CÂU CHUYỆN ĐẦY ĐỦ VỀ CUỘC THẢM SÁT TẠI THẾ VẬN HỘI MUNICH 1972 VÀ CHIẾN DỊCH BÁO THÙ CỦA ISRAEL “CƠN THỊNH NỘ CỦA CHÚA”

SIMON REEVE
Trần Quang Nghĩa dịch
11 Ông Hoàng Đỏ
Vụ sát hại Ahmed Bouchiki là vụ giết người đầu tiên xảy ra ở Lillehammer trong 40 năm qua, và mặc dù cảnh sát đến hiện trường nhận ra đây là một vụ “sát thương” chuyên nghiệp, ban đầu họ nghi ngờ đây là hậu quả của một cuộc đấu súng giữa các băng đảng ma túy. Tuy nhiên, hàng xóm của nạn nhân cho biết nạn nhân chắc chắn không liên quan đến bất kỳ hình thức tội phạm nào. Ông được mọi người trong vùng biết đến và có cuộc sống gương mẫu.
Lillehammer lúc đó là một thị trấn nhỏ chỉ có 20.000 dân. Sự xuất hiện của hơn một chục người Israel với nước da Địa Trung Hải ngăm đen đã không qua mắt được cảnh sát, và những hàng xóm của Bouchiki đã tỏ ra vô cùng hữu ích cho cảnh sát trong vài giờ đầu điều tra. Vài người lạ đã được phát hiện bên ngoài nhà Bouchiki. Những dân địa phương khác cho biết họ đã nhìn thấy một nhóm người nước ngoài bí ẩn lang thang trong thị trấn, lái xe mang biển số ngoại tỉnh. Một người hàng xóm thậm chí còn thoáng thấy chiếc xe Mazda màu trắng mà những kẻ giết người sử dụng khi nó phóng khỏi hiện trường.
Đó là một bước đột phá quan trọng. Khi các đặc vụ Mossad đang chạy trốn khỏi Lillehammer và trở về Oslo trên đường rời khỏi đất nước, cảnh sát Na Uy đã có các manh mối đầu tiên. “Mike” rời Na Uy trên phà và cuối cùng trở về Israel, nhưng khi “Dan” và “Marianne” trả lại chiếc xe đã thuê cho công ty cho thuê xe tại sân bay Oslo, một nhân viên tinh ý tên là Asb-jørn Slørdahl đã lặng lẽ báo cảnh sát, và một sĩ quan đã đến bắt giữ họ.
Người Na Uy, vẫn không biết vụ giết người đã được thực hiện bởi một trong những cơ quan tình báo “hiệu quả” nhất thế giới, tiếp tục đẩy mạnh cuộc điều tra. “Marianne” trong lần đầu tiên làm việc cho Mossad đã rất bối rối và sợ hãi, và cô nhanh chóng tiết lộ chi tiết về nơi trú ẩn an toàn của họ, và tại đó “Sylvia” và “Abraham” đã bị bắt. “Dan” bị phát hiện đã ghi lại số điện thoại đáng lẽ phải giữ kín (14-15-80) của một người tên là “Zigal”, hóa ra là Yigal Eyal, đặc vụ đứng đầu bộ phận an ninh tại Đại sứ quán Israel.
Cảnh sát Na Uy nghi ngờ Zigal làm việc cho El Al nên đã đột kích nhà riêng của anh ta, bắt giữ “Michael” và “Zwi”, đang ẩn náu tại đó. Zigal tự nhận mình là nhà ngoại giao và ra lệnh cho cảnh sát rời đi, nhưng lúc đó cảnh sát Na Uy đã đánh hơi thấy dấu vết. Họ rời khỏi căn hộ của Zigal, nhưng mang theo “Michael” và “Zwi”.
Ngược lại với danh tiếng là các chiến sĩ tình báo cừ khôi nhất thế giới, các đặc vụ Israel đã bị tóm gọn như ruồi. Chỉ vài ngày sau vụ ám sát, cảnh sát Na Uy đã bắt giữ 6 đặc vụ. Các thám tử Na Uy sớm nghe tin đồn từ Israel rằng các nghi phạm là đặc vụ của Mossad, và vụ việc đã trở thành một sự cố ngoại giao toàn diện.
Ngay cả khi bị giam giữ, các đặc vụ Israel vẫn tỏ ra sẵn sàng tiết lộ chi tiết về hoạt động của họ. “Dan,” vốn bị chứng sợ không gian hẹp, tỏ ra rất hợp tác. Ngay khi cánh cửa phòng giam đóng sầm lại, anh ta trở nên vô cùng lo lắng và bắt đầu tiết lộ chi tiết về vụ tấn công để đổi lấy việc được chuyển đến một phòng giam lớn hơn có cửa sổ nhỏ.
Nỗi nhục nhã của Mossad càng thêm sâu sắc khi người Na Uy tìm thấy chìa khóa ngôi nhà an toàn ở Paris trên người một trong những nghi phạm. Chìa khóa được giao cho cảnh sát Pháp, và họ đã đột kích căn hộ và phát hiện ra chìa khóa của những ngôi nhà an toàn khác ở thủ đô nước Pháp. Họ cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy một số kẻ liên quan đến vụ ám sát Lillehammer đã tham gia vào các vụ ám sát trả thù khác của nhóm Cơn Thịnh Nộ của Chúa.
Khi tin tức về vụ bắt giữ lan đến Israel, các quan chức cấp cao trong chính phủ và tình báo đã vô cùng hoảng loạn. “Mất mát” đặc vụ là điều Golda Meir đã cảnh báo rõ ràng khi Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ của Chúa được hình thành.
Các đặc vụ bị giam giữ trong các xà lim Na Uy, và các hoạt động của Mossad trên khắp châu Âu bị đe dọa. Sự hoảng loạn chuyển thành giận dữ khi báo chí Na Uy tiết lộ danh tính thực sự của nạn nhân. Mossad, cơ quan bảo vệ bí mật của người Do Thái, trước đây từng là hình ảnh bất khả chiến bại trong mắt công chúng Israel, giờ phải chịu một đòn đau điếng mà phải mất nhiều năm mới có thể gượng dậy.
Chính phủ Israel đã nỗ lực hết mình để che đậy sự dính líu đầy tai tiếng của mình vào vụ ám sát Lillehammer với sự hỗ trợ nhỏ nhoi từ tình báo Na Uy, nhưng cảnh sát Na Uy quyết định xét xử các đặc vụ bị bắt vì liên quan đến vụ án mạng. Phiên tòa sau đó đã phơi bày sự non nớt của một số đặc vụ Israel được giao nhiệm vụ ám sát Ông Hoàng Đỏ và trả thù cho cái chết của 11 vận động viên Israel tại Munich.
Nhiều đặc vụ cấp cao hơn, từng thành công trong các vụ ám sát vào thời gian đầu trong chiến dịch Cơn Thịnh Nộ của Chúa, đã kiệt sức sau nhiều tháng liên tục ngược xuôi khắp châu Âu và Trung Đông, và được cấp trên cho nghỉ dưỡng sức. Vì vậy, khi chiến dịch chống lại mục tiêu quan trọng nhất của Mossad xảy đến, trưởng nhóm “Mike” buộc phải sử dụng đến một số đặc vụ nghiệp dư, những người hầu như chỉ có kinh nghiệm sơ sài về công tác tình báo.
“Dan,” người sợ không gian hẹp, thậm chí còn khai với các thẩm vấn viên một người tên là “Miko” trên đường dây khẩn cấp của Mossad ở Tel Aviv, để ông ta có thể xác nhận anh ta là một đặc vụ làm việc cho chính phủ Israel. Anh ta nghĩ rằng điều đó sẽ khuyến khích thẩm vấn viên nhanh chóng thả anh ta ra. Khi số điện thoại được tiết lộ tại tòa, đúng là một cảnh tượng như trong tuồng hát.
Các nhà báo đã chạy ùa ra khỏi tòa án để gọi cho Mossad theo số điện thoại trên, chỉ để phát hiện ra đường dây khẩn cấp – vốn bình thường được sử dụng để liên lạc giao công tác khẩn cho các đặc vụ – đã được thay thế bằng một giọng nói lạnh lẽo bằng tiếng Anh đã được ghi âm sẵn, thông báo ngắn gọn rằng đường dây đã bị ngắt kết nối.
