này còn được thấy rõ hơn trong các công trình kiến trúc dưới thời này.
 
            Vua Khải Định mới ra đi cách nay hơn ba phần tư thế kỷ (1925-2005) nhưng những tài liệu liên quan đến ông không còn bao nhiêu. Theo ghi nhận của một người Pháp,[3] sau khi Vua Đồng Khánh mất vào đầu năm 1889, hai bà vợ chính của Vua – thường được gọi là bà Thánh Cung và bà Tiên Cung – đã đem con cái rời cung điện đến ở tại lăng Đồng Khánh, tức Tư lăng, không phải chỉ để cư tang 3 năm như người ta nghĩ mà ở mãi cho đến khi ông Hoàng Cả (Bửu Đảo) được 18 tuổi thì mới dọn về ở tại phủ Phụng Hóa bên bờ sông An Cựu, về sau là cung An Định.
 
            Thầy tôi làm thị vệ dưới hai triều Khải Định và Bảo Đại [4] thường tỏ ra khâm phục về học vấn và kiến thức của Vua Khải Định. Theo ông cụ, tất cả những điều ông biết rành rẽ về điển lễ triều đình, về Đại Nội là do Vua giảng giải mỗi lần theo chân chầu hầu. Tôi không mấy tin, vì nghĩ rằng “mẹ hát con khen hay” là chuyện thường, nhưng De Tessan, tác giả bài báo đã dẫn, lại cũng bày tỏ một ý như thế, điều đó chứng tỏ rằng mặc dầu Tiên vương mất sớm, phải rời cung điện khi mới hơn 3 tuổi, nhưng rõ ràng ông Hoàng Cả đã được hai bà mẹ chăm lo việc hấp thụ một nền học vấn tại gia rất chu đáo.[5]  Về tiếng Pháp, ông có thể nghe và hiểu được chứ không nói được.
 
            De Tessan ghi nhận rằng ông Hoàng Cả đã có một nếp sống đạm bạc, đơn giản. Nói thẳng ra là nghèo, điều này một số người Huế đương thời có dịp gần gũi phủ Phụng Hóa đều biết. Vua quan đều do Tây phát lương, các ông Hoàng bà Chúa cũng thế. Nghèo nhưng ham chơi, với các món bài bạc, hát xướng, nên mắc nợ khá nhiều.
 
            Mệ Ngoại tôi, vốn buôn bán ở chợ An Cựu,[6] thường có dịp vô ra phủ Phụng Hóa, có kể lại rằng Vua khải Định rất sợ Vua Thành Thái, mỗi lần đi đường mà thấy có đoàn quan quân hộ tống Vua Thành Thái đi ở xa là phải lo vội vã kiếm đường khác trốn tránh vì nếu để Vua Thành Thái bắt gặp, thế nào cũng bị đánh đập. Câu chuyện tưởng chỉ có giá trị như chuyện đời xưa của một bà già trầu kể lại lúc vui với con cháu, không ngờ lại được xác nhận qua sách báo. De Tessan, trong bài báo đã dẫn, đã ghi lại rất rành rẽ rằng “Vua Thành Thái, tự trong sâu xa, rất hiềm khích với ông Hoàng trẻ, trong khi ông này không ngờ gì cả. Vua không bỏ qua một dịp hà hiếp nào. Thế nên ông Hoàng Phụng Hóa bị cấm cửa không cho phép vào Hoàng cung tham dự các lễ tiết lớn. Người ta gạt ông ra khỏi mọi thứ vinh dự.[VHA nhấn mạnh] Một chút trợ cấp nhỏ nhoi được cấp phát. Nhưng ông Phụng Hóa đã nhẫn chịu mọi thứ khốn khổ này.” (tr. 156)
 
            Cụ Vương Hồng Sển, vốn là công chức của xứ Nam kỳ thuộc địa — không biết có chịu ảnh hưởng bài báo của de Tessan xuất bản ở Paris hay không — vậy mà cũng biết chuyện đó và ghi nhận rằng, khi đang còn là ông Hoàng, Vua Khải Định thường bị Vua Thành Thái “húng hiếp, gặp mặt là rượt đánh, là sỉ mạ lắm điều…” [7] Cho nên, có thể tin rằng sự hiềm khích này là có thật và Vua Khải Định một thời là nạn nhân — một bi kịch cung đình thường xảy ra, như đã từng xảy ra trong triều đại này.
 
            Về mặt vai vế trong dòng họ thì Vua Thành Thái (Bửu Lân) là anh chú bác của Vua Khải Định (Bửu Đảo) vì cả hai cùng một thế thứ chữ lót là Bửu, như đã chỉ định trong câu đầu của bài Đế hệ thi của vua Minh Mạng:  Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh… nhưng dẫu là vai anh và ở vào địa vị làm Vua đi nữa, cũng không thể có thái độ ghét bỏ lộ liễu như thế. Chưa tìm thấy lời giải thích đáng tin cậy về sự thực này nhưng ta có thể đặt câu hỏi: liệu sự ghét bỏ này có đóng góp gì vào dư luận xấu về Vua Khải Định hay không?
 
            Vua Đồng Khánh “Đồng Khánh”  mất sớm, chỉ mới 25 tuổi, nhưng có hai bà vợ (chính) và 6 người con, trong đó, Vua Khải Định là con trai trưởng.           
 
         Khi Vua Khải Định  và Vua Bảo Đại “Bảo Đại”  tại vị, người ta thường gọi hai bà vợ của vua Đồng Khánh“Đồng Khánh”  là Đức Thánh Cung “Thánh Cung”  và Đức Tiên Cung “Tiên Cung”. Đó là cách gọi thường ngày chứ không phải tước hiệu chính thức. Khi nói đến cả hai bà, triều đình gọi là Lưỡng Tôn Cung.
 
            Từ đời Minh Mạng “Minh Mạng” (1819-1841) trở về sau, nhà Nguyễn theo lệ Ngũ bất lập [8], trong đó có không lập Hoàng hậu và không lập Thái tử. Vợ chính thường được phong làm Hoàng Quí Phi hay Nhất giai Phi. Chỉ mấy tháng sau khi lên ngôi, Vua Khải Định đã tấn tôn  hai bà mẹ lên làm Hoàng Thái Phi.
 
            Bà Thánh Cung “Thánh Cung” là vợ thứ nhất của Vua Đồng Khánh “Đồng Khánh”, húy là Nguyễn Thị Nhàn “Nguyễn Thị Nhàn”, con gái thứ hai của ông Nguyễn Hữu Độ “Nguyễn Hữu Độ”, Cần Chánh “Cần Chánh”Điện Đại học sĩ, Kinh Lược Sứ Bắc kỳ, là người có thế lực nhất trong triều đình lúc bấy giờ, và rất được người Pháp tín nhiệm. Đám cưới diễn ra vào tháng 2 năm 1886.  Bà được phong ngay làm Hoàng Quí Phi (tức Hoàng Hậu), lãnh trách nhiệm tổng quản Lục Viện [9]. Năm 1924 Vua Khải Định đã làm lễ tấn tôn bà làm Khôn Nguyên Hoàng Thái Hậu “Khôn Nguyên Hoàng Thái Hậu”.  Rồi sau đó, 1933, vua Bảo Đại “Bảo Đại” lại làm lễ tấn gia tôn [10] làm Khôn Nguyên Xương Đức Thái Hoàng Thái Hậu. Bà mất tháng 11 năm 1935.
 
            Ở đây cần mở một dấu ngoặc lớn để thấy những cuộc hôn nhân có tính cách chính trị diễn ra lúc đó, tạo nên những bất thường chỉ thấy trong giới quí tộc và cung đình.
 
            Ông Nguyễn Hữu Độ có tất cả 9 trai và 8 gái.Về phía con trai, có nhiều người làm lớn, chẳng hạn, Nguyễn Hữu Tường, Thự Tổng đốc Hưng Yên; Nguyễn Hữu Lữ, Lang trung,  Nguyễn Hữu Tỷ “Nguyễn Hữu Tỷ”, năm 1916, là Quản lý Thị vệ “Thị vệ”,  lấy Công chúa Ngọc Lâm “Ngọc Lâm” là chị cả của Vua Khải Định. Lại có người con trai khác là Nguyễn Hữu Khâm “Nguyễn Hữu Khâm”, làm Phò mã Đô úy, lấy Công chúa Tân Phong, em của vua Thành Thái “Thành Thái”, tục gọi là Bà Chúa Tám.
 
