
Hồ Bạch Thảo
Sau khi sứ bộ Nguyễn Văn Ðiển dự lễ phong ấn vào ngày 30 tháng chạp năm trước [23/1/1792]; bước sang năm mới Ất Hợi vào ngày mồng 5 tháng giêng [28/1/1792] được ban yến tại gác Tử Quang; rồi tiếp tục 2 lần sau, cùng sứ thần các nước dự yến tại điện Cao Sơn Thủy Trường:
“Ngày 13 tháng giêng năm Càn Long thứ 57 [5/2/1792]. Thiên tử ngự tại Cao Sơn Thủy Trường, ban cho Sứ thần….Triều Tiên, Lưu Cầu, An Nam…ẩm thực; đến ngày Ất Dậu thì bãi.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1394, trang 16 )
“Ngày 19 tháng giêng năm Càn Long thứ 57 [11/2/1792]
Thiên tử ngự tại Cao Sơn Thủy Trường, ban cho Sứ thần ……Lưu Cầu, An Nam, Miến Ðiện…ẩm thực.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1395, trang 2-3)
Nhân Vua Càn Long ban cho thơ ngự chế và bao sen đựng tượng ngọc; Vua Quang Trung bèn dâng biểu tạ ơn; Càn Long bèn dùng bút son phê lời khen trên tờ biểu và tặng thêm ngọc:
“Ngày 10 Kỷ Mão tháng 3 năm Càn Long thứ 57 [1/4/1792]. Lại dụ:
‘Trần Dụng Phu gửi biểu văn tạ ơn của Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình; Trẫm mở ra duyệt nội dung tờ biểu xưng rằng đã lần lượt được nhận lãnh các vật ban cho như thơ ngự chế đề trên quạt, bao sen lớn đựng tượng ngọc, nên dâng biểu cung kính tạ ơn; lời lẽ tấm lòng khẩn thiết, thoát ra từ lòng thành, đáng được khen thưởng. Ðã dùng bút son phê trong tờ biểu, rồi đem gửi trả lại; ngoài ra thưởng cho viên Quốc vương một kiện ngọc Noãn Thủ, một đạo chỉ dụ đưa tin. Tất cả đưa cho viên Tuần phủ, để viên này sau khi nhận được thì chọn Ủy viên rành việc mang đến trấn Nam Quan giao cho Trấn mục nước này, để chuyển cho Nguyễn Quang Bình nhận lãnh. Ðem dụ này truyền ra để hay biết.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1398, trang 15)
Vua Quang Trung gửi biểu văn xin định lại lệ cống. Sau khi tham khảo với Quân Cơ Đại thần và bộ Lễ; Vua Càn Long quyết định rút ngắn kỳ cống từ 3 năm xuống 2 năm, nhưng miễn phải nạp cống vàng và bạc:
“Ngày 4 tháng 5 năm Càn Long thứ 57 [22/6/1792]. Dụ: Quân Cơ Đại thần họp với bộ Lễ bàn kỹ về việc Quốc vương An Nam Nguyễn Quang Bình xin định lại cống kỳ cùng phương vật, rồi dâng tấu triệp xưng rằng:
‘Theo lệ cũ viên Quốc vương cống 3 năm một lần, nay định là 2 năm; Sứ thần 6 năm một lần đến triều yết, nay định là 4 năm. v.v..’
Chấp nhận y theo để thi hành.
‘Còn các phương vật tiến cống có hai loại vàng và bạc, bàn định xin chiếu theo lệ cũ.’
