Đỗ Ngọc Giao
6-Feb-2026
3. Chuyện người Sĩ Tiếp: khi sử gia thiếu ‘critical thinking’
Thuật ngữ ‘critical thinking’ đã có trong tiếng Anh từ đầu thế kỷ 19, ngày nay đại khái nghĩa là ‘suy xét điều gì nên tin, điều gì nên làm’ (reasonable, reflective thinking that is focused on deciding what to believe or do).[1] Nói nghe dễ nhưng ‘critical thinking’ gồm một số kỹ năng (skill) như sau:
- kiểm rồi mới xét (suspending judgment to check the validity of a proposition or action),
- nhìn từ nhiều phía (taking into consideration multiple perspectives),
- nghĩ trước hậu quả (examining implications and consequences of a belief or action),
- dùng lý và chứng (using reason and evidence to resolve disagreements),
- đổi mới quan điểm (re-evaluating a point of view in light of new information).[2]
Ai cũng cần ‘critical thinking’ trong đời sống hàng ngày. Thí dụ ta đang lái xe tới chỗ hẹn gấp, mà thấy ‘phone’ báo có tin nhắn, thì ta làm sao? Đưa mắt coi tin nhắn, ta sẽ bị mối nguy là tông vô xe khác. Bỏ qua tin nhắn mà cứ lái xe, ta sẽ bị mối nguy là lỡ một việc hệ trọng. Kiếm chỗ đậu xe để coi tin nhắn, ta sẽ bị mối nguy là trễ hẹn. Lúc đó, thói quen ‘critical thinking’ sẽ giúp ta quyết định nên làm gì.[3]
Đàng khác, nếu là người-chép-sử, thì ta còn cần ‘critical thinking’ hơn nữa. Hockett (1875–1960), học giả người Mỹ, mô tả công việc của sử gia như sau.
Sử gia cần nhận ra sự kiện (fact) để kết luận (conclusion), diễn giải (interpretation), khái quát (generalization). Kết luận, diễn giải, khái quát, cũng đều là sự kiện, ở mức cao hơn, để cho sử có ý nghĩa (meaning) và giá trị (value). Còn ‘statement’, tức là lời ai đó kể lại một biến cố nào đó, thì cũng có thể là sự kiện nhưng không phải đương nhiên như vậy, bởi nhiều lý do:
- chưa chắc họ đã chứng kiến biến cố đó;
- họ cố tình dối trá không chừng;
- họ ‘tô màu’ cho lời kể của mình, một cách ‘vô thức’, theo sở thích (interest), tình cảm (sympathy), thiên kiến (prejudice);
- họ thiếu hiểu biết hoặc khả năng để có thể thấy trúng và kể trúng.
Sử gia lọc ra sự kiện từ ‘statement’, cho nên, để tránh sai lầm (error), sử gia phải nghi ngờ mọi cái ‘statement’ khi chưa kiểm tra để coi cái nào trật, cái nào đáng ngờ, cái nào trúng, cái nào có thể trúng.[4]
Kiểm rồi mới xét: đó là một kỹ năng ‘critical thinking’.
Bởi vậy, người-dạy-sử chẳng nên dạy sử như là những mẩu chuyện suông, mà nên nêu rõ cái phần chánh của sử là kiểm tra những mẩu chuyện đó và cái critical thinking bên dưới việc kiểm tra.[5]
Sử gia ta ngày xưa có ‘critical thinking’ hay chăng?
Ngô Sĩ Liên, thế kỷ 15, tác giả Sử ký toàn thơ, mà một phần của tài liệu này vẫn còn trong Đại Việt sử ký toàn thơ,[6] từng nói như vầy:
‘Phàm vật hình vuông thì đứng, hình tròn thì đi, chuông có thể đi được là vì hình tròn. Có lẽ là kéo nó đi, không nhọc đến sức người, như có thần giúp vậy. Nay ta hãy xem như cây gỗ lớn mười mấy người khiêng không nổi, một người đẩy ngang thì nó lăn tròn mà đi. Chuông cũng thế, sư chùa muốn làm cho đạo mình có vẻ thần diệu, mới nói phao lên như thế để đánh lừa mà thôi. Những chuyện như dấu vết người thần, ánh sáng xá lỵ, cây ưu đàm nở hoa, tượng Phật cổ nổi lên, đều do bọn các nhà sư ra cả. Người cầm bút chép sử đương thời không xét lý lẽ, cứ theo thế mà chép vào sử sách.’
Đó chính là ‘critical thinking’.
Còn sử gia ta ngày nay thì sao?
