Những ngày cuối cùng của Hitler (Bài 9)

Bill O’Reilly

Trần Quang Nghĩa dịch

CHƯƠNG 26

 BOONGKE QUỐC TRƯỞNG

 BERLIN, ĐỨC * NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1945 * NGAY TRƯỚC 2 GIỜ CHIỀU

QUỐC TRƯỞNG ĐANG NÓI LỜI TẠM BIỆT. Đội ngũ nhân viên của y xếp hàng ở hành lang bên ngoài phòng ngủ. Mặc một chiếc áo khoác đồng phục màu xám sẫm và quần đen nhăn, Hitler bắt tay mỗi người và thì thầm một thông điệp cá nhân tới 20 thư ký, binh lính và bác sĩ đã chăm sóc y trong ba tháng y ở dưới hầm. Tất cả họ đều đã tuyên thệ trung thành với Quốc trưởng, nhưng y đã giải thoát họ khỏi mối ràng buộc đó. Y cho phép họ rời khỏi hầm ngay lập tức và chạy trốn đến các phòng tuyến của Mỹ, nếu họ muốn. 

Trong suốt buổi lễ, Eva Braun đứng bên Führer, mặc một chiếc váy đen có hoa hồng viền cổ vuông. Cô đã chọn chiếc váy này vì đây là chiếc váy yêu thích của Hitler. Mái tóc vàng của cô đã được gội và tạo kiểu hoàn hảo, phù hợp với vị trí mới của cô là đệ nhất phu nhân của Đức Quốc xã.

Gần đúng ba năm trước, Hitler đã tổ chức sinh nhật của mình với Eva Braun và các quan khách.

Sau khi Führer nói chuyện với thư ký Traudl Junge, Eva kéo cô lại gần và thì thầm vào tai cô. “Làm ơn hãy cố gắng thoát ra ngoài. Em vẫn có thể vượt qua được.”

Tất nhiên, Eva Braun sẽ không rời đi. Cô vừa mới tuyên thệ trung thành tuyệt đối với Führer. Hôm qua họ đã kết hôn. Những nhân viên này đã tụ tập để ăn mừng đám cưới của Adolf Hitler và Eva Braun. Những ly sâm panh đã được rót đầy. Chỉ có Führer là không tham gia.  Tâm trạng bên ngoài thì vui vẻ, nhưng có một tông điệu u ám trong quá trình diễn ra. Hôn nhân thường là thời điểm hy vọng cho tương lai. Nhưng tất cả mọi người đều biết rằng Adolf Hitler và Eva Braun sẽ sớm tự tử.

Tướng Walther Wenck và Quân đoàn số 12 của ông sẽ không bao giờ cứu được Berlin. Quân đội Liên Xô đang ở gần đó. Các đơn vị tiên phong của họ chỉ cách boongke Führer 500m, và giờ họ đang pháo kích vào khu phức hợp từ vị trí của họ tại Tiergarten, công viên rộng lớn ở trung tâm thành phố, nơi Eva Braun từng thích thú với những buổi chiều luyện tập bắn súng lục. Nhiều cây cối ở đó giờ chỉ còn là những mảnh vụn. Nhưng cây nào vẫn còn đứng vững vẫn mang những bông hoa đầu tiên của mùa xuân – dấu hiệu của sự sống tương phản rõ rệt với tòa nhà Reichstag và Nhà hát Opera Kroll gần đó, cả hai đều bị pháo binh Nga đánh trúng và bắn thủng, một lời nhắc nhở rằng một Berlin từng tự hào đang hấp hối. 

Trong mười ngày qua Adolf Hitler đã lấp đầy hành lang boongke bằng những lời bàn tán về việc tự tử, thực tế tuyên bố rằng lựa chọn duy nhất còn lại là trở thành tù binh Nga – nhưng đối với Führer, số phận đó không thể nào là một lựa chọn. Eva Braun, tất nhiên, sẽ là một chiến lợi phẩm tương tự nếu người Nga bắt sống cô, vì vậy cô cũng phải tự tử. Sớm hôm nay, cô đã không để nha sĩ kiểm tra răng đau, cười rằng dù sao thì nó cũng chẳng quan trọng gì nữa. Và chỉ vài giờ trước cô đã làm Traudl Junge ngạc nhiên khi tặng cô ta một chiếc áo khoác lông cáo bạc. Chữ viết tắt của Eva được khâu vào lớp lót bên trong biểu tượng phổ biến mang lại may mắn: một chiếc cỏ bốn lá

. Hitler có kế hoạch tự tử bằng một viên thuốc xyanua. Cho đến gần đây, y vẫn sợ rằng nó sẽ không hiệu quả. Vì vậy, y đã ra lệnh thử nghiệm một viên thuốc tương tự trên chú chó yêu quý của mình, Blondi, chú chó chăn cừu Đức đã ở bên cạnh y trong suốt phần lớn thời gian chiến tranh. Hàm của Blondi đã bị Trung sĩ Fritz Tornow, người huấn luyện chó của Führer, nạy mở.  Một cặp kìm chứa một viên nang hydro xyanua, dạng lỏng của xyanua, được đặt vào miệng nó bởi Tiến sĩ Werner Haase, giáo sư đã nghĩ ra kỹ thuật tự tử độc đáo của Hitler.

Blondi là một con chó lớn, được Führer coi là biểu tượng của lòng tự hào của người dân Đức vì nó giống như một con sói. Nhưng nó tin tưởng chủ nhân của mình và cho phép Haase ấn hai gọng kìm lại với nhau, làm vỡ viên nang và đổ axit vào lưỡi nó.

Blondi chết ngay lập tức.

Tiến sĩ Haase liền gọi Hitler để y có thể tự mình xem hiệu quả của viên thuốc.

Führer không nói nên lời khi nhìn thấy Blondi nằm bất động trên sàn. Y nhìn một lúc rồi bỏ đi, đi thẳng vào phòng ngủ của mình.

Bây giờ đến lượt y.

Sau khi đuổi nhân viên ra, Hitler và Eva lui về phòng khách của y và đóng cửa lại. Eva Braun ngồi xuống cuối ghế dài, tựa đầu vào tay vịn như thể cô đang chuẩn bị nằm xuống để ngủ trưa.

 Hitler đã mang theo khẩu súng lục Walther 7,65mm của mình trong vài tuần qua, và giờ y đã lên đạn. Lịch sử không ghi lại những lời cuối cùng giữa Adolf Hitler và Eva Braun. Họ đã biết nhau trong 16 năm. Cô đã chứng kiến ​​y lên đến đỉnh cao quyền lực, cũng như hiện cô chứng kiến một Führer đang suy kiệt với giấc mơ về quyền lực của minh đã kết thúc.

Eva cuộn tròn như một con mèo ở phía bên phải ghế sofa. Adolf Hitler ngồi xuống đầu bên kia, khẩu súng lục trong tay. Khẩu súng lục của Eva nằm trên chiếc bàn gần đó, bên cạnh một bình hoa.

Cô ấy đi trước, rút ​​viên thuốc xyanua ra khỏi lọ nhỏ bằng đồng thau cỡ thỏi son và đặt vào giữa hai hàm răng. Cô ấy lại tựa đầu vào tay vịn và cắn chặt viên thuốc.

Để ngăn chặn khả năng thuốc thất bại, giờ Eva phải đặt khẩu súng lục nhỏ của mình vào thái dương và kết thúc công việc. Nhưng Eva đã nói rõ là mình sẽ không tự bắn. “Em muốn là một xác chết xinh đẹp,” cô khăng khăng với Hitler.

Phòng khách boongke lập tức có mùi hạnh nhân đắng, một mùi thường liên quan đến xyanua. Cơ thể Eva Braun mất khả năng hấp thụ oxy. Tim và não cô, hai cơ quan cần không khí nhất, ngừng hoạt động ngay lập tức. Đó là cái chết không khác gì cái chết của hàng triệu người Do Thái mà ông chồng mới của cô đã đưa đến phòng hơi ngạt. Khí Zyklon B được sử dụng trong các trại tử thần cũng là một dạng xyanua.

Vài giây sau, vẫn cuộn tròn trong tư thế bào thai, Eva Braun đã chết.

Sau đó, Führer đặt viên nang giữa hai hàm răng. Đồng thời, y chĩa súng vào thái dương bên phải. Y cắn chặt và bóp cò một tích tắc sau đó.

Cơ thể y  khuỵu xuống một bên, cho đến khi thân mình y mềm nhũn trên người của Eva Braun. Khẩu súng lục của Führer rơi xuống sàn cạnh chân y.  Máu chảy ra từ hộp sọ vỡ nát của y, nhỏ giọt xuống ghế dài, tạo thành một vũng máu đỏ thẫm lớn trên sàn nhà.

Adolf Hitler, kẻ đã giết hàng triệu người, vừa lấy mạng nạn nhân cuối cùng của mình.

Trận chiến pháo binh của Nga trên đường tiến vào Berlin.

