Một Ngày Tháng Chín (Bài 3)

CÂU CHUYỆN ĐẦY ĐỦ VỀ CUỘC THẢM SÁT TẠI THẾ VẬN HỘI MUNICH 1972 VÀ CHIẾN DỊCH BÁO THÙ CỦA ISRAEL “CƠN THỊNH NỘ CỦA CHÚA” 

SIMON REEVE

Trần Quang Nghĩa dịch

3 Đàm phán

Những kẻ khủng bố Tháng Chín Đen có thể đã dành nhiều tuần để lên kế hoạch tấn công vào số 31 Connollystrasse, nhưng thời hạn ban đầu là 9:00 sáng để thả đồng bọn của chúng ra khỏi nhà tù Israel và các nhà tù Đức là hoàn toàn không thực tế.

Cuộc tấn công của nhóm Palestine vào Thế vận hội Munich đã gây sốc cho chính quyền ở Bonn đến nỗi phải mất vài giờ để toàn thể bộ máy của Chính phủ mới bật dậy hành động. Đến 8:45 sáng, chỉ còn mười lăm phút nữa là đến giờ hành quyết đầu tiên, vẫn chưa có tiến triển nào trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng. Các quan chức cấp cao của Đức tại Làng Olympic quyết định phải nói chuyện trực tiếp với nhóm khủng bố và xin họ hoãn thời hạn chót để chính phủ Israel và Đức có thêm thời gian hành động. Có lẽ, một số quan chức cho rằng mình có thể sử dụng lý lẽ để nói chuyện với nhóm Palestine.

Anneliese Graes, nữ cảnh sát đóng vai trò trung gian, đã được lệnh hỏi thủ lĩnh khủng bố Issa xem hắn có thể gặp một phái đoàn nhỏ gồm các quan chức cấp cao của Đức, Olympic và nước ngoài hay không. Issa đồng ý. Thế là Manfred Schreiber, Walther Tröger, và A. D. Touny, một thành viên người Ai Cập của Ủy ban Olympic Quốc tế, từ từ tiến đến tòa nhà Israel. Tất cả các quan chức đều thấy rõ ràng rằng nhóm Palestine đang hoàn toàn kiểm soát tình hình.

“Trên ban công tầng hai có một tên đội mũ trùm đầu và chĩa súng tiểu liên về phía chúng tôi, về phía tôi!” Schreiber, cảnh sát trưởng Munich, cho biết. Khi họ thận trọng tiến đến cửa số 31 Connollystrasse, Issa xuất hiện và cuộc đàm phán bắt đầu.

“Anh ta đưa ra những yêu cầu một cách ngắt quãng; rất bình tĩnh và rất kiên quyết, gần như cố chấp trong niềm tin của mình,” theo Schreiber. “Giọng nói y nghe có vẻ gay gắt, sắt lạnh. Y đưa ra những yêu cầu một cách quyết liệt đôi khi nghe giống như không hoàn toàn bám chặt vào thực tế hoặc hoàn toàn nhận thức được.”

Có rất ít không gian cho thảo luận hoặc đàm phán.

“Giống như thể anh ta tuôn ra một hơi những gì mình phải nói, sau khi đã tập dượt tất cả từ trước”, Schreiber cho biết:

Bầu không khí giữa hai bên vô cùng căng thẳng. “Luôn có hai hoặc ba khẩu súng máy chĩa vào tôi, và tên cầm đầu bọn khủng bố luôn cầm một quả lựu đạn trên tay”, Walther Tröger kể lại.

Người Đức nghĩ rằng chìa khóa để tìm ra một giải pháp thành công là để Touny nói chuyện với Issa. Từ người Ả Rập này sang người Ả Rập khác, có lẽ ông ta có thể tìm ra giải pháp. Touny tiến lại gần hơn và bắt đầu nói nhỏ với Issa, giải thích rằng các yêu cầu của anh ta đang được Tel Aviv và Bonn xem xét, nhưng phía Israel và Đức cần thêm thời gian để xác định lập trường, sau đó giải cứu tất cả các con tin. Không hề tỏ ra thất vọng hay tức giận, Issa, vốn đã lường trước được những chiến thuật trì hoãn như vậy, đã đồng ý gia hạn thời hạn đến trưa. Chỉ trong chớp mắt, mối đe dọa trực tiếp đối với các con tin Israel còn sống đã được gỡ bỏ.

Khi nhóm thương lượng đứng bên ngoài tòa nhà Israel, Schreiber bắt đầu quan sát kỹ lưỡng Issa. Viên sĩ quan Đức này đã quen đối phó những tình huống nguy cấp  và các tên tội phạm tuyệt vọng, và ông thực sự bắt đầu cân nhắc liệu mình có thể tóm được Issa làm con tin hay không.

“Tôi ước lượng khoảng cách từ góc tiếp theo đến tay súng trên ban công và nhận ra hắn đang chĩa súng xuống dưới, hướng về phía chúng tôi. Tôi liếc nhìn sang bên trái theo hướng góc nhà và có cảm giác mình có thể kéo anh ta đi khoảng hai đến ba mét.” Nhưng Schreiber mất quá nhiều thời gian để hình thành kế hoạch. “Ý định của tôi là vòng tay ôm lấy rồi lôi anh ta ra qua góc đường, thế là bắt được một con tin. Anh ta nhận ra có điều gì đó không ổn nên đưa tay ra phía trước để cho thấy mình đang cầm một quả lựu đạn, và ngón tay cái đã luồn vào móc khóa.

“Nếu các người dám động đến tôi,” Issa hăm dọa, giang cánh tay ra phía trước, “tôi sẽ cho nổ tung cả hai chúng ta!”

Schreiber ngay lập tức từ bỏ kế hoạch của mình: “Đó là nỗ lực thất bại đầu tiên của tôi.” Sự việc này đã mở đầu cho một ngày đàm phán căng thẳng và sự thất bại thảm hại của cảnh sát.

Cùng lúc với Manfred Schreiber bắt đầu đàm phán về mạng sống của các con tin Israel, gia đình và người thân của họ trên khắp châu Âu và Trung Đông đã thức giấc vì tin tức từ Munich. Ankie Spitzer, vợ của kiếm sĩ Andre, bị đánh thức ngay sau 8 giờ sáng tại nhà bố mẹ cô ở làng Helvoirt, Hà Lan. Những báo cáo đầu tiên về các vụ xả súng đang được lan truyền. Khoảng 9 giờ 30 sáng, một quan chức gọi điện từ Munich với tin tức đau lòng: Andre nằm trong số các con tin.

Andre sinh ra ở Transylvania, Romania, nhưng sau khi cha anh mất lúc anh mới mười một tuổi, anh đã chuyển đến Israel cùng mẹ.  Anh từng là lính nghĩa vụ trong quân đội Israel và sau đó đến Học viện Thể thao Quốc gia Israel để học đấu kiếm, môn thể thao yêu thích của anh. Giám đốc Học viện nhận thấy tài năng đấu kiếm bẩm sinh của chàng trai trẻ người Romania và gửi anh sang Hà Lan để hoàn thiện kỹ năng đấu kiếm. Tại đây, Ankie trở thành một trong những học trò của anh.

“Tôi hoàn toàn không biết anh ấy đến từ Israel. Anh ấy nói tiếng Hà Lan nhưng hơi có giọng địa phương, nên tôi nghĩ có lẽ anh ấy đến từ Đông Âu hay gì đó.” Andre là một người đàn ông quyến rũ. Anh ấy trở thành huấn luyện viên đấu kiếm của cô ấy trước, và sau đó là người tình của cô. “Vì anh ấy là người thật khó cưỡng để không yêu anh ấy.”

Ankie đã cải sang Do Thái giáo và cặp đôi kết hôn, với đám đông bạn bè mới của Andre đến chung vui. Cô nhớ lại: “Tôi thấy hơi tội nghiệp anh ấy vì tôi nghĩ, ở đây tôi có tất cả bạn bè, gia đình và mọi thứ, họ hàng, vậy mà Andre, người mới chỉ ở Hà Lan được hai năm, chắc hẳn chẳng có ai bên cạnh đến dự đám cưới của chúng tôi.” Nỗi lo lắng của cô là không có cơ sở. Hầu hết khách mời đến dự đám cưới đều là vì tình bạn với chú rể. “Anh ấy có tính cách rất đặc biệt và rất dễ hòa hợp. Nhờ khiếu hài hước, anh ấy đã kết bạn được với rất nhiều người chỉ trong một thời gian rất ngắn ở Hà Lan.”

