Vì sao cũng Chăm nói tiếng Việt nhưng Huế lại khác Quảng Nam?

Hồ Trung Tú

GS Andrea Hoà Phạm trong công trình “Nguồn gốc và sự hình thành giọng Quảng Nam” (2022-tr219) và sau đó trong nhiều bài báo khác đã nhiều lần ở nhiều nơi đặt ra câu hỏi then chốt: Có người cho rằng giọng Quảng Nam hình thành do lịch sử tiếp xúc với người Chăm hoàn toàn không giải thích được chuyện tại sao cũng Chăm nói tiếng Việt nhưng giọng Huế lại khác hẳn giọng Quảng Nam.

Đây là một câu hỏi khó, bởi để trả lời nó cần làm rõ đồng thời ba tầng vấn đề: lịch sử, ngôn ngữ học lịch sử và dân tộc học, trong một giai đoạn kéo dài hơn một thiên niên kỷ sau Công nguyên

Khung lịch sử

Theo các thư tịch chữ Hán, tiêu biểu là Hán thư (Ban Cố), hai quận Cửu Chân và Nhật Nam được thành lập chính thức vào năm 111 TCN (năm Nguyên Đỉnh thứ 6 đời Hán Vũ Đế).

Sau khi nhà Hán đánh bại nhà Nam Việt của Triệu Đà vào năm 111 TCN, Hán Vũ Đế đã chia lãnh thổ cũ của Nam Việt và các vùng đất mới chinh phục ở phía Nam thành 9 quận, trong đó hai quận chúng ta quan tâm là Cửu Chân và Nhật Nam. Cửu Chân (九真) là vùng đất thuộc Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Nhật Nam (日南) là vùng đất từ phía Nam đèo Ngang đến đèo Hải Vân (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế).

Hậu Hán Thư (phần Quận Quốc chí) cho biết thêm vài thông tin nữa như ghi chép cụ thể số liệu dân cư của hai quận Cửu Chân và Nhật Nam vào thời Đông Hán (khoảng năm 140 SCN) như chi tiết về dân số thời bấy giờ ở  quận Cửu Chân có khoảng 35.743 hộ, nhân khẩu là 209.894 người; dân số Nhật Nam có khoảng 18.263 hộ, nhân khẩu là 100.676 người.

Địa danh Tượng Lâm thời Tần, Nhật Nam thời Hán, từ đèo Ngang trải dài đến đèo Hải Vân (tương ứng với các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế ngày nay) về mặt địa lý, vùng đất này được xem là biên viễn xa xôi nhất về phía Nam của các đế chế phong kiến phương Bắc thời bấy giờ. Trong thư tịch cổ Trung Hoa như Hán Thư hay Hậu Hán Thư, đây là nơi thường xuyên xảy ra các cuộc nổi dậy của người dân địa phương chống lại chính quyền đô hộ, mà đỉnh điểm là cuộc khởi nghĩa của Khu Liên vào năm 192 để thành lập vương quốc Lâm Ấp.

Như vậy về khung lịch sử, những sử liệu này cho ta thông tin về địa giới vùng đất Cửu Chân và Nhật Nam cũng như dân số và thái độ không thần phục phương Bắc. Cần xác định đây rõ ràng là vùng đất đã có người ở chứ không phải vùng đất trống rồi người Giao Chi di cư vào sinh sống tạo nên người Việt như các hình dung phổ biến sau này. Vấn đề của chúng ta là liệu có thể xác định nhóm cộng đồng cư dân Cửu Chân, Nhật Nam; nhất là Nhật Nam vì liên quan đến Huế ở câu chuyện ta đang bàn, nhóm cư dân 18.263 hộ, nhân khẩu là 100.676 người đó nói ngôn ngữ gì. Liệu lúc đó họ đã nói tiếng Việt hay nói một ngôn ngữ nào khác, đó là ngôn ngữ thuộc ngữ hệ gì.

Ngữ hệ của cộng đồng dân cư Cửu Chân – Nhật Nam.