Mặc dù hai kẻ giết người và chỉ huy của chúng không bao giờ bị bắt, vào ngày 1 tháng 2 năm 1974, “Sylvia” và “Abraham” bị kết án năm năm rưỡi, “Dan” năm năm, “Marianne” hai năm rưỡi, và “Zwi” (người bị kết tội làm gián điệp) một năm tù. “Michael” được tuyên trắng án.
“Sylvia”, thế giới sau này mới biết, đã dành thời gian trong tù để học chơi guitar, học tâm lý học và tiếng Do Thái. Khi công tố viên nhà nước Na Uy gặp tai nạn và phải nhập viện, cô đã gửi cho ông một tấm thiệp chúc sức khỏe và ký tên “005, đặc vụ trở về từ vùng đất
lạnh” (con số này chính là thời hạn tù của cô).
“Sylvia” sau đó kết hôn với luật sư bào chữa cô người Na Uy, Anneus Schodt, và định cư ở đất nước chồng.
Với tình hình cộng đồng quốc tế phẫn nộ trước vụ sát hại nạn nhân vô tội Ahmed Bouchiki, ngày càng gia tăng với mỗi tiết lộ mới về sự tham gia của Mossad, Golda Meir đã phải nhượng bộ trước áp lực và yêu cầu Mossad đình chỉ mọi hoạt động liên quan đến Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ của Chúa. Bà cũng tuyên bố sẽ tiến hành một cuộc điều tra về thảm họa Lillehammer. Tuy nhiên, cuối cùng, “Mike” đã được phép chỉ đạo cuộc điều tra. Báo cáo cuối cùng về vụ ám sát Lillehammer đã xóa bỏ mọi trách nhiệm cho những người liên quan, khiến một số sĩ quan cấp dưới của Mossad đã từ chức vì phẫn nộ, và những người khác đã viết thư phản đối với thủ tướng và người đứng đầu Mossad với những lời lẽ mạnh mẽ.
Bất chấp trò hề này và bằng chứng rõ ràng về trách nhiệm chính thức của Israel, phải mất nhiều năm trước khi có người trong chính phủ Israel nghĩ đến việc xin lỗi người vợ đang mang thai của nạn nhân.
Trong khi Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ của Chúa đã bị đình chỉ, Salameh tiếp tục là một mối đe dọa tiềm tàng đối với Israel. Chỉ trong vòng hai tuần sau sự kiện Lillehammer, hắn đã sẵn sàng trả thù cho vụ sát hại ba người bạn của mình ở Beirut dưới tay Lực lượng Đặc nhiệm Israel. Một nhóm tự xưng là “Biệt đội Cảm tử Thứ bảy”, nằm dưới sự chỉ huy của Salameh và Tháng Chín Đen, tấn công vào sân bay Athens nhằm vào những du khách đến Israel.
Vào ngày 5 tháng 8 năm 1973, Tallal Khaled Kaddourah và Shafik Hussein el Arida, những thanh niên Palestine lần lượt ở độ tuổi 22 và 21 đã rút súng tiểu liên và lựu đạn tại phòng chờ ở sân bay Athens và bắt đầu nã đạn vào những người mà chúng nghĩ là hành khách Do Thái đang rời Hy Lạp đến Israel. Nhưng hai tên khủng bố thực sự đã nổ súng vào hành khách đang chờ lên chuyến bay của TWA đến New York. Cảnh tượng hỗn loạn đã xảy ra khi chúng xả súng bừa bãi.
“Tôi thấy hai người Ả Rập đang đợi kiểm tra an ninh với hành lý của họ”, Gerald Stern, một nha sĩ ở Pittsburgh, kể lại. “Một viên chức yêu cầu họ mở các hộp và chúng rút súng tiểu liên ra. Tôi nằm vật xuống sàn khi tiếng súng bắt đầu nổ. Xung quanh tôi, mọi người chảy máu và la hét vì đau đớn. Bọn Ả Rập cố thủ sau quầy và bắn từng loạt đạn. Một người đàn ông ngồi cạnh tôi bị đạn xé toạc ngực. Tôi nhìn lên và thấy một ông lão gần lối ra đang cố chạy thoát ra ngoài. Ông ấy bị bắn gục. Tôi thấy một người khác bế một đứa bé trên tay, toàn thân ông thấm đầy máu.”
Phòng chờ khởi hành trở nên hỗn loạn, đẫm máu, những nạn nhân hấp hối và bị thương nặng la hét cầu cứu. Một hành khách Ấn Độ và hai người Mỹ đã tử vong ngay tại chỗ, trong khi Laura Haack, một du khách Mỹ 16 tuổi, đã qua đời sau đó tại bệnh viện. 55 hành khách khác cũng bị thương.
Mặc dù hai người Palestine rõ ràng được cho là sẽ tử vì đạo trong cuộc tấn công, cả hai đều thíchì ở tù hơn là chết. Họ bị bắt, bị kết án, và sau đó được chính phủ Hy Lạp nhanh chóng thả ra khi bọn khủng bố cướp một con tàu Hy Lạp ở Karachi và dùng họ làm con bài mặc cả.
Athens là vụ tấn công cuối cùng được công khai liên quan đến Tháng Chín Đen, nhưng vòng xoáy bạo lực vẫn tiếp diễn và nhiều nguồn tin tình báo tin rằng Tháng Chín Đen chịu trách nhiệm cho một vụ tấn công khác ở Paris chính xác là một tháng sau vụ giết người ở Athens và đúng một năm sau vụ tấn công Thế vận hội Munich.
Mục tiêu của họ là đảm bảo Abu Daoud, một trong những thủ lĩnh của vụ tấn công Munich và là một quan chức cấp cao của Tháng Chín Đen, được thả khỏi nhà tù ở Jordan. Vào tháng 2 năm 1973, Daoud bị bắt quả tang đang giám sát các tòa nhà chính phủ ở Amman, thủ đô Jordan, để chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn của Tháng Chín Đen do Abu Iyad tổ chức.
Abu Iyad và Abu Daoud (cả hai đều bị liệt vào danh sách tử hình của Israel trong danh sách Cơn Thịnh Nộ của Chúa) đã quyết tâm đảm bảo việc thả các chiến binh Palestine đang bị giam giữ trong các nhà tù Jordan. Theo kế hoạch, 16 tên khủng bố được cho là sẽ chiếm giữ văn phòng thủ tướng Jordan, bắt giữ các bộ trưởng chính phủ làm con tin và thương lượng để thả tù nhân. Nhưng kế hoạch đã không diễn ra như mong đợi.
Abu Daoud bị cảnh sát Bedouin chặn xe một cách ngẫu nhiên khi đang tuần tra quanh Amman, thủ đô Jordan. Các sĩ quan nhận thấy hộ chiếu của ông ta ghi ông ta là cha của sáu đứa con; nhưng “vợ” ngồi ở ghế hành khách phía trước bên cạnh Daoud rõ ràng là một cô gái trẻ. Khi cảnh sát yêu cầu ông ta đi cùng họ về đồn để trò chuyện riêng, “vợ” của Daoud (Salwa Abu Khadrah, một nhà hoạt động 15 tuổi đến từ Haifa)
vô tình làm rơi khẩu súng lục do Tiệp Khắc sản xuất và một ít đạn dược từ dưới quần áo của cô. “Chuyện này phức tạp lắm,” Daoud thừa nhận ngắn gọn. Cả hai đều bị bắt ngay lập tức.
Daoud ở trong tù được vài tháng khi vào ngày 5 tháng 9 năm 1973, năm tên khủng bố người Ả Rập xông vào đại sứ quán Ả Rập Xê Út sang trọng ở Paris, bắt 13 con tin và yêu cầu trả tự do ngay lập tức cho ông.
Tuy nhiên, trong khi thế giới ngay lập tức cho rằng bọn khủng bố muốn bảo vệ tự do cho một người anh em Ả Rập của mình, thì giờ đây có vẻ như bọn tự xưng là “Nhóm Trừng phạt” thực sự muốn bắt và giết Daoud vì y đã tiết lộ nhiều bí mật của Tháng Chín Đen.