LỜI KẾT

TRẬN CHIẾN BERLIN

Vào lúc 12 giờ 45 phút sáng ngày 23 tháng 4 năm 1945, Thống chế Đức Wilhelm Keitel thông báo với Tướng Walther Wenck rằng trận chiến giành Berlin đã bắt đầu. Thành phố hiện đã bị quân đội Liên Xô bao vây.

Trong thành phố, Tướng Helmuth Weidling còn lại khoảng 45.000 người, trẻ em trai và cựu chiến binh. Thời gian trôi qua, và quân Nga vẫn tiếp tục siết chặt Berlin. Không có động thái kìm kẹp nào đi kèm của quân Mỹ hoặc Anh. Có vẻ như quân Liên Xô đã chiếm được thành phố này. Trên thực tế, quân đội Đồng minh phương Tây đã đạt được thỏa thuận rằng họ sẽ tránh xa Berlin, mặc dù họ chỉ cách đó 60 dặm, và để quân Liên Xô chiếm thành phố.

Cách đó một nghìn dặm về phía đông, tại Moscow, Joseph Stalin đã thấy trước sự sụp đổ của Berlin.  Ông ký một chỉ thị được gọi là Stavka 11074, ra lệnh đoàn quân Belorussia đầu tiên và đoàn quân Ukraine đầu tiên sẽ chia đôi thành phố. Trong số những vị tướng hàng đầu của ông, Nguyên soái Georgy K. Zhukov, người hùng của Stalingrad và Trận chiến Moscow, sẽ là người được vinh dự kéo lá cờ Liên Xô lên đỉnh Tòa nhà Quốc hội Đức.

Quyền lực của Stalin đang ở đỉnh cao. Ông đã điều động 20 đoàn quân, 6.300 xe tăng và 7.500 máy bay để khuất phục Berlin. Ông đã ra lệnh không được tha cho người Đức. Ông muốn gây ra đau khổ tối đa.

Không có cuộc sống bình thường nào ở Berlin bây giờ. Thức ăn khan hiếm. Nhà cửa bị san phẳng. Đường phố bẩn thỉu. Mọi người ẩn núp trong đường hầm và nhà thờ để tránh bị ném bom. Tuy nhiên, điều tồi tệ nhất đang đến gần. Và mặc dù người dân Berlin tin rằng điều đó sẽ tồi tệ, thì sự thật sẽ còn tồi tệ hơn nhiều.  Những câu chuyện về sự tàn bạo của bọn lính Nga đã trở thành huyền thoại.

Vào ngày 30 tháng 4, ngày mà Adolf Hitler và Eva Braun tự sát, các cuộc tấn công bằng súng cối và đạn pháo đã tăng cường vào Reichstag. Vào lúc 10 giờ 50 đêm đó, một lá cờ Liên Xô khổng lồ, mô tả hình búa liềm, đã được cắm  trên nóc tòa nhà. (Ngày hôm sau, việc cắm lá cờ đã được tái hiện cho các phóng viên chụp ảnh.)

Một người lính Nga tạo dáng với lá cờ Liên Xô trên đỉnh Reichstag.

Vào lúc 6 giờ sáng thứ Tư, ngày 2 tháng 5, Tướng Helmuth Weidling, chỉ huy phòng thủ Berlin, đi qua tiền tuyến và đầu hàng Liên Xô. Một nhân chứng người Đức nhớ lại rằng “những chiếc xe tải có loa phóng thanh đã chạy qua các con phố ra lệnh cho chúng tôi ngừng mọi sự kháng cự. Đột nhiên, tiếng súng và tiếng bom ngưng bặt và sự im lặng không thực có nghĩa là một thử thách đã kết thúc đối với chúng tôi và một thử thách khác sắp bắt đầu.”

 Vào ngày 2 tháng 5 năm 1945, Tướng Helmuth Weidling, chỉ huy nỗ lực phòng thủ Berlin, xuất hiện từ một boongke để chính thức đầu hàng.

Ước tính có khoảng 80.000 lính Nga đã chết hoặc mất tích sau Trận chiến Berlin. Thương vong của dân thường rất khó xác định, nhưng ước tính có khoảng 80.000 đến 125.000 công dân Berlin đã thiệt mạng. Số lượng thương vong của quân đội Đức vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. Ước tính ban đầu của Liên Xô là 460.000 người thiệt mạng và 480.000 người bị bắt, nhưng sau đó, ước tính của Đức cho biết có từ 92.000 đến 100.000 người đã chết.

 

LỜI BẠT

THI THỂ CỦA FÜHRER ĐỨC Adolf Hitler và vợ, Eva Braun, ngay lập tức được quấn trong chăn và đưa lên mặt đất để hỏa táng. Hitler sợ rằng nếu không thì thi thể của y có thể trở thành một vật trưng bày trong một bảo tàng của Nga. Thuộc hạ y đã sử dụng bốn mươi gallon xăng để hỏa táng.

Liên Xô đã xác nhận danh tính của các thi thể trong vòng hai tuần, nhưng trong nhiều năm đã giả vờ không biết gì về số phận của Hitler.

Tướng Hoa Kỳ George Patton, chỉ huy Quân đoàn đoàn số 3, đã qua đời vào ngày 21 tháng 12 năm 1945, do tai nạn xe hơi vào đầu tháng tại Mannheim, Đức. Ông đã phục vụ với tư cách là chỉ huy Quân đoàn  số 15 tại Đức do Mỹ chiếm đóng. Ông được chôn cất tại Nghĩa trang Hoa Kỳ ngay bên ngoài Thành phố Luxembourg cùng với hàng nghìn binh lính Quân đoàn  số 3 đã hy sinh trong Trận Bulge và trong cuộc tiến quân đến sông Rhine.  Nơi chôn cất Patton đã trở thành điểm tham quan nổi tiếng sau chiến tranh đến nỗi đám đông du khách đã giẫm đạp lên những ngôi mộ gần đó. Vì vậy, vào ngày 19 tháng 3 năm 1947,  ông đã được cải táng và chuyển đến địa điểm hiện đang an nghỉ, tại một nơi vắng vẻ tách biệt khỏi những hàng dài chữ thập trắng, ngay phía trước nghĩa trang. Địa điểm này cho thấy Patton vẫn đang chỉ huy những người lính của mình.

Một người lính Mỹ đang kiểm tra các bình xăng nằm rải rác trên mặt đất phía trên boongke nơi Hitler và Eva Braun sinh sống.

Quan tài chứa thi thể của Tướng Patton được một xe quân sự chở đến nghĩa trang quân đội Hoa Kỳ ở Hamm, Đức.

Tướng Hoa Kỳ Dwight Eisenhower, tổng tư lệnh của lực lượng Đồng minh ở Châu Âu, đã trở về nhà như một người hùng.  Ông không tin rằng một sĩ quan quân đội nên quan tâm đến chính trị, vì vậy mặc dù có sự ủng hộ rộng rãi của công chúng cho vị trí ứng cử viên tổng thống vào năm 1948, ông đã chấp nhận một vị trí là hiệu trưởng Đại học Columbia tại Thành phố New York thay vì ra tranh cử. Tuy nhiên, ông đã sớm thay đổi quyết định. Ông được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1952 và phục vụ hai nhiệm kỳ. Khi các bác sĩ nói với ông rằng việc ông hút thuốc liên tục là mối nguy hiểm cho sức khỏe, Eisenhower liền bỏ hẳn thói quen hút bốn gói thuốc một ngày của mình một cách đột ngột. Ông qua đời vì suy tim vào ngày 28 tháng 3 năm 1969, ở tuổi 75.

Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower đến dự một cuộc họp tại London, năm 1959.

Tướng Hoa Kỳ Omar Bradley, chỉ huy Quân đoàn số 12, tiếp tục phục vụ cho đến tháng 8 năm 1953, đầu tiên là tổng tham mưu trưởng quân đội và cuối cùng lên đến cấp tướng năm sao. Là chủ tịch đầu tiên của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Bradley đã cố vấn quân sự trong Chiến tranh Triều Tiên. Trong cuộc sống dân sự, ông đã tham vấn với Tổng thống Lyndon Johnson trong Chiến tranh Việt Nam. Bradley qua đời năm 1981 ở tuổi 88.

Một bức chân dung chính thức của Tướng Omar Bradley.

Thủ tướng Anh Winston Churchill có một cuộc sống kéo dài.  Mặc dù thừa cân, nghiện rượu nặng và hiếm khi xuất hiện mà không có xì gà, thủ tướng Anh thời chiến vẫn sống đến 90 tuổi. Ông qua đời vào ngày 24 tháng 1 năm 1965. Lễ tang của Churchill là nghi lễ cấp nhà nước lớn nhất trong lịch sử thế giới vào thời điểm đó, với sự tham dự của các đại biểu từ 112 quốc gia để bày tỏ lòng thành kính. Khi chiếc thuyền gỗ chở quan tài của ông xuôi dòng sông Thames, những chiếc cần cẩu dọc theo tuyến đường thủy hạ thấp cần trục để kính chào.

Thủ tướng Winston Churchill giơ dấu hiệu V theo phong cách của mình để biểu thị VICTORY (Chiến thắng).

