
Hồ Bạch Thảo
Tháng 3 năm Nhâm Tuất, Cảnh Hưng thứ 3 [5/4-4/5/1742], (Thanh, năm Càn Long thứ 7); Chúa Trịnh Doanh tự tiến phong là Đại nguyên soái, tổng quốc chính, thượng sư, Minh vương. Doanh hăng hái lưu ý xét hỏi công việc, đặt cái ống bằng đồng ở cửa phủ, hạ lệnh cho người có việc hoặc bị oan ức làm đơn tố cáo bỏ vào trong ống, cứ 5 ngày người có trách nhiệm đem ống ấy tiến trình. Lúc ấy, sĩ phu, dân chúng bí mật trình bày việc tham lam nhũng nhiễu của quan lại; nhưng khi xét nghiệm ra, phần nhiều không đúng sự thật. Doanh dần dần sinh ra chán nản. Bãi bỏ cái ống đồng.
Tháng 10 [28/10-26/11/1742] Đặng Đình Mật đánh bại được Lê Duy Mật ở xã Thịnh Mỹ [huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa]. Trước kia, Hoàng thân Lê Duy Mật nhiều lần bị Đình Mật đánh bại, phải chạy đến Nghệ An, rồi chiếm cứ động Cổ Nam [huyện Quan Hóa, Thanh Hóa], sau lại ra huyện Lôi Dương [huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa], phá đồn Bái Thượng, định mưu qua đò Lương Giang để về An Trường. Đình Mật cùng bọn Hà Huân, Nguyễn Nghiễm [thân phụ Thi sĩ Nguyễn Du] tiến quân, giao tranh ở xã Thịnh Mĩ, đánh bại được Duy Mật; Duy Mật chạy đến châu Lang Chánh [huyện Lang Chánh, Thanh Hóa]. Sau này bàn thưởng công, Đình Mật được tăng làm Tham đốc, vẫn giữ chức Thống lãnh, toan tính việc đánh Duy Mật.
Tháng 12 [27/12/1472-25/1/1473], bắt đầu thu thêm tiền tô ruộng. Từ năm Bảo Thái [1720-1728] trở về trước, duy ruộng công phải chịu tô, còn ruộng tư không phải chịu. Đến lúc Nguyễn Công Hãng làm Tham tụng giữ chính quyền, mới bàn đánh thuế theo từng hạng ruộng, chia ra ba hạng: nhất đẳng, nhị đẳng và tam đẳng. Ruộng nhất đẳng, mỗi mẫu 3 tiền, ruộng nhị đẳng mỗi mẫu 2 tiền, ruộng tam đẳng mỗi mẫu 1 tiền. Đến nay vì việc chi dùng trong nước không đủ, bầy tôi trong phủ Chúa xin tạm thời bổ thêm “tiền gia tô”, mỗi mẫu đều nộp 30 đồng, thu vào hai mùa đông và hạ. Về sau, việc này bèn thành thể lệ nhất định.
Tỉnh Lạng Sơn sau mấy năm loạn lạc vì cuộc nỗi dậy của Vi Phúc Quan, dân chúng bị đói khổ, trốn sang vùng biên giới tỉnh Quảng Tây; viên Tuần phủ Quảng Tây Dương Tích Phật bèn đem sự việc tâu trình lên Vua Càn Long:
“Ngày 29 Ðinh Hợi tháng 5 năm Càn Long thứ 7 [ 1/7/1742]. Tuần phủ Quảng Tây Dương Tích Phật tâu:
‘Dân Di An Nam tại vùng Lạng Sơn sau khi trải qua sự phản nghịch của họ Vi, bị nạn đói nên trốn vào các châu Ninh Minh, Long Châu, Thổ Giang, Thổ Tư (1) tại nội địa để xin ăn. Hiện ra lệnh phân biệt phủ tuất, lượng cấp lương ăn rồi đưa về quê, cùng gửi văn thư cho quan Di tại Lạng Sơn để cấp tốc lo việc vỗ về yên ỗn.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Lo liệu khá ỗn thỏa, đã hiểu được việc làm.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 167, trang 26)
Nhân việc một số dân Lạng Sơn đói chạy trốn sang Trung Quốc, lại có một vài người tỉnh Quảng Tây tham gia cuộc nỗi dậy của Vi Phúc Quan; Vua Càn Long ra lệnh các tỉnh tra xét cấm đoán nghiêm mật tại các quan ải:
“Ngày 12 Kỷ Hợi tháng 6 năm Càn Long thứ 7 [13/7/1742]. Dụ các Quân cơ đại thần:
‘Căn cứ Ðề đốc Quảng Tây Ðàm Hành Nghĩa tâu trước đây, về việc người Giao là Vi Phúc Quan quấy nhiễu Lạng Sơn, có Nho sinh bị đuổi người huyện Sùng Thiện, Quảng Tây tên là Hiệp Trăn, người Quảng Ðông tên Chu Lão Lục trốn đến đất Di, dụ dỗ chỉ vẽ cho Phúc Quan, giúp đỡ việc phản nghịch; công việc bại bèn lén bỏ trốn, nhập cảnh nội địa thì bị bắt. Trẫm đã giáng chỉ mệnh các viên Tổng đốc, Tuần phủ ước lượng lo liệu.
Nay cứ theo Tuần phủ Dương Tích Phật tâu những lời như: ‘Dân đói tại An Nam đến các châu như Ninh Minh, mỗi nơi có đến 3,4 chục người; trừ người già yếu ốm đói tạm thời cấp lương ăn, đợi khi bệnh khỏi sẽ đưa ra khỏi quan ải; những kẻ còn đi được thì cấp cho ăn, tiền đi đường, rồi đưa trở về nguyên quán. Lại nghiêm cấm dân nội địa mua con cái của dân Di để kiếm lời.’
