
CHARLES ALLEN
Trần Quang Nghĩa dịch
Cả trái đất là mồ chôn những người nổi tiếng. Họ được tôn vinh không chỉ bằng những cột trụ và dòng chữ khắc trên đất nước họ, mà còn ở các quốc gia khác trên những đài tưởng niệm được khắc không phải trên đá mà trong trái tim và tâm trí con người.
– Thucydides, Lịch sử Chiến tranh Peloponnesian, 404 TCN

Đế chế Ashoka với các địa điểm các chỉ dụ đá và cột
Lời nói đầu
Vị vua không phiền não.
Vị hoàng đế được ghi trong kinh điển Bà-la-môn cổ đại là Ashoka Raja, “Vua Không Phiền não”, đã cai trị một Ấn Độ thống nhất khoảng 2250 năm trước. Trong khoảng bốn mươi năm, Ashoka đã thống nhất tiểu lục địa dưới một chính quyền, biến một giáo phái nhỏ thành một tôn giáo toàn cầu và đưa ra những khái niệm đạo đức mà sức tác động đến châu Á vẫn còn được cảm nhận cho đến ngày nay. Ashoka có thể được coi là người sáng lập Ấn Độ, là vị vua đầu tiên đưa Ấn Độ trở thành một quốc gia dân tộc thống nhất. Như thể điều đó chưa đủ, rất lâu trước Mahatma Gandhi, Hoàng đế Ashoka đã xiển dương chủ nghĩa bất bạo động và một khái niệm hoàn toàn mới mẻ về việc chinh phục lãnh thổ chỉ bằng sức mạnh đạo đức, và rất có thể ông là vị vua đầu tiên trong lịch sử thiết lập một nhà nước phúc lợi. Ashoka cũng là vị vua đầu tiên trong các triều đại cổ xưa của Ấn Độ có cách nói đặc biệt, dễ nhận biết – và không phải cách nói thông thường, bởi những gì ông phải nói là và vẫn luôn là độc nhất và tuyệt đối, như một tuyên bố về các nguyên tắc cai trị
Những lời lẽ ấy có thể được gọi một cách xác đáng là Bài ca Ashoka – hay được gọi một cách chính thống hơn là Chỉ dụ Đá hay Chỉ dụ Trụ cột Ashoka – đã được khắc bằng loại chữ viết đầu tiên của Ấn Độ, Ashoka Brahmi. Chúng được khắc trên hàng trăm bề mặt đá và trên hàng chục trụ đá mài nhẵn khắp tiểu lục địa Ấn Độ, để bài ca của ông có thể được nghe rõ ràng từ Kandahar đến cửa sông Irrawady, và từ Cormorin ở mũi Nam Ấn Độ đến dãy Himalaya. Từ vùng đất trung tâm này, cùng một thông điệp ấy lan tỏa như những gợn sóng khắp nơi cho đến khi được nghe thấy ở tận những góc xa nhất của châu Á.
Chỉ một số ít chỉ dụ quý giá còn đọc được này tồn tại qua bao thăng trầm của thời gian và bạo lực của con người: khoảng 7 tảng đá chỉ dụ, 11 trụ đá chỉ dụ, 19 địa điểm khiêm tốn khác mang những gì thường được gọi là Chỉ dụ Đá Nhỏ và có lẽ hàng chục dòng chữ khắc dưới nhiều hình thức khác nhau có thể được cho là của Ashoka. Cùng nhau, chúng tạo thành những ghi chép bằng văn bản sớm nhất còn sót lại về lịch sử cổ đại Ấn Độ. Tuy nhiên, điều đáng chú ý và sự thật ít người biết là những chỉ dụ ấy và vị hoàng đế biên soạn ra chúng đều đã bị lịch sử lãng quên trong hơn hai nghìn năm.