Hãy tùy địa phương mà bắt tiến cống, lại xem thổ sản có thích hợp hay không; huống hồ mới định cống kỳ của nước này so với trước ngắn hơn, đủ để chứng tỏ viên Quốc vương là thân cận, nên lệ cũ các thứ vàng, bạc nay không cần phải tiến cống. Ngoài ra nếu trầm hương không có đủ số, thì cũng không sao, lấy những vật mà nước này có sẵn như thổ hoàn (1), quyên (2) đều có thể tiến cống được; không cần định thành lệ. Gọi là không câu nệ vật, mà vì ý nghĩa của nó. Viên Quốc vương thể theo tấm lòng của Trẫm; thừa thụ ân mệnh, xứng với sự thưởng tuất ngoại lệ của Trẫm. (Cao Tông Thực Lục quyển 1404, trang 862)
Đây là thành công lớn về mặt ngoại giao, vì dưới thời Lê, An Nam phải triều cống vàng với một số lượng lớn. Toàn Thư chép như sau:“ Ngày 20 tháng 11 năm Thuận Thiên thứ tư [24/12/1431] vua sai Thẩm Hình Viện Phó sứ Nguyễn Văn Huyến và Ngự sử Trung Thừa Nguyễn Tông Chí đi theo bọn Chương Xưởng [sứ Tàu] sang nhà Minh tạ ơn và nộp 50 ngàn lạng vàng tuế cống, xin lệ cống 3 năm một lần thời Hồng Vũ. Từ đó về sau tiến cống thường xuyên không dứt.” (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, kỷ nhà Lê, quyển 10, trang 73b)
Vào cuối năm, An Nam lại cử sứ bộ Vũ Vĩnh Thành đến cống và dự lễ phong ấn cuối năm; cùng với sứ bộ các nước đến chiêm bái Vua Càn Long tại cửa Tây Uyển; bước sang năm mới được dự yến tiệc cùng ban thưởng tại điện Tử Quang:
“Ngày 24 tháng 12 năm Càn Long thứ 57 [4/2/1793]. Thiên tử ngự tại Doanh Ðài, bọn Sứ thần Triều Tiên 6 người, Chánh sứ Phác Tông Nhạc, Phó sứ Từ Long Phụ; Bồi thần An Nam Vũ Vĩnh Thành, Trần Ngọc Thị, 4 người; Sứ thần Tiêm La 4 người….., đến cửa Tây Uyển chiêm cận.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1419, trang 12-13)
“Ngày 8 tháng giêng năm Càn Long thứ 58 [18/2/1793].Thiên tử ngự tại gác Tử Quang, ban cho……các nước Hồi Bộ, Triều Tiên, An Nam, Tiêm La ….yến tiệc, ban thưởng có sai biệt.” ( Cao Tông Thực Lục quyển 1420, trang 12 )
Đại Nam Liệt Truyện ghi sự kiện vào năm Nhâm Tý [24/1/1792-10/2/1793], Vua Quang Trung sai làm tờ biểu đưa sang nhà Thanh xin cầu hôn, để dò ý Vua Càn Long, cùng mượn cớ gây việc đao binh, nhưng rồi bị đau nên thư không gửi đi. Thường nói rằng, để cho ta sống vài năm nữa, chứa uy thế, nuôi khí mạnh, thì ta có sợ chi kẻ kia.
Trong nội bộ, Vua Quang Trung lưu ý đến văn chương quốc âm, năm trước đặt Sùng Chính viện, giao cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp làm Viện trưởng; vào tháng 5 năm nay [19/6-18/7/1792] viện dịch xong bộ Tứ Thư (3), đóng thành 32 tập, gửi vào kinh. Vua rất vui lòng, bèn xuống chiếu khen và ban thưởng tiền; bản dịch chiếu thư sau (4):
“ Nguyên kỳ trước diễn dịch các sách tiểu học đã tiến nộp. Kỳ này , diễn dịch Tứ Thư đã xong. Cộng được 32 tập, trấn quan đã chuyển đệ về kinh tiến nộp; Trẫm đã từng xem. Tiên sinh giảng bàn, phụ diễn kể đã chăm chỉ. Những viên giúp việc là Nguyễn Công, Nguyễn Thiện, Phan Tố Định, Bùi Dương Lịch đều có công.
