PHÁO ĐÀI MÙA ĐÔNG- Sứ Mệnh Anh Hùng Ca Phá Hủy Bom Nguyên Tử của Hitler (Bài 10)

NEAL BASCOMB

Trần Quang Nghĩa dịch

PHẦN IV

19 Cú đánh ngoạn mục nhất

CHÍN ĐẶC CÔNG PHÁ HOẠI cúi xuống sau một bờ tuyết đã được cày xới khi một chiếc ô tô lao qua từ hướng Rjukan. Chiếc xe biến mất sau khúc cua, và họ băng qua con đường, nơi đã trở thành một dòng suối băng giá khi băng tan. Ngay khi người cuối cùng trong số họ đi đến phía bên kia, một chiếc ô tô khác lao tới trên đường. Họ nhảy xuống mương để thoát khỏi ánh đèn pha. Xe tải chở đầy lính chắc chắn sẽ theo sau.

Sau khi xác định được chỗ cất giữ vật dụng, họ một lần nữa mặc vào bộ đồ trắng ngụy trang và.thu thập thiết bị của họ, sau đó trượt tuyết dọc theo đường dây điện băng giá hướng về Rjukan. Poulsson và Helberg dẫn đường. Cả hai chàng trai là dân địa phương, họ đang nghĩ về các gia đình mình ở thị trấn. Đức Quốc xã sẽ làm gì để trả thù cho hoạt động này? Thật dễ dàng để lẻn vào Rjukan, ngồi xuống ăn tối với bố mẹ và anh chị em, nhưng bảo vệ họ là điều cần thiết hơn. Không ai biết họ đã tham gia vào chiến dịch phá hoại. Họ đã không bị ai nhìn thấy. Gạt những giấc mơ này sang một bên, họ tiếp tục trượt tuyết về phía Krossobanen.

Còi báo động tiếp tục vang lên và một chiếc xe tải phóng nhanh qua con đường bên dưới. Ở Rjukan, tổ ong của quân Đức đang náo động. Chúng chỉ cần nghi ngờ những kẻ phá hoại đang chạy trốn dưới đường sắt leo núi, họ sẽ bị bắt. Họ không thể liều lĩnh tiến vào Đường Ryes cạnh trạm căn cứ. Đi được khoảng một dặm rưỡi dọc theo đường dây điện, họ cởi ván trượt, vác lên vai và tiến vào rừng. Sau một đoạn đi bộ ngắn, họ đến con đường dốc ngoằn ngoèo. Mệt mỏi vì hoạt động kéo dài và bị đè nặng bởi thiết bị của mình, họ còn phải leo thẳng đứng nửa dặm để đến được Vidda. Lúc đó đã hơn 2 giờ sáng và họ muốn có mặt trên đỉnh Thung lũng Vestjord và rời đi trước bình minh sau 5 giờ nữa. Mỗi đoạn đường gập ghềnh là mười lăm phút vô cùng vất vả.  Những người đàn ông lê bước thành hàng một, mỗi người cố gắng đi theo dấu chân của người phía trước. Trên một số đoạn, con đường trơn trượt. Trên số khác, họ chìm trong tuyết. Tại mỗi khúc cua, họ nghỉ ngơi đi vài phút rồi tiến tiếp về phía trước. Ba phần tư chặng đường lên bức tường phía bắc của Vestfjord, họ đều kiệt sức từ lâu. Giờ thì chỉ có ý chí và nỗi sợ bị bắt mới thúc đẩy cơ thể họ. Khi một đội viên tụt lại, một người khác chậm lại để thúc giục anh ta ráng lên. Đôi khi, một khoảng trống giữa đám cây cối cũng cho họ nhìn thấy Vemork hoặc Trạm cơ sở Krossobanen..Điều kỳ lạ là đèn pha vẫn chưa chiếu sáng khu vực xung quanh nhà máy và trạm xe lửa leo núi vẫn còn.tối tăm. Người Đức có thể dễ dàng gửi một nhóm lính lên Krossobanen để cắt ngang đường đi của họ ở trên cùng. Sẽ có một cuộc chiến đấu gay gắt nếu chuyện đó xảy ra.

Sau bốn giờ leo núi, họ đến được đoạn đường gập ghềnh cuối cùng. Tránh nhà ga trên đỉnh, họ quay trở lại khu rừng, một chặng đường đi bộ thậm chí còn gian khổ hơn. Cuối cùng, họ cũng lên tới đỉnh. Họ chỉ ăn mừng ngắn ngủi, sau đó lắp lại ván trượt của mình. Gió bắt đầu thổi vào mặt họ và nhiệt độ đang giảm nhanh. Một cơn bão đang trên đường đến. Họ tấn công vào những ngọn đồi rộng mở của Vidda. Sau đó, khi bình minh ló dạng, Rønneberg yêu cầu nghỉ giải lao. Tất cả ngồi xuống sườn đồi và nghỉ ngơi. Họ ăn một ít sô cô la, nho khô và bánh quy giòn, rồi lặng lẽ nhìn về phía Thung lũng Vestjord. Những đám mây màu xanh bạc lơ lửng trên đầu, và ở phía đông nam, đỉnh núi Gausta cao chót vót được bao quanh bởi màu đỏ của mặt trời bình minh. Vô hình, một con chim hót líu lo.