Lòng khoan dung tôn giáo mà Hoàng đế Ashoka kêu gọi trong Chỉ dụ Đá thứ bảy của ông (RE 7), trong đó ông nói về mong mỏi sao cho ‘tất cả các tôn giáo nên tồn tại ở khắp mọi nơi’, nằm ở trung tâm của tư duy mới mà các thầy tu của Ashoka thúc đẩy bên trong biên giới đế chế và các nhà truyền giáo của ông truyền bá ra ngoài. Nhưng ngay cả trong thời đại của ông, thông điệp này vẫn bị coi là mối đe dọa bởi những kẻ tin rằng họ và chỉ họ mới có thẩm quyền ra lệnh cho mọi người phải tuân theo những quy tắc tôn giáo nào.
Các nhà sử học và khảo cổ học người Anh làm việc tại Ấn Độ vào thế kỷ 19 đã nhanh chóng đổ lỗi cho các cuộc chinh phạt Hồi giáo là nguyên nhân gây ra sự suy tàn của Phật giáo ở đó. Trong bảy thế kỷ, những kẻ cuồng tín thực sự này đã gây ra thiệt hại khủng khiếp về mặt con người và văn hóa ở Ấn Độ nhân danh Hồi giáo, nhưng thực tế là Phật giáo ở Ấn Độ đã suy tàn từ lâu trước khi nhà chinh phạt Hồi giáo Mahmud xứ Ghazni lần đầu tiên vượt qua sông Indus vào năm 1008 CN. Ngay từ thế kỷ thứ chín, Phật giáo được thực hành bởi các tín đồ ở Ấn Độ đã trở nên quá bí truyền, quá tách biệt với cộng đồng rộng lớn đến mức không thể cạnh tranh với Ấn Độ giáo phổ biến được nhà cải cách thế kỷ thứ chín Adi Shankaracharya và các tín đồ của ông hồi sinh. Tuy nhiên, còn một lý do quan trọng không kém cho sự thất bại của Phật giáo ở Ấn Độ, một lý do mà ít người theo phong trào dân tộc chủ nghĩa Hindu giáo (cho rằng người Ấn Độ tốt duy nhất là người Ấn Độ theo đạo Hindu) sẵn sàng chấp nhận: sự bất khoan dung của Bà La Môn giáo, đôi khi cũng căm ghét dị giáo và người dị giáo gay gắt không kém những tín đồ Hồi giáo sau này trong các cuộc thánh chiến chống lại những người ngoại đạo
Phần lớn bằng chứng về sự áp bức của Bà La Môn giáo này đến từ các quốc gia láng giềng theo Phật giáo của Ấn Độ như Tây Tạng, Nepal, Miến Điện và Tích Lan. Tuy nhiên, cũng có những văn bản Bà La Môn giáo thể hiện sự thù địch không đội trời chung đối với Phật giáo và ghi lại sự đàn áp của họ dưới bàn tay của những nhà cai trị Ấn Độ giáo chính thống. Và còn có bằng chứng khảo cổ học.
Các chính trị gia đã kích động đám đông vào năm 1991 phá hủy đền thờ Hồi giáo của Babur ở Ayodhya với lý do nó được xây dựng trên pháo đài của vị thần chiến binh Hindu Rama có thể ngạc nhiên khi biết rằng một số ngôi đền Hindu nổi tiếng nhất ở Ấn Độ gần như chắc chắn có nguồn gốc ban đầu là những công trình Phật giáo, thường kết hợp các biểu tượng Phật giáo, dưới dạng hình ảnh các vị thần hoặc lingam. Bốn ví dụ khả dĩ được chọn chỉ vì chúng đến từ bốn góc của tiểu lục địa – đó là đền Badrinath ở cực bắc Garhwal Himal, đền Jagannath ở Puri trên bờ biển phía đông, đền Ayyappa ở Sabarimala ở Kerala và đền Vithalla ở Pandharpur ở phía Tây Maharashtra.