Sử liệu liên quan đến ngôn ngữ cũ xưa nhất là ghi chép về chuyện người Việt Thường dâng chim trĩ trắng và việc phải qua nhiều lần thông dịch được chép sớm nhất trong sách Thượng thư Đại truyện (thế kỷ II TCN) và sau đó là Sử ký (phần Chu bản kỷ): “Chu Công làm nhiếp chính được sáu năm… ở phía Nam có nước Việt Thường sai sứ đến dâng một con chim trĩ trắng. Vì ngôn ngữ bất đồng, phải qua ba lần thông dịch (tam dịch – 三譯) mới hiểu được nhau.”

Vị trí Việt Thường tương đồng hoàn toàn với Cửu Chân, Nhật Nam. Đại Việt Sử ký Toàn thư và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục xác định Việt Thường là một trong 15 bộ của nước Văn Lang thời Hùng Vương. Vị trí được xác định tương ứng với vùng đất Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay. Cụ thể, vùng Hà Tĩnh (xưa là huyện Việt Thường- ĐVSKTT), sát đèo Ngang,  được coi là trung tâm của bộ này.

Một chi tiết nữa không thể bỏ qua là trong một số thư tịch cổ đặt vấn đề Việt Thường cs thể là Việt Chương ở Nhật Nam. Do cách phát âm hoặc ghi chép, Cả hai tên gọi đều sử dụng chữ “Việt” (越). Chữ “Chương” (裳) và “Thường” (裳) thực chất là cùng một mặt chữ Hán nhưng có hai cách đọc khác nhau tùy theo ngữ cảnh hoặc thời kỳ.

Tuy vậy, mặc dù không hoàn toàn chính xác như hình dung hiện đại của chúng ta ngày nay về biên giới hành chính, nhưng qua đó ta có thể đồng thuận được toàn vùng Bắc và Nam đèo Ngang đều có thể là Việt Thường được.

Vấn đề tiếp theo cần phải xét là câu “Vì ngôn ngữ bất đồng, phải qua ba lần thông dịch mới hiểu được nhau” có ý nghĩa gì.

Chu Công thường gọi là Chu Công Đán, ông là công thần khai quốc, giúp Chu Vũ Vương đánh bại nhà Thương để lập nên nhà Chu năm 1046 TCN, cách nay 3076 năm. Như vậy sự kiện dâng chim trĩ của sứ giả Việt Thường là lúc các quốc gia ở Đông Nam Á chỉ là các bộ tộc của các tộc người có nhiều ngôn ngữ khác nhau nhưng đều có thể quy vào 3 ngữ hệ chính là Tai-Kdai (còn gọi là Tày-Thái), Nam Á và Nam Đảo (Austronesian).  

Khu vực chúng ta đang bàn là Cửu Chân Nhật Nam theo các nhà ngôn ngữ học, được thống nhất cao không còn vấn đề để bàn luận thêm, thì chỉ có nhánh Mon-Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á gồm các dân tộc Mường, Bọng, Chứt, Rục, Thổ, Tà Ôi, Cơ Tu… Một trong họ đã phát triển thành Vietic tiền thân của tiếng Việt hiện nay. Tiếp xúc gần nhất với các nhóm Mon-Khmer này là cộng đồng các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày-Thái có nhiều ở phía Nam Trung Hoa thời đó, vùng giáp ranh hẳn họ nói và hiểu nhau dễ dàng.

Như vậy ta có thể hình dung sứ giả Việt Thường nói một ngôn ngữ nào đó thuộc nhóm Mon-Khmer nêu trên và được dịch ra tiếng Tày-Thái, rồi từ Tày-Thái được dịch ra ngôn ngữ nước Sở chẳng hạn (Sở thuộc nhóm cộng đồng Bách Việt phía Nam sông Hoàng Hà thuộc gữ hệ Tày-Thái và Mon-Khmer) rồi từ đó mới được dịch sang tiếng Hán Thượng cổ để Chu Công nghe hiểu được. Tam dịch – 三譯, hẳn nghĩa là như vậy.

Về phương ngữ Khu IV.

Như vậy, xét trên không gian hiện đại ta thấy phương ngữ khu IV (từ Nghệ An vào đến Huế) hoàn toàn trùng khớp với không gian Việt Thường xưa hay Cửu Chân – Nhật Nam sau đó. Đó là vùng ngữ hệ Mon-Khmer tiền Hán hoá. Liệu chăng giọng Khu IV nay có liên quan gì đến những cư dân Mon-Khmer xưa?