Nhà độc tài Nga Joseph Stalin đã cai trị Liên Xô trong gần 30 năm, qua đời vào năm 1953 ở tuổi 73 vì xuất huyết não. Thi hài của ông được ướp xác và đặt trong một lăng mộ, bên cạnh lăng mộ của Vladimir Lenin, người sáng lập Liên Xô.  Nó được trưng bày công khai trong tám năm tại Quảng trường Đỏ của Moscow cho đến ngày 31 tháng 10 năm 1961, khi hài cốt của Stalin được chuyển đến nghĩa trang Bức tường Điện Kremlin.

Nhà lãnh đạo và chỉ huy quân sự người Nga Joseph Stalin.

Tướng Đức Walther Wenck, chỉ huy Quân đoàn số 12, đã bị người Mỹ bắt giữ và giam giữ như một tù binh chiến tranh cho đến năm 1947. Ông qua đời năm 1982 sau một vụ tai nạn ô tô. Ông hưởng thọ 81 tuổi.

Thống chế Đức Wilhelm Keitel, chỉ huy lực lượng vũ trang của Hitler, đã bị xét xử tại phiên tòa xét xử tội ác chiến tranh Nuremberg, bị kết tội và bị treo cổ vào ngày 16 tháng 10 năm 1946.

Tướng Wilhelm Keitel trong phòng giam của mình tại Tòa án quân sự quốc tế ở Nuremberg, Đức.

   Một ngày sau khi Adolf Hitler và Eva Braun qua đời, Bộ trưởng Tuyên truyền Đế chế Joseph Goebbels và vợ ông, Magda, đã đầu độc sáu đứa con của họ và sau đó cùng tự tử

Heinrich Himmler, người đứng đầu SS, đã phản bội Hitler vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến bằng cách gửi một thông điệp cho Eisenhower đề xuất đàm phán đầu hàng. Một trong những điều cuối cùng Hitler làm trước khi tự tử là tước bỏ cấp bậc của Himmler. Himmler đã cải trang và lấy giấy tờ dưới một cái tên khác. Sau khi bị người Nga bắt giữ và giao nộp cho người Anh, ông đã thú nhận danh tính của mình. Ông đã tự tử vào ngày 23 tháng 5 năm 1945, bằng cách cắn một viên thuốc xyanua mà ông đã giấu trong người.

Reichsführer của SS Heinrich Himmler.  Bảo tàng Tưởng niệm Holocaust Hoa Kỳ, do James Blevins cung cấp

Martin Bormann, người đứng đầu văn phòng thủ tướng của Đảng Quốc xã, đã chết khi chạy trốn khỏi Berlin. Hài cốt của ông không được xác định cho đến năm 1973, vì vậy nhiều người nghĩ rằng ông đã trốn thoát. Bormann đã bị xét xử vắng mặt tại Nuremberg và bị kết án tử hình.

Martin Bormann, người đứng đầu văn phòng thủ tướng của Đảng Quốc xã.

Tại phiên tòa xét xử ở Nuremberg, Bộ trưởng Bộ Quân khí Đức Albert Speer đã thừa nhận sử dụng lao động nô lệ tại các nhà máy sản xuất đạn dược mà ông kiểm soát. Speer đã bị kết án hai mươi năm tù. Khi ra tù, ông đã viết một cuốn sách bán chạy nhất, Inside the Third Reich (Bên Trong Đệ Tam Đế Chế). Ông qua đời tại London vào ngày 1 tháng 9 năm 1981.

Albert Speer đang bị xét xử tại Nuremberg.

Tướng Hoa Kỳ George Marshall, người từng giữ chức tổng tham mưu trưởng quân đội và tướng lĩnh quân đội trong chiến tranh, đã qua đời tại Washington, D.C. vào năm 1959 ở tuổi 78. Trong suốt cuộc đời mình, ông đã từng giữ chức ngoại trưởng và bộ trưởng quốc phòng. Ông đã hai lần được tạp chí Time bình chọn là Nhân vật của Năm và giành giải Nobel Hòa bình năm 1953. Di sản bền vững nhất của ông là Kế hoạch Marshall, cho phép châu Âu tái thiết sau chiến tranh với sự hỗ trợ tài chính từ Hoa Kỳ. Tổng thống Harry Truman đã từng nói rằng Marshall là nhân vật vĩ đại nhất của Thế chiến II.

Tướng George Marshall vào năm 1947.

Thống chế Anh Bernard Law Montgomery được phong làm Đệ nhất Tử tước Montgomery của Alamein sau chiến tranh, một tước hiệu ám chỉ đến chiến thắng vang dội của ông trước Thống chế Erwin Rommel ở sa mạc Ai Cập. Montgomery từng là Tổng tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu Đế quốc Anh từ năm 1946 đến năm 1948 và là phó chỉ huy của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương từ năm 1951 đến năm 1958, khi ông nghỉ hưu ở tuổi 71. Ông qua đời năm 1976 ở tuổi 88.

Thống chế Bernard Law Montgomery.

Trung tá Hoa Kỳ Creighton Abe Abrams đã có một sự nghiệp quân sự lâu dài và thành công. Ông đã trở thành một vị tướng bốn sao và là tổng tham mưu trưởng quân đội trong Chiến tranh Việt Nam. Niềm đam mê xì gà suốt đời của Abrams đã đuổi kịp ông, và ông qua đời vì biến chứng sau ca phẫu thuật ung thư phổi vào năm 1974, ngay trước sinh nhật lần thứ 60 của mình.

Chuẩn tướng Hoa Kỳ Anthony McAuliffe, người hùng của Bastogne, luôn được nhớ đến với câu trả lời “Đồ điên!” của mình, đã đi vào lịch sử như một trong những câu trích dẫn tuyệt vời của thời chiến. Sự nghiệp quân sự của ông tiếp tục cho đến năm 1956, khi ông nghỉ hưu và chuyển sang ngành công nghiệp. Ông kể lại rằng mình ngán ngẩm về danh tiếng của mình: “Một buổi tối, một bà lão miền Nam đáng mến đã mời tôi đi ăn tối. Tôi đã có một khoảng thời gian vui vẻ khi nói chuyện với bà và những vị khách quyến rũ của bà.  Tôi đang rất vui vì không có ai đề cập đến ‘sự cố đó’ trong suốt buổi tối. Khi tôi chuẩn bị rời đi và cảm ơn bà chủ nhà vì một buổi tối thú vị, bà ấy bèn trả lời, ‘Cảm ơn và chúc ngủ ngon, Tướng McNut.’ (“Nut” tiếng Anh là “đồ điên”). Ông qua đời năm 1975 ở tuổi 77.

Tướng Anthony McAuliffe ở Bastogne, Bỉ.

PHỤ LỤC

SỰ TRỖI DẬY CỦA HITLER VÀ ĐẢNG QUỐC XÃ

ADOLF HITLER 1889 – 1945 SINH RA Ở Áo. Là một học sinh thờ ơ, Hitler được phép bỏ học và theo đuổi ngành nghệ thuật. Y mơ ước trở thành một kiến ​​trúc sư. Khi Thế chiến thứ nhất nổ ra, Hitler đã nộp đơn xin gia nhập quân đội Đức và được chấp nhận. Y đã dành nhiều năm thời chiến ở phía sau chiến tuyến, truyền đạt thông điệp cho các chỉ huy quyền lực.

Có lẽ mầm mống cho chủ nghĩa bài Do Thái và tính bất dung của y có thể được tìm thấy trong bức thư y viết trong cuộc chiến này. “Những ai trong chúng ta đủ may mắn để thấy lại quê hương của mình sẽ thấy quê hương trong sạch hơn và được thanh tẩy khỏi những tình cảm dành cho ngoại bang.”

Sau chiến tranh, Hitler làm sĩ quan tình báo, đưa tin về các hoạt động của nhiều đảng phái chính trị nhỏ của Đức. Đảng mà y cảm thấy gần gũi nhất là Đảng Công nhân Đức, được thành lập vào năm 1919 với nền tảng là chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa bài Do Thái.  Hitler bắt đầu nói về quan điểm dân tộc cực đoan của mình tại các quán cà phê và quán rượu. Y là một diễn giả có tài, kiểu người mà ai nghe y nói đều bị  mê hoặc. Trong vòng sáu tháng, Hitler đã thuyết phục các nhà lãnh đạo thêm Quốc xã vào tên đảng, và hai năm sau, y trở thành lãnh đạo của Đảng Quốc xã

. Những người ủng hộ Quốc xã trẻ tuổi đứng cạnh một tấm biển có dòng chữ “Adolf Hitler sẽ cung cấp việc làm và bánh mì.” Phía sau họ là những tấm áp phích kêu gọi phụ nữ và công nhân bỏ phiếu cho Đảng Quốc xã.