Việc Dương Tích Phật lo liệu tương đối ỗn thỏa. Nhưng các xứ Ðiền [Vân Nam], Việt [Lưỡng Quảng] giáp An Nam; toàn dựa vào các ải nghiêm cấm hạch hỏi, khiến bên này hoặc bên kia không có thể tự tiện ra vào, gây ra nhiễu loạn tạo thành chuyện. Nay bọn Hiệp Trăn lén đi ra làm điều gian, dân Di đói lại trốn vào nội địa, do các cửa ải không khỏi có mối tệ để cho người lén ra vào, thực trái với qui tắc phòng giữ tại biên cảnh. Các ngươi hãy gửi văn thư cho các Tổng đốc, Tuần phủ, lệnh phải hết sức trù tính, hội đồng bàn bạc rõ ràng, lập phép tắc chỉnh đốn, để từ nay trở về sau mọi việc đều ỗn thỏa, rồi tâu lên đầy đủ. Việc làm này khiến cho các quan ải tra xét cấm chỉ được nghiêm mật, để biên cương được yên tĩnh.” ( Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 168, trang 19-20)
Quyền Tổng đốc Lưỡng Quảng Khánh Phục hứa sẽ cho áp giải những người An Nam ra khỏi quan ải và tiến hành điều tra 2 tội phạm Hiệp Trăn và Chu Lão Lục, từng liên hệ với Vi Phúc Quan:
“Ngày 29 Ất Mão tháng 8 năm Càn Long thứ 7 [27/9/1742]. Quyền Tổng đốc Lưỡng Quảng Khánh Phục lại tâu:
‘Giao Chỉ đói kém, dân đói tìm vào nội địa, tốt xấu không phân biệt được. Ðã ra lệnh tra rõ từng trường hợp, kẻ bệnh đói tạm lưu để cấp tuất, những người khỏe thì cấp lương ăn, rồi áp giải ra khỏi quan ải; cùng nghiêm sức dân không được mua bán với họ. Lại thẩm tra người dân Hiệp Trăn từng qua lại liên lạc với Vi phúc Quan, được biết y chưa từng chủ mưu đa sự tại đất Di; và Chu Lão Lục cũng chưa từng dạy đấu quyền bổng; đợi đem án này liệu biện chung thẩm.’
Ðược chiếu chỉ:
‘Ðúng, đã hiểu rõ.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 173, trang 43)
Tại miền Nam vào năm này, Chúa Nguyễn cho đổi phủ Quy Ninh thành phủ Quy Nhơn; phủ Diên Ninh thành phủ Diên Khánh, tức tỉnh Khánh Hòa sau này.
Tháng 2 năm Quí Hợi, Cảnh Hưng thứ 4 [24/2-25/3/17431743], (Thanh, năm Càn Long thứ 8), bổ dụng Hoàng Ngũ Phúc giữ chức Đốc lãnh lính kỳ đạo. Ngũ Phúc người xã Phụng Công, huyện Yên Dũng [Bắc Ninh], do hoạn quan xuất thân, là người có mưu kế, lập được chiến công, là viên tướng nổi tiếng một thời.
Lạng Sơn giáp với Kinh Bắc [Bắc Ninh, Bắc Giang], núi non thung lũng hiểm trở, bấy giờ thổ phỉ Cần Dinh hô hào tụ tập đồ đảng trong hang núi, rồi bao vây Đoàn Thành [thành Lạng Sơn]. Đốc trấn Vũ Tá Vịnh Tá đem sự nguy cấp báo cáo; triều đình hạ lệnh cho Trần Đình Cẩm, trấn thủ Kinh Bắc, đến cứu viện. Đình Cẩm không chịu tiến quân, lấy cớ rằng còn phải hội quân để tiễu trừ giặc biển ở Đồ Sơn. Vì thế, bọn Tá Vịnh kiệt sức bị hại, Đoàn Thành vỡ. Phiên mục Lạng Sơn, Nguyễn Đình Sính, đem thổ binh đánh; giặc thua chạy, khôi phục được thành.
Tháng 6 [21/7-18/8/1743], Nguyễn Hữu Cầu, giặc vùng Hải Dương, cướp huyện Thanh Hà; Hoàng Công Kỳ cùng Hoàng Ngũ Phúc đánh phá được. Trước đây, Nguyễn Cừ bị bại, đồ đảng là Nguyễn Hữu Cầu lại hô hào tụ tập, lén lút chiếm cứ Đồ Sơn [Hải Phòng], rồi cướp bóc xã Lão Phong [huyện Kiến Thụy, Hải Phòng]. Trịnh Bảng, Đốc lãnh thủy đạo, đem quân và thuyền tiến đánh. Bên giặc đem ra hơn mười chiếc thuyền, khi thấy quan quân, giả vờ chạy trốn, Bảng đuổi theo đến cửa biển Giai Môn [huyện Kiến Thụy, Hải Phòng], giặc rút lui vào bến Cát Bạc [huyện Kiến Thụy]. Gặp lúc thủy triều cuồn cuộn nỗi lên, gió thổi mạnh, thuyền của quan quân cao lớn, chèo chở không thuận lợi, bèn đỗ ở bờ biển. Giặc nhân cơ hội, đem hơn trăm chiếc thuyền nhanh nhẹn tiến ra đánh phá; quan quân tan vỡ. Trịnh Bảng trong mình trúng hơn mười vết thương, bị giặc bắt, Bảng chửi mắng không ngớt mồm, rồi chết. Từ đấy, thanh thế Hữu Cầu ngày càng lừng lẫy, tự xưng là Đông Đạo tổng quốc bảo dân đại tướng quân, chiếm cứ ven biển Đồ Sơn [Hải Phòng] và Vân Đồn [Quảng Ninh] làm nơi căn bản. Trịnh Doanh sai Hoàng Công Kỳ thống lãnh đạo bộ binh ở Hải Dương, Trần Cảnh thống lãnh đạo thủy binh, lúc ra đi Công Kỳ dâng tờ khải nói:
“Giặc nương vào núi, dựa vào biển làm nơi kiên cố; vả lại nước biển khi lên khi xuống không nhất định, muốn phá Đồ Sơn, không tranh chiếm địa lợi trước là không được, mà muốn tranh chiếm địa lợi, cần phải dùng thủy binh. Vậy xin giữ quân thủy của đội Tứ Trạch lại để phòng bị việc điều khiển“.
Trịnh Doanh y cho. Công Kỳ cùng tướng thủy đạo là Nguyễn Công Hiển, góp sức nhau cùng càn quét. Hữu Cầu đánh nhau, bị bại trận, chạy trốn ra bãi biển, nhưng bọn Công Kỳ không lập tức đuổi bắt tận sào huyệt, Công Hiển lại tự dẫn đại binh về kinh sư.
