Một Ngày Tháng Chín (Bài 11)

CÂU CHUYỆN ĐẦY ĐỦ VỀ CUỘC THẢM SÁT TẠI THẾ VẬN HỘI MUNICH 1972 VÀ CHIẾN DỊCH BÁO THÙ CỦA ISRAEL “CƠN THỊNH NỘ CỦA CHÚA” 

SIMON REEVE

Trần Quang Nghĩa dịch

12 Sự che đậy

Mặc dù Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ của Chúa được cho là nhằm trả thù cho gia đình các vận động viên thiệt mạng ở Munich, nhưng ít người thân nào muốn một cuộc thanh toán tàn khốc như vậy với người Palestine. Thay vào đó, các gia đình đã đau buồn vì công lý và sự thật đằng sau những sự kiện ở Munich gần 30 năm trước.

Bất chấp những nỗ lực mạnh mẽ của một số góa phụ trong sự kiện Munich, chính quyền Bavaria và Đức đã thành công trong việc che giấu quy mô lớn kể từ năm 1972. Các quan chức Đức đã phạm sai lầm khiến nhiều người Israel thiệt mạng, nhưng không ai bị quy trách nhiệm. “Những người đàn ông này đã chết ở Đức lần thứ hai, khi chúng tôi cố gắng tìm ra sự thật”, Ankie Spitzer, góa phụ của huấn luyện viên đấu kiếm người Israel Andre Spitzer, cho biết.

Ankie đổ lỗi cho hai nhóm về những gì đã xảy ra với chồng mình: “Dĩ nhiên tôi đổ lỗi cho bọn khủng bố Palestine, nhưng thứ hai, và trên hết, tôi đổ lỗi cho chính quyền Đức, những người được cho là đã ngăn chặn người Palestine đến làng Olympic. Và sau khi họ không ngăn chặn được, chính quyền Đức lẽ ra phải giải cứu các vận động viên Israel bị bắt làm con tin. Và điều này họ cũng đã không làm được. Họ là chủ nhà của Thế vận hội, họ đáng lẽ phải chịu trách nhiệm về sự an toàn của khách. Và sau đó, đáng lẽ họ phải giải cứu các con tin, vậy mà họ lại phá hỏng toàn bộ kế hoạch giải cứu. . .  Tôi muốn công lý từ họ.”

Người thân của các nạn nhân đã đấu tranh pháp lý tại Đức chỉ vài tháng sau vụ thảm sát, yêu cầu chính quyền Bavaria và chính quyền liên bang công bố tất cả các hồ sơ liên quan đến vụ thảm sát. Các gia đình muốn biết tại sao mọi vận động viên đều có thể tử vong trong khi họ được cho là đang được Đức bảo vệ, và những quan chức nào phải chịu trách nhiệm về cái chết của họ.

“Tôi muốn người Đức tường thuật đầy đủ những gì đã xảy ra,” Ankie nói. “Tôi yêu cầu báo cáo đạn đạo, báo cáo bệnh lý, vì dường như không ai có thể giải thích cho tôi biết chuyện gì thực sự đã xảy ra, ai là người có lỗi. Ai bắn ai tại sân bay? Vì mọi thứ đều tối om và hỗn loạn hoàn toàn.” Cuối cùng, khi người Đức trả lời, họ chỉ nói rằng họ không thể giúp gì cho cô. “Họ cứ nói với tôi rằng chúng tôi chẳng có gì cả. Và tôi không thể tin được vì người Đức luôn chu toàn, tôi không thể tin rằng họ chẳng có gì cả.”

Sau cái chết của chồng, Ankie phải vật lộn một mình để nuôi cô con gái nhỏ Anouk. Áp lực của việc làm mẹ đơn thân khiến cô không thể truy vấn người Đức hay phản bác những tuyên bố dai dẳng rằng họ không có hồ sơ hay thông tin gì cho cô. Nhưng khao khát sự thật chưa bao giờ phai nhạt trong Ankie. Việc người Đức cứ khăng khăng không có báo cáo nào tồn tại bắt đầu khiến cô khó chịu. “Tôi cảm thấy rất nghi ngờ về việc họ nói rằng không có gì cả.”

Khi Anouk lớn lên thành một cô bé xinh đẹp, Ankie bắt đầu dành nhiều thời gian hơn để khám phá sự thật đằng sau vụ thảm sát Munich. Như Ankie mô tả, cô ấy bắt đầu ” hành hạ” mọi người để lấy thông tin. “Tôi đã đến gặp tất cả các đại sứ Đức từng cư trú tại Israel kể từ năm 1972, gặp tất cả các thủ tướng Israel, gặp tất cả các tổng thống Israel, gặp tất cả các ngoại trưởng Israel, để cố gắng thu thập thông tin bởi vì tôi chẳng có gì cả. Tôi đã nói rằng có kẻ đã làm điều này, có kẻ phải trả giá, có kẻ phải nhận chịu trách nhiệm.” Tuy nhiên, “cuộc hành trình này thật vô ích”, bà nói thêm, “bởi vì mỗi nơi tôi đến, tôi đều nhận được cùng một câu trả lời: ‘Chúng tôi chẳng có gì cả'”.

Ankie thậm chí còn gặp Hans-Dietrich Genscher, Bộ trưởng Nội vụ Đức vào thời điểm xảy ra vụ thảm sát và sau này là Bộ trưởng Ngoại giao nước này. “Tôi đã đích thân gặp ông ấy. Tôi đã hỏi ông ấy những câu hỏi tương tự, liệu ông ấy có thể cung cấp cho tôi thêm thông tin, liệu ông ấy có thể cung cấp cho tôi những báo cáo này không.” Genscher bảo với Ankie không có thêm báo cáo nào nữa, nhưng nói thêm: “Tôi sẽ quay lại Đức và kiểm tra giúp bà rồi sẽ cho bà biết.”

Người góa phụ trẻ không hề nhận được phản hồi tích cực từ Genscher, thay vào đó, cô tự mình bay sang Đức và bắt đầu đặt câu hỏi. “Tôi đã đến Viện Bệnh học để cố gắng lấy hồ sơ ra. Tôi muốn biết, và tôi nghĩ mình có quyền được biết, chuyện gì đã xảy ra với chồng tôi? Ai đã giết anh ấy? Anh ấy chết như thế nào? Câu hỏi cơ bản nhất mà tôi nghĩ mọi người đều có quyền được biết.” Ankie nhận được những lời phản bác tương tự khi gặp trực tiếp cũng như khi cô ấy nhận được qua thư. “Tôi đã bị từ chối câu trả lời. Thật là bực bội.”

Khi những tháng sau vụ thảm sát trở thành năm, cô càng tin chắc rằng người Đức đang che giấu sự thật về cái chết của Andre và bạn bè anh. Cô cũng tin chắc rằng chính phủ Israel đã chấp nhận sự che đậy của Đức và cố đi tìm một lời giải thích cho sự thờ ơ rõ ràng của Israel.

Tuy nhiên, Ankie và những người thân khác đã vô cùng tức giận trước những báo cáo không chính thức mà họ nghe được về sự bất lực của Đức trong việc bảo vệ và giải cứu những người thân yêu của họ nên cuối cùng họ đã thuê một luật sư và bắt đầu hành động pháp lý chống lại chính phủ Đức và Bavaria-

“Các gia đình quyết định kiện chính phủ Đức và các bị đơn khác chỉ vì họ nghĩ rằng họ có quyền làm như vậy”, Pinchas Zeltzer, một luật sư người Israel làm việc cho các thân nhân, cho biết. “Họ đã gửi những người chồng và con trai yêu quý của mình sang Đức và những người thân ấy không được bảo vệ, hay nói cách khác là chính quyền Đức đã bỏ bê việc cứu mạng họ.”

Tuy nhiên, người thân và luật sư của họ phải đối mặt với một tính huống khó khăn: họ cần tài liệu và báo cáo chính thức để chứng minh những cáo buộc về sự bất tài và hành động sai trái của người Đức, nhưng người Đức phủ nhận chúng tồn tại. Luật sư đại diện cho họ trước Zeltzer đã chính thức nộp đơn lên Đại sứ quán Đức tại Israel và chính phủ ở Bonn để xin tiếp cận các tài liệu điều tra chính thức. “Ông ấy đã bị từ chối,” Zeltzer nói. “Chính quyền Bavaria và chính phủ Đức đã từ chối cung cấp tài liệu và bằng chứng và tiết lộ mọi chuyện đã xảy ra.”

Trong nhiều năm, chính quyền Đức đã né tránh vấn đề này, tuyên bố rằng chỉ có một tài liệu chính thức, một báo cáo dài sáu mươi ba trang được công bố với tiêu đề “Tấn công đội tuyển Olympic Israel”. Đối với người Israel, vốn hiểu quá rõ sự tỉ mỉ của chính quyền Đức, thật khó có thể tưởng tượng rằng chỉ có một tài liệu.

“Làm sao ở Đức có thể không có tài liệu nào cả”, Ilana Romano, góa phụ của vận động viên cử tạ Yossef, cho biết. “Đó là một quốc gia rất chu toàn. Họ biết chính xác vị trí đặt từng từ.”

Các gia đình biết rằng sẽ có báo cáo đạn đạo, báo cáo pháp y, báo cáo bệnh lý, một loạt giấy tờ vô tận về mọi khía cạnh của vụ tấn công, bao vây và thảm sát. Nhưng nếu không có tài liệu, hành động pháp lý của người thân sẽ tiêu tan, một nạn nhân của thời hiệu khởi kiện của Đức.

Về phía mình, chính quyền Đức dường như chỉ biết lúng túng trước những yêu cầu liên tục đòi được quan tâm giải quyết của thân nhân Israel. Họ nghĩ rằng những người thân này cuối cùng sẽ nản chí – sẽ già đi, chết đi – và cuối cùng sẽ quên đi thảm kịch. Họ đã sai. “Có lẽ họ nghĩ rằng những góa phụ này một ngày nào đó rồi sẽ đi mất, hoặc họ sẽ bỏ đi, hoặc họ sẽ mệt mỏi, hoặc họ sẽ buông xuôi”, Ankie Spitzer nói. “Nhưng họ quên rằng chúng tôi không muốn để chuyện đó trôi qua vì chúng tôi, với tư cách là gia đình, có quyền được biết chuyện gì đã xảy ra với những người thân yêu của mình.”

Ilana Romano, người cùng với Ankie dẫn đầu cuộc tấn công vào chính quyền Đức, không hề có ý định bỏ cuộc.  “Đừng quên rằng khi tôi trở thành góa phụ, tôi mới 26 tuổi, tôi có ba cô con gái nhỏ. Tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Và kể từ đó, tôi tìm kiếm và tôi đào bới. Tôi tìm kiếm từng chi tiết nhỏ nhặt, cùng với Ankie.” Cả hai đều vật lộn, nhưng “bạn ngã rồi lại đứng dậy.” Cô tin rằng “mức độ khủng khiếp của tội ác” thực sự đã tiếp thêm sức mạnh cho cô. “Ankie và tôi, chúng tôi đã đào bới và thu thập từng thông tin cuối cùng. Chúng tôi cùng chung một bi kịch. Tôi đã thề sẽ tìm ra sự thật, vì các con gái tôi. Sau bốn mươi tám giờ, tôi yêu cầu được kể lại thực sự những gì đã xảy ra.” Nhiều năm sau, “Tôi vẫn đang tìm kiếm câu trả lời.”

Tất cả người thân đều khao khát sự thật như nhau. Một trong những tài liệu đầu tiên họ yêu cầu xem là báo cáo đạn đạo được thực hiện trên trực thăng và các thi thể tại Fürstenfeldbruck. Vào ngày 30 tháng 6 năm 1976, một số người thân đã gặp Hans-Dietrich Genscher tại Tel Aviv và chính thức yêu cầu bồi thường và cung cấp tài liệu. Không có gì được đưa ra.

Vào ngày 5 tháng 9 năm 1977, các gia đình đã viết thư cho Đại sứ quán Đức tại Israel yêu cầu sao chép các báo cáo đạn đạo và bệnh lý. Sáu tháng sau, vào ngày 9 tháng 3 năm 1978, phía Đức cuối cùng đã trả lời, nói với các gia đình rằng mặc dù họ không thể có bản sao, nhưng họ có thể kiểm tra các báo cáo. Khi các gia đình yêu cầu được phép kiểm tra, họ đã bị phớt lờ. Họ tiếp tục gây sức ép với Đại sứ quán Đức, và cùng năm đó, Genscher đã gặp Ankie Spitzer và nói rằng báo cáo đạn đạo sẽ được sao chép và chuyển cho luật sư của bà. “Ông ấy nói rằng ông ấy không thấy lý do gì chính phủ Đức lại giấu báo cáo này”, Spitzer nói.

Ankie rời cuộc họp với Genscher, hài lòng rằng một thành viên cấp cao của chính phủ Đức – một người đã tận mắt chứng kiến ​​thảm kịch và chắc chắn có thể hiểu được tại sao cô khao khát truy tìm sự thật – đã hứa rằng báo cáo sẽ được công bố. Nhưng cô khẳng định Genscher đã không giữ lời.

Câu chuyện tiếp tục trong 14 năm nữa, trong thời gian đó Spitzer liên tục làm phiền người Đức để có được báo cáo: “Tôi có thể dán giấy dán tường khắp phòng khách của mình bằng số thư phản hồi của chính phủ Đức đối với yêu cầu báo cáo đạn đạo.” Thông thường, người Đức thậm chí không buồn trả lời yêu cầu của bà. Đôi khi, các quan chức lại đưa ra những lời bào chữa thảm hại cho sự trì trệ của họ. Đôi khi họ nói “cuộc điều tra vẫn đang mở”, hoặc đưa ra những “câu trả lời ngu ngốc” khác, theo Pinchas Zeltzer. “Họ nói, ‘Tài liệu không còn tồn tại nữa’, ‘Chúng tôi không thể cung cấp cho bà tài liệu’, ‘Tài liệu đã bị tiêu hủy’, hoặc những câu chuyện tương tự, trong khi chúng tôi biết rằng điều đó là không thể ở bất kỳ quốc gia dân sự nào có luật pháp và trật tự. Chúng tôi đã rất  thất vọng.”