Vậy đặc ban thưởng cổ tiền 100 quan (5), do trấn quan chiếu theo mà cấp lĩnh để chung hưởng ân tứ.
Khi xong công việc bộn bề, Trẫm nghỉ ngơi, vui ý đọc sách. Tiên sinh học vấn uyên bác, nên vì Trẫm mà phát huy những ý thư, khiến cho bổ ích thêm.
Nay chiếu giao tiên sinh việc giải thích 3 kinh Thi, Thư, Dịch. Thể theo kinh văn và tập chú mà lấy từng chữ, từng câu, diễn ra quốc âm, cứu xét tinh tường, để đọc cho hay. Tiên sinh nên thúc dục những viên hàn lâm Nguyễn Công, Nguyễn Thiện, Phan Tố Định, Bùi Dương Lịch theo lệnh của bản viện mà làm việc. Và nói với quan bản trấn giao cho hai ba mươi tên văn thuộc tư lại, giúp việc biên lục cho viện, để cho tiện công việc.
Kinh Thi thì dịch gấp đi; dịch xong, soạn gửi trước để tiến nộp. Còn 2 kinh Thư, Dịch sẽ gửi theo sau. Cẩn thận chớ chậm trễ. Khâm tai! Đặc chiếu.
Quang Trung năm thứ 5, ngày mồng 1 tháng 6 [19/7/1792]
Các quan trong triều chuyển tờ chiếu đến; lại kèm theo tờ truyền nhắm khai triển ý tờ chiếu:
“Các quan triều đình kê việc này:
Kính truyền cho viên Viện trưởng Sùng Chính Viện La Sơn tiên sinh Nguyễn Khải Xuyên xét rõ:
Nguyên nay vâng chiếu bảo diễn dịch 3 kinh Thi, Thư, Dịch. Theo kinh văn cùng tập chú lấy từng chữ, từng câu, diễn ra nghĩa quốc âm để tiến nộp. Nên truyền bảo và thúc dục những viên hàn lâm Nguyễn Công, Nguyễn Thiện, Phan Tố Định, Bùi Dương Lịch theo lệnh mà làm việc.
Việc diễn dịch hẹn nội trong 3 tháng phải xong; nhưng phải dịch Kinh Thi cho xong trước, đóng lại tiến nộp. Còn Kinh Thư, Kinh Dịch theo hạn trên mà dần dần diễn dịch cho kịp gửi tiến.
Những nghĩa ấy là để ngự lãm. Việc rất quan trọng; phải dụng tâm mà tường cứu. Phàm một chữ, một nghĩa, phải gắng cho được mười phân thông rõ, để cho xứng với thượng chỉ; chớ có làm lảo thảo cho qua chuyện.
Kính truyền. Quang Trung năm thứ 5, mồng 4 tháng 6 [22/7/1792]
Việc mở đường cho văn Nôm đang tiến hành thì Vua Quang Trung đột ngột mất. Về ngày Vua mất, nhiều thuyết ghi khác nhau; các bộ chính sử Việt Trung, có bộ ghi vào tháng 7 [18/8-15/9/1792], có bộ ghi vào ngày 29 tháng 9 [13/11/1792].
