CÂU CHUYỆN ĐẦY ĐỦ VỀ CUỘC THẢM SÁT TẠI THẾ VẬN HỘI MUNICH 1972 VÀ CHIẾN DỊCH BÁO THÙ CỦA ISRAEL “CƠN THỊNH NỘ CỦA CHÚA”

SIMON REEVE
Trần Quang Nghĩa dịch
7 Rượu sâm panh ăn mừng
Từ lúc các con tin và bọn khủng bố rời Làng Olympic để bay đến Fürstenfeldbruck, một lệnh cấm truyền thông đã được áp đặt vào giai đoạn cuối của thảm kịch. Tại Làng Olympic, cuộc bao vây diễn ra trước sự chứng kiến của đông đảo giới truyền thông thế giới; đó là một sân khấu toàn cầu. Fürstenfeldbruck là lò sát sinh, nơi đen tối nhất của cuộc khủng hoảng, và không có khán giả nào được phép vào.
Đối với các thành viên của phái đoàn Israel đang chờ đợi tại Làng Olympic, và hàng chục người thân ở Trung Đông, Châu Âu và Hoa Kỳ, giai đoạn khó khăn nhất trong ngày bắt đầu khi những chiếc trực thăng rời khỏi Làng và biến mất vào bầu trời đêm. Đoạn phim truyền hình trực tiếp về Connollystrasse, vốn đã đã biến cuộc bao vây thành một trong những sự kiện truyền thông lớn nhất thế kỷ, đột nhiên chấm dứt; dường như không ai biết chuyện gì đang xảy ra.
Peter Jennings nhớ lại sự căng thẳng: “Khi những chiếc trực thăng biến mất vào màn đêm, tôi rời khỏi tòa nhà và quay trở lại trụ sở ABC News, nơi chúng tôi chỉ biết chờ đợi. Toàn bộ chương trình phát sóng giờ đã dành hết cho việc này. Ý tôi là, chẳng có gì khác đang diễn ra trên sóng. Vì vậy, tôi quay trở lại và chờ đợi. Tất cả những gì tôi biết được là họ đã đến Fürstenfeldbruck. Và tôi biết được những gì tôi nghĩ là chi tiết là việc chuyển sang một chiếc máy bay phản lực sẽ đưa họ ra khỏi đất nước.”
Hầu hết người dân trong Làng, ngay cả các quan chức tham gia đàm phán, đều nghĩ rằng cuộc khủng hoảng đang được giải quyết một cách hòa bình. “Mọi người đều vui mừng”, Magdi Gohary, nhà đàm phán Ai Cập, nói. Ông tin tưởng rằng quân du kích Tháng Chín Đen sẽ rời khỏi Đức cùng các con tin, và sau đó người Israel sẽ được thả tại điểm đến của họ.
Phóng viên truyền hình Anh Gerald Seymour đã rời Làng trước bọn khủng bố và lái xe đến Fürstenfeldbruck cùng một đoàn quay phim. Anh rời đi sớm, nhưng vẫn bị kẹt xe do hàng trăm du khách Munich đổ về căn cứ. “Hàng trăm, hàng trăm chiếc xe. Để xem cái gì? Một chiếc máy bay cất cánh từ xa à?”, Seymour tự hỏi.
.
Những người Đức đến cổng sân bay rồi tản ra dọc theo vành đai, nhìn qua hàng rào, tâm trạng vui vẻ. Cả thế giới đã đến thành phố của họ để tham dự Thế vận hội, và giờ đây họ đang chứng kiến sự ra đi của những vị khách không được chào đóni. “Vấn đề đang được giải quyết; Thế vận hội đã được cứu vãn” là suy nghĩ chung của những người có mặt. Thật là siêu thực. Dân chúng Đức đi tham quan mang theo cả con cái, bình giữ nhiệt, thảm để ngồi; một số thậm chí còn mang theo ghế xếp. Và rồi khi những chiếc trực thăng chở các con tin Israel bay thấp trên đầu và hạ cánh cách đó hàng trăm mét ở trung tâm sân bay, một cơn rùng mình lan tỏa khắp đám đông. Cổ căng ra khi những người theo dõi cố gắng nhìn qua hàng rào để thoáng thấy cảnh tượng phía xa. Họ không thể nhìn thấy Issa và Tony đang đi bộ, chạy lúp xúp, trở về từ chiếc máy bay Lufthansa.
Nhưng rồi những viên đạn vạch các đường sáng lóe lên trên bầu trời. Và những người tham quan đột nhiên câm lặng.
Một số quan chức Đức tuyên bố rằng loạt đạn đầu tiên của bọn khủng bố tại Fürstenfeldbruck đã phá hủy một ăng-ten quan trọng trên tháp điều khiển, ngăn chặn các cuộc gọi điện thoại đến và đi. Tuy nhiên, các báo cáo về vụ nổ súng tại căn cứ này dần dần rỉ ra.
Hans-Jochen Vogel là một trong số các quan chức đang chờ đợi tại Làng Olympic để hóng tin tức. Mọi người đều muốn biết chuyện gì đang xảy ra tại sân bay. Vì thế ông quyết định gọi Fürstenfeldbruck. Cuộc gọi lần thử nhất của ông thất bại – hoăc đường dây đã chết hoặc không ai trả lời ở đầu bên kia – nhưng cuối cùng Vogel đã xoay sở kết nối được với một sĩ quan cảnh sát Munich mà ông đã quen biết trong quá trình chuẩn bị cho Thế vận hội.
“Chuyện gì đang xảy ra ở Fürstenfeldbruck vậy?” Vogel hét lớn vào đường truyền kêu lách tách.
“Thật khó nói!” viên cảnh sát hét lại qua điện thoại.
“Tại sao?” Vogel thắc mắc.
“Tôi đang ngồi dưới gầm bàn, và có tiếng súng nổ,” viên cảnh sát nói. “Họ đang nổ súng. Tôi không thể cung cấp cho anh thông tin gì ngay lúc này.”
Magdi Gohary được đưa bằng xe quân đội Đức từ Làng Olympic đến ga tàu địa phương khi bọn khủng bố đang hạ cánh xuống Fürstenfeldbruck. Ông ta đang trên đường về nhà, tin chắc rằng cuộc khủng hoảng đã được giải quyết mà không có thêm thương vong nào. Khi ông đến ga tàu và đến quầy bán vé, nhân viên tại quầy có một chiếc radio nhỏ ở phía sau lưng đang bật tin tức địa phương. Khi Gohary đứng xếp hàng, ông ta nghe ngóng. Rồi chương trình phát sóng bị gián đoạn bởi một tin tức nóng hổi: những tin tức đầu tiên về vụ xả súng tại Fürstenfeldbruck. Gohar tái nhợt cả mặt mày.
Thông tin ban đầu từ hiện trường còn sơ sài, nhưng các báo cáo đầu tiên cho thấy đã có một cuộc đấu súng dữ dội. Sau đó, tin đồn bắt đầu lan truyền rằng một số tên khủng bố đã bị tiêu diệt. Nhưng sau những tin tức đầu tiên, thế giới hoàn toàn mất kết nối với nguồn tin đáng tin cậy vì liên lạc với Fürsten-feldbruck bị gián đoạn. Chuyện gì đã xảy ra? Phóng viên truyền hình, nhà báo, các quan chức, chính trị gia và tất nhiên – thân nhân các con tin, đều khao khát thông tin: Chuyện gì đang xảy ra ở Fürstenfeldbruck?
Sau đó, vào lúc 11:00 giờ P.M., khoảng 20 phút sau khi hai chiếc trực thăng đáp xuống Fürstenfeldbruck và với một trận đấu súng ác liệt diễn ra trên đường băng, số phận đã chơi một trò đùa tàn nhẫn nhất với người thân của các vận động viên Israel.
Tại cổng chính của sân bay Fürstenfeldbruck, nơi có rất nhiều nhà báo và khách tham quan Đức đang tụ tập, ngoài tầm nhìn và tầm nghe đối với trung tâm sân bay, một khán giả – vì lý do không ai có thể giải thích – bỗng bước ra trước đám đông truyền thông đang tụ tập, đầu đội chiếc mũ Olympic chính thức.
“Mọi chuyện đều ổn!” anh ta hét lên. “Các con tin đã được thả!”
Trong bầu không khí hỗn loạn bên ngoài sân bay, tin đồn người Israel đã được giải thoát lan truyền như cỏ cháy. Báo chí, đang thèm khát tin tức về các con tin, vội vồ lấy lời tuyên bố này của vị khán giả, tin rằng y là một quan chức Olympic nào đó.
Các sĩ quan cảnh sát Bavaria bên ngoài vòng rào, cũng bị cắt đứt liên lạc với các sự kiện tại trung tâm sân bay, nghe được tuyên bố của quan chức Olympic giả này, liền báo cáo lại cho cấp trên. Tin vịt đã trở thành sự thật khi các sĩ quan truyền đạt chúng lên cấp trên. Các nhà báo đồng thời chuyển tin tốt lành trở về phòng biên tập của mình.
Chỉ trong vòng ba mươi phút, lịch sử đã được viết quá sớm. Lúc 11:31 tối, hãng thông tấn Reuters đã phát đi một bản tin giật gân đến toàn thế giới: “TẤT CẢ CÁC CON TIN ISRAEL ĐÃ ĐƯỢC GIẢI THOÁT.”
Sau một ngày dài căng thẳng tột độ, bản tin đã được truyền thông thế giới săn đón. Dường như nó hoàn toàn phù hợp với lịch trình tin tức: các nhà báo đã quá mệt mỏi trước đây giờ có thể hoàn tất bản tin buổi tối một cách lạc quan và đi ngủ đủ sớm để chuẩn bị cho một ngày thi đấu Olympic khác. Ai cũng muốn tin rằng mọi chuyện đã kết thúc.
Khi tin tức đầu tiên đến tai Shmuel Lalkin, trưởng đoàn đại biểu Israel, ông đã cố gắng kìm nén niềm vui. “Chúng tôi rất vui mừng và hân hoan”, ông nói. Tất cả những người đã thoát khỏi tay bọn khủng bố đều ngồi cùng nhau rất đỗi vui mừng khi được thông báo rằng các đồng đội bị bắt đã được thả. “Đây thực sự là một niềm hân hoan tột độ. Ý tôi là, tất cả chúng tôi đều nhảy cẫng lên và hét lên, ‘Tốt rồi! Họ đã được thả!’ Chúng tôi không biết bằng cách nào, nhưng họ đã được thả.”
Chẳng bao lâu sau, cả thế giới đều biết. Vogel đang đứng cùng Thủ tướng Willy Brandt thì một đạo diễn một đài truyền hình Đức đến và gợi ý rằng Brandt có thể muốn phát sóng tin tức này cho người dân Đức. “Giám đốc của hệ thống truyền hình Đức thứ hai … nói rằng ông [Brandt] nên truyền tải tin tốt lành này đến công chúng thông qua kênh của mình.” Nhưng Brandt theo bản năng biết rằng không có gì ổn ở Fürstenfeldbruck.
“Không,” ông nói với giám đốc điều hành truyền thông, “Tôi sẽ không lên truyền hình nếu không có sự xác nhận của bộ trưởng nội vụ.”