Ở lại đó, những người đàn ông nghĩ lại về nhiệm vụ của mình. Với hoạt động họ bỏ lại đằng sau, có một cảm giác ngạc nhiên chung là tất cả họ đều sống sót vượt qua nó. Và giờ đây họ còn phải cân nhắc cuộc sống phía trước.

Helberg chuẩn bị trượt tuyết trở lại căn nhà gỗ ở Fjøsbudalen để lấy lại hộ chiếu và bộ quần áo dân sự mà anh đã sử dụng trong chuyến trinh sát quanh Rjukan. Những người khác đã giữ đồ đạc của họ ở Fetter, nơi Helberg dự định tham gia cùng họ sau khi họ dừng lại ở Hồ Langesjå để nghỉ ngơi. Nếu có rắc rối gì, anh sẽ gặp Poulsson ở một quán cà phê ở Oslo trong vòng một tuần nữa. Trước khi có bất kỳ lời từ biệt nào, anh ấy đã trượt đi.

Những người đàn ông khác đi theo hướng tây bắc qua Vidda tới Hồ Langesjå. Vào khoảng 7 giờ sáng, cơn bão cuối cùng cũng đến và gió ập đến mạnh đến mức những người đàn ông gần như không thể đứng vững. Cúi xuống chiếc gậy đi ski, họ chiến đấu với mỗi bước đi. Đôi khi họ bị ném về phía sau  – gần như lìa đôi chân họ. Tuyết trở nên giòn và trơn trong tình trạng đóng băng đột ngột, làm cho tiến độ của họ còn nhọc nhằn hơn. Nếu như có bất kỳ lợi thế nào về cơn bão, chính là nó sẽ xóa tất cả dấu vết hành trình  của họ. Hết giờ này đến giờ khác, họ tiếp tục nỗ lực, cho đến khi cuối cùng nhìn thấy cabin bên bờ hồ.

Bên trong, họ cởi bỏ ba lô và nằm vật xuống. Họ chỉ thức đủ lâu để nâng ly chúc mừng thành công của mình với chai rượu whisky Upper Ten đã để lại. Không cần phải chia ca trực gác. Bọn Đức Quốc xã sẽ không đời nào dấn thân vào Vidda trong cơn bão như vậy. Nằm trong túi chờ giấc ngủ kéo đến, Poulsson cảm thấy những cảm xúc đan xen lạ lùng. Anh tự hào vì nhiệm vụ đã diễn ra rất tốt đẹp. Tuy nhiên, trong năm tháng, anh hầu như không phải chịu đựng gì ngoài gian khổ. Giờ đây, chỉ trong vài giờ ngắn ngủi, mọi chuyện đã kết thúc mà không có một cuộc chiến thực sự nào. Anh không khỏi cảm thấy hơi thất vọng vì mình vẫn chưa thi thố dũng khí trước bọn xâm lược đất nước.

Các chiến binh ngủ một mạch gần 18 tiếng, gió gào thét qua những giấc mơ của họ. Vào buổi sáng, cơn bão vẫn thổi, họ khởi hành đến Fetter với mong muốn tiến sâu hơn vào Vidda. Khi họ đi, cơn gió không ngừng thổi vỡ những tảng băng và tuyết từ những tảng đá và sườn núi, ném chúng bay vút lên không trung, đập tơi tả vào mặt mũi và cơ thể họ. Cho đến giờ, Đức Quốc xã chẳng là gì so với cơn thịnh nộ của Vidda.

*

Khi xe của hắn lao dọc theo con đường đến Vemork, ba mươi phút sau vụ nổ được báo cáo, Thiếu úy SS Muggenthaler đã không nhìn thấy chín kẻ phá hoại đang ẩn nấp sau bờ tuyết bên đường. Từng là cảnh sát Munich, Muggenthaler là cánh tay phải của Fehlis ở Rjukan, chịu trách nhiệm thu thập thông tin tình báo và phá vỡ các tổ kháng chiến. Việc phá hoại một khu công nghiệp trọng điểm là một vấn đề lớn đối với hắn

Ngay khi Muggenthaler đến nhà máy, Bjarne Nilssen và Alf Larsen đã đưa hắn xuống tầng hầm của nhà máy hydro. Máy bơm của hệ thống làm mát đã tắt nhưng sàn nhà vẫn là một bể bơi. Larsen thông báo với hắn rằng họ đã mất hết nước nặng trong tế bào và việc xây dựng lại cơ sở nồng độ cao sẽ mất nhiều tháng.