Ankie, một cô gái năng động, phóng khoáng, đã cùng Andre trở về Israel và cặp đôi chuyển đến phía bắc, gần biên giới với Lebanon, nơi Spitzer thành lập học viện đấu kiếm Israel trong một cụm nhà đổ nát. Đó là một cuộc sống khó khăn, vất vả, cách thị trấn gần nhất 30 dặm, với lệnh giới nghiêm lúc 5 giờ chiều vì nạn cướp bóc hoành hành. Đối với một cô gái trẻ đến từ Hà Lan quen với các buổi hòa nhạc và nhà hát hơn, đó là một thế giới khác. “Sau đó, chúng tôi phải rời đi vì nơi đó quá nguy hiểm, nhưng năm chúng tôi sống ở đó là năm đẹp nhất và tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi.”

Trong lúc họ chật vật với cuộc sống trong khu vực cướp bóc, Andre đang chuẩn bị cho Thế vận hội Munich. Ankie nói rằng đó là “giấc mơ của anh ấy”, và chỉ một tháng trước khi bắt đầu, cặp đôi đã chào đón đứa con đầu lòng, một bé gái xinh xắn mà họ đặt tên là Anouk. Thỉnh thoảng Ankie lại thắc mắc về sự cống hiến hết mình của anh ấy cho thể thao. “Thế vận hội có gì mà quá quan trọng với anh đến vậy?” cô ấy hỏi.

Câu trả lời của anh xuất phát từ trái tim: “Ý tưởng về Thế vận hội,” Andre nói với Ankie, “là việc em có thể quên đi rằng mình là hai quốc gia, hay hai quốc gia đang thù địch, và em có thể cùng nhau tham gia thể thao, và thông qua thể thao, tìm thấy những điều  tốt đẹp ở nhau, kết bạn, vun đắp các mối quan hệ và tìm thấy tình anh em với nhau. Điều đó thực sự hấp dẫn anh.” Ankie nói rằng Thế vận hội là “tất cả đối với Andre.”

Ankie tự hào về việc chồng mình được chọn tham dự Thế vận hội Munich đến nỗi cô rất muốn tháp tùng cùng anh sang Đức. “Về mặt tài chính, tôi gặp khó khăn khi đi vì chúng tôi là một cặp vợ chồng trẻ có một con gái nhỏ, nhưng chúng tôi quyết định rằng việc ở bên nhau quan trọng hơn là tiết kiệm thêm vài xu, nên chúng tôi quyết định tiêu hết số tiền mình có cho chuyến đi này.”

Phái đoàn Israel đã khởi hành đến Munich bằng hộ chiếu công đặc biệt, và cùng ngày hôm đó, Ankie bay đến Hà Lan cùng con nhỏ. Dự tính của Ankie là nhờ bố mẹ cô chăm sóc bé Anouk trong khi cô đi đến Munich để gặp Andre, nhưng không hiểu sao Anouk bắt đầu khóc không ngừng trong suốt hai mươi bốn giờ.

Tình trạng mệt lả của bé đến mức anh trai của Ankie, một bác sĩ nhi khoa người Hà Lan, đã đề nghị cô đưa Anouk đến bệnh viện vài ngày để kiểm tra. “Vì vậy, tôi đã phải phân vân: nên ở lại Hà Lan với bé hay nên đến Munich với Andre?”

“Em có thể dễ dàng đến Munich,” anh trai cô trấn an cô, “vì chúng ta chỉ kiểm tra sức khỏe cho bé thôi. Em sẽ khiến Andre rất lo lắng nếu em không đi.”

Ankie quyết định thực hiện chuyến đi. Vì thiếu tiền, cô đi nhờ xe từ Hà Lan đến Munich, đến thành phố Đức ngay trong ngày và gặp Andre ở Làng Olympic. Khu vực này phân biệt nam nữ, nên gia đình Spitzer quyết định thuê phòng cùng nhau tại một khách sạn nhỏ gần đó. Việc ở ngoài hàng rào Làng cũng không gây ra nhiều vấn đề: mặc dù Ankie không có giấy phép chính thức vào Làng, nhưng an ninh ở đây lỏng lẻo đến mức cô cứ thế đi vào qua một trong những lối ra không có người gác.

Đó là một khoảng thời gian hạnh phúc đối với Ankie, nhưng cũng kém vui bởi phải lo lắng về Anouk. Cô quyết định không nói với chồng con đang ở bệnh viện vì cô biết anh ấy sẽ bỏ dở mọi việc và vội vã sang Hà Lan. “Nhưng anh ấy không đến Munich để làm điều đó. Anh ấy đến Munich để ở bên các kiếm sĩ  của mình và tham gia đoàn Olympic.”

Ankie một mình gánh vác gánh nặng, ngày nào cũng gọi điện cho bố mẹ hỏi thăm tình hình của Anouk, và biết rằng tình hình cũng  dần cải thiện. Sự kín đáo của cô giúp hai vợ chồng tận hưởng trọn vẹn thời gian ở Munich, với Andre ở bên cạnh.

Anh là người luôn tin tưởng mạnh mẽ rằng Thế vận hội có thể phá vỡ rào cản quốc gia, và sau một cuộc thi, khi phát hiện ra các thành viên của đội tuyển Lebanon, anh nói với Ankie mình sẽ đến chào họ.

Ankie ngay lập tức tỏ ra e ngại. “Tôi nói với anh ấy, ‘Anh bị điên à?! Họ đến từ Lebanon mà!’ Lúc đó Israel đang trong tình trạng chiến tranh với Lebanon.”

“Ankie,” Andre bình tĩnh nói, “đó chính xác là ý nghĩa của Thế vận hội. Ở đây, anh có thể đến đó, anh có thể nói chuyện với họ, anh có thể hỏi thăm sức khỏe họ. Đó chính xác là mục đích của Thế vận hội.”

“Thế là anh ấy đi đến đội tuyển Lebanon, và hỏi thăm họ, ‘Kết quả của các bạn thế nào?’ và ‘Tôi đến từ Israel, mọi chuyện ra sao rồi?’. Và thật ngạc nhiên, tôi thấy đội tuyển Lebanon đáp lại, họ bắt tay anh ấy, trò chuyện và hỏi thăm anh ấy về kết quả thi đấu. Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc anh ấy quay lại và bước về phía tôi với nụ cười rạng rỡ trên môi. ‘Em thấy chưa!’, Andre hào hứng nói. ‘Đây là những gì anh đã mơ ước, và điều đó đã xảy ra.”

Andre đã sớm hoàn thành tất cả các cuộc thi của mình tại Thế vận hội. Kết quả, theo lời Ankie, không “gây chấn động”, nhưng đối với Israel thì lại cực kỳ tốt. Chồng cô rất thích Đức đến nỗi anh ấy đề nghị ở lại thêm một tuần nữa và đi tham quan quanh vùng. Ankie quyết định đã đến lúc báo cho anh ấy biết Anouk bị ốm. Cô nói, cảm giác như “một quả bom rơi trúng đầu anh ấy”.

Andre ngay lập tức đi gặp người đứng đầu phái đoàn Israel và được cho phép nghỉ vài ngày. Cặp đôi vội vã đến ga Munich, đi tàu gần hết chặng đường trở về Hà Lan, rồi đi nhờ xe ở chặng cuối.

“Sáng hôm sau, chúng tôi trở về Hà Lan và lập tức đến bệnh viện”, Ankie kể. Các bác sĩ nói với cô rằng Anouk vẫn ổn và tiếng khóc của bé có thể là do căng thẳng, nhưng họ muốn giữ bé ở lại bệnh viện để theo dõi càng lâu càng tốt. Vợ chồng Spitzers đã ở bên Anouk suốt cả ngày hôm đó, chăm sóc đứa con nhỏ của họ.

Ngày hôm sau, 4 tháng 9, Andre phải trở về Đức và dự kiến ​​sẽ bắt chuyến tàu lúc 10 giờ sáng từ Den Bosch. Nhưng khi hai vợ chồng lái xe đến ga, Andre đột nhiên quyết định phải gặp con gái lần cuối. “Anh chỉ muốn hôn Anouk một cái thôi”, anh nói với vợ.