Đại Nam Thực Lục, năm Nhâm Tý [1792] chép: “Tháng 7 [18/8-15/9/1792] giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ chết.” Các Giáo sĩ Âu Châu đương thời tại nước ta cũng đều ghi Vua Quang Trung mất vào khoảng tháng 7 Âm Lịch; như Guéard nói rằng: “Người ác chúa thứ nhất có hiệu là Vua mất vào tháng 9 Dương lịch [15/7-15/8 Â.L.], Labousse viết: “Người em là một địch thủ mạnh, khôn và đáng sợ. Nó chết vào đầu tháng 9 Dương lịch [15/7-15/8 Â.L.]” (6)
Khác biệt với nguồn tin trên, Đại Nam Liệt Truyện chép “ Ngày 29 tháng 9 [13/11/1792] Huệ chết, Huệ tiếm ngôi 4 năm, tuổi mới có 40.” (7)
Thanh Thực Lục cũng chép Vua Quang Trung mất vào ngày 29 tháng 9:
“Ngày 22 tháng Giêng năm Càn Long thứ 58 [3/4/1793]…Nhưng ngày hôm nay xem tờ tấu của Trần Dụng Phu, được biết Nguyễn Quang Bình bị bệnh, mất vào ngày 29 tháng 9 năm ngoái....” (Cao Tông Thực Lục quyển 1421 tờ 18- 19)
Lý giải sự khác biệt, phải xét đến việc Vua Quang Trung mất liên quan rất lớn đến thời cuộc lúc bấy giờ. Kẻ thù của Vua Quang Trung như Nguyễn Vương tại phương Nam, Vua Càn Long nhà Thanh, và ngay cả người anh bất hòa Nguyễn Nhạc tại Qui Nhơn, đều có thể lăm le thừa cơ lúc nhà Vua mất. Bởi vậy triều đình Quang Trung lấy làm lo, bèn cho giữ kín ngày mất vào tháng 7; chờ khi đám tang bí mật thu xếp êm xuôi, mới chính thức công bố ngày mất là 29 tháng 9 [13/11/1792]. Nguồn tin mất vào tháng 7 đáng tin cậy, do bởi dưới thời Gia Long bắt được rất nhiều tù binh, lấy lời khai, rồi ghi đúng sự thực trong Đại Nam Thực Lục; riêng các Giáo Sĩ Tây Phương đã thu thập được tin tức chính xác từ dân chúng.
Nhân Vua Quang Trung mất, tương truyền Bắc Cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân làm bài thơ Ai tư vãn [哀思挽] khóc nhà Vua. Ai Tư Vãn là tác phẩm bằng chữ Nôm, theo thể Song Thất Lục Bát, gồm 164 câu. Lời thơ chuyên chở đặm đà nỗi nhớ thương, tiếng kêu thống thiết của người vợ trẻ khóc chồng là đứng quân vương anh hùng. Xin sao lục nguyên văn như sau:
“Gió hiu hắt phòng tiêu (8) lạnh lẽo.
Trước thềm lan hoa héo ron ron!
Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non
Xe rồng thăm thẳm bóng loan rầu rầu!
5Nỗi lai lịch dễ hầu than thở,
Trách nhân duyên mờ lỡ cớ sao?
Sầu sầu, thảm thảm xiết bao.
Sầu đầy dạt bể, thảm cao ngất trời
Từ cờ thắm trỏ vời cõi Bắc.
10Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương.
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,
Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu qui.
Trăm ngàn dặm quản chi non nước,
Chữ “nghi gia”[nên gia đình êm ấm] mừng được phải duyên.
15Sang yêu muôn đợi ơn trên.
Rỡ ràng vẻ thuý, chối chen tiếng cầm.
Lượng che chở, vụng lầm nào kể,
Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời.
Dẫu rằng non nước biến dời,
20Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là!
Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội,
Khắp tôn thân cùng đội ơn sang.
Miếu đường còn dấu chưng thường,
Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh.
25Nhờ hồng phúc đôi cành hòe quế.
Đượm hơi dương, dây rễ đều tươi.
Non Nam lần chúc tuổi trời,
Dâng ca Thiên bảo, bày lời Hoa Phong.
Những ao ước trập trùng tuổi bạc,
30Nguyền trăm năm ngõ được vầy vui.
Nào hay sóng cạn bể vùi,
Lòng trời giáo giở, vận người biệt ly.
Từ nắng hạ mưa thu trái tiết,
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên.
35Xiết bao kinh sợ lo phiền!
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu.
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước,
Phương pháp nào đổi được cùng chăng?
