NHỮNG XUNG ĐỘT HOÀNH TRÁNG TẠO NÊN DIỆN MẠO THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI

10 CHIẾN TRANH TRĂM NĂM 1337-1453
MỘT LOẠT CUỘC CHIẾN TRANH GIỮA PHÁP VÀ ANH TRONG SUỐT HƠN MỘT THẾ KỶ, BÁO HIỆU SỰ KẾT THÚC CỦA THỜI TRUNG CỔ
TỔNG QUAN: NHỮNG THẾ HỆ XUNG ĐỘT GIỮA PHÁP VÀ ANH MỞ RA MỘT KỶ NGUYÊN MỚI TRONG LỊCH SỬ
Chiến tranh Trăm năm chỉ được đặt tên như vậy vào thế kỷ XIX, và trên thực tế, những cuộc chiến này kéo dài 116 năm. Nhưng đó là một cái tên đủ phù hợp cho một loạt các cuộc xung đột kéo dài diễn ra giữa Pháp và Anh từ năm 1337 đến năm 1453. Cuộc chiến này chủ yếu diễn ra vì lý do triều đại: để xác định gia tộc hoàng gia nào sẽ kiểm soát nước Pháp. Kể từ cuộc chinh phạt của người Norman, hoàng gia Anh đã giữ lại những vùng đất rộng lớn ở Pháp và điều này ngày càng trở thành một vấn đề gây tranh cãi. Khi Vua Charles IV của Pháp qua đời vào năm 1328, Vua Edward IV của Anh, cháu trai của cựu hoàng Pháp Philip IV và là người cai trị công quốc Guyenne – ở vùng Aquitaine thuộc tây nam nước Pháp – đã tuyên bố chủ quyền đối với ngai vàng của Pháp. Tuy nhiên, một hội đồng Pháp đã trao vương miện cho đối thủ người Pháp, Philip, Bá tước xứ Valois. Được tấn phong với vương hiệu Philip VI, ông tuyên bố tịch thu Guyenne vào năm 1337, làm nổ ra tình trạng thù địch.
Các nhà sử học theo truyền thống chia cuộc chiến thành bốn giai đoạn. Trong giai đoạn đầu tiên (1337- 60), người Anh đã thành công một cách đáng kinh ngạc, mặc dù đất nước của họ nghèo hơn và ít dân hơn nước Pháp, họ đang chiến đấu ở nước ngoài và lực lượng của họ ít hơn kẻ thù. Một phần, thành công này là nhờ vào những binh lính Anh, đặc biệt có kỷ luật rất tốt và được yểm trợ bởi đội cung thủ đi cùng, có hỏa lực đáng sợ giúp bù đắp cho sự thiếu hụt về quân số.
Nước Pháp cũng có lực lượng hải quân lớn hơn, nhưng trên biển, hải quân Anh cũng gặt hái được những thắng lợi trên biển ban đầu, như tại Sluys năm 1340, vô hiệu hóa hạm đội Pháp trong suốt thời gian còn lại của cuộc chiến. Năm 1346, Edward ghi thêm một chiến thắng lớn nữa tại trận Crécy, và năm 1347, ông chiếm được cảng Calais. Vào thời điểm này, một hiệp định đình chiến đã được sắp xếp với sự giúp đỡ của giáo hoàng, cả hai bên khi đó đều đã mệt mỏi vì chiến tranh và bị ảnh hưởng bởi bệnh dịch hạch. Tuy nhiên, ba năm sau, Philip qua đời, người kế vị là John II. Năm 1356, con trai của Edward, Edward Woodstock, được lịch sử gọi là Hoàng tử Đen phát động một cuộc tấn công vào nước Pháp, làm bùng nổ lại cuộc xung đột. Trong năm đó, ông đã đánh bại Vua John II tại Poitiers và bắt ông ta làm con tin, buộc người Pháp phải cầu hòa. Hiệp ước Brétigny năm 1360 buộc người Pháp phải trả ba triệu đồng tiền vàng cho người Anh – tiền chuộc John II – và trao cho Anh quyền kiểm soát gần một nửa nước Pháp. Đổi lại, Edward từ bỏ yêu sách của mình đối với ngai vàng của Pháp.
Tuy nhiên, John II đã chết trong cảnh giam cầm trước khi các điều khoản của hiệp ước được thực hiện, và con trai và người kế vị của ông là Charles V đã sớm mở lại các cuộc chiến, bắt đầu giai đoạn thứ hai của cuộc chiến (1369-99). Cuối cùng, bằng tài lãnh đạo hiệu quả, Charles trước tiên xâm lược Aquitaine, nơi cư dân đang bị đánh thuế nặng nề bởi Hoàng tử Đen. Sau đó, dưới sự chỉ huy của vị tướng tài ba Bertrand du Guesclin, người Pháp đã chiếm Poitiers, Poitou và La Rochelle vào năm 1372, và Aquitaine và Brittany vào năm 1374, do đó giành lại toàn bộ đất đai đã nhượng lại theo Hiệp ước Brétigny và chỉ để lại cho nước Anh Gascony và Calais. Hoàng tử Đen qua đời năm 1376, Edward III qua đời vào năm sau, và giai đoạn thứ hai của cuộc chiến gần như hoàn toàn là chiến thắng của Pháp. Nhưng sau đó Charles qua đời vì một cơn đau tim vào năm 1380 và cuộc xung đột đã lắng xuống. Hiệp định đình chiến Leulinghen năm 1389 cho phép hai bên phục hồi và tập hợp lại.

TRẬN NAJERA, NĂM 1367. DIỄN RA Ở MIỀN BẮC TÂY BAN NHA GIỮA ANH, PHÁP VÀ CÁC ĐỒNG MINH TÂY BAN NHA CỦA HỌ.
Giai đoạn thứ ba của cuộc chiến (1399-1429) đã được một số nhà sử học so sánh với một “cuộc chiến tranh lạnh”, vì sau khi Richard II, người kế vị Edward III, không được lòng dân, và bị phế truất ở Anh vào năm 1399, còn Vua Charles VI của Pháp bị điên loạn vào cùng thời điểm đó, các phe phái ở cả hai bên bắt đầu tìm cách phá hoại quốc gia bên kia. Và mặc dù Hiệp định đình chiến Leulinghen chính thức còn có hiệu lực, các cuộc đột kích của Anh vẫn tiếp tục trong thời kỳ trị vì ngắn ngủi của Henry IV (1399-1413). Năm 1415, Henry V chiếm được cảng Harfleur, sau đó giành được chiến thắng lớn và nổi tiếng tại Agincourt; đến năm 1419, ông đã chinh phục toàn bộ Normandy. Hiệp ước Troyes năm 1420 đã đưa Henry trở thành người thừa kế và nhiếp chính của Pháp. Nhưng vào năm 1422, trước khi ông có thể lên ngôi, ông đã qua đời (chỉ vài tuần trước Charles), để lại John, Công tước xứ Bedford, cai trị với tư cách là nhiếp chính cho đứa con trai sáu tuổi của mình, Henry VI. Vị vua Anh chỉ mới được công nhận là Vua của Pháp ở phía bắc Sông Loire. Tuy nhiên, ở phía nam Sông Loire, người dân Pháp vẫn tiếp tục ủng hộ con trai của Charles VI là Charles. Ban đầu cậu vẫn chưa được trao vương miện, chỉ nhận danh hiệu dauphin, hay thế tử. Vì vậy, lực lượng Anh đã bao vây thành trì Orléans của vị dauphin vào năm 1428 trong nỗ lực giành quyền kiểm soát phần còn lại của nước Pháp.
Giai đoạn thứ tư của cuộc chiến bắt đầu vào năm 1429, khi Jeanne d’Arc có sức lôi cuốn tập hợp lực lượng Pháp để phá vòng vây. Cùng năm đó Thái tử lên ngôi là Charles VII tại Reims, và sau đó người Pháp đã đạt được một loạt chiến thắng, giải phóng Paris và Ile-de-France (1445-48), Normandy năm 1450, và Aquitaine năm 1453, và đánh bại một lực lượng lớn của Anh trong trận Castillon, cũng vào năm 1453. Không có hiệp ước hòa bình chính thức nào chấm dứt tình trạng thù địch giữa hai nước: Anh chỉ đơn giản thừa nhận rằng Pháp giờ đã quá mạnh để có thể tấn công thành công.