Sau đó Muggenthaler tiến về phía tuyến đường sắt cùng với Nilssen và Trung sĩ Glaase, chỉ huy đội bảo vệ Đức, để điều tra xem những kẻ phá hoại đã vào và ra như thế nào. Một chiếc khóa bị cắt đứt và kéo được tìm thấy trên tuyết cạnh cổng, và có dấu vết máu dọc theo đường ray. Bọn bảo vệ đang tìm kiếm xem những kẻ phá hoại đã đi đâu, nhưng sự thật là giờ đây họ có thể di chuyển theo bất kỳ hướng nào: lên vách đứng phía nam của Vestjord, băng qua Rjukan, xuống hẻm núi và lên vách núi phía bắc. Trời sẽ tối trong nhiều giờ và việc đánh thức binh lính ở Rjukan đi săn lùng qua những ngọn đồi phủ đầy tuyết chắc chắn sẽ là một công việc vô ích.

Khi họ quay lại nhà máy, Muggenthaler bắt đầu thẩm vấn. Hắn bắt đầu với Johansen và người quản đốc đã chạm trán với nhóm phá hoại. Sau đó hắn hỏi Larsen rất lâu. Hắn đặt khẩu súng lên bàn, nghịch nghịch nó, nói rõ cho những đối tượng biết họ sẽ phải đối mặt với điều gì nếu nói dối hắn. Nhìn bề ngoài, các sự việc rất rõ ràng: ba tên mang theo vũ khí hạng nặng, mặc quân phục Anh nhưng nói tiếng Na Uy hoàn hảo, đột nhập vào nhà máy nồng độ cao. Họ có kiến ​​thức rõ ràng về cơ sở này. Họ tấn công một cách hiệu quả, rồi trốn thoát mà không bắn một phát nào. Đây không phải là việc làm của những người nghiệp dư, một sự thật càng được làm rõ hơn khi một chiếc ba lô chứa chất nổ và ngòi nổ được đội tuần tra tìm thấy.

Ai đã giúp đỡ họ? Giúp cách nào? Và những kẻ phá hoại bây giờ ở đâu? Đây là những câu hỏi mở mà Muggenthaler cần được trả lời. Đến cuối ngày, hắn ta đã bắt giữ một số công nhân của Vemork, bao gồm cả Johansen và Ingebretsen, những người có mặt trong cuộc tấn công. Hắn đã đưa rất nhiều người dân địa phương đến trụ sở chính của hắn ở khách sạn Rjukan’s Grand để thẩm vấn. Mô tả tốt nhất mà hắn có thể thu thập được về “ba người đàn ông to lớn nói tiếng Na Uy” về cơ bản là vô ích.

Tuy nhiên, việc lục soát từng nhà đã bắt đầu. Chứng minh nhân dân đã được kiểm tra. Các con đường và nhà ga ra vào thung lũng đều bị đóng cửa. Đường dây điện thoại đã bị ngừng hoạt động. Thông báo được dán trên tường và biển chỉ dẫn khắp Rjukan, hướng dẫn người dân thông báo ngay cho chính quyền nếu họ biết bất kỳ thông tin nào có thể dẫn đến việc bắt giữ thủ phạm. Sẽ có “biện pháp cưỡng chế mạnh mẽ” được thực hiện nếu họ không tuân theo.

Nhóm lính săn lùng những kẻ phá hoại đã phát hiện ra một con đường dẫn xuống hẻm núi, cách nhà máy gần một dặm, và một con đường khác dẫn lên đường dây điện ở phía bên kia, nhưng cơn bão vẫn tiếp tục thổi qua thung lũng tối tăm, gần như đóng băng, xóa mọi dấu vết tiếp theo. Đội phá hoại rõ ràng là những tay trượt tuyết điêu luyện. Nếu họ rút lui về Vidda, quân Đức sẽ không thể làm gì được trong khi điều kiện thời tiết hiện tại đang chiếm ưu thế.

Muggenthaler đã thông báo cho cấp trên của mình ở Oslo về vụ phá hoại và cuộc điều tra của hắn. Một báo cáo đã được gửi đến trụ sở SS ở Berlin, trong đó nêu rõ “một công trình quan trọng đối với nền kinh tế thời chiến đã bị phá hủy” bởi những kẻ tấn công có thể là tình báo Anh và lực lượng kháng chiến Na Uy. Báo cáo tiếp tục rằng họ đã nhắm mục tiêu vào “bộ phận quan trọng nhất của nhà máy”. Trong khi Muggenthaler chờ đợi tiếp viện và mệnh lệnh, một danh sách năm công dân chủ chốt của thị trấn, bao gồm cả Nilssen, đã được lập và dán khắp Rjukan. Những người có tên trên đó sẽ bị bắn nếu có thêm bất kỳ cuộc tấn công nào.

Sáng sớm hôm sau, ngày 1 tháng 3, Tướng von Falkenhorst đích thân đến nơi, bất chấp trận bão tuyết. Lính của y là lực lượng canh gác nhà máy và y cũng muốn có câu trả lời. Y đã thông báo cho cấp trên của mình ở Wehrmacht về các sự kiện và thông báo cho các sĩ quan của mình trên khắp Na Uy để đề phòng các cuộc tấn công tiếp theo.

Falkenhorst kiểm tra đống đổ nát của căn phòng mật độ cao và nhận xét rằng đó là “cú đánh ngoạn mục nhất”. Những kẻ tấn công rõ ràng là quân nhân.