Chiến thắng của đạo Bà-la-môn (sư tử) so với Phật giáo (voi), được chụp vào năm 1890. Con sư tử khổng lồ là một trong cặp bảo vệ lối vào ngôi đền lớn của thần mặt trời Surya, một ví dụ tuyệt vời về kiến trúc Hindu ở Ấn Độ. (APAC, Thư viện Anh)
Tuy nhiên, bằng chứng nổi bật nhất về sự thù địch của Bà La Môn đối với Phật giáo xuất hiện dưới hình thức im lặng: đó là tình trạng lịch sử Phật giáo Ấn Độ, trải dài trên nhiều vùng rộng lớn của đất nước và kéo dài nhiều thế kỷ, đã bị cắt bỏ khỏi sử sách. Chính bởi hành động xóa bỏ đơn giản này – chủ nghĩa xét lại lịch sử của nhiều thế hệ học giả Bà La Môn sùng đạo và các nhà phả hệ học – đã khiến Bài ca Ashoka phải câm lặng, và bản thân Hoàng đế Ashoka gần như bị xóa khỏi lịch sử Ấn Độ.
Trong lời kêu gọi khoan dung tôn giáo, mong muốn rằng tất cả mọi người đều được sống trong hòa bình, Bài ca Ashoka đã nói với tất cả mọi người rằng chúng sinh nên sống hòa thuận và không bạo lực. Nhưng bằng cách truyền bá Phật giáo mà giới Bà La Môn coi là dị giáo trên khắp đất nước, Ashoka đã trực tiếp thách thức quyền lực dựa trên đẳng cấp của giới Bà La Môn. Ngài và tín ngưỡng của ngài không thể được dung thứ.
Sự bất khoan dung tôn giáo không có biên giới. Khi Hoàng đế Mughal Shah Jehan phá hủy các đền thờ Hindu ở Benares, những tín đồ Thanh giáo ở Anh đang bận rộn đập vỡ kính màu thời Trung cổ và phá hủy các tượng thánh trong các nhà thờ Thiên chúa giáo trên khắp đất nước. Những nhà sử học phủ nhận hoặc che giấu những sự thật khó chịu như vậy chẳng giúp ích gì cho chúng ta. Đây chính là một phần lý do khiến chúng tôi viết cuốn sách này về một bài hát của vị hoàng đế bị lãng quên từ lâu.
Nhưng cũng có những lý do khác vui hơn, một trong số đó là phương tiện mà lịch sử tiền Hồi giáo đã mất của Ấn Độ đã được tái khám phá trong cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Đây là một câu chuyện đáng kinh ngạc về công việc điều tra tỉ mỉ được khởi xướng bởi các nhà Đông phương học châu Âu, một giới học giả bị cố Giáo sư Edward Said và những người theo ông bôi nhọ. Tuy nhiên, bất kỳ ai coi trọng sự tiến bộ của học thuật đều có lý do để biết ơn những nhà Đông phương học hay nhà sưu tập đồ cổ hay nhà Ấn Độ học tiên phong này – bạn có thể gọi họ là gì cũng được. Khi kể lại quá trình tìm lại Ashoka và thế giới của ngài, tôi hy vọng rằng ngay cả những người theo chủ nghĩa dân tộc Ấn Độ nhiệt thành nhất cũng sẽ chấp nhận rằng những học giả nước ngoài đam mê này đã đóng một vai trò tiến bộ trong sự hình thành của Ấn Độ hiện đại, mặc dù một số người họ là một bộ phận bóc lột thuộc địa Ấn Độ.
Quá trình tái khám phá này lần đầu tiên được nhà sử học John Keay phác họa vào năm 1981 trong cuốn sách bị đánh giá thấp của ông, “India Discovered (Khám phá Ấn Độ)“. Bản thân tôi đã khám phá một số khía cạnh chi tiết hơn trong cuốn “The Buddha and the Sahibs (Đức Phật và các Sahib)” và “The Buddha and Dr Führer (Đức Phật và Tiến sĩ Fuhrer)”. Ở đây, tôi đã tiến xa hơn bằng cách từng bước tái khám phá lịch sử thời Ashoka đã mất của Ấn Độ bằng sự kết hợp giữa khảo cổ học và học thuật chuyên sâu.