Các chính phủ Israel kế tiếp cũng không giúp đỡ người thân của họ. Ankie Spitzer khẳng định: “Vâng, chúng tôi cũng có những giả thuyết riêng về điều đó. Tất nhiên, lập trường của Israel trong toàn bộ sự việc này cũng khá đáng xấu hổ, bởi vì ngay từ đầu lẽ ra họ không nên tin tưởng người Đức về vấn đề an ninh cho các vận động viên của họ.” Mặc dù chính phủ Israel và các quan chức Olympic đã nói với các tthân nhân sau vụ thảm sát rằng Israel không được “cho phép” cử lực lượng an ninh đi cùng các vận động viên, Đông Đức, Ai Cập và một số quốc gia khác đã cử lực lượng an ninh đến Thế vận hội Munich. “Vì vậy, thật đáng xấu hổ khi họ tin tưởng giao phó an ninh cho người Đức”, Spitzer nói.

Người Israel đã nhận một phần trách nhiệm về vụ tấn công. Một cuộc điều tra đã được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Pinhas Koppel, một cựu sĩ quan cảnh sát Shin Bet, để điều tra sự thất bại thảm hại của an ninh – đúng ra sự không tồn tại của lực lượng an ninh xung quanh các vận động viên Israel. Ông quyết định sa thải người đứng đầu Chi nhánh An ninh Bảo vệ của Shin Bet, đơn vị chịu trách nhiệm bảo vệ các vận động viên.

Tuy nhiên, trong mắt người Israel, phần lớn lỗi lầm trước tiên là đổ lên người Palestine, tất nhiên rồi, và sau đó là người Đức. “Nhờ yếu tố bất ngờ, bọn khủng bố đã có thể đột nhập vào tòa nhà Israel và chế ngự những người bên trong vì chính quyền Đức đã không thực hiện các biện pháp phòng ngừa thích hợp”, Golda Meir nói. “Đó là một sai lầm nghiêm trọng khi chỉ cung cấp các biện pháp phòng ngừa an ninh thông thường cho phái đoàn Israel.”

Nhiều thân nhân tin rằng đã có một số loại “thỏa thuận” được thực hiện giữa chính phủ Israel và Đức sau vụ thám sát, điều này giải thích tại sao Israel không ráo riết truy tìm sự thật về vụ thảm sát, hay công khai chỉ trích Đức vì hàng loạt sai lầm nghiêm trọng của họ trong cuộc khủng hoảng con tin. “Tôi không biết, tôi chỉ đang suy đoán thôi”, một người họ hàng thừa nhận, nghi ngờ người Đức đã “thưởng” cho Israel vì sự im lặng của họ về thảm họa này.

Yohanan Meroz, đại sứ Israel tại Bonn từ năm 1974 đến năm 1981, tuyên bố chính phủ Israel chưa bao giờ có bất kỳ nỗ lực chủ động nào nhằm ngăn cản các cuộc đàm phán giữa thân nhân và chính phủ Đức. “Chúng tôi được chỉ thị giúp họ sắp xếp các cuộc gặp mặt, nhưng chúng tôi chưa bao giờ tham gia một cách chủ động. Nếu có lỗi, thì đó là do cách xử lý tình huống vụng về của Jerusalem. Lẽ ra… nên có một cách tiếp cận thực tế hơn, bởi vì, trên thực tế, người Đức đã bị ảnh hưởng sâu sắc bởi thảm kịch này. Vấn đề này thực sự nên được đưa ra bàn bạc ở cấp chính phủ, chứ không phải giữa các cơ quan pháp lý hay luật sư. Bởi vì sự thật chết tiệt là người Đức, do sự cẩu thả trong việc bảo vệ an ninh, đã tạo điều kiện cho vụ tấn công xảy ra.”

Sự thờ ơ của chính phủ Israel vẫn còn gây hoang mang và bất bình cho nhiều người thân. “Lý do thực sự là gì, tại sao Israel không mạnh tay hơn, chúng tôi không biết, nhưng tin tôi đi, chúng tôi đã hỏi mọi vị tổng thống, mọi thủ tướng và mọi bộ trưởng ngoại giao liệu họ có thể ít nhất là công bố thông tin”, Ankie Spitzer nói. Tất cả đều vô ích. Các gia đình nghĩ rằng sự thật về vụ thảm sát Munich sẽ không bao giờ được biết đến.

Đầu năm 1992, gần 20 năm sau vụ giết người tại 31 Connolly Strasse và sân bay Fürsten-feldbruck, Ankie Spitzer đã được phỏng vấn trên truyền hình Đức, nói về ngày kỷ niệm

Thảm kịch và nỗi khao khát tột cùng của bà muốn biết sự thật về các sự kiện ngày 5 tháng 9 năm 1972. Bà kể với khán giả rằng các quan chức Đức đã tuyên bố không còn báo cáo nào nữa. Người thân vẫn đang đau khổ vì không biết chuyện gì đã xảy ra với người thân của mình.

Cuộc phỏng vấn đã gây một đồng cảm sâu sắc cho một khán giả Đức, một người có hiểu biết sâu sắc về các cuộc điều tra của chính phủ Đức và Bavaria về thảm họa Munich. Hai  tuần sau khi Ankie lên truyền hình ông gọi điện cho bà ấy tại nhà riêng ở Israel. “Phải mất hai mươi năm sau các sự kiện ở Munich cuối cùng cũng có một đột phá, một đột phá đến từ một phía tôi không bao giờ mong đợi,” bà ấy nói.

“Có thông tin, bà hoàn toàn đúng,” “người công dân Đức vô danh”  nói với Ankie. “Tôi đã tiếp cận thông tin, nhưng tôi không  thể giao thông tin này cho bà theo cách bình thường. Tôi sẽ tìm cách lén lút lấy nó ra khỏi kho lưu trữ và gửi cho bà.” Liệu Ankie có thực sự muốn thông tin đó không, ông hỏi?

“Tôi đã chờ đợi điều đó suốt hai mươi năm rồi,” bà đáp. “Nhưng ông là ai?”

“Tôi không thể tiết lộ danh tính của mình và tôi sẽ không bao giờ cho bà biết tôi là ai vì tôi đang làm một việc bất hợp pháp”, người đàn ông nói.

“Được rồi,” Ankie nói đơn giản . “Tôi sẽ nhận bất cứ thứ gì ông có thể gửi cho tôi.”

Hai tuần trôi qua và bà không nghe thấy tăm hơi gì  cả: “Tôi không chắc có nên tin anh chàng này không”, bà nhớ lại, nhớ lại những lần trong quá khứ khi bà bị  những kẻ lừa đảo liên lạc với nhiều thuyết âm mưu và lời giải thích khác nhau về vụ thảm sát Munich.

Rồi cuối cùng, một người đưa thư đã đến nhà bà, mang theo một bưu kiện từ Đức. Đó chính là tất cả những gì thân nhân có thể mong đợi.

Nội dung tài liệu chứng minh rằng chính quyền Đức đã tiến hành cuộc điều tra sâu rộng về vụ thảm sát và sau đó cố gắng che đậy những phát hiện của họ.

“Tôi đã thấy 80 trang tài liệu đủ loại mà tôi chưa từng thấy trước đây,” Ankie nói. Có ba trang báo cáo bệnh lý, một số trang trích từ báo cáo đạn đạo. “Tôi rất kinh ngạc.”

Vẫn không thể tin rằng bước đột phá cuối cùng đã được thực hiện, các luật sư của các thân nhân đã mời các chuyên gia Israel đến nghiên cứu tài liệu. Một sĩ quan cảnh sát Israel đã nghỉ hưu và là chuyên gia đạn đạo gốc Đức đã nghiên cứu một báo cáo đạn đạo dài 30 trang, được viết bằng ngôn ngữ chuyên môn đặc trưng và đề ngày 6 tháng 9 năm 1972, trong đó có cả phân tích mảnh đạn được lấy ra từ xương ức.

Các chuyên gia thậm chí còn nghiên cứu niên đại tờ giấy trên đó báo cáo đã được viết. Ankie nói: “Họ đã quay lại và nói, ‘Nhìn này, Ankie, ở đây bà có những tờ giấy thực sự đã 20 năm tuổi, được viết trên một chiếc máy đánh chữ thực sự đã hai mươi năm tuổi, và trông giống như chúng là những tờ giấy hoàn toàn chính gốc.’”

Gói tài liệu này đã tiếp thêm sức mạnh cho những người thân trong hành trình tìm kiếm sự thật. Nó bao gồm một danh mục khổng lồ gồm hơn 3.000 tài liệu, báo cáo và hồ sơ liên quan đến vụ thảm sát Munich được cất giấu trong kho lưu trữ của chính phủ ở Bavaria. Đó là bằng chứng của một vụ che đậy to lớn của người Đức.

Bước tiếp theo của Ankie là gọi điện cho một chính trị gia cấp cao của Đức tại Bộ Ngoại giao. “Tôi có ở đây một số tài liệu liên quan đến vụ tấn công Munich,” bà nói với ông, “và tôi muốn ông đưa cho tôi phần còn lại. Tôi biết còn rất nhiều tài liệu khác nữa.”

“Không,” viên chức nói, mệt mỏi lặp lại câu nói thường lệ của Đức, “không còn giấy tờ hay báo cáo nào nữa.”

Cuối cùng Ankie đã có bằng chứng. Bà ấy lao vào cuộc đấu khẩu chống lại người Đức: “Bộ trưởng nghĩ tôi đang nói khoác. Vì vậy, qua điện thoại, tôi đã trích dẫn chi tiết cụ thể từ các tài liệu. Tôi nói, ‘Hãy xem báo cáo đạn đạo, ngày 16 tháng 1 năm 1973. Hãy xem đoạn 1: một hộp chứa một mảnh đạn pháo lấy từ lưng chồng tôi. Đoạn 2: ba mảnh kim loại được lấy từ xương ức của anh ấy.”

Dịu giọng, có lẽ với hy vọng nguồn rò rỉ có thể được phát hiện, viên chức Đức yêu cầu Ankie mang các giấy tờ này đến đại sứ của ông tại Israel, để xác minh tính xác thực của chúng.

“Không, tôi không cho ông xem gì cả,” Ankie nói. “Tôi chỉ muốn xem phần còn lại thôi.”

Nhiều tháng chờ đợi đã trôi qua, khi tin tức về những tuyên bố của Ankie lan truyền trong giới chính trị gia Đức. Các câu hỏi đã được đặt ra tại Quốc hội Liên bang, và các quan chức liên bang bắt đầu một cuộc chiến dai dẳng với các quan chức Bavaria ở Munich, những người đã mù quáng phủ nhận việc họ có thêm bất kỳ tài liệu nào trong kho lưu trữ. Ankie nhớ lại: “Rồi cũng đến lúc chúng tôi đạt được kết quả là ngài Klaus Kinkel [Bộ trưởng Ngoại giao Đức] yêu cầu Bộ trưởng Tư pháp bang Bavaria xuất trình các tài liệu đó.”

Cuối cùng, vào ngày 29 tháng 8 năm 1992 (“Một ngày tôi sẽ không bao giờ quên,” Ankie nói), người Đức đã đầu hàng. Ankie nhận được một cuộc gọi điện thoại. “Họ nói, ‘Được rồi, chúng tôi đã tìm thấy tài liệu mà bà đang tìm kiếm. Vui lòng đến Munich cùng với một luật sư và bà có thể lấy được tất cả các giấy tờ mà chúng tôi có.'”

Ngày hôm sau, luật sư của người thân rời Israel đến Munich và được mời đến kho lưu trữ ở Munich. Ankie kể lại: “Ông ấy đã thấy gì? Có 3.808 tập tài liệu thông tin, những thứ mà chúng tôi đã bị từ chối trong hai mươi năm, đột nhiên chúng xuất hiện.”

Thật kỳ diệu. Hàng đống tài liệu, 900 hình ảnh bệnh lý. Đột nhiên tất cả đều hiện ra. Và tôi sẽ không bao giờ quên cảm giác đó, bởi vì tôi đã mơ đến điều đó suốt 20  qua. Tôi biết rằng có những thông tin đang bị phủ nhận.”

Theo Pinchas Zeltzer, các tập tin chứa đầy đủ lời khai của mọi người liên quan đến cuộc khủng hoảng: “Cảnh sát, những người tham gia hành động, những người từ quân đội, tất cả các báo cáo từ phòng thí nghiệm, khám nghiệm tử thi, ảnh chụp tại sân bay và những nơi khác, ảnh trực thăng, ảnh máy bay Lufthansa. Tôi cho rằng đó là một báo cáo đầy đủ về mọi thứ đã xảy ra.”

Thông tin chứa trong các tập tin đúng là thuốc nổ.

“Chỉ sau khi  nhận được tài liệu, chúng tôi mới nhận ra có bao nhiêu sai sót đã phạm phải”, Ankie Spitzer nói. Theo Ankie, các tài liệu này khiến người Đức trông như “những tên ngốc”. “Rõ ràng điều người Đức đã làm là che đậy mọi sai sót của họ. Đầu tiên là trong việc tổ chức Thế vận hội họ không đảm bảo an ninh đầy đủ cho khách mời. Và sau đó là lên kế hoạch giải cứu mà họ không thể thực hiện được.”

Mặc dù cảnh sát Munich đã ra sức khẳng định không có lực lượng cảnh sát nào trên thế giới có thể giải quyết thành công vụ khủng bố, giờ đây rõ ràng là họ hoàn toàn không chuẩn bị cho một mối đe dọa như vậy tại Thế vận hội 1972. Họ được trang bị “những đôi giày buộc dây nhỏ để tuần tra, một bộ trang phục chơi thể thao, và một chiếc mũ để che mưa”, Manfred Schreiber, cảnh sát trưởng Munich lúc bấy giờ, thừa nhận. “Những trang bị đó không đủ để chống khủng bố.”