Khi tin tốt lành vẫn đang lan truyền khắp Làng Thế vận , các quan chức của Brandt vẫn đang cố gắng liên lạc với sân bay để xác nhận thông tin. Nhưng lúc đó mọi người cứ nhắc đi nhắc lại tin tức này – vậy thì chắc chắn nó phải là sự thật. Brandt và các quan chức của ông đã bị thuyết phục. Conrad Ahlers, thư ký báo chí lịch sự của Brandt và là người phát ngôn chính thức của chính phủ liên bang Đức, đã lên truyền hình quốc gia và quốc tế và tuyên bố cuộc khủng hoảng đã được giải quyết. “Tôi rất vui mừng báo cáo rằng, theo những gì chúng ta thấy hiện nay, hành động của cảnh sát đã thành công”, ông nói với người phỏng vấn Jim McKay trên kênh truyền hình ABC. “Tất nhiên,” quan chức Đức này nói thêm, sử dụng một cụm từ mà sau này ám ảnh ông, “đó là một sự gián đoạn đáng tiếc của Thế vận hội Olympic, nhưng nếu tất cả những gì diễn ra đúng như chúng ta mong đợi thì tôi nghĩ rằng… nó sẽ bị lãng quên sau vài tuần.”
Vẻ nhẹ nhõm trên khuôn mặt thường rất lãnh đạm của Ahler hiện rõ. “Đối với chúng tôi, người Đức,” ông nói với cả thế giới, “đó là một tình huống bi thảm khi tất cả những việc này lại xảy ra với người Do Thái.” Cảm ơn Chúa vì tất cả đã kết thúc, ông nói, “nếu không, một số ký ức cũ có thể sẽ quay trở lại …”
Không phải ai cũng tin Ahlers. Walther Tröger, người đã đích thân đàm phán với nhóm Palestine, là một trong những người hoài nghi. Ông biết bọn du kích Tháng Chín Đen sẽ không đầu hàng nếu không chiến đấu. “Tôi không tin điều đó,” ông tâm sự với bạn bè.
Trong khi đó, phần còn lại của thế giới bắt đầu ăn mừng việc tất cả các con tin được thả. Sáng hôm đó, trang nhất của tờ Jerusalem Post tràn ngập dòng tít lớn: “CON TIN Ở MUNICH ĐƯỢC GIẢI THOÁT AN TOÀN SAU KHI NGƯỜI ĐỨC GÀI BẪY NGƯỜI Ả RẬP TẠI SÂN BAY QUÂN SỰ.”
Tại Khách sạn Four Seasons ở trung tâm Munich, các thành viên điều hành Ủy ban Olympic Quốc tế đã được thông báo rõ ràng rằng sứ mạng giải cứu đã thành công mỹ mãn. Avery Brundage tuyên bố Thế vận hội chắc chắn sẽ tiếp tục và đi ngủ lúc 1 giờ sáng, tự nhận mình “ thấy nhẹ nhõm”.
Tại Israel, Golda Meir đã nâng ly chúc mừng với nhóm cố vấn “Nội các Nhà bếp” của mình và đích thân gọi điện cho một số người thân để báo tin vui. Không phải ai cũng tin bà. Miriam Gutfreund biết “điều gì đó khủng khiếp” đã xảy ra. Ngay cả khi con cái bà
bắt đầu ăn mừng, Rosa Springer cũng tỏ ra nghi ngờ: “Hàng xóm đến với hoa và rượu sâm panh. Tất cả họ nói, ‘Thật tốt khi sự kiện kết thúc theo cách đó.’ Tôi nói, ‘Nếu anh ấy vẫn còn sống anh ấy phải gọi
để thông báo cho tôi. Bởi vì anh ấy biết rằng tôi đang lo lắng.’ Tôi yêu cầu họ đừng vội mở chai sâm banh hoặc hoa. Tôi cảm tạ họ thật tốt bụng. Một nghệ sĩ piano tên là Kerner mang cho tôi
bó hoa anh ấy nhận được trong một buổi hòa nhạc. Tôi đã hứa với họ khi anh ấy trở về, tôi sẽ mở tiệc ăn mừng.”
Các con của bà cũng bị cuốn theo không khí lễ hội. Alex Springer, con trai nhỏ của Jacov, nhớ lại cảnh hàng xóm của họ xuất hiện với một chai sâm panh. “Chúng tôi rất vui mừng”, chị gái Mayo của cậu kể. “Chúng tôi đi ngủ với suy nghĩ rằng tất cả mọi người đều đã được giải cứu.” Tuy nhiên, “mẹ tôi rất hoài nghi… Bà đang chờ đợi một dấu hiệu của sự sống để xác nhận thông tin này.”
Ở Hà Lan, Ankie Spitzer cũng từ chối tin vào tin tức này. Một trong những người đầu tiên gọi cho cô là đại sứ Israel tại The Hague.
“Ankie,” ông nói, “tôi vừa nghe tin. Chúc mừng nhé! Mọi người đều được cứu và mọi chuyện đều ổn!”
“Ồ, tôi cũng nghe y như ngài nghe thôi,” Ankie nói, “nhưng tôi không tin.”
“Nó được phát trên radio, trên tivi, tại sao cô không tin?” Đại sứ hỏi.
“Tôi sẽ tin điều đó,” Ankie nói, “ngay khi Andre gọi cho tôi, vì tôi biết rằng ngay cả khi anh ấy bị thương hoặc trong tình trạng tồi tệ, điều đầu tiên anh ấy làm là liên lạc với tôi, và ngay khi tôi nghe thấy giọng nói của anh ấy thì tôi sẽ tin ngài và khi đó tôi cũng sẽ rất, rất vui mừng.”
“Được rồi, Ankie,” vị đại sứ mệt mỏi đáp, “tôi đi ngủ đây, vì hôm nay là một ngày kinh khủng. Ngay khi anh ấy gọi, hãy đánh thức tôi dậy, dù là vào lúc nửa đêm, và sau đó tôi muốn mời hai người ra đại sứ quán ăn tối và chúng ta có thể cười về toàn bộ chuyện này.”
Bất chấp niềm tin mạnh mẽ của cha mẹ và bạn bè rằng cuộc khủng hoảng đã được giải quyết mà không gây thương vong nào cho phía Israel, Ankie vẫn không thể chấp nhận điều đó. “Vậy là tôi ở đây, giữa đêm, tin tốt lành, mọi người khắp Hà Lan gọi điện cho tôi, tất cả bạn bè tôi, gia đình tôi, và tôi nói, ‘Tôi chỉ không muốn lắng nghe.’ Cha tôi đi mở một chai sâm panh và tôi xin ông hãy cất chai rượu đi, và nói ngay khi Andre gọi điện tôi sẽ uống rượu mừng và nói chia sẻ với mọi người.”
Rồi nỗi khắc khoải lại bắt đầu. Từng phút trôi qua trong khi Ankie mỏi mòn chờ đợi Andre gọi điện. “Đã một giờ rồi mà Andre vẫn chưa gọi,” cô nói.
Ankie gọi Làng Olympic nói với “Shmuel Lalkin, “Shmuel Có chuyện gì vậy?” cô hỏi. “Andre đâu rồi? Sao họ không gọi điện?”
“Ankie, tôi không biết, chúng tôi những người tự do tụ họp ở đây, còn các con tin vẫn ở sân bay và chúng tôi vẫn chưa gặp họ, nhưng hãy gọi lại sau nửa giờ nữa nhé,” Lalkin trả lời.
Ba mươi phút kinh hoàng nữa trôi qua cho đến 1:30 sáng. Trên truyền hình ABC và trên toàn thế giới, Jim McKay đang nói với khán giả, “Tin mới nhất chúng ta nhận được từ sân bay – trích dẫn ‘Mọi thứ đang hỗn loạn ngoài kia’, vẫn còn tiếng súng nổ. Có báo cáo về một chiếc trực thăng đang bốc cháy. Tất cả dường như chỉ là sự hỗn loạn. Chưa có gì chắc chắn.”
Ankie lại gọi cho Lalkin. “Tôi nghe nói có người bị thương,” trưởng đoàn nói với cô. “Cô hãy đợi thêm một chút nữa.”
Vào lúc 2:00 sáng, Ankie lại gọi cho Lalkin để hỏi thêm tin tức và được thông báo rằng tất cả con tin Israel đã bị thương, và một số bị thương nặng. “Tôi gọi điện cứ mỗi nửa tiếng và mỗi lần như vậy, tin tức lại càng tệ hơn”, cô nói.
Trong khi đó, Jim McKay cảnh báo thế giới rằng các báo cáo đang ngày càng bi quan hơn: “Tin đầu tiên chúng ta nhận được hiện nay là ít nhất ba người Ả Rập đang nằm viện và một chiếc trực thăng đã bị cháy. Vẫn chưa có thông tin gì về các con tin Israel mà chúng ta muốn biết. …”
Lúc 3 giờ sáng, Ankie gọi cho Shmuel và nói: “Này, Shmuel Lalkin, nếu anh biết có chuyện gì xảy ra thì hãy nói cho tôi biết ngay, vì tôi không phải là Hercules. Tôi đã đợi từ bảy giờ sáng và bây giờ là ba giờ sáng hôm sau.Tôi chỉ muốn biết chuyện gì đã xảy ra với Andre thôi!”
Nhưng ngay cả Lalkin cũng chưa được thông báo về những gì đã xảy ra ở sân bay. “Không ai ở đây biết cả,” anh ta nói như xin lỗi và yêu cầu cô ấy gọi lại vào lúc 3:30 sáng.
Sự thật kinh hoàng chỉ được tiết lộ vào khoảng sau 3 giờ sáng, khi Zvi Zamir và Victor Cohen cuối cùng cũng trở về Làng Olympic và Zamir gọi điện cho Golda Meir ở nhà tại Israel.
… “Golda, tôi có tin xấu đây,” ông ta chậm rãi nói. “Tôi vừa từ sân bay về… Không còn ai trong đội Israel sống sót.”
Golda Meir không thể tin được những gì bà đang nghe. Bà liền phản đối: “Tin tốt lành đang phát trên radio, trên tivi …” “Golda,” Za-mir ngắt lời, “Tôi đã nhìn thấy họ … Chúng tôi đã tận mắt nhìn thấy họ trên trực thăng. Không ai còn sống cả.” …
Meir như chết đứng.
Tin xấu lan truyền cũng nhanh chóng như tin tức trước đó về việc thả con tin. Reuters đã đưa ra thông tin đính chính lúc 3:17 sáng:
“TIN MỚI NHẤT! TẤT CẢ CÁC CON TIN ISRAEL BỊ QUÂN DU KÍCH Ả RẬP BẮT GIỮ ĐỀU BỊ GIẾT!
Jim McKay đã đưa tin đến khắp nơi trên thế giới. Trông anh nhợt nhạt và mệt mỏi, anh nhìn thẳng về phía máy quay và, khi tin tức mới nhất được truyền đến tai ông qua một đường truyền radio nhỏ xíu, anh nói: “Tôi xin được nói lời cuối cùng. Khi tôi còn nhỏ, cha tôi thường nói rằng những hy vọng lớn nhất và nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của chúng ta hiếm khi thành hiện thực”, anh ngừng lại. “Những nỗi sợ hãi tồi tệ nhất của chúng ta đã thành hiện thực tối nay… Giờ đây, họ nói rằng đã có… 11 con tin. Hai người bị giết trong căn hộ sáng hôm qua. Chín người bị giết tại sân bay tối nay…. Họ đã mất cả rồi,” anh nói thêm một cách giản dị, bằng một câu nói vang vọng qua nhiều năm. McKay trông yếu ớt thấy rõ. “Tất cả đã kết thúc,” anh nói. “Điều gì sẽ xảy ra với Thế vận hội Olympic lần thứ XX? … Không ai trong chúng ta biết. Điều gì sẽ xảy ra với tiến trình lịch sử thế giới? … tôi không còn gì để nói …”
Tin tức dần dần chìm xuống. Người thân của các vận động viên và khán giả truyền hình trên khắp thế giới, ở một mức độ nào đó, đã cùng chia sẻ một thảm kịch. Hàng triệu người đã dành cả ngày để theo dõi diễn biến của thảm kịch trên màn hình tivi. Họ không thể tin vào những gì mình đang nghe thấy.