            Về phía con gái, ngoài người con gái thứ hai lấy vua Đồng Khánh “Đồng Khánh” vừa nói, về sau còn có người con gái thứ sáu tên là Nguyễn Thị Nga “Nguyễn Thị Nga”, lấy vua Thành Thái “Thành Thái”. Bà là vợ thứ nhất, được phong làm Nhất giai Huyền Phi. [11]
 
            Như vậy, về mặt thế thứ thì quan hệ giữa Vua Đồng Khánh “Đồng Khánh” (Ưng Kỳ) và Vua Thành Thái“Thành Thái”  (Bửu Lân) là chú cháu, nhưng trong đại gia đình Nguyễn Hữu thì lại là anh em cột chèo (bạn rể). Cũng trong đại gia đình Nguyễn Hữu, Vua Đồng Khánh vừa là anh rể vừa là nhạc gia của ông Nguyễn Hữu Tỷ.
 
            Bà Tiên Cung “Tiên Cung” , người làng Trung Kiền huyện Phú Lộc, mẹ ruột Vua Khải Định, là vợ  thứ hai của Vua Đồng Khánh “Đồng Khánh”, mặc dầu bà là người đã gặp Vua Đồng Khánh trước bà Thánh Cung “Thánh Cung” . Bà húy Dương Thị Thục “Dương Thị Thục”, là con gái của Phú Lộc Quận Công Dương Quang Hướng. Kể về thứ bậc thì thua bà Thánh Cung nhiều, nhưng lại có thế rất mạnh là có con trai trưởng làm Vua. Năm 1886, bà mới chỉ được phong làm Ngũ giai Tiếp Dư; qua năm 1889, lên Tứ giai Hòa Tân, và mãi đến năm 1914, mới được Vua Duy Tân “Duy Tân”  phong làm Tam giai Nghi Tân trong một buổi lễ khá long trọng ở phủ Phụng Hóa. Sau khi lên ngôi, Vua Khải Định tấn tôn bà làm Hoàng Thái Phi, rồi đến năm 1924 mới tấn tôn làm  Khôn Nghi Hoàng Thái Hậu “Khôn Nghi Hoàng Thái Hậu”. Sau đó, vua Bảo Đại “Bảo Đại” tấn gia tôn  làm Khôn Nghi Xương Minh Thái Hoàng Thái Hậu (1933). Bà mất năm 1944.
 
              Sau khi con trai làm Vua (5/1916), hai bà mới trở lại cung cấm. Bà Thánh Cung “Thánh Cung”  ở tại cung Ninh Thọ (sau Vua Khải Định đổi làm Diên Thọ “Diên Thọ”), và bà Tiên Cung “Tiên Cung” ở tại cung Trường Ninh (sau đổi làm Trường Sanh “Trường Sanh”). Vua Khải Định, ngay từ khi còn tiềm để [12], đã tỏ ra là một người con rất có hiếu với cả hai bà mẹ.
 
            Về đường vợ con, Vua Khải Định có vẻ rắc rối hơn Vua cha, mặc dầu cả hai đều giống nhau là đã có con trai trưởng từ lúc chưa làm Vua. Những sách báo đã xuất bản khi viết về chuyện vợ con của Vua Khải Định đều đưa ra những kiến giải khác nhau, điều đó chứng tỏ sự việc mới xảy ra hồi đầu thế kỷ XX, nhưng tới nửa sau của thế kỷ này sự tìm kiếm thông tin chính xác không phải là dễ, và dư luận vẫn có một sức mạnh đáng kể. Cho đến nay, chưa tác giả nào dám quả quyết rằng điều họ viết ra là sự thật duy nhất. (Xem: Vua Bảo Đại con ai?)
 
            Trước hết, hãy nói về các bà vợ. Theo hồi ký của Vua Bảo Đại – Le Dragon d’Annam, (Con Rồng Việt Nam) —  thì sáng sớm ngày 15 tháng 5 năm 1922, cả 12 bà vợ của Vua Khải Định, theo thứ tự cấp bậc lớn nhỏ sắp hàng quì tiễn đưa vua lên đường sang Pháp, đem theo Thái tử Vĩnh Thụy, 9 tuổi, du học.[13]
 

            Hầu như các tác giả khi viết về đường vợ con của Vua Khải Định đều đồng ý rằng bà vợ đầu tiên, được chính thức cưới hỏi từ khi còn tiềm để, là con gái của Thượng thư Trương Như Cương. Tuy nhiên, vấn đề bà này có sống chung trong Tử Cấm thành với Vua sau năm 1916  hay không, thì có hai nguồn tin trái ngược nhau. Một số cho rằng Phụng Hóa Công đã ly dị bà họ Trương trước khi làm Vua, do sự mâu thuẫn với nhà vợ về chuyện tiền bạc [14]. Còn theo tác giả Trần Gia Phụng, thì “Sau khi lên ngôi, vua Khải Định phong bà Nhứt (con của Thương thư Trương Như Cương) hàng Đệ Nhất giai phi, lên làm Hoàng quí phi…” [15]

Theo tôi, có lẽ bà họ Trương đã giã từ Phụng Hóa Công trước ngày ông Hoàng bước lên ngai vàng.  Một cách chủ quan, nói như thế là vì tôi chưa hề nghe thầy tôi, trong khi kể chuyện cung đình, đề cập mảy may gì về bà họ Trương cả, mà chỉ nói đến “Bà Ân”, “Đức Từ” và các bà khác.

Không rõ Phụng Hóa Công cưới bà họ Trương vào năm nào, nhưng điều có thể biết rõ là lúc Vua Khải Định lên ngôi vào tháng 5 năm 1916 thì ông Cương là đương kim Thượng thư Bộ Lại, và qua tháng  5 năm 1917 thì cùng về hưu một lượt với Thương thư Bộ Hình Huỳnh Cổn; đến cuối năm 1917, Vua chính thức nạp phi (vua cưới vợ), là con gái của Thượng thư Bộ Học Hồ Đắc Trung. Chính ba yếu tố này – ông Trương Như Cương đang tại chức; Phụng Hóa Công vừa trở thành Vua Khải Định; và hơn một năm sau Vua chính thức cưới vợ — làm cho tôi tin rằng bà họ Trương và ông Hoàng đã chia tay trước khi ông được làm Vua, bởi vì nếu việc ly dị xảy ra sau khi làm Vua thì cũng khó coi trong triều đình và sẽ tạo nên một dư luận rùm beng trong cái xứ Huế nhỏ bé này.

Còn bà họ Trương, nghe nói sau khi về nhà mẹ, đã vô núi Sầm thuộc  làng Thanh Thủy Thượng (xã Thủy Dương), huyện Hương Thủy, lập chùa và đi tu. Người ta nói rằng sau khi lên ngôi, Vua Khải Định có cho mời bà trở lại cung cấm với ngôi vị Nhất giai phi nhưng bà từ chối vì đã chán mùi trần tục. Dân địa phương vẫn gọi bà là Bà Hoàng và ngôi chùa bà tu là Chùa Bà Hoàng. Thậm chí con khe chảy ngang cũng là Khe Bà Hoàng.[16] Tôi tin rằng bà họ Trương không có mặt trong số 12 bà vợ tiễn đưa Vua Khải Định đi Tây vào buối sáng hôm tháng 5 năm 1922.

 Vậy 12 bà vợ những ai? Điều có thể biết chắc là có mặt bà Nhị giai Hữu phi, thân mẫu Vua Bảo Đại, bởi vì Vua có nói rõ như thế, và bà Nhất giai Ân phi Hồ Thị Chỉ. Ngoài hai bà này, phải có 10 bà nữa là những ai? Trong tang lễ của Vua Khải Định vào cuối 1925 đầu 1926, khi nói về việc để tang, Bộ Lễ có trình rằng hai bà Phi và 3 bà Tân sẽ chịu đại tang 15 tháng, số còn lại, từ cấp Lục giai Tiếp dư cho đến Cửu giai Tài nhân đều chịu trung tang 12 tháng [17] Ba bà Tân là những ai? Đó là Tam giai Diệu Tân (con của  quan Tham tá Nội Các Phạm Hòe), Tứ giai Du Tân (con của quan Thượng thư Bộ Công Võ Liêm) và bà Ngũ giai Điềm Tân (cháu nội của quan Thượng  thư hưu trí Nguyễn Đình Hòe). Về các bà cấp Tiếp thì tôi biết có bà Tiếp Du. Tác giả Trần Gia Phụng có kể thêm ba bà khác nữa là bà Tân Diệm, bà Tiếp Táo và bà Tiếp Quí Trang. Nếu kể gộp như thế thì được cả thảy 9 bà, 3 bà còn lại không ai biết.  Điều này dễ hiểu, vì trong hậu cung nhà Nguyễn, chỉ bậc Lục giai Tiếp dư trở lên mới được gọi bằng “Bà”, 3 bậc còn lại là Thất giai Quí nhân, Bát giai Mỹ nhân và Cửu giai Tài nhân chỉ được gọi bằng“Chị” mà thôi. Và vì mới ở cấp “Chị” nên chả ai nhớ làm gì. Cũng cần nói thêm rằng theo đúng chữ nghĩa thì phải đọc là Tiệp dư 婕妤, nhưng  giới cung đình ở Huế quen đọc là tiếp. Tương tự, tên chữ là Tần 嬪, nhưng cung đình quen gọi là tân. Thêm nữa, khi nói bà Ngũ giai Điềm Tân là nói chữ, nói theo cấp bậc, còn trong thường ngày, người ta gọi là “bà Tân Điềm”, “Bà Tiếp Du” v.v.
 