“Tôi rất sốt ruột vì sợ anh ấy sẽ lỡ chuyến tàu.” Nhưng Andre đã chạy vào bệnh viện, ôm con gái, hôn con bé rồi chạy vội ra ngoài. “Tôi vẫn ngồi trong xe đợi anh ấy,” cô nói thêm. Sự chậm trễ đồng nghĩa với việc Andre lỡ chuyến tàu. “Tôi đã rất tuyệt vọng.

vì tôi nghĩ anh ấy sẽ gặp rắc rối khi trở về Munich.”

“Chúng ta thử đến ga tàu khác xem, cách đó khoảng ba mươi dặm,” Ankie nói với chồng. Cô gái trẻ người Hà Lan “nhấn ga” và phóng nhanh đến ga tiếp theo ở Eindhoven, phía đông nam Hà Lan.

Tàu đã vào ga, và Andre nhảy lên tàu mà không mua vé. Khi Ankie chạy dọc theo tàu, Andre mở cửa sổ và hét lên với cô: “Ankie, tối nay anh sẽ gọi cho em khi  về tới Munich!”

“Được rồi!” Ankie hét lên

Khi tàu tăng tốc, Ankie đáp lại. “Gọi cho em, em sẽ lo cho Anouk!” Ankie nhìn theo đoàn tàu khuất dần trong khoảng không. “Và anh ấy đã rời đi,” cô buồn bã nói thêm. Đó là lần chia tay cuối cùng của cô với người chồng yêu dấu Andre.

Ankie Spitzer quay lại bệnh viện thăm Anouk, rồi về nhà chờ điện thoại của chồng. Khoảng nửa đêm, anh gọi điện từ Làng Olympic. Vị huấn luyện viên đấu kiếm cao lêu nghêu đang trên đường đến số 31 Connollystrasse để kiểm tra phòng ngủ của mình, nơi anh đã không sử dụng vì đã ở cùng Ankie trong phòng khách sạn của họ.

“Không có ai ở đây cả”, Andre nói với vợ.

“Họ ở đâu?” cô hỏi.

“Anh sẽ đi xem,” Andre nói.

Cặp đôi tiếp tục nói chuyện thêm vài phút nữa, rồi Andre nhận ra cước điện thoại sắp hết tiền

“Ankie, anh chỉ còn năm mươi pfennig thôi,” Andre nói, “nên chúng ta phải nói chuyện nhanh thôi.”

“Vì vậy, chúng tôi đã nói chuyện rất nhanh, rất nhanh, rất nhanh,” Ankie nhớ lại, “và anh ấy nói, ‘Anh sẽ gọi cho em vào ngày mai để cho em biết khi nào toàn bộ phái đoàn sẽ trở về Israel, bởi vì anh

muốn đến đó trước em để có thể đợi em và em bé, để giúp em một tay khi em về đến.’ Vậy nên chúng tôi vẫn nói chuyện và anh ấy nói, ‘Anh yêu em,’ và tiền cước vừa hết, tiền xu cũng hết và đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với anh ấy. Đó là lần cuối cùng tôi nghe thấy giọng nói của anh ấy.

Bốn giờ sau, Tháng  Chín Đen đến số 31 Connollystrasse và bắt Andre làm con tin. “Bố mẹ tôi đến đánh thức tôi dậy và hỏi, ‘Ankie, đoàn Israel có bao nhiêu vận động viên?’. Tôi vừa mở mắt ra và nói, ‘Con không biết. Con nghĩ khoảng 20, 25. Con không biết.'” Bố mẹ Ankie đã nghe tin về vụ tấn công trên radio. Giới truyền thông cho biết một người Israel đã thiệt mạng. Tin đồn lan truyền khắp Làng Thế vận; ban đầu báo chí nghĩ rằng nạn nhân là huấn luyện viên quyền anh người Israel.

“Huấn luyện viên quyền anh là ai?” bố mẹ hỏi con gái Ankie.

“Không có huấn luyện viên quyền anh nào cả,” Ankie đáp. “Israel không cử võ sĩ quyền anh nào cả. Sao bố mẹ lại hỏi con chuyện này vào lúc bảy giờ sáng?” Bố mẹ cô nhanh chóng giải thích những gì họ nghe được. “Tôi lập tức phóng ra khỏi giường và tôi nghĩ nếu không phải là huấn luyện viên quyền anh thì là huấn luyện viên nào? Có lẽ là Andre.”

Nỗi sợ hãi lạnh lẽo bao trùm Ankie. Gia đình bật radio và tivi để bắt đầu một nỗi chờ đợi  tuyệt vọng. “Tôi đợi đến chín giờ sáng thì phát hiện Andre là một trong những con tin. Tôi vô cùng đau khổ. Đau khổ khi biết rằng con người yêu chuộng hòa bình này vừa bị bắt làm con tin… rằng họ đã cướp đi tự do của anh ấy. Tôi ngồi trước tivi, bật kênh Đức, kênh Hà Lan và radio, ngồi yên tại chỗ, không rời đi.”

Hàng chục người thân đã trải qua nỗi sợ hãi tuyệt vọng tương tự vào sáng ngày 5 tháng 9. Tại Israel, trong nhiều ngôi nhà trên khắp đất nước non trẻ này, nỗi kinh hoàng xen lẫn sự hoài nghi: tại sao ở Đức chứ, tại sao người Do Thái chứ, không phải một lần nữa chứ

Người thân phản ứng khác nhau trước tin tức này. Một số muốn được quây quần bên bạn bè và gia đình. Số khác chỉ muốn ở một mình với những suy nghĩ riêng. Miriam Gutfreund, vợ của Yossef, trọng tài đấu vật, đã đi bộ đến Bức tường Tây ở Jerusalem để cầu nguyện. Judith, con gái của họ đã bác bỏ những lời đồn đại của bạn học rằng cha cô đã bị giết. “Ông ấy quá to con để có thể bị giết”, cô đáp trả và vội vã về nhà để ghi âm các bản tin cho cha cô thưởng thức khi ông trở về.

Ilana Romano, người vợ trẻ của vận động viên cử tạ Yossef, đang ngủ trên giường thì bị đánh thức bởi tiếng đập cửa vào khoảng 9 giờ sáng. Hàng xóm của cô đã nghe đài phát thanh và là người đầu tiên báo tin dữ. Ilana nhớ lại: “Tôi bật đài phát thanh và nghe thấy một nhóm khủng bố đã xâm nhập Làng Olympic. Chúng đã sát hại một vận động viên và bắt giữ con tin.”

Người phụ nữ trẻ bỗng trở nên hoảng loạn, nỗi sợ hãi càng trở nên tồi tệ hơn, có lẽ vì cô trước đây đã không muốn chồng mình đi Munich. “Suốt quá trình tập luyện cho Thế vận hội Olympic, tôi đã lo lắng, một linh cảm rất xấu. Càng gần đến Thế vận hội, tôi càng nói, ‘Yosse, anh biết không? Em rất sợ. Em có linh cảm không tốt về Thế vận hội Olympic.'”

Yossef chỉ đơn giản quay sang cô, một nụ cười rạng rỡ nở trên khuôn mặt anh và nói: “Ilana, thôi nào, dừng lại đi. Đừng tự tạo áp lực cho mình. Người Đức, họ nghĩ đến mọi thứ. Sẽ không có chuyện gì xảy ra đâu, đừng lo. Anh nói với em là mọi chuyện sẽ ổn thôi.”

Nhưng Ilana vẫn lo lắng mỗi khi Yossef ra khỏi nhà để tập luyện cho cuộc thi. Giống như những người vợ khác của các thành viên đoàn Israel, Ilana còn trẻ, phải vật lộn để nuôi lớn con cái trong khi chồng cô chỉ mải mê rèn luyện cơ bắp.

Hai người họ gặp nhau trên bãi biển. Yossef Romano là siêu anh hùng địa phương, toàn gân cốt và cơ bắp kết hợp với tính cách lôi cuốn. “Anh ấy rất khỏe mạnh và luôn nở nụ cười trên môi, lúc nào cũng vậy. Lần đầu tiên nhìn thấy anh ấy, tôi đã thốt lên: ‘Ồ!’. Và khi anh ấy mở miệng, anh ấy thật dịu dàng. Thật dễ dàng để yêu anh ấy.”