Schreiber đã chịu áp lực chính trị và chính thức để đảm bảo việc thực thi pháp luật tại Thế vận hội càng nhẹ nhàng càng tốt. “Bang Bavaria, Cộng hòa Liên bang, Ủy ban Olympic Đức, cũng như Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) muốn Thế vận hội hoàn toàn khác biệt so với Thế vận hội Olympic 1936. Nói cách khác, chúng tôi muốn Thế vận hội diễn ra trong hòa bình, chúng tôi không muốn có sự kiểm soát tại các địa điểm tổ chức Thế vận hội.” Ông thừa nhận, điều này đặt người của ông “vào thế yếu”. “Kết quả là, chúng tôi đã cho các nhân viên an ninh mặc thường phục hoạt động, khoảng 2.000 người, bao phủ toàn bộ các địa điểm tổ chức Olympic, nhưng không có ai ở Làng Olympic. Lực lượng cảnh sát của chúng tôi hoàn toàn không được chuẩn bị cho một cuộc tấn công khủng bố kiểu này.” Các quan chức Đức lo ngại rằng những lính gác vũ trang trong đồng phục hung hãn sẽ gợi lại ký ức về thời kỳ Đức Quốc xã. Do đó, đồng phục màu xanh được thiết kế đặc biệt cho các sĩ quan tuần tra Công viên Olympia, trong khi “vũ khí” của họ chỉ giới hạn ở bộ đàm. Nhưng lẽ ra Schreiber và cảnh sát Munich nên nhận thức rõ hơn về mối nguy hiểm của một cuộc tấn công khủng bố.

Đội Israel đã lo ngại về an ninh ngay cả trước khi họ đến. Các quan chức của đoàn đã nói với người Đức rằng họ muốn được bố trí ở trên đỉnh của một tòa nhà cao hơn. Trước khi đội Israel lên đường đến Munich, các chuyên gia an ninh quân sự đã bay đến Đức để đề xuất các phương án bảo vệ đội tuyển. Nhưng người Đức khăng khăng mọi công tác bảo vệ an ninh phải được giao cho nước chủ nhà.

Tuy nhiên, các hồ sơ mới được công bố cho thấy các quan chức an ninh Đức đã được cảnh báo về một cuộc tấn công khủng bố có thể xảy ra tại Thế vận hội. Một nhà tâm lý học người Đức đã nói với cảnh sát Munich rằng có nguy cơ xảy ra một cuộc tấn công khủng bố nhằm vào người Israel, và Interpol đã ban hành một cảnh báo chỉ vài tuần trước Thế vận hội rằng bọn khủng bố Ả Rập

dường như đang tập hợp ở châu Âu để chuẩn bị cho một cuộc đột kích “ngoạn mục” có thể xảy ra trùng với Tết Năm Mới của người Do Thái vào ngày 2 tháng 9. Cảnh sát Munich đã được cảnh báo rõ ràng rằng những kẻ khủng bố Palestine có thể tấn công Thế vận hội. Vào ngày 21 tháng 8 năm 1972, cảnh sát mật Đức đã gửi một lá thư cho cảnh sát Munich cảnh báo về kế hoạch của người Palestine nhằm “làm điều gì đó” tại Munich.

Người Đức cũng biết rằng Tháng Chín Đen đang hoạt động ở châu Âu, và vài ngày trước Thế vận hội, Leila Khaled, một tên khủng bố khét tiếng từng âm mưu cướp một máy bay Boeing 707 của Israel, đã được nhìn thấy tại sân bay Schiphol ở Amsterdam. Interpol cảnh báo rằng bọn khủng bố có thể đang “di chuyển” khắp châu Âu. Hôm thứ hai, ngày 4 tháng 9, các quan chức Đức được thông báo rằng bọn khủng bố đã xâm nhập vào Đức từ Scandinavia, nhưng dường như họ nghĩ rằng mối đe dọa chỉ giới hạn ở bom bưu kiện hoặc một nhân vật Israel có thể bị bắt cóc khi đang lang thang quanh Munich.

Một số biện pháp phòng ngừa cơ bản đã được thực hiện. Munich là nơi cư trú của một số lượng lớn “lao động nước ngoài” người Trung Đông (chỉ tính riêng người Jordan, cảnh sát đã biết có 779 người) và các quan chức đã lập một danh sách khoảng ba 30 đối tượng khủng bố tiềm năng cần được theo dõi đặc biệt. Nhưng thật đáng kinh ngạc khi liệt kê các mục tiêu tiềm năng của bọn khủng bố, không ai nghĩ đến khả năng xảy ra một cuộc tấn công bên trong Làng Olympic.

Bốn ngàn hồ sơ được tiết lộ cho gia đình cho thấy sự bất tài và sai lầm vẫn tiếp diễn rất lâu sau khi cuộc tấn công bắt đầu. Có lẽ sai lầm tai hại nhất liên quan đến thông tin tình báo về số lượng tên khủng bố. Trong suốt cuộc bao vây, khi thời hạn chót trôi qua và các cuộc đàm phán kéo dài đến tận chạng vạng, cảnh sát Đức vẫn cứng nhắc bám chặt vào niềm tin của họ.

rằng chỉ có năm người Palestine ẩn náu ở số 31 Connollystrasse.

Tuy nhiên, tài liệu xác nhận rằng sáu nhân viên bưu điện người Đức đã nói với cảnh sát rằng có từ 8 đến 12 tên trong hai nhóm ban đầu đã trèo qua hàng rào.

Khi những người đưa thư nghe tin về vụ tấn công, họ đã nói lại với tổ trưởng của mình, Herr N. Britz, về những gì họ đã thấy lúc 4:10 sáng và ông ấy đã ngay lập tức thông báo cho cảnh sát. Tuy nhiên, phải đến khoảng 6 giờ chiều, các thám tử mới được cử đến thẩm vấn những người đưa thư, và ngay cả khi họ giải thích rằng họ đã nhìn thấy một nhóm khủng bố đông người, thông tin này vẫn không được chuyển đến ủy ban giải quyết khủng hoảng hoặc trung tâm điều hành cảnh sát. Đây là một sự phá vỡ quy trình đáng kinh ngạc của cảnh sát.

Tệ hơn nữa, các nhà báo truyền hình Đức đã đưa tin về lời tường thuật của những người đưa thư vào lúc 8:50 sáng, cũng như trên một phiên bản đặc biệt của tờ báo Bild-Zeitung, được phát hành vào ngày định mệnh.

Ngay cả cảnh sát Đức tại hiện trường cũng cảnh báo cấp trên rằng số lượng khủng bố thực tế có thể cao hơn năm. Một trong những xạ thủ Đức đang theo dõi tòa nhà cho rằng có hơn sáu tên khủng bố, trong khi Anneliese Graes nói với Hans-Dietrich Genscher và Manfred Schreiber rằng “ít nhất” có sáu tên khủng bố.

Khi bọn khủng bố và con tin rời khỏi 31 Connollystrasse, một sĩ quan điều tra Đức, Nachreiner, đã đếm chính xác chín con tin còn sống và tám tên khủng bố. Khi báo cáo với Manfred Schreiber con số này, Schreiber được cho là đã trả lời rằng số lượng những tên khủng bố đã được biết đến.

Thất bại đáng kinh ngạc nhất là không ai nghĩ đến việc báo cho cảnh sát và những tay bắn tỉa đang chờ đợi ở Fürstenfeldbruck. Ngay cả khi Schreiber hạ cánh xuống sân bay cùng với các thành viên khác của ủy ban khủng hoảng, ngay trước khi bọn khủng bố và con tin đến nơi, ông ta vẫn không hề báo cho cấp phó của mình là Georg Wolf biết rằng có đến tám tên khủng bố. Sau đó, ông ta tuyên bố: “Tôi cho rằng việc truyền số lượng tên khủng bố chỉ là một vấn đề kỹ thuật nhỏ.” Luật sư của người thân các vận động viên mô tả điều này là “sự yếm thế thuần túy và là dấu hiệu của tính bất cẩn khó tin.”

Các luật sư của người thân Israel chỉ trích gay gắt về việc cảnh sát Munich vẫn ngoan cố tin rằng chỉ có năm tên khủng bố chống đối họ: “Không có lệnh điều tra số lượng khủng bố và chuyển kết quả ngay lập tức đến trung tâm điều hành; không có lệnh truyền ít nhất những con số điều tra được khi bọn khủng bố rời khỏi căn hộ hoặc bước vào xe buýt; không có biện pháp ước tính phòng ngừa cao hơn – người ta nhìn thấy có 5 tên khủng bố;  theo quan điểm hợp lý, phải ước tính có hơn 5.

Khi bọn khủng bố và các con tin đến Fürstenfeldbruck, như chúng ta đã thấy, chỉ có năm tay súng bắn tỉa đang đợi họ, một con số không đủ để thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, hoạt động pháp lý của Israel đã phát hiện ra rằng có hơn 50 tay súng thiện xạ có mặt trong lực lượng cảnh sát Munich vào ngày hôm đó. Người thân của các vận động viên đã chết muốn biết tại sao những người lính này không được đưa đến sân bay.

Ngoài ra, luật sư của người thân cũng phát hiện ra rằng toàn bộ thành viên của  Đơn vị 1 của Cảnh sát cơ động Bavaria đã được huấn luyện bắn tỉa chính xác bằng kính viễn vọng, kể từ thảm họa ngày 24 tháng 8 năm 1971, khi một nữ nhân viên ngân hàng trẻ bị bọn cướp bắt làm con tin đã vô tình bị giết trong một nhiệm vụ “giải cứu”.  Tại sao họ không được sử dụng trong hoạt động giải cứu, các thân nhân hỏi?

Không có thêm lính bắn tỉa ở đó, hoạt động giải cứu ít hy vọng có thể thành công. Giờ Manfred Schreiber tuyên bố rằng kế hoạch của Đức là chỉ giết Issa, vì anh ta nghĩ việc này sau đó sẽ khuyến khích những tên còn lại trong nhóm đầu hàng. Các quan chức khác có mặt tại Thế vận hội chế giễu ý tưởng này, cũng như luật sư của người thân.

“Tôi nghĩ kế hoạch kiểu này rất, rất nguy hiểm”, Uwe Schlütter, luật sư người Đức đại diện cho người thân của các vận động viên Israel, nói. Ông nói, kế hoạch này lẽ ra phải dựa trên một “nền tảng chắc chắn”. “Và một nền tảng chắc chắn là phải có đủ tay súng bắn tỉa để tiêu diệt tất cả cùng một lúc. Mười sáu tay súng bắn tỉa hoặc hơn. sẽ là cần thiết và có thể thực hiện được.”

Schlütter không biết có sĩ quan cảnh sát nào bị trừng phạt hay khiển trách vì thiếu năng lực sau thảm họa Munich. Điều này cho thấy tốc độ các quan chức Bavaria và Munich xích lại gần nhau để tránh bị đổ lỗi sau vụ thảm sát Fürstenfeldbruck.

Ngay cả Schreiber cũng đã có vẻ cực lực loại bỏ vai trò của mình. “Tôi phải nhấn mạnh một lần nữa rằng khu vực hành động tại Fürstenfeldbruck chủ yếu được giao cho Tiến sĩ Wolf và Baumann [cánh tay phải của Wolf] để chuẩn bị và thực hiện.”

Những hồ sơ mới được công bố đã xác nhận nhiều tin đồn mà Ankie đã nghe về chiến dịch “giải cứu” tại sân bay Fürstenfeldbruck. “Thật khó tin là… họ chỉ có 5 tay súng bắn tỉa, trong khi lại có 8 tên khủng bố, thay vì có 500 tay súng thiện xạ ở đó để cố gắng kết thúc vụ bắt cóc con tin này,” Ankie nói với vẻ ghê tởm. “Họ không có thiết bị hồng ngoại để nhìn trong bóng tối. Họ không có bộ đàm…” Giọng bà ấy nhỏ dần vì phẫn nộ.

Hành vi của cảnh sát Đức cũng khiến Ankie Spitzer và những người thân khác khó chịu, họ đặc biệt bị sốc khi 17 cảnh sát được cho là sẽ giăng bẫy những tên khủng bố trên chiếc máy bay Lufthansa 727 tại Fürstenfeldbruck “lại cuối cùng rời bỏ máy bay”. Ankie vẫn không thể tin rằng cảnh sát Đức vẫn tiếp tục kế hoạch giải cứu con tin sau khi thủ lĩnh khủng bố Issa và phó tướng Tony tiếp cận chiếc 727 và phát hiện không có phi công hay tiếp viên hàng không nào trên máy bay.

“Tại sao phải tiếp tục? Tại sao phải tiếp tục?” Ankie hỏi một cách giận dữ. “Liệu người Đức có thực sự muốn cứu họ không?

Đó là câu hỏi của tôi. Liệu họ có thực sự muốn giải quyết vấn đề này hay chỉ muốn đưa toàn bộ vấn đề ra khỏi Làng Olympic, tránh xa khỏi sự chú ý của thế giới? Và rồi mặc.kệ điều gì sẽ xảy ra ở sân bay …Vâng, thật tồi tệ.”

Nhiều người thân, thậm chí một số quan chức Đức, cáo buộc rằng cảnh sát đã bị các quan chức Olympic gây sức ép buộc phải hành động chống lại những kẻ khủng bố vì họ không muốn vụ tấn công làm hỏng sự kiện Vận hội “vì Hòa bình và Niềm vui” của họ.

Avery Brundage đã nói với chính quyền Bavaria rằng cuộc khủng hoảng phải được giải quyết. “Avery Brundage muốn giải quyết nó và chấm dứt nó, điều này là rõ ràng”, Walther Tröger, lúc đó là thị trưởng Làng Olympic và là tổng thư ký của Ủy ban Olympic Quốc gia Tây Đức, cho biết.