Bọn khủng bố rất tuyệt vọng, nhưng chúng không thuộc cùng nhóm giết người như hai tên sát nhân ở Athens. Kẻ cầm đầu trong vụ tấn công Paris, một người chỉ được biết đến với biệt danh “Bác sĩ”, đã đàm phán công khai với một nhóm các quan chức Ả Rập do đại sứ Kuwait dẫn đầu, cố gắng giải quyết cuộc khủng hoảng. Bốn con tin nữ đã được trao đổi với đại sứ Iraq, người đã dũng cảm đề nghị thay thế họ, và cuối cùng bọn khủng bố đã rời khỏi đại sứ quán cùng năm con tin. Chính phủ Pháp cho phép họ bay đến Cairo, nơi họ tiếp nhiên liệu và sau đó tiếp tục hành trình đến Kuwait và đầu hàng ở đó.
Thất bại của nhiệm vụ này là một nỗi hổ thẹn lớn đối với Ali Hassan Salameh và các nhà lãnh đạo Palestine cứng rắn khác, những người đang cố gắng miêu tả các chiến binh của mình là dũng cảm và bất khả chiến bại. Việc nhận trách nhiệm về vụ tấn công bất thành dưới danh nghĩa Tháng Chín Đen chẳng mang lại lợi ích gì, và vì vậy, tổ chức chịu trách nhiệm về vụ thảm sát Munich đã chính thức biến mất sau vụ tấn công ở Athens.
Tháng xảy ra vụ tấn công Paris đã chứng kiến những diễn biến quan trọng ở Trung Đông. Vua Hussein, vị vua Jordan nhỏ con vẫn đang bám víu quyền lực bất chấp mọi nỗ lực của người Palestine nhằm lật đổ hoặc ám sát ông, đã bay đến Cairo để gặp Tổng thống Sadat của Ai Cập và Tổng thống Assad của Syria. Cho đến trước cuộc gặp, Hussein đã bị cô lập trong thế giới Ả Rập vì những hành động của ông chống lại người Palestine ba năm trước (lý do đã khai sinh ra Tháng Chín Đen). Nhưng Assad và Sadat đã chào đón ông trở lại, và cả ba bắt đầu lên kế hoạch cho một cuộc tấn công quân sự mới vào Israel – một cuộc tấn công mà thế giới sau này gọi là Chiến tranh Yom Kippur.
Khi Hussein trở về Jordan, được phục hồi danh dự trong mắt các nhà lãnh đạo Ả Rập khác, ông đã mở cửa nhà tù và thả hơn một nghìn tù nhân chính trị, bao gồm hàng chục quan chức cao cấp Palestine.
Trong một màn thể hiện tình đồng chí đáng kinh ngạc, Hussein thậm chí còn đến nhà tù giam giữ Abu Daoud, uống trà với người đàn ông này, và sau đó đích thân sắp xếp việc thả ông ta.
Cuộc chiến mà Hussein, Sadat và Assad lên kế hoạch ở Cairo nổ ra vào ngày 6 tháng 10 năm 1973. Xe tăng Syria tấn công sâu vào Cao nguyên Golan và quân đội Ai Cập tràn qua Kênh đào Suez vào ngày linh thiêng nhất trong lịch Do Thái. Người Israel bị gián đoạn giữa chừng khi đang cầu nguyện và rời khỏi giáo đường Do Thái để ra tiền tuyến. Cuộc chiến sau đó tuy ngắn ngủi nhưng tàn khốc. Nếu các chỉ huy Ai Cập không dừng tấn công vì sợ ra khỏi tầm bắn của tên lửa, Israel đã có thể bị hủy diệt.
Nhưng người Ai Cập đã không thực hiện rốt ráo cuộc tấn công của họ, và người Israel đã có thể tổ chức lại và phản công, với Tướng Arik Sharon dẫn đầu một lực lượng liều lĩnh trở lại Ai Cập và chỉ còn cách ngoại ô Cairo một giờ đồng hồ. Khi khói bụi lắng xuống trong một lệnh ngừng bắn do quốc tế làm trung gian, các nhà lãnh đạo Israel nhận ra rằng họ đã bị đẩy đến bờ vực thẳm. Họ không thể tiếp tục thờ ơ với sự hỗ trợ quốc tế, và không thể có thêm những vụ ám sát trắng trợn nhắm vào những kẻ chịu trách nhiệm cho vụ thảm sát Munich. Thay vào đó, cần phải tạm dừng các hoạt động, và những vụ ám sát các nhân vật cuối cùng trong danh sách mục tiêu của Chiến dịch Cơn Thịnh nộ của Chúa sẽ phải được tiến hành một cách lặng lẽ trong tương lai, với khả năng để lộ sự dính líu của Israel là tối thiểu.
Năm năm sau thảm họa ở Lillehammer, các đặc vụ cấp cao của Mossad quyết định đã đến lúc tiếp tục truy lùng các thủ lĩnh Tháng Chín Đen. Thân nhân của các vận động viên thiệt mạng ở Munich vẫn đang chật vật xây dựng lại cuộc sống, và ký ức về vụ tấn công vẫn còn là một vết thương hở trong tâm lý người Israel. Các quan chức chính phủ vô cùng muốn trả thù rốt ráo những người đã chết.
Khi danh sách những mục tiêu bị nhắm đến để ám sát được xem xét lại, Ông Hoàng Đỏ lại một lần nữa chiếm ưu thế. Ali Hassan Salameh vẫn là người mà Israel lo sợ. Mối liên hệ của Salameh với CIA và chính phủ Mỹ, vốn đã bị phá vỡ sau những nỗ lực đáng xấu hổ của CIA nhằm chiêu mộ một quan chức Palestine cấp cao như hắn, đã bị phá sản, đã được tái lập và vẫn ấm áp như trước.
Salameh dường như đã tha thứ cho người Mỹ về lỗi lầm ngoại giao của họ vào mùa thu năm 1973. Vào ngày 3 tháng 11 năm 1973, với tư cách là đại diện chính thức của Yasser Arafat, hắn đã bí mật gặp Tướng Vernon Walters, phó giám đốc CIA, tại Maroc và đồng ý thay mặt cho Fatah tham gia vào tiến trình hòa bình Trung Đông và đình chỉ các cuộc tấn công vào công dân Hoa Kỳ.
Cuộc gặp bất thường này cho thấy sự kính trọng sâu sắc mà người Mỹ dành cho Salameh. Nó diễn ra bất chấp thỏa thuận giữa Henry Kissinger và người Israel rằng Hoa Kỳ sẽ không đàm phán với PLO. Tuy nhiên, niềm tin của người Mỹ dành cho Salameh đã được đền đáp chỉ vài tuần sau cuộc gặp khi người Palestine cảnh báo CIA về một âm mưu ám sát Henry Kissinger bằng một cuộc tấn công tên lửa vào máy bay của ông khi nó hạ cánh xuống Beirut trong chuyến công du ngoại giao vòng quanh Trung Đông. CIA đã sắp xếp để máy bay được chuyển hướng, và Lực lượng 17 của Salameh thậm chí còn bảo vệ Kissinger khi ông ở Lebanon.
CIA rất vui mừng với thông tin mật này, có lẽ đã cứu mạng Kissinger, và Salameh cùng Arafat đã nhận được phần thưởng vào năm sau, khi Arafat được mời phát biểu tại Liên Hợp Quốc ở New York, và Salameh được CIA tiếp đãi tại Khách sạn Waldorf-Astoria. Salameh rất hài lòng với sự săn đón mà hắn nhận được từ CIA, dường như tin rằng điều này sẽ mở ra một đường dây trực tiếp đến Nhà Trắng, đến nỗi hắn đã hứa với các đặc vụ Mỹ rằng hắn sẽ đảm bảo không chỉ Fatah mà cả các phe phái PLO khác sẽ tránh tấn công công dân Mỹ.
Ngay cả khi Salameh trở lại Trung Đông, hắn vẫn tiếp tục trao đổi và hỗ trợ tình báo Mỹ, khiến hắn trở nên
– bất chấp sự tham gia tích cực của hắn vào hoạt động khủng bố quốc tế – một trong những mối liên lạc quan trọng nhất của Hoa Kỳ trong toàn bộ khu vực.