Hữu Cầu biết quân triều đình sơ hở yếu ớt, lại trở về chiếm cứ Đồ Sơn, thường ra cướp phá vùng đông nam, thế lực mạnh dần, không ai có thể chống cự được. Bấy giờ lại đem quân cướp huyện Thanh Hà [Hải Dương], Công Kỳ bị vây đã hàng tuần, bèn sai người vượt ra ngoài vòng vây, về triều cáo cấp. Quân cứu viện chưa kịp đến, thì Hoàng Ngũ Phúc, đốc lãnh lính kỳ đạo thúc quân đến cứu. Khi quân của Ngũ Phúc đến huyện Vĩnh Lại [huyện Bình Giang, Hải Dương], bị giặc chẹn lại, không tiến lên được. Về phía Công Kỳ, có Tán lý Vũ Khâm Lân bày mưu rằng:
“Quân ở kinh sư chưa thể đến ngay, nếu cứ ngồi để đợi viện binh, thì làm thể nào có thể kịp được? Nay giặc đánh nhau với binh lính kỳ đạo, chúng tất dồn quân về mặt trước, nếu ta tranh cướp lấy mặt sau mà đem quân ra, hai đạo quân hợp sức lại để đánh, thì thế nào cũng phá được quân địch“.
Công Kỳ nghe theo kế ấy, bèn nhân đêm kéo ra cửa sông Ngư Đại [huyện Thanh Hà, Hải Dương], gặp quân giặc có ít, đánh thắng được, rồi hợp sức phá nhổ kè, tiến ra sông Tranh [huyện Ninh Giang, Hải Dương] phối hợp với Hoàng Ngũ Phúc tiến đánh, phá tan quân địch.
Tháng 8 [18/9-16/10/1743], từ đầu năm Cảnh Hưng [1740] luôn mấy năm binh lửa và mất mùa, khoa thi Hương phải hoãn, đến nay lại cử hành. Lúc ấy tại trường thi Nghệ An, đến kỳ đệ tam sĩ tử đắc chí đốt phá vi trong trường thi. Sau tra ra người cầm đầu đem giết, rồi cho thi lại kỳ đệ tứ.
Tháng 11[16/12/1743-14/1/1744], Sai Đinh Văn Giai và Nguyễn Đình Hoàn hội quân tiễu trừ giặc cỏ. Từ khi Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển nổi loạn, các huyện bị tàn phá luôn, bọn cường bạo tập hợp nhau đi theo giặc, cướp bóc tứ tung. Một dãy phía bắc sông Hồng, làng xóm tan tác phiêu lưu, cỏ mọc ngập mắt. Đến khi Cừ và Tuyển bị bại, đồ đảng còn sót lại đều hô hào nhau tụ tập thành từng toán, toán lớn vài ngàn người, toán nhỏ cũng không kém năm, sáu trăm người, đến đâu cướp bóc đấy, lấp ló ở nơi đồng nội sông chằm, nên người ta gọi là “giặc cỏ”; trong số đó, Hoàng Văn Chất [còn có tên là Hoàng Công Chất] là tay kiệt hiệt nhất.
Bọn thống lãnh là Trương Nhiêu và Lê Đoan Khải chia quân ra đuổi bắt, nhưng quân giặc chợt tan, chợt lại tụ họp, không thể dập tắt được. Vì nhiều lần bị quan quân đánh phá, chúng dâng thư xin hàng. Theo bàn luận của bầy tôi, đều không muốn chiêu an; chỉ có Nguyễn Đình Hoàn và Trần Huy Mật cố sức chủ trương cho chúng đầu hàng. Trịnh Doanh cũng chán nản việc dùng quân đánh dẹp, nhân đấy trao cho chúng quan tước và cho chiếu theo từng địa điểm mà cai quản lấy. Nhưng bọn Văn Chất nắm lấy quân, không chịu giải tán. Bầy tôi trong chính phủ xin nghiêm hạn, bắt chúng phải đến trình diện nơi cửa khuyết. Bọn Văn Chất lại làm phản, chiếm cứ Khoái Châu [Hưng Yên], đến đâu đốt phá, cướp bóc đấy. Trịnh Doanh hạ lệnh giao trách nhiệm cho Đình Hoàn thống lãnh quân đạo đông nam, Trần Huy Mật làm Tán lý, cùng Trấn thủ Đinh Văn Giai, nghiêm hạn nhật kỳ phối hợp càn quét. Sau đó, Văn Giai cùng Đình Hoàn phá tan được bọn Văn Chất ở Đỗ Xá [huyện Kim Động, Hưng Yên]. Gặp lúc ấy nước sông Hồng lên cao, Đình Hoàn xin khơi nước sông cho tràn vào quân của Văn Chất. Trịnh Doanh không y cho, vì lấy cớ rằng làm như thế sẽ hại lây đến huyện lân cận. Đình Hoàn tự nhận mình có chuyện trách khống chế mặt nam, thiện tiện tự ý càn bắt dân phu theo đi đánh giặc, làm náo động cả dân địa phương. Nghe được tin này, Trịnh Doanh giận lắm, nghiêm ngặt trách phạt Đình Hoàn và bãi đi ngay; rồi giao trách nhiệm cho Văn Giai. Nhưng giặc cỏ tung hoành bạo ngược càng ngày càng dữ, dân vùng Hải Dương, Kinh Bắc không ngày nào được yên.
Về phía nhà Thanh, viên Tuần phủ Quảng Tây đàn hặc quan lại châu Tầm đã cho khám xét thuyền sứ bộ An Nam; việc làm sai trái, bị Vua Càn Long quở trách nặng. Đến cuối năm sứ bộ đến Bắc Kinh dâng biểu tạ ơn đã ban tế cho cố Quốc vương Lê Thuần Tông, sách phong Vua Lê Hiển Tông; cùng dâng hai kỳ cống:
“Ngày 29 Quí Mùi tháng 3 năm Càn Long thứ 8 [23/4/1743]. Tuần phủ Quảng Tây Dương Tích Phật lại tâu:
‘Bọn Bồi thần An Nam Nguyễn Kiều đi qua Tầm Châu [Quảng Tây], nghe tin quản lý xưởng thuế Lưu Vi Ðàm chiếu theo lệ, ngoài việc khám thuyền tùy tòng, còn khám thuyền Bồi thần, thi hành công việc thuộc loại cố chấp; đợi điều tra đích xác đầy đủ, sẽ dâng tấu lên.’
