
Tôn Thất Thọ
Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện vào thời nhà Nguyễn. Tư liệu lịch sử nhiều nguồn đã ghi lại : Vua Gia Long (1802-1820) đã đề nghị nhà Thanh công nhận quốc hiệu Nam Việt, với lý lẽ rằng “Nam” có ý nghĩa “An Nam” còn “Việt” có ý nghĩa “Việt Thường”. Tuy nhiên tên Nam Việt trùng với quốc hiệu của quốc gia cổ Nam Việt thời nhà Triệu, gồm cả Quảng Đông và Quảng Tây của Trung Hoa. Do đó, vua nhà Thanh yêu cầu nhà Nguyễn đổi ngược lại thành Việt Nam để tránh nhầm lẫn. Tháng 3 năm 1804, vua Gia Long chính thức ban bố đổi quốc hiệu nước ta là Việt Nam .
Về việc đặt quốc hiệu Việt Nam, sách Đại Nam thực lục chép:
“Vua lại sai bọn Lê Quang Định sang xin phong và xin đổi quốc hiệu, trong thư nói: Các đời trước mở mang cõi viêm bang, mỗi ngày một rộng, bao gồm cả các nước Việt Thường, Chân Lạp, dựng quốc hiệu là Nam Việt, truyền nối hơn 200 năm. Nay đã quét sạch miền Nam, vỗ yên được toàn cõi Việt, nên khôi phục hiệu cũ để chính danh tốt”. Vua Thanh trước cho rằng chữ Nam Việt giống chữ Đông Tây Việt nên không muốn cho. Vua hai ba lần phúc thư để biện giải, lại nói nếu vua Thanh không cho thì không chịu phong, Vua Thanh sợ mất lòng nước ta, mới dung chữ Việt Nam để đặt tên nước…” (1).
Ngày 17 tháng 2 năm Giáp Tý (1804) quốc hiệu Việt nam chính thức được vua ban bố cho toàn dân tại Thái Miếu Đại nội Huế.
Qua phần dịch sách Thực lục của Viện sử học ở đoạn trích trên, ta có thể hiểu quốc hiệu Việt Nam do chính vua nhà Thanh chủ động đổi lại từ Nam Việt của vua Gia Long.
Đây là điều mà nội dung bài viết này phân tích, tìm hiểu thêm.
Sách “Nguyễn Triều Long hung sự tích” (hay còn được gọi là Thế tổ Cao Hoàng đế Long hưng sự tích) do một công thần của vua Gia Long và Minh Mạng ghi chép năm 1819 bằng chữ Hán, năm 1969 được Trung tâm Học liệu bộ Giáo Dục Sài Gòn xuất bản, sách do Bùi Đản dich thì vụ việc được ghi chép cho chúng ta thấy một cái nhìn khác hơn. Tác giả sách này là Tống Viết Đạm,; một công thần của vua Gia Long ghi chép, và sau đó Trần Văn Tuân, ông này làm quan suốt thời gian vua Gia Long và Minh Mạng tiếp tục biên thêm.Tiểu sử của ông Trần Văn Tuân được chép trong sách Thực lục như sau:
Tháng Giêng năm Nhâm Tuất (1802) được bổ Cai bạ Quảng Trị., tháng 7 năm Giáp tý (1804) bổ Ký lục Bình Đinh. Năm 1809 trở lại chức Cai bạ Quảng Nam. Tháng 12 năm Quý Dậu (1813) được thăng Hữu Tham tri bộ Lại. Năm Bính Tý (181) sung chức Tả hữu nội tán. Tháng 11 năm Đinh Sửu (1817) lãnh Hình tào thành Gia Định, nhận nhiệm vụ mộ thêm dân ngoại tịch làm bốn vệ Bảo Thành. Tháng 11 năm Mậu Dần (181) thay Nguyễn Văn Thoại lãnh việc bảo hộ Chân Lạp. Năm sau, 1819 lại về Gia Định lĩnh Hình tào
Dưới thời Minh Mạng (1820-1840) ông được bổ lĩnh Binh tào ở Gia Định. Năm Minh mệnh thứ 5 (1824) về hưu với chức Hàn Lâm viện thị độc, Tháng 7 năm đó (1824), ông bị kết tội trảm giam hậu. Lý do là sau thời gian làm bảo hộ Chân Lạp về lại Gia Định, ông thường nhận quà cáp của người Chân Lạp, ngoài ra ông có giao thiệp thư từ với vua Chân Lạp nên bị kết tội giao thiệp trái phép với nước ngoại.
Năm Mậu Tý 1828, ông được tha tội và điều ra Bắc để sai phái…
Với thời gian dài làm việc suốt thời gian trị vì của 2 vua Gia Long và Minh Mạng, những điều mà ông ghi chép dưới vua thời Gia Long rất đáng được quan tâm.