Cuộc hôn nhân của họ vẫn là điều bất ngờ. Bố mẹ cô sắp di cư từ Israel sang Ý, và Ilana tuyên bố muốn ở lại. “Không đời nào, con không thể ở lại đây một mình được đâu”, bố mẹ cô nói.

“Bác đang nói gì vậy? Chúng con chuẩn bị kết hôn,” Yossef nói với họ một cách bực bội.

“Tôi thậm chí còn không có thời gian để suy nghĩ nữa,” Ilana nhớ lại. “Đó là tình yêu đích thực giản đơn.”

Cô kết hôn với một người hâm mộ thể thao cuồng nhiệt. Trong khi Ilana sinh con đầu lòng, Yossef đang đi thi cử tạ tại một cuộc thi. “Anh ấy từng hứa với tôi rằng cuộc thi này sẽ là lần cuối cùng”, cô nói với một nụ cười gượng gạo. Rồi Thế vận hội đến.

Yossef đã luyện tập rất chăm chỉ, nhưng anh không thể sánh được với các vận động viên hàng đầu của những quốc gia lớn hơn Israel bé xíu gấp nhiều lần. Anh say  mê các cuộc thi của mình, nhưng vào ngày 3 tháng 9, Yossef gọi điện cho Ilana từ Munich để báo rằng anh bị thương và sẽ trở về nhà sau hai ngày cùng một bác sĩ của đội để phẫu thuật chân. “Đừng lo. Mọi thứ đều ổn. Anh nhớ em. Các con thế nào rồi? Anh muốn về nhà.”

“Đó là cuộc gọi điện thoại cuối cùng của anh ấy,” Ilana nói. “Thật cảm động.”

Ilana không nhận được tin tức gì từ Yossef vào ngày hôm sau, và vào ngày 5, cô mong đợi một bức điện tín hoặc một cuộc gọi báo cho cô biết khi nào anh ấy sẽ về nhà. Thay vào đó, tin tức từ Munich đến qua cô hàng xóm: tòa nhà của Israel đã bị xâm chiếm.

“Tôi đã gọi điện cho Ủy ban Olympic trong cơn hoảng loạn và hỏi chuyện gì đã xảy ra”, Ilana nhớ lại. Họ bảo cô đừng hoảng sợ, nhưng khi một quan chức nói rằng vụ tấn công đã bắt đầu vài giờ trước đó, Ilana càng thêm sợ hãi. “Bốn hay năm tiếng sau mà Yosse vẫn chưa gọi?” cô nhớ lại mình đã nghĩ như vậy. “Điều đó có vẻ vô lý. Yosse không gọi. Mà Yosse biết là tôi lo lắng.”

Ilana theo bản năng biết rằng có điều gì đó khủng khiếp đã xảy ra. Cô tuyệt vọng gọi điện cho bạn bè. và các quan chức trong Israel, nhưng dường như không ai biết chuyện gì đang xảy ra ở Munich. Rồi cuối cùng, cô nghe tin Yossef là một trong những con tin, và thế giới của cô sụp đổ. “Tôi hiểu Yossef. Tôi biết tính cách của anh ấy, anh ấy sẽ không chịu bị đối xử như súc vật. Anh ấy sẽ làm điều gì đó; tôi lo lắng cơ hội của anh ấy rất mong manh. Con quỷ bên trong tôi mách bảo tôi rằng chẳng có cơ hội nào cả.”

Yossef Romano là một người Do Thái thuộc thế hệ trẻ, một thế hệ không có ký ức cá nhân về cuộc diệt chủng Holocaust nhưng lại có hiểu biết sâu sắc về những hậu quả kinh hoàng của nó. Những thành viên lớn tuổi khác của phái đoàn Israel đã phải đối mặt với những ký ức cá nhân và ác mộng trong suốt Thế vận hội.

Jacov Springer, một trọng tài môn cử tạ bị bắt tại căn hộ số 1 ngay sau vụ tấn công khủng bố, sinh ra tại Ba Lan năm 1921, thuộc một trong những nhánh đông dân nhất của cộng đồng Do Thái lưu vong. Khi chiến tranh nổ ra, gia đình ông nghĩ rằng họ sẽ không còn gì phải sợ Đức Quốc xã nữa. Họ tự nhủ rằng họ không phải là một chủng tộc xa lạ; họ thậm chí còn nói tiếng Đức. Đức Quốc xã sẽ để họ yên.

Gia đình Springer muốn ở lại Ba Lan trong chiến tranh, nhưng có điều gì đó bên trong Jacov mách bảo anh rằng đã đến lúc phải rời khỏi đất nước. Nếu cha mẹ không đi cùng, anh sẽ phải ra đi một mình. Năm 18 tuổi, khi quân Đức bắt đầu cuộc càn quét khắp châu Âu khi chiến tranh bùng nổ, Jacov đã trốn khỏi Ba Lan sang Nga. “Không ai trong gia đình muốn nghe về chuyện đó. Vì vậy, họ ở lại Ba Lan và chỉ có mình ông ấy chạy trốn”, con trai ông, Alex, kể lại. Toàn thể gia đình Jacov –  “anh trai, chị gái và cha mẹ” – đều bị giết tại Ba Lan; chỉ riêng Jacov sống sót.

Sau chiến tranh, Jacov đã chiến đấu với ma quỷ và những cơn ác mộng. Ông gặp Rosa – người đã trở thành vợ ông tại Moscow vào năm 1946, sau đó trở về Ba Lan để học tại Học viện Thể thao. “Anh ấy là người Do Thái duy nhất theo học tại Học viện này”, Rosa nói. “Sau khi tốt nghiệp, anh ấy đã có một vị trí rất cao trong Bộ Thể thao. Anh ấy phụ trách các vận động viên, và anh ấy đã làm công việc đó trong nhiều năm.”

Cuối cùng vào năm 1957, gia đình Springer và hai đứa con nhỏ di cư đến Israel, nơi Jacov bắt đầu dạy cử tạ. Jacov đã khai sinh môn thể thao này tại Israel và vẫn được coi là cha đẻ của môn thể thao này ở đó. “Không có ai biết về môn này gì ở Israel cả”, Rosa Springer nhớ lại. “Anh  ấy đã tổ chức các khóa học cho trọng tài, và anh là một trọng tài quốc tế.” Mặc dù Israel không được mời tham dự Thế vận hội Olympic 1964, Jacov Springer vẫn được mời tham dự và làm trọng tài cho các cuộc thi. Jacov cũng đã tham dự Thế vận hội năm 1968.

Rồi đến Munich. Quyết định có nên đến Munich hay không là một lựa chọn vô cùng đau đớn đối với Jacov. Người Đức đã xóa sổ toàn bộ gia đình ông. Ông không bao giờ có thể

quên đi và không bao giờ tha thứ. Ngay cả 25 năm sau khi chiến tranh kết thúc, Jacov vẫn không sử dụng các thiết bị điện tử được sản xuất tại Đức.

Tuy nhiên, mặc dù không vui khi phải sang Đức, “mặt khác, có lẽ ông ấy coi đó là một phần bổn phận của mình”, Mayo nghĩ. “Đó là đỉnh cao trong sự nghiệp của ông ấy. Tất nhiên, việc đặt chân lên đất Đức không hề dễ dàng. Tôi cho rằng khi đặt chân lên đất Đức, đại diện cho môn thể thao này… ông ấy muốn gửi gắm, ‘Tôi đã trở lại, và nhìn xem, tôi đã sống sót và đánh bại các người!'”

Rosa Springer vẫn còn giữ một tấm bưu thiếp Jacov gửi cho bà trong những ngày cuối cùng của Thế vận hội. “Anh ấy viết chính xác thời gian anh ấy sẽ trở về và đề cập đến số hiệu chuyến bay; đúng vào dịp Tết Do Thái. Anh ấy gửi lời hỏi thăm và chúc mừng chúng tôi.” Vì Jacov đến Munich với tư cách giám khảo, ông được phép ở lại khách sạn bên ngoài Làng Olympic; thay vào đó, ông đã chọn ở cùng bạn bè trong đội tuyển Israel trên phố Connollystrasse. Đó là một quyết định hóa ra là sai lầm.