            Trong các bà này, chỉ có hai bà số 1 (Hồ Thị Chỉ) và số 2 (Hoàng Thị Cúc) là có nhiều chuyện để nói.
 
            Ngày 3 /12/1917, nhằm ngày 19 tháng 10 năm Khải Định thứ 2, Vua cử triều đình đi cưới cô Hồ Thị Chỉ, nữ sinh trường Đồng Khánh, ái nữ của quan Học bộ Thượng thư Hồ Đắc Trung, về làm Chánh phi. Năm ngày sau, 8/12/1917 Vua sắc phong cho người vợ mới cưới làm Nhứt giai Ân Phi [18], từ đó, cung đình và dân Huế gọi cô nữ sinh ngày xưa là Bà Ân. Lúc đó bà mới 15 tuổi. Cũng là duyên trời đưa đẩy, nhưng có phần ngược gió. Bảy tháng trước, chiều ngày 15/7/1917, vào lúc 17 giờ, có lễ đặt đá xây dựng trường nữ trung học đầu tiên của Huế – được gọi là Collège Đồng Khánh. Buổi lễ đặt dưới quyền đồng chủ tọa của Toàn quyền Albert Sarraut và Vua Khải Định, với sự tham dự của Khâm sứ Trung kỳ, J.E.Charles, và nhiều quan chức cao cấp Pháp, Việt khác, trong đó có quan Thượng thư Bộ Học Hố Đắc Trung. Cô nữ sinh học giỏi, xinh đẹp, nết na, con nhà quí tộc tên Hồ Thị Chỉ được nhà trường cử ra bưng khay phủ gấm điều đựng kéo dâng cho quan khách cắt băng mở cổng trường để vào nơi làm lễ. Hình ảnh cô nữ sinh xinh đẹp, dịu hiền đã để lại một ấn tượng trong vua lúc nào không hay.
 
           Vào lúc này thì Vua Khải Định đã có một con trai trưởng tên Vĩnh Thụy, được 4 tuổi, nhưng bà mẹ sinh ra Hoàng tử xuất thân bình dân, học hành không bao nhiêu, cuộc hôn nhân không môn đăng hộ đối và không theo nghi lễ chính thức. Vì vậy, ngôi Chánh cung vẫn còn bỏ trống và Vua cần có một bà Hoàng xứng đáng, đẹp người, đẹp nết, con nhà trâm anh, có học thức, để giữ địa vị đó. Khi có lệnh nạp phi thì “Tiểu sử và hình ảnh nhiều tiểu thơ con các quan đại thần được dâng lên và Hoàng thượng đã không do dự chọn ngay tấm hình có cô nữ sinh kiều diễm ngài đã có dịp gặp trong buổi lễ xây trường Đồng Khánh. Hồ tiểu thơ rất thông minh, học giỏi, đàn hay, thông thạo cả tiếng Pháp lẫn Hán văn và Việt ngữ. Nàng mới 15 tuổi mà đã đúng là một giai nhân quốc sắc thiên hương, xứng đáng được tuyển chọn làm Hoàng phi của Hoàng đế nước Đại Nam.” [19]
 
            Đây là một cuộc hôn nhân gượng ép, nặng về nghi lễ và hình thức chứ không bắt nguồn từ tình yêu. Người ta nói rằng Hồ tiểu thơ trong tâm tư đã có một thần tượng khác vì nợ nước mà bị lưu đày, đó là Vua Duy Tân, người mà cô đã có nhiều dịp gặp gỡ trong các kỳ nghỉ hè trước đó ở Cửa Tùng, Quảng Trị. [20] Bà Ân Phi không có con, sau khi Vua Khải Định băng hà, bà ngày càng trở thành một bóng mờ trong cung cấm trước một ngôi sao sáng khác. Càng lớn tuổi càng có triệu chứng tâm thần, có lẽ vì gặp nhiều thất vọng trong đời, chẳng hạn mối tình đầu đã theo gió chính trị bay sang Phi châu, và tuy kết hôn với Vua nhưng tình vợ chồng lạt lẽo, không con… Sau năm 1945, người ta thường gặp bà lang thang nơi này nơi khác ở Huế.  Không rõ bà mất năm nào, ở đâu.          
 
            Ngôi sao sáng vừa nói là bà Hoàng Thị Cúc, người quê ở Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc, con của ông Hoàng Văn Tích. Cái tiểu sử của bà cũng mang nhiều nét mờ ảo của dư luận và tin đồn, vì vậy có nhiều kiến giải khác nhau được công bố. Chẳng hạn, theo Nguyễn Lý Tưởng, bà Cúc “nguyên không phải là Cung phi hay Cung tần mà chỉ là một gái hầu của Ngọc Lâm Công Chúa (con Vua Đồng Khánh), xuất thân từ gia đình bình dân.” [21] Theo Trần Gia Phụng, “Khi mới đến Huế, bà Cúc buôn bán nhỏ ở chợ An Cựu, gặp mẹ ruột của Hoàng thân Bửu Đảo (sau này là Vua Khải Định) là bà Tiên Cung (vợ Vua Đồng Khánh), người không cùng làng nhưng cùng huyện Phú Lộc… Bà Tiên Cung  nhận bà Cúc vào làm việc  trong dinh của ông Hoàng Bửu Đảo ở An Cựu (sau này xây thành An Định cung). Từ đó bà Cúc mới quen biết ông Hoàng” [22]
 
            Dầu các nguồn tin có khác trong chi tiết nhưng đều giống nhau ở chỗ bà Cúc đã có mặt tại phủ Phụng Hóa (tiền thân cung An Định) từ lúc tiềm để; chỉ có điều có mặt với tư cách nào, mỗi người nói một khác. Là người giúp việc trong phủ? Là người hầu hạ của Công chúa Ngọc Lâm (chị đầu của Vua Khải Định)? Hay là một trong các hầu thiếp của ông Hoàng Bửu Đảo? Hỏi như vậy vì lúc đó ông Hoàng đã có vợ chính thức là bà họ Trương rồi, mà một ông Hoàng ngoài vợ còn có thêm vài tì thiếp thì không có chi lạ; lạ chăng là  nếu ông chỉ có một bà duy nhất; một điều khó xảy ra lúc bấy giờ. [23]
 
            Chính vì xuất thân hàn vi nên bà Cúc phải chịu cảnh lép vế, dù là kẻ đến trước, và lại có con trai. Trong khi bà Hồ Thị Chỉ được phong làm Nhất giai Ân Phi ngay sau khi cưới, thì bà họ Hoàng chỉ được lên chức từng bước, theo sự trưởng thành của con trai. Năm 1917, bà chỉ mới được phong làm Tam giai Huệ Tân. Qua năm 1918 thăng lên Nhị giai Hữu Phi, và đến năm 1923 mới được phong làm Nhất giai Huệ Phi “Nhất giai Huệ Phi”, sau khi con trai của bà là Hoàng tử Vĩnh Thụy “Vĩnh Thụy”  được phong làm Đông cung Thái tử vào năm 1922.
 

            Trước khi Vua Khải Định băng hà vào năm 1925, các đại thần có hỏi trừ quân sẽ đối xử với các bà Phi ra sao cho hợp lẽ thì Vua Khải Định nói “Tử quí mẫu vinh” (con phú quí, mẹ vinh hiển) Vì vậy, năm 1933, sau khi từ Pháp về cầm quyền, Vua Bảo Đại “Bảo Đại” mới tấn tôn bà Huệ Phi làm Đoan Huy Hoàng Thái Hậu, cung đình thường gọi là Đức Từ Cung, hay vắn tắt: Đức Từ. “Đoan Huy Hòang Thái Hậu” “Từ Cung “Từ Cung” ” là cách gọi thông thường ở chốn cung đình để chỉ bà mẹ của Vua đang tại vị, chứ không phải là tước vị chính thức, như người ta thường lầm tưởng (Vì vậy, nói Hoàng hậu Từ Cung hay Thái Hậu Từ Cung là không chỉnh). 