Chiếu chỉ ban:
‘Ðiều này không những sai vì cố chấp, lại sai bởi chính sách nhu viễn. Hãy tham hặc viêc này để làm điều răn trong tương lai.” ( Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 187, trang 25-26)
“Ngày 11 Canh Dần tháng 11 năm Càn Long thứ 8 [26/12/1743]. Quốc vương An Nam Lê Duy Vĩ [Lê Hiển Tông] sai sứ dâng biểu tạ đã ban tế cho cố Quốc vương Lê Duy Hỗ [Lê Thuần Tông] , cùng ơn sách phong; lại cung tiến hai kỳ cống tạ ơn bằng sản phẩm địa phương, và 2 lần cống cho các năm Càn Long thứ 3, Càn Long thứ 6. Báo cho các bộ hay biết.” (Thanh Thực Lục , Cao Tông Thực Lục quyển 204, trang 17)
Tuần phủ Quảng Tây, Tổng đốc Lưỡng Quảng tâu trình về tình trạng loạn lạc tại các tỉnh biên giới An Nam, khiến một số dân chạy sang Trung Quốc tỵ nạn; trong khi đó lại có một số người Trung Quốc sang An Nam tham gia bạo loạn. Quân cơ đại thần nhà Thanh và Vua Càn Long chủ trương nghiêm phòng biên giới, tìm cách đưa dân về nước, cho quản thúc an sáp tại địa phương:
“Ngày 7 Canh Dần tháng 4 năm Càn Long thứ 8 [30/4/1743]. Các Ðại học sĩ bàn rồi phúc tấu:
‘Tổng đốc Lưỡng Quảng Khánh Phục tâu rằng: Giang Giao vương tại An Nam chiếm cứ các địa phương Bảo Lạc [Cao Bằng], Niệm Thai; vùng Mục Mã [huyện Thạch An, Cao Bằng], vùng đất này lại tiếp giáp với các quan ải Bình Nhi (2) và Thủy Khẩu (3). Hiện nay đã nghiêm sức các quan binh địa phương gia tăng phòng bị. Các dân đến nội địa khó có thể tiếp tế đầy đủ, ngoài việc phân loại để đưa về nước họ, cần phải có điều lệnh minh bạch. Hiện tại đã giao cho quan phủ cùng 2 ty bàn bạc thi hành.
Sưu tra dân nội địa làm khách trú tại ngoại bang; hiện tại ngoại bang lắm việc, nếu xét có thân thuộc là dân lương thiện có thể ở nhờ, các quan ải tra xét rồi cho họ trở về. Nếu không có, hoặc những kẻ lấy cớ để trốn vào, tất sẽ sinh sự. Cần theo lời xin của viên Tổng đốc, đợi bàn bạc thi hành ỗn thỏa. Còn vùng Khâm Châu, tuy bảo rằng giặc phỉ đã trốn rút, không dám gây chuyện; nhưng đây là đất quan yếu tại biên cương, quan hệ phòng thủ. Cần lệnh viên Tổng đốc thông sức cho các quan văn võ địa phương, tăng gia tuần tiễu thám báo, bất thường tâu lên.’
Thiên tử chấp thuận.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 188, trang 11)
“Ngày 21 Giáp Thìn tháng 4 năm Càn Long thứ 8 [ 14/5/1743]. Các Ðại học sĩ bàn và phúc tấu:
‘Tuần phủ Quảng Tây Dương Tích Phật tâu rằng: An Nam suốt năm lắm việc, bọn gian thừa cơ phiến động; dân nội địa lén vào xứ này, dựa vào tình cảnh gây rối. Những tên đứng đầu như Mạc Vũ Khang, Lý Tam Tổng đều là người nội địa lưu lạc vào đất Di, sung vào quan tiên phong.
Ðúng như lời tâu, lệnh các tỉnh phụ cận như Giang Tây, Quảng Tây, Phúc Kiến, Quảng Ðông tra bắt, cùng lệnh nước này ra sức bắt giữ, không cần húy kỵ. Nói về An Nam, từ khi Vi Phúc Quan gây nghịch tại Lạng Sơn, viên Quốc vương cho điều quan quân tại Cao Bằng, Mục Mã đến đánh dẹp, lại kêu vời dân nội địa hợp lực đánh bắt. Ðến lúc giặc họ Vi bị công phá, bọn dân này không thỏa mãn sự đòi hỏi, lại tiếp tục cướp phá; như vậy người Di đã dựa vào dân thổ phỉ dẫn đến sự gian ngụy, phong cách này không thể không biết! Cần phải gửi văn thư cho viên Quốc vương, tuyên bố chính sách nhu viễn của Thiên triều, cho từ nay nếu dân nội địa gây sự tại nước này, lập tức tống xuất. Còn các cửa ải, ra lệnh các quan văn võ quân lính ra sức phòng thủ.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Y theo lời bàn mà thi hành.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển189, trang 8-9)
“Ngày 30 Quí Sửu tháng 4 năm Càn Long thứ 8 [23/5/1743].Tuần phủ Quảng Tây Dương Tích Phật tâu:
‘Bọn giặc phỉ tại Bảo Lạc, An Nam là Vương Huy Diệu quấy phá chưa yên. Hiện sai các quan văn võ duyên biên thêm binh lính giữ nghiêm quan ải; không để cho một người ra vô.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Tốt; các ngươi có thể lưu tâm chiêu phủ an ninh địa phương.’
Lại tâu:
‘Dân nội địa tại Giao Chỉ, nếu như do bọn giặc phỉ quấy nhiễu nên muốn trở về nước, giao cho các bảo giáp [dân binh] (4) ước thúc. Kẻ nào không phải dân nội địa, đều bị ngăn trở, không hứa cho vào.