Ngán thay máy tạo bất bằng,
40Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan!
Cuộc tụ tán, bi hoan kíp bấy?
Kể xum vầy đã mấy năm nay?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đã vậy, thần này nương đâu?
45Trằn trọc luống đêm thâu, ngày tối,
Biết cậy ai giập nỗi bi thương.
Trông mong luống những mơ màng,
Mơ hồ bằng mộng bàng hoàng như say.
Khi trận gió hoa bay thấp thoáng.
50Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu.
Vội vàng sửa áo lên chầu,
Thương ôi quạnh quẽ trước lầu nhện giăng!
Khi bóng trăng lá in lấp lánh.
Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi.
55Vội vàng dạo bước tới nơi.
Than ôi vắng vẻ, giữa trời sương sa.
Tưởng phong thái xót xa đòi đoạn.
Mặt rồng sao cách gián lâu nay.
Có ai chốn ấy về đây?
60Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành!
Nẻo u minh khéo chia đôi ngả.
Nghĩ đòi phen nồng nã đòi phen.
Kiếp này chưa trọn chữ duyên,
Ước xin kiếp khác vẹn nguyền lửa hương.
65Nghe trước có đấng vương Thang, Võ (9)
Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao.
Mà nay áo vải cờ đào
Giúp dân dựng nước biết bao công trình.
Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn (10),
70Công đức dầy, ngự vận càng lâu.
Mà nay lượng cả, ơn sâu,
Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần.
Công dường ấy, mà nhân dường ấy,
Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công?
75Rộng cho chuộc được tuổi rồng,
Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi.
Buồn thay nhẽ sương rơi, gió lọt!
Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa.
Tưởng lời di ngữ thiết tha,
80Khóc nào lên tiếng, thức mà cũng mê.
Buồn thay nhẽ xuân về, hoa ở!
Mối sầu riêng ai gỡ cho xong.
Quyết liều mong vẹn chữ tòng.
Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e.
85Còn trứng nước thương vì đôi chút,
Chữ tình thâm chưa thoát được đi.
Vậy nên nấn ná đòi khi,
Hình tuy còn ở, phách thì đã theo.
Theo buổi trước ngự đèo Bồng đảo,
90Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân.
Theo xa thôi lại theo gần.
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa.
Đương theo bỗng tiếng gà sực tỉnh.
Đau đớn thay ấy cảnh chiêm bao!
95Mơ màng thêm mỗi khát khao,
Ngọc Kinh chốn ấy ngày nào tới nơi ?
Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ,
Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai?
Xưa sao sớm hỏi, khuya bày,
100Nặng lòng vàng đá cạn lời tóc tơ.
Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ?
Tình cô đơn, ai kẻ xét đâu?
Xưa sao gang tấc gần chầu.
Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca.
105Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi,
Tin hàn huyên khôn hỏi thăm lênh!
Nửa cung gẫy phím cầm lành.
Nỗi con côi cút nỗi mình bơ vơ!
Nghĩ nông nỗi ngẩn ngơ đòi lúc,
110Tiếng tử qui [chim quốc] thêm giục lòng thương.
Não người thay cảnh tiên hương!
Dạ thường quanh quất mặt thường ngóng trông.
Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược,
Thấy mênh mông những nước cùng mây.
115Đông rồi thì lại trông tây:
Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà.
Trông nam thấy nhạn sa lác đác,
Trông bắc thời ngàn bạc màn sương!
Nọ trông trời đất bốn phương,
120Cõi tiên khơi thẳm, biết đường nào đi!
Cậy ai có phép gì tới đó,
Dâng vật thường xin ngỏ lòng trung;
Này gương là của Hán Cung.
Ơn trên xưa đã soi chung đòi ngày.
125Duyên hảo hợp xót rày nên lẽ!
Bụng ai hoài vội ghẽ vì đâu?
Xin đưa gương ấy về chầu,
Ngõ soi cho tỏ gót đầu trông ơn.