           Tuy xuất thân không phải dòng dõi quyền quí nhưng những người có dịp gần gũi, đa số đều công nhận bà Từ Cung “Từ Cung” thông minh, học nhanh, hội nhập nếp sống cung đình nhanh và tư cách ra bậc Mẫu nghi.

khaidinh1

(h1) Khôn Nguyên Hoàng Thái Hậu (thường gọi là Đức Thánh Cung “Thánh Cung”) mẹ đích của Vua Khải Định. (h2) Vua Khải Định trong võ phục. Đây là loại trang phục do Vua sáng tác, thường mặc trong các buổi lễ, bị nhiều người chê lai căng, trong đó có Phan Châu Trinh “Phan Châu Trinh”.

khaidinh2

Vua Khải Định trong văn phòng

khaidinh205

ua Khải Định đi săn vịt trời ở hồ Tịnh Tâm. Vua mặc đồ đi săn theo kiểu Tây nhưng các quan Thị vệ “Thị vệ” theo hầu vẫn cứ áo dài, khăn đóng, bài ngà. Chỉ có một cái mới: Thị vệ cấp lớn được đi giày ống kiểu Tây (bottes).

khaidinh3

vua Khải Định với mẹ ruột, Khôn Nghi Hoàng Thái Hậu (tục gọi Đức Tiên Cung “Tiên Cung”), và con trai, Hoàng tử Vĩnh Thụy “Vĩnh Thụy” (vua Bảo Đại “Bảo Đại” sau này). (h2) Bà Từ Cung “Từ Cung”, khi đang còn là bà Phi, cùng với con là Thái tử Vĩnh Thụy.

khaidinh4

h1) Đoan Huy Hoàng Thái hậu (Bà Từ Cung) “Đoan Huy Hoàng Thái Hậu” trong phẩm phục. (h2) Bà Nhất giai Ân Phi Hồ Thị Chỉ.

khaidinh6

(1h) Khải Định Thông bảo bảo (h2) Tiền thưởng đời Khải Định

4. Ngự Giá Bắc Tuần, 1918

         Người dị ứng với ngôn ngữ thời quân chủ sẽ không ưa cái tựa đề này.  Sự thật, nó chỉ có nghĩa đơn giản là Vua đi kinh lý miền Bắc, Vua đi thăm miền Bắc. Tôi giữ nguyên cái tựa đề này cho đúng ngôn ngữ thời đại.

            Các vua đầu Nhà Nguyễn đều có “ngự giá Bắc tuần” một lần trong thời gian trị vì. Chẳng hạn, Vua Gia Long bắc tuần vào năm 1804; Vua Minh Mạng, vào năm 1821; Vua Thiệu Trị, vào năm 1842. Nhưng sao lại chỉ Bắc tuần mà không nghe nói tới Nam tuần? Và tại sao chỉ đi có một lần trong đời mà thôi? Thực ra, đối với các Vua, việc Bắc tuần này cũng có vẻ bất đắc dĩ, vì các Vua đều biết rằng mỗi chuyến đi như vậy là cả một sự tốn kém cho ngân quỹ quốc gia, và gây xáo trộn sinh họat địa phương. Các tỉnh có Vua đi qua, không phải chỉ lo việc nghinh đón, cung phụng Vua mà còn phải lo phục vụ cả một đoàn quan quân hộ tống đông đảo lên đến hàng nghìn người. Bởi vậy, các Vua đều kết hợp việc thăm dân cho biết sự tình với việc ra Thăng Long tiếp nhận sắc phong của Vua Nhà Thanh, và tiếp nhận sắc phong thì mỗi Vua chỉ làm một lần trong đời. Cứ lấy cuộc Bắc tuần của Vua Minh Mạng năm 1822 cũng đủ thấy sự phức tạp như thế nào. Hồi đó, Vua đã mang theo một đoàn 1,792 quan văn võ lớn nhỏ, và 5,150 lính hộ vệ. Sở dĩ Vua phải đem theo một đoàn quan quân đông đảo như thế là vừa để bảo đảm vấn đề an ninh, đề phòng những cuộc nổi loạn đánh úp bất thần; mặt khác, cũng cần phải phô trương thanh thế với thiên triều.     

            Vua Khải Định có bề ngoài không cường tráng, nhưng là một con người thích họat động. Theo ghi nhận của R.Orband, tác giả của thiên phóng sự Bắc tuần, thì khi đang còn là ông Hoàng, Vua đã từng ra Bắc, vào Nam, du lịch với tư cách cá nhân. Chẳng hạn, ngày 14/2/1907, Phụng Hóa Công đã cùng với người bạn thân, tên Hường Đề (kể về vai vế dòng họ thì ông này thuộc hàng ông), làm một chuyến du lịch về phương Nam. Hai người đi tàu lửa vô Đà Nẵng, rồi xuống tàu Manche để vô Sàigòn. Ông Hường Đề vừa là bạn đồng hành, vừa là thông dịch viên. Khi lên ngôi, Vua Khải Định đã cử ngay người bạn thời tiềm để làm Ngự tiền Văn Phòng.

             Nếu sự ghi nhận của R.Orband hoàn toàn trung thực thì cuộc du lịch này rõ ràng là cuộc viếng thăm của một chính khách chứ không phải một người bình thường. Theo đó, ông Hoàng Phụng Hóa đã đi dự dạ vũ do chính quyền tổ chức tại Tòa Đốc lý, ăn cơm tối với Thống đốc Nam Kỳ Klobukowski, và sau đó, với Phó Thống Đốc M. Outrey; đi thăm  bệnh viện bản xứ, thăm trường mù, trường câm điếc, trường dạy nghề, trường trung học Chasseloup Laubat, thăm pháo hạm Acheron đậu trên sông Sàigòn, vô Chợ Lớn thăm nhà máy xay lúa, đi Thủ Đức thăm ông Lê Phát An, đi Biên Hòa dự lễ phát thưởng cuộc thi canh nông kỹ nghệ, dự cuộc đua ngựa v.v  Ở chơi như vậy mười ngày (17/2-27/2/19, hai người mới xuống tàu thủy để về Huế.

            Lên làm Vua vào giữa tháng 5/1916 thì ngày 7/9/1916, Vua đã mở một cuộc viếng thăm ngắn hạn Đà Nẵng-Quảng Nam trong ba ngày với Quyền Khâm sứ Trung Kỳ Le Marchant de Trigon. Đi theo Vua lần này có Thượng thư Bộ Hình Tôn Thất Hân, Thượng thư Bộ Binh Nguyễn Hữu Bài và Thống chế Lê Văn Bá, cùng một thư ký của Viện Cơ Mật và một viên quan mang hai cái ấn Ngự Tiền Chi Bửu và Hành Tại Chi Chỉ để phòng khi cần làm việc tại chỗ. Theo ghi nhận của Orband, chương trình thăm viếng của vua khá sát sao. Tới Đà Nẵng vào chiều hôm 7/9/1916 thì sáng hôm sau Vua đi thăm Hội An. Sau khi dự cuộc lạy mừng của quan lại địa phương tại hành cung, Vua đi Phú Thượng để thăm các xưởng chế biến trà xuất khẩu của công ty Derobert & Fiard. Tối hôm đó, Vua lên thăm tàu Paul Lecat của hãng Messageries Maritimes đang bỏ neo trong vịnh Đà Nẵng; ngày 9/9 vào Tam Kỳ, đi thăm mỏ vàng Bồng Miêu, và hôm sau, 10/7, thì trở về Huế.

            Cùng với hai cuộc viếng thăm vừa kể, chuyến du hành thứ ba của Vua Khải Định vào năm 1918 sẽ cho chúng ta thấy một vài cá tính đặc biệt của Vua mà dư luận ít khi biết đến.

            Năm 1917 có lễ Tế Nam Giao. Toàn quyền Albert Sarraut từ Hà Nội vào dự. Nhân dịp này, Vua ngỏ ý muốn đi thăm miền Bắc một chuyến, theo truyền thống của các đời Vua tiền triều, trước là để bái yết lăng mộ tổ tiên tại Gia Miêu Ngoại Trang (thường gọi là Quí hương) thuộc huyện Tống Sơn (thường gọi là Quí huyện) ở Thanh Hóa, nơi phát tích của nhà Nguyễn, sau là thăm dân cho biết sự tình và mục kích tận mắt những đổi thay của đất nước. Trước nhiệt tình muốn đi đó đi đây của Vua, Sarraut đồng ý trên nguyên tắc, nhưng hẹn để về lại Hà Nội, xem xét chương trình làm việc rồi mới xác định được thời điểm tiếp đón. Đầu năm 1918, Toàn quyền Albert Sarraut gởi thư cho Vua, thông báo rằng ông ta sẵn sàng đón tiếp Vua và phái đoàn khoảng nửa sau của tháng Tư. Nhận được thư, lập tức Vua Khải Định cho phát động ngay guồng máy hành chánh để chuẩn bị cuộc du hành.