Salameh một lần nữa chứng minh giá trị của mình với Hoa Kỳ sau khi cuộc nội chiến Lebanon nổ ra vào năm 1975, khi hàng trăm người Mỹ cần được sơ tán khỏi vùng nguy hiểm. Hắn đã cung cấp hàng chục lính gác vũ trang hạng nặng từ Lực lượng 17 cho hai đoàn xe, một đoàn đi từ Beirut đến một bài biển, nơi dân di tản được đưa đến Hạm đội Sáu Hoa Kỳ đang đỗ ngoài khơi, và một đoàn khác len lỏi qua dãy núi Shouf và đến Damascus, Syria. Các lực lượng dân quân khác trong khu vực đã được cảnh báo rõ ràng rằng việc tấn công các đoàn xe sẽ khiến Fatah nổi giận.
Henry Kissinger thực sự đã viết thư cho Arafat, cảm ơn ông đã giúp người Mỹ ra khỏi Beirut, mặc dù ông dường như đã cẩn thận không thêm tên mình vào bức thư, hoặc thậm chí là tên của Arafat. Salameh sau đó đã được CIA đích thân cảm ơn khi hai lần đến thăm trụ sở CIA ở Langley, Virginia, theo lệnh của Arafat, và đúc kết cho người Mỹ về tình hình phong trào Palestine và những gì đang diễn ra trong đầu Yasser Arafat.
Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Salameh khó có thể nồng ấm hơn. Tháng 6 năm 1977, Salameh kết hôn với Georgina Rizak, cựu Hoa hậu Lebanon và Hoa hậu Hoàn vũ (mặc dù hắn đã kết hôn và có hai con trai, Hassan và Ussama.) CIA đã chi trả cho cặp đôi này trong tuần trăng mật ở Hawaii và thực hiện một trong những tham vọng cả đời của Salameh là tặng họ một chuyến đi đến Disney World.
Nhưng mối liên hệ của Salameh với người Mỹ cũng không thể đảm bảo an ninh cho một người đứng đầu danh sách truy nã của Mossad. Salameh cũng không cho rằng kẻ thù đã từ bỏ nhiệm vụ. Hắn biết mình vẫn còn đang bị truy sát.
Vào cuối năm 1978, đội sát thủ Mossad lại nhen nhóm mối quan tâm đến gã học trò trẻ tuổi của Yasser Arafat. Nhiều năm trôi qua, Golda Meir đã được thay thế bởi Menachem Begin, bản thân ông cũng là cựu lãnh đạo của Irgun, một tổ chức cực đoan Do Thái, nhưng Mossad vẫn theo dõi Salameh và trở nên
lo ngại về mối liên hệ của hắn với CIA.
Cuối cùng, mối liên hệ này trở nên rõ ràng đến mức Mossad dường như đã tiếp cận trưởng trạm CIA ở Paris và cảnh báo rằng họ sẽ giết Salameh trừ khi CIA xác nhận bằng cách này hay cách khác rằng hắn ta là “người của họ”. Điều này đặt CIA vào thế khó. Họ không thể nói hắn ta là “người của họ” vì Hoa Kỳ đã hứa với Israel rằng họ sẽ không làm việc với người Palestine. Nhưng
nếu họ không ủng hộ Salameh, họ sẽ có nguy cơ mất đi một trong những mối liên hệ tốt nhất của mình ở Trung Đông.
Cuộc trò chuyện được truyền đạt lại cho Robert Ames, lúc đó là sĩ quan tình báo quốc gia phụ trách Trung Đông, và ông đã yêu cầu CIA nói với người Israel rằng Salameh không làm việc cho Hoa Kỳ. Về mặt kỹ thuật, đó là sự thật, nhưng khi phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa CIA và Ali Hassan Salameh một bản án tử đã được tuyên cho một trong những kẻ đứng sau vụ thảm sát Munich.
“Mike” một lần nữa được giao trách nhiệm tiêu diệt Ông Hoàng Đỏ. “Mike” vẫn là một nhân vật trung tâm trong tình báo Israel sau vụ Lillehammer và đã được trao một trong những giải thưởng cao quý nhất của Israel nhờ vai trò then chốt của ông trong vụ đột kích sân bay Entebbe vào tháng 7 năm 1976, khi hơn một trăm con tin Do Thái bị khủng bố giam giữ ở Uganda đã được giải cứu trong một chiến dịch quân sự quốc tế đáng kinh ngạc. “Mike” dường như đã xâm nhập vào sân bay nơi người Israel bị giam giữ bằng cách giả dạng một doanh nhân người Ý. Ông ta cũng thuyết phục các đầu mối liên lạc trong chính phủ Kenya sắp xếp một điểm dừng tiếp nhiên liệu cho máy bay Hercules được sử dụng trong chiến dịch trên đường trở về Israel, nếu không có nó thì nhiệm vụ này gần như bất khả thi.
Một lần nữa, “Mike” bắt đầu tuyển dụng một biệt đội. Lần này Mossad không thể mắc sai lầm. Chỉ những đặc vụ kỳ cựu và hoạt động ngầm mới được đưa vào nhiệm vụ.
Vào cuối năm 1978, các chuyên gia giám sát của Mossad đã đến Beirut để bắt đầu theo dõi Salameh và ngay lập tức phát hiện ra rằng các biện pháp phòng ngừa an ninh của hắn đã trở nên lỏng lẻo trong năm năm khi Cơn Thịnh Nộ của Chúa tạm xếp lại vị tai tiếng Lillehammer.
Nhiều năm đã trôi qua kể từ vụ khủng bố Munich, Salameh đã tái hôn, và hắn ta ngày càng trở nên bất cẩn; Salameh không còn là một tên khủng bố gần như bất khả xâm phạm, sống trong hầm trú ẩn và được bao vây bởi các cận vệ vũ trang nữa. Dường như hắn đã phát triển tâm lý phó mặc cho số mệnh mà hắn thường chỉ trích ở những người khác. “Anh ấy nói với tôi rằng, một khi quyết định ám sát anh đã được đưa ra, vấn đề chỉ còn là thời gian và địa điểm. Anh ấy sẽ không thể biết khi nào nó sẽ diễn ra”, Nidal, em gái của Ali Hassan, nói.
Các đặc vụ Mossad lại bắt đầu theo dõi Salameh chặt chẽ vào cuối năm 1978, bám sát hắn từ xa trong những chuyến thăm Beirut. Trong ít nhất sáu tuần, họ nghiên cứu các động thái của hắn và nhận thấy một số mô hình dần dần xuất hiện.
Salameh dành phần lớn buổi chiều với người vợ đang mang thai Georgina, nữ hoàng sắc đẹp, trong căn hộ của cô ở khu vực Snoubra thời thượng ở Tây Beirut. Hắn cũng đều đặn đến phòng tập gym và phòng xông hơi địa phương. Kế hoạch ban đầu của Israel là cho nổ tung Salameh trong khi hắn đang khoan khoái đổ mồ hôi trong phòng xông hơi đã bị phủ quyết vì nguy cơ thương vong dân sự cao. Thay vào đó, Israel đã chọn một cuộc tấn công ít tinh vi hơn vào Ông Hoàng Đỏ.
Hoạt động của Israel bắt đầu vào tháng 11 năm 1978, khi một nữ đặc vụ Mossad, tự xưng là một người Anh phóng dật tên là Erika Chambers, đến Beirut để bắt đầu làm việc cho
một tổ chức từ thiện của Palestine có tên gọi kỳ cục là “Ngôi nhà Vững chải của Trẻ em Tel al-Zaatar.”
Các đội giám sát Israel đã theo dõi Salameh trong nhiều tuần biết rằng hắn thường lái xe qua đường Beka trên đường đến và đi từ căn hộ của Georgina và đến trụ sở Fatah trong thành phố. Vì vậy, vào ngày 10 tháng 1 năm 1979, Erika Chambers đã trả 3.500 bảng Lebanon để thuê một căn hộ trên tầng tám của Tòa nhà Anis Assaf nhìn ra phố Beka. Đóng vai một người trung niên yêu thích công nghệ, Chambers dành phần lớn thời gian chăm sóc những chú mèo bị bỏ hoang, không ai chăm sóc, và ngồi bên cửa sổ vẽ các cảnh sinh hoạt bên dưới, và âm thầm hỗ trợ điều hành một chiến dịch giám sát quy mô lớn nhắm vào Salameh.