Tưởng linh sảng nhơn nhơn còn dấu.
130Nỗi sinh cơ có thấu cho không ?
Cung xanh đang tuổi ấu sung,
Di mưu sao nỡ quên lòng đoái thương ?
Gót lân chỉ [con Vua] mấy hàng lẫm chẫm,
Đầu mũ mao, mình tấm áo gai!
135U ơ ra trước hương đài,
Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào!
Trong sáu viện ố đào, ủ liễu,
Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê.
Long đong xa cách hương quê,
140Mong theo: lầm lối, mong về: tủi duyên!
Dưới bệ ngọc hàng uyên vò võ.
Cất chân tay thương khó xiết chi!
Hang sâu nghe tiếng thương bi,
Kẻ sơ còn thế, huống gì người thân.
145Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát
Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi!
Càng trông càng một xa vời
Tấc lòng thảm thiết, chín trời biết chăng?
Buồn trông trăng, trăng mờ thêm tủi.
150Gương Hằng Nga đã bụi màu trong.
Nhìn gương càng thẹn tấm lòng,
Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà.
Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn,
Cánh hải đường đã quyện giọt sương.
155Trông chim càng dễ đoạn trường,
Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi.
Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy,
Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu!
Phút giây bãi bể nương dâu,
160Cuộc đời là thế biết hầu này sao ?
Chữ tình nghĩa là trời cao, đất rộng,
Nỗi đoạn trường còn sống, còn đau.
Mấy lời tâm sự trước sau.
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.”
Tại miền Nam vào tháng giêng [24/1-21/2/1792] Nguyễn Vương quyết chí đánh Tây Sơn; bèn bảo các tướng rằng :
“Hiện nay thế giặc đương mạnh mà quân ta vừa mới tập họp, chưa có thể nắm ngay cái chết của quân địch. Nhưng thù nước một ngày chưa trả thì lòng ta còn lo một ngày. Nếu năm nay không đánh, sang năm không đánh, cứ để cho giặc được rỗi thì thế không phải là kế hay. Chi bằng dùng nhiều phương để lừa nó, đánh gấp để cho nó mệt. Hằng năm gặp mùa gió, thủy quân theo đường biển mà tiến, nhân chỗ hở mà đánh. Bộ binh đi từ Bình Thuận, Bình Khang [Ninh Hòa, Khánh Hòa], lần lượt tiến lấy được một châu thì xây thành ở một châu, được một huyện thì đóng đồn ở một huyện, để làm phên giậu cho Gia Định, khiến thế giặc chia ra, sức giặc yếu đi, như thế thì có thể lấy thiên hạ được”.
Từ năm ấy trở đi, hễ gặp mùa gió nồm là ra quân đánh giặc, gió thuận thì tiến, gió vãn thì về.
Xây thành Mỹ Tho, hình dáng như hoa mai, chu vi 499 trượng [4 mét . 499=1996 mét].
Tháng 3 [23/3-20/4/1792], nước Xiêm La đưa thư xin giúp quân đi theo miền thượng đạo đánh giặc Tây Sơn, và yêu cầu Vương đem đất Long Xuyên [Cà Mâu], Kiên Giang [Rạch Giá] cho cháu Mạc Cửu là Mạc Công Bính, và đem Ba Xắc [Sóc Trăng], cho Chân Lạp. Đáp lời, Vương tình nguyện đem quân thủy quân bộ đánh Quy Nhơn, đề nghị phía Xiêm đem trọng binh đánh Nghệ An. Riêng Mạc Công Bính còn nhỏ, chưa có thể đương việc quân, nên sai quan tạm giữ đó chứ không phải tiếc. Còn đất Ba Xắc không cho Chân Lạp là vì cớ phụ chính Chiêu Chủy Biện thường gây rối biên cương.