Sự ngưỡng mộ của y đối với công việc của họ không làm giảm bớt cơn thịnh nộ của y đối với lực lượng bảo vệ nhà máy. Mặc dù Larsen và một số người Na Uy khác có mặt, y  vẫn mắng mỏ người của mình, chủ yếu là Trung sĩ Glaase và Đại úy Nestler. “Khi các ngươi có một rương trang sức, các ngươi không đi lại xung quanh nó. Các ngươi phải tự đứng trên nắp rương với vũ khí trên tay!” Rồi.y đi dọc theo con đường băng giá đến nơi những kẻ phá hoại đã đi vào qua cổng đường sắt. Quay sang Glaase và lính của gã, tất cả đều mặc áo khoác lông nặng nề, đội mũ trùm kín đầu để tránh lạnh, y sủa, “Các ngươi thật trông chẳng khác ông già Noel. Làm sao các ngươi có thể nhìn thấy hoặc nghe thấy bọn phá hoại với tất cả những bộ quần áo đó đang mặc trên người?”

Glaase cố gắng bào chữa cho mình, nói rằng chúng đã hoàn thành việc đặt mìn xung quanh các đường ống nhưng vẫn chưa hoàn thành việc đặt mìn xung quanh tuyến đường sắt.

“Sao ngươi còn chưa làm xong?” Falkenhorst hỏi.

“Chúng tôi không có đủ số đàn ông để làm những công việc này.”

“Đàn ông à? Ngươi có biết ở Nga người ta sử dụng phụ nữ cho loại công việc đó không?”

Glaase cố gắng liệt kê nhiều hệ thống phòng thủ của nhà máy: Hàng rào thép gai. Người bảo vệ kép trên cầu. Tổ súng máy. Đèn pha.

“Vậy hãy bật chúng lên nào,” Falkenhorst ra lệnh.

Glaase cử lính bảo vệ bật đèn lên. Vài phút trôi qua. Đèn vẫn tắt. Falkenhorst dậm chân sốt ruột. Glaase cử một trong những công nhân của nhà máy đến xem có chuyện gì xảy ra. Người bảo vệ không thể tìm thấy công tắc.

Falkenhorst rời bỏ Vemork trong cơn điên tiết. Y ra lệnh đưa Glaase và một số lính canh của gã đến mặt trận Nga và thúc đẩy một loạt biện pháp an ninh mới ở Rjukan. Y ra lệnh thả hầu hết những người đã bị bắt và cảnh báo rằng không được trả thù người dân địa phương. Vụ phá hoại Vemork là một hoạt động quân sự, và những vụ giết người trả thù sẽ không thay đổi được sự thật đó. Một cuộc truy lùng những kẻ phá hoại và bất kỳ ai đã hỗ trợ chúng sẽ được tiến hành, và Trung tá SS  Fehlis chịu trách nhiệm thì hành.  Đối với nhà máy, việc nó bị san bằng hay được xây dựng lại là do các nhà khoa học Đức, những người cần vật liệu sản xuất ở Vemork, quyết định.

*

Tại Kingston House cùng ngày hôm đó, sau khi trở về từ Oxford trên chuyến tàu sáng sớm, Leif Tronstad đã nhận được một bức thư từ Dịch vụ Giám sát BBC. Họ đã bỏ lỡ phần đầu tiên của chương trình phát thanh trên đài Thụy Điển, nhưng những gì họ ghi lại sau đó đã cung cấp đủ thông tin để châm ngòi cho việc ăn mừng rộn rã khắp văn phòng: “… thâm nhập vào cơ sở hạ tầng của Norsk Hydro. Thiệt hại được cho là rất lớn, nhưng tại mục tiêu nơi cuộc tấn công được thực hiện, sự phá hủy được cho là đã hoàn tất. Cuộc đột kích được thực hiện bởi ba người lính nói tiếng Na Uy trong quân phục Anh hiện đang bị truy lùng.”

Chương trình nguyên tử của Đức Quốc xã đã bị giáng một đòn thấm thía và Tronstad háo hức muốn biết thêm.

Hóa ra đó lại là một ngày đáng nhớ. Một tin nhắn vô tuyến được truyền tới London báo cáo rằng Odd Starheim và đội của anh đã chiếm được tàu hơi nước ven biển nặng bảy trăm tấn Tromøsund và đang tiến tới Aberdeen. Hải quân Hoàng gia đã cử các tàu khu trục hộ tống đến Tromøsund, và một cặp máy bay chiến đấu tầm xa của RAF cũng đang trên đường đánh chặn bất kỳ máy bay Đức nào có thể cố gắng cản trở cuộc chạy trốn của họ. Bây giờ tất cả những gì Tronstad mong muốn là đội phá hoại Vemork và biệt kích Carhampton có thể quay trở lại nơi an toàn.

*

Xuyên qua màn tuyết mờ mịt và những cơn gió buốt giá, Poulsson dẫn đội của anh ấy băng qua Vidda đến Fetter. Khi họ đến cabin, gió lại mạnh thêm. Họ ở đó suốt ba mươi sáu giờ. Helberg vẫn không thấy đến, và mặc dù Poulsson luôn nói rằng không có người nào thoát khỏi rắc rối tốt hơn Helberg, nhưng nhóm vẫn lo lắng anh hoặc bị cuốn vào trận bão tuyết hoặc bị bắt.