Hàng ngàn tập tin và tài liệu mà người thân thu thập được xác nhận nhiều tin đồn về vụ thảm sát đã vẽ nên một bức tranh đáng kinh ngạc về phản ứng của Đức trước vụ tấn công Tháng Chín Đen. Hồ sơ chứng minh rằng David Berger, đô vật người Mỹ gốc Israel, đã không chết khi bọn khủng bố bắn trên trực thăng tại Fürstenfeldbruck, mà thay vào đó là chết ngạt trong đám cháy sau đó.

Gia đình Berger, những người đã mất đi một người con trai, giờ đây đã phải chịu đựng nỗi đau khi biết rằng nếu cảnh sát Đức hành động nhanh hơn khi chiếc trực thăng đầu tiên bốc cháy, nhanh chóng dập tắt đám cháy, mạng sống của anh hẳn có thể được cứu. Tuy nhiên, vận động viên trẻ đã bị chết ngạt vì khói độc.

Có lẽ còn đáng kinh ngạc hơn nữa, Ankie Spitzer tin rằng các hồ sơ cho thấy một hoặc có thể là hai con tin Irael  thực sự đã bị giết bởi hỏa lực bắn tỉa của Đức chứ không phải bởi bọn khủng bố: “Theo các báo cáo về đạn đạo mà tôi đã xem, họ đã bị giết bởi hỏa lực của cảnh sát Đức. Không phải cố ý, tôi không nói vậy, mà là bắn nhầm.”

Người Palestine chắc chắn không ngần ngại nêu ra khả năng người Đức đã giết một số con tin. Khi được hỏi trực tiếp về cái chết của các vận động viên Israel, Jamal Al-Gashey trả lời một cách bí ẩn: “Khó mà nói được. Khi các tay súng bắn tỉa nổ súng vào những người chỉ huy chiến dịch và thình lình họ bật đèn lên, những viên đạn bay đến từ mọi hướng, và chúng tôi đã bắn trả.”

Abu Daoud, thủ lĩnh đã cử Al-Gashey đi tấn công, cũng đồng thanh nói: “Ai thực sự giết các vận động viên và ai thực sự giết các du kích, làm sao mà biết được sau ngần ấy thời gian? Đạn bay khắp nơi, do những người đấu tranh cho tự do và lính Đức bắn ra.”

Ngay khi toàn bộ sự che đậy của Đức bị phơi bày, thân nhân đã đến gặp một công ty luật ở Munich và hỏi liệu họ có đủ cơ sở để khởi kiện chính quyền Đức và Bavaria hay không. Các luật sư xác nhận là có. “Tất nhiên chúng tôi quyết định khởi kiện”, Ankie nói. “Các tài liệu cho thấy thất bại này nghiêm trọng đến mức nào, những sai lầm khủng khiếp đã xảy ra.”

Tuy nhiên, nhà nước Đức vẫn cố gắng cản trở hoạt động của họ. Tại Munich,

Tòa án bác bỏ vụ kiện vì thời hiệu khởi kiện là ba năm. Không có gì ngạc nhiên khi các gia đình vô cùng phẫn nộ. “Chúng tôi nói, ‘Làm sao các ông, ngay cả khi đã có thời hiệu khởi kiện, lại có thể bác bỏ vụ kiện của chúng tôi sau khi đã che giấu tất cả tài liệu trong suốt hai mươi năm?'”

Các gia đình đã kháng cáo với lý do người Đức đã kích động một chiến dịch che đậy, thông tin sai lệch và lừa dối quy mô lớn để ngăn chặn các gia đình và thế giới bên ngoài

nắm rõ chi tiết đầy đủ về vụ tấn công Munich. Luật sư của người thân cho biết thời hiệu khởi kiện nên được tính từ thời điểm họ nhận được tài liệu. “Và trong khoảng thời gian đó, chúng tôi đã nộp đơn kiện”, Ankie nói.

Vụ án đã bị tòa án Munich ném ra ngoài, vì vậy các gia đình đã đi đến một tòa án cấp cao hơn của Bavaria, nơi mà vụ án của họ vẫn còn được xử sau gần ba thập kỷ. Thân nhân đâm đơn kiện Cộng hòa Liên bang Đức, Bang tự do Bavaria và thủ phủ vùng Munich vì quản lý yếu kém và sai trái tại Fürstenfeldbruck.

“Chúng tôi rất lạc quan rằng cuối cùng mọi điều vô nghĩa, mọi chi tiết về thời hiệu sẽ bị loại bỏ và mọi người cuối cùng sẽ bắt đầu tập trung vào những gì thực sự đã xảy ra”, Ankie kết luận. “Đối với chúng tôi, sự thật đã rõ ràng. Mười một vận động viên Israel đã

bị giết trên đất Đức … dưới sự giám sát của chính quyền Đức bởi những kẻ khủng bố Palestine … ai đó phải chịu trách nhiệm

…. về những gì đã xảy ra ở đó và chúng tôi đang chờ đợi điều này xảy ra và tôi hoàn toàn tin rằng một ngày nào đó chúng tôi sẽ có được câu trả lời.”

Nhiều luật sư tin rằng thân nhân có một vụ kiện xuất sắc chống lại chính quyền Đức. Pinchas Zeltzer vẫn lặng lẽ tự tin: “Đó là một vụ án phức tạp là vì họ không chỉ bất tài mà còn làm rất nhiều điều sai trái, nói chung đó là đó là sự tắc trách nghiêm trọng.”

Vụ án kéo dài nhiều năm và có thể sẽ còn kéo dài thêm nhiều năm nữa. Zeltzer tin rằng các gia đình sẽ không bao giờ từ bỏ cuộc đấu tranh. “Tôi nghĩ điểm chính là các gia đình muốn biết sự thật.” Việc bồi thường tài chính cũng đang được thảo luận. “Các gia đình đã bị phá vỡ, về mặt tài chính, về mặt kinh tế, và dĩ nhiên là về mặt đạo đức. Không ai có thể trả lại sự sống, nhưng luật pháp có một số công cụ để đánh giá cách bồi thường cho một người đã mất cha, một người đã mất chồng. Và đây là một điểm rất cơ bản… Đây là lý do tại sao các gia đình phải vật lộn lâu như vậy cho vụ kiện này.”

Một kết thúc có thể đang ở trong tầm mắt đối với những người thân đang tiếp tục chiến đấu chống lại sự che đậy của Đức. Ngay cả nhiều quan chức cấp cao và sĩ quan cảnh sát Đức tham gia chiến dịch giải cứu người Israel giờ đây đã sẵn sàng thừa nhận rằng đó là một mớ hỗn độn hoàn toàn. Heinz Hohensinn là một trong những sĩ quan ban đầu được giao nhiệm vụ tấn công tòa nhà số 31 đường Connollystrasse và giải cứu người Israel, và sau đó là một trong những sĩ quan đã rời bỏ chiếc Boeing đậu tại Fürstenfeldbruck. “Những điểm yếu lúc đó chắc chắn là do quá trình huấn luyện của chúng tôi và chất lượng của trang thiết bị kỹ thuật. Việc huấn luyện của chúng tôi về chống khủng bố vào thời điểm đó hoàn toàn không đủ, nếu không muốn nói là không có. Ngày nay, cả huấn luyện lẫn trang thiết bị đều ở một trình độ hoàn toàn khác.”

Hohensinn chỉ ra rằng hiện nay có những đơn vị, chẳng hạn như GSG-9, hầu như chỉ tồn tại để giải cứu con tin và đánh bại chủ nghĩa khủng bố. “Đã có những phát triển và sản xuất liên tục các thiết bị kỹ thuật đặc biệt chuyên chống khủng bố”, ông nói thêm. “Hiện nay có súng chính xác, súng hồng ngoại và lựu đạn gây mù. Tôi chắc chắn tình hình ngày nay sẽ khá khác.”

Ulrich Wegener, người sáng lập GSG-9, tất nhiên sẽ đồng ý. Ông mô tả cách Đức xử lý cuộc khủng hoảng Munich là “một trong những sai lầm lớn nhất mà chính phủ Đức đã mắc phải vào thời điểm này.” Nó phải ông nói thêm một cách chắc nịch, “không được để xảy ra lần nữa.”

Người thân của các vận động viên Israel đã phải chịu đựng vô vàn đau khổ kể từ năm 1972. Nhưng họ không đơn độc. Những vết thương từ vụ Munich vẫn còn hằn sâu. Ngay cả gia đình của Ahmed Bouchiki, một bồi bàn người Maroc vô tội bị các điệp viên Israel sát hại ở Na Uy, cũng đã phải chờ đợi hàng thập kỷ để được thực thi công lý. “Nói một cách nhẹ nhàng, việc Israel giết một người vô tội không chỉ là một giả định. Một tòa án Na Uy đã xác lập điều này, nhưng Israel đã không đối mặt với nó,” Björn Tore Godal, Bộ trưởng Ngoại giao Na Uy, đã nói vào năm 1996.

Vậy mà Israel đã từ chối nhận trách nhiệm đạo đức về cái chết của ông. “Israel sẽ không bao giờ nhận trách nhiệm, vì Israel không phải là một tổ chức giết người”, Thủ tướng Israel Shimon Peres đáp trả một cách thách thức. “Là một quốc gia chúng tôi không bao giờ tự nhận hành động, chúng tôi sẽ không bao giờ tham gia vào việc giết chóc hoặc nhận trách nhiệm nếu có ai đó buộc tội chúng tôi giết người.”

Tuy nhiên, các chính trị gia Israel khác lại cởi mở hơn. “Na Uy là một quốc gia thân thiện. Bouchiki không phải là khủng bố. Chúng tôi giết nhầm anh ta. Do đó, chúng tôi nên bồi thường, miễn là đơn yêu cầu bồi thường được nộp một cách thích hợp”, Shulamit Aloni, Bộ trưởng Truyền thông Israel, đồng thời là quan chức cấp cao nhất từng thừa nhận Israel phải chịu trách nhiệm về vụ việc, cho biết.

Năm 1996, Israel cuối cùng đã đồng ý đàm phán với góa phụ Turil Larsen Bouchiki và cô con gái 22 tuổi Malika về một thỏa thuận tài chính vẫn chưa được tiết lộ. “Sau 23 năm, đã đến lúc phải trả nợ”, Michael Shiloh, đại sứ Israel tại Na Uy, cho biết.

Nhưng chính chiến dịch do người thân của các vận động viên Israel tiến hành chống lại chính quyền Đức mới thực sự là một cuộc chạy marathon. Mãi đến tháng 6 năm 1998, chính phủ Đức mới nhượng bộ và gạt bỏ thời hiệu khởi kiện để vụ án được tiếp tục. Các chính trị gia cấp cao của Đức đã đích thân đảm bảo với Ankie Spitzer rằng đã đến lúc, một lần và mãi mãi, vụ án phải được giải quyết.

“Tôi muốn những người vô trách nhiệm phải đối mặt với sự thật, phải chịu trách nhiệm. Nếu chúng ta không rút ra bài học từ sai lầm của mình, chúng ta sẽ phải lặp lại chúng”, Ankie Spitzer nói. “Tôi không muốn tiền, tôi không muốn trả thù, tôi chỉ muốn sự thật được biết đến.”

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cho bộ phim tài liệu “Một Ngày Trong Tháng Chín”, rõ ràng các quan chức Đức vẫn quyết tâm che giấu sự thật. Tài liệu và hồ sơ vẫn còn bị che giấu khỏi người thân. “Có một số tài liệu mà chúng tôi chưa nhận được”, Zeltzer Pinchas xác nhận.

Một số bằng chứng còn thiếu được cho là xác nhận rằng đơn vị Tháng Chín Đen đã nhận được sự hỗ trợ từ phái đoàn Olympic Đông Đức trước khi họ tấn công. Một thành viên trong đoàn đàm phán Đức hiện đã tuyên bố rằng ông tin Đông Đức có liên quan, đánh dấu lần đầu tiên một chính trị gia cấp cao của Đức đưa ra tuyên bố như vậy.

Việc che đậy cũng mang một hình thức trực tiếp hơn. Ngay cả bây giờ, gần 30 năm sau vụ thảm sát ở Fürstenfeldbruck, các bức ảnh đã biến mất khỏi hồ sơ, các tài liệu đã biến mất và các quan chức có mặt tại Làng Olympic và Fürstenfeldbruck đã bị dụ dỗ hoặc thậm chí bị đe dọa và được lệnh không được nói về vụ thảm sát.

Ví dụ, trong quá trình điều tra cho bộ phim tài liệu, người ta đã đưa tin rằng một trong những phi công bị thương do “hỏa lực phe ta” ở Fürstenfeldbruck đã được một quan chức cấp cao Đức viếng thăm trong  bệnh viện và được trao tặng huân chương dũng cảm với điều kiện nghiêm ngặt là anh không bao giờ được nói công khai hoặc với báo chí về những gì đã xảy ra. Gần đây hơn, một số cảnh sát Đức đã bị đe dọa sẽ mất quyền lợi lương hưu nếu họ tiết lộ sự việc với đoàn làm phim “Một Ngày TrongTháng Chín”.

Cảnh sát Đức duy nhất có mặt tại Fürstenfeldbruck đồng ý trả lời phỏng vấn là Heinz Hohensinn. Hohensinn không có lương hưu cảnh sát, nên những lời đe dọa bịt miệng ông đã thất bại.

Nhưng bằng chứng đáng kinh ngạc nhất về mức độ nghiêm trọng mà chính quyền Đức và Bavaria đã sa vào trong nỗ lực liên tục che đậy liên quan đến một bộ phim do các quan chức tại Fürstenfeldbruck thực hiện vào đêm ngày 5 tháng 9 năm 1972, dường như để ghi hình lại chính xác những gì đang xảy ra.

Các nguồn tin tiếp xúc trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu Một Ngày Trong Tháng Chín cho biết bộ phim ở Fürstenfeldbruck cuối cùng đã tiết lộ chính xác chính sự bất tài của chính quyền Bavaria đã dẫn đến cái chết của chín vận động viên Israel và một cảnh sát Đức.