Nhận được chiếu chỉ:
“ Tốt, đáng thi hành như vậy.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 189, trang 25)
Viên quyền Tổng đốc Vân Nam tâu rằng trong 5 phủ tiếp giáp với An Nam, 2 phủ Quảng Nam và Khai Hóa có những vấn đề đáng lo. Phủ Quảng Nam sát tỉnh Quảng Tây; nằm trên đường giao liên, dân Trung Quốc dùng để qua lại An Nam bất hợp pháp, nên cần ngăn chặn. Tại phủ Khai Hóa bấy giờ tiếp giáp với Ðô Long mới trả cho An Nam, chỗ này nhiều hầm mỏ, nhân dân tụ tập đến hàng chục vạn, gặp lúc quân giặc tiến công, Thổ mục Ông Quế bỏ thành chạy trốn, dân xưởng mỏ sợ hãi; nên cần phải bố trí phòng thủ, ngăn chặn giặc xâm nhập vào nội địa, nhưng không mang binh gây hấn:
“Ngày 29 Nhâm Ngọ tháng 4 năm Càn Long thứ 8 [ 21/6/1743]… Quyền Tổng đốc Vân Nam Trương Duẫn Tùy tâu:
‘Có 5 phủ: Khai Hóa, Quảng Nam, Lâm An, Nguyên Giang, Phổ Nhĩ thuộc tỉnh Vân Nam đều tiếp giáp với An Nam. Trừ các phủ như Lâm An, Phổ Nhĩ, Nguyên Giang có thể chiếu theo phép thường mà phòng thủ; riêng phủ Quảng Nam có những đường lưu thông với An Nam tại 2 xứ Miệt Na, Lang Hải; trước đây đã đặt đồn trạm, mỗi đồn trạm điều binh luyện 26 tên, nay thêm 4 tên binh, 10 tên Thổ luyện, tổng cộng mỗi trạm 40 tên. Lại có các xứ như Bản Giang Hà, Ðổng Ngang, Mỹ Thang, Na Hắc, Ðổng Bố Lý Thỏa, Ðổng Bố Nhai, tiếp giáp với Hồ Ðiệp, Phổ Viên, Ngưu Dương (5) thuộc phủ Khai Hóa; trước đây đã đặt 7 đồn trạm, mỗi trạm có 5 tên lính, 5 tên Thổ luyện; có một viên Thiên tổng trú tại Ðổng Bố. Nay tại 4 xứ phụ cận Khai Hóa như Thảo Chả, Mặc Ðả, Hàm Long, Na Tát; mỗi nơi đều thêm 1 đồn. Lại tại 2 địa phương Quỉ Mã, Thạch Ðộng cách Ðổng Bố xa, quan sát điều động khó; tại địa điểm Ba Hạo thuộc Quát Trung lập 1 đồn tấn [tấn 汛], đặt 9 đồn trạm [tạp 卡], vẫn ra lệnh các viên biền binh phối hợp tuần tra.
Ba mặt của phủ Khai Hóa đều tiếp giáp An Nam, kể cả thủy bộ có 6 đồn trấn. Ðường thủy tối quan trọng là đồn trấn Bá Sái, nơi này chướng lệ ác độc, riêng tuyển 1 viên Thiên tổng quen với thủy thổ mang binh phối hợp với Thổ luyện hợp đồng tuần tra. Ðường bộ tối quan trọng là đồn trấn Ngưu Dương, trừ 1 viên Bả tổng đã đặt, lại điều thêm 1 viên Thiên tổng, mang 50 lính cùng với Thổ luyện đất này lo việc phòng thủ. Lại tra thuế buôn tại ải Mã Bạch (6), vốn do viên Ðồng tri phủ Khai Hóa lo thu và nạp, cần qui trách nhiệm cho viên Ðồng tri lập thẻ yêu bài (7) ( 腰牌) đóng dấu khác hỏa (恪火). Gặp những khách thương xuất khẩu buôn bán, xét không mang hàng cấm, điền vào yêu bài; khi đến cửa khẩu tra xét hàng hóa bán được. Còn như những nạn dân Giao Chỉ xin vào nội địa, quan địa phương tra rõ, cấp cho lương ăn, lộ phí rồi đuổi ra khỏi cửa khẩu.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Cai trị con người, không cai trị phép tắc; theo ý thiện mà thi hành là được.’
Lại tâu:
“ An Nam từ khi biến loạn đến nay, thôn trại trong 10 nhà có 9 nhà trống, giặc muốn cướp cũng không có chỗ để cướp, thế không ở lâu được. Nhưng tại xưởng Ðô Long (8), tụ tập dân Di không dưới 10 vạn; trong đó có bọn du thủ du thực, nếu thừa cơ theo giặc thì đất xưởng không khỏi không lo, vì vậy không thể không gia tăng phòng ngừa. Ngoại trừ phủ Khai Hóa đã điều động 450 tên tại phủ thành đến đồn trấn Mã Bạch tại sông Ðổ Chú trú trát để dương uy đàn áp, lại hịch điều 300 quan binh tại Quảng La đến Khai Hóa để viên trấn thủ tại đây tùy cơ điều động làm mạnh thế quân; cùng treo bảng tại Ðô Long hiểu thị dân khách trú [kiều dân Trung Quốc] giữ vững xưởng, đừng kinh sợ bỏ trốn rồi thất nghiệp.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Ðáng biện lý như vậy.” (ThanhThực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 191, trang 21-22)
“Ngày 6 Bính Tuất tháng 7 năm Càn Long thứ 8 [24/8/1743]. Các Quân cơ đại thần bàn rồi tâu lên:
‘An Nam suốt năm bất ỗn, bọn gian thừa cơ dấy lên, trong đó kẻ thuận, nghịch, ngay, cong, khó mà phân biệt; nhưng ước tính tình thế, nhất thời khó có thể chấm dứt ngay. Nay lại tụ tập xâm bức Ðô Long, thế giặc khá mạnh. Xét về vùng phủ Khai Hóa tại phía nam tỉnh Vân Nam, cách biên giới khoảng 100 lý [58km], tuy bọn gian tặc vẫn chưa dám xâm phạm biên giới, nhưng nội địa Ðô Long nhân dân tụ tập rất đông; quân giặc tiến công, dân tại xưởng mỏ sợ trốn, nếu nhất loạt vào quan ải thì lo liệu tổn phí, bởi vậy việc phòng giữ càng nên nghiêm mật.