Vào cuối cuộc chiến, chính phủ Anh gần như phá sản. Một loạt các cuộc nội chiến nổ ra ở Anh, giữa những người tranh giành ngai vàng và được gọi là Chiến tranh Hoa hồng. Trong số các vùng đất của họ ở Pháp, người Anh chỉ giữ lại Calais, rồi họ cũng buộc phải từ bỏ vào năm 1558. Bất chấp thất bại, các quốc vương Anh kế tiếp vẫn tự gọi mình là Vua hoặc Nữ hoàng Pháp cho đến năm 1802. Người Pháp, mặc dù chiến thắng, vẫn mang những vết sẹo do sự cướp bóc của người Anh, và sự oán giận và thù hận giữa hai nước kéo dài trong nhiều thế kỷ.
MỘT PHỤ NỮ GIẢI CỨU MỘT THÀNH PHỐ BỊ BAO VÂY-VÀ LÀM THAY ĐỔI CỤC DIỆN CỦA CUỘC CHIẾN
Cuộc vây hãm Orléans, 1428-29
Đối với người Pháp đang bị bao vây nhìn xuống từ những bức tường thành phố Orléans vào ngày xuân tươi sáng và lạnh lẽo ngày 29 tháng 4 năm 1429, người thiếu nữ cưỡi con ngựa chiến màu trắng hẳn trông giống như một bóng ma. Nhỏ nhắn và tóc đen, cô mặc một bộ áo giáp tráng men trắng sáng bóng được may riêng cho mình, và cô giơ cao lá cờ, một lá cờ hẹp dài màu xanh và trắng được trang trí bằng hai thiên thần và một từ duy nhất: Jesus.
Đi theo sau Jeanne d’Arc – như tên cô mà chúng ta biết ngày nay, mặc dù người Pháp lúc đó gọi cô là Pucelle, Trinh nữ – là một lực lượng diễu hành gồm khoảng 200 lính đánh giáo. Và đóng trại bên ngoài các bức tường của thành phố là 5.000 nghĩa binh khác, những người đã đi theo Jeanne băng qua nước Pháp để cứu thành phố Orléans và toàn bộ đất nước khỏi tay người Anh.
Jeanne d’Arc là vị chỉ huy kỳ lạ nhất mà những chiến binh này từng có. Cô tấn công những ả gái điếm đi theo binh lính bằng mặt thanh kiếm của mình, cấm đàn ông chửi thề, và luôn mặc bộ giáp nặng, khiến ít nhất một hiệp sĩ phải kinh ngạc: “Cô ấy chịu được sức nặng và gánh nặng của bộ giáp một cách đáng kinh ngạc, đến mức có khi cô mặc nó đầy đủ suốt trong sáu ngày đêm.”
Và phép thuật dường như đã theo chân Trinh Nữ . Tại thị trấn Ferbois, dọc theo chiến tuyến của quân đội, một thị trấn mà cô chưa từng đặt chân đến, cô đã ra lệnh cho các giáo sĩ tại Nhà thờ St. Catherine đào dưới một tảng đá ở phía sau bàn thờ. Họ sẽ tìm thấy một thanh kiếm ở đó, cô nói với họ. Và quả là họ đã tìm thấy một di vật rỉ sét bị chôn vùi đã qua một thế kỷ. Binh lính rất ngạc nhiên, mặc dù những ai biết Jeanne rõ hơn một chút đều hiểu rằng Thánh Catherine là một trong ba vị thánh gần như nói chuyện với cô hàng ngày.
Khi Jeanne d’Arc tiến vào Orléans cùng với đội quân của mình vào buổi tối tháng 4, một đám đông lớn đàn ông, phụ nữ và trẻ em tụ tập, mang theo đuốc, la hét và cười đùa. Vì, như một nhà biên niên sử đã viết, “họ cảm thấy mình được an ủi và như thể không còn bị bao vây nữa, bởi đức tính thiêng liêng mà họ được cho biết là hiện diện trong cô gái giản dị này.”

Jeanne d’Arc
Sơn dầu khoảng 1882 của Dante Gabriel Rossetti
Thành trì cuối cùng
Jeanne d’Arc đã đến hiện trường vào một trong những thời điểm quan trọng nhất của Chiến tranh Trăm năm. Đáp lại sự bác bỏ của người dân Pháp ở phía nam Sông Loire đối với sự cai trị của vị vua trẻ tuổi của mình, Henry VI, lực lượng Anh, dưới sự chỉ huy của Công tước xứ Bedford và chỉ huy chiến trường của ông, Bá tước Salisbury, đã bắt đầu một cuộc tấn công lớn về phía nam vào năm 1422. Đánh tan quân Pháp trên đường hành quân, họ tiến lên đều đặn và đến năm 1428 đã ở bên bờ chiến thắng.
Vào tháng 10, Bedford cử Salisbury, dẫn đầu 5.000 người, đi chiếm thành phố Orléans, ở bờ bắc sông Loire. Thành phố này kiểm soát tuyến đường thủy quan trọng và là thành trì cuối cùng của lực lượng Pháp trung thành với thế tử.
Bất chấp những chiến thắng trước đó, người Anh không có sự đảm bảo nào sẽ chinh phục được Orléans. Thành phố này rất kiên cố. Nằm ở bờ bắc của con sông, nó được bao quanh bởi những bức tường cao 30 feet (9 m) được trang bị ít nhất 70 khẩu pháo, một số trong đó có thể bắn những viên đá nặng 200 pound (90 kg). Bên trong thành có 2.500 quân và 3.000 dân quân, một lực lượng đông hơn quân Anh vì Salisbury đã mất ít nhất 1.000 người của mình do đào ngũ trên đường đến Orléans.
Salisbury không thể phong tỏa Orléans hoặc thậm chí bao vây nó, với lực lượng mỏng như vậy. Vì vậy, ông đã thiết lập một cứ điểm bộ binh mạnh mẽ ở bờ nam của con sông và củng cố cổng thành được gọi là Les Tourelles tại một cây cầu dẫn đến thành phố. Ở bờ bắc, phía đông và phía tây dọc theo con sông, ông đã đặt sáu hàng rào cọc theo hình bán nguyệt.
Vào giữa tháng 10, pháo binh Anh bắt đầu bắn đại bác vào đường phố, khiến dân chúng chạy tán loạn. Trận chiến đã diễn ra. Và nếu Orléans thất thủ, nước Pháp cũng sẽ thất thủ.
Sau đó, một trong những cuộc bao vây kỳ lạ nhất của cuộc chiến đã xảy ra, một sự việc ngẫu nhiên và nhàn nhã lạ kỳ cho cả hai bên. Ngay sau khi cuộc chiến bắt đầu, Salisbury đã bị giết bởi một phát súng đại bác may mắn của Pháp và được thay thế bởi Bá tước Suffolk. Ít hung hăng hơn nhiều so với Salisbury, ông đưa hầu hết quân lính của mình vào các doanh trại mùa đông, chỉ để lại một lực lượng nhỏ ở Les Tourelles. Sau đó, cấp trên của Suffolk đã buộc ông phải đưa quân lính của mình trở lại và tạo ra một mạng lưới gồm sáu mươi công sự, được bao quanh bởi hàng rào và được kết nối bằng các chiến hào liên lạc. Nhưng Suffolk đã để lại một khoảng trống rộng trong các tuyến phòng thủ ở phía đông bắc, qua đó quân Pháp có thể nhận được nguồn tiếp tế. Ông cũng đã bỏ qua việc ngăn chặn giao thông đường sông, và do đó, lực lượng Pháp và nguồn cung cấp có thể di chuyển vào Orléans bằng thuyền gần như tùy ý.