Đó là một khoảnh khắc kinh hoàng trong lịch sử truyền hình. Theo Peter Jennings, “Tôi đang ngồi với Jim [McKay] và Lou Cioffi, một thông tín viên khác của ABC News, khi tin tức ập đến cho biết mọi thứ đã sụp đổ hoàn toàn. Không khí trong phòng như ngưng tụ lại vì tôi nghĩ không ai trong chúng tôi dành thời gian để nghĩ rằng mọi chuyện sẽ kết thúc như thế này.”
Tin tức đã khiến người thân và những người Israel sống sót bàng hoàng. “Ý tôi là, đây là một tình huống rất khó khăn cho tất cả mọi người”, Shmuel Lalkin nói. “Dù bạn là một nhà lãnh đạo hay một vận động viên, điều này là quá sức chịu đựng đối với chúng tôi. Năm phút trước, họ đều được thả ra. Năm phút sau, tất cả bọn họ đều đã chết.”
Ankie Spitzer là một trong những người dán mắt vào màn hình tivi. Cô đáng lẽ phải gọi cho Shmuel Lalkin ở Munich lúc 3:30 sáng để hỏi thăm tin tức về người chồng yêu quý của mình, “nhưng tôi không cần phải gọi lúc 3:30, vì mười phút sau trên tivi xuất hiện thông báo rằng tất cả con tin Israel đều bị giết, tất cả không một ai sống sót.”
Ankie gọi điện đến Làng Olympic, cầu mong tuyệt vọng rằng những tin tức đó là sai. Cuộc gọi của cô được Dov Atzmon, một nhà báo của tờ Yediot Aharonot ở Tel Aviv, trả lời. Atzmon không cần phải phát biểu dài dòng. Anh chật vật tìm từ ngữ thích hợp, vì biết rằng chúng sẽ làm tan nát cõi lòng cô.
“Ankie,” anh nói đơn giản, giọng anh khàn khàn qua đường dây, “Chúng tôi ở bên cô.”
Người vợ trẻ, một góa phụ mới, hiểu ngay lập tức. “Sau đó là tiếng than khóc cùng cất lên trong nhà tôi, trong gia đình tôi, trong anh chị em tôi.”
Trời đã rạng sáng khi tin tức lan truyền khắp Israel. “Tôi lạnh và suốt đêm không thể ngủ, mặc dù tôi không biết chính xác chuyện gì đã xảy ra”, Rosa Springer kể lại. Vừa hừng sáng, cô nghe thấy tiếng chuông cửa và chạy xuống cầu thang. Đó là hai người bạn thân trong gia đình – một thành viên của đội tuyển Israel và cha anh ấy – đã theo dõi tin tức quốc tế suốt đêm. Vận động viên đã báo tin khủng khiếp. “Ông ấy nói với chúng tôi rằng đã có nhầm lẫn,” Rosa nói, “mọi người đều bị sát hại, và trong số đó có chồng tôi.”
Con gái bà, Mayo, nhớ lại cảm giác tuyệt vọng tột độ: “Tôi không biết phải làm gì với bản thân mình. Giữa niềm vui và sự nhẹ nhõm lớn lao mà chúng tôi cảm nhận được, bạn bỗng rơi xuống vực sâu nhất. Không còn vực sâu nào hơn nữa.”
Ở Munich, các quan chức Đức cũng vô cùng đau đớn. Vogel nhớ lại rằng mọi người đều im lặng khi nghe tin. “Thật kinh khủng”, ông nói.
Cảm giác hoảng loạn trong giới chức Đức thật rõ ràng. Những sai lầm của họ đã bị phơi bày. Các con tin đã chết vì sự bất lực của người Đức, dẫn đến một cuộc đấu súng kéo dài. Sau đó, thế giới được thông báo rằng tất cả các con tin đều an toàn. Tin tốt lành sau đó đã bị rút lại và thay thế bằng sự thật khủng khiếp. Có thể có điều gì khác sai sót không?
Lúc 3 giờ sáng, các quan chức Đức đã ngồi trước hai nghìn nhà báo chen chúc tại trung tâm báo chí của khu liên hợp Olympic. Trong số những người có mặt có Bruno Merk, Manfred Schreiber, Hans-Dietrich Genscher và Georg Wolf. Giữa những khoảng dừng liên tục để phát biểu được dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp,
Merck dành mười lăm phút tỉ mỉ trình bày chi tiết các cuộc đàm phán giữa phía Đức và những tên khủng bố.
Theo người Đức, tất cả là do lỗi của người Do Thái và người Ả Rập. Bọn khủng bố và chín con tin người Israel của chúng đã có thể bay từ Munich đến Ai Cập nếu chính phủ Ai Cập đảm bảo thả những người Israel này ngay sau khi họ đến nơi. Nhưng Willy Brandt đã không nhận được sự đảm bảo an toàn của họ qua điện thoại từ thủ tướng Ai Cập, và lệnh tấn công bọn khủng bố sau đã được ban hành khi chúng đổ bộ xuống Fürstenfeldbruck.
Sau khi Merk phát biểu xong, Schreiber trả lời các câu hỏi từ đám đông đang sững sờ. Ông tuyên bố tất cả những người tham gia chiến dịch đều biết “khả năng thành công rất thấp”, nhưng ông nói rằng Israel đã được thông báo đầy đủ về kế hoạch phục kích tại sân bay và nhận thức được khả năng thất bại rất cao.
Theo Schreiber, cảnh sát chẳng thể làm gì hơn. Ban đầu, họ tính xông vào tòa nhà Israel ở rồi bác bỏ vì quá mạo hiểm. Sau đó, ông nói, họ nghĩ đến việc chia tách những tên khủng bố khỏi con tin trong bãi đậu xe ngầm trong khi tất cả được hộ tống lên trực thăng. Kế hoạch đó cũng bị hủy bỏ vì bọn khủng bố đòi xe buýt đưa đến sân bay. “Vì vậy, cơ hội cuối cùng là tìm cách tấn công người Ả Rập ở sân bay. Đó là kế hoạch chúng tôi đã thực hiện.”
Schreiber đã bay đến Fürstenfeldbruck trên chiếc trực thăng thứ ba và cho biết ông đang đứng ở lối vào tòa nhà sân bay chính khi những tiếng súng đầu tiên vang lên. “Thực ra, tôi đang đứng cạnh viên cảnh sát bị bắn vào đầu, và chính tôi cũng bị bắn. Lúc đó, tôi không thể kiểm soát tình hình nữa.”
Đại úy Joseph Kistler, phát ngôn viên của cảnh sát Munich, lúc đầu nói cảnh sát không phải là người nổ súng đầu tiên, mở màn cho cuộc tắm máu tại sân bay. Kistler khẳng định một tên khủng bố đã nổ súng trước, bắn một phi công trực thăng: “Ở khoảng cách giữa trực thăng và máy bay, tên khủng bố bống trở nên lo lắng và bắn viên phi công.” Sau đó, Schreiber mới thừa nhận cảnh sát tại sân bay đã nổ súng trước, nhưng sau đó nói rằng lệnh này chỉ được đưa ra bởi một sĩ quan cảnh sát cấp cao khi rõ ràng bọn khủng bố đã phát hiện cảnh sát bắn tỉa đang phục kích.
Schreiber khẳng định: “Các con tin chỉ có thể được cứu nếu những kẻ bắt giữ họ phạm sai lầm. Cơ hội giải cứu họ của chúng tôi gần như bằng không. Chúng tôi không gây tác động gì đến chính phủ Israel cũng như bọn khủng bố.” Schreiber kiên quyết: bọn khủng bố là những kẻ cuồng tín, “không phải là tay mơ”, và do đó gần như không thể ngăn chặn. “Một số người nói rằng cảnh sát mắc sai lầm đã gây ra cái chết của các con tin. Nhưng thực tế thì ngược lại. Các con tin đã chết vì bọn khủng bố không hề phạm sai lầm.”
Tuy nhiên, vụ thảm sát Fürstenfeldbruck không phải là lần đầu tiên quyền lãnh đạo của Schreiber bị chất vấn. Trước đây, lực lượng của ông đã từng bị cáo buộc là hung hăng, dễ kích động, đáng chú ý nhất là trong vụ bao vây ngân hàng khét tiếng vào tháng tám năm ngoái khi một nữ con tin trẻ tuổi vô tình bị cảnh sát giết chết. “Bọn tội phạm phải nhận ra rằng Munich không phải là thành phố có thể bị bắt cóc đòi tiền chuộc”, Schreiber được cho là đã nói như vậy lúc đó – hóa ra là có tính tiên tri.
Các lực lượng Đức khác dường như cũng rất dễ nổi nóng. Ba tháng trước Thế vận hội Munich, Iain Macleod, một doanh nhân người Scotland, đã bị một thám tử mặc thường phục bắn chết tại căn hộ của mình ở Stuttgart. Cảnh sát đã nhầm tưởng Macleod là thủ phạm có liên quan đến băng đảng khủng bố Baader-Meinhof và căn hộ của ông ta bị một nhóm vô chính phủ hung bạo chiếm giữ. Macleod đang ngủ một mình thì bị bắn chết bằng súng máy. Một tháng sau, cảnh sát ở Duisburg đã bắn chết một người lái xe máy say rượu khi anh ta phớt lờ lệnh dừng lại ở một chốt chặn đường và không chịu giơ tay lên. Cùng thời điểm đó, ba cảnh sát đã thiệt mạng trong một cuộc đấu súng dữ dội bên trong căn hộ của một tên cướp có vũ trang bị tình nghi.
Các nhà hoạt động Palestine tham gia vụ tấn công đều sẵn sàng gán cho cảnh sát Đức là những kẻ gây hấn. “Chúng tôi dự định một chiến dịch không đổ máu”, Abu Daoud, một trong những người đứng sau vụ tấn công, tuyên bố. “Kế hoạch là gây áp lực quốc tế thông qua năm trăm triệu chiếc TV, để chính phủ Israel không thể ngoan cố theo đuổi mục tiêu riêng của mình.”
Chúng tôi thực sự không bao giờ có ý định đổ máu. Kế hoạch của chúng tôi là để mọi chuyện diễn ra trong hòa bình. Chúng tôi thậm chí còn lên kế hoạch cho một van an toàn, rằng trong trường hợp mọi nỗ lực đều bị từ chối, chúng tôi sẽ chuyển các con tin đến một quốc gia Ả Rập khác và thả họ ở đó.”
Những fedayeen “yêu cầu phải thả tù nhân Palestine khỏi các nhà tù ở khu vực bị chiếm đóng, chờ tối đa một hoặc hai ngày, và, nếu phía Israel vẫn ngoan cố, hãy dàn xếp với chính quyền Đức một kế hoạch đưa họ và các vận động viên Israel đến một quốc gia khác, cụ thể là nơi có quan hệ tốt với Palestine, như Morocco, Algeria, Ai Cập, những quốc gia mà chúng tôi có thể gây áp lực để thả người của chúng tôi. Khi đến nơi, họ phải giao nộp vũ khí, thả con tin và đầu hàng chính quyền sở tại.Thật không may, họ chưa bao giờ có cơ hội làm điều này.” Daoud mô tả chiến dịch “giải cứu” tại sân bay là một cuộc phục kích. Ông nói rằng người Palestine “đã tự vệ và một cuộc đấu súng đã xảy ra.”