Kể từ vụ thảm sát, chính quyền Đức, cả liên bang và Bavaria, đã tuyên bố rằng 17 sĩ quan cảnh sát Đức bố trí trên chiếc Boeing 727 của Lufthansa tại

Sân bay chỉ là phương án dự phòng trường hợp bọn khủng bố bằng cách nào đó lên được máy bay. Tuy nhiên, điều hiện đã được biết là họ thực sự đóng vai trò then chốt trong chiến dịch giải cứu.

Các nhà đàm phán Đức đã đồng ý với Issa, thủ lĩnh khủng bố, rằng hắn và phó tướng Tony sẽ đi bộ từ trực thăng đến chiếc Boeing và kiểm tra xem họ có hài lòng với chiếc máy bay hay không. Các cuộc điều tra mới đã tiết lộ rằng các sĩ quan trên máy bay 727 được giao nhiệm vụ bắt giữ hai tên khủng bố, và năm tay súng bắn tỉa tại sân bay sau đó được giao nhiệm vụ tiêu diệt những tên khủng bố còn lại vẫn đứng gần trực thăng.

Tuy nhiên, như đã được trình bày, hoạt động này đã bị hỗn loạn vì các sĩ quan trên máy bay quyết định nhiệm vụ của họ quá nguy hiểm và biểu quyết rời khỏi máy bay chỉ vài giây trước khi bọn khủng bố và con tin hạ cánh.

Kế hoạch giải cứu của Đức sau đó sụp đổ và năm tay súng bắn tỉa được lệnh tiêu diệt tám tên khủng bố, hai trong số chúng đã nhanh chóng quay trở lại trực thăng. Một cuộc tắm máu đã xảy ra.

Bộ phim được quay tại sân bay được cho là đã ghi lại toàn bộ hoạt động. Tuy nhiên, các cuộn phim chính đã biến mất và một số quan chức Đức đã phủ nhận sự tồn tại của bộ phim.

Nhưng bộ phim Fürstenfeldbruck thực sự tồn tại. Trích đoạn đã được trình chiếu cho các binh sĩ chống khủng bố Đức thuộc đơn vị GSG-9 trong quá trình huấn luyện (như một phản ví dụ về cách giải cứu con tin), và trong quá trình thực hiện bộ phim tài liệu “Một Ngày Trong Tháng Chín”, một thành viên cấp cao của BND (cơ quan tình báo Đức tương đương với CIA hoặc MI6), đã bất hợp pháp đề nghị cung cấp một bản sao của bộ phim. Ông ta đòi một khoản hối lộ lớn, nhưng bị từ chối.

Những nỗ lực che đậy sự tồn tại của bộ phim Fürstenfeldbruck đã dẫn đến nhiều hành vi tội phạm hơn nữa mà chính phủ Đức và Bavaria nên và phải điều tra.

Khi các công tố viên liên bang Đức ở Bonn yêu cầu chính quyền Bavaria  cung cấp một danh sách hồ sơ, bằng chứng liên quan đến vụ thảm sát – như một phần của cuộc điều tra mới về cuộc khủng hoảng được thúc đẩy bởi vụ kiện của các thân nhân – họ được hứa sẽ nhận được sự hợp tác toàn diện. Chính quyền Bavaria đã thu thập và gửi hàng chục tập tin, thư mục và ảnh cho các luật sư ở Bonn. Trên hóa đơn vận chuyển có ghi chú về bộ phim được sản xuất tại Fürstenfeldbruck. Khi lô hàng đến Bonn, bộ phim là món đồ duy nhất bị mất.

Các nguồn tư pháp Đức cho rằng đây gần như chắc chắn là một hành vi phạm tội trộm cắp có thể bị truy tố hình sự hoặc làm sai lệch tiến trình công lý. Gần 30

năm sau vụ thảm sát, các quan chức cấp cao của Bavaria vẫn tiếp tục dùng đến thủ đoạn gian trá trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm che giấu những thất bại của họ vào năm 1972.

Các công tố viên liên bang ở Bonn đã hứa sẽ điều tra vụ trộm nhưng tại thời điểm viết bài này vẫn chưa đạt được tiến triển gì đáng kể. Chưa từng có một cuộc điều tra đầy đủ nào về sự liên quan của Đông Đức trong vụ tấn công năm 1972, bất chấp lời khẳng định của một thành viên trong nhóm đàm phán của chính phủ Đức cho rằng các điệp viên của nhà nước cộng sản có tội và hiện có lẽ đang tự do đi lại ở nước Đức thống nhất.

Kết luận không thể tránh khỏi của hành động che đậy kéo dài 30 năm này là các sĩ quan Đức đã quá e ngại mạo hiểm mạng sống của mình vì một nhóm người Do Thái, và các nhân vật cấp cao trong các chính phủ Đức và Bavaria liên tiếp sợ tiết lộ tình tiết thực sự vì sợ rằng Đức sẽ một lần nữa bị cáo buộc có tư tưởng bài Do Thái một cách có hệ thống.

Lời bạt

Vào một cuối tuần lạnh giá và mưa tầm tã tháng 8 năm 2002, gần ba thập kỷ sau vụ thảm sát tại “Thế vận hội Hòa bình và Niềm vui”, hàng trăm cảnh sát Đức được trang bị vũ khí hạng nặng đã túc trực tại các vị trí xung quanh Làng Olympic cũ ở Munich. Các tay súng bắn tỉa theo dõi những kẻ khủng bố tiềm năng trong khi ba chiếc trực thăng cảnh sát lượn lờ trên cao.

An ninh ngột ngạt được thiết kế để bảo vệ, trong chuyến đi đầy cảm xúc đến thành phố, 25  người thân của người Israel thiệt mạng trong vụ thảm sát Munich, cũng như đội tuyển điền kinh Israel tại Giải vô địch điền kinh châu Âu năm 2002, vốn đang diễn ra tại chính khu liên hợp Olympic cũ này. Các vệ sĩ cũng bảo vệ 17 thành viên của đội tuyển điền kinh Israel trong thời gian họ ở trong cùng khu nhà nơi những người đồng hương của họ bị bắt làm con tin trong Thế vận hội Munich.

Nhiều vận động viên Israel cảm thấy khó khăn khi đến Munich, nhưng họ cho biết việc tham gia giải vô địch là một cử chỉ mang tính biểu tượng quan trọng. “Bạn cảm thấy rùng mình khi nhắm mắt lại và nghĩ về những điều khủng khiếp đã xảy ra”, vận động viên chạy đường dài Nili Abramski nói. “Nhưng chúng tôi phải đến và chứng minh rằng ngay cả những điều khủng khiếp nhất cũng không thể ngăn cản chúng tôi.” Abramski chạy 10.000 mét với số “72” được tô son xanh ở một lòng bàn tay và số “11” ở lòng bàn tay kia. Móng tay cô được sơn xanh và trắng, màu quốc kỳ Israel.

Ít ai nghĩ rằng người Israel có cơ hội giành huy chương, nhưng vào thứ bảy, ngày 10 tháng 8, Abramski và thân nhân của những nạn nhân năm 1972 đã theo dõi và reo hò khi vận động viên nhảy sào người Israel Alex Averbukh vượt qua độ cao 5,85 mét (19,2 feet) để giành huy chương vàng, lần đầu tiên Israel giành được tại một giải vô địch điền kinh lớn.

Gần 7 giờ tối hôm đó, 20.000 người hâm mộ thể thao, chủ yếu là người Đức, đã bất chấp mưa phùn và chờ đợi để vinh danh  Averbukh. Đám đông đứng dậy khi giai điệu tuyệt đẹp của quốc ca Israel, Hatikvah, vang lên khắp Sân vận động Olympic và Ngôi sao David được kéo lên cho nhà vô địch mới.

Lần cuối cùng họ được nghe quốc ca đó tại sân vận động là trong lễ tưởng niệm Olympic dành cho những người Israel thiệt mạng 30 năm trước. Nỗi đau đớn tột cùng vẫn còn quá lớn đối với nhiều người có mặt. Averbukh cố giữ bình tĩnh một lúc, rồi gục xuống và khóc.

Có nhiều cảm xúc u buồn hơn vào sáng hôm sau, khi đội Israel tham gia cùng thân nhân những đồng đội cũ của họ tại một buổi lễ tưởng niệm bên cạnh một đài tưởng niệm bằng đá dành cho các nạn nhân năm 1972 trên Cầu Hanns Braun ảm đạm, nối Làng Olympic cũ ở Munich với Sân vận động Olympic. Một lá cờ Israel được treo trên đài tưởng niệm và mười một ngọn nến được thắp sáng giữa những vòng hoa tươi. Những bài phát biểu của người thân và quan chức đã khơi dậy cảm xúc, những bài hát làm dịu đi bầu không khí nặng nề, và sau đó là một phút mặc niệm để mọi người đắm chìm trong những suy tư.

Trong khi người thân cầu nguyện và tưởng nhớ, cảnh sát Đức nắm chặt tay súng trong lo lắng. Không giống như trước đây, giờ đây không còn gì phó mặc cho số phận. Các quan chức Đức đã quá lo lắng về những điều có thể xảy ra với người thân hoặc đội tuyển đến nỗi họ đã bố trí lính gác vũ trang đến khu vực và phong tỏa các con đường dài ba dặm theo mỗi hướng.

Khi những người thân đi về phía số 31 Connollystrasse, tòa nhà nơi họ mất đi những người bạn, người chồng, người cha, người ông, một đội cảnh sát an ninh đã dùng chăn phủ lên hai lá cờ Palestine treo trên tường một tòa nhà chung cư bên cạnh. “Nếu những nhân viên an ninh này có mặt ở đó 30 năm trước”, Ilana Romano, góa phụ của vận động viên cử tạ Yossef Romano, nói, “thì chúng tôi đã không có mặt ở đây ngày hôm nay”.

Với cảm xúc dâng trào đến tột độ, những người thân sau đó được đưa đến sân bay Fürstenfeldbruck. Xe của họ dừng lại gần địa điểm mà những chiếc trực thăng đã hạ cánh vào năm 1972. “Tôi rất mừng vì trời mưa”, Ankie Spitzer nói. “Nó giúp tôi không khuỵu gối xuống.”

Trong khi các gia đình vẫn sống với mất mát của họ, ở Munich thời gian đã chữa lành những ký ức đau buồn của năm 1972. “Thế vận hội ’72 không phải là gánh nặng tâm lý nặng nề ở đây”, Tiến sĩ Armin Nassehi, một giáo sư xã hội học tại Munich cho biết, “bởi vì người Đức từ lâu đã thừa nhận rằng thế giới không phải là nhà búp bê.” Có lẽ người Đức đã quen với những vết thương về thể xác và tinh thần. Thành phố, cũng như đất nước, đã có thể tồn tại và thịnh vượng sau những năm 1940, bất chấp trách nhiệm quốc gia về một cuộc chiến đã giết chết hàng chục triệu người. Người Đức cũng buộc phải đối mặt với chủ nghĩa khủng bố nội địa sau năm 1972. Phe Hồng quân Đức (RAF) đã phát động một chiến dịch giết người ngay sau Thế vận hội Munich, bắt cóc,

và giết chóc, cướp máy bay, đánh bom, cho đến khi một cuộc đấu súng năm 1993 tiêu diệt những thành viên cuối cùng của nhóm. Vào tháng 9 năm 1980, trong khi RAF tiến hành chiến dịch khủng bố, một kẻ đánh bom đơn độc ở Munich đã giết chết 10 người tại lễ hội bia Oktoberfest nổi tiếng mà nguyên nhân vẫn chưa được hiểu rõ.

Bên ngoài số 31 phố Connollystrasse, một tấm bảng đơn giản được dựng lên để tưởng nhớ những người Israel đã ngã xuống. Bốn ngàn người xung quanh các khu chung cư, bao gồm những gì từng là Làng Olympic, đã trở thành những căn hộ được chăm sóc chu đáo cho các gia đình, sinh viên và người nhập cư Đức. Viện Max Planck, một tổ chức nghiên cứu khoa học lớn, sở hữu lối vào và căn hộ nơi Yossef Romano và Moshe Weinberg bị sát hại, và sử dụng nó làm nơi ở cho các nhà khoa học và nhân viên hợp đồng. Bên ngoài, một tấm biển nhỏ ghi dòng chữ “Vui lòng tôn trọng quyền riêng tư của khách chúng tôi” được dựng lên cho các du khách thường xuyên yêu cầu được xem nơi người Israel bị giết và bị bắt làm con tin.

Người thân đã trở về nhà trước lễ kỷ niệm 30 năm vụ tấn công Munich, nhưng vài ngày sau ngày 5 tháng 9 năm 2002, chính phủ Đức đã có hành động sám hối cuối cùng: các quan chức đã bồi thường gần 3 triệu đô la cho thân nhân các vận động viên và quan chức Israel bị sát hại. Trước đó, các gia đình đã yêu cầu lời xin lỗi và 29 triệu đô la từ chính quyền Đức. Otto Schily, Bộ trưởng Nội vụ Đức, đã công bố khoản thanh toán khi đứng gần hiện trường vụ thảm sát tại sân bay Fürstenfeldbruck, nhưng sau đó nói thêm: “Đây không phải là lời thừa nhận tội lỗi. Đây là một cử chỉ nhân đạo.”

Ý kiến ​​của Schily bị Pinchas Zeltzer, luật sư đại diện cho 11 gia đình.mô tả là “vô nghĩa”. “Nếu bạn không phải trả tiền, bạn không thể trả đến hàng triệu,” Zeltzer nói. “Trả tiền là thừa nhận tội lỗi. Bạn không thể nói rằng đó chỉ vì họ thích chúng ta.”

Khoản tiền bồi thường này đã khép lại vụ kiện kéo dài, nhưng chưa khép lại chiến dịch đòi công lý của họ. Các quan chức Đức vẫn chưa công khai xin lỗi về phản ứng vụng về của họ đối với cuộc khủng hoảng con tin. “Chúng tôi chỉ muốn ai đó đứng lên và nói rằng chúng tôi đã phạm sai lầm”, Ankie Spitzer nói. “Dù chuyện đó đã xảy ra cách đây ba mươi năm.” Những gì các gia đình thực sự mong muốn là phải có ai đó chịu trách nhiệm cho vụ thảm sát: “Ba mươi năm sau, chưa một ai phải ra hầu tòa vì tội giết hại mười một vận động viên vô tội trên truyền hình quốc tế”, Spitzer nói. “Điều đó hẳn phải khiến ai đó khác ngoài chúng tôi phải bận tâm.”