Hitler quyết định rằng đảng cần một lá cờ mới, một thứ gì đó nổi bật, trông đẹp cả khi in lớn trên áp phích và in nhỏ trên huy hiệu đồng phục. Trong cuốn tự truyện của mình, Mein Kampf, Hitler mô tả lá cờ mới của Đức Quốc xã. “Màu đỏ là ý tưởng xã hội của phong trào, màu trắng là ý tưởng dân tộc, trong chữ vạn là sứ mệnh đấu tranh giành chiến thắng cho người Aryan, và, theo cùng một cách, chiến thắng của ý tưởng về công việc sáng tạo, vốn luôn luôn và sẽ luôn luôn là bài Do Thái.” Chữ vạn là một biểu tượng có từ nhiều thế kỷ trước, trước khi được Đức Quốc xã sử dụng, có nghĩa là sự sống và may mắn.

Một ban công treo cờ Đức Quốc xã và cờ của Đế quốc Đức, năm 1933.

Do Hiệp ước Versailles chấm dứt Thế chiến thứ nhất, Đức phải trả nhiều tiền hơn số tiền mà họ có để bồi thường, và công dân của nước này phải chịu cảnh thất nghiệp trên diện rộng. Khi dân chúng lo lắng về sinh kế, nhiều người bị thu hút bởi các chính trị gia có quan điểm cấp tiến, cứng rắn và cất tiếng nói một cách đầy tin tưởng hứa hẹn các kế hoạch của họ sẽ giải quyết các vấn đề của người dân. Hitler, đại diện cho Đảng Quốc xã, đã có niềm tin như vậy. Y đã tranh cử tổng thống Đức vào năm 1932 và đứng thứ hai.  Người chiến thắng, Paul von Hindenburg, đã bổ nhiệm Adolf Hitler làm người đứng đầu chính phủ liên minh vào năm 1933, một chức vụ được gọi là thủ tướng. Sử dụng quyền lực của thủ tướng, Hitler đã gây sức ép buộc quốc hội thông qua Đạo luật cho phép ông ta bỏ qua hiến pháp và trao cho các sắc lệnh của mình quyền lực của luật pháp. Ông ta buộc các đảng phái chính trị khác phải giải tán. Sau khi von Hindenburg qua đời vào năm 1934, Hitler tự bổ nhiệm mình làm tổng thống và thủ tướng.

Hitler sẽ tiếp quản chính phủ Đức từ Paul von Hindenburg (bên trái), 1933.

Bắt đầu từ ngày 7 tháng 4 năm 1933, luật pháp Đức qui định rằng bất kỳ cá nhân nào muốn làm công chức ở Đức hoặc muốn trở thành thành viên của Đảng Quốc xã đều phải có giấy chứng nhận về sự thuần khiết chủng tộc. Đức Quốc xã coi trọng những người Aryan, được cho là có nguồn gốc Bắc Âu và Đức.  Những đặc điểm xác định chủng Aryan là mắt xanh, tóc vàng, vóc dáng cao lớn, khỏe mạnh và sắc tố da trắng Âu châu. Dòng máu Aryan được cho là thuần khiết hơn vì nó không hòa lẫn với dòng máu của các dân tộc khác

Một gia đình Do Thái, đeo huy hiệu Ngôi sao David bắt buộc, bị trục xuất khỏi khu ổ chuột vào năm 1939.

Chính sách bài Do Thái của Hitler đã khiến hàng trăm nghìn công dân Do Thái di cư khỏi Đức, một con số bao gồm 83 phần trăm tất cả người Do Thái Đức dưới 21 tuổi. Nhưng không ai được phép rời đi sau khi chiến tranh nổ ra.

Đức xâm lược Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939. Anh và Pháp ngay lập tức tuyên chiến với Đức. Thế chiến II đã bắt đầu. Vào ngày 30 tháng 1 năm 1942, Hitler đã nói với người dân Đức, “Cuộc chiến này có thể kết thúc theo hai cách. Hoặc người Aryan bị tiêu diệt hoặc người Do Thái phải biến mất khỏi Châu Âu.”

Giờ đây bị mắc kẹt ở Đức và các quốc gia mà Đức Quốc xã chiếm đóng, những người châu Âu còn lại có tổ tiên là người Do Thái đang bị vây bắt và sát hại một cách có hệ thống. Dachau – trại tập trung đầu tiên, mở cửa vào năm 1933 để giam giữ các tù chính trị – sớm phát triển thành trại tử thần.

Đảng Quốc xã đã bị cấm hoạt động vào cuối Thế chiến II.  Nhiều thành viên quyền lực nhất của nó đã bị đưa ra xét xử và kết án vì giết chết khoảng sáu triệu người Do Thái và bốn đến sáu triệu kẻ thù khác của nhà nước, chẳng hạn như người Digan Roma, người đồng tính và người khuyết tật.

BIỂU TƯỢNG CỦA CHỮ VẠN

TRONG HÀNG NGHÌN NĂM TRƯỚC KHI Đảng Quốc xã trỗi dậy, chữ vạn là biểu tượng của điều tốt và của mặt trời. Nó bắt nguồn từ một từ tiếng Phạn, svastika, có nghĩa là khỏe mạnh. Được tìm thấy trong các nền văn hóa cổ đại trên khắp thế giới. bao gồm cả thành Troy cổ đại vào năm 1000 trước Công nguyên. Tibet, Hy Lạp, Châu Phi, Ấn Độ, Trung Quốc và các tín ngưỡng của người Mỹ bản địa – ý nghĩa của nó phần lớn đã thay đổi do liên quan đến Hitler và Đảng Quốc xã.

Một số người Đức thế kỷ XIX tin rằng chữ vạn đại diện cho bản sắc Aryan thuần túy.  Họ bắt đầu sử dụng nó trên tạp chí và áp phích như một biểu tượng bí mật của các lý thuyết dân tộc chủ nghĩa. Hitler nghĩ rằng biểu tượng này sẽ trông ấn tượng trên lá cờ của Đảng Quốc xã. Vào ngày 7 tháng 8 năm 1920, nó đã được một hội nghị của Đảng Quốc xã thông qua.

Những người theo đạo Phật và đạo Hindu tiếp tục sử dụng hình dạng của chữ vạn trong nghệ thuật và trang trí đền thờ của họ để biểu thị sự vô hạn và sự sống.

Chữ vạn của Đức Quốc xã

Chữ vạn của Đạo Phật (ngược chiều với chữ vạn của Đức Quốc xã)

TẦM VÓC, SỨC KHỎE VÀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CỦA HITLER

ADOLF HITLER CAO NĂM BỘ tám inch (1.72 m) và nặng khoảng 160 cân Anh (72 kí). Mặc dù không thể biết chắc chắn, nhưng có vẻ như Adolf Hitler đã mắc bệnh từ khi còn trẻ. Người ta biết rằng y từng phàn nàn về chứng đau bụng và bị nhiễm trùng phổi khiến y không thể học trung học trong một thời gian. Nhiều nhà nghiên cứu hình như tin rằng Hitler mắc bệnh Parkinson vô căn. Vô căn đơn giản có nghĩa là không rõ nguyên nhân. Những người mắc bệnh Parkinson sẽ run, cứng cơ và chậm chạp. Những chứng nhân  ​​mô tả Hitler run rẩy đến mức không thể cầm nĩa, phải dùng tay trái để di chuyển tay phải và khom lưng khi đi. Đối với nhiều người, bệnh Parkinson cuối cùng dẫn đến mất trí nhớ. Đến cuối tháng 9 năm 1944, trí nhớ của Hitler bắt đầu suy giảm.  Y không thể nhớ tên một số người.

Hitler cũng bị chứng mất ngủ; các vấn đề về mắt khiến y nhạy cảm với ánh sáng mạnh; cơn đau thắt bụng dữ dội, mãn tính. và bệnh chàm, một tình trạng da ngứa, có vảy.

Do hậu quả của vụ ám sát vào ngày 20 tháng 7 năm 1944, khi một quả bom phát nổ gần bàn làm việc của y, màng nhĩ phải của Hitler bị thủng và cánh tay phải bị liệt tạm thời. Một số nhà sử học y khoa tin rằng Tiến sĩ Theo Morrell, người mà Hitler lần đầu tiên gặp vào năm 1937 và sau đó nói rằng mình không thể sống thiếu ông ta, đã tiêm cho Hitler methamphetamine và các loại thuốc khác với tần suất tăng dần khiến y trở thành nghiện. Chúng ta sẽ không bao giờ biết được.

Trong những năm làm Führer, một số phụ nữ bị buộc làm công việc nếm thức ăn cho Hitler. Năm 2013, một phụ nữ, khi đó đã 95 tuổi, đã nói với một tờ báo Anh. “Tất cả đều là đồ chay, những thứ tươi ngon nhất, từ măng tây đến ớt chuông và đậu, ăn kèm với cơm và salad. Khi phục vụ cho ông ta, tất cả được sắp xếp trên một đĩa.. Không có thịt, và tôi không nhớ có bất kỳ loại cá nào.”

Có thể là, khi Hitler già đi, y đã áp dụng chế độ ăn chay, có lẽ vì y cảm thấy như thế sẽ làm tăng sự tinh khiết của cơ thể.