Mặc dù có vẻ như người Palestine sẽ không để người Israel đi vì họ không thể chịu đựng được một cuộc tấn công khủng bố thất bại nữa, lập luận này trở nên mang tính giả thuyết bởi sứ mạng “giải cứu hỗn loạn”của Đức.
Ngay cả Willy Brandt sau này cũng thừa nhận rằng đó là một thất bại hoàn toàn: “Lúc đó tôi vô cùng thất vọng, thứ nhất là vì Thế vận hội mà chúng tôi đã cất công gầy dựng với nhiều tâm huyết lại không được ghi vào lịch sử như một đại lễ chung vui thực sự, tôi sợ rằng danh tiếng quốc tế của chúng tôi sẽ bị hủy hoại trong nhiều năm và thứ hai là vì các biện pháp đối phó của chúng tôi đã tỏ ra vô ích. Một số
các nhà phê bình đã đề cập, không phải không có lý do, đến ‘tính nghiệp dư rành rành’ của chúng.”
Với tất cả các con tin Israel bị tàn sát, nỗi thống khổ của các vận động viên bị bắt đã được thay thế bằng nỗi thống khổ của những người sống sót và thân nhân. Chính quyền Đức đã yêu cầu Shmuel Lalkin, với tư cách là trưởng đoàn Israel, bay đến Fürstenfeldbruck để nhận dạng thi thể của các vận động viên. Bình minh chưa ló dạng khi Lalkin và một bác sĩ được trực thăng đưa đi trên cùng tuyến đường mà các con tin đã đi qua vài giờ trước đó. “Chúng tôi đã chứng kiến tất cả,” Lalkin nói. “Đó là một bức tranh khắc nghiệt. Rất khắc nghiệt. … Điều này … thực sự kinh hoàng.”
Trong khi đó, tại Hà Lan, Ankie Spitzer đang cố gắng sắp xếp một chuyến bay đến Munich. Đó là điều duy nhất cô nghĩ đến. Sáng sớm, cô gọi điện cho đại sứ Israel tại The Hague, Hà Lan.
“Andre có gọi không?”
Đại sứ hỏi, giọng ngái ngủ. “Tôi đã bảo thế nào anh ấy cũng sẽ gọi mà.”
“Không,” Ankie buồn bã nói, “anh ấy không gọi. Trong khi anh ngủ mọi người đều chết cả rồi. Anh làm ơn gửi xe cho tôi, vì tôi phải ra sân bay, và làm ơn sắp xếp chuyến bay cho tôi… tôi phải quay lại Munich.”
Tại Làng Olympic, nhiều vận động viên đã đi thẳng đến giường ngủ sau khi nghe những báo cáo đầu tiên rằng các con tin đã được trả tự do. Hôm đó quả là một ngày mệt mỏi. Tuy nhiên, với những người khác, giấc ngủ là điều không thể. “Chúng tôi thức trắng đêm,” Gad Tsabari nói. “Chúng tôi không thể ngủ được dù chỉ một phút.”
Esther Roth đã được tiêm thuốc an thần vào đêm hôm trước, khi cô không thể chịu đựng được nỗi đau khi biết Amitzur Shapira bị chĩa súng vào người. Cô tỉnh dậy trong trạng thái choáng váng vào sáng sớm. “Mọi người vào phòng tôi, nhưng không ai dám nói với tôi điều gì.”
Chuyện gì đã xảy ra. Tất cả mọi người đều biết, và qua nét mặt của họ, tôi có thể đoán được rằng… một chuyện gì đó đã xảy ra. Mọi người cúi gằm mặt. Họ không biết phải nói với tôi tin khủng khiếp này thế nào.
Rất ít người thân, người sống sót và các quan chức cấp cao có thể nhớ chính xác những gì họ đã làm trong những giờ ngay sau khi nghe tin về vụ thảm sát. Hầu hết đều bị sốc nặng, nỗi đau càng tăng thêm bởi niềm tin ban đầu rằng các con tin đã được thả ra.
Vụ sát hại Moshe Weinberg và Yossef Romano ngay từ đầu cuộc tấn công của người Palestine dự kiến sẽ được tưởng niệm tại một buổi lễ cử hành lúc 10 giờ sáng tại Sân vận động Olympic. Khi bình minh ló dạng trên Làng, các quan chức thông báo rằng chín người Israel còn lại và Anton Fliegerbauer, viên cảnh sát Đức bị sát hại tại Fürstenfeldbruck, cũng sẽ được tưởng niệm.
Ankie Spitzer đến vừa kịp giờ lễ. Cô được đón tại sân bay và sau đó được đưa đến Sân vận động Olympic. Chỉ còn vài phút nữa là buổi lễ bắt đầu, và Ankie phải chạy qua Làng Olympic để đến sân vận động. Trong lúc đó, cô liếc nhìn từ trái sang phải và thấy các vận động viên đang khởi động và tập luyện cho các nội dung thi đấu. “Tôi đã thốt lên, ‘Thật không thể tin được!’ Tôi đang chạy qua Làng Olympic và mọi người vẫn đang tập luyện, còn tôi thì chạy đến dự lễ tưởng niệm 11 vận động viên vừa bị sát hại. Làm sao họ vẫn còn chơi thể thao được? Tôi không thể hiểu nổi.”
Đám đông tại lễ tưởng niệm ở Sân vận động Olympic sáng hôm đó đau buồn trước những sự kiện diễn ra trong ba mươi giờ trước đó. Một số nguyên thủ quốc gia đã có mặt trong số bảy mươi ngàn người có mặt, và không khi buồn thảm càng day dứt khi giai điệu của chương hai tác phẩm Eroica của Beethoven cất lên. Tinh thần Olympic đã tan vỡ.
Mười một ghế được để trống để tưởng nhớ những người đã khuất. Những người Israel còn sống, bao gồm cả Gad Tsabari, vẫn còn mang đôi dép xỏ ngón mà cảnh sát Đức đã tặng anh sáng hôm trước, cảm thấy buổi lễ tưởng niệm gần như không thể chịu đựng nổi. “Mọi người đều đang khóc,” Shmuel Lalkin nhớ lại. “Thật khó khăn khi phải ở đó.”
Với tư cách là trưởng đoàn Israel, Lalkin được mời phát biểu trước hàng ngàn người có mặt và hàng triệu người đang xem truyền hình. “Tôi đã nói rằng thay mặt cho các cơ quan thể thao Israel, các vận động viên, huấn luyện viên và chính phủ Israel …. chúng tôi sẽ trở lại Thế vận hội, mặc dù chúng tôi đã mất mười một vận động viên và huấn luyện viên xuất sắc nhất của mình tại Munich.”
Sau đó, Avery Brundage đã phát biểu trước những người có mặt và những người đang theo dõi qua truyền hình: “Mọi người văn minh đều kinh hoàng trước sự xâm nhập man rợ của bọn khủng bố vào khu vực Olympic vốn yên bình. Chúng ta thương tiếc những người bạn Israel của chúng ta… những nạn nhân của cuộc tấn công tàn bạo này. Cờ Olympic và cờ của cả thế giới đều treo rủ. Đáng buồn thay, trong thế giới không hoàn hảo này, sự vĩ đại và tầm quan trọng của Thế vận hội Olympic càng lớn thì nó càng dễ bị thao túng bởi thương mại, chính trị và bây giờ là tội phạm.”
Thật dễ hiểu, các đội Ả Rập đã tẩy chay buổi lễ tưởng niệm, vẫn ở lại Làng Olympic, và các quan chức của đội Lebanon nói với các nhà báo: “Chúng tôi không đến sân vận động. Chúng tôi bị trưởng phái đoàn quản thúc tại gia.” Phản ứng từ đội Saudi Arabia còn thái quá hơn: “Buổi lễ nào? Vụ xả súng nào?”
Khi buổi lễ kết thúc Ankie quay trở lại số 31 Connollystrasse với
các vận động viên sống sót và dự định đợi họ vào trong tòa nhà để lấy đồ đạc cá nhân. Nhưng ngay cả trong những giờ đau buồn đầu tiên, Ankie vẫn muốn biết chính xác chuyện gì đã xảy ra.
“Thôi đã đến đây rồi, em cũng muốn lấy đồ đạc cá nhân của Andre”, cô nói với các quan chức Đức và Israel.
“Không, em không nên vào phòng anh ấy vì đó là căn phòng mà tất cả các anh ấy bị giam giữ làm con tin, và
đó là nơi chúng bắn Yossef Romano”, cô được cho biết.
“Em phải đi lấy quần áo và những thứ anh ấy bỏ lại,” Ankie nói với các viên chức một cách thách thức. Không ai có thể ngăn cản được cô.
Khi bước lên cầu thang dẫn vào căn hộ và nhìn lên, cô thấy máu còn đọng lại trên cầu thang. “Tôi tự hỏi, ‘Nếu cầu thang trông thế này, thì bên trong sẽ trông thế nào?'”
“Ankie, đừng đi lên, ĐỪNG đi lên”, các quan chức nói.
Nhưng Ankie từ chối lắng nghe. Cô cần phải nhìn thấy nơi chồng mình bị bắt làm con tin. Ankie lần theo dấu máu trên cầu thang đến vũng máu đã thấm đẫm sàn phòng nơi xác của Yossef Romano bị bỏ lại ngày.hôm qua.
Ankie nhớ lại: “Tôi đã tận mắt chứng kiến những gì xảy ra. Tôi đã thấy chúng làm gì với những con tin này. Cảnh tượng ở đó thật kinh hoàng. Tôi không bao giờ quên cảnh hỗn loạn ở căn phòng đó.” Đó là một cảnh tượng hoang tàn, một căn phòng đầy những hộp thức ăn bỏ đi, máu, phân, và mùi hôi thối của cái chết và nỗi khiếp đảm. Những mảnh mô và não của cơ thể văng tung tóe khắp tường, cùng với bốn lỗ đạn lớn xuyên qua cơ thể Yossef Romano và khoét ra những mảng thạch cao.
“Đống đổ nát, máu me, cảnh hỗn loạn khủng khiếp, tôi vẫn còn thấy rõ trước mắt mình,” Ankie nói. “Và tôi đứng đó, tự nói với bản thân… nếu Andre ngồi đây với người bạn đang chết tức tưởi trước mắt, tay chân bị trói vào giường. Tôi nhìn quanh căn phòng này, tôi tự nhủ nếu đây là nơi anh ấy trải qua 21 giờ cuối cùng của cuộc đời mình, thì sẽ phải có người trả giá cho việc đó.
Đứng giữa thảm cảnh chứng tích, Ankie trịnh trọng thề rằng sẽ không được nghỉ ngơi cho đến khi thù này được báo. “Tôi vẫn đang tìm kiếm những kẻ phải chịu trả giá. Tôi vẫn còn muốn họ phải trả giá cho những gì họ đã làm lúc đó.”
8
Lễ tang bắt đầu
Ngay cả khi lễ tưởng niệm tại Sân vận động Olympic sắp kết thúc, công tác chuẩn bị vẫn đang được tiến hành để đưa thi hài của mười một vận động viên về với người thân trong những chiếc quan tài bằng gỗ thông. Truyền thống Do Thái quy định rằng thi thể phải được phủ khăn cầu nguyện, nhưng một số thi thể đã cháy thành than và bị cắt nát, khiến nhiệm vụ này thật khó khăn.
Trong khi thi hài của David Berger được đưa về với gia đình tại Hoa Kỳ trên một máy bay phản lực của Không quân Hoa Kỳ do Tổng thống Nixon cử đến, thi hài của mười vận động viên khác được đưa về Israel trên một chiếc Boeing của hãng El Al. Những chiếc quan tài đã đến Sân bay Lod, cách Tel Aviv mười hai dặm về phía đông nam, lúc 11:45 sáng ngày 7 tháng 9, giữa cái nóng oi ả. Tất cả các cửa hàng trong cả nước đều đóng cửa, viên chức làm việc.tại các văn phòng chính phủ và cảng biển đều dừng hoạt động, và tàu thuyền phải bấm còi trong nhiều giờ.