Tam quốc chí 三國志 quyển 49, Ngô thơ 4, chép truyện Sĩ Tiếp 士燮 (137–226), thái thú Giao Chỉ thời trào Hán.[7]
Truyện này đưa qua sử ta thì Giao Chỉ trở thành ‘nước ta’ và Ngô Sĩ Liên có lời bàn như vầy:
‘Nước ta … làm một nước văn hiến là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy … há chẳng lớn sao … Tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn … hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đắp lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ gọi là Tiên Sĩ Vương…’
Ở trên ta đọc được hai ý chánh:
- Sĩ Tiếp cai trị ‘nước ta’ và chết ở ‘nước ta’,
- Sĩ Tiếp có công truyền bá Nho giáo qua ‘nước ta’.
Tới nay sử gia ta vẫn lặp đi lặp lại hai ý đó, chẳng bao giờ dám nghi ngờ và kiểm tra.
Chẳng dám nghi ngờ kiểm tra: đó là thiếu kỹ năng ‘critical thinking’.
Dưới đây ta kiểm tra hai ý kia.
3.1 Sĩ Tiếp chết ở ‘nước ta’?
Trước hết, hãy tạm cho rằng Giao Chỉ là ‘nước ta’ và ở Bắc Ninh có mồ của thái thú Sĩ Tiếp. Song le, cái tên ghi nơi mồ đó chẳng phải Sĩ Tiếp 士燮 mà là Sĩ Nhiếp 士灄 (hình 1).

Hình 1. lăng Sĩ Nhiếp.[8]
Tiếp và Nhiếp là hai cái tên khác nhau rõ ràng, chẳng có cớ chi mà lộn tên này với tên kia, hoặc nói rằng tên này cũng đọc như tên kia (bảng dưới).
| giọng Tàu thời Hán (Old Chinese) |
giọng Tàu thời Đường (Middle Chinese) |
giọng ta (Late Sino-Vietnamese) |
|
| 燮 (hoặc 爕) | /*seːb/ | /sep̚/ | tiếp |
| 灄 | /*hnjeb/ | /ɕiᴇp̚/ | nhiếp |
Vì sao sử gia ta xưa nay vẫn đọc 士燮 là Sĩ Nhiếp mà chẳng phải Sĩ Tiếp?
Cố tình dối trá? Thiếu hiểu biết?
Tạm dẹp chuyện đó qua bên, ta trở lại chủ đề.
Ta được biết Janse (1892–1985), nhà khảo-cổ-học người Thụy Điển, đã từng khảo sát và mô tả những cái mồ thiệt lớn của người Hán chôn dưới những cái gò thiệt bự ở Thanh Hóa.[9] Ngày nay ở miền bắc nước ta người ta vẫn tìm ra nhiều mồ Hán và phá đi cũng chẳng ít. Giả như Sĩ Nhiếp là thái thú người Hán, thì mồ của ông ta ít nhứt cũng phải lớn và kín như cái mồ Hán ở hình 2.

Hình 2. mồ Hán ở Hải Phòng.[10]
Ngược lại, ‘mồ Sĩ Nhiếp’ ở Bắc Ninh thì nhỏ xíu, sơ sài, trống trơn, chẳng có nét gì là mồ của một ông thái thú người Hán (hình 3).

Hình 3. ‘mồ Sĩ Nhiếp’.[11]
Vậy người chôn dưới ‘mồ Sĩ Nhiếp’ ở Bắc Ninh ắt chẳng phải là thái thú Sĩ Tiếp.
Kết luận:
Không có chuyện ‘thái thú Sĩ Tiếp qua cai trị nước ta rồi chết chôn ở nước ta’.
3.2 Sĩ Tiếp có công truyền bá Nho giáo qua ‘nước ta’?
Trước hết, hãy tạm cho rằng Giao Chỉ là ‘nước ta’ và Sĩ Tiếp có công truyền bá Nho giáo qua ‘nước ta’.
Ở một bài khác,[12] tôi đã mô tả việc truyền bá tri thức thời Hán qua ‘nước ta’, thí dụ nuôi tằm, rèn sắt, trồng cải; đó là truyền bá những món đồ rờ được, thấy được, thí dụ một con ngài, một cái búa, một nhúm hột cải.
Còn truyền bá học thức, thí dụ Phật giáo và Nho giáo, là truyền bá những món đồ gì?
Kinh sách.
Truyền bá Phật giáo là truyền bá kinh Phật.
Truyền bá Nho giáo là truyền bá Luận ngữ 論語.
Vậy nhưng tới thời Sĩ Tiếp, thế kỷ 2 AD, bên Tàu đã có kinh sách gì chép bằng giấy hay chưa?