“ Nay cứ theo lời bào của bọn Trương Duẫn Tùy, giặc người Giao cấu kết đánh nhau, viên Thổ mục Ông Quế bỏ thành chạy trốn, dân xưởng mỏ sợ hãi. Trương Duẫn Tùy một mặt cho dán tờ cáo thị, không cho phép giặc sát thương thương nhân [thương nhân Trung Quốc tại Đô Long]; một mặt ra lệnh các quan văn võ chỉnh bị quân lính, không cho bọn giặc tự tiện vào nội địa. Bọn người Giao đều nhất nhất tuân theo, không dám vi phạm chút nào, về lý thì có vẽ liệu biện tốt. Còn Tổng binh trấn Khai Hóa Tái Ðô thì có những lời cho rằng ‘ Phòng bị biên giới và đánh nhau, phí tổn tương đương; xin điều động quan binh, thay trời thảo phạt’. Không biết rằng bọn giặc cỏ người Giao kia, nếu dùng binh lực của Thiên triều, thì không kẻ nào mà không chấn phục; còn nếu bọn chúng dám phạm vào biên giới thì tiêu diệt không tha. Nhưng nước này vốn không trái mệnh, lại không xin cầu viện, rồi bất chợt vượt cảnh chinh phạt, xuất sư không có lý do, thật không hợp với chính sách nhu viễn, việc này quyết không thể thi hành.
‘Nhưng trấn Khai Hóa gần với chỗ giặc nỗi lên, dân Di chạy trốn, không phải chỉ 1 người, cần phải lo phòng thủ đàn áp. Cứ viên Tổng đốc tấu xưng, đã điều động 300 quân từ Quảng La, trấn Lâm Nguyên điều thêm 300 quân phụ thêm để đề phòng. Bọn thần ước tính rằng bọn Di không dám phạm biên giới, số quân đã đủ dùng. Nếu đặt thêm đồn trấn cũng không đủ; vả lại binh từ Quảng La, Quảng Nam cũng có thể điều động đến khi cần, binh trong nội địa cũng có thể phái đến; nay chỉ cần biểu dương thanh uy tại biên giới. Vả lại đất Di khí nóng bốc lên, lam chướng rất mạnh; quân ta trú đóng, không miễn tổn thương; vậy nếu không có vấn đề quan trọng, đừng nên gây sự nghi ngờ; bởi thế không nên thêm quân gia phòng, chỉ cần trấn tĩnh là đắc sách.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘ Chuẩn y lời bàn, cho thi hành.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 196, trang 6-8)
Về mối loạn tại vùng châu Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng, Tuần phủ Quảng Tây xác nhận có nhiều dân Trung Quốc tham gia. Nguyên nhân dưới thời Khang Hy nhà Thanh, một số con cháu họ Mạc bị an sáp tại các huyện Lăng Vân, Tây Lâm, Tây Long [Bách Sắc thị], phủ Tứ Thành, thuộc lưu vực sông Hữu Giang, Quảng Tây. Nay chúng thừa dịp trở về quê cũ Cao Bằng mưu phục quốc:
“Ngày 29 Tân Hợi tháng 5 năm Càn Long thứ 8 [20/7/1743]. Tuần phủ Quảng Tây Dương Tích Phật lại tâu:
‘Bọn giặc phỉ Mạc Khang Vũ quấy nhiễu Bảo Lạc [Cao Bằng], quá nửa là dân nội địa. Hiện đã bắt được Chu Ðạo Nam, Hoàng Hán; bọn này gian ngụy hung hãn, phản phúc khác thường, đáng nghiêm cấm thêm. Ðợi bắt thêm nữa, cho cứu xét một lần.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Việc này đáng xử nặng để cảnh cáo. Hà tất lần lữa cho sống tạm!” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 193, trang 22)
Con đường thuận tiện nhất cho con cháu nhà Mạc từ phủ Tứ Thành trở về Cao Bằng, phải qua phủ Quảng Nam, Vân Nam. Nên Vua Càn Long ta lệnh Tổng đốc Trương Duẫn Tùy phải lưu ý cho canh gác phòng bị:
“Ngày 25 Bính Tý tháng 6 năm Càn Long thứ 8 [14/8/1743]. Dụ các Quân cơ đại thần:
‘Phủ Trấn An tỉnh Quảng Tây và phủ Quảng Nam tỉnh Vân Nam đều có cửa ải thông An Nam. Từ năm ngoái bọn giặc phỉ quấy nhiễu châu di Bảo Lạc; các viên quan lớn văn võ tại hai tỉnh Vân Nam, Lưỡng Quảng đáng nghiêm sức quân lính phòng thủ tại quan ải, ra sức phòng ngừa, không để cho bọn phỉ vãng lai ra vào, nhắm tảo thanh biên cảnh. Trẫm nghe rằng Lưỡng Quảng kê tra có phần nghiêm, nhưng tỉnh Vân Nam thì hầu như sơ hốt. Dân phủ Quảng Nam xuất cảnh đến đất Giao rầm rộ, thực rất hỗn tạp. Trương Duẫn Tùy cũng không thường xuyên tâu tình hình cửa ải, không khỏi coi thường sự việc. Các ngươi cần mật dụ Trương Duẫn Tùy, lệnh phải chú ý phòng bị.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 195, trang 20)
Viên Tuần phủ Quảng Tây xác nhận bắt được hàng trăm người dân Tây Long, phủ Tứ Thành; về Cao Bằng theo Mạc Khang Vũ nỗi dậy:
“Ngày 29 Kỷ Dậu tháng 7 năm Càn Long thư 8 [16/9/1743]. Tuần phủ Quảng Tây Dương Tích Phật tâu :
‘Trước đây bọn giặc phỉ Mạc Khang Vũ quấy nhiễu An Nam, người hai châu huyện Tây Lâm, Tây Long [phủ Tứ Thành, Quảng Tây] đến đất Giao. Nay cứ theo lời báo của viên Tổng đốc Trương Duẫn Tùy, bắt được người dân Tây Long hơn 100 người, hiện đang giải quyết. Tái bút: Dân Tây Long đến đất Giao, do đường từ phủ Quảng Nam, tỉnh Vân Nam, nay trở về nội địa cũng bắt tại Quảng Nam.”