Các đặc vụ Israel khác sau đó bắt đầu đổ bộ vào thành phố. Theo các điều tra viên Lebanon, một đặc vụ Mossad sử dụng tên Ronald Kolberg, đi du lịch bằng hộ chiếu Canada giả (số 104277), đã đến Beirut một tuần sau khi Chambers thuê căn hộ. Anh thuê một phòng nhỏ tại Khách sạn Royal Garden, thuê một chiếc xe Simca từ Công ty Cho thuê Xe Lenna, và bắt đầu đóng vai người chào hàng, quấy rối các chủ cửa hàng địa phương, đề nghị bán cho họ đủ loại dụng cụ nhà bếp Canada. Mossad chắc chắn đã nỗ lực hết sức để đảm bảo các đặc vụ của họ có vỏ bọc hoàn hảo; Kolberg nhiệt tình phân phát tờ rơi giới thiệu nhiều sản phẩm thú vị của mình khắp Beirut.
Peter Scriver, bí danh của đặc vụ Israel thứ ba, đến một ngày sau đó bằng hộ chiếu Anh giả (số 260866, ngày 15 tháng 10 năm 1972), thuê một chiếc Volkswagen và một phòng tại Khách sạn Méditerranée. Ba đặc vụ này gần như chắc chắn được các đặc vụ Mossad khác, nằm vùng tại đó trong nhiều năm, hỗ trợ.
Vào giữa tháng 1 năm 1979, nhóm Israel đã sẵn sàng tấn công Ông Hoàng Đỏ. Một buổi tối nọ, lúc chạng vạng, hai người nhái rời khỏi một tàu tên lửa Israel đang neo đậu ngoài khơi Beirut và lẻn vào một bãi biển vắng vẻ, mang theo một kiện hàng nặng chứa thuốc nổ và kíp nổ. Hai đặc vụ Israel đang đợi họ gần đó; khi nhận được mật hiệu đã được xác định trước từ đèn pin của người nhái, họ để xe Volkswagen nổ máy và đi lấy gói hàng.
Trong khi hai người nhái lặng lẽ xuống nước và chèo chiếc thuyền nhỏ trở lại tàu tên lửa, hai đặc vụ còn lại trở về nơi trú ẩn an toàn. Họ lấy 11 cân thuốc nổ hexagene, tương đương khoảng 65 cân thuốc nổ thông thường, và giấu nó bên trong chiế Volkswagen thuê, gắn vào một máy phát sóng vô tuyến.
Vài ngày sau, với “Mike” đang theo dõi hoạt động từ tàu tên lửa ngoài khơi Beirut, chiếc Volkswagen được đỗ cẩn thận trên phố Beka, và các đặc vụ ngồi xuống chờ Salameh xuất hiện.
Vào lúc 3:45 chiều ngày 22 tháng 1, Salameh từ biệt vợ và nhảy lên chiếc xe Chevrolet bán tải cũ kỹ của mình để lái đến nhà mẹ dự tiệc sinh nhật cho cô cháu gái ba tuổi. Như thường lệ, hắn được hộ tống bởi hai vệ sĩ vũ trang hạng nặng và ít nhất ba vệ sĩ nữa trên chiếc LandRover phía sau. Một đặc vụ Mossad gần như chắc chắn đang quan sát gần đó khi đoàn xe nhỏ rời đi, và anh ta báo động cho các thành viên còn lại trong đội rằng Salameh đang di chuyển. Từ căn hộ của Erika Chambers, một đặc vụ Mossad khác cũng đang theo dõi và chờ Salameh xuất hiện.
Đoàn xe hai chiếc của Salameh chạy nhanh qua các đường phố Beirut, hú còi inh ỏi cho các xe khác tránh đường và rẽ vào phố Beka. Lần này Mossad không hề phạm sai lầm. Khi chiếc Chevrolet đi ngang qua chiếc Volkswagen, đặc vụ trong căn hộ của Chambers liền kích nổ quả bom. Tiếng nổ có thể nghe thấy từ cách đó vài dặm.
Vụ nổ đã khiến Salameh tử vong. Hắn ta ngã ra khỏi xe và gục xuống. Hắn được đưa đến Bệnh viện Đại học Hoa Kỳ, nhưng một mảnh kim loại sắc nhọn đã
đã cắm vào não hắn và hắn đã chết trên bàn mổ lúc 4:03 chiều. Tám người khác cũng đã chết trong vụ nổ.
“Mike” đang quan sát Beirut qua kính viễn vọng từ tàu tên lửa Israel khi quả bom phát nổ. Đêm đó, những người nhái Israel quay trở lại bãi biển vắng vẻ gần Beirut để đón hai đặc vụ Mossad, một nam và một nữ. Trở lại tàu an toàn, thiếu nữ ôm chầm lấy “Mike” và báo cáo đơn giản, “Mike, hắn chết rồi.”
“Mike” cuối cùng đã hoàn thành nhiệm vụ mà Golda Meir đã giao cho ông sáu năm trước. Các vận động viên Munich đã được báo thù.
Hơn 100.000 người đã đến dự tang lễ của Salameh tại Nghĩa trang Liệt sĩ Beirut. Yasser Arafat đã kề vai khiêng quan tài của hắn, sau đó an ủi đứa con đỡ đầu Hassan Salameh, cậu con trai 13 tuổi của Ông Hoàng Đỏ, bên ngôi mộ khi cha cậu được an táng. Giữa cảnh hỗn loạn Arafat chào tạm biệt trang trọng, hét lớn giữa đám đông bên mộ: “Chúng tôi sẽ tiếp tục tiến về Palestine. Tạm biệt, người anh hùng của tôi.”
Việc Salameh mất đi là một đòn giáng mạnh vào phong trào giải phóng Palestine. Nhưng vẫn còn nhiều cái tên khác trong danh sách ám sát của Israel, những người thậm chí đến cuối những năm 1970 vẫn còn giữ các vị trí cấp cao trong PLO. Gần đầu danh sách là Abu Daoud, cựu giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch tấn công Munich.
Bất chấp việc đội Cơn Thịnh Nộ của Chúa bị đình chỉ hoạt động chính thức sau vụ thảm sát LilleHammer, các đặc vụ Mossad vẫn tiếp tục nỗ lực truy tìm Abu Daoud kể từ khi tên y lần đầu tiên xuất hiện trong cuộc điều tra ban đầu của cảnh sát Đức về vụ thảm sát Munich. Nhưng những nỗ lực của Israel đã thất bại. Y vẫn ẩn náu trong bóng tối hoặc ngoài tầm với của họ trong nhiều năm, cuối cùng lộ diện – có lẽ theo cách công khai nhất có thể – vào năm 1977.
Sau khi một người bạn của mình bị giết bên ngoài một hiệu sách ở Paris vào đầu tháng 1 năm 1977, Abu Daoud quyết định đến Paris dự đám tang. Y đã xin thị thực tại Đại sứ quán Pháp ở Beirut, cung cấp một hộ chiếu Iraq giả mang tên Youssef Raji Hanna. Mossad biết được đơn xin thị thực này và đã thông báo cho các quan chức tình báo Đức. Cuối cùng, họ cũng đã cảnh báo những người đồng cấp của họ tại Cơ quan Giám sát Lãnh thổ (DST) của Pháp về danh tính thực sự của Hanna.
Khi lời cảnh báo được đưa ra, Daoud đã đến Paris với tư cách là thành viên của một phái đoàn chính thức của PLO và được chính phủ Pháp chiêu đãi rượu, ăn tối và đưa đón đi khắp thành phố. Các quan chức Bộ Ngoại giao Pháp đã vô cùng xấu hổ khi cảnh sát của họ bắt giữ vị khách Palestine và ném y vào nhà tù La Santé ảm đạm cùng phòng giam với một tên trộm vặt người Bỉ và một vài người hút cần sa để bầu bạn. Đức và Israel ngay lập tức nộp các giấy tờ xin được dẫn độ.
Đó là khoảng thời gian hân hoan của Ankie Spitzer, Ilana Romano và rất nhiều người thân khác của các vận động viên thiệt mạng tại Munich. Cuối cùng, họ nghĩ, sẽ có một màn trình diễn nhỏ về công lý tại tòa án. Nhưng niềm vui của họ chẳng kéo dài được bao lâu.