RIA MÉP KIỂU BÀN CHẢI ĐÁNH RĂNG

RlA MÉP CỦA HITLER ĐÃ TRỞ THÀNH biểu tượng của cái ác. Nhưng đây không phải là kiểu râu đầu tiên của Hitler. Những bức ảnh đầu tiên cho thấy y không để râu, sau đó là ria mép rậm dài vểnh lên ở phần đuôi, và cuối cùng là ria mép nhỏ dưới mũi.

Một số nhà sử học thời trang cho rằng người Mỹ đã mang kiểu ria mép này đến châu Âu. Chắc chắn Charlie Chaplin đã để ria mép từ năm 1915, và khi đó ông đã là một diễn viên rất nổi tiếng. Ở châu Âu, một số nhân vật thể thao nổi tiếng đã để ria mép nhỏ, cũng như những người đàn ông thượng lưu ở Berlin và Vienna.

Charlie Chaplin

Không ai biết tại sao Hitler lại chọn kiểu ria mép này. Một số người nói rằng y được yêu cầu cạo ria mép dài rậm trong Thế chiến thứ nhất vì nó cản trở lớp niêm phong của mặt nạ phòng độc mà y phải mang theo quy định. Những người khác cho rằng trông thấy giới đàn ông giàu có, quyền lực để râu như vậy và muốn bắt chước họ.

 BINH SĨ VÀ CẢNH SÁT ĐỨC:

WEHRMACHT, SS VÀ GESTAPO

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA WEHRMACHT (Quân đội Đức Quốc xã) và SS có thể được tóm tắt trong tên của chúng. Wehrmacht có nghĩa là lực lượng phòng thủ trong tiếng Đức, trong khi SS, hay Schutzstaffel, được dịch đại khái là đội bảo vệ. như trong, đội bảo vệ Adolf Hitler và hệ tư tưởng của Đảng Quốc xã.

Wehrmacht bao gồm tất cả các lực lượng vũ trang Đức – Lục quân Heer, hải quân Kriegsmarine và không quân Luftwaffe. cũng như SS. Mỗi lực lượng đều mặc quân phục khác nhau, SS thường có biểu tượng SS trên cổ áo hoặc ngụy trang. Mặc dù là một nhánh của quân đội, nhưng lính SS đã thề trung thành với Adolf Hitler cho đến chết –   họ có thể được lệnh làm bất cứ điều gì theo đúng nghĩa đen nhân danh Führer. Điều này khiến lính SS thực hiện hàng loạt hành động khủng bố và tàn bạo vô lương tâm. những hành động bao gồm giết hại tù binh chiến tranh, người Do Thái và những thường dân vô tội khác. Totenkopf (Đầu lâu và xương bắt chéo)  gắn trên mũ SS có nghĩa là bạn sẽ luôn sẵn sàng đặt mình vào thế nguy hiểm vì mạng sống của toàn thể cộng đồng, theo lời của thủ lĩnh SS Heinrich Himmler.

Một cuộc diễu hành nghi thức của lính SS diễn ra trước cuộc họp, nơi Hitler sẽ có bài phát biểu.

Hành vi man rợ của lính SS tại các trại tập trung hoàn toàn trái ngược với hành vi của những người lính Wehrmacht như Thống chế Erwin Rommel, người nghiêm cấm quân đội mình đối xử tồi tệ với thường dân. Rommel và các chỉ huy Đức khác đã phớt lờ lời nhắc nhở của SS về việc giết hại người Do Thái và tù binh địch.  Theo đó, nhiều chiến binh Đức đã tham gia vào các hành động tàn bạo đối với dân thường, đặc biệt là chống lại người dân Ba Lan, Pháp và Liên Xô. “Tôi đã biết có một sự khác biệt thực sự giữa người lính và sĩ quan Đức chính quy, với Hitler và nhóm tội phạm của ông ta,” Dwight Eisenhower đã nói sau này. “Người lính Đức như vậy không mất đi danh dự của mình. Thực tế là một số cá nhân đã phạm phải những hành động ô danh và đê tiện trong chiến tranh, chứ không phải phần lớn binh lính và sĩ quan Đức.”

Gestapo là một nhánh của SS cũng nằm dưới sự giám sát của Heinrich Himmler. Là cảnh sát mật vụ chính thức của Đức và thường mặc thường phục, các điệp viên Gestapo đã khủng bố và giết hại bất kỳ ai có thể là mối đe dọa đối với Đảng Quốc xã. Ngay cả những người Đức tuân thủ luật pháp cũng sống trong nỗi sợ hãi khi Gestapo đến thăm vì các sĩ quan của họ hoạt động ngoài luật pháp thông thường của nhà nước. Trụ sở Gestapo có các phòng giam ngầm, nơi giam giữ tù nhân trước khi bị tra tấn. Ngày nay, tàn tích của những phòng giam đó nằm bên dưới di tích lịch sử Địa hình Khủng bố ở Berlin, được xây dựng trên khu phố lớn từng là trụ sở Gestapo. Các tòa nhà bao gồm trụ sở của Himmler đã bị phá hủy. Mọi dấu vết của di sản khủng khiếp đó đã được thay thế bằng một cảnh quan khắc nghiệt của những viên đá xám. Ngoại trừ trung tâm lưu trữ tài liệu và di sản giết người được thể hiện bằng các phòng hầm khai quật của trụ sở SS, toàn bộ khu phố sẽ không bao giờ được phát triển nữa. 

Tàn tích của trụ sở Gestapo ở Berlin, chụp năm 1948.

JOSEPH STALIN VÀ QUÂN ĐỘI NGA

NGƯỜI NGA LÀ ĐỐI TÁC KHÔNG DỄ DÀNG với Hoa Kỳ và các nước Tây Âu. Joseph Stalin, thủ tướng Liên Xô, vừa là một nhà độc tài vừa là một người cộng sản. Ban đầu, ông đã ký một hiệp ước bất xâm lược với Đức, và Nga đã cung cấp cho Đức nhiều loại dầu và lúa mì rất cần thiết. Tất cả đã dừng lại khi Đức xâm lược Nga.

Vào ngày 22 tháng 6 năm 1941, sử dụng hơn 3 triệu quân, 19 sư đoàn xe tăng, 3.000 xe tăng, 2.500 máy bay và 7.000 khẩu pháo, Hitler đã tấn công quốc gia mà ông đã yêu cầu gia nhập phe Trục chỉ một tháng trước đó.  Trong hành trình tìm kiếm sự thống trị thế giới, Hitler nhận thấy rằng bên cạnh Hoa Kỳ, quốc gia trung lập vào thời điểm đó, và Anh, quốc gia đang giành chiến thắng trong cuộc chiến trên không với Đức, mối đe dọa lớn nhất của ông là Nga ở phía đông. Để chống lại đội quân lớn nhất thế giới, Đức sẽ phải dựa vào kỹ năng chiến tranh chớp nhoáng của mình. nhanh chóng tiêu diệt sức mạnh không quân của đối phương ngay từ đầu cuộc xâm lược, vô hiệu hóa các hệ thống liên lạc và xâm nhập vào phía sau phòng tuyến của kẻ thù để bao vây họ. Và người Đức đã thực hiện được nhiều điều trong số các mục tiêu này. Vào ngày đầu tiên, quân Đức đã phá hủy hoặc vô hiệu hóa 1.000 máy bay Nga. Chỉ trong vài ngày, họ đã tiến sâu vào đất Nga đến 300 dặm và đang hướng đến Moscow.

Sau đó, Hitler đã thay đổi chiến lược. Ông quyết định tập trung lực lượng xâm lược của mình vào miền nam nước Nga và Ukraine để tiếp cận các nguồn tài nguyên kinh tế của họ. Chỉ sau khi làm chủ được Ukraine, ông mới cho phép quân đội của mình tiến về Moscow vào mùa thu năm đó. Đến tháng 12 năm 1941, quân Đức đã cách Điện Kremlin 20 dặm, nhưng mùa đông bắt đầu và quân Nga vừa hoàn tất khóa huấn luyện từ Siberia đến đã chặn đứng bước tiến của họ.

Một đơn vị xe tăng Đức tiến vào Nga, tháng 7 năm 1941.

Vào năm 1942, Hitler đã phát động một cuộc tấn công hai mũi, cử một nhóm quân đến Baku, một khu vực giàu dầu mỏ, và một nhóm khác hướng đến Stalingrad. Tại Stalingrad, quân Đức đã phát hiện ra những đối thủ tàn bạo, hung dữ, những kẻ chiến đấu để giết người, thường ở cự ly gần.  Hồng quân, như người Nga vẫn gọi, đã phục hồi sau những tổn thất và mất tổ chức ban đầu, đã đánh bại quân Đức một cách thuyết phục trong một trận chiến kéo dài từ tháng 7 năm 1942 đến tháng 2 năm 1943.

Sau Trận Stalingrad, quân Đức đã rút lui. Quân Nga đã nổi tiếng về bạo lực và lạm dụng, nhưng người Đức cũng vậy. Trong thời gian họ chiếm đóng các ngôi làng của Nga, đã có những câu chuyện về sự áp bức tàn bạo, nạn đói và bạo lực. Khi người Nga đuổi theo quân Đức đến biên giới của họ, Hitler đã ra lệnh cho công dân Đức phá hủy bất cứ thứ gì mà người Nga có thể sử dụng được .