Chắc chắn, sau 30 năm, không ai khác, kể cả những người Israel trừ các thân nhân, còn quan tâm nghiêm túc đến sự cố bị thảm ở Munich. Đối với một quốc gia,  lời xin lỗi hóa ra nặng nề hơn số tiền phải bồi thường.

Không chỉ là nước Đức là nước duy nhất tránh né việc xin lỗi công khai và chính thức. Lấy ví dụ nước Mỹ, một quốc gia mới thành lập trên vùng đất mà người Da Đỏ đã làm chủ trên cả ngàn năm, chiếm đất, tàn sát và đồng hóa họ dưới sự cai trị của mình. Chỉ đến năm 2009, Quốc hội mới ban hành một nghị quyết xin lỗi vì nhiều tình huống bạo lực, đối xử bất công và bỏ bê đối với số phận người bản địa. Nhưng không có tổng thống nào đứng ra xin lỗi công khai trong một buổi lễ. Đặc biệt, với sự kiện cụ thể Wounded Knee (1890), vào năm 1990, Quốc Hội cũng thông qua một nghị quyết bày tỏ “sự hối tiếc sâu sắc” vì đã thảm sát hàng trăm đàn ông, phụ nữ, và trẻ em Lakota tại Wounded Knee. Dù không phải là sự xin lỗi đầy đủ, thì đó cũng là một nhìn nhận liên bang có ý nghĩa.

Gần đây hơn, nhưng trước vụ Munich 4 năm, là sự kiện Cuộc Thảm sát Mỹ Lai vào ngày 16/3/1968, trong đó trong một trận càn quét một mật khu Việt Công, lính Mỹ đã tàn sát hàng trăm dân làng người Việt, chủ yếu người già, phụ nữ và trẻ em. Vụ việc được giấu nhẹm, nhưng một phóng viên đã vạch trần và đưa các sĩ quan và binh sĩ ra tòa án binh. Kết quả chỉ có Trung úy William Calley bị kết án tù chung thân vì đã giết 22 thường dân, nhưng giảm chỉ còn ở tù 3,5 năm.

Tổng thống Mỹ Nixon lúc đó bày tỏ nỗi khủng khiếp và ghê tởm trước sự kiện, nhưng Nhà Trắng coi đây là một hành động lầm lạc, mang tính cá nhân không đúng chuẩn mực của Quân đội Hoa Kỳ nên không phải điều mà Chính phủ phải xin lỗi.

Tuy nhiên, vào năm 2009 Đại tá quân đội Hoa Kỳ Barry Huggins, chỉ huy Lữ đoàn bộ binh 198, đã đến thăm đài tưởng niệm Mỹ Lai. Tại đây, ông phát biểu, “Chúng tôi cầu mong người dân Việt Nam sẽ tha thứ cho chúng tôi vì những sai lầm đã xảy ra ở đây.” Ông cũng bày tỏ “sự hối tiếc sâu sắc về những sự kiện bi thảm và đau thương này.”

Về phần tội phạm chính,  William Calley, cũng vào năm 2009, cùng năm với Đại tá Huggins đến thăm, Calley đã đưa ra  một lời phát biểu công khai của chính mình: “Không một ngày nào đi qua mà tôi không cảm thấy ân hận về những gì đã xảy ra ngày hôm đó ở Mỹ Lai… Tôi rất xin lỗi.”

Trong chiến tranh biết bao nhiêu hành động sai sót, dù của phía chính nghĩa, đã dẫn đến sự thảm sát tàn khốc những thường dân vô tội mà có ai bị khiển trách, ra tòa hoặc xin lỗi gì đâu. Nổi bật nhất là trận ném bom của Không lực Mỹ-Anh trong Thế Chiến II vào Dresden, một thị trấn của Đức Quốc xã, đã giết chết hơn 20.000 dân thường.

So với các vụ thảm sát kể trên và nhiều vô số vụ khác, thì sự kiện Munich không đến nỗi quá nổi bật. Suy cho cùng đó không phải lỗi hoàn toàn của người Đức. Đó là hậu quả của cuộc xung đột dai dẳng và khốc liệt của Israel và Palestine mà Palestine đã mang vào đất Đức. Người phải bị ra tòa hoặc xin lỗi chính là các giới lãnh đạo Palestine. Nhưng họ còn lâu mới làm việc đó. Nhưng ta không trách họ vì ngay cả người Israel, đối thủ của họ, cũng gây ra bao nhiêu cái chết oan ức cho những người vô tội xui xẻo ở gần hay bị tưởng lầm là các mục tiêu ám sát, điển hình là vụ Lillehammer, mà Mossad hay nhà nước Do Thái có đưa ra lời xin lỗi nào đâu.

Không ít người, ngay cả công dân Israel, trước những phát biểu của Ankie Spitzer với những đòi hỏi ngoan cố và quá đáng của mình, đã chuyển từ sự đồng cảm sâu sắc thành sự phản cảm thờ ơ trước sự kiện Munich.

Trong 30 năm mà các thân nhân các nạn nhân vụ Munich 1972 đang kêu gào đòi công lý và bồi thường, có biết bao nhiêu vụ thảm sát và trả thù giữa hai bên đã xảy ra và kéo theo là biết bao nhiêu nạn nhân vô tội “ngoài dự kiến” đã chết tức tưởi trong câm lặng.

Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ của Chúa của Israel vẫn là ví dụ điển hình của một “chiến dịch ám sát có chủ đích” Sau sự kiện 11/9, chính quyền Hoa Kỳ hiện đang theo đuổi một chương trình nghị sự tương tự. Nhưng liệu đó có phải là phương pháp hiệu quả nhất để ngăn chặn chủ nghĩa khủng bố? Thực tế, liệu các vụ ám sát cấp nhà nước có bao giờ được chấp nhận?

Vào giờ ăn trưa ngày 30 tháng 7 năm 1997, hai kẻ đánh bom liều chết

đã kích nổ chất nổ tại khu chợ Mahane Yehuda đông đúc ở Jerusalem. Mười sáu người mua sắm đã thiệt mạng và 178 người khác bị thương trong vụ thảm sát. Đáp lại, nội các Israel đã họp vào cuối ngày hôm đó và đồng ý cho phép một chiến dịch ám sát các thủ lĩnh của tổ chức Hamas của Palestine, lực lượng bị cáo buộc chịu trách nhiệm về vụ tấn công và nhiều vụ đánh bom khác.

Ba tuần sau, Danny Yatom, người đứng đầu Mossad, đã gặp thủ tướng Israel lúc bấy giờ là Benjamin Netanyahu và đề xuất nhiều mục tiêu khác nhau. Netanyahu đã đổ lỗi cho các thủ lĩnh Hamas sống tại Damascus, Syria, về việc phát động các cuộc tấn công ném bom chống lại Israel, nhưng ông ta cảnh giác với việc cử các điệp viên thực hiện nhiệm vụ ám sát ở Syria, dường như vì lo ngại họ sẽ bị bắt. Thay vào đó, lệnh ban ra nhắm vào Khaled Mashaal. chỉ huy Hamas khá ôn hòa ở Amman, Jordan, một quốc gia mà Israel có quan hệ hữu nghị.

Vào giữa tháng 9, hai đặc vụ Mossad, mang hộ chiếu Canada, được xác định là Barry Beads, 36 tuổi, và Shawn Kendall, 28 tuổi, đã đến Amman và thuê phòng tại Khách sạn Intercontinental. Sáng ngày 25 tháng 9, khi Mashaal đến cổng vào của trụ sở Hamas tại Trung tâm Shamiyyeh ở Amman, một thanh niên nhảy xổ về phía ông và dí một thiết bị to bằng khẩu súng nhỏ vào sau đầu, ngay bên tai trái. “Toàn thân tôi run lên và tôi biết mình đang bị ám sát”, Mashaal nói.

Nhưng chẳng có viên đạn nào chờ đợi Mashaal. Mang trên mình bộ đồ bảo hộ, đặc vụ Mossad đã bắn một chất độc thần kinh xuyên qua da Mashaal bằng một loại vũ khí ám sát chưa từng được biết đến trước đó. Sau đó, hắn quay lại bỏ chạy cùng một đồng phạm đứng gần đó. Khi các đặc vụ Mossad chạy về phía xe tẩu thoát, vệ sĩ của Mashaal, Mohammed Abu Seif, một chuyên gia võ thuật, đã đuổi theo.

Các đặc vụ mãi mê tranh luận khi họ phóng đi, có thể là vì đặc vụ Mossad chính được cho là sẽ bắn chất độc thần kinh vào mặt Mashaal, nên họ không nhận thấy Abu Seif đang chiếm đoạt một chiếc xe.

và truy đuổi họ khi họ chạy quanh các góc phố và qua những con phố nhỏ của Amman. Khi các đặc vụ nhảy ra khỏi xe, Abu Seif nhảy ra khỏi xe đang truy đuổi và tóm lấy một tên đặc vụ. Tên Israel vung một loại vũ khí nào đó vào Abu Seif, làm da đầu y rách toạt, nhưng tên vệ sĩ đã hạ gục hắn chỉ bằng một đòn karate và lao vào tên Israel thứ hai. Khi đám đông người Jordan tụ tập, Mashaal hét lên rằng họ là điệp viên Mossad, và hai người Israel đã bị bắt và đưa đến đồn cảnh sát.

Nạn nhân của vụ tấn công đã sớm choáng váng vì chất độc. “Chất độc thấm vào da tôi và lên đến não, và chỉ trong vòng hai giờ, tôi bắt đầu cảm thấy tác dụng”, Mashaal nói.  Nôn mửa không kiểm soát được, y được đưa đến bệnh viện trong tình trạng khó thở. Sau vài giờ, nhiệt độ t lên đến 39 độ và chỉ có thể thở bằng máy trợ thở. Các bác sĩ Jordan tin chắc rằng y sắp chết. “Mức oxy trong máu của tôi giảm mạnh, và các bác sĩ không biết chuyện gì đang xảy ra”, Mashaal nói. “Sau đó, người ta phát hiện ra rằng chất độc mà tôi bị tiêm vào ức chế các trung tâm hô hấp không tự chủ trong não.”

Thật khó để nói quá về mức độ nghiêm trọng của thảm họa này. Các điệp viên Mossad đã cố gắng ám sát một công dân Jordan đang sống hợp pháp tại thủ đô Jordan, một trong số ít các quốc gia Ả Rập thực sự ký hiệp ước hòa bình với Israel, chỉ một tháng trước cuộc bầu cử quốc hội tại quốc gia này. Zeev Schiff, biên tập viên quân sự của tờ báo Ha’aretz của Israel, nói rằng hành động này “giống như thực hiện một chiến dịch tương tự ở Washington hay một thủ đô thân thiện nào khác.” Vua Hussein của Jordan nổi cơn thịnh nộ. “Nhà vua đã rất tức giận”, Oded Eran, đại sứ Israel tại nước này cho biết. “Nhà vua đã bày tỏ quan điểm của mình với tôi và ông ấy nói, ‘Giống như việc mời một vị khách đến nhà tôi và tôi phát hiện ra rằng vị khách đó đã cưỡng hiếp con gái tôi vậy.'”

Hussein nói chuyện điện thoại với Netanyahu và nói rằng nếu Mashaal chết, Jordan sẽ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Israel. Sau đó, hai người Israel sẽ bị xét xử công khai về tội giết người và bị treo cổ. Nhà vua yêu cầu thuốc giải độc và nói với Netanyahu rằng Israel sẽ phải nhượng bộ thêm để đảm bảo việc thả các đặc vu của mình.

Ban đầu, Netanyahu dường như đã từ chối cung cấp thuốc giải độc. Nhưng sau sự can thiệp của Tổng thống Clinton, thuốc đã được chuyển đến Jordan và tiêm cho Mashaal. Y đã sống sót. Khi chính phủ Canada phát hiện ra rằng những kẻ ám sát Mossad đã sử dụng hộ chiếu Canada giả, họ đã triệu hồi đại sứ và cân nhắc việc cắt đứt quan hệ ngoại giao. Nhiều câu hỏi khác cũng được đặt ra trên toàn thế giới về việc Israel rõ ràng đang phát triển và sử dụng vũ khí thần kinh bị cấm.

Trong bối cảnh chính trị trong nước đang căng thẳng, Netanyahu đã bay sang Jordan và cầu xin thả các đặc vu của mình. Để xoa dịu phe đối lập Hồi giáo tại Jordan trước thềm cuộc bầu cử, nhà vua nói với Netanyahu rằng cái giá phải trả sẽ rất đắt. Hai điệp viên Mossad đã được trả về nhà, nhưng Israel buộc phải thả hai mươi tù nhân Palestine, bao gồm cả Sheikh Yassin, người sáng lập và lãnh đạo tinh thần của toàn bộ tổ chức Hamas, đã bị giam giữ chín năm trong một nhà tù Israel.

Yassin bị liệt nửa người, nửa mù, phải ngồi xe lăn, nhưng ông vẫn có quyền lực và uy quyền to lớn. Khoảng mười ngàn người ủng hộ đã vô cùng phấn khích chào đón ông khi ông trở về Dải Gaza. Trên làn sóng vui mừng của công chúng trước việc Yassin được trả tự do, và do sự phẫn nộ trước vụ ám sát bất thành, Yasser Arafat đã hủy bỏ kế hoạch trấn áp Hamas mà người Israel đã gây áp lực buộc ông phải thực hiện trong nhiều tháng. Yassin nhanh chóng nắm lại vị trí lãnh đạo Hamas và kêu gọi sử dụng các vụ đánh bom tự sát và bạo lực chống lại Israel. Vụ ám sát Mashaal bất thành nhanh chóng trở thành một trong những thất bại tồi tệ nhất trong toàn bộ lịch sử của Mossad.