Khi người thân khóc thương trước tin tức về cuộc khủng hoảng ở Munich, Manfred Schreiber và Walther Tröger vẫn đang cố gắng thiết lập đường dây điện thoại đến số 31 phố Connollystrasse và đàm phán trực tiếp với bọn khủng bố. Toàn bộ chính phủ Đức cuối cùng dường như đã vào cuộc sau lưng họ trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm ngăn chặn máu người Do Thái đổ thêm trên đất Đức. Thủ tướng Đức Willy Brandt đã triệu tập nội các của mình để họp khẩn cấp trong khi Schreiber gọi điện cho bọn khủng bố và đề nghị “một khoản tiền không giới hạn” để thả các con tin. Khi các bộ trưởng vội vã đến cuộc họp nội các ở Bonn bọn khủng bố đã bác bỏ lời đề nghị này, cũng như một lời đề nghị khác đề nghị cho các quan chức Đức làm con tin thay thế các con tin Israel.

Tất cả những gì bọn khủng bố muốn, chúng tuyên bố, là thả “những người anh em” của chúng. Một trong số đó là Kozo Okamoto, tên khủng bố người Nhật bị kết án tù chung thân vì tham gia vụ thảm sát tại sân bay Lod vào tháng năm năm đó. Cũng trong danh sách còn có hai y tá người Ả Rập đã  bị bắt khi Israel giải cứu thành công chiếc máy bay Sabena bị không tặc cùng tháng. Thêm ba người này, danh sách giống hệt với danh sách mà bọn không tặc Sabena mang theo. Chúng cũng đe dọa sẽ giết chết các con tin trừ khi Israel thả các tù nhân.

Khoảng 10 giờ sáng, thời hạn chót buổi trưa đã đến gần, và việc tranh thủ thêm thời gian là vô cùng quan trọng. Do đó, các chính trị gia và cảnh sát Đức đã cố gắng hết sức thuyết phục bọn Palestine, khẩn nài họ đầu hàng. “Lúc đó, tôi nghĩ chúng tôi hơi ngây thơ”, Ulrich Wegener, người sáng lập đội chống khủng bố tinh nhuệ GSG-9 của Đức, thừa nhận. Lúc đó ông làm phụ tá cho Hans-Dietrich Genscher. “Các bộ trưởng cũng nghĩ rằng họ có thể nói chuyện với bọn khủng bố và thực sự, họ nghĩ rằng họ có thể thuyết phục chúng thả người dân đi, thả người Israel đi. Nhưng không có cách nào, anh biết đấy. Yêu cầu của họ rất rõ ràng.”

Nhưng cuộc nói chuyện vẫn tiếp diễn. “Tất nhiên chúng tôi đã thảo luận về vấn đề Palestine”, Walther Tröger nhớ lại. “Tôi có phần nào hiểu được tình hình, cũng như tôi hiểu được tất cả những gì nhân dân Palestine đang chịu áp lực, và chúng tôi đã thảo luận về vấn đề này và tôi nói, ‘Nghe này, tại sao các anh không đầu hàng.’ ” Tuy nhiên, Issa không chấp nhận. “Anh ta nói, ‘Dù sao thì chúng tôi cũng coi như đã chết, hoặc là chúng tôi sẽ bị giết ở đây, hoặc nếu chúng tôi bước ra ngoài và đầu hàng mà không có con tin đi theo, chúng tôi sẽ bị giết ở bất cứ nơi nào chúng tôi đến,’ đó là giọng điệu của anh ta. Họ tuyệt vọng, họ giống như những chiến binh cảm tử.” Issa dường như ám chỉ rằng nếu nhóm họ không thực hiện cuộc tấn công hoặc đầu hàng, những kẻ khủng bố Palestine khác sẽ truy lùng và giết họ vì “sự hèn nhát” của họ.

Thị trưởng Làng Olympic đã thử một hướng đi khác, thảo luận toàn bộ vấn đề Palestine. “Khi tôi ở cùng

Issa, chúng tôi không chỉ đàm phán về cách giải quyết vấn đề này, mà còn… đi sâu vào bối cảnh của toàn bộ sự việc, và tôi đã hỏi, ‘Tại sao anh lại làm vậy?’ Issa thực sự đã xin lỗi Tröger, nói rằng người Đức đã tổ chức một Thế vận hội Olympic tuyệt vời, nhưng điều đó cũng tạo cơ hội cho người Palestine đưa sự bất bình của họ đến với hàng triệu người đang xem truyền hình trên toàn thế giới.

Bất chấp tình hình, Tröger vẫn thấy mình bị thu hút bởi tên thủ lĩnh khủng bố. Quan chức Đức này  nghĩ Issa có lẽ là một người thông minh và có lý trí. “Tất nhiên là tôi không thích anh ta vì những gì anh ta đã làm, nhưng tôi có thể đã thích anh ta nếu tôi gặp anh ta ở nơi khác.” Issa có thể đang cầm một quả lựu đạn, nhưng anh ta thậm chí không khiến Tröger cảm thấy hắn là một người bạo lực. Tröger nói rằng anh ta là một nhân vật hoàn toàn khác biệt so với những tên còn lại trong băng nhóm, những kẻ mà trong mắt người Đức này là “những tên vô lại “. Tuy nhiên, Issa “thì khác”.

Anneliese Graes, người cũng có dịp trò chuyện với Issa trong suốt cuộc đàm phán, nhận thấy thủ lĩnh khủng bố này có vẻ kỳ quặc hơn. Hắn ta nói với cô rằng hắn ta từng làm việc tại Quầy Sữa của Làng Olympic, và mô tả mình thích nhảy múa trước quầy như thế nào (cô ấy không tin lời hắn nói).

Issa kể về hoàn cảnh và cuộc đời mình, giải thích rằng mẹ anh là người Do Thái và cha anh là một doanh nhân Ả Rập theo đạo Thiên chúa giàu có. Hắn kể rằng mình đã làm việc ở Pháp nhiều năm và thường xuyên dùng cụm từ “oo-la-la” trong các cuộc tán gẩu.

Cuộc tán gẩu không hoàn toàn chỉ có một chiều. Graes đã chỉ trích Issa vì hành động của hắn ta, nói rằng khủng bố không phải là cách để đạt được mục tiêu của mình. Người Palestine đáp trả bằng cách nói rằng hắn đã chán ngấy với tốc độ đàm phán ở Trung Đông. Hắn nói hai anh trai của hắn đang ở trong nhà tù Israel. Họ sống trong điều kiện tồi tệ và chẳng có việc gì làm cả ngày ngoài việc chơi cờ trong đầu. Hắn muốn họ được thả ra và hắn sẵn sàng giết người để đạt được mục đích.

Graes không hề sợ Issa (“Anh ta luôn lịch sự và đúng mực,” cô nói), nhưng cô liên tục yêu cầu hắn đừng vung vẩy quả lựu đạn trước mặt cô. Issa cười. “Cô không có gì phải sợ tôi cả,” hắn ta nói.

Issa có thể là một tên khủng bố lập dị, nhưng hắn cũng rất bướng bỉnh và ngang ngược. Mọi nỗ lực thuyết phục hắn đầu hàng đều thất bại, và đến 10 giờ sáng, các quan chức Đức ở Munich đang loay hoay tìm cách giải quyết cuộc khủng hoảng.

Sự hoảng loạn lan rộng khắp chính quyền Bonn khi nhận ra cả người Palestine lẫn người Israel đều không chịu nhượng bộ. Những cuộc gọi dồn dập đến Israel đều không mang lại giải pháp. Người Đức muốn thỏa hiệp với bọn khủng bố, nhưng Golda…

Meir, thủ tướng Israel, kiên quyết không muốn có thỏa thuận nào cả. Meir là một chính trị gia cứng rắn, một người phụ nữ đã trải qua tuổi thơ kinh hoàng ở Kiev, Nga, trốn tránh các băng đảng lang thang trên đường phố săn lùng “những kẻ giết Chúa Kitô”.

Tuy nhiên, bà cũng là một “người mẹ Do Thái” điển hình – một người phụ nữ có cả một dân tộc làm con. Tuy nhiên, bà vẫn không chịu nhượng bộ. “Nếu chúng ta nhượng bộ, thì không một người Israel nào trên thế giới có thể cảm thấy cuộc sống của mình được an toàn”, bà nói. Bà đã chỉ thị cho Eliashiv Ben Horin, đại sứ của bà tại

Bonn, nói với chính phủ Tây Đức rằng họ sẽ phải tự giải quyết vấn đề.