Đoạn cuối của tập sách ông viết:
“Tập tài liệu này nguyên từ năm Quý Sửu (tức năm 1793) trở về trước, thấy ở Trung doanh Giám quan Tống Viết Đạm đã biên chép. Từ năm Quý Sửu trở về sau. Tuân này tong chinh nên tất cả những gì mắt thấy tai nghe đều ghi chép kỹ và thu góp chép lại thành tập – Năm Gia Long thứ 18, tháng 12, ngày 25 – Trần Văn Tuân phụng biên. “
Như thế tập sách này do Tống Viết Đạm ( ? – 1794) một đại tướng của chúa Nguyễn Phúc Ánh ghi chép và Trần Văn Tuân đã tập hợp và biên chép thêm. Với nguồn gốc tác phẩm và tác giả như thế, ta có thể nhận định sự ghi chép của vị quan trên cụ thể hơn Đại Nam thực lục do Quốc sử quán soạn dưới thời Minh Mạng.
Về đoạn đặt quốc hiệu, tác giả viết ở trang 26B và được Bùi Đàn dịch như sau:
“Tháng 5 băn ấy (Nhâm Tuất 1802)
Công việc xếp đặt xong, tiếp ngay đến việc bàn định thiết lập ba sứ bộ giao thiệp với Thanh triều. Bộ nào có đặc vụ bộ ấy: Một bộ xin nạp sắc và ấn của Tàu phong cho Cảnh Thịnh từ trước.
Một bộ xin đổi quốc hiệu làm VIỆT NAM (hiệu cũ là AN_NAM)
Một bộ xin phong…”
Ở đoạn sau, ông chép:
“Về việc lập các sứ bộ giao thiệp với Thanh triều, trong đó có việc xin đổi quốc hiệu nhân vì họ Vương là quan tri phủ Thái Bìn, tỉnh Quảng Tây đã xoay xở trong việc trao đổi thư qua lại nhiều lần với ta bắt bẻ hai chữ NAM VIỆT, viện lẽ rằng: ĐÔNG VIỆT và TÂY VIỆT ngày xưa tức là Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay. Nếu đã cho tên tất phải cho đất. Đó là việt chưa được thỏa đáng, Cho nên sứ bộ chưa lên đường được.
Đức Thế tổ xuống nghị minh biện chữ Nam Việt đưa sang Tàu. Trong công văn ấy viện lẽ rằng: Từ xưa nước Nam vốn dĩ đã mang tên Việt Thường. Huống chi trong số triều thần Bắc quốc có Lý Giác Phong đã dung hai chữ Nam Việt trong bài cổ thi của ông. Bởi lý do đó, xin đổi quốc hiệu là VIỆT NAM.
Sau khi có lời minh biện đó, Vương Tri phủ Thái Bình mới đem việc này cụ bẩm lên dinh Tuần phủ Quảng Tây để chuyển tấu lên vua Thanh.
Gia Khánh đại hoàng đế châm chước định lại quốc hiệu của ta làm VIỆT NAM và chuẩn cho sứ bộ tiến kinh triều yết..” (2).
Trang đầu và trang 26B chép vua Gia Long định danh Quốc hiệu Việt Nam
Sách Nguyễn triều Long hưng sự tích (1969)
Qua nội dung những điều ghi trong Thực lục và Nguyễn triều long hung sự tích, ta thấy:
1- Năm Nhâm Tuất (1802), Gia Long cho lập đoàn sứ xin đổi quốc hiệu là Nam Việt thay cho An Nam có từ thời Quang Trung.
2- Theo thủ tục, văn thư gởi đến tri phủ ở Quảng Tây để chuyển đạt trước khi phái đoàn đi sứ đi sứ, nhưng viên này đã bắt bẻ hai chữ Nam Viêt nên chưa lên đường được ngay.
3- Gia Long gởi văn thư biện minh về hai chữ Nam Việt, và sau đó chính ông đã tự đổi lại là Việt Nam, đồng thời trong thư viết rằng: nếu không chấp thuận thì không nhận phong. Và do đó, vua Thanh phải “châm chước” để chấp thuận y như đề nghi mà Gia Long đã đề xuất.
Từ đó việc cho rằng vua Thanh đổi quốc hiệu từ Nam Việt sang Việt Nam là không chính xác, mà quốc hiệu này do chính Gia Long đã chủ động đặt ra ?
****
Tài liệu tham khảo:
(1) – Đại Nam Thực Lục T1, Quốc sử quán triều Nguyễn . Nxb Giáo Dục, 2007, tr. 580.
(2) Nguyễn Triều long hung sự tích, Trần Văn Tuân, Bùi Đản dịch, Bộ Giáo Dục- TTHL Sài Gòn xuất bản năm 1968, tr. 45-46.