Tuy nhiên, việc khám phá lại này sẽ không có ý nghĩa gì nếu không xem xét Ấn Độ cổ đại – và Ashoka cùng với nó – đã bị đánh mất khỏi thế giới bên ngoài như thế nào; một quá trình được minh chứng bằng sự hủy diệt đại học Phật giáo lừng danh Nalanda vào năm 1193–4.
Một bản tóm tắt ngắn gọn về cuộc viếng thăm khủng khiếp đó đã cung cấp chương mở đầu cho cuốn sách này. Rất nhiều sử gia Hồi giáo đã có mặt để ghi chép lại những sự kiện này và các sự kiện sau đó, nhưng họ, ngoại trừ hai trường hợp đáng chú ý, đã bịt mắt trước bất kỳ sự kiện lịch sử nào không dính líu đến sự phát triển Hồi giáo. Sự bỏ quên của Bà La Môn giáo giờ đây trở nên tồi tệ hơn bởi tính cố chấp của Hồi giáo. Mối liên hệ với quá khứ của Ấn Độ đã bị phá vỡ.
Lịch sử tiền Hồi giáo của nó gần như bị lãng quên. Chỉ đến phần tư cuối cùng của thế kỷ XVIII, quá trình phục hồi mới có thể bắt đầu, nhờ một tinh thần tìm tòi mới bắt nguồn từ châu Âu, thể hiện rõ nét ở Ấn Độ trong phong trào Đông phương học.
Đến lúc này, độc giả hẳn đã nhận ra rằng đây không phải là một cuốn tiểu sử đơn giản. Thế hệ đầu tiên các nhà Đông phương học ở Ấn Độ – “bọn da trắng vô dụng trong bộ tóc giả” bị Edward Said khinh miệt – rất ít người, không biết mình đang tìm kiếm điều gì và có rất ít công cụ ngoài lòng nhiệt thành và động lực của lý trí. Nhưng có những manh mối, rải rác như những mảnh ghép hình trên khắp đất nước Ấn Độ, và chính bằng cách tìm ra những manh mối này, nhận ra chúng và sau đó tỉ mỉ ghép chúng lại với nhau, với nhiều lần khởi đầu sai lầm và rơi vào ngõ cụt, những con người nhiệt huyết này đã kiến tạo nên lịch sử tiền Hồi giáo của Ấn Độ. Quá trình tái hợp này kéo dài hơn hai thế kỷ, và kết thúc với nhân thân của Hoàng đế Ashoka còn chưa hoàn chỉnh, nhưng cũng đủ để chúng ta hiểu ngài là ai, ngài như thế nào và ngài là một nhân vật quan trọng đến mức nào trong việc định hình châu Á.
Quá trình này có thể đã được người châu Âu khởi xướng nhưng nó không hề đơn phương. Gần đây tôi đã được hân hạnh ngồi dưới chân Hòa thượng Waskaduwe Mahindawansa Maha Nayako, vị trưởng lão và trụ trì của tu viện Phật giáo Rajaguru Sri Subuthi Maha Vihara, nằm bên bờ biển trên con đường giữa Colombo và Galle ở Sri Lanka. Tại đây, tôi được xem một số thư từ trao đổi rộng rãi giữa vị tiền nhiệm của Hòa thượng Waskaduwe, học giả Pali tiếng tăm Đại đức Subuthi và ba thế hệ các nhà Đông phương học người Anh, bắt đầu bằng những lá thư do Tổng giám đốc mới được bổ nhiệm của Cục Khảo sát Khảo cổ học Ấn Độ, Tướng Sir Alexander Cunningham, viết từ địa điểm khai quật Bharhut năm 1861, tiếp tục bằng những lá thư từ học giả Pali Robert Childers, một công chức Ceylon chuyển sang làm học giả từ những năm 1870 đến những năm 1890, và kết thúc bằng những lá thư từ công chức Ấn Độ và nhà sử học tương lai Vincent Smith, được gửi từ Bihar vào năm 1898.