Những người lính chiến đấu từng ngôi nhà trong Trận Stalingrad, Nga, năm 1942. 1943.

Đến năm 1943, người Nga đã chiến đấu với Đức Quốc xã trên đất Liên Xô trong hai năm. Stalin cần các Đồng minh của mình giảm bớt áp lực cho quân đội họ bằng cách thu hút các nỗ lực của Đức ở nơi khác.  Mặc dù Anh và Hoa Kỳ đã đồng ý tấn công Sicily và mở một mặt trận ở châu Âu, Stalin vẫn tiếp tục thúc đẩy một cuộc xâm lược lớn hơn ở phía bắc.

Với tài lực của quân đội Đức bị chia cắt thêm sau ngày D vào tháng 6 năm 1944, Nga đã thành công trong việc tiến vào Đông Âu, chiếm một số vùng của Bulgaria, Romania, Ba Lan, Litva, Latvia và Estonia.

Đến tháng 4 năm 1945, Hồng quân đã hoàn thành cuộc bao vây Berlin, về cơ bản đã chấm dứt chiến tranh ở châu Âu. Người ta ước tính rằng, trong số 168 triệu người Liên Xô, có 20 triệu binh lính và thường dân đã thiệt mạng trong khoảng thời gian từ ngày 22 tháng 6 năm 1941 đến ngày 2 tháng 5 năm 1945.

Mối quan hệ không mấy dễ chịu giữa Nga và các Đồng minh phương Tây ngày càng trở nên căng thẳng do những bất đồng về việc quản lý châu Âu sau chiến tranh. Sự ngờ vực ngày càng tăng giữa Hoa Kỳ và Liên Xô cuối cùng đã dẫn đến Chiến tranh Lạnh.

TỔ ĐẠI BÀNG

NHẬN SINH NHẬT LẦN THỨ NĂM MƯƠI CỦA FÜHRER, chính quyền Đức Quốc xã đã thuê 4000 công nhân để xây dựng một lâu đài trên đỉnh núi. Tòa nhà xa hoa này, dành cho các buổi tiếp tân ngoại giao cũng như nơi Hitler tận hưởng riêng tư, nằm trên đỉnh một ngọn núi ở dãy Alps Bavaria. Ngôi làng gần nhất, Berchtesgaden, là nơi Hitler viết tập thứ hai của cuốn tự truyện của mình, Mein Kampf, hay Cuộc đấu tranh của tôi. Một số cố vấn thân cận nhất của ông cũng có nhà ở khu vực này.

Quan khách đến Tổ đại bàng bằng con đường quanh co đi qua năm đường hầm được đào từ lòng núi. Từ bãi đậu xe, một đường hầm vào vách đá dẫn đến một thang máy đưa họ lên bốn trăm bộ cuối cùng.  Ở đó, họ có thể được chỉ cho xem một phòng ăn có sức chứa ba mươi người, ăn bằng đồ bạc khắc tên viết tắt của Hitler và chiêm ngưỡng lò sưởi phủ đá cẩm thạch đỏ mà đồng minh Benito Mussolini của Ý đã tặng cho Führer. Vị khách đến thăm ngôi nhà thường xuyên nhất không phải là Hitler mà là tình nhân của ông, Eva Braun. Führer không thích độ cao và thường xuyên bày tỏ lo ngại về sự an toàn của thang máy.

Những người lính Mỹ và Pháp đến thăm tàn tích  Tổ Đại bàng vào ngày 4 tháng 5 năm 1945.

Khi chiến tranh sắp kết thúc và hàng triệu quân nhân Mỹ và Anh đã có mặt ở Đức, Tổ Đại bàng đã trở thành một điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng. Có tới ba nghìn người đến thăm mỗi ngày trong tuần. và gấp ba lần vào cuối tuần. Binh lính đã vơ vét bất cứ thứ gì họ có thể tìm thấy để giữ làm quà lưu niệm.

 BÊN TRONG HẦM CỦA HITLER

Máy bay ném bom của Mỹ đã càn quét BERLIN vào ngày 3 tháng 2 năm 1945, một trong hàng trăm cuộc không kích sẽ san bằng thành phố. Mục tiêu ngày hôm đó là khu vực nội thành, nơi có các văn phòng chính phủ và bộ. Phủ Thủ tướng Đế chế, văn phòng chính thức và căn hộ của Hitler, nằm trong tầm ngắm của máy bay ném bom. Thiệt hại ngày hôm đó, bao gồm cả sự phá hủy từ bom cháy đánh vào căn hộ của Hitler, là rất lớn. Nhưng Hitler và đội ngũ của ông đã chuyển đến boongke bên dưới khuôn viên.

Boongke ban đầu là nơi trú ẩn không kích. Nó đã phát triển thành một mê cung hai tầng gồm phòng hội nghị, phòng ngủ, bếp và phòng ăn, bệnh xá và văn phòng. Ở một góc của boongke, nhô lên trên mặt đất, là một tháp quan sát. Phía trên boongke, trong công viên bao quanh phủ thủ tướng, súng chống tăng và súng cối canh gác. Từ tháng 2 đến tháng 4, thỉnh thoảng Hitler bước ra khỏi boongke để dắt Blondi đi dạo trong công viên.

Boongke là một nơi ảm đạm để sống và làm việc. Các bức tường là bê tông xám. Có rất ít đồ trang trí ở bất cứ đâu ngoại trừ tiền sảnh của căn hộ của Hitler.  và ánh sáng nhân tạo khiến mọi người trông nhợt nhạt và bệnh hoạn. Một máy phát điện diesel giữa các tầng cung cấp ánh sáng, không khí trong lành, máy bơm nước và nhiệt.

Trong hai tháng rưỡi, các cố vấn thân cận nhất của Hitler cũng sống ở đây. Hitler họp với nhân viên của mình trong phòng họp hàng giờ mỗi ngày, vạch ra một chiến thắng tiềm năng cho Đệ tam Đế chế.

Tầng đầu tiên, hay Vorbunker, có văn phòng cho người làm bản đồ, nhân viên vô tuyến, thư ký, cũng như phòng ngủ, bệnh xá, bếp và phòng ăn. Xuống cầu thang xoắn ốc là khu nhà riêng của Hitler và phòng họp. Khu vực thứ ba của khu phức hợp là hầm để xe và phòng cho tài xế.

TIỀN MẶT, NGHỆ THUẬT VÀ TÀI SẢN BỊ ĐỨC PHÁT XÍT ĐÁNH CẮP

SAU KHI VƯỢT SÔNG RHINE vào tháng 3 năm 1945, quân Đồng minh đã trải dài khắp nước Đức, chiến đấu mở đường đến Berlin. Họ kiểm tra mọi chuồng cỏ khô, đường nông thôn nhỏ, ngôi nhà bỏ hoang, nhà thờ, hang động và mỏ ngầm để tìm lính bắn tỉa Đức.  Họ chiến đấu để chiếm mỗi thị trấn khi họ tiến quân. Đó là công việc chậm chạp, thường đáng sợ sử dụng hàng triệu binh lính khi chiến tranh sắp kết thúc. Họ cũng phỏng vấn người dân và công nhân về những khu vực họ đi qua.

Tại Merkers, Đức, một thị trấn cách Berlin hai trăm dặm về phía tây nam, người dân thường nói với binh lính Hoa Kỳ rằng họ đã nghe nói về một lượng lớn vàng được cất giữ trong mỏ muối ở đó. Thông tin này đã được truyền lên chuỗi chỉ huy. Lần kiểm tra mỏ đầu tiên cho thấy một bức tường gạch dày với một cánh cửa hầm nặng. Chỉ huy ra lệnh cho nổ tung cánh cửa.

Bên trong là một cảnh tượng gần như không thể tưởng tượng được. Hàng hàng thỏi vàng được đóng gói cùng nhau, những túi tiền từ nhiều quốc gia châu Âu. Một cuộc kiểm kê sơ khởi cho thấy có 8.198 thỏi vàng; 55 hộp vàng thỏi đóng thùng; hàng trăm túi đồ bằng vàng; hơn 1.300 túi tiền vàng Reichsmark, đồng bảng vàng Anh và đồng franc vàng Pháp. 711 túi đồng vàng 20 đô la Mỹ. và hàng trăm túi tiền giấy nước ngoài. 

Binh lính Hoa Kỳ đang kiểm tra bức tranh của Édouard Manet vào ngày 25 tháng 4 năm 1945. Bức tranh nằm trên những chiếc xe đẩy dùng để chuyển muối ra khỏi mỏ

 Vàng đã được chuyển đến mỏ để bảo quản an toàn sau khi quân Đồng minh bắt đầu thực hiện các phi vụ ném bom liên tục, gần như san bằng ngân hàng trung ương Đức, Reichsbank ở Berlin. Người Đức cần tiền để trả lương cho binh lính, mua vật tư cho quân đội hùng mạnh và duy trì nền kinh tế của đất nước ổn định. Trong số vàng cất giấu có vàng và tiền tệ cướp được từ các ngân hàng ở châu Âu trong chiến dịch tiến về phía tây của Đức Quốc xã.  