Về đặc điểm giọng Khu IV các nhà ngôn ngữ nêu ra đặc điểm nổi bật là chỉ có 4 dấu thanh, thậm chí nhiều nơi chỉ có 3 dấu thanh, sắc và ngã đều nói như nặng (Huế thành Huệ, những thành nhựng), chưa kể nhiều nơi hỏi cũng thành nặng.

Đi sâu hơn bằng công cụ ngôn ngữ học ta thấy giọng nói khu IV phản ánh một quá trình thanh điệu hóa và đơn âm hóa không hoàn tất của các cộng đồng Vietic/Mon-Khmer cổ, diễn ra dưới áp lực Hán ngữ. Bắc Bộ cũng vậy nhưng lại đủ 6 thanh, nhưng đó là một câu chuyện khác ta bàn sau. Cụ thể, hiện tượng sắc, hỏi, ngã thường rơi về nặng, cùng với vai trò trung tâm của trường độ, lực phát âm và kiểu kết thúc âm tiết, phản ánh một quá trình thanh điệu hoá diễn ra trên nền tiền-thanh điệu Mon-Khmer.

Hiện tượng này không mang tính ngẫu nhiên, mà tuân theo một logic ngữ âm, đó là cơ chế Mon-Khmer đằng sau hiện tượng “nặng hoá”

Trong hệ tiền-thanh điệu Mon-Khmer thì các âm tiết được nói rất ngắn, phát mạnh, kết thúc khép là một cấu hình rất phổ biến. Khi cấu hình này được đặt vào một hệ thanh điệu hoá nó tương thích hoàn hảo với thanh huyền, không và nặng, trong khi không tương thích với các thanh đòi hỏi uốn hoặc lên giọng ở cuối âm như sắc, hỏi, ngã. Do đó thanh nặng trở thành thanh trung tâm cấu trúc. Các thanh dựa trên sự uốn giọng và cao độ (như sắc) bị hút về nặng khi không triển khai được đường nét thanh điệu (contour) đi lên.

Nói cách khác, thanh nặng ở khu IV chính là hình thức “Việt hoá” của đối lập Mon-Khmer cổ (tức sự phân biệt các âm tiết mà tai người có thể nhận ra sự đối lập).

Các nhà ngôn ngữ học cho rằng Mon-Khmer cổ điển (và Vietic giai đoạn sớm) sự đối lập âm tiết trong chúng chủ yếu dựa vào trường độ nguyên âm (dài/ngắn), lực phát âm, kiểu kết thúc (mở/đóng, có/không bật thanh hầu), chất giọng (căng, khép, thở. Căng: dây thanh căng và khép chặt, luồng hơi bị nén, âm nghe gắt – bật. Khép: dây thanh khép mạnh ở cuối âm, thường kèm ngắt hoặc bật thanh hầu, âm cụt – dứt. Thở: dây thanh khép lỏng, nhiều hơi thoát ra, âm mềm, xì, nhẹ).

Khi các ngôn ngữ này tiếp xúc lâu dài với ngôn ngữ thanh điệu (như Hán), quá trình thanh điệu hoá (tonogenesis) có thể xảy ra. Tuy nhiên, nếu không có áp lực chuẩn hoá đủ mạnh, hệ quả thường là sự xuất hiện của đối lập giống thanh điệu, nhưng không được mã hoá bằng đường nét thanh điệu cao độ (contour).

Đây chính là trạng thái tiền-contour hay phi-contour, vốn rất phù hợp với những gì quan sát được ở khu IV nơi thanh điệu không được xác lập bằng đường điệu cao độ phức hợp.

Bên cạnh thanh điệu ta cũng có một hệ thống ngữ điệu đặc trưng của giọng Khu IV, tức nhịp điệu của câu nói; câu nói người Khu 4 có cao độ nền thấp, biên độ hẹp, ít uốn lượn, chịu chi phối mạnh bởi nhịp điệu và trường độ.

Điều quan trọng là sự “nặng hoá” từ kết quả của cách mã hoá thanh điệu theo kiểu Mon-Khmer cùng với một ngữ điệu đặc trưng đã tạo nên một phương ngữ Khu 4 bền vững suốt ngàn năm qua cho dù thiếu dấu thanh và khó nghe nhưng hoàn toàn có thể diễn đạt và biểu cảm đầy đủ tiếng Việt với 6 thanh đối lập.