Esther Roth, người đi cùng chuyến bay với các thi hài, nhớ lại đó là “một ngày rất khó khăn đối với chúng tôi”.
Tuvia Sokolovsky, vận động viên cử tạ đã trốn thoát khỏi số 31 phố Connollystrasse qua cửa sổ khi Black September đến cửa trước, đã đi trên cùng chuyến bay. Gần như ngay lập tức, anh phải đối mặt với cảm giác “tội lỗi” vì anh đã sống sót sau vụ tấn công trong khi những người khác đã chết: “Tôi trở về Israel một mình. Tôi đã mất những người bạn thân nhất của mình ở đó. Chúng tôi có năm người và tôi là vận động viên cử tạ duy nhất trở về.”
Henry Herskowitz, xạ thủ người Israel đã cầm cờ quốc gia trong lễ khai mạc Olympic, cũng chịu đựng nỗi đau tinh thần tương tự: “Thật kinh khủng. Chúng tôi quay về Israel khi còn sống và vâng, những người khác trở về trong quan tài.” Vợ của Herskowitz chạy đến ôm hôn ông. “Tôi nói với bà ấy rằng mình vẫn khỏe và bảo bà ấy đi đi. Tôi cảm thấy rất tệ. Tôi thấy những gia đình khác nhận được quan tài và tôi cảm thấy tội lỗi vì mình còn sống. Tôi nghĩ ‘Tại sao mình lại đáng được sống trong khi họ lại nằm trong quan tài?'”
Các vận động viên khóc nức nở khi chứng kiến những chiếc quan tài chứa đồng đội của họ được đưa xuống. Sau đó, đến lượt các gia đình bắt đầu nỗi đau buồn. Đối với Ankie Spitzer, người gần như đơn độc trong nỗi đau buồn ở Munich, đây là lần đầu tiên cô gặp những người thân khác bên người chồng đã khuất. “Đột nhiên tôi thấy được nỗi đau buồn của tất cả những gia đình đang chờ đợi quan tài được trả về.” Cô bước ra khỏi máy bay để hít thở không khí Israel nhưng cảm thấy một cảm xúc dâng trào đến nỗi cô quay trở lại bên trong. Khoảng 4.500 người đang tụ tập ở sân bay chờ nhận quan tài. “Tôi thực sự phải cố gắng lắm mới xuống được cầu thang máy bay và gặp gỡ những gia đình khác. Thật khó khăn; rất, rất khó để chứng kiến nỗi đau buồn. Là một người Hà Lan, tôi không quen với kiểu đau buồn bộc phát như vậy. Tôi rất khó để đồng cảm với điều đó vì tôi không được nuôi dạy theo cách đó. . . Thật kinh khủng.”
Tuy nhiên, Ankie vẫn cảm thấy rất cô đơn ở sân bay. Sau lễ tưởng niệm ở Munich, cô đã gọi điện về nhà bố mẹ cô ở Hà Lan để kiểm tra xem bé Anouk có khỏe không: “Tôi gọi đến nhà bố mẹ nhưng không có ai trả lời. Tôi cũng gọi đến nhà anh trai và chị gái, nhưng không có ai ở đó. Sau đó, tôi gọi đến bệnh viện để hỏi xem Anouk có ổn không và họ nói, ‘Con bé không còn ở bệnh viện nữa’.” Ankie tỏ ra không tin.
“Vậy em ở đâu?” Ankie hỏi.
“Chúng tôi đã được cung cấp một số điện thoại mà cô phải gọi,” nhân viên bệnh viện nói. “Họ sẽ trả lời cho cô.”
Khi Ankie gọi đến số đó, cô được chuyển máy đến Đại sứ quán Israel tại The Hague. “Họ nói rằng chúng tôi đã quyết định sơ tán toàn bộ gia đình cô trong một khoảng thời gian không xác định vì cha mẹ cô nhận được bốn lời đe dọa mà chúng tôi đã ghi âm, có lẽ từ Đức, từ một người nói tiếng Đức với giọng địa phương, hỏi em bé ở đâu.”
Chuyện này đúng là ác mộng của người Do Thái. Sau tất cả những gì Ankie đã trải qua, giờ đây có người gọi từ Đức đến đe dọa tính mạng con gái bé bỏng của cô. Các quan chức an ninh tại đại sứ quán Israel, lo sợ bọn khủng bố Tháng Chín Đen có thể bắt cóc Anouk và đòi chuộc đổi lấy tự do cho ba người Palestine còn lại bị bắt tại Fürstenfeldbruck, đã đưa bé đi. Điều đó có nghĩa là khi Ankie đến Israel cùng với quan tài của chồng, cô không nhận được sự hỗ trợ từ gia đình ruột thịt của mình. Thay vào đó, những thân nhân khác đã đến an ủi và động viên cô. Không ai cô đơn khi cả nước đau buồn.
Nhưng nỗi đau của Ankie Spitzer kéo dài. Các quan chức an ninh Israel quyết định đặt cả gia đình dưới sự bảo vệ. “Ngay tối hôm tang lễ, tôi đã ngồi trong một cuộc họp dài với đủ loại người, họ nói với tôi, ‘Có lẽ những lời đe dọa chẳng là gì cả, nhưng cũng có thể rất nghiêm trọng.” Các nhân viên an ninh không muốn mạo hiểm. Họ nói rằng Anouk “sẽ ở lại Hà Lan cho đến khi chúng tôi có quyết định mới.” Ankie thậm chí còn không thể nói chuyện với gia đình ở Hà Lan vì sợ bọn khủng bố lần ra được cuộc gọi. Phải mất ba tuần nữa Anouk mới được đưa đến Israel để đoàn tụ với mẹ.
Đối với Mayo Springer, con gái của Jacov, một trong những khoảnh khắc đau đớn nhất trong ngày là nhìn thấy những chiếc quan tài xếp thành hàng dài cạnh nhau ở sân bay. Cô vẫn còn day dứt vì biết mình sẽ không bao giờ được nói lời từ biệt với cha. “Tất cả họ đều đến đó bằng quan tài nên không thể nào đến gần và nói ‘Tạm biệt’. Thậm chí không thể nhìn mặt ông mà nói ‘Ông ấy đã chết rồi’.” Nỗi đau khổ của cô mới chỉ bắt đầu.
Chỉ khi thi thể của mười vận động viên được chuyển từ Sân bay Lod để làm lễ an táng nhiều người thân cuối cùng mới bắt đầu hiểu rằng những người thân yêu của mình sẽ không bao giờ sống sót trở về từ Đức. Cho đến lúc đó, thảm kịch dường như quá phi thực tế, quá bất khả thi.
Khi một đoàn xe tải quân đội chở quan tài rời sân bay và chia tay nhau để đến các nghĩa trang riêng lẻ trên khắp Israel, cả nước bắt đầu chìm trong tang tóc. Mẹ của Mayo, Rosa Springer, đã bị sốc đến mức bà nói rằng bà “không thể hoạt động”, nhưng đám đông người đưa tang – “rất nhiều người” – vẫn còn khắc sâu vào tâm trí bà: “Tôi nhớ tiếng kêu gào. Rất nhiều người biết anh ấy, đặc biệt là nhóm thanh thiếu niên từ Jaffa, nơi anh ấy là người đứng đầu bộ môn thể thao, và cha mẹ của những thanh thiếu niên đó. Họ rất buồn.” Khi buổi lễ kết thúc, bà suy sụp tinh thần. “Trong ba tuần, tôi hầu như không thể hoạt động được. Tôi thường khóc rất nhiều, và tôi đã tiêm rất nhiều thuốc an thần”.
Ilana Romano cũng rơi vào trạng thái sốc mê muội tương tự: “Tôi không thể đứng vững trên đôi chân của mình”, cô kể lại. Ilana được một bác sĩ đưa đến đám tang của Yossef và tiêm cho cô một liều thuốc an thần. “Tôi cảm thấy rất thoải mái, và tôi thường nhắm mắt lại và tự nhủ, ‘Ôi, chỉ là mơ thôi. Đây không phải là thật. Làm sao họ có thể cướp Yossef khỏi tôi được chứ?’ Chính tiếng la hét của những người đưa tang khác đã khiến cô nhận ra đó là sự thật. “Trong
những khoảnh khắc đó nỗi đau không thể chịu đựng được”, cô nói.
Nỗi đau và nỗi buồn nhanh chóng chuyển thành cơn thịnh nộ. Chỉ vài giờ sau khi chôn cất chồng, Ankie Spitzer và Ilana Romano đã thức tỉnh khỏi nỗi đau buồn và thề sẽ tìm hiểu chính xác những gì đã xảy ra ở Fürstenfeldbruck. “Tôi trở về nhà … giữa lễ tang và tôi đã thề một điều rằng tôi sẽ dồn hết mọi năng lượng và nỗ lực, mọi tham vọng, cho sự kiện kinh hoàng đã xảy ra ở Munich”, Ilana Romano nói. “Tôi sẽ khiến mọi người nhớ lại và tôi sẽ không để họ quên.”
Ilana muốn gặp các con gái và chia sẻ nỗi đau. Người thân cố gắng thuyết phục cô bình tĩnh và đón nhận mọi chuyện. “Không đời nào,” cô nói với họ.
Cô ngồi trên mép giường khi ba cô con gái nhỏ của cô, Oshrat sáu tuổi, Rachel bốn tuổi và Schlomit năm tháng tuổi, được đưa vào phòng. “Mắt chúng không có chút ánh sáng nào… và chúng không dám khóc”, cô nói.
“Con có biết chuyện gì đã xảy ra không?” Ilana hỏi nhỏ.
“Bố mất rồi”, các cô gái nói.
“Phải rồi,” mẹ chúng đáp. “Con có biết ra sao không?”
Hai cô gái lớn tuổi nhìn nhau. “Tụi con nghe nói bố bị bắn trên máy bay,”
“Không, các con yêu quý, bố không chết trên máy bay. Bố bị bọn khủng bố sát hại ở Làng Olympic. Bố, Friedman, Slavin, Halfin và Berger. Tất cả mọi người.”
Các cô gái không thể tin nổi những gì mình đang nghe. Zeev Friedman từng là “một thành viên trong gia đình”. Ilana và các cô gái đã mong đợi anh trở về Israel, an ủi họ và giải thích chuyện gì đã xảy ra với Yossef. “Zeev cũng vậy à?”
Bọn trẻ hỏi với vẻ khó tin. Ilana ôm chặt chúng. Nỗi mất mát đau thương của chúng khiến cô vừa thấy khích động vừa tức giận.
“Mẹ hứa với các con,” cô nói với ba cô con gái nhỏ, “rằng mẹ sẽ đứng dậy và sẽ đảm nhận vai trò của một người cha, một người mẹ, một người bạn và một điều tra viên. Mẹ sẽ điều tra và sẽ không bao giờ ngừng dù chỉ một giây. Mẹ nợ các con, nợ Yossef, nợ bạn bè của bố các con, để biết toàn bộ sự thật. Dù có đau đớn đến đâu, cũng đừng sợ. Mẹ là tấm gương mạnh mẽ. Mẹ đã quyết tâm thực hiện nhiệm vụ này.” Đó là lời thề không thể phá vỡ giữa một người mẹ và con cái của mình.
Họ có thể đã gây ra nỗi đau không thể tưởng tượng nổi cho các gia đình người Israel, nhưng năm chiến binh fedayeen Tháng Chín Đen đã chết cũng có những người thân trên khắp Trung Đông thương tiếc sự mất mát của họ với niềm đau không kém.