Nguyên tắc lex talionis, hay luật trả đũa, được đề cập trong ba đoạn riêng biệt trong Kinh Torah DoThái. “Nếu hắn đến giết bạn, hãy giết hắn trước,” Talmud viết. Tuy nhiên, ám sát không phải lúc nào cũng là vũ khí được Israel lựa chọn. Isser Harel, người đứng đầu Mossad từ năm 1952 đến năm 1963, nói với chuyên gia tình báo Israel Yossi Melman rằng ông đã từ chối ra lệnh giết những kẻ phản bội và gián điệp, tin rằng số phận của họ nên được quyết định bởi tòa án.

Thỉnh thoảng, các điệp viên Israel đã ám sát một tội phạm chiến tranh Đức Quốc xã, hoặc gửi bom thư cho các nhà khoa học Đức đang phát triển tên lửa cho một quốc gia thù địch, nhưng chính Thủ tướng Golda Meir là người đã thiết lập tiền lệ cho việc sử dụng hàng loạt hành động giết người như một chính sách chống khủng bố bằng cách cho phép một chiến dịch ám sát sau vụ thảm sát Munich.

Năm 1977, nhiều năm sau khi Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ của Chúa chính thức kết thúc, Thủ tướng Menachem Begin đã khôi phục lại chính sách tương tự, ra lệnh cho Mossad bắt đầu các vụ ám sát có mục tiêu để đáp trả các cuộc tấn công khủng bố ngày càng gia tăng. Vì điều này đã từng được thực hiện trước đây, nên ông dễ dàng biện minh cho nó trong chính phủ Israel. Trong những năm kể từ đó, các điệp viên Israel đã tiêu diệt hàng loạt phần tử khủng bố và các chiến binh cấp cao, bao gồm nhiều kẻ chịu trách nhiệm cho các vụ đánh bom lớn ở Israel. Nhưng các vụ ám sát có mục tiêu nhanh chóng phát triển từ một chiến thuật trả thù thành các cuộc tấn công phủ đầu.

Các chiến binh đã thiệt mạng vì bom, bị bắn khi tiếp cận các trạm kiểm soát của Israel, hoặc bị bắn bằng súng máy trong các vụ xả súng từ trên xe. Iyyad Hardan của tổ chức Islamic Jihad đã chết khi một chiếc điện thoại công cộng mà y đang sử dụng phát nổ. Một chiến thuật ưa thích khác của Israel là sử dụng cộng tác viên Palestine, một đặc vụ Israel ngầm để xác định mục tiêu, thường bằng thiết bị nhắm mục tiêu bằng laser, khi y đang lái xe. Một trực thăng Apache bay lơ lửng phía trên sau đó sẽ bắn một hoặc nhiều tên lửa Hellfire, biến chiếc xe thành đống sắt vụn méo mó.

“Tôi có thể khẳng định chắc chắn chính sách là gì,” Ephraim Sneh, khi đó là thứ trưởng quốc phòng, nói vào tháng 8 năm 2001. “Nếu bất kỳ ai đã thực hiện hoặc đang lên kế hoạch thực hiện hành vi khủng bố, với những đòn tấn công này, hắn ta chắc chắn bị đánh trúng. Nó hiệu quả, chính xác và công bằng.”

Tại Israel, người ta hầu như không đặt câu hỏi công khai nào về chính sách ám sát này. Cuộc điều tra chính thức về vụ ám sát bất thành Khaled Mashaal tập trung vào lý do tại sao nhiệm vụ thất bại, hơn là tính khả thi hoặc tính hợp pháp của việc tiến hành chiến dịch. Điều này rất bất thường ở một quốc gia dân chủ không có án tử hình và dựa trên các khái niệm về nhân quyền và pháp quyền phương Tây. Nhưng trong bối cảnh thiếu các giải pháp chính trị cho cuộc khủng hoảng về khủng bố, Israel dường như gắn bó với việc sử dụng các vụ ám sát có mục tiêu.

Năm 1998, một tiểu ban quốc hội Israel về tình báo và an ninh đã ban hành một báo cáo về vụ tấn công Mashaal. “Ủy ban nhận thấy rằng trong nhiều năm, chính phủ Israel đã không xây dựng một chính sách chống khủng bố, một chính sách lẽ ra phải dựa trên sự sự cân nhắc sâu xa và một lập luận logic, nhất quán và liên tục,” báo cáo cho biết. “Trong trường hợp thiếu một chính sách như vậy, yếu tố đáp trả các cuộc tấn công khủng bố đã trở nên nặng nề một cách không cân xứng.” Báo cáo đặt câu hỏi về việc sử dụng các vụ giết người, không phải trên cơ sở đạo đức, mà vì chúng không nhất thiết đạt được các mục tiêu an ninh của Israel.

Israel đã bị tàn phá bởi chủ nghĩa khủng bố. Các nhóm khủng bố và kẻ đánh bom tự sát người Palestine đã cố tình nhắm mục tiêu và giết hại hàng trăm thường dân Israel trong các cuộc tấn công của chúng. Tác động lên đất nước Israel nhỏ bé là vô cùng to lớn: hầu như mọi người Israel đều có người quen đã thiệt mạng hoặc bị thương. Lính canh có mặt ở khắp mọi nơi, và việc vào hầu hết các cửa hàng vẫn là điều không thể nếu không bị kiểm tra hoặc lục soát. Nhiều cặp vợ chồng thậm chí còn tránh ăn tối cùng nhau vì sợ rằng một quả bom sẽ khiến con cái họ mồ côi. Vậy thì còn cách nào nhanh hơn hay liệu có giải pháp nào công bằng hơn cho một dân tộc bị tàn sát trong nửa đầu thế kỷ XX, và bị bao vây bởi các quốc gia thù địch khao khát tiêu diệt họ trong nửa sau thế kỷ XX, hơn là một viên đạn găm vào não kẻ gây ra nỗi chết chóc gần đây nhất của họ? Việc loại bỏ mục tiêu đã trở thành phản ứng nhanh chóng của Israel đối với chủ nghĩa khủng bố. Vấn đề là nhiều chuyên gia tình báo và quan chức cấp cao của Mossad thừa nhận một cách riêng tư rằng các vụ giết người không hiệu quả.

Trước hết, những vụ ám sát lại thúc đẩy các cuộc tấn công trả thù nhằm vào người Israel. Vụ đánh bom tàn khốc vào đại sứ quán Israel ở Buenos Aires vào tháng 2 năm 1992, khiến 29 người thiệt mạng, có lẽ là phản ứng của Hezbollah trước cái chết của thủ lĩnh của họ ở miền nam Lebanon. Sau khi Yahya Ayyash, nhà thiết kế bom khét tiếng của Hamas được biết đến với biệt danh “Kỹ sư”, bị Israel giết chết vào năm 1996, người Palestine đã đáp trả bằng một làn sóng đánh bom xe buýt khiến nhiều 48 người Israel thiệt mạng. Các chiến binh tử trận trở thành các anh hùng tử đạo (shahid) và nhanh chóng được thay thế. Các cuộc tấn công ở nước ngoài cũng giúp đoàn kết một nhóm chống lại kẻ thù chung: cuộc tấn công tạo ra sự tập trung và mục đích. Hamas đã được tiếp thêm sức mạnh sau cuộc tấn công vào Mashaal.

Các cuộc tấn công cũng có thể gặp trục trặc. Trong vụ việc ở Mashaal, mục tiêu đã sống sót và được hưởng lợi vì được Israel chú ý. Ông nói: “Vụ việc đã thu hút sự chú ý vào tôi và phong trào nói chung”. Mashaal ngày càng có vị thế cao hơn trong Hamas sau vụ tấn công, và vào năm 2004, sau khi Yassin bị ám sát bởi một tên lửa của Israel (cùng với hai vệ sĩ và sáu người Palestine khác), Mashaal trở thành người lãnh đạo tối cao của Hamas.

Rồi còn những vấn đề đạo đức và pháp lý xoay quanh các vụ ám sát có mục tiêu. Trong Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ của Chúa, các đặc vụ Israel thường bắn chết mục tiêu khi họ ở một mình, vừa để giảm thiểu thương vong và thể hiện quyết tâm trả đũa của Israel. Nhưng kể từ khi các vụ ám sát có mục tiêu trở thành chính sách tiêu chuẩn, đã có nhiều trường hợp Israel bắn tên lửa hoặc thả bom lớn vào mục tiêu, dẫn đến cái chết của hàng trăm người dân vô tội.

Năm 1982, trong cuộc bao vây Beirut kéo dài ba tháng, máy bay F-15 của Israel đã thả một quả bom hút chân không dẫn đường bằng laser xuống khu chung cư mà Yasser Arafat vừa rời đi vài phút trước đó. Hai trăm người đã thiệt mạng. Năm 1985, một cuộc không kích của Israel vào trụ sở của Arafat ở Tunisia đã trượt mục tiêu là lãnh đạo PLO. Hơn bảy mươi người đã chết. Vào ngày 22 tháng 7 năm 2002, để đáp trả các vụ tấn công tự sát nhằm vào thường dân Israel, một chiếc F-16 của Israel đã thả một quả bom nặng một tấn xuống khu dân cư đông đúc ở Gaza để giết chết chỉ huy quân sự của Hamas, Salah Shehada.

Thủ tướng Ariel Sharon gọi đó là “một trong những chiến dịch thành công nhất của chúng ta”. Nhưng quả bom cũng đã giết chết 18 người dân địa phương khác, trong đó có mười trẻ em, và làm bị thương ít nhất 140 người. Khoảng 300.000 người Palestine đã tham dự tang lễ của họ.

Trong ngôn ngữ quân sự phương Tây, những cái chết này có thể được xếp vào loại “thiệt hại ngoài ý muốn”, nhưng người Palestine coi đó là tội giết người. Những người ngoài cuộc vô tội cũng có người thân, gia đình và con cái, họ đương nhiên nảy sinh mong muốn trả thù. Không giống như nhiều chiến binh Palestine, Israel không cố ý nhắm mục tiêu vào dân thường, nhưng kết quả cuối cùng cũng không tránh khỏi làm thương vong dân thường. Ngay cả các phi công trong lực lượng không quân Israel cũng đã phản đối việc thả bom lớn xuống khu dân cư, cho rằng điều đó là vô đạo đức, khiến hòa bình trong tương lai càng trở nên bất khả thi và tiếp tục duy trì vòng xoáy bạo lực.

Sau nhiều vụ khủng bố tại Israel, quân đội Israel gần đây đã nhắm mục tiêu và tiêu diệt hai thủ lĩnh cấp cao của tổ chức Jihad Hồi giáo, cùng với một số thường dân không liên quan. Để đáp trả, một kẻ đánh bom tự sát người Palestine đã tự sát và giết chết ba thường dân Israel ở Tel Aviv. Sau đó, binh lính Israel đã tiến hành một cuộc tấn công vào thị trấn Nablus ở Bờ Tây, dẫn đến việc một kẻ đánh bom tự sát người Palestine khác tấn công gần biên giới Israel và Dải Gaza. Nghiên cứu về diễn biến theo trình tự thời gian, từ cuộc tấn công của một bên, đến phản công của bên kia, rồi lại một cuộc tấn công khác nhằm đáp trả cuộc phản công, dường như là một vòng xoáy bạo lực không suy giảm Trong một vụ việc riêng biệt khác, một người Palestine đã chế tạo một quả bom tự sát chứa chất nổ và mảnh đạn của Israel khiến một người thân của y thiệt mạng, rồi sau đó tự cho nổ tung mình bên cạnh một bà cụ Israel và cháu của bà.

Các vụ giết người do lực lượng Israel gây ra đã không ngăn chặn được chủ nghĩa khủng bố.

Cho đến ngày 11 tháng 9 năm 2001, Israel là quốc gia dân chủ duy nhất công khai sử dụng các vụ ám sát có mục tiêu như một chiến thuật để đối phó với khủng bố. Ngày 5 tháng 7 năm 2001, Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan đã yêu cầu Israel ngừng hành động này, nói rằng nó vi phạm luật pháp quốc tế. Trong chuyến thăm Washington, D.C., vào tháng đó, Trung tướng Shaul Mofaz, người đứng đầu lực lượng đặc nhiệm Israel, đã buộc phải biện minh cho các vụ giết người sau khi bị các quan chức cấp cao trong chính quyền Bush chỉ trích.

Nhưng sự kiện 11/9 đã thay đổi luật chơi, và chính sách của Mỹ đã thay đổi đáng kể. Sau khi phát động “cuộc chiến chống khủng bố”, chính quyền Bush đã lập một danh sách gồm hàng chục thủ lĩnh khủng bố mà CIA được phép tiêu diệt nếu việc bắt giữ họ là không khả thi và thương vong dân thường có thể được giảm thiểu.

Việc ám sát được nhà nước hậu thuẫn đã bị cấm theo Sắc lệnh Hành pháp 12333 do Tổng thống Ford ký năm 1976, sau làn sóng phản đối dữ dội trước một loạt các vụ lạm dụng của CIA. Ủy ban Điều tra Thượng viện do Frank Church đứng đầu, chuyên điều tra các âm mưu ám sát của Hoa Kỳ, chủ yếu nhằm vào các nhà lãnh đạo nước ngoài, đã kết luận rằng ám sát “vi phạm các nguyên tắc đạo đức cơ bản trong lối sống của chúng ta. Chúng tôi hoàn toàn bác bỏ bất kỳ quan điểm nào nhằm biện minh cho rằng Hoa Kỳ có quyền hành động theo tiêu chuẩn của các quốc gia theo chủ nghĩa toàn trị. Tiêu chuẩn của chúng ta phải cao hơn, và sự khác biệt này chính là trọng tâm của cuộc đấu tranh. Tất nhiên, chúng ta phải bảo vệ nền dân chủ của mình. Nhưng trong quá trình bảo vệ nó, chúng ta phải chống lại việc làm suy yếu chính những giá trị mà chúng ta đang bảo vệ.”