Kết quả là, những người bảo vệ thành phố, được ăn uống đầy đủ và không cảm thấy cần phải tấn công hay trốn thoát, chỉ đơn giản là chờ thời. Và người Anh cũng làm như vậy. Vào Ngày Giáng sinh, một lệnh ngừng bắn được ban hành từ 9 giờ sáng đến 3 giờ chiều, và các nhạc công người Pháp đã đi ra cổng thành Orléans để chơi nhạc cho quân Anh nghe
Sau khi đến nơi, Jeanne, nghỉ ngơi một đêm và cầu nguyện tại nhà thờ, đã cố gắng thuyết phục chỉ huy đồn trú, Bá tước de Dunois, hay còn gọi là Con Hoang của Orléans, rằng ông nên ra xông ra ngoài thành để tấn công quân Anh. Dunois, vẫn còn ngờ vực người phụ nữ trẻ kỳ lạ và lôi cuốn này, đã từ chối, và thay vào đó, lên đường tìm kiếm quân tiếp viện. Sau khi ông rời đi, Jeanne – cố gắng nâng cao tinh thần của quân đồn trú Pháp – đã cưỡi ngựa ra ngoài thành trong phạm vi có thể nghe thấy tiếng hét của quân Anh. Cô vô cùng tức giận vì trước đó cô đã gửi cho người Anh một bức thư do sứ giả của cô, Guyenne, mang đi, nhưng quân Anh đã bắt làm tù binh, vi phạm quy tắc ứng xử của hiệp sĩ, và giờ đang đe dọa sẽ thiêu sống anh trên giàn hỏa, với lý do anh ta là người quen của “phù thủy”, Jeanne.

MỘT HÌNH MINH HỌA CỦA NGƯỜI PHÁP THẾ KỶ 15 VỀ CUỘC BAO VÂY ORLEANS. VIỆC PHÁP PHÒNG THỦ THÀNH CÔNG ĐÃ MANG LẠI CHO THÀNH PHỐ CÚ HÍCH MẠNH MẼ VỀ QUÂN SỰ VÀ TÂM LÝ.
Khi Jeanne hét lên bảo quân Anh đầu hàng, họ chỉ cười nhạo cô, gọi cô là “cô gái chăn bò” (mặc dù Jeanne chăn cừu chứ không phải bò) và gọi binh lính Pháp đi cùng cô là “bọn ma cô”. Họ đe dọa sẽ thiêu sống cô khi bắt được cô.
Khi Dunois trở về vào ngày 4 tháng 5 với quân tiếp viện, Joan “nhảy lên ngựa”, theo lời một hiệp sĩ có mặt đã nói, và phi nước đại để gặp ông ta bên ngoài thành. Cuối cùng họ có thể tấn công người Anh, cô thúc giục Dunois. Khi ông ta vẫn không chưa vội xuất thành tấn công quy mô lớn chống lại kẻ thù, Jeanne đã chán nản về phòng của mình để ngủ trưa, nhưng chỉ một lúc sau đã tỉnh dậy và nói với người phụ tá của mình, “Nhân danh Chúa, cố vấn của tôi đã bảo tôi ra ngoài thành chống lại bọn Anh.” “Cố vấn” của Jeanne chính là bộ ba vị thánh của cô, và khi họ nói chuyện với cô, không gì ngăn cản cô được. Cô mặc áo giáp và chạy ra khỏi thành Orléans.
Một lực lượng nhỏ của Pháp đang giao tranh với kẻ thù bên ngoài pháo đài Anh St. Loup; Jeanne xông vào hỗn chiến và hung hãn dẫn đầu một cuộc xung đột khiến pháo đài thất thủ. Nhưng giờ đây, lần đầu tiên, cô đối mặt với cảnh tượng thảm sát của chiến tranh. Kinh hoàng trước nỗi thống khổ của người chết và hấp hối – cả quân Pháp lẫn quân Anh – cô bật khóc, đau khổ vì những con người khốn khổ này chưa kịp xưng tội trước khi chết. Cô bế một lính Anh đã bị một thanh kiếm xuyên qua người và ôm y trong vòng tay cho đến khi y qua đời.
Một cuộc tấn công điên cuồng
Khi đọc câu chuyện về Jeanne ở Orléans, phần lớn dưới dạng lời khai tại phiên tòa xét xử tội dị giáo dẫn đến việc cô bị hành quyết trên cọc, người ta thấy ấn tượng bởi sự tương phản giữa năng lượng và lòng nhiệt thành của Jeanne với tính thận trọng quá đáng của những chỉ huy xung quanh cô.
Sau khi nghỉ ngơi vào Lễ Thăng Thiên, Jeanne đã thực hiện một nỗ lực khác để giải cứu Guyenne, viết một thông điệp cho người Anh, gắn nó vào tên rồi bắn vào trại của kẻ thù. Nội dung thông điệp có đoạn, “Các ngươi, bọn người Anh, những kẻ không có quyền trong Vương quốc Pháp này, Đức Vua của Thiên đường ra lệnh và chỉ huy các người, thông qua Jeanne Trinh nữ, rằng các ngươi hãy rời khỏi pháo đài và trở về đất nước của mình… Các ngươi đã giữ sứ giả của ta tên là Guyenne. Hãy tử tế gửi anh ta trở về.”
Binh lính Anh đáp trả bằng cách hét lên rằng Jeanne là một con điếm. Khi nghe điều này, cô bật khóc, như cô từng khóc trong nhiều lần bị xúc phạm. Nhưng ngày hôm sau, cô dậy sớm, xưng tội và đưa dân quân của mình ra khỏi thành phố để tấn công một pháo đài khác, St.-Jean-le-Blanc, nơi che chắn các lối vào Les Tourelles. Quân Anh bị đánh bất ngờ nên bỏ pháo đài ngay lập tức, chạy đến một pháo đài vững chắc và lớn hơn nhiều, một tu viện có tên là Les Augustins. Trong cơn điên cuồng hiếu chiến, với Jeanne vừa hét lên với Chúa vừa khóc, dân quân Pháp chạy đuổi theo và cũng chiếm được Les Augustins, xé nát các lá cờ của quân Anh và thay thế chúng bằng cờ Pháp. Một tiếng reo hò lớn vang lên từ thành trì Orléans khi quân Anh rút lui về Les Tourelles, cứ điểm mạnh của họ trên cây cầu.
Một hoạt cảnh đầy cảm hứng
Ngày hôm sau, ngày 7 tháng 5, vào khoảng 8 giờ sáng, Jeanne đã chỉ huy một lực lượng tấn công trực diện vào các tòa tháp kiên cố của Les Tourelles. Đây có lẽ là hành động dũng cảm nhất của cô. Tối hôm trước, cô đã tiên đoán với cha nghe xưng tội rằng mình sẽ bị thương trong cuộc tấn công – “ngày mai máu sẽ chảy ra khỏi cơ thể con phía trên ngực”, cô nói – nhưng mặc dù thực sự là cô rất sợ hãi, cô vẫn lên ngựa và dẫn đầu dân quân trong cuộc tấn công đầu tiên. Cô sớm bị tên bắn trúng ngay dưới vai, như cô đã tiên đoán, và các cung thủ Anh trên tường thành cười to và hét lên những lời nguyền rủa khi cô được khiêng ra khỏi chiến trường. Một vài người đưa cho cô những lá bùa hộ mệnh ma thuật để bảo vệ cô, nhưng cô tức giận đẩy chúng ra và trị vết thương của mình – vốn không sâu – bằng mỡ lợn và dầu ô liu. Áo giáp của cô bẩn thỉu và tóc cô rối bù, sau đó cô đã xưng tội với linh mục trong trạng thái vô cùng xúc động trước khi nghỉ ngơi.
Những cuộc tấn công liên tiếp của quân Pháp không thể đánh bật quân Anh, và Con Hoang của Orléans quyết định hủy bỏ cuộc tấn công trong ngày. Khi Joan nghe thấy điều này, cô không buồn nghe lệnh ông ta và chuẩn bị quay lại chiến đấu.
Bây giờ đã xảy ra một trong những khoảnh khắc phi thường nhất trong lịch sử nước Pháp. Người cầm cờ của Jeanne, kiệt sức sau một ngày chiến đấu, đã trao lá cờ của Jeanne cho một người lính mà lịch sử chỉ biết đến với cái tên Basque. Basque và một hiệp sĩ Pháp dũng cảm khác đã đến chân cầu bắc qua sông Loire, gần chân tháp Les Tourelles, và tìm thấy một chiếc thang gỗ mà họ có thể trèo lên đường đi của cây cầu. Khi họ bắt đầu leo lên, Jeanne đến và đòi lại lá cờ của mình, cô hét lên, “Cờ của tôi! Cờ của tôi!” Nhưng thay vì trao cho cô, Basque lại giơ nó lên cao hơn.