Vậy tại sao cũng Cham nói tiếng Việt nhưng Quảng Nam khác Huế?

Từ năm 192, khi Khu Liên thành lập nước Lâm Ấp thoát khỏi sự cai trị của các triều đại Trung Hoa thì vùng Khu IV nay, tức Cửu Chân – Nhật Nam đã bị tách ra làm hai, Cửu Chân phía Bắc (Nghệ An, Hà Tĩnh) thuộc Trung Hoa, dùng chữ Hán và bắt đầu quá trình thanh điệu hoá; Nhật Nam (Quảng Bình, Quảng Trị, Huế) thuộc Champa và tiếp nhận văn minh Ấn Độ qua chữ viết Sanskrit. Lịch sử Việt Nam cho biết trong thời gian chia cắt nhiều cuộc nổi dậy của người Cửu Chân chống lại nhà Đường đã dựa vào sự hỗ trợ của Champa điều đó cho thấy sự gần gũi của họ.

Sự chia cắt đã diễn ra kéo dài 1.114 năm, đến năm 1306 thì họ mới nhập lại và nằm chung dưới mái nhà Đại Việt. Chúng ta không biết trong suốt 1.114 năm đó thì 18.263 hộ với 100.676 nhân khẩu của quận Nhật Nam sống chết ra sao dưới sự cai trị của người Chăm, họ có bị giết hết để người Nam Đảo đến thay thế; nếu không bị giết thì họ có hoàn toàn chuyển sang ngôn ngữ Nam Đảo của người Chăm hay ngôn ngữ Nam Đảo chỉ ở tầng thượng của tần lớp cai trị còn dân cư lao động tầng dưới vẫn nói tiếng của người bản địa thuộc ngữ hệ Mon-Khmer. Chúng ta chỉ hay rằng khi nhập lại dưới mái nhà Đại Việt, cùng nói tiếng Việt thì họ đã cùng nói giọng của người Khu IV.

Đến năm 1553, Dương Văn An chép trong Ô Chân Cận Lục rằng vùng Quảng Bình đến Huế có hiện tượng làng này nói giọng Châu Hoan (Nghệ An Hà Tĩnh), làng kia nói giọng Châu Hoá (giọng Quảng Nam). Như vậy ở Huế cũng đã từng có giọng Quảng Nam nhưng sau đó mất đi vì người Châu Hoan nhiều hơn, nay chỉ còn sót lại vài làng như làng Mỹ Lợi. Nhiều người sẽ bảo giọng Huế khác xa giọng Vinh nhưng những khác biệt đó không nhiều. Những khác biệt ở Huế chỉ vì Huế là nơi kinh kỳ, gần hai trăm năm tụ hội giọng nói của cả ba miền nên đã biến đổi ít nhiều.

Đến đây bức tranh đã trở nên rõ ràng hơn. Giọng Huế, chính là giọng Khu IV, chính là giọng nói của Mon-Khmer sau thanh điệu hoá.

Tóm lại, việc cùng là người Chăm nói tiếng Việt nhưng giọng Huế khác giọng Quảng Nam không thể giải thích bằng một nguyên nhân đơn tuyến. Giọng Huế, cũng như toàn bộ phương ngữ Khu IV, phản ánh lớp nền Mon–Khmer của cộng đồng Cửu Chân – Nhật Nam cổ, trải qua một quá trình thanh điệu hoá không hoàn tất dưới áp lực Hán ngữ. Trong khi đó, giọng Quảng Nam và các tỉnh Nam Trung Bộ lại chịu ảnh hưởng mạnh của lớp nền Nam Đảo, tức là trường hợp người Nam Đảo chuyển sang nói tiếng Việt. Hai con đường lịch sử và ngôn ngữ khác nhau này chính là nguyên nhân sâu xa tạo nên sự khác biệt của hai phương ngữ này.

Chú thích ảnh: Bản đồ hình dung về các tộc người ở Đông Á thời cổ đại

One thought on “Vì sao cũng Chăm nói tiếng Việt nhưng Huế lại khác Quảng Nam?

Bình luận về bài viết này