Để tái hiện quá trình tái tạo này, tôi đã cố gắng bám sát bối cảnh, sao cho ở mỗi giai đoạn, người đọc chỉ biết nhiều hơn các nhà bác học thời đó một chút. Tương tự, tôi đã cố gắng làm cho các hình minh họa của mình mang tính đồng thời nhất có thể, và tôi không hề ái ngại về chất lượng của một số bức ảnh ban đầu.
Việc che bớt thông tin này có thể khiến bạn bối rối và thậm chí đôi khi thất vọng, nhưng tôi hy vọng nó sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quá trình khám phá Ashoka, từng manh mối một.
Sau khi hoàn tất quá trình phục hồi, tôi đã dành chương cuối cùng để kể về nhân vật này và triều đại của ngài: một tiểu sử ngắn gọn dựa trên một ít bằng chứng xác thực mà chúng ta có cùng với một mức độ suy đoán hợp lý.
Tôi đã tránh sử dụng từ ngữ học thuật trong chính tả của mình: ví dụ, Ashoka thay vì Aoka, raja thay vì rja, chakra thay vì cakra, vân vân. Tôi cũng đã ưu tiên tiếng Phạn hơn tiếng Pali trong văn bản của tôi, do đó, Dharma thay vì Dhamma.
Các văn bản cổ được tham khảo và trích dẫn bao gồm ba ngôn ngữ có liên quan với nhau – Prakrit, Sanskrit và Pali – và hai bảng chữ cái chính – Brahmi lipi và Kharosthi.
Cuối cùng, tôi xin lưu ý về việc sử dụng hai từ: Brahman và Dharma. Brahmin (thầy Bà-la-môn) (tiếng Anh hóa của từ Brahmana trong tiếng Phạn) là một thành viên của đẳng cấp tư tế, đẳng cấp cao nhất trong bốn đẳng cấp cấu thành nên xã hội Hindu (Ấn giáo). Tôn giáo mà đẳng cấp tư tế này cai quản vào thời Ashoka rất khác so với Ấn Độ giáo phổ biến mà chúng ta biết ngày nay, cũng như thẩm quyền của cùng đẳng cấp đó. Tôi đã phân biệt giữa Bà-la-môn giáo thời đó và Ấn Độ giáo ngày nay bằng cách gọi đẳng cấp tư tế lúc bấy giờ là Brahmin (thầy Bà-la-môn) và con cháu của họ ngày nay là Brahman (người Bà-la-môn).
Từ Dharma gắn liền chặt chẽ với tên tuổi của Ashoka và Phật giáo, nhưng nó có nguồn gốc từ động từ dhr, tức là “nắm giữ” trong ngôn ngữ Ấn-Âu nguyên thủy, được dùng để mô tả quy luật vũ trụ làm nền tảng cho vũ trụ. Người theo Ấn Độ giáo, Phật giáo, Kỳ Na giáo và Sikh giáo đều dùng từ này để mô tả, ở một mức độ nào đó, việc thực hành đúng đắn tôn giáo của một người, và ở một mức độ cao hơn, thực tại tối thượng. Trong Ấn Độ giáo, thuật ngữ này được mở rộng để bao gồm một phạm vi rộng lớn các ý tưởng, từ việc thực hiện đúng các nghi lễ tôn giáo và áp dụng các quy tắc đẳng cấp đến hành vi đạo đức và việc vận dụng luật dân sự và hình sự.
Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, các Phật tử đã gán cho từ này một ý nghĩa mới và cụ thể hơn. Trong tiếng Prakrit được nói vào thời kỳ này, hình thức được sử dụng là Dhammo, tiếng Pali là Dhamma, tiếng Phạn là Dharma. Trong bối cảnh Phật giáo, nó mang nghĩa Pháp, là chân lý tối hậu được chứa đựng trong giáo lý do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng. Hoàng đế Ashoka, người sau này được biết đến rộng rãi trong thế giới Phật giáo với tên gọi Ashokadharma (tiếng Phạn) hoặc Asokodhamma (tiếng Pali), đã sử dụng từ này nhiều lần trong các Chỉ dụ Trụ đá và Chỉ dụ Đá của mình. Trên một Chỉ dụ song ngữ được tìm thấy năm 1958, tại Kandahar, từ này xuất hiện trong tiếng Hy Lạp là ευσέβεια (eusebeia), thường được dịch là “lòng sùng đạo”. Các học giả vẫn tiếp tục tranh cãi về ý nghĩa chính xác của từ này, nhưng các chi tiết trong Chỉ dụ Đá và Trụ đá của ngài cho thấy Ashoka muốn giáo lý của mình mang tính bao trùm, rằng nó đại diện cho “một nền đạo đức công dân được xây dựng trên nền tảng tôn giáo cho tất cả công dân của đế chế Maurya, cũng như một tôn giáo cụ thể thường được xác định là Phật pháp”.
Những nhà Đông phương học, những người đóng góp phần lớn vào câu chuyện này, chưa bao giờ nhất trí về khái niệm của Dharma (Pháp). Họ bắt đầu bằng cách dịch từ này thành “Tôn giáo”, và sau đó có xu hướng gắn bó với “Luật”. Tuy vẫn còn thiếu sót, nhưng để dễ đọc, tôi thường gọi nó là Luật Đạo đức.
Charles Allen, Somerset, tháng 8 năm 2011
1 Sự phá hủy thần tượng

Một phần tàn tích của Mahavihara, hay ‘Đại Tu viện’, của Nalanda, trong nhiều thế kỷ là ngọn hải đăng của học thuật ở Nam Á. Bức ảnh chụp những tàn tích mới được phát hiện một phần của Đền Baladitya ngay sau khi cuộc khai quật đầu tiên bắt đầu, ảnh chụp bởi nhà khảo cổ học Joseph Beglar vào năm 1872. (APAC, Thư viện Anh)
Vào đầu chiến dịch mùa đông năm 1193-1194, hai trăm kỵ binh vũ trang đã vượt sông Hằng tại Varanasi để tìm kiếm chiến lợi phẩm. Phần lớn họ là nô lệ người Khilji, bao gồm cả vị lãnh chúa chiến tranh đã lãnh đạo họ và chia sẻ bánh mì và chiến lợi phẩm với họ. Tên ông là Muhammad Bakhtiyar, ‘hung hăng, tháo vát, táo bạo, lanh lợi và lão luyện’, là chỉ huy quân sự gan lì nhất phục vụ cho Qutb-ud-din Aybak – người vốn là nô lệ, chủ nhân của y là Quốc vương Muhammad xứ Ghor, được đồng bào tôn vinh là Jahanzos, ‘Kẻ đốt cháy thế giới’.
Mười hai năm trước, vị Sultan đốt cháy thế giới đã chiếm được thành phố La-Hore, nơi này trở thành bàn đạp cho cuộc tiến công tiếp theo của ông vào Ấn Độ. Những bước tiến tiếp theo của quân đội ông dưới sự chỉ huy của Qutb-ud-din Aybak đã được các sử gia của quốc vương ghi chép chi tiết, trong số đó có Sadruddin Muhammad Hasan Nizami người Ba Tư:
Ông đã dùng thanh kiếm của mình để thanh tẩy vùng đất Hind khỏi sự ô uế của sự vô đạo và sự ô uế của việc thờ ngẫu tượng, và không để lại một ngôi đền nào.