            Ngày 29/3/1918, Vua xuống chiếu nói về cuộc ngự giá Bắc tuần, với lý do như đã nêu trên, trong đó có ấn định rõ ngày lên đường, miễn cho dân các phủ huyện việc đón rước và đặt bàn hương án bái vọng khi Vua đi qua, để cho dân yên ổn làm ăn. Về chi phí thì trích từ quỹ dự trữ của Nam triều để địa phương khỏi tốn kém.

            Vua chỉ định một phái đoàn tháp tùng gồm các nhân vật sau đây:

            – Viện trưởng Viện Cơ Mật kiêm Thượng thư Bộ Hình Tôn Thất Hân,
            – Thượng thư Bộ Công kiêm Bộ Binh Đoàn Đình Duyệt,
            – Thống chế Lê Văn Bá,
            – Tham tri Bộ Lễ Bửu Thạch,
            – Chưởng vệ Nguyễn Hữu Tiễn,
            – Tham tá Nội Các Phạm Hoan,
            – Ngự tiền Văn phòng kiêm Thông ngôn Hường Đề,
            – Lang trung Ty Cẩn Tín Ưng Bàng.

            Ngoài ra, quan lại tùy tùng còn có 2 ngự y, 8 thị vệ, 2 quan Nội Các, và một nhân viên Viện Cơ Mật.

            Về phía Pháp, lúc đầu Charles, Khâm sứ Trung Kỳ, định đi theo Vua, nhưng tới ngày đi thì bịnh, nên cử Đổng lý Văn phòng Le Fol đại diện, tháp tùng có R.Orband, quan cai trị, và thông ngôn riêng của Tòa Khâm là Bùi Thanh Vân.

            Trong thời gian Vua vắng mặt, việc triều chính như thế nào?  Dụ ngày 12/4/1918 giao cho Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài và Thượng thư Bộ Học Hồ Đắc Trung trách nhiệm điều hành tổng quát; giao Trung quân Đô thống Hường Thỏa và Thống chế Võ Văn Kiêm trông coi về mặt an ninh Kinh thành và Đại Nội. Ngoài ra, trong khi hai ông Thượng thư Tôn Thất Hân và Đoàn Đình Duyệt vắng mặt, thì tại mỗi Bộ vua cử ra một Tham tri và một Thị lang xử lý thường vụ và chịu trách nhiệm về ấn tín của Bộ.

             Để cho phái đoàn thêm trang trọng, bề thế, ngày 15/4 Vua cấp phát áo mới cho các quan lớn trong phái đoàn để dùng vào dịp đặc biệt này.

            12giờ30 ngày 19/4/1918, một chuyến xe lửa đặc biệt khởi hành từ ga Huế, đưa Vua và phái đoàn ra Bắc, cùng lúc, trước Kỳ đài, chín phát ống lệnh nổ vang kinh thành báo hiệu chuyến ngự giá bắc tuần bắt đầu. Tiễn đưa Vua hôm đó tại ga Huế có một số người Pháp, các quan của triều đình Huế và tỉnh Thừa Thiên, học sinh các trường và rất  đông dân chúng.

            Orband, viên chức Pháp, tác giả thiên phóng sự Bắc tuần, nhận xét rằng phái đoàn Bắc tuần của Vua Khải Định thật là gọn nhẹ, chỉ có 20 người, chứ không đông đảo rộn ràng như xưa kia. Điều này thì chẳng phải do Vua ưa giản dị, mà chỉ vì đi nhiều thì tốn kém. Vả chăng Vua đâu cần tiền hô hậu ủng chi cho nhiều, vì vấn đề an ninh đều do chính quyền Bảo hộ bao biện hết.

            Đoàn tàu tạm dừng bánh ở ga Quảng Trị trong ít phút để Công sứ và Tuần vũ Quảng Trị lên tàu chào Vua và tiễn đưa phái đoàn ra Đông Hà. Bấy giờ, đường sắt Huế-Hà Nội còn một đọan giữa Đông Hà và Vinh làm chưa xong; vì vậy, đến Đông Hà thì phái đoàn phải xuống tàu, sang qua 8 chiếc xe  hơi đang chờ sẵn để tiếp tục hành trình bằng đường bộ đến Đồng Hới, tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình.

            Tại  những nơi chưa có cầu, người ta phải kết đò rồi lót ván, làm thành cầu nổi cho đoàn xe đi qua. Mặc dầu Vua đã có chiếu chỉ miễn việc đón chào cho các địa phương có Vua đi qua, nhưng dọc đường nhiều nơi người ta vẫn bày hương án với cờ lọng, và hương chức khăn đóng, áo rộng chỉnh tề, cùng dân chúng chực sẵn bên đường, bái vọng  khi xe vua đi qua. Cái hình ảnh khác biệt giữa việc đón mừng Vua ngày xưa và đón chào Nguyên thủ Quốc gia ngày nay là người ta nôn nóng chờ Vua tới, nhưng đến khi thấy xe Vua ngang qua thì mọi người lại im lặng, kính cẩn vòng tay cúi đầu, chứ không vẫy tay hoan hô ầm ĩ, vì làm thế là bất kính.  Quả là phong cách mỗi thời một khác.  Vua Khải Định có thể đã lấy làm hãnh diện và sung sướng khi thấy được dân đón chào như thế, khác hẳn điều đã xảy ra cho Vua cha Đồng Khánh, hơn 30 năm về trước. Hồi đó, sau khi Kinh đô Huế thất thủ (5/7/1885), Vua Hàm Nghi chạy ra vùng rừng núi Quảng Bình và Hà Tĩnh, cầm đầu cuộc kháng chiến Cần vương. Sau khi tìm mọi cách chiêu dụ Vua Hàm Nghi trở về không được, người Pháp và triều đình Huế lập Vua Đồng Khánh (anh ruột của Vua Hàm Nghi) lên thay và đưa Vua “ngự giá Bắc tuần” để chiêu an dân chúng đồng thời chiêu hồi Vua Hàm Nghi trở về. Nhưng dưới ảnh hưởng của chiếu Cần vương, đi đến đâu Vua  cũng bị dân chúng chống đối, cuối cùng phải bỏ dở  hành trình nửa chừng, xuống tàu thủy về lại Huế.

            Những nơi Vua chính thức dừng lại là Đồng Hới (19/4/1917), Hà Tĩnh  (20/4), Vinh (22/4), Thanh Hóa (23/4). Nơi nào Vua cũng được đón tiếp long trọng với đầy đủ lễ nghi quân cách, nghĩa là có 21 phát đại bác chào mừng, có quân lính dàn chào, có đầy đủ giới chức Việt và Pháp trong tỉnh cùng học sinh các trường nghênh đón. Tại tỉnh nào có hành cung không được tiện nghi thì Vua tạm nghỉ tại Tòa sứ. Phái đoàn thường đến các tỉnh vào buổi chiều, dự dạ tiệc chiêu đãi ngay tối hôm đó, và sáng hôm sau là lễ lạy mừng của tất cả quan lại trong tỉnh, diễn ra tại hành cung, theo nghi thức đại triều, nghĩa là Vua và hết thảy quan lại đều mặc triều phục, và các quan lạy Vua năm lạy.

            Sau lễ lạy mừng, Vua thay thường phục và bắt đầu đi thăm các cơ sở trong tỉnh, thường là bệnh viện, trại lính và trường học. Tại những tỉnh bắt đầu có công cuộc phát triển kinh tế,  như mở đồn điền hay cơ xưởng kỹ nghệ, thì Vua lại chú trọng thăm viếng những nơi này. Điều này được thấy rõ khi Vua thăm Hà Tĩnh và Thanh Hóa.

            Ở Hà Tĩnh, chiều ngày 21/4/1918, Công sứ và Tuần vũ tỉnh này đã hướng dẫn vua đi thăm các đồn điền cà phê của  mấy người Pháp, như Border, Ferey&Boef, và Chazet, trưng khẩn  hồi đầu thế kỷ. Được thấy tận mắt những  đồn điền cà phê tươi tốt ngút ngàn với cả trăm ngàn gốc mọc lên từ những vùng trước kia hoang vu, nhà vua rất  thích thú và không tiếc lời khen ngợi. Tối đó, vua ngủ đêm ở đồn điền của  Chazet, và sáng hôm sau đi thăm con đường đang mở sang Lào. Khi xe hơi hết đường đi, vua đề nghị xuống xe đi bộ. Cả phái đoàn đi bộ non hai cây số xuyên qua công trường có 3,000 công nhân đang làm việc và được họ đón chào một cách kính cẩn.