Những người lính Pháp nhìn thấy cảnh tượng này – Jeanne vói tay lấy lá cờ mà Basque giơ nó lên không trung – liền đồng thanh hét lên và chạy ào về phía cây cầu với những chiếc thang công thành của họ. Jeanne leo lên chiếc thang đầu tiên được đặt ở đó. Mặc dù Les Tourelles bắn ra rất ác liệt, quân Pháp vẫn tràn đến lòng đường và tấn công lính Anh ở đó, với tiếng hét của Jeanne, “Classidas, Classidas [viên chỉ huy người Anh] hãy đầu hàng, hãy đầu hàng Vua của Thiên đường, ngươi dám gọi ta là ‘gái điếm’ ư.”
Classidas, trong quân phục và vũ khí đầy đủ, đã rơi xuống sông và chết đuối trong sự hỗn loạn của cuộc tấn công. Hàng trăm lính Anh khác cũng đã chết dưới tay kẻ thù hoặc dưới sông, trước khi người Pháp, do Trinh nữ chỉ huy, cuối cùng đã giành chiến thắng.
Cuộc bao vây Orléans đã bị phá vỡ. Ngày hôm sau, quân Anh đốt cháy hàng rào cọc và rút lui. Và người Pháp, theo hiệp sĩ người Pháp Jean d’Aulon, vốn đã có mặt ở đó và sau này ra làm chứng tại phiên tòa xét xử Jeanne, “hết sức vui mừng, dành những lời khen ngợi tuyệt vời cho lực lượng bảo vệ dũng cảm của họ và trên hết là cho Jeanne Trinh nữ.”
EDWARD WOODSTOCK: HOÀNG TỬ ĐEN CHIẾN ĐẤU NHƯ MỘT CON SƯ TỬ
Edward xứ Woodstock, Hoàng tử xứ Wales, là một trong những nhân vật đầy màu sắc nhất trong một thế kỷ gồm các ông và phụ nữ đầy màu sắc. Ông cũng được xếp hạng ngang hàng với Vua Henry V là anh hùng chiến binh vĩ đại nhất của Anh trong Chiến tranh Trăm năm. Sinh năm 1330, Edward mới 7 tuổi khi cha ông, Edward III, lần đầu tiên tham gia trận chiến với Pháp vào năm 1337. Khi Edward trẻ chỉ mới 16 tuổi, ông đã tham gia trận chiến Crécy, nơi ông đã chứng tỏ mình là một chiến binh đáng sợ. Chiến đấu giữa trận chiến, ông đã bị đánh ngã xuống đất, nhưng được một nhà quý tộc trong đoàn tùy tùng của mình bảo vệ, ông đã cố gắng đứng dậy và chống lại các cuộc tấn công của Pháp. Khi cha ông cử một nhóm hiệp sĩ đến giải cứu con trai mình, họ thấy Edward và người bạn đồng hành của ông đang đứng hiên ngang giữa một đống xác chết của quân Pháp.
Mặc dù Edward không có biệt danh quyến rũ là Hoàng tử Đen cho đến vài trăm năm sau khi ông qua đời (biệt danh bắt nguồn từ màu áo giáp ngực được cha ông tặng cho sau hành động anh hùng của ông tại Crécy), ông là một nhân vật nổi tiếng và được yêu thích ở Anh trong suốt cuộc đời mình. Ông đã thể hiện sự kết hợp giữa tinh thần hiệp sĩ khi bắt giữ Vua Pháp John II tại Poitiers – ông đã quỳ xuống phục vụ bữa tối cho nhà vua – và sự vô cảm, thể hiện qua các cuộc tấn công dữ dội mà ông cho phép vào thường dân Pháp trong các cuộc đột kích của Anh vào vùng nông thôn. Nhưng khi Edward III già đi, ông đã trở thành một chỉ huy cấp cao của lực lượng Anh. Cũng như chiến thắng đáng chú ý của mình trước tỷ lệ cược tại Poitiers, ông đã chinh phục một đội quân gồm các cựu chiến binh Pháp trong trận Nájera ở miền bắc Tây Ban Nha vào năm 1367, nơi người Pháp và người Anh đã chiến đấu để ủng hộ hai bên đối thủ cùng yêu vương miện Castile.
Tuy nhiên, Hoàng tử Đen – như thường xảy ra với các chỉ huy quân sự – là một nhà quản trị kém cỏi hơn nhiều so với một nhà lãnh đạo chiến trường, và chính việc đánh thuế khắc nghiệt của ông đối với tỉnh Aquitaine đã khiến người dân nơi đây liên kết với Charles V.
Bị bệnh, Hoàng tử Đen qua đời năm 1376, một năm trước khi cha ông qua đời, trở thành Hoàng tử xứ Wales đầu tiên và cho đến nay cũng là cuối cùng không cai trị với tư cách là vua.

ANH VÀ PHÁP ĐƯỢC THỂ HIỆN VÀO NĂM 1453 Ở CUỐI CHIẾN TRANH TRĂM NĂM.
CÂY CUNG DÀI – SÚNG MÁY CỦA CHIẾN TRANH TRĂM NĂM
Cung dài đã cách mạng hóa chiến thuật quân sự trong Chiến tranh Trăm năm. Một sáng kiến của xứ Wales, người Anh đã áp dụng nó trong thế kỷ thứ 12 và ngay lập tức trở nên thành thạo trong việc sử dụng nó. Tiềm năng của nó – nó có thể bắn một mũi tên xuyên qua cánh cửa nhà thờ dày – trở nên rõ ràng đến mức trong thời kỳ trị vì của Edward 1 (1272-1307), mỗi ngôi làng ở Anh được lệnh đóng góp nam giới vào nhóm cung thủ quốc gia. Nông dân luyện tập trên bãi cỏ xanh của làng vào sáng Chủ Nhật. Vào thời điểm Edward III dẫn đầu quân Anh vào trận chiến chống lại quân Pháp, mỗi lực lượng Anh thường mang theo khoảng 500 xạ thủ cung dài.
Cung dài được làm bằng gỗ thủy tùng cứng cáp và dẻo dai, có chiều cao từ khoảng năm feet rưỡi đến sáu feet rưỡi (170-190 cm), tùy thuộc vào chiều cao của cung thủ. Phải cần đến một lực 100 pound (45 kg) mới có thể giương cung; nó có thể giết chính xác ở khoảng cách 150 yard (137 m) và xuyên thủng áo giáp ở khoảng cách 60 yard (55 m). Mỗi cung thủ mang theo một ống đựng tên chứa hai tá mũi tên, và xe ngựa theo sau vào trận chiến mang theo nhiều tên hơn nữa. Một cung thủ có thể bắn một tá mũi tên trong vòng hai phút; 500 mũi tên có thể làm bầu trời đen như đêm với đám mây tên chết người.
Cung dài đã thay đổi chiến thuật quân sự theo cách tương tự như súng máy đã thay đổi chiến thuật trong những thế kỷ sau: bằng cách phá vỡ các đợt xung phong của kẻ thù ở khoảng cách xa. Tại Crécy, vào năm 1346, nơi quân đội Pháp dưới quyền Vua Philip đông hơn quân Anh gấp ba lần, những cung thủ Anh đã bắn tên như mưa xuống những hiệp sĩ Pháp, đặc biệt nhắm vào những con ngựa, khiến chúng ngã đè lên nhau như “một đàn lợn con”. Agincourt, vào năm 1415, cũng là một câu chuyện tương tự: một đội quân Anh ít người hơn, trên lãnh thổ Pháp, đã bắn một cơn mưa tên vào các đội hình của Pháp, giết chết ngựa, khiến binh sĩ phát điên, và cuối cùng buộc họ phải xung phong trước khi đã sẵn sàng.
Sự ra đời của đại bác vào cuối cuộc xung đột đã khiến cung dài trở nên lỗi thời, nhưng sức mạnh của chúng như một vũ khí giành chiến thắng trong Chiến tranh Trăm năm không thể coi là được đánh giá quá đáng.