… Khi ông đến Mirat [Meerut], tất cả các đền thờ thần tượng đều được chuyển đổi thành thánh đường Hồi giáo. Sau đó, ông hành quân và đóng trại dưới pháo đài Delhi. Thành phố và vùng phụ cận được giải phóng khỏi thần tượng và việc thờ cúng thần tượng, và trong các thánh địa, các thánh đường Hồi giáo được dựng lên bởi những người thờ phụng một Thượng đế duy nhất. Quân đội hoàng gia tiến về Benares, trung tâm của đất nước Hind, và tại đây họ đã phá hủy gần một ngàn ngôi đền. Các ngôi đền được chuyển đổi thành thánh đường Hồi giáo và nơi cư trú của lòng tốt, và tiếng cầu nguyện của người đếm hạt và giọng nói của người triệu tập cầu nguyện vang lên tận trời cao, và ngay cái tên của đạo thờ ngẫu tượng đã bị tiêu diệt.
Vào thời điểm này, khi đồng bằng thượng nguồn sông Hằng đã vào tay Hồi giáo, Muhammad Bakhtiyar đã được phép tiến lên cùng với nhóm nhỏ mujahideen (chiến binh Hồi giáo) của mình. Được tôi luyện qua nhiều năm tháng trận mạc, được truyền cảm hứng bởi niềm tin rằng họ đang dấn thân vào cuộc thánh chiến, ông ta và họ không hề nghĩ đến nỗi gian truân của bản thân. Chúng ta có thể tưởng tượng họ đang thúc ngựa phi nước kiệu, quyết tâm chạy 160 dặm đến đích nhanh nhất có thể. Họ chẳng mang theo gì ngoài kiếm, giáo và khiên, tin rằng sẽ được Chúa phù hộ.
Mục tiêu trước mắt của họ là Bihar, vừa là tên của vùng đồng bằng mà họ đã cưỡi ngựa qua vừa là thủ phủ của vị vua cuối cùng của triều đại Pala. Những kỵ sĩ có lẽ không biết rằng chính cái tên Bihar bắt nguồn từ vô số vihara Phật giáo, hay trung tâm tu viện, nằm rải rác khắp vùng nông thôn. Họ thậm chí có thể không biết rằng cách pháo đài Bihar một giờ cưỡi ngựa về phía tây là một cứ điểm quyền lực thứ hai; một nơi không có thành lũy hay quân đồn trú nhưng lại mang đến một thách thức trực tiếp với niềm tin của họ vào sự duy nhất của Chúa. Đây là Mahavihara, hay ‘Đại Tu viện’, của Nalanda, được biết đến trên khắp thế giới Phật giáo với tên gọi là Dharmaganja, hay ‘Pháp Bảo’.
Trong nhiều thế kỷ, Nalanda là trung tâm học thuật quan trọng nhất châu Á. Nơi đây chứa đựng kho tàng kiến thức Phật giáo đồ sộ nhất thế giới, được lưu giữ trong ba thư viện nhiều tầng: Ratnasagara, hay ‘Biển Châu báu’; Ratnadadhi, hay ‘Đại dương Châu báu’; và Ratnaranjaka, hay ‘Châu báu của Hỉ lạc’. Nhiều thế hệ học giả uyên bác nhất của thế giới Phật giáo đã đến đây để nghiên cứu và giảng dạy các kinh điển thiêng liêng của Phật giáo.
Thời kỳ hoàng kim của Nalanda đã qua từ lâu nhưng thư viện lớn này vẫn thu hút sinh viên từ hàng chục quốc gia, không ai trong số họ không biết rằng một thế lực quân sự mới và đáng sợ đang giáng xuống đồng bằng Ấn Độ từ phía bắc, đã đánh tan tác mọi đội quân được phái đến chống lại nó và thậm chí bây giờ đang tiến xuống sông Hằng, nghiền nát tất cả những gì đứng trước nó.