            Từ Nghệ An ra Thanh Hóa, phái đoàn dùng xe lửa. Vào địa phận Thanh Hóa, người ta thấy các nhà ga đều có bày hương án với cờ xí rực rỡ  và đốt pháo chào mừng khi “xa giá” đi qua, trong khi các thân hào khăn áo nghiêm chỉnh quì lạy trên sân ga. Vua phải cho tàu chạy chậm để chào đáp lễ. Cuộc đón tiếp tại Thanh Hóa được xem là long trọng và rầm rộ. Ngoài sự có mặt của tất cả giới chức Tây, ta trong tỉnh, còn có chừng ba chục ngàn dân tụ tập đón mừng. Điều này cũng dễ hiểu, vì Thanh Hóa là nơi phát tích của nhà Nguyễn. Họ đang chào đón một người con vinh quang trở về. Tại đây, Vua  không tạm trú dinh công sứ, vì hành cung đã được chuẩn bị đẹp đẽ và tiện nghi như điện Càn Thành  ở Huế, để Vua cảm thấy thoải mái như ở nhà. Ngày hôm sau, 24/4/1918, Vua dành trọn một ngày để viếng lăng Trường Nguyên  (lăng của Nguyễn Kim, được truy tôn làm Triệu tổ Tĩnh Hoàng Đế của nhà Nguyễn) tại núi Triệu Tường, thuộc Gia Miêu Ngoại Trang, huyện Tống Sơn, và làm lễ tế tại Nguyên Miếu; sau đó thì đi viếng đền Phố Cát, nơi thờ Công chúa Liễu Hạnh, vốn nổi tiếng linh thiêng, giống như Điện Hòn Chén (điện Huệ Nam) thờ Thánh mẫu Thiên Y A Na ở Huế vậy.

            Qua ngày mai, Vua mới cho các quan trong tỉnh làm lễ lạy mừng tại hành cung, rồi sau đó đi thăm các cơ sở trong tỉnh, như trường học, bệnh viện, trại lính, cơ sở từ thiện của Xơ Arsène, lò gốm Nguyễn Văn Được, và nhà máy diêm quẹt Hàm Rồng, một cơ sở kỹ nghệ nhẹ thu nhận đến 500 công nhân.

            Mười ba giờ chiều hôm đó, 26/4, Vua lên xe lửa ra Hà Nội. Ga Đồng Giao là ranh giới giữa Thanh Hóa thuộc Trung kỳ và Ninh Bình thuộc Bắc kỳ. Ở đây, tỉnh Ninh Bình đã dựng một khải hoàn môn thật lớn để đón tiếp Vua. Thanh tra Conrandy, đại diện Thống sứ Bắc kỳ, từ Hà Nội vào, hiệp cùng Công sứ, Tuần vũ Ninh Bình, và  các quan lại, lính tráng, dân chúng,  túc trực để chào mừng Vua ngay tại sân ga.

            Sau phần lễ nghi, phái đoàn lại lên tàu tiếp tục hành trình, có Thanh tra Conrandy đi theo. Tàu đi qua các ga Nam Định, Phủ Lý, Đỗ Xá, đều được quan lại địa phương đến chào mừng, nhưng không dừng lại lâu. Năm giờ chiều hôm đó, 26/4, thì tàu tới ga Hà Nội.

            Tại sân ga Hà Nội, các viên chức người Pháp và quan lại Việt Nam đã sắp hàng sau lưng Toàn quyền Albert Sarraut để sẵn sàng nghênh đón khi Vua vừa bước xuống tàu. Người ta đưa Vua vào một phòng khách danh dự vừa được thiết trí vào dịp đặc biệt này, và Đốc lý Hà Nội, Jabouille, với tư cách gia chủ, đứng ra đọc diễn văn chào mừng. Sau đó, phái đoàn lên xe về Phủ Toàn quyền, nơi đây mới diễn ra cuộc tiếp đón chính thức của Toàn quyền Đông Dương. Vua tạm trú ngay trong phủ.

            Trong ba ngày kế tiếp sau đó, từ 27/4 đến 29/4, thời khóa biểu của Vua Khải Định xem như đặc kín những cuộc viếng thăm và tiếp xúc. Đầu tiên, ngay sáng ngày 27/4, lúc 8 giờ sáng, các quan đến làm lễ lạy mừng Vua tại Phủ Toàn Quyền theo nghi thức đại triều.

Theo ghi nhận của Orband, cuộc lễ này không được trang nghiêm và đẹp đẽ như tại điện Thái Hòa, vì khung cảnh không thích hợp và các quan địa phương vốn không thành thạo về lễ nghi này, dù được quan Tham Tri Bộ Lễ đứng ra điều khiển.  Sau đó, Vua thay thường phục để đến thăm và đặt vòng hoa tại tượng đài cựu Toàn quyền Paul Bert. Có lẽ đây là lần đầu tiên một ông Vua Việt Nam có cử chỉ thân thiện và “Tây” như thế nên lôi cuốn một số lớn Tây đầm đi xem. Sau đó, Vua  đi thăm bệnh viện bản xứ, vào tận phòng mổ để chứng kiến tận mắt một cuộc giải phẫu do bác sĩ Le Roy des Barres thực hiện, để biết kỹ thuật mổ xẻ của Tây y như thế nào..

            Ba giờ chiều, Vua đi thăm Trường Thuốc. Vào thời điểm đó, Trường Thuốc chỉ mới đào tạo Y sĩ bản xứ, chứ chưa phải là bác sĩ, vì không mấy học sinh có bằng Tú tài. Tổng số sinh viên lúc bấy giờ là 150 người, tất cả đều mặc đồng phục trắng, tập họp tại đại giảng đường cùng ban Giám đốc để đón tiếp nhà Vua. Sau khi nghe báo cáo về thành tích đào tạo của nhà trường và kế hoạch phát triển trong tương lai để nâng cao trình độ đào tạo ở cấp đại học, Vua hết sức khen ngợi. Sau đó, Vua và phái đoàn đi thăm trường Trung học Bảo Hộ (Trường Bưởi).  Hiệu trưởng là người Pháp nhưng cung cách đón tiếp Việt Nam. Ngay khi xe Vua đi vào sân đã nghe trống đánh, kèn thổi và pháo nổ tưng bừng. Chín trăm học sinh sắp hàng nghiêm chỉnh đón khách. Ở bậc thềm của ngôi nhà chính, người ta thiết một hương án, khói trầm nghi ngút. Sau khi Hiệu trưởng Dommadieu giới thiệu ban Giáo sư, một học sinh đứng ra đọc chúc từ.  Sau đó, Vua và phái đoàn đi thăm các lớp, thăm phòng vẽ, phòng khoa học, phòng giáo sư, ký túc xá, phòng ăn v.v.

            Nhưng có lẽ nơi Vua và Toàn quyền Sarraut cảm thấy thích thú là khi thăm viếng nhà máy sản xuất thuốc lá. Cả hai đã tò mò quan sát tất cả mọi giai đoạn trong dây chuyền sản xuất, không bỏ chi tiết nào. Tối đến là dạ tiệc khoản đãi chính thức do Phủ Toàn quyền tổ chức. Trong số quan khách được mời có nhiều người Pháp không ở trong chính quyền. Sau dạ tiệc, mọi người được xem chiếu bóng, một thú giải trí hết sức mới mẻ, tân kỳ  lúc bấy giờ. Trong các phim đem ra chiếu, có phim quay cảnh lăng tẩm ở Huế và đạo ngự (đoàn Vua đi) Tế Nam Giao năm 1917.

            Đó là một ngày bận rộn điển hình của Vua Khải Định trong thời gian ở Hà Nội. Hầu như tất cả các cuộc thăm viếng của Vua đều do Toàn quyền Albert Sarraut hướng dẫn, và có lẽ vì vậy mà đâu đâu Vua Khải Định cũng được đón tiếp trọng thể và nồng nhiệt từ cả hai phía chính quyền Pháp, Việt, và dân chúng. Ngày 28/4, Vua đi thăm viện Bảo Tàng Thương Mãi, nơi trưng bày các sản phẩm của Đông Dương; dự lễ khánh thành Đại Học Đông Dương, thăm Văn Miếu Hà Nội, dự hội chợ từ thiện do Hồng Thập Tự Pháp ở Đông Dương tổ chức.

            Ngày 29/4, cùng với Toàn quyền và Tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương là Tướng Lombard, Vua dự cuộc duyệt binh  khai diễn lúc 7 giờ 30 sáng. Buổi duyệt binh đặt dưới sự chỉ huy của Tướng Barrand, Chỉ huy trưởng Pháo binh Đông Dương, với sự tham dự của các đơn vị pháo binh, bộ binh Pháp và lính Khố Đỏ. Sau lễ duyệt binh, Vua đi thăm tỉnh Sơn Tây, rồi  thăm đồn điền cà phê của Borel nằm dưới chân núi Ba Vì, đến chiều  mới trở về Hà Nội.