Tháng 5 [19/6-18/7/1792], truy lục các tướng sĩ trận vong, từ sau năm Quý Tỵ [1773], cho đến trước năm Bính Ngọ [1786], trong khoảng 13 năm, ai có thể nhớ được ai đánh trận nào, chết về việc gì; bất cứ người nào, không hạn thân quyến, bè bạn cố cựu, hãy báo thực ghi hết đưa lên bộ để cứu xét truy tặng, thờ ở đền Hiển Trung.
Tháng 6 [19/7-17/8/1792], gián điệp báo tin quân Tây Sơn đóng nhiều chiến thuyền để ở cửa biển Thị Nại [Qui Nhơn], mưu toan vào cướp. Vương muốn ra đánh trước để chặn giặc, Bèn sai Chưởng Tả quân dinh Tôn Thất Huy, Quản Hậu quân dinh Võ Tánh, Giám quân Trung quân Tống Phước Đạm lưu giữ kinh thành Gia Định. Chưởng Tiền quân dinh Tôn Thất Hội đi Vĩnh Trấn và Trấn Định kiêm quản tướng sĩ hai dinh, quản Hữu quân dinh là Nguyễn Huỳnh Đức đi Bà Rịa hiệp đồng với Tán lý Chiêu đóng giữ.
Thuyền Vương ra cửa biển Cần Giờ, gặp khi gió nam thổi mạnh, thuận chiều thẳng đến Diên áo [Khánh Hòa], bắt được du thuyền của giặc, biết tình hình Thị Nại không phòng bị, bèn bí mật sai Tiên phong dinh Nguyễn Văn Thành tiến trước, kế đến Ban trực tả Phạm Văn Nhân tiến thứ nhì, Giám quân Trung quân Nguyễn Văn Trương hộ giá, Đô đốc Nguyễn Kế Nhuận tiếp sau. Khi quân đến ngoài cửa biển Thị Nại, thì trước hết sai quân tinh nhuệ đổ bộ phóng lửa đốt thủy trại giặc. Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Văn Thành dùng thuyền Long và Phụng thẳng vào, Nguyễn Văn Chấn [Vannier] chỉ huy tàu Phương Phi, các quân tiến theo. Đô đốc Tây Sơn là Thành [không rõ họ] thấy đại quân chợt đến, bỏ chạy, thuyền ghe và khí giới bị quân ta bắt được hết; trong đó có 5 chiếc thuyền chiến lớn, 30 chiếc thuyền đi biển, 40 chiếc thuyền sai.Lại đánh dẹp bọn cướp biển Tề Ngôi, bắt được 3 chiếc thuyền.
Vương đóng ở chợ Thị Nại, dựng cờ chiêu an phủ dụ dân chúng, cấm quân sĩ không được cướp bóc. Rồi ra lệnh rút quân về. Chiến dịch này, từ lúc xuất quân đến lúc khải hoàn chỉ hơn 10 ngày.
Tháng 7 [18/8-15/9/1792], thuyền Vương về đậu ở Vũng Tàu, Phan Rang. Vì không thuận buồm xuôi gió, bèn sai người ra lệnh cho Nguyễn Huỳnh Đức và Tán lý Chiêu đem bộ binh đánh úp lấy Phố Hài [thị xã Phan Thiết, Bình Thuận], đợi thủy quân đến hội ở Thạch Cốc [Bình Thuận].
Tháng 8 [16/9-15/10/1792], Nguyễn Huỳnh Đức và Tán lý Chiêu tiến quân đánh lấy Phố Hài , quân Tây Sơn bỏ thành không rút đi. Hai tướng bàn muốn đuổi đánh lấy Phan Rí [Bình Thuận], bèn dâng biểu lên. Vương dụ rằng :
“Phép dùng binh cần phải lấy lương ở giặc. Nay từ Bình Thuận trở ra Bắc mùa mất dân đói, không lấy lương vào đâu, dù lấy được Phan Rí cũng không ích gì. Ta sẽ rút quân, bọn khanh cũng nên rút về Bà Rịa để tính sau”.