Nhận được chỉ dụ:
“Ðã xem; tuy bắt được tại Vân Nam, nhưng nếu không bỏ đi từ Quảng Tây thì Vân Nam làm sao bắt được! Lời nói tuy khéo nhưng lại vụng.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 197, trang27)
Tuần phủ Quảng Tây và Tổng đốc Lưỡng Quảng đều trưng lên bằng chứng về việc người họ Mạc nỗi dậy tại Cao Bằng cấu kết chặt chẽ với người họ Mạc bị an sáp tại phủ Tứ Thành; nên chủ trương canh gác biên giới, phòng bị nghiêm mật:
“Ngày 30 Kỷ Dậu tháng 9 năm Càn Long thứ 8 [15/11/1743]. Tuần phủ Quảng Tây Dương Tích Phật tâu:
‘Bắt được phạm nhân tên Lương Ðiểm Ðậu thuộc họ Mạc [đổi tên] tại huyện Lăng Vân [Quảng Tây] từ Giao Chỉ trốn về; sau khi tra tấn biết rõ y là tên họ Mạc quấy nhiễu tại Giao Chỉ. Khám xét y phục của tên này tìm được hai lá thư của tên Mạc Bảo tại Giao Chỉ ước hẹn với người nhà là Mạc Tạo, Mạc Khóa. Thực tình bọn này là họ Mạcbị an sáp tại Tứ Thành, hậu duệ của Mạc Ðăng Dung. Hiện tại tra xét duyên do để đề phòng.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Việc ngươi liệu biện tình hình biên giới tại Giao Chỉ, chỉ có một việc này là đáng khen. Ðáng cấp tốc tra xét thêm, nhưng không thể có kết cuộc [sai lầm] như vụ án cũ.” [Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 201, trang 42]
“Ngày 30 Kỷ Mão tháng 10 năm Càn Long thứ 8 [15/12/1743]. Quyền Tổng đốc Lưỡng Quảng Sách Lăng tâu:
‘Huyện Lăng Vân [Quảng Tây] bắt được gian phỉ An Nam là Lương Kính Hồng, lục trong áo bông lấy ra được 2 phong thư của Mạc Chính Thần tại Giao Chỉ [An Nam] gửi cho 2 anh của y là Mạc Tạo, Mạc Khóa. Trong thư cho biết người chồng của chị ruột y là Sầm Tế Khang mạo xưng họ Mạc, hiện trú tại biên cảnh không được dân chúng phục; y mong đợi anh trưởng sang để khôi phục đất xưa; cùng lệnh bọn Mạc Khoa kiểm soát, mang theo những tài liệu về họ Mạc và đến để thương nghị. Bọn phỉ người Di giao thông, lại tham vọng báo oán xưa, chứng cứ hiển nhiên, án tình trọng đại. Ðã mật lệnh cho 2 ty Bố chánh và Án sát, đưa phạm nhân ra lo liệu thẩm vấn.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Hiểu rõ lời tâu.’
Tổng binh trấn Hữu Giang Tỉ Ánh tâu:
‘Ðiều tra được tình hình Lương Kính Hồng cùng bọn Mạc Tạo, Mạc Khoa giao thông với Di phỉ, cùng truy cứu về tài liệu đồ hình. Hiện sức các cửa ải dọc biên giới gia tăng nghiêm phòng.’
Nhận được chiếu chỉ:
Hiểu rõ lời tấu. Nghiêm xét sự ra vào tại biên giới, làm yên tĩnh địa phương là được.” ( Cao Tông Thực Lục quyển203, trang 25-26)
Vào tháng 8, Tổng đốc Lưỡng Quảng Sách Lăng và Tổng đốc Vân Nam Trương Duẫn Tùy tổng kết tình hình chung các tỉnh biên giới tại An Nam: Tại các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang quân An Nam đánh tan giặc Triệu Hiểu tại Ðào Sơn [huyện Lục Ngạn, Bắc Giang]. Tại Cao Bằng tên Hỉ Dương cùng bọn Mạc Chính Báo chiếm cứ vùng An Biên [xã Linh Hồ, huyện Vị Xuyên , Hà Giang], Bảo Lạc [Cao Bằng]; Mạc Chính Báo vốn tên là Mạc Năng Nhân, người phủ Tứ Thành, Quảng Tây. Tại Đô Long bấy giờ thuộc Tuyên Quang, Di phỉ Giao Cương sai bọn Ðầu mục Lục Nguyên đánh chiếm. Trước đó Thổ mục Ông Quế bỏ trốn, sau đoạt lại Ðô Long, Tổng đốc Vân Nam bèn ra lệnh cho phủ Khai Hóa, đưa những dân tỵ nạn hộ tống xuất khẩu, giao cho Ông Quế lãnh:
“Ngày 29 Kỷ Mão tháng 8 năm Càn Long thứ 8 [16/10/1743]. Tướng quân Quảng Châu tạm giữ ấn tín Tổng đốc Lưỡng Quảng Sách Lăng tâu:
“ Di mục đất An Nam mang binh thuyền, vào các ngày mồng 8 và 19 tháng 7 [26/8/1743 và 6/9/1743] cùng với bọn giặc phỉ tại Ðào Sơn [huyện Lục Ngạn, Bắc Giang] là Triệu Hiểu đánh nhau, giết bọn giặc phỉ hơn 1000 tên, bắt được thuyền giặc hơn 100 chiếc, Triệu Hiểu vẫn trốn về Ðào Sơn. Ðào Sơn cách xa Khâm Châu một biển, liệu không thể vượt qua trùng dương xa xôi để lén vào nội địa. Nhưng việc biên phòng không thể không cẩn thận, hiện truyền hịch cho các Ðốc trấn tại duyên hải mang quân lính, điều bát binh thuyền, gia tăng tuần tiễu.
“ Lại chuẩn lời tâu của Tổng đốc Vân Nam Trương Duẫn Tùy xưng rằng ‘ An Nam sau khi Hỉ Trường đầu thuận, lại có tên Hỉ Dương mạo tên là Vũ Hữu Khanh cùng bọn Mạc Chính Báo tại vùng An Biên, Bảo Lạc nước này, hô hào tụ tập. Lại xưng rằng ‘ Mạc Chính Báo vốn tên là Mạc Năng Nhân , người phủ Tứ Thành 泗 城, thủ hạ chúng phần đông người gốc Quảng Tây. Thần tra địa phương Tứ Thành trước đây là đất an sáp họ Mạc, con cháu hiện này vẫn còn ngụ tại huyện Lăng Vân, đã chiếu gửi cho hành ty tra cứu. Tái bút: Các vùng Mục Mã, Lạng sơn nước này dùng binh liên miên; tương lai đói kém, đạo tặc vẫn còn nỗi lên. Hiện tại bất thường đột xuất nghiêm sức văn võ các quan, tăng cường đề phòng, đôn đốc việc tra xét.’