Khi thời tiết quang đãng, tám người khởi hành đến Hồ Skrykken ở phía bắc. Như đã sắp xếp trước đó, Rønneberg để lại một tin nhắn cho Haugland giấu trong một túp lều trên đường đi để anh nhận và gửi tới London: “Nhà máy nồng độ cao đã bị phá hủy hoàn toàn. Tất cả đều đủ mặt. Không đánh nhau.”

Tại Jansbu, căn nhà gỗ nơi Gunnerside trải qua những đêm đầu tiên ở Na Uy, cả đội đã sẵn sàng tách ra, phân chia vũ khí, thực phẩm, đạn dược, quần áo và các vật dụng khác. Toàn bộ Gunnerside, ngoại trừ Haukelid, khởi hành chuyến hành trình mười ngày đến biên giới Thụy Điển. Haukelid và Kjelstrup đi về phía Tây Nam để tổ chức các ổ kháng chiến. Poulsson. đi về phía đông, tới Oslo, với hy vọng Helberg sẽ gặp mình ở đó.

Ngày hôm sau, ngày 4 tháng 3, năm đặc công Gunnerside khởi hành trước. Họ tiếp tục mặc quân phục Anh bên dưới bộ đồ rằn ri màu trắng, đề phòng trường hợp bị bắt. Khi chia tay, họ bắt tay nhau và chúc nhau may mắn. Trước khi Rønneberg quay đi, Haukelid nói, “Hãy gửi lời chúc tốt đẹp nhất của chúng tôi tới Đại tá Wilson và Tronstad. Hãy nói với họ rằng chúng tôi sẽ tự xoay sở được trong bất cứ tình huống nào.”  Từ lâu Rønneberg đã xua tan mối nghi ngờ về sự phù hợp của quyết định giao cho Haukelid vị trí chỉ huy thứ hai. Cùng nhau, cả hai đã hợp đồng hoạt động một cách hoàn hảo

Mặc quần áo dân sự và chỉ mang theo một ít đồ dùng trong ba lô, Poulsson là người tiếp theo rời đi. Anh nắm lấy tay Haukelid và chúc anh mọi điều tốt lành. Sau đó anh ấy chuyển đến Kjelstrup. Họ đã cùng nhau trải qua nhiều tháng trời vượt qua những khó khăn và nguy nan tồi tệ nhất. “Cậu có nhớ ngày cậu mang những cục pin nặng nề đó đi qua hàng dặm sương mù và tuyết không?” Poulsson nghẹn ngào nói. “Khi quay về trông cậu giống hệt người tuyết vậy.”

“Tôi cũng cảm thấy như vậy,” Kjelstrup nói.

“Ồ, Arne,” cuối cùng Poulsson nói. “Tạm biệt và chúc may mắn. Nếu không gặp nhau sớm hơn, chúng ta sẽ gặp nhau sau chiến tranh.” Buộc ván trượt, anh lướt đi.

Haukelid và Kjelstrup nhìn anh biến mất trong vùng quê trắng xóa xa xôi. Bản thân họ cũng cảm thấy rất cô đơn và bâng khuâng khi biết rằng Poulsson còn cảm thấy cô đơn hơn thế.

*

Sau ba mươi dặm trượt tuyết, một đêm trong túp lều lạnh lẽo và khẩu phần ăn dư thừa, tất cả những gì Poulsson mong muốn là một giấc ngủ ngon trên một chiếc giường mềm mại. Ánh đèn chào đón bên ngoài một quán trọ nhỏ ven đường thật khó cưỡng lại. Không ai từng nhìn thấy anh trong chiến dịch Vemork có thể cung cấp mô tả nhận dạng và anh có hộ chiếu giả mang tên Jens Dale. Anh quyết định rằng chỉ một bữa ăn nóng thôi cũng đáng để mạo hiểm.

Anh bước vào. Ngọn lửa trong lò sưởi nổ lách tách và mùi cá và khoai tây bay ra từ hướng bếp, những tiện nghi làm dịu đi nỗi dè dặt mà anh cảm thấy khi nhìn thấy tờ báo của chính quyền hợp tác Na Uy, Fritt Folk,  mở ra trên quầy tiếp tân.

“Đi nghỉ lễ hả?” chủ quán hỏi.

“Đúng rồi. Trượt tuyết,” Poulsson trả lời.

Dường như có rất ít khách. Sau bữa tối, anh lui về một căn phòng trên tầng hai. Anh đã đi tắm, giặt giũ một số quần áo và cởi quần áo nằm thư giãn trên giường, Vài tháng sống trên Vidda khiến một căn phòng giản dị này cũng trở nên một trải nghiệm xa xỉ.