JEANNE D’ARC – NGƯỜI BÍ ẨN ĐÃ CỨU CẢ MỘT DÂN TỘC
Cho đến ngày nay, người ta vẫn chưa hiểu rõ làm thế nào mà Jeanne d’Arc, một cô gái chăn cừu mù chữ, lại có thể xoay chuyển được cục diện cuộc chiến hỗn loạn và đẫm máu chống lại người Anh và giúp Thái tử Charles lên ngôi và thống nhất nước Pháp.
Jeanne (Jeanne d’Arc) sinh vào tháng 1 năm 1412, con của Jacques d’Arc và Isabelle Romée, tại Domrémy, trên Sông Meuse, ở phía đông Champagne. Vào khoảng 13 tuổi, cô bắt đầu nghe thấy tiếng nói từ thiên đường, đặc biệt là tiếng nói của ba vị thánh: Thánh Michael, Thánh Catherine và Thánh Margaret. Không ai biết liệu đây có phải là biểu hiện của bệnh tâm thần hay là một trải nghiệm tôn giáo thực sự, nhưng cuối cùng những tiếng nói đó đã chỉ thị cho Jeanne cứu đất nước cô khỏi tay người Anh.
Năm 1428, Jeanne đã thực hiện một chuyến đi phi thường đến triều đình của thái tử, nơi cô bằng cách nào đó đã thuyết phục Charles rằng Chúa đã ra lệnh cho cô dẫn đầu một lực lượng cứu viện chống lại quân đội Anh khi đó đang bao vây Orléans và để Charles lên ngôi vua tại Reims. Charles, người mê tín và biết chút ít về chiêm tinh học, dường như nghĩ rằng cô là một phù thủy. Khi Jeanne đến gặp ông, ông đã ăn mặc như một thường dân và ẩn mình giữa các cố vấn của mình, nhưng Jeanne đã nhận ra ông ngay lập tức, và nói rằng, “Ngài Thái tử rất cao quý, tôi đã đến và tôi được Chúa phái đến để mang sự cứu giúp đến cho ngài và vương quốc của ngài.” Sự điềm tĩnh trong cách cô nói dường như đã gây ấn tượng và sợ hãi cho Charles. Sau khi được các nhà thần học thẩm vấn, họ đã quyết định rằng bất kể cô là ai thì cô cũng không phải là một phù thủy, và Charles đã cho phép cô dẫn quân của mình đến Orléans.
Sau khi phá vỡ vòng vây, Jeanne tiếp tục chiến dịch chống lại người Anh, làm họ tức giận với những lá thư cô gửi (“Tôi được Chúa, Vua của Thiên đường, phái đến để đuổi các người ra khỏi toàn bộ nước Pháp”) và với ảnh hưởng mạnh mẽ mà cô đã gây ra cho binh lính Pháp. Tuy nhiên, vào tháng 5 năm 1430, cô bị bắt tại Compiègne và bị đưa ra xét xử. Bị kết tội vì là kẻ dị giáo và vì tội mặc quần áo nam giới (“một thứ không đẹp lòng và ghê tởm đối với Chúa”), cô đã bị thiêu sống tại cọc ở chợ Rouen vào năm 1431. Tuy nhiên, đối với nhiều thế hệ người Pháp, cô vẫn là biểu tượng của một nước Pháp trong sạch và thống nhất, và vào năm 1920, cô đã được Giáo hội Công giáo tuyên bố là một vị thánh.
11 CUỘC CHINH PHỤC MEXICO CỦA NGƯỜI TÂY BAN NHA 1519-21
CUỘC XÂM LƯỢC HỦY DIỆT VĂN HÓA MEXICA CỔ ĐẠI (AZTEC), LÀM GIÀU CHO TÂY BAN NHA VÀ MỞ CỬA TRUNG VÀ NAM MỸ CHO CHÂU ÂU THỐNG TRỊ
TỔNG QUAN: HAI NỀN VĂN HÓA VA CHẠM VÀ TÂY BAN NHA PHÁ HỦY MỘT ĐẾ CHẾ TÂN THẾ GIỚI HÙNG MẠNH
Cuộc chinh phục Mexico là cuộc đụng độ giữa hai đế chế hào nhoáng. Tây Ban Nha, sau khi củng cố hầu hết Bán đảo Iberia sau thời kỳ Reconquista (xem Bài 4) và chuyến đi đến Châu Mỹ năm 1492 của Columbus, đã liên tục siết chặt quyền kiểm soát của mình đối với Tân Thế giới. Vào khoảng năm 1510, họ đã giành được quyền kiểm soát Cuba, Hispaniola, Puerto Rico và các đảo Caribe khác và chuẩn bị di chuyển về phía tây, hướng về phía mặt trời và về nơi có tin đồn về vàng. Ở đó, họ đã chạm trán với đế chế Mexica, những người vừa mới hoàn thành các cuộc chinh phục lãnh thổ của riêng họ.
Người Mexica (phát âm là Me-shee-ca) theo truyền thống là một dân tộc du mục, nhưng sau sự sụp đổ của nền văn minh Toltec vào đầu thế kỷ thứ 13, do hạn hán và mất mùa trên diện rộng, người Mexica đã di chuyển về phía nam từ quê hương của họ ở phía bắc Mexico ngày nay vào Thung lũng Mexico. Ở đó, họ đã chiến đấu với các bộ lạc khác để giành quyền kiểm soát khu vực này và vào năm 1428, do Vua Iztcóatl lãnh đạo, lúc này được coi là người sáng lập ra Đế chế Mexica, đã chinh phục một cách tàn nhẫn một lãnh thổ trải dài từ Vịnh Mexico đến Thái Bình Dương và bao phủ 80.000 dặm vuông (200.000 km vuông). Vào thời điểm người Tây Ban Nha đến, lãnh thổ này bao gồm một liên bang lỏng lẻo gồm khoảng 50 tiểu bang nhỏ, có 8 triệu người sinh sống, cũng như một thủ đô tráng lệ tại Tenochtitlán, nơi các thương gia đến buôn bán vải tốt, vàng bạc, đồ trang trí, gỗ và các công cụ bằng đá vỏ chai.
Một trong những người có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển sau này của nền văn hóa Mexica là cháu trai của Iztcóatl và cố vấn hoàng gia Tlacaelel. Ngoài cải cách quân đội và hệ thống tư pháp, ông đã định hình lại tôn giáo Mexica. Đặc biệt, ông nhấn mạnh rất nhiều vào nhu cầu cung cấp máu người cho vị thần chiến binh Huitzilopochtli, dẫn đến việc hiến tế người trở thành một đặc điểm riêng biệt của nền văn minh Mexica.
Vào đầu năm 1519, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Hernán Cortés dẫn đầu một đoàn thám hiểm gồm 11 tàu từ Cuba đến Bán đảo Yucatán. Cortés vẫn căng buồm mặc dù đã nhận được lệnh từ thống đốc Cuba, Diego Velázquez, phải nhường lại quyền lãnh đạo đoàn viễn chinh. Trước đó, những nhà thám hiểm Tây Ban Nha khác đã đổ bộ vào Yucatán và các điểm dọc theo bờ biển Mexico và đã báo cáo lại những tin đồn về một nền văn minh Tenochtitlán giàu có, mặc dù không ai nhìn thấy. Đi thuyền về phía tây qua Vịnh Mexico, Cortés đã đổ bộ lên bờ biển phía đông vào tháng 4 và thành lập khu định cư Veracruz. Sau đó, ông hướng đến thủ đô Tenochtitlán của Mexica trên Hồ Texcoco. Trên đường đi, ông đã đánh bại một số đối thủ lớn của Mexica, đáng chú ý là phe Tlaxcala, nhóm này đã trở thành đồng minh quan trọng nhất của Cortés. Lực lượng Tây Ban Nha tiến vào Tenochtitlán vào ngày 8 tháng 11. Chỉ trong vòng một tuần, Cortés, bằng sự xảo quyệt và vũ khí tối tân, đã đánh bại một nền văn hóa cổ xưa thụ động và mê tín, bắt giữ nhà cai trị người Mexica là Montezuma và nắm quyền điều hành đất nước.