Chính quyền Pháp đã hối lộ và tống tiền các nhóm khủng bố để thuyết phục chúng tránh xa nước Pháp trong các cuộc tấn công khủng bố, và việc Daoud bị các sĩ quan bắt giữ sẽ đe dọa trò chơi tinh vi của họ. Trước khi kịp giới thiệu bản thân với bạn tù, Daoud đã bị lôi ra tòa. Sau phiên điều trần chiếu lệ chỉ kéo dài hai mươi phút, tòa án quyết định phải thả y ngay lập tức (do một loạt các ràng buộc kỹ thuật). Sau đó, y bị lôi ra khỏi tòa án, bị nhét vào xe và chạy nhanh đến Sân bay Orly. Một tấm vé hạng nhất đến Algiers được nhét vào tay y và y được đưa lên chuyến bay của Air Algérie. Y được chào đón như một người hùng khi hạ cánh xuống Algeria.
Pháp đã chọn thả Abu Daoud không chỉ để bảo vệ nước này khỏi các cuộc tấn công khủng bố có thể xảy ra mà còn vì một số quốc gia Ả Rập đã đe dọa sẽ rút các khoản tiền gửi với tổng số tiền mặt hơn 15 tỷ đô la từ việc bán dầu được lưu giữ tại các ngân hàng Pháp. Sáng hôm sau khi Daoud được thả, Pháp cũng đã ký một thỏa thuận với Ai Cập để bán 200 máy bay phản lực Mirage.
Hành động tống tiền và hối lộ trắng trợn này có tác dụng kì diệu, và những yêu cầu của Israel đòi công lý cho các vận động viên Munich đã bị phớt lờ. Ngay cả cảnh tượng 8 đứa con của các vận động viên xếp hàng bên ngoài Đại sứ quán Pháp ở Tel Aviv tay ôm bức ảnh những người cha đã khuất của chúng cũng không làm thay đổi suy nghĩ của các chính trị gia ở Paris.
Khi tin tức về việc phóng thích Daoud được phát trên đài phát thanh và truyền hình, Tel Aviv đã suýt xảy ra bạo loạn. Trớ trêu thay, lúc đó Ali Hassan Salameh cũng đang ở Paris như Daoud, đi chơi với Georgina Rizak lúc bấy giờ còn là bạn gái, nhưng người Israel không hề hay biết Làn sóng phẫn nộ của họ nhắm vào người Pháp vì đã thả Abu Daoud, và Đại sứ quán Pháp tại Israel bị ném đá, cà chua và trứng thối. Mười một thanh niên Pháp gốc Do Thái đang đi nghỉ lễ ở Israel đã đốt thẻ căn cước Pháp của mình. “Giscard d’Estaing, [tổng thống Pháp] là một tên khốn và một tên Quốc xã!” những người biểu tình hét lên. Ngay cả Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter cũng nói rằng ông “vô cùng bối rối”.
Đến lúc đó thì đã quá muộn: Daoud đã an toàn ở Trung Đông, chế nhạo
người Israel bằng tuyên bố rằng y sẵn sàng đến Munich để chứng minh sự vô tội của mình. “Tôi sẽ đi ngay lập tức. Tôi sẽ đi chuyến bay đầu tiên”, y nói.
Dĩ nhiên, Abu Daoud hoàn toàn không có ý định quay lại Munich. Y không ngờ người Đức và Israel vẫn đang truy đuổi y, hơn bốn năm sau vụ thảm sát ở Fürstenfeldbruck. Sau khi đặt chân đến Algeria, y lại bỏ trốn, lần này ẩn náu sau Bức màn sắt, với sự giúp đỡ những người ủng hộ Palestine trong các chính phủ Khối Đông Âu.
Abu Daoud bắt đầu di chuyển qua lại giữa Trung Đông và các nước cộng sản, nơi y tìm thấy thứ mà y cho là an toàn tuyệt đối trước các cuộc tấn công của Israel. Điểm đến ưa thích của y là Khách sạn Palast ở Đông Berlin, nơi y lưu trú trong thời gian dài dưới một cái tên giả và thuê một căn hộ hai phòng sang trọng ở tầng trệt. Giá thuê phòng là 175 đô la một đêm. Hóa đơn được thanh toán bởi Stasi. Ngay cả các nhân viên cấp cao tại Palast cũng không biết danh tính thực sự của vị khách thường xuyên của mình, mặc dù một người hầu phòng đã bị sốc khi phát hiện ra y luôn ngủ với một khẩu súng lục cỡ lớn dưới gối.
“Chúng tôi biết ‘Ông Tarik’ này nhiều năm rồi…. nhưng không ai biết vị khách khiêm tốn và cực kỳ lịch sự này là ai”, Reinhard Hellmann, người quản lý lễ tân của Khách sạn Palast, cho biết. Daoud thậm chí còn thảo luận về vấn đề Trung Đông cùng nhân viên khách sạn. Theo Hellman, y tạo ấn tượng “rất có văn hóa”, nhưng “nói rằng ông rất không hài lòng về sự bất hòa trong PLO”.
Daoud rõ ràng đã tạo dựng được những mối liên hệ hữu ích với chính quyền Đông Đức. Đại tá Rainer Wiegand, cựu đại tá Stasi đã đào tẩu sang phương Tây năm 1990, đã kể lại việc ông ghê tởm như thế nào trước những bức ảnh về vụ tấn công Munich,
ông ta đã kinh hoàng khi phát hiện ra Daoud đang đến thăm Đông Đức vào tháng 3 năm 1979 với tư cách là khách danh dự của chế độ.
Wiegand đã phát hiện ra chi tiết chuyến đi của Daoud hai ngày trước khi y dự kiến đến nước này vào ngày 19 tháng 3 và cho rằng y đã nhập cảnh mà không được chính quyền Đông Đức cho phép. Wiegand sau đó tuyên bố rằng ông ta đã tập hợp một nhóm sĩ quan của mình và tiến hành một cuộc điều tra nhanh chóng.về vụ án của Daoud, cuối cùng kết luận rằng y là một tên khủng bố thực sự và cần phải bị bắt khi đến nơi hoặc bị từ chối nhập cảnh vào nước này.
Tuy nhiên, ngay khi Wiegand sắp giao báo cáo của mình cho một đồng nghiệp cấp dưới để chuyển cho Đại tá Bruno Beater, phó thứ nhất của trùm Stasi Erich Mielke, thì một quan chức cấp cao khác của Stasi, Đại tá Harry Dahl, đã gọi điện cho ông. Dahl đã nghe qua tin đồn Stasi rằng Wiegand đang điều tra Daoud và muốn biết ông ta định làm gì.
“Daoud dự định đến Schönefeld [sân bay] vào ngày kia,” Wiegand nói. “Tôi nghĩ chúng ta nên bắt giữ hắn.”
“Các người sẽ không bắt giữ ai cả!” Dahl giận dữ nói. “Các người đừng động đến nữa! Abu Daoud không đến CHDC Đức một cách bất hợp pháp mà là được mời, và tôi đã đích thân được bộ trưởng giao nhiệm vụ bảo vệ Daoud 24/24.”
Wiegand tuân lệnh nhưng nói rằng mình đã đến
Sân bay Schönefeld và
theo dõi Daoud đến trên
chuyến bay từ Damacus với vé hạng nhất. Y rõ ràng đã được tiếp đón bởi một phái đoàn quan chức Đông Đức, sau đó được đưa bằng xe limousine đến các buổi họp cho các quan chức Đảng Cộng sản và cư trú trong một phòng suite tại Metropol, khách sạn tốt nhất ở Đông Berlin. Không còn nghi ngờ gì nữa, người Đông Đức biết chính xác họ đang làm việc với ai.
Một báo cáo của Stasi dự kiến nộp cho Erich Mielke, ngày 8 tháng 5 năm 1979, được phân loại là “Tuyệt mật”, mô tả người Palestine này như sau: “Abu Daoud, một thành viên lãnh đạo của Fatah và cơ quan tình báo của tổ chức này. Trước đây, ông ta chịu trách nhiệm về các hành vi khủng bố nghiêm trọng, chẳng hạn như trong Thế vận hội Mùa hè năm 1972 tại Munich. Một vị trí quan trọng trong việc điều phối các hoạt động toàn cầu. Sự xuất hiện của ông thường báo hiệu rằng các hoạt động quy mô lớn sắp diễn ra.”