Sau đó anh nghe thấy những giọng nói từ tầng dưới vọng lên. Mở hé cửa, anh nhìn thấy hai người đàn ông hỏi ai đang ở trọ. Rồi tiếng bước chân vội vã.và nặng nề hướng tới cầu thang. Poulsson khép cửa, vội vàng mặc vào quần dài và áo sơ mi, và cân nhắc có nên thoát ra cửa sổ hay không. Có tiếng gõ mạnh vào cửa phòng anh. Nhét khẩu súng lục vào túi bên phải, anh ra mở cửa. Một trung sĩ cảnh sát có hàm răng to và khuôn mặt móm xọm bước vào phòng, theo sau là một gã trẻ tuổi, vạm vỡ, cấp phó của hắn. Trung sĩ yêu cầu giấy tờ tùy thân của Poulsson, trong khi người phó nhìn kỹ khắp căn phòng. Poulsson dõi theo ánh mắt của gã, từ quần áo phơi khô cho đến chiếc ba lô hé mở trên sàn. Thật không may, nó chứa khẩu phần ăn Kreyberg, bản đồ, sô cô la và thuốc lá Anh. Trong khi gã Trung sĩ kiểm tra hộ chiếu, Poulsson ngồi ở mép giường, tay nắm chặt khẩu súng lục trong túi. Nếu một trong hai tên đến kiểm tra túi xách của anh, anh sẽ lập tức nổ súng.

Tên phó bước về phía chiếc túi ngủ đã sờn cũ trên sàn và nhận xét về chất lượng cao của nó. Được khâu bên trong là một nhãn bằng tiếng Anh, nhưng gã không kiểm tra kỹ lưỡng. “Các ông đang tìm kiếm cái gì?” Poulsson hỏi, lòng bàn tay anh bắt đầu đổ mồ hôi.

“Có chuyện gì đó đã xảy ra ở Vemork. Những kẻ phá hoại đã tấn công nhà máy thủy điện,” gã trung sĩ nói và trả lại hộ chiếu cho Poulsson. Gã giải thích rằng người Đức muốn kiểm tra bất kỳ người lạ nào có mặt trong khu vực.

“Hy vọng các ông may mắn tìm được những người đó,” Poulsson nói.

“Không đâu,” gã trung sĩ nói. “Tôi nghĩ họ có vũ trang… Tôi thà không gặp họ còn hơn.” Hai cảnh sát xin lỗi vì đã làm phiền và đóng cửa lại sau lưng họ. Poulsson buông súng và rút tay ra khỏi túi.

Rời khỏi nhà trọ bây giờ sẽ chỉ làm tăng thêm mối nghi ngờ. Thay vào đó, anh mặc quần áo, đóng gói đồ đạc và nằm ngủ dưới tấm chăn bông đầy lông vũ, khẩu súng trong tầm tay.

*

Với chiếc radio không dây và thiết bị Eureka trên lưng, Einar Skinnarland đang hướng tới Skårbu, một căn nhà cách Fetter khoảng 15 dặm về phía tây bắc. Anh cần được nghỉ ngơi. Trong ba ngày qua, mỗi ngày anh đều trượt đi trượt lại dọc Vidda, mang theo thực phẩm, thiết bị và vũ khí đến căn nhà gỗ, nơi sẽ làm chỗ ở tạm thời cho anh và Haugland. Vẫn chưa có thông tin gì từ Gunnerside về kết quả của chiến dịch. Haugland đã đi kiểm tra điểm chết đã được sắp xếp trước, nhưng nếu ngày hôm nay, ngày 6 tháng 3, giống như những ngày trước thì sẽ không có tin nhắn nào cả.

Đến gần Skårbu băng qua một hồ nước đóng băng, Skinnarland phát hiện ra một cặp dấu vết trên tuyết. Khi anh đến gần cabin, anh nhìn thấy ván trượt tựa vào vách. Rồi, bước ra cửa là Kjelstrup và một người đàn ông khác, một người lạ. Anh ta giới thiệu là Knut Haukelid và báo tin vui.về Vemork. Gần một năm đã trôi qua kể từ khi Skinnarland bắt đầu cuộc sống hai mặt, theo dõi nhà mày. Đã gần một năm kể từ khi anh gáy ra nhiều khó khăn đến cho gia đình và những bạn bè  đã giúp đỡ anh. Cuối cùng, vụ phá hoại đã được thực hiện. Anh lặng lẽ ăn mừng khoảnh khắc này; những hy sinh đã không vô ích.

Bên trong cabin, Skinnarland pha một ít cà phê. Haukelid và Kjelstrup kể lại đêm diễn ra chiến dịch, sau đó cuộc trò chuyện chuyển sang những gì phía trước. Cả ba đều quyết tâm ở lại Na Uy để thúc đẩy cuộc kháng chiến.