Chưa.
Lúc đó họ chép kinh sách bằng gì?
Thẻ tre hoặc thẻ cây.
3.2.1 Luận ngữ chép trên thẻ tre/cây
Có 3 bổn (version) Luận ngữ lưu hành thời trào Hán: Lỗ 魯 20 thiên, cổ văn 古文 21 thiên, Tề 齊 22 thiên; sau thời Hán thì mất cổ văn và Tề, còn lại Lỗ là bổn chuẩn duy nhứt từ đầu trào Đường.[13]
Tới nay, người ta tìm được nhiều thẻ tre/cây chép một số thiên Luận ngữ, như sau.[14]
| năm | địa điểm | ‘date’ |
| 1930–1934 | Lop Nur, Tân Cương | Hán Tuyên Đế – Nguyên Đế |
| 1973 | Kiên Thủy 肩水 Cam Túc | Hán Tuyên Đế 74–49 BC |
| 1973 | mồ của Hoài-vương Lưu Tu ở Trung-sơn-quốc 中山國 nay là Định Châu 定州 Hà Bắc | 55 BC |
| đầu thập niên 1990 | mồ của một viên quan nhỏ ở Lạc Lang 樂浪 nay là Chŏngbaek-tong ở Bình Nhưỡng, Bắc Hàn | trước 45 BC |
| 1991 | Huyền Toàn Trí 懸泉置 Đôn Hoàng | c 116 BC – 107 AD |
| 2011 | mồ của Xương-ấp-vương 昌邑國 Hải-hôn-hầu Lưu Hạ 海昏侯劉賀 nay ở Nam Xương 南昌 Giang Tây | 62–45 BC |
(Thẻ tre trong mồ của Hải-hôn-hầu chép thiên 知道 của Luận ngữ bổn Tề, mà người ta tưởng đã mất.)
Bảng trên cho thấy tới cuối thời Tây Hán bên Tàu, Luận ngữ đã truyền bá từ hoàng tộc xuống ty chức, từ kinh đô ra những miền xung quanh. Đó là nhờ Hán Võ Đế (141–87 BC) bảo trợ.14

Hình 4. thẻ tre Luận ngữ ở Định Châu.[15]
Gần đây, người ta cũng tìm ra nhiều thẻ tre chép Luận ngữ bằng chữ Tàu thế kỷ 1 ở Vân Nam, lúc đó là Điền quốc được trào Hán cho tự trị.[16]
Hình 5 là những nơi có di tích thẻ tre/cây chép Luận ngữ bên Tàu.

Hình 5. vẽ lại trên hình nền của Kim.14
Tới đây, ta hiểu rằng một bộ thẻ tre/cây chép Luận ngữ thời Hán hẳn là món đồ quý, dành riêng cho hoàng tộc và những vị quan được hoàng đế tin cậy mà thôi. Chức quan nhỏ cỡ thái thú Sĩ Tiếp thì khó mà có một bộ thẻ Luận ngữ để xài cho mình, chớ đừng nói đem thẻ qua truyền bá cho thổ dân đồng bằng sông Hồng khi đó vẫn là một vùng đất ngập hoang vu.
Mà ở miền bắc nước ta tới nay giới khảo cổ cũng chưa tìm ra thẻ tre/cây chép Luận ngữ hoặc bất cứ kinh sách nào khác.
Kết luận:
Không có chuyện ‘thái thú Sĩ Tiếp truyền bá Nho giáo qua nước ta’.
3.2.2 Luận ngữ in giấy
Bảng dưới tóm tắt lịch sử nghề giấy và nghề in bên Tàu, theo tài liệu của Thomas Carter (1882–1925), học giả người Mỹ.[17]
| ‘date’ | nghề giấy | nghề in |
| ~220 BC | Mông Điềm chế ra bút lông
— lụa dùng để viết thay cho thẻ tre/cây |
ấn, đóng trên đất sét, chưa có mực |
| 0–100 | một thứ giấy sơ sài làm bằng lụa | |
| 105 | Thái Luân chế ra giấy bằng vỏ cây, giẻ rách,… | |
| ~150 | mẩu giấy xưa nhứt tìm thấy ở Vạn-lý-trường-thành
— Tso Tzu-I cải tiến nghề làm giấy |
|
| 175 | kinh văn khắc trên đá | |
| 250–300 | mẩu giấy xưa nhứt tìm thấy ở Turkestan | |
| 264 | mẩu giấy xưa nhứt có ‘date’ tìm thấy ở Loulan
— giấy đã thay cho tre, cây, lụa |
|
| ~400 | mực xưa nhứt làm bằng muội đèn | |
| ~thế kỷ 5 | ấn, đóng trên giấy, dùng châu sa (cinnabar) làm mực đỏ | |
| ~thế kỷ 6 | ấn bằng cây, đóng làm bùa | |
| 627–649 | bổn in rập (rubbing) xưa nhứt | |
| ~thế kỷ 7 | chùa chiền thử nhiều cách in kinh sách, bằng ấn, rập, ‘stencil’,… | |
| đầu thế kỷ 8 | bắt đầu in bằng bổn khắc (block printing) |
Bảng trên cho thấy từ thời trào Đường trở đi bên Tàu mới có kinh sách in trên giấy, từ ‘tứ thơ ngũ kinh’ cho tới đủ thứ kinh Phật.