Meir đã chuẩn bị một tuyên bố trước Knesset, quốc hội Israel, mặc dù đang trong thời gian nghỉ nhưng đã triệu tập lại để xác nhận việc bổ nhiệm một bộ trưởng tư pháp mới, và bà đã xin cắt ngang để đưa ra bài phát biểu ngắn gọn trong mười phút. Bằng giọng nói nhỏ nhẹ, đơn giản bà cho biết người Ả Rập đã đe dọa sẽ giết các con tin và tự sát trừ khi hơn hai trăm tù nhân trong các nhà tù của Israel được trả tự do.

Sau đó bà nêu tên những người bị bắt làm con tin: David Berger, vận động viên cử tạ; Zeev Friedman, vận động viên cử tạ; Yossef Gutfreund, trọng tài đấu vật; Eliezer Halfin, đô vật; Yossef Romano, cử tạ; Amitzur Shapira, huấn luyện viên điền kinh; Kehat Shorr, huấn luyện viên bắn súng; Mark Slavin, đô vật; Andre Spitzer, huấn luyện viên đấu kiếm; Jacov Springer trọng tài cử tạ; Moshe Weinberg,, huấn luyện viên đấu vật. Khắp Israel và tại Hoa Kỳ, nơi cha mẹ David Berger sinh sống, gia đình họ đang khóc thương.

Vào lúc 11:15 sáng, Manfred Schreiber được báo rằng chính phủ Israel đã đưa ra lời từ chối cuối cùng và tuyệt đối với chính phủ Đức đối với các điều kiện của bọn khủng bố. Meir đã chuyển giao trách nhiệm về sự an toàn của các vận động viên của mình cho người Đức.

“Chính phủ Israel, thậm chí cả Golda Meir, đã thông báo với chúng tôi rằng chúng tôi được tự do nói bất cứ điều gì mình muốn, đàm phán theo bất kỳ cách nào chúng tôi thấy phù hợp… nhưng chúng tôi cần lưu ý một điều: họ sẽ không thả hai trăm tù nhân đó”, Manfred Schreiber kể lại. “Chúng tôi coi quyết định của họ vừa mang tính ràng buộc vừa có sức thuyết phục, và do đó chúng tôi cảm thấy rằng mình cần phải hành động theo đúng như vậy.”

Tuy nhiên, ngoài việc nhận ra rằng họ phải giấu nhẹm với Issa tin tức này, các quan chức ở Munich hầu như không có ý tưởng nào để giải quyết cuộc khủng hoảng và đã bắt đầu hoảng loạn. Các nhà báo Đông Đức theo dõi sự kiện ở Connollystrasse từ tòa nhà của đội tuyển quốc gia bên kia đường đã ghi lại một chuỗi sự kiện mới được phát hiện trong hồ sơ của Mật vụ Stasi. Lúc 11 giờ sáng, họ viết rằng cảnh sát Munich “có vẻ hoảng loạn hơn là kiểm soát được tình hình”.

Một số nhà quan sát cấp cao đã cáo buộc rằng hệ thống chỉ huy bắt đầu sụp đổ, khi các quan chức không hề nghĩ đến ngay cả những cân nhắc cơ bản nhất. Theo Ulrich Wegener, phải đến khoảng 10 giờ đến 11 giờ sáng, ông mới được yêu cầu huy động trực thăng, phòng trường hợp cảnh sát cần đến, để đưa Eliashiv Ben Horin từ Bonn xuống Munich. Wegener không hề mạo hiểm, ông đã gọi một phi đội trực thăng đầy đủ, rồi rời Munich để đón đại sứ.

Người Đức cũng mời Magdi Gohary, một Cố vấn người Ai Cập của Liên đoàn Ả Rập, người đã sống ở Đức 12 năm trước đó, yêu cầu ông giúp đàm phán với bọn khủng bố. Sáng hôm đó, ông được bộ phận giải quyết khủng hoảng của Bộ Ngoại giao Đức, liên lạc và yêu cầu đến Làng Olympic. “Nửa giờ sau, tôi được xe cảnh sát hú còi đón và chúng tôi đến văn phòng hội đồng Làng Olympic”, ông nói. Ông ngay lập tức được yêu cầu giúp dịch và giải thích những chi tiết ẩn ý trong tờ rơi mà bọn khủng bố đã ném xuống cho viên cảnh sát Đức, nhưng ngay cả kỹ năng ngôn ngữ và kiến ​​thức uyên thâm về Trung Đông của ông cũng không thể làm sáng tỏ một số dòng chữ và chữ viết tắt. Ban đầu, không ai nhận ra chữ ký ở cuối trang “I.B.S.O.” – viết tắt của Tổ chức Tháng Chín Đen Quốc tế.

Trong nỗ lực phá vỡ bế tắc, Gohary đã dũng cảm tình nguyện nói chuyện với bọn khủng bố và đi bộ một quãng đường dài xuống phố Connollystrasse để kêu gọi chúng đầu hàng. “Tôi đã nói với [Issa] rằng cuộc tấn công này sẽ gây ra những tác động tiêu cực [cho người Palestine] bất kể kết cục sẽ ra sao. Tôi cũng muốn nói với họ rằng việc đáp ứng các yêu cầu của họ dường như là bất khả thi đối với tôi, vì lý do chính trị. Theo tôi, Golda Meir sẽ không bao giờ đáp ứng những yêu cầu này, cụ thể là trả tự do cho số con tin Palestine, bởi vì điều đó sẽ đi ngược lại toàn bộ chiến lược chính trị của Israel vào thời điểm đó. Nó sẽ tạo ra một tiền lệ và do đó chuyển dịch cán cân quyền lực về phía người Palestine.”

Gây tranh cãi, Gohary tin rằng “người Israel thà chấp nhận toàn bộ đội tuyển thể thao của họ bị giết hơn là để điều này xảy ra”, mặc dù không có bằng chứng cụ thể nào chứng minh cho tuyên bố của ông.

Issa tỏ ra hoài nghi. “Anh ta có vẻ không tin tưởng lắm vào tôi, một người Ai Cập muốn làm trung gian, chắc chắn họ nghĩ tôi là điệp viên của chính quyền Đức hay gì đó.” Gohary đấu tranh với sự nghi ngờ của Issa. “Ấn tượng chung của tôi là họ thực sự tin vào khả năng các yêu cầu của họ sẽ được thực hiện, điều mà tôi vẫn chưa thể hiểu nổi.” Việc chính phủ Israel nhượng bộ là “99,9% không thể. Điều này khiến vụ việc trở nên rất phức tạp.” Gohary không đạt được tiến triển nào với Issa.

Schreiber và các quan chức cấp cao khác của Đức rời khỏi Connollystrasse, chán nản vì không thể giải quyết cuộc khủng hoảng một cách hòa bình, và nhanh chóng đi bộ đến văn phòng hành chính Olympic để thảo luận về tình hình đang xuống cấp với các thành viên khác của ủy ban giải quyết khủng hoảng. Phía Đức đang cạn kiệt các lựa chọn phi bạo lực, và Schreiber bắt đầu cân nhắc những cách trực tiếp hơn để chấm dứt cuộc bao vây. Từ 8:45 sáng Cảnh sát Munich đã phân tích cách tấn công ngôi nhà và giải cứu người Israel khi Georg Wolf, phó cảnh sát trưởng Munich, được lệnh bắt đầu chuẩn bị giải cứu con tin bằng một chiến dịch cảnh sát vũ trang.

Wolf mang đến tin xấu cho ủy ban giải quyết khủng hoảng. Sau nghiên cứu ban đầu, ông kết luận rằng một cuộc tấn công sẽ cực kỳ nguy hiểm, bởi vì bọn khủng bố quá đông và được trang bị vũ khí quá tốt.

Nhưng người Đức đang chịu áp lực từ Avery Brundage, người Mỹ đứng đầu Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC), để giải quyết cuộc khủng hoảng bằng mọi cách cần thiết. Brundage nhắc nhở các quan chức tập trung tại tòa nhà hành chính rằng, với tư cách là cựu cư dân Chicago, ông biết cách đối phó với tội phạm nguy hiểm; ông cũng đề nghị liên hệ với sở cảnh sát Chicago và xin một ít khí gây mê tác dụng nhanh, có thể nhanh chóng vô hiệu hóa tất cả bọn khủng bố và giải cứu con tin.