Tuy nhiên, sau vụ 9/11 Bush đã ra lệnh xác định các phần tử al Qaeda là  chiến binh thù địch, hoặc lính địch, do đó bỏ qua Sắc lệnh Hành pháp của Ford. Đây là chiến tranh, và các đặc vụ al Qaeda là mục tiêu hợp pháp.

Tháng 11 năm 2002, Qaed Salim Sinan al-Harethi (còn gọi là Abu Ali), một chỉ huy cấp cao của al Qaeda, đã thiệt mạng tại một vùng hẻo lánh của Yemen khi xe của y bị trúng tên lửa chống tăng Hellfire do máy bay không người lái Predator của Mỹ bắn ra từ căn cứ ở Djibouti. Đây là vụ “tiêu diệt” mục tiêu đầu tiên bằng máy bay Predator bên ngoài Afghanistan.

Al-Harethi được cho là một nhân vật chủ chốt trong các hoạt động của al Qaeda. Y hoạt động tích cực ở Yemen. Bị nghi ngờ có liên quan đến vụ đánh bom tàu ​​khu trục USS Cole của Mỹ vào tháng 10 năm 2000, khiến 17 thủy thủ thiệt mạng khi tàu đang neo đậu tại Aden, y cũng bị liên đới với vụ đánh bom một tàu chở dầu của Pháp ngoài khơi bờ biển Yemen. Tên lửa được phóng khi các nhà điều hành xác định rằng phương tiện y đang di chuyển qua sa mạc trống trải ở tỉnh Marib.

Đối phó với các nhóm khủng bố phi quốc gia là một thách thức to lớn đối với các nền dân chủ phương Tây, và chắc chắn việc bắt giữ al-Harethi sẽ rất khó khăn, nếu không muốn nói là nguy hiểm. Nhiều khu vực rộng lớn của Yemen nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ, và trước cuộc tấn công của máy bay không người lái Predator, binh lính Yemen đã buộc phải rút lui khỏi câc khu vực đó sau khi hứng chịu hỏa lực dữ dội từ các chiến binh al Qaeda. Chắc chắn nếu Lực lượng Đặc nhiệm Hoa Kỳ được điều đến Yemen để bắt giữ al-Harethi, chính quyền Mỹ sẽ bị chỉ trích tại Yemen cả trong nước và quốc tế.

Nhưng al-Harethi không phải là người duy nhất bị giết. Năm người khác trong cùng chiếc xe cũng thiệt mạng cùng với ông ta. Lực lượng Mỹ sau đó tuyên bố tất cả đều có liên hệ với al Qaeda. Nhưng trong số đó có một công dân Mỹ. Như vậy, một tên lửa của Mỹ đã giết chết một công dân Mỹ trong một cuộc tấn công quân sự bí mật trên lãnh thổ thân thiết. Vẫn chưa rõ liệu các đặc vụ CIA điều khiển Predator có biết rằng cũng có một công dân Mỹ trong xe hay không, hoặc liệu điều đó có ảnh hưởng đến quyết định khai hỏa của họ hay không. “Tội lỗi” của những người thiệt mạng khác trong xe có thể sẽ mãi không rõ ràng: tên lửa đã phá hủy chiếc xe và thi thể thành từng mảnh.

Các quan chức cấp cao trong chính quyền Mỹ vỗ vai chúc mừng ụ tấn công ở Yemen. Cái chết của al-Harethi cũng nhận được sự hoan nghênh rộng rãi từ công chúng và giới truyền thông Mỹ. Al-Harethi là một chiến binh và đại diện cấp cao của một tổ chức đã tuyên chiến với Hoa Kỳ. Làm sao có thể sai khi nhắm mục tiêu vào một tên trùm đang tích cực âm mưu tấn công Hoa Kỳ?

Tuy nhiên, một số nhà phê bình đã đặt câu hỏi về sự khôn ngoan và tính đạo đức của việc lực lượng Hoa Kỳ đóng vai trò là thẩm phán, bồi thẩm đoàn và đao phủ đối với một người hoặc một nhóm người mà nếu bị bắt sống có thể đã cung cấp thông tin tình báo hữu ích. Có lẽ Al-Harethi đã có thể bị bắt giữ. Xét cho cùng, lực lượng Mỹ và các đối tác Yemen của họ đã theo dõi al-Harethi. Một chiếc trực thăng đã được chuẩn bị sẵn, và quân đội Yemen đã có mặt để đưa các thi thể cháy đen từ chiếc xe đến một bệnh viện ở Sanaa, thủ đô của Yemen, nơi các bác sĩ Mỹ thu thập mẫu DNA và gửi chúng về Mỹ để xử lý.

Tổ chức Ân xá Quốc tế tuyên bố: “Nếu đây là hành vi cố ý giết chết các nghi phạm thay vì bắt giữ, trong những trường hợp họ không gây ra mối đe dọa tức thời, thì các vụ giết người này sẽ là các vụ hành quyết ngoài vòng pháp luật vi phạm luật nhân quyền quốc tế.” Jeffrey H. Smith, người từng giữ chức cố vấn pháp lý của CIA dưới thời Tổng thống Clinton, cho biết: “Tôi không phản đối việc bắn người, nhưng đó phải là biện pháp cuối cùng. Nếu họ đã chết họ không thể biện hộ và bạn lại tạo ra thêm nhiều người tử đạo.”

Tại châu Âu, mối lo ngại càng lớn hơn. “Ngay cả những kẻ khủng bố cũng phải được đối xử theo luật pháp quốc tế”, bà Anna Lindh, cố Ngoại trưởng Thụy Điển, nói. “Nếu không, bất kỳ quốc gia nào cũng có thể bắt đầu hành quyết những người mà họ coi là khủng bố.”

Nhiều quốc gia chuyên chế và nhà độc tài đã bắt chước tấm gương “cuộc chiến chống khủng bố” của Mỹ để biện minh cho hành động của mình. Việc đàn áp những bất đồng chính kiến ​​nội bộ chính đáng là điều không thể chấp nhận được. Nếu nhà lãnh đạo thế giới tự do có thể ra lệnh ám sát, thì sẽ chẳng có gì ngăn cản họ làm điều tương tự.

Tuy nhiên, vụ ám sát ông al-Harethi chỉ là sự khởi đầu. Giống như các đối tác Israel, các quan chức Mỹ nhận thấy rằng một khi ám sát chỉ được thỉnh thoảng sử dụng như một chiến thuật, thì nó sẽ dần trở thành thông lệ. Sự phát triển của các loại vũ khí như Predator, được phát triển từ một chiếc máy bay giám sát điều khiển từ xa khiêm tốn, nó đã tiến hóa thành một máy bay chiến đấu robot được trang bị vũ khí hạng nặng (có biệt danh là “Máy bay tử thần không người lái”), điều này giúp việc tiến hành các cuộc tấn công dễ dàng hơn, đặc biệt là ở những vùng xa xôi và nguy hiểm trên thế giới. Sau cuộc tấn công của Mỹ vào al-Harethi, Predator đã được sử dụng trong hàng chục cuộc tấn công ở Iraq, Afghanistan, Yemen và các quốc gia khác. Một số thành công, một số thì không.

Khi ám sát có mục tiêu trở thành một công cụ thường xuyên của lực lượng vũ trang Israel, các hạn chế về việc sử dụng chiến thuật này bắt đầu được nới lỏng, và các quan chức chính phủ Israel bắt đầu theo đuổi ý tưởng rằng họ có thể đáp trả các cuộc tấn công khủng bố của người Palestine bằng cách tấn công một thủ lĩnh phiến quân khác. Chính sách của Mỹ về ám sát cũng được mở rộng. Trong năm 2004 và 2005, các quan chức Mỹ đã phản ứng với tình trạng bế tắc ở Iraq bằng cách đề xuất thành lập các đội đặc nhiệm tinh nhuệ, được điều động và hỗ trợ bởi các lực lượng Mỹ, có thể được cử đi thực hiện các nhiệm vụ bắt cóc hoặc ám sát nhằm vào phiến quân và khủng bố đang tàn phá đất nước.

Là một phần của chiến lược này, các quan chức Mỹ đã xem xét các phương pháp nhằm biến dân số Sunni Iraq chống lại những kẻ khủng bố Sunni, mà trước đây nhiều người Sunni Iraq có thiện cảm. Trong số các lựa chọn được các quan chức Mỹ và các đối tác của họ trong chính phủ Iraq xem xét có các phương pháp tạo ra một bầu không khí sợ hãi trong cộng đồng người Sunni, khiến họ có động lực chống lại các phần tử cực đoan hơn là ủng hộ họ. Nói cách khác, là dọa dẫm người Sunni để họ quay lưng lại với bọn khủng bố. Nhiều người có thể lập luận rằng đây là một giải pháp thực tế cho một tình hình nguy hiểm và ngày càng tồi tệ ở Iraq. Những người khác có thể được tha thứ nếu nghĩ rằng điều đó nghe giống như các quan chức Mỹ đang cân nhắc việc khủng bố thường dân thù địch.

“Cuộc chiến chống khủng bố” không phải là lần đầu tiên Hoa Kỳ sử dụng các vụ ám sát có mục tiêu trong một cuộc chiến quy mô. Trong Chiến tranh Việt Nam, khi kẻ thù là chủ nghĩa cộng sản, CIA đã liên kết với các đơn vị Lực lượng Đặc biệt của quân đội Hoa Kỳ và quân đội Nam Việt Nam để phát động Chương trình Phượng hoàng khét tiếng.

Vào cuối những năm 1960, các quan chức Mỹ và Nam Việt Nam đã sử dụng thông tin tình báo từ các nguồn tin để phát hiện các đặc vụ Bắc Việt nằm vùng  trong những ngôi làng nhỏ ở phía nam, và Chương trình Phượng hoàng được thành lập để ám sát họ. Ban đầu, chương trình được thực hiện một cách cẩn trọng và chính xác, số vụ giết người chỉ ở mức một con số. Nhưng một khi các hạn chế về việc giết người được dỡ bỏ, chương trình nhanh chóng bắt đầu mở rộng một cách không kiểm soát. Số lượng một con số nhanh chóng trở thành hai con số; rồi nhanh chóng trở thành 3 con số. Trong năm 1970, hơn 8.000 mục tiêu đã bị ám sát và các chỉ huy quân sự bắt đầu đặt ra hạn ngạch về số lượng nghi phạm cần phải bị thủ tiêu Các nhà điều tra sau đó nhận ra rằng nhiều nạn nhân được đưa vào danh sách tử hình đơn giản chỉ vì các quan chức Nam Việt Nam đã từng hiềm khích với họ, không ưa họ hoặc thậm chí nợ tiền họ.

Mỹ rút quân khỏi Việt Nam sau thất bại của Chương trình Phượng hoàng, nhưng một số chuyên gia tin rằng việc mở rộng các vụ ám sát có mục tiêu trong “cuộc chiến chống khủng bố” hiện đại đang lặp lại sai lầm của Phượng hoàng. Theo Vincent Cannistraro, cựu giám đốc chống khủng bố của CIA, lực lượng Mỹ “rõ ràng đang thành lập các đội phối hợp để thực hiện những việc tương tự như Phượng hoàng, giống như họ đã làm ở Việt Nam.”

Tuy nhiên, việc hù dọa, giết hại hoặc ném bom bọn khủng bố hay dân thường khó có hiệu quả, như người Mỹ đã nhận ra ở Việt Nam và người Pháp đã nhận ra ở thuộc địa Algeria của họ trong những năm 1950 khi họ chiến đấu với những kẻ khủng bố đã kích nổ bom trong các quán cà phê và nhà hàng như một phần của chiến dịch giành độc lập. Người Pháp bị khiêu khích và đã phải sử dụng tra tấn và đàn áp để giành chiến thắng trong trận chiến, đồng thời truy lùng và tiêu diệt lực lượng đối lập khủng bố. Nhưng những hành động của họ càng hà khắc càng đoàn kết người dân Algeria và khiến họ đã thua cuộc chiến. Cuối cùng, Pháp đã rút quân vào năm 1962 khỏi một quốc gia mới độc lập do lực lượng nổi dậy FLN cai trị.

Các quan chức phương Tây tán dương các vụ giết người lạnh lùng do các biệt  đội Israel thực hiện để đáp trả vụ thảm sát Munich cũng nên nhớ rằng những chiến thuật đó không ngăn chặn được chủ nghĩa khủng bố. Người Israel vẫn đang tiếp tục bị giết chết trong các vụ tấn công khủng bố.

Khi tôi viết bài này, vẫn chưa rõ Steven Spielberg sẽ khắc họa phản ứng của Israel đối với vụ thảm sát Munich như thế nào. Nhưng Daniel Craig, một trong những ngôi sao người Anh của bộ phim, đã nói lên chủ đề của bộ phim của “Việc trả thù không có tác dụng, máu đổ chỉ sinh ra đổ máu.” Bộ phim sẽ giúp nhắc nhở thế giới về thảm kịch ở Munich. Nhưng có lẽ nó cũng sẽ nhắc nhở người xem rằng việc ném bom vào nghi phạm, hoặc thậm chí săn lùng và giết hại dã man các phần tử khủng bố, có vẻ là một phản ứng chính đáng đối với các hành động khủng bố, nhưng với tư cách là chiến thuật chống khủng bố, chúng đã được thử trước đây và hiếm khi thành công. Những biện pháp như vậy không chữa khỏi được căn bệnh hoặc giải quyết được vấn đề khủng bố, và ở nhiều khu vực, họ còn làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn. Chỉ sử dụng lực lượng quân sự thôi thì không phải là phương pháp hiệu quả để đối phó với khủng bố. Phương pháp hiệu quả nhất để ngăn chặn khủng bố cũng là phương pháp khó khăn nhất. Đến một lúc nào đó, các chính trị gia chỉ quan tâm đến lợi ích ngắn hạn phải nhận ra rằng họ cần phải giải quyết những nguyên nhân lâu dài của khủng bố.

Simon Reeve, 2005

Dịch xong.ngày 6 tháng 1 năm 2026


Bình luận về bài viết này