Những báo cáo đầu tiên về cuộc tấn công được phát sóng tại các trại tị nạn Palestine cho thấy năm chiến binh fedayeen đã được coi là “tử vì đạo” và ba người khác mất tích. Hajja Hamid, mẹ của Afif Ahmed Hamid, ban đầu không biết rằng con trai bà có liên quan đến hoạt động này.
“Ngày hôm sau, con trai của người hàng xóm đến và hỏi, ‘Bác có nghe tin tức hay đọc báo chưa?'”, Hajja kể lại.
“Bác có một tờ nhưng bác chưa đọc,” bà đáp. Hajja không nghĩ gì thêm về những gì cậu ta nói, nhưng khi trở về nhà, bà thấy đứa con trai khác của mình Mohammed đang nằm với cánh tay che mặt.
“Có chuyện gì vậy?” Bà hỏi anh. “Dậy ăn sáng đi.”
“Con không muốn ăn sáng”, Mohammed nói.
“Nhưng ngày nào con cũng chuẩn bị bữa sáng cho mẹ mà”, Hajja ngạc nhiên nói.
Mohammed đưa cho bà tờ báo. Một bức ảnh lớn chụp con trai bà, nằm chết bên cạnh những chiếc trực thăng ở Fürstenfeldbruck, hiện ra trước mắt bà từ trang báo.
Gia đình Khalid Jawad, chàng trai 18 tuổi bị bắn vào mặt bởi Xạ thủ 2, cũng đã phát hiện ra số phận của anh sau khi tìm thấy ảnh của anh trên một tờ báo địa phương. “Có người mang đến một tờ báo có ảnh anh ấy với một viên đạn găm vào mặt, và họ nói, ‘Đó chẳng phải Khalid sao?’, anh trai anh, Mahmoud Mohammad Jawad, kể lại. “Tôi không thể diễn tả được cảm giác của mình lúc đó.”
Nhưng giữa cảnh tang tóc bùng lên khắp Chatila và trong các trại tị nạn Palestine khác, một số người thân thừa nhận họ cũng cảm thấy tự hào. Họ xem những fedayeen như những chiến binh đang chiến đấu chống lại nhà nước đã cướp đất của họ. “Tôi tự hào”, Hajja Hamid kể lại, “không phải vì Afif đã ra tay giết người, mà vì nó đã hy sinh để giải thoát các tù nhân Palestine.”
Thế giới Ả Rập coi những kẻ khủng bố đã chết là những liệt sĩ. Thi thể của họ được đưa từ Đức về Libya và được chôn cất như những anh hùng.
Hơn 30.000 người đưa tang đã đi theo đoàn diễu hành đông đảo từ Quảng trường Martyrs ở Tripoli đến Nghĩa trang Sidi Munaidss.
Các phát thanh viên trên Đài Tiếng nói Palestine đã kêu gọi tổ chức lễ tưởng niệm trang trọng và cho biết quân du kích đã gửi một lá thư đến đài này ngay trước khi họ phát động cuộc tấn công ở Munich, trong đó có toàn bộ số tiền họ có từ 500 đô la đến 37 mark Đức để sử dụng trong chiến dịch.
“Chúng tôi không phải là sát thủ hay kẻ cướp”, Đài Tiếng nói Palestine trích lời những kẻ khủng bố Munich trong bức thư cuối cùng. “Chúng tôi là những người bị bức hại, không đất đai, không quê hương.” Những kẻ này biết rằng chúng có thể chết trong cuộc tấn công vào Làng Olympic, nhưng chúng nói rằng chúng sẵn sàng “hy sinh mạng sống ngay từ giây phút đầu tiên”. Không hề có một chút hối hận nào, và tuyên bố tiếp tục: “Chúng tôi tuổi trẻ của nhà nước Ả Rập sẽ tìm đến cái chết để được ban tặng sự sống cho họ, cho đất nước họ, và nhân dân họ. Mỗi giọt máu đổ ra từ các bạn và từ chúng tôi sẽ là nguồn dầu thắp lên ngọn lửa chiến thắng và giải phóng cho dân tộc này.”
Vẫn còn nhiều nghi vấn về việc ai đã viết di chúc cuối cùng của bọn khủng bố Munich này. Người Israel cho rằng nó được viết sau khi vụ thảm sát được phát sóng trên toàn thế giới trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm giành được sự ủng hộ của công luận. Nhiều người coi đó là một lời kêu gọi xuyên tạc nhằm lôi kéo sự chú ý, và tiếp theo là nhiều tuyên bố được cho là do các fedayeen Munich đưa ra trước khi họ tấn công Làng Olympic. “Sẽ chẳng hại gì cho giới trẻ thế giới để biết về cảnh ngộ khốn khổ của chúng ta chỉ trong vài giờ nữa”, họ được cho là đã nói như vậy. “Chúng ta không chống lại bất kỳ dân tộc nào, nhưng tại sao vị trí của chúng ta ở đây [tại Munich] lại bị chiếm đoạt bởi lá cờ của những kẻ chiếm đóng- Tại sao cả thế giới được vui chơi và giải trí trong khi chúng ta phải chịu đựng mà chẳng ai nghe thấy gì cả?”
Các chỉ huy của cuộc tấn công đã trở về Trung Đông sau chiến dịch. Ali Hassan Salameh rời khỏi sở chỉ huy tiền phương của mình ở Đông Berlin, nơi ông dừng chân với sự thông đồng và hỗ trợ của chế độ Đông Đức, và trở về Beirut được chào đón như một người hùng. Theo nguồn tin tình báo Israel, Yasser đã đích thân chào đón Salameh và chúc mừng ông về thành công của nhiệm vụ. “Con là con trai của ta”, nhà lãnh đạo PLO tuyên bố trước một nhóm nhỏ các quan chức cấp cao của Fatah và PLO. “Ta yêu con như con trai của ta”. Đó là một sự khích lệ to lớn đối với Salameh và ngay lập tức xác định ông là người kế nhiệm được Arafat lựa chọn làm lãnh đạo toàn bộ phong trào giải phóng Palestine.
Nhiều người Đức cũng thương tiếc những nạn nhân đã khuất ở Fürstenfeldbruck, và các nhà thờ trên khắp đất nước đã tổ chức các buổi cầu nguyện cho người Do Thái.
Một cuộc tranh cãi dữ dội đã nổ ra ở Munich về quyết định của ban tổ chức Olympic cho tiếp tục tổ chức Thế vận hội. Nhiều quan chức muốn hủy bỏ. Ví dụ như Willi Daume. người đứng đầu Ủy ban Olympic quốc gia Đức và trên thực tế là người đứng đầu đội điền kinh nghiệp dư Đức, vô cùng đau buồn trước cái chết của người Israel. Daume “cảm thấy đứa con tinh thần của mình, Thế vận hội Olympic, đã bị hủy hoại và ông không muốn tiếp tục nữa”, Walther Tröger nói. Bất chấp nỗi đau buồn của Daume, Avery Brundage và Tröger đã thuyết phục ông “rằng chúng ta không thể chịu khuất phục trước sự áp bức như vậy”, và Daume đồng ý để Thế vận hội tiếp tục.
Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) đã gây áp lực mạnh mẽ lên các chính trị gia Bavaria khác để duy trì Thế vận hội. Theo Ulrich Wegener, “Trong cuộc họp sau sự cố, IOC đã buộc chính quyền Bavaria phải tiếp tục tổ chức Thế vận hội, không cần thắc mắc gì nữa. Tôi nghĩ rằng có một cảm giác đằng sau việc tiếp tục này là hình ảnh các vận động viên Israel hy sinh này không nên là hình ảnh cuối cùng mà người dân phải chứng kiến từ Thế vận hội.”
Nhiều vận động viên đã tỏ ra khó chịu trước quyết định tiếp tục thi đấu. Toàn bộ đội tuyển điền kinh Philippines đã rời Munich, cùng với sáu thành viên của đội tuyển Hà Lan. Vận động viên chạy nước rút Wilma van Gool cho biết họ rời đi để phản đối quyết định việc tiếp tục thi đấu “thô tục”. Đô vật người Hà Lan Barend Koops cho biết anh sẽ không tiếp tục thi đấu vì anh là bạn của một trong số các người Israel đã thiệt mạng. Mười ba vận động viên Na Uy, chiếm gần một phần tư tổng số vận động viên quốc gia đến Munich cho biết họ sẽ không tiếp tục “khi mười một đồng nghiệp thể thao của chúng tôi đã bị sát hại”.
Ý kiến của các đội khác bị chia rẽ, và Thế vận hội tiếp tục, chính thức được nối lại bằng trận đấu bóng ném giữa Romania và Hungary. Ngay cả khi đó, trận đấu gần như bị hủy bỏ vì một lời đe dọa đánh bom 30 phút trước khi trận đấu bắt đầu. Cảnh sát đã phong tỏa hội trường và khám xét khán giả trước khi cho phép trận đấu tiếp tục sau 10 phút trì hoãn.
Những người liên quan có ý kiến khác nhau. “Cá nhân tôi nghĩ rằng Thế vận hội nên được tiếp tục, vì nếu không là làm đúng theo ý đồ bọn khủng bố”, Shmuel Lalkin nói. Roone Arledge, giám đốc ABC Sports, đồng tình: “Tôi nghĩ hầu hết mọi người đều đồng ý rằng Thế vận hội không nên bị hủy bỏ, và đúng là ý kiến hủy bỏ gần như bị gạt bỏ rất nhanh chóng và mọi việc vẫn diễn ra như thường lệ.”
Ngay cả Abu Iyad, một đầu sỏ khủng bố ra lệnh tấn công đã rất ngạc nhiên trước sự thờ ơ của thế giới: “Chúng tôi buộc phải ghi nhận, với nỗi buồn sâu sắc, rằng một bộ phận lớn dư luận thế giới quan tâm nhiều đến sự gián đoạn 24 giờ của sự kiện Thế vận hội Olympic hoành tráng hơn là hoàn cảnh bi thảm mà người dân Palestine phải chịu đựng trong 24 năm qua hoặc cái kết tàn khốc của lực lượng biệt kích và con tin.”
Đối với hai vận động viên marathon người Mỹ, Kenny Moore và Frank Shorter, không chút băn khoăn về quyết định tiếp tục cuộc đua khắc nghiệt này. Họ đã ngồi trên ban công tầng năm, nghiền nát hạt thì là vào lòng bàn tay trong nỗi căm phẫn và đau khổ trước vụ tấn công khủng bố nhắm vào các vận động viên đồng nghiệp. “Chúng ta không được để điều này làm ảnh hưởng đến thành tích của mình”, Shorter nói với Moore, “vì đó là điều chúng muốn.”
Frank Shorter chạy ra khỏi đường hầm và cán đích với tư cách là người chiến thắng và giành huy chương vàng. Kenny Moore về thứ tư và coi cuộc đua như một buổi tưởng niệm cá nhân dành cho những người Israel đã khuất.
“Tôi không thể nói thay Frank,” Moore nói, “nhưng tôi biết tôi đã chạy marathon Olympic năm 1972 với sự cảm nhận rõ ràng về nỗi đau của chính mình so với nỗi đau của những vận động viên Olympic khác. Mỗi lần tôi bị đau ở hông, hoặc bị chuột rút ở gân kheo, tôi tự hỏi liệu cơn đau thoáng qua này có đáng gì so với nỗi đau mà họ cảm thấy trong vụ cháy đó không. Nghĩ thế, cơn đau như dịu xuống và tôi tiếp tục chạy.”