Gần nửa đêm, Haugland trở về căn nhà gỗ với tính khí khủng khiếp. Trong nhiều giờ, anh đã đào tuyết ở hộp thư chết, tìm kiếm chiếc hộp thiếc đựng tin nhắn mà Gunnerside có nhiệm vụ phải để lại  cho biết chiến dịch đã diễn ra như thế nào. Mà trớ trêu thay trong suốt thời gian đó, ngay trong cabin ở Skårbu, Haukelid và Kjelstrup lại đang trú ngụ. Haugland vui mừng được gặp lại bạn bè, nhưng anh muốn biết chuyện gì đã xảy ra, tại sao có sự chậm trễ, còn những người khác ở đâu? “Đừng lo lắng, Knut, hãy bình tĩnh,” Haukelid nói, đặt chân lên bàn. Anh dừng lại. “Mọi chuyện đã diễn ra theo đúng kế hoạch.” Tin tức khiến Haugland dậm chân nhảy múa, cổ vũ mọi người trong cabin cùng tham gia.

Sau đó, họ bắt đầu soạn thảo một tin nhắn để gửi đến Trạm Chính. Tronstad và Wilson đang nóng lòng chờ tin tức. Haugland cố gắng kết nối trên máy điện đài nhưng chắc chắn có thứ gì đó đã bị hỏng khi Skinnarland vận chuyển máy. Máy cần phải được sửa chữa – và nếu có một điều chắc chắn, thì đó là một cuộc truy lùng sẽ sớm được tiến hành nếu nó chưa bắt đầu. Haukelid nói: “Bạn có thể cá là bọn Đức đang nổi cơn thịnh nộ. Họ sẽ tìm kiếm mọi ngóc ngách của vùng núi.”

Kjelstrup nói với vẻ khinh khỉnh: “Bọn nông dân lạc hậu đó, bọn công nhân nhà máy đó là đồ vô dụng ở nơi hoang dã này”. Tuy nhiên, họ sẽ phải ẩn mình – và ẩn mình thật kỹ.

*

Trưa ngày 7 tháng 3, ngày thứ tư trong chuyến hành trình đến Thụy Điển, Rønneberg và người của anh đang thu mình trong góc một căn phòng của một trang trại, chờ một người trượt tuyết rời khỏi khu vực. Từng phút trôi qua thật chậm rãi. Họ đã quan sát y bước vào một căn nhà gỗ chỉ cách trang trại 10 mét, và đã ở lại bên trong hơn một giờ. Chỉ khi anh ta bỏ đi thì họ mới thư giãn. Vào lúc 6 giờ chiều, họ tiếp tục di chuyển – họ đã đợi màn đêm buông xuống trước khi băng qua Thung lũng Hallingdal dài.

Đoạn đường đầu tiên xuyên rừng khá dễ dàng. Một người  trượt tuyết trước nhóm với vai trò trinh sát, đảm bảo rằng không có ai khác trên đường đi của họ. Khi đó độ dốc của các sườn dốc trở nên khó di chuyển. Rønneberg đặc biệt phải vật lộn với cơn đau buốt, bàn tay bị thương của anh sưng tấy nặng. Anh không nói gì với đồng đội.

Họ tình cờ gặp con đường mòn chuyển gỗ và đi theo nó xuống đáy thung lũng, nơi họ cố gắng vượt sông qua những chỗ băng. Nhưng băng vỡ ra và họ buộc phải quay trở lại bờ. Họ tìm thấy một chiếc thuyền, nhưng việc chiếm lấy nó có thể sẽ thu hút sự chú ý nên họ tiếp tục đi. Xa hơn về phía bắc, họ phát hiện một cây cầu băng bắc qua sông và dùng nó để băng qua.

Họ trèo lên bức vách phía đông của thung lũng, lạc vào mê cung những con đường mòn vận chuyển gỗ, không thể định hướng trong khu rừng rậm rạp và đầy bóng tối. Họ tiếp tục ngoằn ngoèo đi lên đến đỉnh phía đông của thung lũng. Sau đó, họ trượt tuyết vài dặm trước khi dừng lại bên cạnh một cái hồ. Quần và ủng ướt sũng, kiệt sức sau chuyến đi đêm, họ chui vào túi ngủ.

Rønneberg luôn biết rằng việc trốn sang Thụy Điển sẽ là một thử thách trong nhiều ngày. Năm người đàn ông mặc quân phục Anh, được trang bị vũ khí hạng nặng đề phòng xảy ra đánh nhau. Hai trăm tám mươi dặm xuyên qua đất nước bị kẻ thù chiếm đóng trong tình trạng báo động về sự hiện diện của mình. Địa hình khắc nghiệt với những thung lũng dốc và những vùng nước gần như đóng băng mà chưa ai trong số họ từng đi đến trước đây ngoại trừ những đoạn đường ngắn. Họ phải đối mặt với nhiệt độ đóng băng và bão, và khi không tìm thấy cabin hoặc trang trại trống nào, họ phải ngủ ngoài trời mà không dám đốt lửa. Lộ trình của họ tránh xa các quán trọ, thị trấn và các cây cầu ở vùng nông thôn, cũng như tránh xa bất kỳ nơi nào có quân Đức đồn trú.