            Sáng ngày 30/4, Vua cùng Toàn quyền Sarraut đi thăm Pháp đình Đông Dương, trường trung học Paul Bert, và Bệnh viện Mắt. Vua cũng đi thăm tòa báo và nhà in Viễn Đông (Imprimerie d’ Extrême-Orient), một cơ sở ấn loát to lớn và tối tân nhất Đông Dương lúc đó. Vua ngạc nhiên thích thú khi chứng kiến  nhà in đang tiến hành việc in số báo Buletin des Amis du Vieux Huế, chuyên đề nghệ thuật Huế, với rất nhiều hình màu. Đến chiều thì Vua lên xe lửa đi thăm Lạng sơn cùng với Toàn quyền và Thống sứ.

            Lúc đầu, phái đoàn quả có lên xe lửa thật, nhưng không hiểu sao, đến ga Gia Lâm thì xuống tàu và dùng xe hơi để đi. Vừa vào ngõ tỉnh lỵ Bắc Ninh thì thấy chính quyền và dân chúng địa phương đã chuẩn bị đẹp đẽ và nồng nhiệt đón chào phái đoàn của Vua và Toàn quyền. Trước tình hình như vậy, phái đoàn xuống xe đi bộ đáp lễ qua các phố rồi mới lên xe tiếp tục hành trình đến Phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Nơi đây việc đón tiếp xem ra cũng rầm rộ không kém Bắc Ninh. Con đường chính của tỉnh lị đầy cổng chào, hương án và cờ, lọng. Đặc  biệt, các cổng chào tuy làm bằng vật liệu thông thường của địa phương như tre, lá cọ, lá thiên tuế, hoa v.v. nhưng được trình bày rất nghệ thuật, rất sáng tạo, khiến các phóng viên phải ghi nhận và khen ngợi. Dân chúng thì chật ních hai bên đường nhưng đón chào trong sự lặng lẽ kính cẩn. Sau khi nhận sự chào mừng của chính quyền địa phương tại dinh Công sứ, phái đoàn lên tàu tiếp tục hành trình. Dọc đường, khi qua các ga, tàu phải chạy chậm lại vì ga nào cũng có thiết hương án, đốt pháo mừng và hương lý quì lạy trên sân ga. Đặc biệt, tàu đã dừng ở ga Bắc Lệ để nhận sự lạy mừng tung hô Vạn tuế của các tù trưởng người Thổ, dưới sự hướng dẫn của Tri Châu, đồng thời cũng để phái đoàn viếng nghĩa địa các sĩ quan và binh lính Pháp chết trong trận đánh với quân Tàu vào năm 1884, thường được gọi là trận Bắc Lệ.

            Sáng hôm sau, phái đoàn lên xe hơi đi thăm pháo đài Brière de l’Isle trấn thủ biên giới với lực lượng và trang bị khá hùng hậu; kế đó, đi thăm đồn Đồng Đăng, và hang Kỳ Lừa, với các động Nhị Thanh, Tam Thanh nổi tiếng, còn lưu dấu đề thơ của người xưa.

            Phái đoàn trở về Hà Nội bằng xe lửa, khi đi qua các ga, tàu phải chạy chậm lại để đáp lễ các kỳ lão đã chầu chực sẵn trên sân ga lạy chào tiễn đưa.

            Ngày 2/5/1918, Vua cùng Thống sứ Bắc Kỳ, Bouvier St-Chaffray, lên xe lửa đi thăm Hải Phòng. Trên đường, phái đoàn dừng lại ở ga Hải Dương để dự một cuộc đón tiếp trọng thể của tỉnh, rồi sau đó mới tiếp tục hành trình đến Hải Phòng.

            Tại Hải Phòng, Đốc lý Maspéro cùng các quan chức thành phố đã sẵn sàng đón Vua và phái đoàn tại sân ga, xong đưa về Tòa Đốc lý. Trong diễn văn chào mừng, Maspéro kể lịch sử thành hình thành phố cảng như là một công trình đáng kể của người Pháp ở Bắc Kỳ, và sự phát triển nhanh chóng của nó trong bàn tay người Pháp. Thống sứ Bắc Kỳ thay mặt Vua  ghi nhận và khen ngợi  thành tích  phát triển của thành phố đối với xứ Bắc kỳ. Sau đó phái đoàn được hướng dẫn đi thăm bến cảng để chứng kiến tận mắt  những hoạt động thường nhật. Phóng viên ghi nhận rằng khi được nhìn thấy những nhà kho mênh mông chất đầy những sản phẩm Đông Dương để chờ xuống tàu xuất khẩu qua châu Âu, Vua Khải Định có vẻ rất quan tâm.

            Đến trưa thì phái đoàn đi thăm bãi biển Đồ Sơn, ăn trưa ở biệt thự St. Mathurin. Chiều, đi thăm nhà máy cơ khí  Robert, Guerin et Théard. Có lẽ đây là lọai cơ sở Vua thích thăm viếng nhất, nên đã quan sát chi tiết mọi giai đoạn sản xuất, nhìn ngắm thích thú sự vận hành của các loại máy công nghiệp như máy tiện, máy đột dập, búa máy v.v. và không tiếc lời khen ngợi.  Chiều hôm đó, phái đoàn cũng đi thăm mhà máy ciment, và nhà máy thủy tinh.

            Đến tối hôm ấy, Toàn quyền Sarraut mới đến. Nửa khuya về sáng, tất cả lại xuống xà-lúp đi Quảng Yên để sáng ngày 3/5 thăm Vịnh Hạ Long. Xem như cả ngày hôm đó dành cho Hạ Long, mãi đến chiều xà lúp mới đi về khu mỏ than Cẩm Phả để chuẩn bị cho cuộc thăm viếng sáng hôm sau. Xà lúp đến bến Cẩm Phả thì đã khuya, nên phải neo tại bến, chờ sáng hôm sau mới có cuộc tiếp đón chính thức.

            Gollion, Giám đốc mỏ than của công ty La Société Française des Charbonages du Tonkin đã đón tiếp và thuyết trình cho phái đoàn nghe về hoạt động của khu mỏ. Theo đó, trong bốn tháng đầu năm 1918, mỏ đã sản xuất được 60,000 tấn, hy vọng sẽ đạt được 225,000 tấn vào cuối năm. Mỏ dự kiến sẽ khai thác 20 triệu tấn than trong năm mươi năm, trung bình 400,000 tấn một năm. Mỏ sử dụng một số công nhân từ 12 đến 13 ngàn người, tất cả đều ăn ở trong khu làng do mỏ xây dựng. Công nhân ốm đau, có bệnh viện của mỏ săn sóc và mỏ cũng có trường cho con công nhân theo học. Dĩ nhiên đây chỉ là phần thuyết trình của phía chủ nhân, còn sự thực thì không phải tốt đẹp như thế. Sau đó phái đoàn được đưa đi xem hoạt động của khu mỏ và ngắm cảnh đẹp của vịnh Bái Tử Long. Chiều hôm ấy, phái đoàn về lại Hải Phòng và lên ngay chuyến xe lửa đặc biệt để về Hà Nội trong đêm đó.

            Chiều ngày 5/5/1918. Toàn quyền lại đưa Vua đi thăm Thư viện và viện Bảo Tàng của trường Viễn Đông Bác Cổ (L’Ecole Française d’ Extrême-Orient) và Phòng Thương Mãi.            Ngày 6/5, Vua chính thức rời Hà Nội. Lễ tiễn đưa diễn ra long trọng ở nhà ga. Toàn quyền, Thống sứ Bắc kỳ, Khâm sứ Trung kỳ, Charles (mới ra sau) đều lên tàu với nhà Vua. Tàu dừng lại ở ga Phủ Lý để nhận sự đón tiếp trọng thể của địa phương. Ở đây, nhân danh chính Phủ Pháp, Toàn quyền tặng Vua Bắc đẩu Bội tinh. Vua đi thăm thành phố, bệnh viện, nhà máy sợi và nhà máy dệt.