Trong khi Abu Daoud cảm thấy an toàn sau Bức Màn Sắt, kẻ thù của ông đã sẵn sàng làm bất cứ điều gì để hành quyết ông. Cuối tháng 7 năm 1981, Abu Daoud đang ở tại Khách sạn Victoria Intercontinental sang trọng ở Warsaw, Ba Lan, di chuyển bằng giấy thông hành Iraq dưới bí danh Tarik. Bất chấp nhiều nỗ lực trốn tránh sự truy đuổi, một nhóm sát thủ nhỏ đã lần theo dấu vết của ông đến tận thủ đô Ba Lan. Thậm chí, họ chỉ cần đợi y đến Warsaw, nơi y là một vị khách năng lui tới, rồi lần theo dấu vết đến tận Victoria, khách sạn ưa thích của y trong thành phố.
Vào buổi tối thứ bảy, ngày 1 tháng 8 năm 1981, Daoud đang ngồi trong quán Café Canaletto đông đúc của khách sạn, mặc bộ đồ safari màu kaki và đeo kính râm, đang đợi cà phê và nước khoáng y vừa gọi. Một thanh niên Israel hoặc Trung Đông khoảng ngoài 20 tuổi bước đến chỗ y, rút súng lục ra và bắn năm phát vào người y từ khoảng cách không quá hai thước.
“Kẻ ám sát đã bắn thêm một phát nữa, nhưng trượt”, Tướng Slawomir Petelicki, chỉ huy Nhóm Phản ứng Cơ động chống khủng bố tinh nhuệ của Ba Lan, cho biết. “Viên đạn thứ 5 làm một du khách đến từ Cộng hòa Liên bang Đức bị thương nhẹ.” Trong khi những vị khách khác trong khách sạn vội vàng chui xuống gầm bàn để ẩn nấp, tay súng quay người và chạy ra khỏi khách sạn, đến một chiếc xe và tài xế đang đợi sẵn. Vẫn còn tỉnh táo, Daoud gượng đứng dậy và loạng choạng đi theo hướng tay súng vào sảnh khách sạn trước khi ngã gục xuống ghế dài, máu chảy ra từ vết thương.
“Daoud đã sống sót,” Tướng Petelicki nói, có vẻ như hoàn toàn ấn tượng trước sức chịu đựng của y. “Y thậm chí còn tự mình đi xuống cầu thang đến hành lang cạnh văn phòng phía trước. Tại đó, y ngã xuống ghế bành.” Người Ả Rập được đưa ngay đến bệnh viện Bộ Nội vụ, nơi các bác sĩ Ba Lan đã gắp ra một viên đạn từ cổ y và hai viên đạn từ hông phải và ruột của y. Các đặc vụ chính phủ Ba Lan đã đưa y rời khỏi bệnh viện vào ngày hôm sau để bắt đầu vài tháng hồi phục âm thầm.
Cho đến ngày nay, vẫn còn nhiều tranh cãi chính thức về việc ai đứng sau vụ ám sát. “Có hai phiên bản về sự kiện này: hoặc là dàn xếp các cuộc tranh chấp nội bộ giữa những kẻ cực đoan Palestine, một kiểu đấu đá phe phái, hoặc là một chiến dịch do cơ quan tình báo Israel [Mossad] dàn dựng”, Tướng Petelicki nói.
Cách thức hoạt động của kẻ tấn công không giống với các vụ tấn công thông thường của Mossad trong nhóm Cơn Thịnh Nộ của Chúa, nhưng nhiều nhà lãnh đạo Palestine không nghi ngờ gì rằng người Israel phải chịu trách nhiệm. “Họ đã theo dõi người của chúng tôi và săn đuổi ông ấy tại đây, rồi chọn thời điểm thuận tiện nhất để bắn ông ấy”, theo Fouad Mahmoud Yaseen, phát ngôn viên của PLO tại Warsaw.
Daoud cũng tin rằng Mossad đã cố giết ông. Sau khi được điều trị, y lại chui vào bóng tối, và đã quen với cuộc sống chạy trốn: “Gặp nguy hiểm là chuyện bình thường. Mọi người đều phải cẩn thận và biết sợ chết, nhưng tôi thì không sợ.”
Abu đã dành nhiều tháng, rồi nhiều năm, ẩn náu và thành công trong việc né tránh những cuộc truy đuổi của Israel. Những kẻ khủng bố khác tham gia âm mưu tấn công Thế vận hội Munich thì không may mắn như vậy, mặc dù người thân của các vận động viên Israel đã phải chờ hơn mười năm mới được nếm mùi báo thù.
Tuy nhiên, không phải tất cả những kẻ khủng bố Tháng Chín Đen đều bị Mossad nhắm đến. Abu Iyad dường như không nằm trong danh sách truy sát của Israel, mặc dù có bằng chứng rõ ràng về sự tham gia của hắn trong chiến dịch Munich. Trong khi một số đặc vụ Israel bị ám ảnh bởi việc giết Salameh, họ lại không truy đuổi Abu Iyad với cùng một quyết tâm. Đây là một mâu thuẫn kỳ lạ, cho đến khi người ta nhớ lại rằng nhiều người bị giết trong Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ của Chúa đã bị ám sát không chỉ vì sự tham gia của họ vào Munich mà còn vì họ đặt ra mối đe dọa chính trị trong tương lai cho nhà nước Israel, thông qua các mối liên hệ với các dịch vụ tình báo của chính phủ phương Tây.
Việc ám sát Salameh là ưu tiên hàng đầu vì hắn ta là nhân vật chủ chốt trong mối quan hệ bí mật đang chớm nở giữa người Mỹ và người Palestine. “Tôi phải nói rằng kiểu người bị Israel hạ gục là đáng ngờ”, Frank Anderson, cựu giám đốc điều hành CIA phụ trách Trung Đông, nói: “Nó nói, ‘Kẻ nào dính líu đến ngoại giao thì gây rắc rối cho chúng ta'”. Ngay cả Tướng Aharon Yariv, một trong những người chỉ huy chiến dịch ám sát của Israel, dường như cũng xác nhận rằng trong Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ của Chúa, các đặc vụ Israel đã truy đuổi những người Palestine không liên quan trực tiếp đến Munich. Bất kỳ chiến binh Palestine cấp cao nào cũng gặp nguy hiểm, ông nói. Khi nào “nhân vật được xác định rõ ràng là một trong những nhà lãnh đạo, hoặc của PLO, hoặc của Tháng Chín Đen, hoặc của Fatah, việc phê duyệt cho một chiến dịch ám sát sẽ đưa ra.” Tuy nhiên, thật kỳ lạ, Abu Iyad, thủ lĩnh của Tháng Chín Đen, lại không bị Israel sát hại.
Iyad sinh ra ở Jaffa, Palestine, vào năm 1933, nhưng khi nhà nước Israel được tuyên bố vào năm 1948, gia đình y đã trở thành người tị nạn, kiếm sống qua ngày ở Gaza. Y đồng thành lập Fatah cùng với Yasser Arafat, Mohammed Yousef Najjir (bị ám sát bởi đội sát thủ Israel do Ehud Barak chỉ huy tại Beirut năm 1973), và Khalid Wazir (người được biết đến nhiều hơn với biệt danh Abu Jihad, bị ám sát năm 1988).
Sau Chiến tranh Yom Kippur năm 1973, Abu Iyad đã điều chỉnh lập trường chính trị của mình và chấp nhận rằng không thể xóa sổ nhà nước Do Thái khỏi bản đồ chỉ bằng đấu tranh vũ trang. Khi ông chuyển sang tuổi trung niên, một viên chức cấp cao béo phì, nghiện thuốc lá triền miên trong Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO), y trở nên khá thực dụng, thậm chí còn lập luận rằng đối thoại với Israel là cái giá phải trả cho một nhà nước Palestine ở Gaza và Bờ Tây. Người Israel chẳng được lợi lộc gì khi giết y, nên y được an toàn khỏi nhóm sát thủ Cơn Thịnh nộ của Chúa. Thay vào đó, trớ trêu thay, nhiệm vụ trả thù cho 11 vận động viên Israel lại được giao cho những người Palestine khác.