Vào mùa xuân năm 1520, Thống đốc Velázquez của Cuba đã cử một lực lượng lớn dưới quyền Pánfilo de Narváez để bắt giữ Cortés vì không tuân theo lệnh của ông. Cortés, để lại Tenochtitlán dưới quyền kiểm soát của trung úy Pedro de Alvarado, hành quân về phía đông để đối đầu và đánh bại Narváez,. Tại Tenochtitlán, khi rắc rối bùng phát tại một lễ hội địa phương, Alvarado đã chỉ đạo một cuộc thảm sát hàng ngàn người Mexica, gây ra một cuộc nổi dậy rộng khắp. Khi Cortés trở về, Tenochtitlán đang trong tình trạng hỗn loạn, và ông cùng những binh lính của mình bị người Mexica dồn vào chân tường. Trong trận chiến để thoát ra giữa một cơny mưa lớn, Cortés đã mất 800 conquistador (người chinh phục) và hàng ngàn đồng minh da đỏ, và Montezuma đã bị giết, có thể bị chính người dân của mình ném đá đến chết hoặc bị người Tây Ban Nha hạ sát.

CUỘC THẢM SÁT CHIẾN BINH MEXICA BỞI BỌN CHINH PHỤC TÂY BAN NHA, 1521.
Tuy nhiên, vào đầu năm 1521, Cortés đã trở lại Tenochtitlán cùng hàng ngàn đồng minh da đỏ của mình. Trước tiên, cắt đứt nguồn cung cấp cho thành phố, nơi đã phải hứng chịu một trận dịch đậu mùa tàn khốc, Cortés sau đó tấn công, sử dụng những chiếc thuyền buồm nhỏ mà ông đã đặc biệt chế tạo. Sau một trận chiến kéo dài ba tháng, cuối cùng ông đã chiếm lại được thành phố và đế chế của người Mexica.
Mặc dù ước tính có sự khác biệt rất lớn, người ta cho rằng dân số Mexico sau đó đã giảm từ 8 triệu người vào năm 1518 xuống mức thấp nhất là 2,6 triệu người vào năm 1560.

CUỘC CHINH PHỤC MEXICO CỦA NGƯỜI TÂY BAN NHA VÀO ĐẦU THẾ KỶ 1500 ĐƯỢC HIỂN THỊ TRÊN BẢN ĐỒ, VỚI ĐƯỜNG MÀU ĐỎ MÔ TẢ MỘT PHẦN CỦA TUYẾN ĐƯỜNG HERNAN CORTES VƯỢT QUA VÙNG NÚI ĐẾN TENOCHTITLAN,
MỘT NHÓM NHỎ NHỮNG CON NGƯỜI GAN DẠ CHINH PHỤC MỘT THÀNH PHỐ TRUYỀN THUYẾT
Sự sụp đổ của Tenochtitlán, 1521
Lúc đầu, mọi thứ diễn ra theo ý Hernán Cortés. Nước cờ táo bạo của ông – mang theo 500 người, cộng thêm vài ngàn đồng minh da đỏ, và tấn công Tenochtitlán, trái tim của Đế chế Mexica hùng mạnh – đã được đền đáp. Ông dễ dàng bắt được thủ lĩnh cai trị Mexica là Montezuma II, và ban hành sắc lệnh cấm hiến tế người, trục xuất các thầy tế Mexica và dựng tượng các vị thánh Cơ đốc giáo trong các đền thờ của Tenochtitlán. Montezuma thậm chí đã dâng số lượng lớn vòng tay và vòng cổ được chế tác tinh xảo để cố gắng mua lại sự tự do của mình – mà ông, Cortés, đã ngay lập tức nấu chảy thành vàng thỏi, giữ lại những món đẹp nhất cho vua của mình, Charles V của Tây Ban Nha. Sau đó, ông đã chiến thắng đối thủ cũ của mình, Velázquez, không chỉ đánh bại lực lượng do Narváez cử đến để bắt giữ ông, mà còn thuyết phục được binh lính của lực lượng này tham gia cùng ông.
Nhưng rồi mọi thứ bắt đầu trở nên tồi tệ khủng khiếp. Ông đã sai lầm khi để Alvarado phụ trách Tenochtitlán trong khi ông đối phó với Narváez. Trung úy nóng nảy của ông đã mất kiểm soát và khiến cả thành phố chống lại y, phá hỏng mọi kế hoạch chi ly của ông. Ông đã may mắn thoát chết khỏi đó, để mất hàng trăm người và tệ hơn nữa là đã mất Montezuma.
Bây giờ, vào tháng 8 năm 1520, nghỉ ngơi tại Tlaxcala, thủ đô của đồng minh Tlaxcala, ông đã đếm lại số thương vong của mình. Lực lượng của ông đã kiệt sức vì thử thách, hầu như không còn khả năng chiến đấu. Mặc dù vậy, ông biết mình phải tấn công lần nữa. Ông cần phải đưa ra một kế hoạch mới và sẽ sớm thôi.
Vào tháng 9, ông đã có một bước đột phá may mắn, mặc dù rùng rợn. Một trận dịch đậu mùa gần như chắc chắn do Narváez và người của hắn gây ra đã bùng phát ở Tenochtitlán. Hàng ngàn người đã chết “mình mẩy chúng tôi bị bao phủ bởi những vết loét đau đớn từ đầu đến chân”, một người Mexico sau này nhớ lại, bao gồm cả thủ lĩnh mới cai trị có 80 ngày, Cuitláhuac. Hoàng đế tiếp theo, Cuauhtémoc, được biết đến là một chiến binh dũng cảm. Nhưng với thành phố suy yếu và dân số bị tàn phá bởi bệnh tật, Cortés, bậc thầy cơ hội, đã nhìn thấy một cánh cửa khác mở ra trước mắt mình.
Vào tháng 12 năm 1520, Cortés tập hợp lực lượng nhỏ của mình và 20.000 đồng minh Tlaxcalan và tấn công thành phố Texcoco, trên bờ hồ ở phía đông bắc Tenochtitlán. Đồng minh của người Mexica này đã nhanh chóng bị khuất phục sau khi vua của thành phố này chạy trốn đến Tenochtitlán. Sau đó, Cortés sử dụng Texcoco làm căn cứ để tập hợp một hạm đội gồm những chiếc thuyền buồm nhỏ, hai cột buồm, được gọi là brigantine, vật liệu mà ông đã yêu cầu người Tlaxcalan vận chuyển từ các khu rừng ven biển.
Từ tháng 1 đến tháng 5, Cortés tiến quân quanh bờ Hồ Texcoco, chinh phục các thành phố trung thành với người Mexica và tăng cường lực lượng cho đội quân ngày càng lớn mạnh của mình. Nhiều người dân địa phương nghĩ rằng đây, cuối cùng, là cơ hội để lật đổ ách áp bức của người Mexica. Sau đó, Cortés ra lệnh cho quân của mình phá hủy đường ống dẫn nước chính dẫn nước ngọt đến Tenochtitlán. Kế hoạch của ông là đảm bảo rằng thành phố hoàn toàn bị cô lập trước khi tấn công. Và, mặc dù liên tục bị người Mexica tấn công bằng xuồng, ông đã sớm thành công.
Một cuộc tấn công đổ bộ
Vào cuối tháng 4 năm 1521, Cortés cuối cùng đã phát động cuộc tấn công. Dọc theo mỗi một trong ba con đường đắp cao chính nối Tenochtitlán với đất liền, ông đã phái một đội quân người da đỏ có số lượng từ 20.000 đến 25.000 người, do khoảng 200 người Tây Ban Nha chỉ huy. Trong khi đó, ông hạ thủy 13 chiếc thuyền buồm brigantine, mỗi chiếc chở 12 lính bắn nỏ, 12 lính bắn súng hỏa mai và một khẩu pháo. Trong khi chiến đấu với một đội thuyền chiến nhỏ, những con thuyền nhỏ này đã kìm chân lực lượng chính của người Mexica, ngăn không cho họ phản công dọc theo các con đường đắp cao; họ cũng bắt đầu pháo kích các bức tường phòng thủ mà người Mexica đã dựng xung quanh bờ biển thành phố của họ.
Cuộc chiến diễn ra dữ dội. Chiến binh Mexica không còn sợ súng của người Tây Ban Nha như trước nữa, và ít nhất đã học được cách đối phó với chúng, như Díaz đã ghi lại: “Khi người Aztec… phát hiện ra rằng đường đạn luôn bay theo đường thẳng, họ không còn chạy trốn theo đường đạn nữa. Họ ziczac sang trái rồi sang phải.”