Sáng hôm sau, 7/5, Vua và Khâm sứ lên tàu về Huế, còn Toàn quyền và Thống sứ quay về Hà Nội. Có lẽ lúc này Vua mới thấm mệt nên đã bãi bỏ chương trình thăm thành phố Vinh và lễ bái kiến ở Quảng Trị. Khi đến Quảng trị thì có Hoàng tử Vĩnh Thụy ra đón, Vua chỉ đi thăm vội vã khu điền trang của Thương thư Nguyễn Hữu Bài rồi về Huế. Cuộc đón tiếp long trọng của dân chúng và chính quyền Nam triều cũng như Bảo hộ tại ga Huế diễn ra vào chiều ngày 8/5/19/8 cùng với bảy phát ống lệnh nổ trước kỳ đài đã chính thức chấm dứt cuộc ngự giá Bắc tuần mà Vua thường ao ước.

214531baoxaydung_image002

Ngày lên đường ngự giá bắc tuần, vua Khải Định đã mặc bộ võ phục này.

khaidinh4011

(h1) Lễ tế tại Nguyên Miếu, Gia Miêu Ngoại Trang, Thanh Hóa Chuẩn bị đốt chúc văn (h2) Đón tiếp tại ga Đồng Giao. Đồng Giao là ga ranh giới giữa Trung và Bắc kỳ

khaidinh4012

Cảnh đón tiếp tại ga Ninh Bình.

Các quan mặc phẩm phục, quì đón. Lính khố xanh mặc lễ phục bồng súng chào. Phường môn bằng tre và hoa lá được dựng lên khá công phu. Đây là lối trang trí phổ biến của Việt Nam thời trước trong các dịp lễ long trọng.

Cảnh đón tiếp Vua tại ga Ninh Bình

Các quan địa phương trong triều phục đang chờ đón tiếp Vua tại nhà ga Nam Định. Một phường môn khá lớn và công phu, khác kiểu ở Ninh Bình, được dựng lên. Sân ga được trải chiếu cạp vải điều, một dạng của thảm đỏ ngày nay.

Sau lễ đón tiếp tại ga Hà Nội, Vua lên xe về Phủ Toàn quyền. Cảnh sát mặc lễ phục trắng, cưỡi xe đạp St Étienne, làm nhiệm vụ gìn giữ an ninh trật tự. Cũng có cảnh dân chúng tụ tập chào mừng.

Đặt vòng hoa tại tượng đài Paul Bert, Hà Nội. Có thể Khải Định là Vua Việt Nam đầu tiên làm nghi thức Tây phương này

Trên khán đài danh dự, hôm duyệt binh. Vua Khải Định mặc võ phục, đội nón chóp, ngồi bên trái. Dưới khán đài, phía trước có hai Thị vệ cầm gươm thị lập (đứng nghiêm đề hầu) và hai thị vệ khác (bị che khuất) cầm quạt hầu

khaidinh4032

(h1) Vua Khải Định và Toàn quyền Albert Sarraut (h2) Trên đường đi thăm một địa điểm ở Lạng Sơn. Người mặc áo đen, đội nón chóp là vua Khải Định. Xem ra, vua cũng chịu khó lội bộ.

khaidinh4051

Thăm Nhà máy Ciment Hải Phòng. Vua đang chăm chú nghe một viên chức người Pháp dẫn giải.

khaidinh4053

Vua Khải Định rời hành cung Nam Định để lên tàu về Huế, Nghi vệ của Vua đi ra là luôn luôn có 2 đến 4 thị vệ cầm gươm hầu đi trước, kế đến là lọng vàng và quạt hầu.

khaidinh4054

Toàn quyền Albert Sarraut và Thống sứ Bắc kỳ tiễn đưa Vua Khải Định về Huế tại sân ga Nam Định. Vua đang giã từ ở bậc thang bước lên tàu.

roi-khai-dinh

Trong các buổi lễ chính thức, Vua Khải Định thường xuất hiện trong trang phục này, một thứ võ phục đã được cải tiến theo ý nhà Vua.

Chú thích:

[1] Có thể xem:

– Vũ Ngự Chiêu, Các Vua cuối Nhà Nguyễn, Tập 2 (1884-1932), Văn Hóa, Houston, 2000.
– Phan Thứ Lang, Bảo Đại XE “Bảo Đại” , vua cuối cùng Triều Nguyễn,  nxb Đà Nẵng, 2004.
– Nguyễn Lý Tưởng, Thuyền ai đợi bến Văn Lâu, tác giả xuất bản, California, 2001.
– Phạm Khắc Hòe, Kể chuyện vua quan Nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997.
– Trần Gia Phụng, Tuổi thơ của Cựu Hoàng Bảo Đại, Tuyển tập Nhớ Huế, Số 17, California, 2006.

[2] Gọi tắt của Đại Nam Khâm Định Hội Điển Sự Lệ, bộ sách do Nội Các của Nhà Nguyễn biên soạn, ghi lại tất cả những qui định  của Nhà Nguyễn về mọi phương diện.

[3] F. DE TESSAN, S.M. Khai Dinh, Empereur d’Annam, La Revue de Paris, No13,1/7/1922, tr.156.

[4] Xem Phụ lục 1: Chuyện cung đình nghe kể lại, trong sách này.

[5] VƯƠNG HỒNG SỂN trong hồi ký Hơn nủa đời hư,Văn Nghệ, California, 1995) có dẫn lại của Thái Bạch những giai thoại văn chương về vua Khải Định.  Giai thoại thứ nhất là việc vua sửa câu đối cho một nhà làm nghề thuốc Bắc, làm cho hay hơn; giai thoại thứ hai về việc vua là tác giả của đôi câu đối rất dài mà vế trên bằng chữ nôm, vế dưới bằng chữ Hán, như sau:

– Xuân xanh tuổi ngoài đôi chục, chơi đục trần ai, khi bài khi bạc, khi tài bàn vác, khi tổ tôm quanh, khi năm canh ngồi nhà hát, khi gác cổ ả đào, khi ghẻ tàu con đĩ xác, khi nằm rạp thuốc phiện tiêm, hoanh ra dáng, dạng ra rồng, ngông ra phết, cóc biết chi tồi, miệng én đưa qua mùi gió thoảng;

– Quốc gia lịch tứ thiên dư, do truyền nhân vật, như Tô như Duật, như Phật tử Quân, như Trần Quốc Tuấn, như Phạm công Thượng thướng quân, như Bạch Vân Phu tử, như Ngự sử Lê Cảnh Tuân, như công thần Nguyễn Công Trứ, tài chi tuấn, thời chi tế, thế chi sừ, khỉ nhưng nhiên phủ, thân long đắc vũ tiện vân đằng.

Cụ Vương nói rằng nếu quả đúng vua là tác giả của những câu đối đó thì phải chịu là thông minh, có học (tr.289)

[6] Xem: Huế của một thời, Nam Việt, California, 2006 của cùng tác giả, bài ký Mệ Ngoại.

[7] Vương Hồng Sển, sđd., tr.290.

[8] Năm không lập: 1)Không lập Hoàng hậu.  2) Không lập Thái tử.  3) Không phong Tể tướng.  4) Không phong Quốc trượng (Bố vợ vua).  5) Không cử Trạng nguyên (người đỗ đầu kỳ thi Tiến sĩ).  Đây là lệ bất thành văn, không ghi trong Hội điển nhưng triều đình ai cũng biết.

[9] 6 Viện trong nội cung là:  Thuận Huy, Đoan Thuận, Đoan Hòa, Đoan Huy, Đoan Trang, Đoan Tường.

[10] Tấn tôn là vua làm lễ tôn phong mẹ.  Tấn gia tôn là vua làm lễ tôn phong bà nội.

[11] L. SOGNY, Les Familles Illustres de l’Annam, S.E. Nguyen Huu Do, BAVH, No.2, 1924. tr. 191

[12] Tiềm để, từ dùng để chỉ lúc chưa làm vua.

[13] Bảo Đại, Le Dragon d’Annam, Plon, Paris, tr.16

[14] Phan Thứ Lang, sđd, tr.12-27.  Nhà vợ không cung cấp đủ tiền bạc cho chàng rể tiêu xài.

[15] Trần Gia Phụng, bđd, tr.106-107

[16] Ngô Viết Trọng, Lãng đãng hồn xưa, Đặc san QHĐK 2006, tr.154-155

[17]BEFEO,  L’Intronisation du Prince Héritier et les funérailles de S.M. Khải Định, BEFEO, tập.XXVI, 1926, tr.456

[18] Hồ Đắc Hàm, Éphéméride Annamites, BAVH, No4, 1917, tr.311

[19] Lệ Vân, Một Hoàng Phi buồn, Tiếng Sông Hương, Dallas, 1997, tr.142

[20] Lệ Vân, bđd.

[21] Nguyễn Lý Tưởng, sđd. , tr. 394

[22] Trần Gia Phụng, bđd., tr.106

[23] Mời độc giả xem  (Vua Bảo Đại con ai?).

Nguồn bài đăng

Advertisements

One thought on “Vua Khải Định, hình ảnh và sự kiện

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s