Đề nghị của ông khiến người Đức phấn khích, họ gọi điện đến Chicago để hỏi thêm. Nhưng trí nhớ của Brundage hẳn đã đánh lừa ông: Cảnh sát Mỹ không hề biết gì về loại khí thần kỳ này. Các quan chức Đức đã sử dụng Bộ Ngoại giao ở Bonn để liên lạc với các chính phủ khác trên thế giới với hy vọng mong manh rằng họ có thể đã phát triển được loại khí như vậy. Nhưng nó hoàn toàn không tồn tại. Họ sẽ phải tìm cách khác để cứu người Israel.

Trong khi các quan chức Bavaria đang cân nhắc cách giải cứu các con tin Israel khỏi tay những kẻ bắt cóc trên phố Connollystrasse, Thế vận hội vẫn tiếp tục. Hình ảnh truyền hình về cuộc khủng hoảng được chiếu xen kẽ với nội dung thi đấu cưỡi ngựa biểu diễn, với những chú ngựa và kỵ sĩ phi nước kiệu duyên dáng  để giành huy chương, trong khi hơn 3.500 khán giả reo hò cổ vũ cho đội bóng chuyền Đức trong trận chiến với đội Nhật Bản đang thống trị.

Sự tương phản này khiến nhiều khán giả cảm thấy khó chịu. Các con tin bị chĩa súng vào người chỉ cách Sân vận động Olympic một quãng ngắn, và một số bình luận viên bắt đầu đặt câu hỏi tại sao Thế vận hội vẫn tiếp tục trong hoàn cảnh kinh hoàng như vậy.

Ở Israel cơn thịnh nộ đã nổi lên. Golda Meir đã nói với Knesset một cách rõ ràng rằng Thế vận hội nên đình chỉ ngay lập tức: “Thật không thể tưởng tượng được rằng các cuộc thi Olympic lại tiếp tục trong khi các vận động viên Israel đang bị đe dọa tàn sát.” Các quan chức Olympic đã thảo luận về khả năng này trong nhiều giờ khi họ nghe về yêu cầu của bà; Thế vận hội cuối cùng đã bị đình chỉ với sự đồng ý miễn cưỡng của Avery Brundage.

Tại một cuộc họp báo đông đúc vào buổi chiều hôm đó, Hans Klein, phát ngôn viên báo chí chính của Ủy ban tổ chức Olympic, đã đọc một tuyên bố từ Brundage và Willi Daume, chủ tịch Ủy ban Tổ chức: “Nền hòa bình Olympic đã bị phá vỡ bởi một hành động ám sát của bọn khủng bố tội phạm. Toàn thể thế giới văn minh lên án tội ác man rợ và kinh hoàng này. Với lòng kính trọng sâu sắc đối với các nạn nhân và như một dấu hiệu chia buồn với các con tin chưa được thả, các sự kiện thể thao chiều nay sẽ bị hủy bỏ. IOC và Ban Tổ chức sẽ tổ chức lễ tưởng niệm các nạn nhân trong một buổi lễ sẽ diễn ra vào ngày mai, ngày 6 tháng 9 năm 1972, lúc 10:00 sáng tại Sân vận động Olympic.

Buổi lễ này sẽ chứng minh rằng lý tưởng Olympic mạnh mẽ hơn khủng bố hay bạo lực.”

Nhưng “lý tưởng” Olympic không mạnh hơn chủ nghĩa khủng bố. Một nhúm người Palestine đã tìm cách phá vỡ sự kiện thể thao quan trọng nhất trong lịch sử. Mặc dù các quan chức Đức đã đưa ra những lời trấn an, vận động viên bơi lội người Mỹ Mark Spitz, chàng trai vàng của Thế vận hội, vẫn đang thu dọn hành lý. Là một người Do Thái nổi tiếng, Spitz bị coi là mục tiêu tiềm năng cho các cuộc tấn công của người Ả Rập. Anh rời Munich đến London, được bảo vệ bởi ba vệ sĩ Đức.

 có vũ trang.

Spitz để lại Làng Olympic chìm trong một vở hài kịch siêu thực và bi thảm. Cuộc khủng hoảng nhanh chóng trở thành một sự kiện thu hút đông đảo khán giả, sánh ngang với các cuộc thi đấu thể thao. Hàng ngàn người tụ tập quanh Làng Olympic, nhòm vào khu vực dành cho vận động viên để chứng kiến ​​bầu không khí náo nhiệt. Trong khi người Do Thái bị đe dọa đến tính mạng, những đứa trẻ đã trèo qua hàng rào Olympic mà không bị cản trở vẫn lang thang khắp Làng, săn tìm chữ ký và ngậm kẹo hình Waldi, chú chó dachshund linh vật của Thế vận hội.

Các nhà báo được phép tiếp cận khu vực tập trung đông đảo vận động viên đều choáng váng trước sự thờ ơ của khán giả và sự thờ ơ của đám đông trước các sự kiện diễn ra trên phố Connollystrasse. “Trông cứ như mọi người đang tổ chức một buổi dã ngoại ồn ào trong sân nhà thờ. Có điều gì đó khó chịu, ích kỷ, và hơi tục tĩu trong bầu không khí ở phần còn lại của Làng”, phóng viên Gerald Seymour của ITN nhận xét. Trong tầm nhìn của số 31, các vận động viên đang âu yếm và vuốt ve nhau trên cỏ, trao đổi thẻ tên và số điện thoại, khởi động và tắm nắng. Hai trong số vận động viên đồng nghiệp của họ đã bị bắn, và chín người khác đang bị đe dọa đến tính mạng, nhưng một số vận động viên không mấy quan tâm; một số ít bày tỏ lo ngại rằng cuộc bao vây có thể đồng nghĩa với việc hoãn hoặc hủy bỏ Thế vận hội.

Lúc 11:30 sáng, khi tin đồn bắt đầu lan truyền trong đám đông rằng người Israel từ chối đáp ứng yêu cầu của bọn khủng bố, nhiều vận động viên đã công khai tỏ ra giận dữ. “Golda Meir, lại bắt cả thế giới làm con tin nữa rồi!” một vận động viên người Ireland hét lên. Trong khi đó, một tên khủng bố ngồi trên ban công tầng ba vẫy tay chào các vận động viên, hai chân kẹp khẩu súng máy.

Nhưng bên trong căn nhà số 31 phố Connollystrasse, tình hình khó có thể tồi tệ hơn đối với chín vận động viên Israel còn sống sót. Bị xiềng xích và trói chặt, họ bị chĩa súng vào người, xung quanh thi thể bị cắt xẻo của Yossef Romano, mà bọn khủng bố để lại giữa phòng như một lời cảnh báo về những nỗ lực trốn thoát tiếp theo.

Jamal Al-Gashey, trong lúc này, đang làm “nhiệm vụ canh gác” của mình, đứng ở chân cầu thang gần lối vào chung của số 31 Connollystrasse. Với hạn chót buổi trưa đang đến gần, y nhanh chóng được một tên khủng bố khác thay thế và đi vào trong để duỗi chân và xem chuyện gì đang xảy ra.  “Tôi vào căn phòng và thấy một người trong nhóm chúng tôi đang ngồi trên sàn, xung quanh là những người Israel, khẩu súng của anh ta được dựng lên dựa vào tường bên cạnh.” Căn phòng thật bẩn thỉu. Máu bắn tung tóe khắp tường. Yossef Romano nằm chết trên sàn dưới một tấm ga trải giường. Quần áo và chăn gối vương vãi khắp nơi. Những người Israel đang cố gắng giữ bình tĩnh.

“Tôi chắc chắn là anh sẽ không giết chúng tôi,” một trong số họ nói với Al-Gashey, “vì một người chúng tôi phàn nàn rằng mình bị lạnh và một trong số các anh đã đưa cho anh ấy một chiếc áo khoác.”

Người Israel nói chuyện với Al-Gashey bằng tiếng Ả Rập. Sau đó, anh ta quay sang bạn bè và nói rằng người Palestine sẽ không giết họ, mà chỉ đổi họ lấy tù binh.

Al-Gashey tuyên bố rằng người Israel sau đó quay lại với một tên khủng bố khác và, trong một nỗ lực đáng kinh ngạc để giữ vững tinh thần của những con tin khác, đã đề xuất bằng tiếng Ả Rập, “Hãy kể chuyện cười đi.” Nhưng khi người Israel bắt đầu một câu chuyện hài thì Issa bước vào phòng và dập tắt cuộc đối đáp vừa mới nhóm lên. Anh ấy “yêu cầu chúng tôi ngừng kể chuyện cười và trở về vị trí của mình”, Al-Gashey nói. “Tôi nghĩ anh ấy muốn tránh bất kỳ sự thân mật nào có thể bị các vận động viên lợi dụng để chế ngự chúng tôi và trốn thoát.”