Khi Thế vận hội Munich kết thúc, nỗi đau buồn vẫn tiếp diễn ở Israel. Golda Meir đã không thể tham dự tang lễ của các vận động viên vì cái chết của người chị gái yêu quý Sheina. Thay mặt bà là Moshe Dayan, Bộ trưởng Quốc phòng kiên cường, và hàng chục chính trị gia và quan chức khác. Dayan đứng chống nạnh, không giấu vẻ giận dữ sôi sục, và thế giới chuẩn bị tinh thần cho sự trả đũa không thể tránh khỏi của Israel.
Đối với người Israel, thảm kịch này là một lời nhắc nhở kinh hoàng về quá khứ. Một lần nữa, người Do Thái lại bước đi một cách nhẫn nhục đến số phận của họ dưới sự giám sát của những người Đức có vũ trang. Và một lần nữa, người Đức và thế giới đã đứng nhìn mà không cứu được họ. Người Ả Rập đang tìm đến người Do Thái cũng giống như người Đức đã làm từ nhiều thập kỷ trước. Bối cảnh của vụ thảm sát đồng nghĩa với việc hậu quả sẽ còn kéo dài và sâu sắc hơn việc Israel mất đi một lúc mười một đứa con của họ.
Người Ả Rập biết rằng cơn thịnh nộ của Israel sẽ rất khủng khiếp. Tại Syria, các đơn vị quân đội được đặt trong tình trạng báo động cao và trung đoàn thiết giáp đóng quân ngay bên ngoài Damascus đã di chuyển đến các vị trí phòng thủ xung quanh thành phố, trước tiên để bảo vệ nó khỏi các cuộc không kích của Israel, và một cuộc xâm lược có thể xảy ra của Israel hoặc các cuộc đổ bộ không vận.
Báo chí Israel cực lực hô hào về chủ đề trả thù dân tộc. “Đã đến lúc cần phải tính sổ toàn diện, giải quyết khoản nợ duy nhất mà chúng ta có với bọn du kích và kẻ chủ mưu”, một bài xã luận trên Ma’ariv, tờ báo bán chạy nhất cả nước, viết. “Chúng ta sẽ tấn công chúng ngay tại quê nhà. Chúng ta sẽ tính sổ với chúng và các kẻ chủ mưu của chúng, với những ai
che chở chúng ở Munich, hỗ trợ chúng xâm nhập Làng Olympic và mang vũ khí đến đó.”
Một số nhà bình luận thậm chí còn đi xa hơn khi cho rằng chiến tranh có thể bùng nổ ở Trung Đông. “Bàn tay của Israel sẽ biết phải làm gì”, Yosef Burg, Bộ trưởng Nội vụ Israel, nói. “Chúng ta sẽ đánh bại chúng cho dù chúng ở bất cứ đâu”, Golda Meir nhắc lại trong một bài phát biểu trước quốc hội.
Lực lượng của bà đã làm đúng như vậy. Trước vụ tấn công Munich, đã có một thỏa thuận ngầm giữa các nhà lãnh đạo Palestine và Israel rằng sẽ tránh đi các hành động khủng bố công khai. Vụ Munich đã thay đổi mọi thứ. Nó được coi là một cuộc tấn công man rợ đến mức đe dọa người Do Thái trên toàn thế giới. Israel thề sẽ đáp trả nhanh chóng. Thế giới không phải chờ đợi lâu.
Vào ngày 8 tháng 9, Israel đã phản công. Trong một cuộc tấn công lớn nhất kể từ cuộc chiến năm 1967, không quân Israel đã đồng loạt tấn công ít nhất mười căn cứ của PLO bên trong biên giới Syria và Lebanon. Máy bay chiến đấu đã ném bom bảy trại du kích ở Syria và ba trại ở Lebanon; một cuộc không chiến ngắn ngủi giữa máy bay chiến đấu Israel và Syria đã kết thúc với việc ba máy bay phản lực của Syria bị bắn hạ. Tuyến đường sắt chính ra khỏi Beirut bị cắt đứt, và các mục tiêu gần cảng Latakia bên bờ Địa Trung Hải cũng bị tấn công. Cơn thịnh nộ của Israel thật dữ dội. Nhiều người vô tội đã bị giết, trong đó có phụ nữ và trẻ em.
Có rất ít lời phàn nàn từ thế giới phương Tây. Ít ai bên ngoài Trung Đông dường như quan tâm đến hàng chục trẻ em thiệt mạng vì bom đạn Israel khi chúng chơi đùa bên rìa một trại tị nạn. Công chúng Israel, vẫn còn bàng hoàng vì sự kiện ở Munich, nên hầu như không hề ghi nhận về trận thảm sát gây ra nhân danh các vận động viên đã hy sinh của họ. Nhưng sự trả thù của Israel không kết thúc bằng những cuộc tấn công trên không này.
Vào ngày 16 tháng 9, trong cuộc tấn công quân sự lớn nhất từ trước đến nay của Israel vào khu vực, ba đoàn xe bọc thép của Israel đã vượt biên giới vào miền Nam Lebanon, đi qua hơn mười ngôi làng để biểu dương lực lượng, và tấn công và phá hủy ít nhất 130 ngôi nhà bị nghi ngờ là nơi trú ẩn của các chiến binh PLO. Nhiều cây cầu bị phá hủy và pháo binh dội hỏa lực vào các vị trí nghi ngờ của du kích cho đến khi quân Israel cuối cùng rút lui, để lại dấu vết tàn phá trên đường đi. Tuy nhiên, cơn giận của Israel vẫn chưa nguôi ngoai.
Nhiều người Israel cảm thấy vụ tấn công Munich tàn bạo đến mức cần phải có một phản ứng chưa từng có. Zvi Zamir là một trong những nhân vật cấp cao của Israel kêu gọi một phản ứng tập trung trước mối đe dọa khủng bố từ Palestine. Trong các cuộc gặp với Golda Meir, ông đã mô tả một cách sống động và tha thiết về các sự kiện ở Munich và Fürstenfeldbruck, khiến nhiều chính trị gia Israel khác phải rơi nước mắt với câu chuyện các vận động viên Do Thái bị trói tay một lần nữa phải bước tới số phận bi thảm. Tướng Aharon Yariv, người đứng đầu xuất sắc của Aman, cơ quan tình báo của Lực lượng Phòng vệ Israel, cũng nói với Meir rằng bà phải phản ứng một cách quyết liệt trước mối đe dọa mới này từ Palestine.
Yariv có ít nghi ngờ về phương thức đúng đắn của việc trả đũa: “Lời khuyên được cân nhắc kỹ lưỡng của tôi, sau khi tham khảo ý kiến của các lãnh đạo an ninh khác, là săn lùng các thủ lĩnh Tháng Chín Đen, tiêu diệt các thủ lĩnh Tháng Chín Đen, càng nhiều càng tốt.”
Meir hoàn toàn suy sụp trước vụ tấn công Munich. “Bà ấy đón nhận nó một cách rất cá nhân,” Yariv nói. Người đứng đầu Aman dường như đã có giải pháp, một kế hoạch trả thù, giành lại thế thượng phong trước phe khủng bố.
Ý tưởng của ông, được thảo luận với Meir vài ngày sau vụ thảm sát Munich, là biến chính những tên khủng bố thành mục tiêu.
Zamir đồng ý rằng Israel nên đưa cuộc chiến trở lại với bọn khủng bố và truy đuổi những tên cầm đầu Tháng Chín Đen, không chỉ những kẻ bóp cò súng, mà cả những quan chức đã ra lệnh cho chúng tấn công ở đâu và khi nào. Trong khi Meir do dự trước phản ứng cứng rắn (và bất hợp pháp trên trường quốc tế) như vậy, hầu hết người Israel không mấy bận tâm.
Một số chính trị gia Israel đã trích dẫn “Hiệp định đình chiến Olympic” cổ xưa để biện minh cho việc phát động các cuộc tấn công vào Tháng Chín Đen:
Olympia là một nơi linh thiêng. Bất kỳ ai dám dùng vũ lực xâm nhập vào đó đều phạm tội với các vị thần. Cũng có tội tương tự nếu kẻ nào có khả năng trả thù một hành vi sai trái mà không chịu làm.
“Tôi nhớ có người đến gặp tôi và nói: ‘Tôi tình nguyện tham gia chiến đấu chống lại Tháng Chín Đen'”, Yariv kể lại vài năm sau. Nhưng Golda Meir không hài lòng với những đề xuất này. “Là một phụ nữ, bà ấy không mấy hào hứng với ý tưởng này, nhưng tôi rất ủng hộ, thực sự rất ủng hộ. Cuối cùng, tôi đã thuyết phục được bà ấy. Bà ấy đã nhượng bộ.”
Israel được biết đến là đã từng giết chết kẻ thù của mình trước vụ thảm sát Munich, hạ gục chúng một cách tàn nhẫn bằng dao, đạn và bom. Các điệp viên Israel đã gửi bom thư cho các cựu khoa học gia Đức Quốc xã làm việc cho chính phủ Ai Cập và những người Palestine nổi tiếng đang vận động chống lại nhà nước Israel. Nhưng hầu hết các vụ giết người của Israel đều nhắm vào những cá nhân cụ thể vì những hành động cụ thể. Tuy nhiên, Munich đã thay đổi tất cả. Sau vụ tấn công Olympic, Meir đã ủy quyền cho các điệp viên tình báo của mình phát động một cuộc chiến bí mật chống lại các nhà lãnh đạo Palestine.
Ngày 24 tháng 10 năm 1972, loạt bom thư đầu tiên của Israel bắt đầu xuất hiện trên bàn làm việc của các nhà lãnh đạo Palestine trên khắp Trung Đông. Tại Libya, Mustafa Awadh Abu Zeid bị thương nghiêm trọng ở mặt khi một bưu kiện phát nổ trúng mặt ông, trong khi Abu Khalil, một quan chức cấp cao của Fatah tại Algiers, bị thương nặng do một thiết bị tương tự. Các quan chức và sĩ quan ở những nơi khác tại Algeria, Ai Cập, Libya và Lebanon cũng bị nhắm đến.
Đó chỉ là bước khởi đầu. Những “diều hâu” và “bồ câu” trong chính phủ Israel vẫn đang tranh luận liệu có nên mở rộng phạm vi các cuộc tấn công trả thù hay không thì các sự kiện xảy ra trên lãnh thổ châu Âu đã thúc đẩy chính phủ Meir tuyên bố chiến tranh toàn diện chống lại Tháng Chín Đen và các nhà lãnh đạo Palestine được cho là có liên quan đến Munich.
Sáng Chủ Nhật, ngày 29 tháng 10, một chiếc Boeing 727 của hãng Lufthansa đang trên đường từ Damascus, Syria, đến Frankfurt, Đức, đã bị hai tên khủng bố Palestine cướp khi máy bay rời sân bay Beirut, một trong những điểm dừng chân. Chúng yêu cầu được bay đến Munich, và sau khi dừng tiếp nhiên liệu ở Síp, Cơ trưởng Walter Claussen đã lái máy bay phản lực vào không phận Đức vào buổi trưa. Bọn khủng bố ngay lập tức yêu cầu thả ba tên khủng bố Tháng Chín Đen sống sót sau vụ thảm sát ở Fürstenfeldbruck ngay lập tức. Chúng nói rằng nếu không, chúng sẽ cho nổ tung máy bay. Tháng Chín Đen không cho phép những người hùng của mình phải chịu đựng quá lâu.