Nhận được chiếu chỉ:
‘Thấy được rất đúng, đáng liệu biện như vậy.’…
Tổng đốc Vân Nam kiêm Tuần phủ Trương Duẫn Tùy lại tâu:
‘Bắt được tên ngụy Thượng thư Lô Anh do tên ngụy họ Vũ thị vương Hỉ Dương sai đến Ðô Long, tra tấn khai là người phủ Khai Hóa. Hiện thông sức Án sát sứ đem phạm nhân này, cùng những tên đã bắt lần trước như Lâm Bằng Ô người đạo Tuyên Quang giam cấm; đợi bắt tiếp bè đảng, nghiêm ngặt thẩm tra một lần, rồi đề tham lên đầy đủ. Lại chỉ riêng vùng Mộc Tô Tranh đã bắt được 146 tên Sa phỉ từ Giao Chỉ trở về, vùng Mộc A, Tái Pha Ðầu bắt được 329 Sa phỉ; thu hoạch các khí giới cung, nõ, đao, thương 236 cái.
Ðiều tra trong nước An Nam, bọn Hỷ Dương, Mạc Chính Báo; một người xưng là hậu duệ của Giao Cương, một người xưng là con cháu họ Mạc tại Cao Bằng, lấy danh nghĩa khôi phục đất phong cũ, các Di phỉ trong ngoài quây quần phụ họa. Thông qua lệnh của thần sai các quan văn võ địa phương tìm cách chiêu dụ và bắt, trước sau bắt được quan ngụy 2 tên, chiêu hồi và bắt Di phỉ hơn 1000 tên. Hiện đem ngụy quan giam cấm thẩm vấn, các Sa phỉ cấp lương ăn cho từng tên, phân chia giải về nguyên tịch tại các tỉnh Quí Châu và Lưỡng Quảng, giao cho quan địa phương quản lý an sáp. Còn 2 lần bắt được dân Giao tỵ nạn, cấp cho lương thực; đợi cho thế giặc An Nam hơi yên tĩnh, cho về quê theo nghiệp cũ.
Lại cứ Thổ mục châu Bảo Lạc, An Nam Nùng Yến Triều sai bọn Ðầu mục Tưởng Triều Thông cạo tóc, đổi y phục, đến doanh Quảng Nam tố cáo, xin tiễu trừ hai họ Vũ, Mạc. Thần sai phủ Khai Hóa hiểu dụ bọn Tưởng Triều Thông để chuyển lời cho viên Thổ mục rằng: trong ngoài đã có giới hạn, không có lý để đại quốc vượt biên giới tiễu trừ đạo tặc cho thuộc quốc. Nên đến ngay viên Quốc vương để xin quân, cấp cho phí tổn. Rồi ra lệnh cho trở về.’
Nhận được chỉ dụ:
‘Mọi việc đều thỏa hiệp; đã hiểu.’
Lại tâu:
‘Di phỉ Giao Cương tại An Nam là Vũ Hiền Khanh, tức Hỷ Dương, sai bọn Ðầu mục Lục Nguyên, Vương Kỳ đánh chiếm Ðô Long. Thổ mục Ông Quế bỏ trốn, quân giặc lại đánh Nam Sơn. Tra Nam Sơn với cầu Thiên Sinh tại Khai Hóa chỉ cách một con sông; nhân thông sức phủ, trấn Khai Hóa chỉnh bị quân uy, yểm trợ người Giao từ đằng xa. Nếu như bọn giặc dám vượt biên giới một bước lập tức bắt giết. Lại hiểu dụ Thổ mục Nam Sơn ra sức cố thủ. Vào ngày 7 tháng 6 [27/7/1743], Ông Quế đoạt lại Ðô Long, bèn ra lệnh phủ Khai Hóa, đưa những dân tỵ nạn trước đây tư cấp đầy đủ, rồi hộ tống xuất khẩu, giao cho Ông Quế lãnh, để trở về với nghiệp cũ. Nhưng Ông Quế thì quân ít, không được tiếp viện, thế khó mà giữ. Ðô Long tiếp cận nội địa, hiện sai Lãnh binh phòng bị thanh viện đằng xa, để biên giới được yên tĩnh.’
Nhận được chỉ dụ:
‘Những điều tâu đều hiểu rõ.” (Thanh Thực Lục, Cao Tông Thực Lục quyển 199, trang 15-17 cùng 19-21)
Chú thích:
1.Các châu Ninh Minh, Long Châu, Thổ Giang, Thổ Tư đều thuộc phủ Thái Bình, tỉnh Quảng Tây.
2.Bình Nhi: tên ải, nơi sông Kỳ Cùng tỉnh Lạng Sơn chảy sang Trung Quốc.
3.Thủy Khẩu: tên ải, nằm tại nhánh sông chảy vào Tả Giang, giữa tỉnh Cao Bằng và huyện Long Châu, Quảng Tây.
4.Bảo giáp: phép dùng dân binh của Vương An Thạch đời Tống, lấy dân làm lính, đặt người dạy dân tập luyện võ nghệ.
5.Năm Canh Ngọ [1690] Sứ thần nhà Lê gồm Chánh sứ Nguyễn Danh Nho sang nhà Thanh đòi đất bị mất, trong đó có Ngưu Dương, Hồ Ðiệp, và Phổ Viên nhưng nhà Thanh không trả lại.
6.Mã Bạch: còn gọi là Mã Bá, vị trí gần sát phía nam huyện lỵ Mã Quan, thuộc châu tự trị Văn Sơn, tỉnh Vân Nam hiện nay.
7.Yêu bài: thẻ đeo vào eo bụng, để nhận diện.
8.Ðô Long:vùng đất trước đây thuộc Việt Nam, được gọi là Tụ Long; qua hiệp ước Thiên Tân thực dân Pháp đã nhường cho Trung Quốc, hiện nay còn địa danh trấn Ðô Long, thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam, trấn này giáp với tỉnh Hà Giang, Việt Nam.