Al-Gashey nhớ lại, việc giao tiếp giữa hai nhóm thực sự rất hiếm. “Hầu hết thời gian, các vận động viên ở lại vị trí chúng tôi bố trí, còn chúng tôi ở lại vị trí của mình. Thỉnh thoảng họ hỏi chúng tôi có diễn biến gì không và người chỉ huy chỉ trả lời chung chung. Anh ấy không cung cấp cho họ chi tiết về chiến dịch.” Cuộc trò chuyện mà Al-Gashey chứng kiến ​​là một trong số ít khoảnh khắc giao tiếp tích cực giữa hai nhóm. Trong suốt thời gian còn lại, người Israel hẳn đã bị dày vò bởi nỗi kinh hoàng không thể tưởng tượng nổi.

Có rất nhiều người chứng kiến ​​cảnh tượng kỳ lạ trên phố Connollystrasse vào ngày nắng đẹp ấy ở Munich. Từ ban công căn hộ tầng sáu gần tòa nhà Israel, một nhóm vận động viên Mỹ đã dành cả ngày theo dõi diễn biến sự việc và cầu nguyện cho một giải pháp hòa bình. Kenny Moore, Frank Shorter, Jon Anderson, Mike Manley, Steve Savage và Dave Wottle đều đã thức dậy kể từ khi Shaul Ladany đập cửa phòng họ sau khi trốn thoát khỏi tòa nhà của Israel vài giờ trước đó.

Người Mỹ thay phiên nhau canh gác trên sân thượng suốt ngày, hồi hộp nhổ hạt cây thì là mọc ở đó và nghiền nát trong lòng bàn tay. “Chúng tôi có thể thấy xe tăng, quân lính và xe cấp cứu tập trung cách đó 150 thước”, Moore nhớ lại. Sự chờ đợi thật đau đớn.

“Hãy tưởng tượng xem họ phải chịu đựng như thế nào

ở trong đó,” Frank Shorter nói với các vận động viên khác. “Một tên điên cầm súng máy nói, ‘Giết chúng ngay đi,’ và một tên khác nói, ‘Không, hãy đợi một lát.’ Bạn có thể chịu đựng được điều đó bao lâu?”

Những khán giả kinh hoàng khác cũng đổ dồn về ban công nhìn ra khu vực tập trung của đội tuyển Israel, bao gồm cả đại diện của giới truyền thông thế giới, để chứng kiến ​​vụ tấn công khủng bố được theo dõi rộng rãi nhất trong lịch sử. Trên ban công của đội Puerto Rico là Gerald Seymour và hai thành viên trong đội của anh. Anh kể lại: “rất yên tĩnh… nhìn xuống lối đi nhỏ đó. Theo một nghĩa nào đó, bạn đang nhìn xuống hiện trường của những sự kiện thế giới. Của năm đó, của thập kỷ đó, có lẽ của một phần tư thế kỷ đó.”

Trong số các phóng viên khác bên trong vòng vây cảnh sát có Peter Jennings, người dẫn chương trình nổi tiếng lúc bấy giờ, đang làm phóng viên Trung Đông cho ABC News. Trớ trêu thay, Roone Arledge, giám đốc sản xuất của ABC Sports, đã mời Jennings đến Munich để “nghỉ ngơi khỏi chính trường Trung Đông”

Sau khi nghe những báo cáo đầu tiên về cuộc bao vây, Jennings vớ lấy chiếc bộ đàm Telefunken và chạy đến Làng Olympic. Anh ta đã lách qua được hàng rào an ninh và lẻn vào trụ sở của Ý trên tầng ba của tòa nhà đối diện với phái đoàn Israel. “Những người Ý rất niềm nở và cho phép tôi đến đủ gần để nhìn qua ban công và thực tế là nhìn thẳng xuống khu vực 31.”

Trong khi đó, Arledge đã quyết định mời phát thanh viên thể thao Jim McKay “dẫn chương trình” tin tức nóng hổi từ phòng thu của ABC. McKay đang bơi thì nhận được cuộc gọi đến. Anh vội vã mặc quần áo bên ngoài quần bơi, nghĩ rằng mình sẽ nhanh chóng trở lại hồ bơi. “Một ngày sau, khi cuối cùng anh cũng trở về phòng khách sạn, anh thay quần áo và nhận ra mình vẫn còn mặc quần bơi bên trong”, Arledge nói.

Các đài truyền hình trên toàn thế giới đã trả tiền cho ABC để đưa tin về Thế vận hội thay mặt họ, và khi thế giới bắt đầu theo dõi những hình ảnh từ Munich, Peter Jennings bắt đầu phát sóng bình luận của mình qua bộ đàm từ ban công biệt lập của Ý. Anh có một góc nhìn hoàn hảo để theo dõi cuộc khủng hoảng đang diễn ra, và với ba năm kinh nghiệm đưa tin từ Trung Đông, anh chính là người thích hợp mà ABC cần có mặt tại hiện trường. “Tôi cứ lặp đi lặp lại với mọi người rằng, các bạn biết đấy, bản chất của người Palestine không có gì cho thấy họ sẽ sát hại các con tin này”, anh nói.

Tiếp tay cho bình luận của Jennings là những hình ảnh từ máy quay truyền hình ABC đặt trên đỉnh tháp truyền hình Olympic, một công trình cao 950 bộ thống trị Làng Thế vận. Mục tiêu chính của Arledge chỉ đơn giản là giữ cho máy ảnh hướng về số 31 Connollystrasse phòng trường hợp có chuyện gì xảy ra.

“Tôi không dám di chuyển máy quay,” ông thừa nhận. “Chúng tôi chỉ tập trung vào cảnh quay đó. Và nó cứ tiếp diễn, tiếp diễn mãi.” Quyết định của ông đồng nghĩa với việc toàn bộ cuộc khủng hoảng Munich được trình chiếu như một bộ phim truyền hình dài tập ngoài đời thực trên màn ảnh rộng toàn cầu.

Khi cả thế giới đang theo dõi và chờ đợi, từng phút trôi qua cho đến trưa, thời hạn chót thứ hai mà người Palestine đưa ra để thả các tù nhân khỏi nhà tù Israel.

Andre Spitzer, huấn luyện viên Israeli môn đấu kiếm, và cô dâu Ankie

Andre Spitzer và  con gái Anouk

 Yossef Romano, vận động viên cử ta

Jacov Springer, trọng tài môn cử tạ

Anneliese Graes, nữ cảnh sát nhiều kinh nghiệm được phân công đấu tranh tâm lý  với Issa trong suốt cuộc đàm phán

 Một góc nhìn dọc theo Connollystrasse, phố đi bộ trong Làng Olympic, nơi đoàn đại biểu Israel trú ngụ tại số 31.

Một bức ảnh chụp “Issa” từ xa, chỉ huy của nhóm tấn công Tháng Chín Đen. Trong các cuộc đàm phán, hắn ta sẽ tháo chốt lựu đạn và đưa cho một tên khủng bố khác để đảm bảo an toàn cho hắn ta trong khi nói chuyện với các quan chức Đức.

Cuộc đàm phán bắt đầu: bên ngoài 31 Connollystrasse. Thủ lĩnh khủng bố Issa (ngoài cùng bên phải) bắt đầu ra lệnh cho cảnh sát trưởng Munich Manfred Schreiber (ngoài cùng bên trái), Bộ trưởng Nội vụ Đức Hans-Dietrich Genscher (thứ hai từ trái sang) và Thị trưởng Làng Olympic Walther Tröger (giữa, quay lưng về phía máy ảnh).

Quan chức cấp cao của Đức đi bộ trở lại Connollystrasse sau các cuộc đàm phán tiếp theo với  khủng bố: Walther Tröger (thứ hai từ trái sang), Hans-Dietrich Genscher (giữa), Manfred Schreiber (thứ hai từ phải sang) và Bộ trưởng Nội vụ Bavaria Bruno Merk (ngoài cùng bên phải). 

15:40,   8 The Mourning Begi – 69/105, 73%

Bình luận về bài viết này