Thậm chí không thông báo cho chính phủ Israel về những gì đã xảy ra, người Đức đã đầu hàng và nói với bọn không tặc rằng ba tên du kích sẽ có mặt tại sân bay Riem trong vòng một tiếng rưỡi. Bọn khủng bố được mời bước xuống sân bay và chờ người của chúng, nhưng thay vào đó, chúng lại chuyển hướng chiếc 727 đến Zagreb ở Nam Tư, nơi nó bắt đầu bay vòng vòng với mức nhiên liệu ngày càng cạn kiệt.
Theo Thủ tướng Willy Brandt: “Hành khách và phi hành đoàn đã bị đe dọa tiêu diệt trừ khi chúng tôi thả ba người Palestine sống sót sau vụ thảm sát Fürstenfeldbruck. Giống như chính quyền Bavaria, tôi không thấy có lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận tối hậu thư này và tránh đổ máu vô nghĩa thêm nữa.”
Jamal Al-Gashey, Adnan Al-Gashey và Mohammed Safady bị bắt ngay sau trận đấu súng tại Fürsten-feldbruck. Chúng lo sợ bị hành quyết ngay tại chỗ, nhưng người Đức đã đối xử với chúng bằng sự tôn trọng dành cho những người nước ngoài nguy hiểm.
“Họ đã chữa trị tay tôi và sau đó bắt đầu thẩm vấn tôi rất kỹ lưỡng”, Jamal Al-Gashey nhớ lại. “Tôi không bị hành hạ về thể xác, ý tôi là tra tấn, nhưng tôi bị đặt dưới áp lực tâm lý rất lớn. Các câu hỏi đều xoay quanh chiến dịch, tổ chức của chúng tôi, ban lãnh đạo, cách chúng tôi vào Đức và ai đã giúp đỡ chúng tôi, liệu chúng tôi có được người Đức nào giúp đỡ hay không, và những điều liên quan đến chiến dịch và tổ chức.” Al-Gashey và hai đồng bọn của cậu ta đều hy vọng bạn bè của chúng sẽ tìm cách buộc họ phải thả chúng.
Ngay sau yêu cầu của hai tên không tặc, ba tên khủng bố bị lôi ra khỏi nhà tù riêng để chuẩn bị cho chuyến bay nhanh đến Zagreb. Những tên khủng bố phải có mặt ở đó trước khi chiếc 727 hết nhiên liệu vào khoảng 5:30 chiều.
Heinz Hohensinn, viên cảnh sát trẻ tuổi của Munich tham gia vào cuộc bao vây tại 31 Connollystrasse, một lần nữa tham gia vào chiến dịch, nhưng lần này, trớ trêu thay, không phải để bắt giữ những kẻ khủng bố mà là để giải thoát cho chúng: “Chúng được đưa từ Straubing, Landsberg và Stadelheim đến trụ sở của cảnh sát chống bạo động, và từ đó tôi được giao nhiệm vụ dẫn đường cho đoàn xe đến sân bay Munich-Riem. Và bởi vì không còn nhiều thời gian nữa – chiếc máy bay bị cướp đã phát tín hiệu khẩn cấp do thiếu nhiên liệu – nên chúng tôi đã đi trực thăng đến Riem và ở đó có một chiếc máy bay Lufthansa đang chờ…”
Khi Hohensinn bay trên chiếc trực thăng với một trong ba tên khủng bố, anh đã vô cùng kinh ngạc khi tên khủng bố Palestine nói với anh rằng hắn đã từng nhìn thấy anh trước đây: “Tôi không hiểu ý hắn, tôi không nghĩ ngay đến Thế vận hội”. Tên khủng bố giải thích rằng hắn đã nhìn thấy Hohensinn trên truyền hình, trong bộ đồ huấn luyện chuẩn bị tấn công tòa nhà Israel trong Chiến dịch Ánh Dương, nỗ lực giải cứu các vận động viên bị thất bại. Tên khủng bố, Hohensinn nói, “rất bình thản” khi nói rằng mình đã từng gặp mình trước đó. “Đó không phải là một cuộc đối đầu hay bất cứ điều gì tồi tệ. Chúng thực sự hạnh phúc vì đã sống sót và được đưa về nhà. Và chúng biết rằng mình sẽ được chào đón như những anh hùng ở quê nhà.”
Ngay trước khi chúng rời đi, Hohensinn đã “lén lút” vào một phòng tạm giam ở Riem để.nói “một lời tạm biệt”: “Tôi thấy chúng ngồi quanh một gói thức ăn khổng lồ, ăn uống và rất vui vẻ. Một tên vẫn bị băng bó tay [Jamal Al-Gashey] nhưng họ khá khỏe mạnh, những anh hùng tương lai. Sau đó, họ đã ở trên không trung và chiếc máy bay bị cướp cuối cùng cũng có thể hạ cánh.”
Ban đầu, những tên khủng bố không chắc chắn về điểm đến của chúng. “Chúng tôi nghĩ rằng gọ sẽ đưa chúng tôi đến một nhà tù khác”, Jamal Al-Gashey nói. “Khi chúng tôi ở trên máy bay, họ nói với chúng tôi rằng họ sẽ chuyển chúng tôi đến một quốc gia khác, nơi chúng tôi sẽ được giao cho tổ chức của chúng tôi. Đó là lúc tôi biết chúng tôi sẽ được thả, và lên máy bay.”
Khi ba tên khủng bố, được một quan chức cấp cao của Lufthansa và một số sĩ quan cảnh sát Munich hộ tống, đến bầu trời Zagreb, họ thảo luận các điều khoản trao đổi với hai tên khủng bố trên chuyến bay 727, lúc đó, máy bay gần như cạn kiệt nhiên liệu. Hai tên không tặc hứa sẽ thả con tin ngay khi chúng được giao ba chiến binh Tháng Chín Đen. Nhưng khi cả hai bên đã hạ cánh và cuộc trao đổi diễn ra, hai tên không tặc tuyên bố rằng tất cả các con tin ban đầu của chúng sẽ đi cùng chúng đến Libya.
Người Đức không thể làm gì được, ngoại trừ việc đảm bảo rằng khi máy bay hạ cánh xuống Tripoli sau 9 giờ tối hôm đó, đại sứ Đức sẽ có mặt để đảm bảo việc thả con tin nhanh chóng. Tất cả những điều này gây bối rối cho chính phủ Đức và Lufthansa, hãng hàng không quốc gia, đặc biệt là khi các lễ ăn mừng rầm rộ nổ ra khắp Trung Đông chào đón sự trở về của ba tên khủng bố Munich sống sót trên đất Ả Rập.
Tuy nhiên, toàn bộ vụ cướp máy bay được cho là đã được dàn dựng giữa Tháng Chín Đen và chính phủ Đức. Người Palestine đã cảnh báo chính quyền Bonn rằng họ sẽ mở một làn sóng đánh bom và cướp máy bay nhắm vào Lufthansa nếu ba người sống sót tại Munich không được thả ra. “Vụ cướp máy bay”, theo các nguồn tin Đức, Palestine và Israel, là một thỏa hiệp được các nhân vật cấp cao trong chính phủ Đức đồng ý.
Jamal Al-Gashey chỉ phát hiện ra chi tiết của việc dàn dựng sau khi cậu ta về nhà: “Như tôi phát hiện ra sau này, một thỏa thuận đã được thực hiện với chính phủ Đức để thả chúng tôi sau vụ cướp máy bay Lufthansa.”
“Vâng, tôi nghĩ điều đó có lẽ đúng,” Ulrich Wegener nói. “Chính phủ Đức nghĩ rằng họ có thể đàm phán với bọn khủng bố và có thể thuyết phục chúng rằng họ sẽ cho chúng tiền và một số thứ khác để phủi tay với chúng….Nhưng tất nhiên điều đó đó sai, không còn nghi ngờ gì nữa, bởi vì khi một vụ án được giải quyết theo cách này thì những vụ án khác sẽ xảy ra.”
Có một số khía cạnh kỳ lạ của vụ không tặc ủng hộ cáo buộc này. Chiếc Boeing của Lufthansa đã rời Damascus với bảy thành viên phi hành đoàn nhưng không có một hành khách nào. Tại Beirut, nó chỉ chở mười ba hành khách – một con số thấp đáng ngạc nhiên (bao gồm cả hai tên không tặc), và rồi tiếp tục sang Đức.
Các quan chức chuẩn bị cho phát biểu đươc ghi âm về vụ việc này cho biết nó phù hợp với mô hình tiếp cận thực dụng của chính phủ Đức đối với chủ nghĩa khủng bố trong những năm 1970. Đó là thời điểm Đức ký kết các thỏa thuận bí mật với các nhóm khủng bố Palestine và quốc tế khác trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm ngăn chặn chúng xâm nhập vào biên giới Đức. “Trong những tình huống như vậy …. Willy Brandt, như tôi nhớ rất rõ, luôn đưa ra cử chỉ này,” Hans-Jochen Vogel nói, sau đó giơ hai cánh tay dang rộng, lòng bàn tay hướng lên trên và nhún vai một cách kịch tính nhiều lần.
Đây cũng không phải là lần đầu tiên Lufthansa được cho là có liên quan đến một thỏa thuận với khủng bố. Vào tháng 2 năm 1972, bọn khủng bố Palestine đã cướp một máy bay phản lực của Lufthansa đến Aden; Lufthansa được cho là đã trả cho PLO khoản tiền chuộc ít nhất 5 triệu đô la.
Bất kể việc thả ba chiến binh Munich có phải là một “chiêu trò dàn dựng” hay không, theo lời một quan chức Israel, Tel Aviv đã vô cùng kinh ngạc và phẫn nộ khi tin tức về việc họ được trả tự do được lan truyền. Golda Meir nói rằng bà “thực sự cảm thấy buồn nôn”. Có lẽ một số dấu hiệu về sự cô lập mà Meir và chính phủ của bà cảm nhận có thể được nhìn thấy trong những suy nghĩ sau này của bà về việc thả ba chiến binh khủng bố. “Tôi nghĩ rằng không có tên khủng bố nào bị giam giữ ở bất cứ đâu trên thế giới. Mọi người đều đầu hàng. Chỉ có chúng tôi là không làm thế”, bà nói với vẻ ghê tởm.
Đối với Meir, việc thả những tên khủng bố là giọt nước tràn ly. Các quan chức đã cầu xin bà cho phép thành lập một đơn vị bí mật để truy tìm và ám sát những kẻ bị cáo buộc gây ra vụ thảm sát Munich. Bất kỳ nghi ngờ nào mà bà có thể có về hậu quả của hành động đáp trả bạo lực đã bị dập tắt khi Al-Gashey và hai người bạn của y được trả tự do.
Meir gọi Tướng Aharon Yariv và Zvi Zamir đến văn phòng của bà, Nhà Đỏ, nằm trong Tổng hành dinh Quân đội được canh gác nghiêm ngặt. Bà nói dài dòng với cả hai người về nỗi thống khổ vô tận của người Do Thái trong suốt chiều dài lịch sử. Bà nói về thảm họa diệt chủng Holocaust, về những kẻ bài Do Thái tấn công người Do Thái ngay cả sau cái chết của Hitler. Và rồi bà nói về Munich, về mười một người Israel mắt sáng đã chiến đấu với những con quỷ trong lòng mình để thi đua với thế giới trên đất Đức. Họ đã ra đi để chứng minh với thế giới rằng Đức Quốc xã không thể đánh bại người Do Thái. Tuy nhiên, rất tiếc họ đã chết.
Bà nói nhỏ nhẹ. Bà đã chứng kiến biết bao đau khổ của người Do Thái. Rồi bà thở dài, ngẩng đầu nhìn thẳng vào mắt Yariv và Zamir, rồi nói bằng giọng mạnh mẽ, rõ ràng: “Hãy gửi các chàng trai chúng ta lên đường.”