Vương về đến Gia Định, cho các quân nghỉ ngơi, rồi triệu Nguyễn Huỳnh Đức về.
Tháng 9 [16/10-13/11/1792], sai Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng và Nguyễn Văn Thụy sung chức Chánh, Phó sứ sang Xiêm báo tin thắng trận; áp giải bọn giặc biển Tề Ngôi [bọn cướp biển Trung Quốc] đã bắt được, đem sang.
Lấy phủ Ba Xắc [Sóc Trăng] cho nước Chân Lạp. Bọn quan nước này là Ốc Nha Vu Bông Sa, Ốc Nha Phì Miệt Bông Sa, Ốc Nha Liên Song Lam đệ thư của vua Xiêm đến xin đất Ba Xắc để cho bọn họ ở giữ, thu tô thuế để nộp cho vua họ là Nặc Ấn. Vương chấp thuận, cho Nặc Ấn một con ngựa đực; cho bọn Vu Bông Sa 2.000 phương [1 phương khoảng 30 lít] gạo, 200 quan tiền, những thóc sưu các đồn điền còn thiếu đều miễn cả.
Tháng 12 [12/1-10/2/1793], giặc biển Chà Và [Java, Indonesia] lén đến bãi biển Hà Tiên, sai Bảo hộ Nguyễn Văn Nhàn đem quân đánh dẹp; bọn giặc nghe tin liền trốn xa. Vừa lúc Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng và Nguyễn Văn Thụy đi sứ Xiêm về, gặp giặc ở Hòn Cau [Lang Dữ], đánh nhau với giặc, chém hơn 30 đầu, bắt sống hai tên, lấy được một chiếc thuyền đem về hiến. Vua khen. Thưởng cho bọn Thụy mỗi người một chiếc áo chiến và 200 quan tiền, sai đưa tù bắt được sang Xiêm.
Các sách người Chàm ở Phố Châm, Ba Phủ, thuộc trấn Thuận Thành [Ninh Thuận] xin quy phục. Sai cai cơ Nguyễn Văn Lợi và Nguyễn Văn Tánh cùng với Cai cơ Thuận Thành là Nguyễn Văn Chấn và Nguyễn Văn Hào đem phẩm vật đến cho. Tù trưởng là bọn Điều khiển Cường bèn đem bộ lạc đến Gia Định bái yết; Vương cho gươm, yên ủi rồi bảo về. Quản đạo Ba Phủ là Chưởng cơ Cố cũng từ đất Hoàng Băng về theo, sai chiêu phủ những người dân tộc thiểu số đầu hàng để chống Tây Sơn.
Chú thích:
1.Thổ hoàn: Lụa nõn.
2.Quyên: Lụa sống.
3.Tứ Thư: 4 sách căn bản Nho học, do học giả Chu Hy đời Tống chọn; gồm: Đại Học (大學 ), Trung Dung (中庸 ), Luận Ngữ (論語 ), Mạnh Tử (孟子)
4.La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 2 trang 1070.
5.Cổ tiền: Còn gọi là tiền quí, cứ 60 đồng là 1 tiền, 600 đồng là 1 quan. Ca dao có câu:
Một quan tiền quí mang đi,
Nàng mua những gì hãy tính cho ra v.v…
6.Theo La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 2 trang 1075.
7.Đại Nam Liệt Truyện tập 2, trang 596, bản dịch NXB Thuận Hóa: Huế, 2005.
8.Phòng tiêu: Ngày xưa phòng Hoàng hậu thường quét hồ tiêu cho ấm, nên gọi là tiêu phòng.
- Thang Võ: Thành Thang đánh hôn quân Kiệt, dựng nhà Thương; Vũ Vương đánh Trụ dựng nhà Chu.
10.Nghiêu Thuấn: Đường Nghiêu, Ngu Thuấn là hai Vua anh minh tại Trung Quốc thời xưa.