 Khi khám phá sâu hơn trong mỏ và các đường hầm, binh lính phát hiện ra những túi tài sản cá nhân lấy từ các nạn nhân trong trại tử thần cũng như các tác phẩm nghệ thuật có giá trị từ các bảo tàng Đức. Cuối cùng, người ta xác định rằng một phần tư tài sản trong số 14 bảo tàng nằm ở mỏ Merkers. 

Tướng Eisenhower đã đến thăm mỏ vào ngày 12 tháng 4 năm 1945, cùng với các tướng Bradley và Patton. Cùng đi với họ là các nhiếp ảnh gia từ Quân đoàn Tín hiệu và các phóng viên tin tức để ghi lại quá trình khám phá. Eisenhower quyết định di chuyển kho báu ra khỏi mỏ và chuyển ra phía sau để bảo vệ, lập danh mục đầy đủ và giải phóng những người lính đang canh gác mỏ để quay trở lại chiến đấu ở tiền tuyến. 11.000 container được vận chuyển bằng xe tải đến Frankfurt, với sự bảo vệ liên tục của máy bay.

Kho báu đã được phát hiện trong các hang động và mỏ khác trong khu vực. ở Siegen, Ransbach và Bernterode. Trong một mỏ muối cũ ở Altaussee, Áo, Hitler đã cất giấu các tác phẩm nghệ thuật đánh cắp từ các bảo tàng, nhà thờ và nhà riêng trong các cuộc xua quân của y trên khắp châu Âu. Y đã ôm ấp những kế hoạch lớn nhằm  xây dựng một bảo tàng ở Linz, Áo, nơi y đã sống khi còn nhỏ, để trưng bày nghệ thuật và dựng tượng đài cho triều đại của mình. Kho báu đó cùng việc phát hiện và giải cứu nó được trình bày trong các cuốn sách The Rape of Europa của Lynn H. Nicholas và The Monuments Men của Robert M. Edsel, và trong các bộ phim tài liệu và phim truyện có cùng tên sau đó. Mỗi cuốn kể về câu chuyện của các thành viên của Bộ phận Tượng đài, Mỹ thuật và Lưu trữ của quân đội Đồng minh, những người có nhiệm vụ cứu càng nhiều tác phẩm nghệ thuật bị cướp bóc càng tốt và ngăn chặn, nếu có thể, việc đánh bom các di tích lịch sử.

Sau chiến tranh, một số tiền bị đánh cắp từ các ngân hàng châu Âu đã được trả lại cho họ. Phải đến năm 1998, ủy ban được thành lập sau chiến tranh mới hoàn thành việc phân phát vàng. Cuối cùng, còn lại khoảng 60 triệu đô la. Các quốc gia có yêu cầu về số tiền này đã đồng ý trao số tiền đó cho Quỹ cứu trợ người bị Đức Quốc xã đàn áp, nơi cung cấp viện trợ cho những người từng là nạn nhân của Đức Quốc xã. 

Một người lính Hoa Kỳ đang kiểm tra tác phẩm nghệ thuật và các chiến lợi phẩm khác được lưu trữ trong một nhà thờ ở Ellingen, Đức, vào ngày 24 tháng 4 năm 1945.

TRẠI TẬP TRUNG. AUSCHWITZ-BIRKENAU

PHÁT XÍT ĐÃ XÂY DỰNG 20.000 trại bắt đầu từ năm 1933. Một số là trại lao động, nơi tù nhân bị giam giữ như nô lệ và bị ép làm việc trong các nhà máy, sản xuất hàng hóa phục vụ cho nỗ lực chiến tranh. Những trại khác là trại tù binh chiến tranh dành cho lính địch bị bắt. Và một số được xây dựng với mục đích rõ ràng là tiêu diệt con người.

Trong khi thuật ngữ “trại tập trung” được sử dụng rộng rãi để mô tả nhiều nơi mà Đức Quốc xã tra tấn và giết kẻ thù của chúng, có thật và tưởng tượng, sáu cơ sở. Chelmno, Belzec, Sobibor, Treblinka, Majdanek và AuschwitzBirkenau. cũng mang thuật ngữ trại tử thần vì hầu hết tù nhân đều bị giết ngay khi đến nơi. 

Auschwitz-Birkenau phục vụ mục đích kép là lao động cưỡng bức và tiêu diệt. Có năm lò hỏa táng tại Auschwitz. Mỗi lò có một phòng để xử lý nạn nhân bằng khí độc và lò thiêu xác. Khi số lượng xác chết quá nhiều so với khả năng xử lý của lò, các xác chết sẽ được thiêu ngoài trời. Một hố lớn phía sau Krema V phục vụ mục đích này.

Sơ đồ trại Auschwitz-Birkenau

Auschwitz-Birkenau được xây dựng trên một đầm lầy, vì vậy điều kiện trong doanh trại chật chội luôn ẩm ướt. Đường ray xe lửa chạy vào trung tâm trại, đưa tù nhân mới vào nhiều lần mỗi ngày. Khi xe dừng lại ở đường dốc dỡ hàng, tù nhân được lệnh để lại đồ đạc của mình và xếp hàng để xử lý. Trong hầu hết thời gian chiến tranh, phụ nữ có con, cũng như người già, được chỉ định để tiêu diệt ngay lập tức. Sau tháng 10 năm 1944, hàng nghìn tù nhân Auschwitz đã được chuyển đến các trại khác khi quân Đức bắt đầu tiêu hủy bằng chứng về tội ác này.

Đường ray xe lửa dẫn qua cổng trại tử thần Auschwitz-Birkenau ở Ba Lan. 

Trước cổng vào trại Auschwitz có treo khẩu hiệu: Lao động giúp bạn tự do. Trước khi trở thành trại tử thần Auschwitz là trại lao động.

Tổng cộng, 80 phần trăm những người sống sót sau hành trình kinh hoàng từ nhà đến trại Auschwitz đã bị đưa thẳng đến phòng hơi ngạt – chỉ những ai được coi là có khả năng làm việc như nô lệ mới được phép sống.

Người Do Thái đến Auschwitz. Họ được chia thành hai hàng – một hàng dành cho người già, phụ nữ và trẻ em, hàng còn lại dành cho nam giới.

Những người được chọn để sống được cấp đồng phục mặc cả ngày lẫn đêm – áo khoác cho phụ nữ, quần và áo sơ mi cho nam giới. Giày dép thông thường được thay thế bằng guốc gỗ hoặc da, nhưng không có tất, khiến nhiều tù nhân bị phồng rộp, cuối cùng dẫn đến nhiễm trùng. Điều này thường kết thúc bằng cái chết chậm rãi và đau đớn vì hoại tử.

Phụ nữ và trẻ em được quân đội Liên Xô giải thoát khỏi trại Auschwitz vào năm 1945. Tù nhân được yêu cầu mặc đồng phục mỏng, sọc. Bất kỳ quần áo nào khác có thể mặc bên trong để giữ ấm.

Không có công việc nào tốt trong trại tập trung. Một số tù nhân được chọn làm kapos. thủ lĩnh của những tù nhân khác. Kapos được cấp thêm khẩu phần ăn nhưng phải sống với nhận thức rằng họ đang hợp tác với Đức Quốc xã bằng cách do thám những bạn tù của mình, trên thực tế ra lệnh tử hình những ai vượt quá giới hạn.

Công việc tồi tệ nhất thuộc về những tù nhân trông khỏe mạnh và đủ sức để làm Sonderkommandos.  Họ sẽ làm việc trong lò, tuân lệnh sĩ quan SS khi hắn ta ra lệnh đổ đầy Zyklon B vào phòng hơi ngạt. Sau đó, họ phải mang xác chết từ phòng hơi ngạt đến lò hỏa táng để thiêu. Mỗi ngày họ lại càng yếu đi vì khẩu phần ăn ít ỏi ở trại Auschwitz. Và một khi họ không còn có thể làm việc được nữa, chính họ sẽ bị dẫn vào phòng hơi ngạt lần cuối.

Hàng trăm doanh trại là nơi giam giữ những tù nhân bị hành hạ dã man. Có ánh sáng trời nhưng không có cửa sổ. Sàn nhà là đất, và tù nhân ngủ trên những chiếc giường tầng bằng gỗ xếp chồng lên nhau ba tầng, chỉ phủ giẻ rách. Chuột ở khắp mọi nơi. Những người bị giam giữ liên tục gãi chấy rận bám trên quần áo và tóc của họ.

Thức ăn rất quý giá. và được tích trữ. Bữa sáng chỉ là một tách cà phê hoặc trà giả. Bữa trưa là một tách súp loãng. Và bữa tối là một miếng bánh mì đen và một lát xúc xích.  Người ta thường ăn một miếng bánh mì, rồi giấu phần còn lại vào lớp vải lót quần áo cho đến sáng. Khi một tù nhân chết vào ban đêm, thi thể sẽ nhanh chóng được tìm kiếm xem có bánh mì nào bị giấu không.