Sau những cuộc tấn công ban đầu kéo dài đến tháng 5, giao tranh đường phố tay đôi diễn ra trong gần ba tháng ở Tenochtitlán. Cortés nhận ra từ sức kháng cự kiên cường của người Mexica rằng họ sẽ không bao giờ đầu hàng, vì vậy ông bắt đầu phá hủy thành phố, đốt cháy từng tòa nhà một, tiếng la hét của những con người bị mắc kẹt trong đám cháy vang vọng khắp thành phố. Đó là một tiến trình chậm chạp. Tiến từ nhà này sang nhà khác, quân Tây Ban Nha và đồng minh của họ mở đường qua Tenochtitlán, xuống tay tàn nhẫn với bất kỳ kẻ thù nào họ bắt được. Người Mexica chống trả dữ dội và đáp trả tương tự. Bất cứ khi nào họ bắt được lính Tây Ban Nha, họ sẽ buộc y phải leo lên các bậc thang của ngôi đền chính tại Tlatelolco – trước sự chứng kiến của lực lượng Tây Ban Nha – trước khi hiến tế y, moi tim y và ném y xuống các bậc thang của ngôi đền. Đó là một cảnh tượng kinh hoàng. Sau này, người Mexica kể với các tu sĩ Tây Ban Nha rằng “một số tù nhân [người Tây Ban Nha] đã khóc, một số thì kêu van thảm thiết, và số khác đập lòng bàn tay vào miệng mình”. Hai lần, người Mexica đã suýt bắt được mục tiêu chính của họ, Cortés.
Nhưng cuối cùng, bị áp đảo về số lượng và đói khát, người Mexica buộc phải rút lui. Họ đã thực hiện một cuộc kháng cự cuối cùng tại Tlatelolco, khu chợ của thành phố, nơi họ bị áp đảo. Khi đồng minh da đỏ kết liễu lực lượng Mexica, người Tây Ban Nha đã đốt cháy ngôi đền lớn. Những chiếc thuyền buồm lớn đã bắt được xuồng của Cuauhtémoc khi thủ lĩnh cai trị cố gắng chạy trốn. Ông ta đầu hàng Cortés, nói rằng, “Tôi không thể làm gì hơn nữa. Tôi đã bị bắt làm tù binh và bị đưa đến trước mặt ngài. Hãy lấy con dao găm đó ra khỏi thắt lưng và giết tôi ngay lập tức.” Sau đó, ông ta bắt đầu khóc. Cortés đã tha cho Cuauhtémoc trong giây lát, nhưng sau đó đã xử tử ông ta sau khi tra tấn ông ta để mọi ra vị trí các kho vàng.
Vào ngày 13 tháng 8 năm 1521 có khoảng 200.000 người Mexica đã chết ở Tenochtitlan. Mùi tử thi, Bernal Díaz viết, thật kinh khủng: “ngay cả Cortés cũng phát ốm vì mùi hôi thối trong lỗ mũi”.
Nhưng đó là mùi của sự chinh phục.
HERNÁN CORTÉS: MỘT CON NGƯỜI CHỈ BIẾT TÌM KIẾM CỦA CÁI QUYẾT TÂM VƯỢT QUA TẤT CẢ
Nhiều câu chuyện chứng thực cho sự kiêu ngạo của Hernán Cortés, nhưng có một câu chuyện đặc biệt tiết lộ. Khi Cortés đổ bộ xuống Veracruz vào tháng 4 năm 1519, hoàng đế Mexica, Montezuma, tin rằng người Tây Ban Nha chính là vị thần Quetzalcoatl râu trắng của họ đã trở về; ông ra lệnh cho các sứ giả mang theo những bộ trang phục hoàng gia phù hợp với vị khách mới đến, bao gồm một vương miện làm bằng da báo đốm và lông chim trĩ, hoa tai mặt dây chuyền bằng vàng, một chiếc áo choàng được trang trí bằng những chiếc chuông vàng nhỏ và một chiếc khiên vàng viền xà cừ. Được Cortés cho vào gặp, các sứ giả đã mặc những bộ quần áo này cho nhà lãnh đạo Tây Ban Nha. Và Cortés, người chỉ có thể có ý tưởng thô sơ nhất về vai trò Quetzalcoatl đối với người Mexica, đã nói, “Và đây là tất cả à? Đây là món quà chào đón của ngài ư? Đây có phải là cách các người chào đón mọi người không?” Sau đó, ông ra lệnh xích tay và chân các sứ giả lại, và ông bắn đại bác từ trên tàu, khiến các sứ giả sợ hãi đến ngất xỉu và phải dùng rượu để hồi sức.
Hernán Cortés biết giá trị của việc kiểm soát tình hình. Ông là người thống trị hành động thay vì chờ đợi các sự kiện xảy ra và về điểm này, ông là người hoàn toàn trái ngược với Montezuma. Nhưng ông cũng là nhân vật mà nhiều người đương thời ghê tởm, căm ghét và ngờ vực.
Cortés sinh năm 1485, tại Medellín ở phía tây nam Tây Ban Nha, và học luật một thời gian ngắn trước khi đi thuyền đến Tân Thế giới để tìm vận may. Năm 1511, ông tham gia đoàn thám hiểm của Diego Velázquez để chinh phục Cuba, và sau đó kết hôn với em vợ của Veláquez. Khi nghe về kho báu phong phú của Mexica, ông quyết định đến Mexico và không gì có thể ngăn cản ông, ngay cả lệnh của Velázquez thu hồi giấy phép cho Cortés ra khơi.
Khi đến Veracruz, Cortés đốt cháy tàu của mình trên bờ để xóa bỏ khỏi tâm trí mọi ý nghĩ rút lui của mình và của những binh lính. Sau đó, ông băng qua một dãy núi hiểm trở và chuẩn bị tiến vào một thành phố nơi ông bị áp đảo về số lượng bởi hàng trăm ngàn người. Trên đường đi, ông đã thể hiện sự xảo quyệt và sức thuyết phục mạnh mẽ, dụ dỗ người Tlaxcala bị đánh bại và một số bộ lạc khác trở thành đồng minh của mình. Và ông đã nhận thức được sự yếu đuối của người Mexica, nhận ra ngay rằng Montezuma là một kẻ nhu nhược và thiếu lý trí.
Sau chiến thắng vĩ đại vào tháng 8 năm 1521, Cortés đã chở vô số của cải trong kho báu của người Mexica về Tây Ban Nha, tuyên bố rằng mọi nỗ lực của ông đều là vì Vua Charles V. Nhà vua sau đó đã tha thứ cho tội bất tuân trước đây của ông đối với Velázquez và thưởng cho ông hậu hĩnh, mặc dù sau đó Cortés đã làm mất lòng vua Tây Ban Nha. Cortés ở lại Mexico cho đến năm 1528, sau đó ông trở về Tây Ban Nha để lo liệu công việc nhà, rồi cuối cùng quay trở lại Mexico, nơi ông sống trong một điền trang mênh mông từ năm 1530 đến năm 1541. Trở về Tây Ban Nha, ông đã chiến đấu chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ ở Algiers, sau đó chết vì bệnh kiết lỵ tại quê nhà vào năm 1547.
MONTEZUMA II: LÃNH TỤ CUỐI CÙNG CỦA MEXICA, BỊ HẠ BỆ BỞI SỰ MÊ TÍN
Người cai trị Mexica Montezuma là một trong những nhân vật bi thảm nhất trong lịch sử ban đầu của châu Mỹ. Đứng đầu một đế chế hùng mạnh và tinh tế, ông sở hữu quyền lực to lớn nhưng lại bất lực bởi nỗi sợ hãi và mê tín.