Tính bất ngờ và khủng bố là hai trụ cột song song tạo nên thắng lợi của Muhammad Bakhtiyar với tư cách là một chỉ huy quân sự. Ông chiếm được pháo đài Bihar trước khi hầu hết lực lượng đồn trú biết rằng mình đang bị tấn công. Sau đó, ông chuyển sự chú ý sang Nalanda – nhưng chỉ sau khi sai sứ giả đến tra hỏi xem thư viện có chứa một bản Kinh Qur’an nào hay không. Khi biết là không có, ông ra lệnh hủy diệt Đại Tu viện và tất cả những gì chứa trong đó.
Những gì sau đây được ghi chép lại bởi Minhaj-uddin, một thẩm phán xứ Ghor, người đã đi cùng đội quân xâm lược của Muhammad xứ Ghor vào Ấn Độ:
Phần lớn cư dân ở nơi đó là thầy Bà La Môn… và tất cả đều bị giết. Có rất nhiều sách ở đó; và khi tất cả những cuốn sách này được người Hồi giáo giám sát, họ đã triệu tập một số người theo đạo Hindu để cung cấp thông tin về nội dung các sách này; nhưng toàn bộ người Hindu đã bị giết sạch. . . Khi chiến thắng đã hoàn tất, Muhammad-i-Bakhtyar đã trở về với nhiều của cải chiếm được, và đến yết kiến vị Sultan Kutb-ud-Din Ibak, và nhận được lời khen thưởng và ban tặng.
Nhưng Minhaj-ud-din đã sai lầm khi nghĩ rằng cư dân Nalanda là người Hindu. Dĩ nhiên, họ là các nhà sư Phật giáo, trong đó có nhiều người Ấn thuộc đẳng cấp Bà-la-môn. Minhaj-ud-din cũng không buồn nhắc đến việc những kẻ đột kích đã đốt cháy toàn bộ khu vực rộng hàng mẫu Anh, hay việc đốt thư viện đã mất nhiều tháng trời, trong thời gian đó ‘khói từ các bản thảo đang cháy lơ lửng trong nhiều ngày như một tấm màn đen bao phủ những ngọn đồi thấp’.
Vào thời điểm đó, có ba trung tâm học thuật Phật giáo lớn ở Bihar và hai trung tâm khác ở Bengal. Nalanda là nơi đầu tiên bị thiêu rụi, tiếp theo là tu viện Odantapuri gần đó, rồi đến địa điểm lớn hơn ở Vikramashila, trên bờ bắc sông Hằng.
Một thập kỷ sau Muhammad Bakhtiyar hoàn thành công việc mà ông đã khởi đầu ở Bihar bằng việc phát động một cuộc tấn công sấm sét nữa vào kinh đô của các vua Sena xứ Bengal tại Nuddia. Cũng tại đây, ông đã dùng lửa và kiếm tấn công hai Đại tự viện Phật giáo còn sót lại cuối cùng là Somapura và Jagadalala bên bờ hạ lưu sông Hằng, và vào tất cả các tu viện nhỏ hơn mà ông tìm thấy.
Muhammad Bakhtiyar sau đó bị ám sát khi đang ngủ, nhưng ông vẫn sống để chứng kiến người Hồi giáo thống trị trên khắp Bihar và Bengal. Sự tàn phá mà ông gieo rắc ở Nalanda và các thư viện Phật giáo lớn khác có nét tương đồng bề ngoài với vụ đốt cháy thư viện hoàng gia vĩ đại ở Alexandria – nhưng có một điểm khác biệt quan trọng ở chỗ những gì bị mất ở Alexandria diễn ra theo từng giai đoạn trong nhiều thế kỷ. Còn những gì Muhammad Bakhtiyar đã làm ở Nalanda và các Đại Tu viện khác ở Bihar và Bengal là một lần và mãi mãi. Đối với Phật giáo ở miền Bắc Ấn Độ đây chính là đòn chí mạng và hậu quả của nó thật thảm khốc: gần như xóa sổ từng trang sử ngàn năm của Phật giáo trên tiểu lục địa này. Vì vậy, quá khứ Phật giáo của Ấn Độ gần như bị mất hẳn và nhanh chóng bị lãng quên.