Toàn bộ khu phức hợp Auschwitz được bao quanh bởi hàng rào thép gai và được giám sát bởi lính SS có vũ trang đứng gác trong gần ba chục tháp canh. Khu Birkenau nằm sau một khu rừng, và bất kỳ tù nhân nào có thể tìm cách vượt qua hàng rào để chạy trốn đều bị bắn ngay tại chỗ. Bắt đầu từ năm 1934, SS của Hitler được giao phụ trách các trại tập trung, nơi sẽ giết hàng triệu người Do Thái, người đồng tính, người Digan Roma, người khuyết tật và tù nhân chính trị một cách có hệ thống. Hành vi man rợ của SS đã được ghi lại để cả thế giới thấy khi các trại được giải phóng. Những hình ảnh từ những ngày đó và lời khai của những nạn nhân sống sót đã được sử dụng tại các phiên tòa Nuremberg làm bằng chứng về hành vi tồi tệ nhất của con người đối với con người.

 Một doanh trại ở Bergen Belsen, được trang trí bằng hình ảnh Hitler cỡ tường, bị cháy sau khi được giải phóng và tất cả tù nhân được chuyển đi.

Hàng rào thép gai quanh trại Auschwitz

 

TÒA ÁN NUREMBERG

Vào ngày 20 tháng 11 năm 1945, TẠI PHÒNG XÉT XỬ 600 của Cung điện Công lý ở Nuremberg, Đức, phiên tòa đầu tiên về tội ác chiến tranh ở Nuremberg đã bắt đầu. 21 tên trùm tàn bạo nhất của Đức Quốc xã ngồi ở bục bị can dưới một dãy đèn pha nóng sáng đến mức mỗi tù nhân đều được đeo kính râm. Phía sau họ, một hàng quân cảnh Mỹ đội mũ sắt trắng đứng nghiêm chỉnh. Tám thẩm phán, mỗi người cộng với một thẩm phán dự khuyết từ Hoa Kỳ, Anh, Nga và Pháp, ngồi vào chỗ của mình ở phía trước phòng.  Phiên tòa bắt đầu bằng việc đọc tài liệu dài 24.000 từ liệt kê các tội ác mà nhóm bị cáo đầu tiên bị xét xử, bao gồm vụ sát hại 172.000 người Nga tại Leningrad, cái chết của 780 linh mục Công giáo tại trại tập trung Mauthausen, vụ hành quyết 50 tù binh chiến tranh người Anh bị bắt lại sau cuộc đào tẩu vĩ đại khỏi Stalag Luft III, vụ giết hại binh lính khi đang đầu hàng và tiến hành diệt chủng có chủ đích và có hệ thống, đặc biệt là đối với người Do Thái, người Ba Lan, người Roma và những người khác.

Các bị cáo tại Tòa án quân sự quốc tế ở Nuremberg, Đức, lắng nghe bản dịch tiếng Đức của phiên tòa qua tai nghe. Quân cảnh canh gác phía sau khu bị cáo.

Các cáo buộc được tập hợp thành bốn bản cáo trạng. Nhiều bị cáo phải đối mặt với nhiều hơn một tội danh.

Tội danh Một, âm mưu tiến hành chiến tranh xâm lược, mô tả các hành động được thực hiện trước khi chiến tranh bắt đầu cho thấy một kế hoạch phạm tội trong chiến tranh. 

Tội danh Hai, tiến hành chiến tranh xâm lược hoặc tội ác chống lại hòa bình, bao gồm việc lập kế hoạch, chuẩn bị, khởi xướng và tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược, cũng là các cuộc chiến tranh vi phạm các hiệp ước, thỏa thuận và cam kết quốc tế.

Tội danh Ba, tội ác chiến tranh, là những hành vi vi phạm luật chiến tranh có từ lâu đời, bao gồm giết hoặc ngược đãi tù nhân chiến tranh, sử dụng lao động nô lệ và sử dụng vũ khí bị cấm.

Tội danh Bốn, tội ác chống lại loài người, liên quan đến các hành động diễn ra tại các trại tập trung, bao gồm giết người, diệt chủng, chế độ nô lệ, đàn áp vì lý do chính trị hoặc chủng tộc, trục xuất bắt buộc và các hành vi vô nhân đạo khác đối với dân thường.

Đức Quốc xã đã ghi chép kỹ lưỡng về các kế hoạch hành động tàn bạo của chúng, bao gồm số người bị bắt, số người bị đưa đến phòng hơi ngạt và các thí nghiệm mà họ thực hiện trên con người. Những tài liệu đó, cũng như các bộ phim tuyên truyền của Đức Quốc xã và phim tài liệu do Đồng minh thực hiện khi các trại được giải phóng, đã được sử dụng làm bằng chứng, cùng với lời khai của 33 nhân chứng.

24 bị cáo đã bị truy tố, nhưng một người vắng mặt là Bormann, một người được cho là không đủ sức khỏe và một người đã tự tử trước khi xét xử. Trong phiên tòa đầu tiên đó, 18 trong số 24 người đã bị kết tội – trong số này, 12 đã bị kết án tử hình.

Trong 12 phiên tòa tiếp theo tại Nuremberg từ năm 1946 đến năm 1949, thêm 177 lãnh tụ  chính trị và quân sự của Đệ tam Đế chế cũng như các bác sĩ, luật sư và chủ doanh nghiệp Đức đã bị xét xử.  24 người bị kết án tử hình bằng cách treo cổ, 118 người bị giam giữ và 35 người được tuyên trắng án.

DI CHÚC CUỐI CÙNG CỦA ADOLF HITLER

DI CHÚC VÀ GIẤY KẾT HÔN CỦA ADOLF HITLER được tìm thấy trong một phong bì được cất giữ trong một chiếc vali ở dưới đáy một cái giếng cạn bên ngoài Munich, Đức. Một điệp viên tình báo người Mỹ gốc Do Thái đã được chỉ cho địa điểm sau khi phỏng vấn Wilhelm Zander, một phụ tá của Martin Bormann. Người điệp viên này phát hiện ra rằng Zander đã rời khỏi hầm trú ẩn của Hitler trong một nhiệm vụ chuyển phát nhanh trước khi Führer tự sát. Đây là bản dịch của di chúc.

Di nguyện và di chúc của tôi

Vì tôi không nghĩ mình có thể chu toàn trách nhiệm hôn nhân, trong những năm đấu tranh, để ký kết một bản hôn thú, nên giờ đây, trước khi kết thúc sự nghiệp trần thế của mình, tôi đã quyết định sẽ nhận trách nhiệm lấy cô ấy làm vợ tôi, cô gái, mà sau nhiều năm làm bạn chung thủy với tôi, giờ tự nguyện bước vào thị trấn gần như bị bao vây để chia sẻ số phận của mình với tôi. Theo nguyện vọng của riêng cô ấy, cô ấy sẽ cùng tôi đi vào cõi chết với tư cách là vợ tôi. Điều đó sẽ đền bù cho những gì chúng tôi đã mất vì bỏ thời gian và công sức trong việc phục vụ nhân dân.

Những gì tôi sở hữu, chừng nào chúng còn giá trị, đều thuộc về Đảng. Nếu đảng không còn nữa, thì thuộc về Nhà nước. nếu Nhà nước cũng diệt vong, tôi không cần phải đưa ra thêm quyết định nào nữa.

Những bức tranh của tôi, trong bộ sưu tập mà tôi đã mua trong nhiều năm, chưa bao giờ được sưu tầm cho mục đích cá nhân, mà chỉ để mở rộng một phòng trưng bày ở quê hương tôi là Linz on Donau.

Tôi chân thành mong muốn rằng tặng phẩm để lại này có thể được thực hiện đúng. Tôi đề cử người đồng chí trung thành nhất của Đảng, Martin Bormann, làm Người Thi hành di chúc. Ông ấy được trao toàn quyền hợp pháp để đưa ra mọi quyết định.  Ông ta được phép lấy ra mọi thứ có giá trị tình cảm hoặc cần thiết để duy trì cuộc sống giản dị khiêm tốn, cho anh chị em tôi, và trên hết là cho mẹ vợ tôi và những người đồng nghiệp trung thành của tôi mà ông ta rất quen thuộc, chủ yếu là các Thư ký cũ của tôi là Frau Winter, v.v., những người đã nhiều năm giúp đỡ tôi bằng công việc của họ.

Bản thân tôi và vợ tôi – để thoát khỏi sự ô nhục của việc bị phế truất hoặc đầu hàng – đã chọn cái chết. Chúng tôi mong muốn được thiêu xác ngay tại nơi tôi đã thực hiện phần lớn công việc hàng ngày của mình trong suốt mười hai năm phục vụ nhân dân.

Lập tại Berlin, ngày 29 tháng 4 năm 1945, 4 giờ sáng

[Ký tên] A. Hitler

[Ký tên làm chứng]: Tiến sĩ Joseph Goebbels,  Martin Bormann, Đại tá Nicholaus von Below

 

 

Bình luận về bài viết này