Ngày 14 tháng 1 năm 1991,
Iyad đã tập hợp hai người đồng nghiệp đáng tin cậy nhất của mình là Fakhri al Umari (người đứng đầu bộ phận an ninh của Iyad, có liên quan mật thiết đến vụ thảm sát Munich) và Hael Abdel-Hamid, một quan chức cấp cao của PLO, để thảo luận về nhà lãnh đạo Iraq Saddam Hussein và cuộc khủng hoảng ở Vịnh Ba Tư.
Vào lúc 11:00 tối, Hamza Abu Zaid, một vệ sĩ ba mươi tuổi làm việc cho PLO, bước vào căn phòng trong biệt thự ở phía bắc Tunis, nơi nhóm thủ lĩnh đang ngồi, để chuyển lời cho Iyad. Khi quay người định rời đi, Zaid dừng lại ở cửa, quay lại, giơ súng tiểu liên lên và quét một loạt đạn. Cả ba người đều chết ngay tại chỗ. Zaid, một người ủng hộ Tổ chức Abu Nidal của Palestine đối thủ, đã bắt giữ con tin để trốn thoát nhưng bị bắt và cuối cùng bị kết án tử hình vì tội ám sát.
Người Israel có thể không liên quan gì đến vụ ám sát Abu Iyad, nhưng đã có các vụ ám sát và mưu sát khác vào cuối những năm 1970 và 1980 mà các nhà bình luận Trung Đông và chuyên gia tình báo quy cho nhóm “Cơn Thịnh Nộ Của Chúa”. Tuy nhiên, sự liên quan của Israel trong các vụ tấn công này chưa bao giờ được xác định rõ ràng.
Một ví dụ là vụ tấn công vào Zuhair Mohesen, người đứng đầu các hoạt động quân sự 43 tuổi của PLO, tại Cannes vào ngày 26 tháng 7 năm 1979. Y đã dành một buổi tối tại một sòng bạc địa phương
và đang trở về căn hộ sang trọng thuê ở tầng bốn trên phố La Croisette Promenade giàu có lúc 1:00 sáng thì bị một trong hai tên đứng trên cầu thang gần cửa trước bắn vào đầu.
Vụ tấn công khiến Mohesen rơi vào tình trạng hôn mê, và trách nhiệm kể từ đó đã được quy cho người Israel, người Palestine phản bội khác, và thậm chí cả người Ai Cập, có thể muốn trả thù cho vụ bọn khủng bố Palestine tấn công và chiếm giữ đại sứ quán Ai Cập ở Ankara hồi đầu tháng.
Một sự nhầm lẫn tương tự cũng xảy ra với vụ tấn công năm 1992 tại Paris nhằm vào một quan chức Palestine cấp cao khác đã tham gia lên kế hoạch cho chiến dịch Olympic Munich, mà đơn vị Cơn Thịnh Nộ của Chúa có thể đã được tái kích hoạt. Mặc dù đã hai mươi năm trôi qua kể từ vụ thảm sát Fürstenfeldbruck, Israel vẫn có một trí nhớ dài lâu.
Mục tiêu năm 1992 là Atef Bseiso, 44 tuổi, người đứng đầu các hoạt động tình báo của PLO, và là một ngôi sao đang lên trong tổ chức. Bseiso đã lái xe từ Berlin đến Paris để tham dự một loạt cuộc họp với người Palestine và ít nhất một cuộc họp với các quan chức tình báo Pháp. Y đặt một phòng dưới tên giả tại Khách sạn Meridien Montparnasse, một khách sạn sang trọng yên tĩnh ở Bờ Trái, nơi y từng ở trước đây và rất được y ưa chuộng.
Tuổi trung niên đã khiến Bseiso trở nên bất cẩn. Y đã phạm phải những sai lầm cơ bản về an ninh khi di chuyển qua châu Âu, chẳng hạn như lái một chiếc xe Jeep phô trương đến Marseilles rồi đến trụ sở PLO ở Tunisia bằng phà.
Bseiso đã bị theo dõi ngay từ những khoảnh khắc đầu tiên ở thủ đô nước Pháp vào đầu tháng 6 năm 1992. Sự giám sát chặt chẽ đến mức Bseiso nhận ra mình đang bị theo dõi. Y đã liên lạc với một chỗ quen biết trong tình báo Pháp và yêu cầu được bảo vệ. Bseiso được thông báo rằng không có ai sẵn sàng cho đến sáng hôm sau. Từ giờ đến sáng y phải tự lo liệu.
Tối hôm đó, Bseiso đang trở về khách sạn sau bữa tối với bạn bè thì hai người đàn ông có vũ trang “trông giống người châu Âu” mặc đồ thể thao màu đen nhảy xổ ra tấn công y khi y vừa bước ra khỏi một chiếc taxi gần khách sạn. Một người cầm khẩu súng lục 9 ly có gắn ống hãm thanh, bắn y ba phát ở cự ly gần trong khi người kia canh gác, rồi cả hai biến mất vào màn đêm. Khẩu súng dùng để bắn có một túi nhỏ gắn bên hông để đựng vỏ đạn rơi ra, một mánh khóe khéo léo được thiết kế để không để lại dấu vết tại hiện trường vụ án.
Trách nhiệm về vụ giết người chưa bao giờ được quy định rõ ràng cho bất kỳ bên nào. Một số quan chức tình báo Pháp tin đó là hành động của phe Palestine đối địch, có thể thuộc băng đảng khủng bố Abu Nidal, trong khi người khác tin rằng thủ phạm là người Israel.
Tổ chức Abu Nidal chắc chắn đã sát hại nhiều người Palestine như người Israel đã từng làm vào những năm 1980 và đầu những năm 1990, và bọn tấn công Bseiso có thể đã được tổ chức đó cử đến như một phần của mối thù truyền kiếp.
Tuy nhiên, có bằng chứng hoàn cảnh mạnh mẽ về sự liên quan của Israel trong vụ hành quyết. Vài giờ sau khi Bseiso bị giết, một vị tướng cấp cao của Israel có cuộc họp riêng với một nhóm phóng viên quốc phòng Israel, trong đó ông được cho là đã nói với họ rằng Bseiso có liên quan mật thiết đến vụ thảm sát Munich. Các nhà báo sau đó đã loan tin ra công chúng rằng một tên khủng bố khác phạm tội ác tày đình đã chầu trời hai thập kỷ sau vụ tấn công của Tháng Chín Đen.
Các nguồn tin trong nhóm của Abu Nidal và các quan chức cấp cao của PLO cũng liên tục phủ nhận những gợi ý cho rằng sát thủ là người Palestine. Bản thân Yasser Arafat không hề nghi ngờ ai là người chịu trách nhiệm cho vụ giết người. Trong buổi lễ cầu nguyện cho Bseiso tại trụ sở PLO, Arafat nói với những người đưa tang rằng Mossad “phải biết rằng máu của liệt sĩ chúng ta sẽ không bị lãng quên mà không được báo thù.” Arafat vô cùng tức giận trước vụ tấn công. “Mossad có quyền tự do hành động trên các vùng lãnh thổ châu Âu và Pháp ư?” ông ta hỏi một cách giận dữ. Abu Daoud cũng đổ lỗi cho người Israel. “Ngay cả sau Madrid, sau hiệp định hòa bình, liệt sĩ [Bseiso] vẫn bị Mossad giết hại tại Paris, với lý do liên quan đến vụ Munich,” ông ta nói.
Tuy nhiên, trên thực tế, nếu Israel chịu trách nhiệm về vụ giết Atef Bseiso, thì vụ tấn công có thể có liên quan nhiều đến cuộc bầu cử của Israel vào ngày 23 tháng 6 và mong muốn của chính phủ cho thấy họ rất cứng rắn với “chủ nghĩa khủng bố” Palestine, cũng như vụ thảm sát hai mươi năm trước ở Đức. Yasser Arafat đã cảnh báo các quan chức PLO phải cẩn thận trong giai đoạn trước cuộc bầu cử, và đã đưa ra lời cảnh báo cụ thể cho Bseiso: “Tôi đã nói với ông ấy, ‘Ông sẽ sang châu Âu, nên ông cần phải cẩn thận.’ Nhưng Mossad đang rình rập để phục kích ông ấy.”