MONTEZUMA BỊ NGƯỜI TÂY BAN NHA BẮT GIỮ, CẦU XIN NGƯỜI AZTEC CỦA MÌNH HÃY ĐẦU HÀNG (TRANH CỦA TÂY BAN NHA THẾ KỶ XVI)
Sinh vào khoảng năm 1466, Montezuma được phong làm thủ lĩnh của Mexica vào năm 1502, 60 năm sau khi ông cố của ông được phong chức. Dân ông kính sợ ông – nhiều năm sau, người Mexica không thể mô tả ngoại hình của ông với các tu sĩ Tây Ban Nha, bởi vì bất kỳ thường dân nào dám nhìn ông đều bị xử tử. Ông mặc những bộ quần áo đẹp nhất có thể, sống trong một cung điện có hàng trăm phòng, và theo Bernal Díaz, “các đầu bếp của ông đã chuẩn bị 30 món cho mỗi bữa ăn.” Nếu bất kỳ ai – từ một quý tộc đến dân thường – phạm phải bất kỳ hành động xúc phạm nào, một tu sĩ Tây Ban Nha vào đầu thế kỷ 15 đã viết, “ông sẽ ra lệnh đâm chết y bằng tên hoặc thiêu sống y.”
Về điểm này, Montezuma không khác gì bất kỳ nhà cai trị Mexica nào trước đó. Nhưng ông cũng là một người có tính trầm ngâm, được cho là uyên bác, và tin tưởng mù quáng vào các lời tiên tri. Đặc biệt, ông tin vào lời tiên tri báo trước sự trở lại Trái đất của thần Quetzalcoatl vào năm I Reed, tức là năm 1519. Khi Montezuma nghe tin Cortés đã đổ bộ, theo các nguồn tin của Mexica, ông ta “đưa tay lên miệng” và nhìn chằm chằm vào khoảng không: “Như thể ông ấy bị nỗi tuyệt vọng chế ngự”. Sau đó, khi Cortés tiến lại gần hơn, Montezuma đã tìm cách hối lộ để ông ta tránh xa, thay vì nhanh chóng tấn công kẻ xâm lược. Nhưng làm sao người ta có thể tấn công một vị thần?
Montezuma chào đón Cortés như ông ta là thần Quetzalcoatl, nhưng sau khi Cortés bắt giữ ông, giam cầm ông và biến ông thành một người cai trị bù nhìn, ông biết mình đã mù quáng quá mức. Montezuma chết vào tháng 6 năm 1520 trong cơn hỗn loạn khi Cortés nỗ lực trốn thoát khỏi Tenochtitlán, có thể là do chính dân chúng của ông, những người cảm thấy ông đã phản bội họ, và được cho là đã ném đá và phóng giáo mác vào ông khi ông xuất hiện trên ban công; tuy nhiên, các nguồn khác nói rằng chính người Tây Ban Nha đã giết ông. Bất kể sự thật là gì, Montezuma, một con người bị kìm kẹp bởi một lời tiên tri độc hại, đã từ lâu mất quyền kiểm soát số phận của mình.

CORTES VÀ MONTEZUMA (TRANH CỦA GALLO GALLINA)
HIẾN TẾ NGƯỜI ĐẪM MÁU LÀ CHUYỆN THƯỜNG NGÀY
Huyền thoại sáng thế của người Mexica, được cố vấn hoàng gia Tlacaelel sửa đổi, đã báo trước rằng cuối cùng mặt trời sẽ tối đi – “sẽ có nạn đói / Và tất cả chúng ta sẽ diệt vong”, như một bài thơ Nahuatl đã nói. Để ngăn chặn điều này càng lâu càng tốt, Tlacaelel tuyên bố, mặt trời cần chalchihuatl, hay năng lượng sống, chỉ có thể được cung cấp bằng cách đổ máu để dâng lên vị thần chiến tranh đáng sợ Huitzilopochtli, người sẽ mang nó đến mặt trời.
Vì vậy, vào lúc rạng sáng mỗi ngày, một tù nhân – thường bị chuốc thuốc gây ảo giác – được dẫn lên các bậc thang của một trong những ngôi đền chính của Tenochtitlán. Bốn thầy tế cấp thấp giữ chặt tay chân y nằm trên một khối đá, trong khi vị trưởng tế của ngôi đền rạch lấy tim nạn nhân bằng lưỡi dao đá lửa hoặc đá vỏ chai. Sau đó, trái tim còn đập sẽ được dâng lên mặt trời, trong khi vị trưởng tế tụng một lời cầu nguyện giải thích cách “quả xương rồng quý giá” này có thể xua đuổi bóng tối trong hai mươi bốn giờ nữa. Sau đó, trái tim được đốt theo nghi lễ, đầu nạn nhân bị chặt, thân mình bị ném cho chó ăn, và các chi được ăn theo nghi lễ, cùng với ngô và ớt. Máu của nạn nhân cũng được sử dụng như một loại chất lỏng thanh lọc, rắc xung quanh thành phố để xua đuổi tà ma.
Người Tây Ban Nha vô cùng tức giận với tập tục này và với khuôn viên kỳ dị của những ngôi đền này, nơi có các thầy tế mặc áo choàng đen, thường mặc da lột của nạn nhân và có mái tóc bết máu, và theo Bernal Díaz, “bốc mùi như chó chết”. Tất cả những điều này là một lý do nữa để biện minh cho hành động của bọn chinh phục Tây Ban Nha. Tuy nhiên, nhiều nhà sử học đã lưu ý rằng người châu Âu vào thời điểm này, mặc dù họ không tham gia vào việc hiến tế người, nhưng lại rất thoải mái trong việc sử dụng án tử hình để trừng phạt ngay cả những tội nhẹ, và những thi thể thối rữa trên giá treo cổ được phơi bày ở hầu hết mọi thủ đô châu Âu.

TÙ BINH CHIẾN TRANH ĐƯỢC HIẾN CHO THẦN MẶT TRỜI, TỪ MỘT BẢN SÁCH CỦA NGƯỜI AZTEC THẾ KỶ XVI.
NHÀ BIÊN NIÊN SỬ CỦA TÂN TÂY BAN NHA
Câu chuyện đương đại hấp dẫn và trực tiếp nhất về cuộc chinh phục Mexico đến từ một thành viên chinh phục đi cùng Cortés: Bernal Díaz del Castillo, tác giả của Lịch sử Đích thực về Cuộc Chinh phục Tân Tây Ban Nha.
Sinh năm 1492, năm Columbus khám phá ra châu Mỹ, Díaz, giống như nhiều người chinh phục khác đi cùng Cortés, xuất thân từ một gia đình không cho ông nhiều quyền thừa kế. Ông đến Cuba vào năm 1514 để kiếm tiền và tham gia một cuộc thám hiểm khám phá bờ biển Yucatán. Khi có cơ hội đi cùng Cortés để tìm ra đế chế Mexica huyền thoại, Díaz đã nắm bắt ngay cơ hội, với mục tiêu, như ông đã viết với sự thẳng thắn đặc trưng, là “phục vụ Chúa và Bệ hạ, mang ánh sáng đến cho những kẻ đang sống trong bóng tối [Mexica ngoại giáo], và trở nên giàu có, như tất cả mọi người đều mong muốn”.
Díaz đã chứng kiến hành động trong hơn một trăm trận chiến và giao tranh, và đã ở bên Cortés trong mọi bước đi. Những mô tả của ông về đội quân Mexica tràn ngập, những cuộc hiến tế người khủng khiếp, và cuộc bao vây và sụp đổ của Tenochtitlán mặc dù đôi khi dài dòng, nhưng nhìn chung được cho là chính xác, và ông viết với sự thích thú và phong cách của một người kể chuyện bẩm sinh.
Sau khi Mexico sụp đổ, Díaz nhận được tiền trợ cấp từ hoàng gia Tây Ban Nha và sống ở Guatemala, nơi ông làm việc như một viên chức thành phố. Ông không viết Lịch sử Đích thực của mình cho đến những năm 1550, khi một giáo sĩ của gia đình Cortés, người không tham gia chuyến thám hiểm đến Mexico, đã viết một hồi ký tôn vinh Cortés bằng cách hạ thấp những kẻ chinh phục khác. Cuốn sách của Díaz đã khắc phục điều đó: Cortés của ông, mặc dù chắc chắn có sức lôi cuốn, nhưng lại là một kẻ lãnh đạo không đáng tin cậy, thậm chí là gian xảo.
Díaz mất năm 1584, nhưng bản thảo của ông không được xuất bản cho đến năm 1632, đã được biên tập viên chỉnh sửa đáng kể. Thật ra, cuốn sách mà ông viết trong nguyên tác chỉ được ra mắt vào đầu thế kỷ 20.