Hình 6. một mẩu ‘stencil’ bằng giấy, thế kỷ 7.17
Đại Việt sử ký toàn thơ ghi:
- tháng 6 năm 1018 trào Lý Thái Tổ: sai viên ngoại lang là Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước Tống xin kinh Tam Tạng.
- tháng 8 năm 1070 trào Lý Thánh Tông: làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Châu Công, 4 học trò Khổng Tử, vẽ tượng 72 học trò khác, bốn mùa cúng tế, hoàng thái tử đến học ở đây.
- tháng 2 năm 1075 trào Lý Nhơn Tông: tuyển ‘Minh kinh bác học’ và thi Nho học tam trường; Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học.
Kết luận:
Nho giáo truyền sang nước ta từ đầu thế kỷ 11, khi vua Lý Thái Tổ (974–1028) cử người sang nước Tống xin kinh sách in giấy.
3.3 Thảo luận
Bài này nói chuyện người-dạy-sử ngày nay thiếu ‘critical thinking’, mong sao họ bỏ hết những chuyện hoang đường xung quanh Sĩ Tiếp, một lần cho dứt, để người-học-sử được nhờ.
Bài này chẳng bàn chuyện dân gian thờ Sĩ Tiếp nữa hay thôi, vì ‘critical thinking’ dường như chẳng ăn nhập tới chuyện thờ cúng.
[1] Joe Y. F. Lau (2024): Revisiting the origin of critical thinking. Educational Philosophy and Theory.
[2] Winston Sieck (2021) Critical thinking skills: what are they and how do I get them? https://www.globalcognition.org/
[3] Winston Sieck (2021) Critical thinking in everyday life. https://www.globalcognition.org/
[4] Homer Carey Hockett (1955) The critical method in historical research and writing.
[5] David Černín. Historical methodology and critical thinking as synergised concepts. Disputatio. Philosophical Research Bulletin, vol 9, no 13, Jun 2020.
[6] Trần Văn Giáp (1962) Lược khảo về bộ Đại Việt sử ký toàn thơ cùng tác giả của ‘nó’.
[8] Bách Việt 18 (2017) Sĩ Nhiếp, tục thờ Tứ pháp và đạo Bà La Môn. https://bahviet18.com/
[9] https://nghiencuulichsu.com/2023/10/27/nguon-goc-nguoi-viet-bai-14/
[10] Phạm Dương Ngọc (2019) ‘Kẻ trộm mộ’ và những ‘kho báu’ được khai quật khỏi lòng đất ở Thủy Nguyên. https://vtcnews.vn/
[11] Quốc Lê (2019) Những điều đặc biệt ở đền thờ ông tổ Nho giáo Việt Nam. https://kienthuc.net.vn/
[12] https://nghiencuulichsu.com/2023/12/21/truyen-ba-tri-thuc-o-giao-chau-thoi-han-tan/
[13] Maddalena Poli and Li Yumeng. New manuscript evidence on the formation of the Analects: the Warring States Anhui University *Zhongni Said and the Wangjiazui *Kongzi Said. Early China (2024), 47.
[14] Kyung-ho Kim (2019) Popularization of the Analects of Confucius in Western Han and the discovery of the Qi Lun: with a focus on the bamboo slips unearthed from the Haihunhou tomb. Sungkyun Journal of East Asian Studies, vol 19, no 2.
[15] Paul Van Els (2018) Confucius’s sayings entombed: on two Han dynasty bamboo Lunyu manuscripts. In: Confucius and the Analects revisited, ed M. Hunter & M. Kern.
[16] Heng Yin (2025) The private collections of the printed Chinese Buddhist canons in Yunnan: from the 10th–17th centuries. Religions 16:1383.
[17] Thomas Francis Carter (1925) The invention of printing in China and its spread westward.