Khi ở Anh, Rønneberg đã chuẩn bị kỹ càng cho điều mà anh đã thấy trước là một chuyến hành trình ngoằn ngoèo kéo dài 10 ngày: họ sẽ đi về phía tây bắc từ Vidda, băng qua Thung lũng Hallingdal, sau đó về phía đông bắc cho đến khi họ đi vòng quanh thị trấn Lillehammer (một căn cứ của Đức Quốc xã). Từ đó, họ phải cắt về phía đông nam qua ba thung lũng dài, sau đó cuối cùng họ sẽ đến được biên giới Thụy Điển. Họ mang theo la bàn Silva và 25 bản đồ địa hình. Nhưng bản đồ và la bàn không thể dự đoán được những cây cầu băng tan, những cuộc tuần tra ngẫu nhiên, những thợ săn Na Uy và những cơn bão làm mù đường.

Ngày hôm sau, gió lặng và bầu trời trong xanh, họ tiến lên thuận lợi qua những ngọn đồi thấp và thung lũng thoai thoải. Sau khi mặt trời lặn, nhiệt độ giảm xuống và gió thổi mạnh, dọn sạch lớp tuyết trên đường đi của họ. Lớp băng trần bên dưới nghiến vào ván trượt của họ. Họ tìm thấy một trang trại trống khác, nơi đây có kho chứa bột mì và bánh mì. Trong lò sưởi, họ đốt tấm bản đồ liên quan đến  khu vực họ đã đi qua trong ngày – một ăn mừng có tính nghi lễ.

Vào ngày thứ sáu, họ lướt đi nhanh chóng, không bao giờ mạo hiểm đi quá vài trăm thước so với lộ trình đã định. Họ cắt ngang, không sao tránh khỏi, con đường của hai người trượt tuyết trên sườn núi trơ trụi và hy vọng rằng họ được nhìn nhầm là các tay trượt tuyết của quân đội Đức, với quần áo ngụy trang màu trắng, và vũ khí có thể nhìn thấy.

Sau đó họ tới một cái hồ cần phải vượt qua để khỏi đi một chặng đường dài xung quanh. Nhiều phần hồ.đang tan băng, nhưng họ tìm thấy một đường băng qua mà họ nghĩ hiệu quả. Rønneberg nhích từng chút một trên lớp băng trong tư thế bò, với rìu trong tay. Anh nhích về phía trước, tai lắng nghe bất kỳ tiếng rắc hay bốp nào, thử độ cứng của cầu băng bằng đầu rìu. Băng tuy mềm nhưng chịu đựng được trọng lượng của họ.

Cuộc tấn công vào Vemork

Đường màu đỏ: Đường tiếp cận Vemork

Đường màu đen: Đường tẩu thoát khỏi Vemork 

20

Cuộc săn lùng

TRONG NHÀ TÙ Mollergata 19, Olav Skogen nằm lặng lẽ trên giường, cầu vồng của những vết bầm khắp cơ thể anh nhói  đau. Mặc dù chín ngày và đêm đã trôi qua kể từ lần cuối cùng những kẻ tra tấn anh đến, anh luôn cảnh giác về sự trở lại của chúng. Anh ấy biết thói quen của chúng: Chúng đến vào ban đêm.

Một cánh cửa mở. tiếng bước chân lạo xạo xuống hành lang. Tiếng chìa khóa lạch cạch. Rồi ánh sáng trong phòng giam của anh sẽ nhấp nháy, cánh cửa bật mở tung, và chúng ở bên anh.

Trong chuyến thăm cuối cùng của họ, ngày 1 tháng 3, bốn người trong số họ đã đưa anh đến Victoria Terrasse. Tiếng la hét bắt đầu ngay lập tức: Mày biết gì về cuộc kháng chiến ngầm ở Rjukan? “Mày đang cố gắng che giấu điều gì?” Họ đang trong tâm trạng muốn giết người, và Skogen biết rằng có điều gì đó quan trọng đang diễn ra. Khi anh nói với họ rằng mình không biết gì, thủ lĩnh của chúng, một người đàn ông vạm vỡ, đã vung nắm đấm vào mặt anh. Cú đánh khiến anh từ chiếc ghế đẩu rơi xuống sàn, và anh ngã ra bất tỉnh. Khi chúng kéo anh đứng dậy, anh lại tự hứa với mình: Không bao giờ nói một lời.

Sau đó chúng lắp một chiếc kẹp đinh vít cặp vào ống chân phải của anh. Khi nó ăn sâu vào xương anh và anh vẫn không trả lời câu hỏi của chúng, chúng siết chặt một kẹp đinh vít khác vào ống chân trái. Anh cố không hét lên khi những chiếc kẹp xé toạc da thịt anh nhưng không thể ngăn được âm thanh trong họng thoát ra miệng mình. Âm thầm trong thâm tâm, anh lặp đi lặp lại những lời anh đã nghe Churchill phát biểu trên đài trước trận Blitz của Đức, như thể chính vị thủ tướng Anh này đang nói chuyện trực tiếp với anh: Đây là giờ phút tuyệt vời nhất của bạn.

Khi hình phạt đôi chân đã không thuyết phục được anh khai ra, bọn tra tấn lại tấn công tương tự trên cánh tay anh, khiến nó sưng phồng lên như bong bóng. Sau đó anh bất tỉnh. Một xô nước tạt lên đầu anh làm anh tỉnh dậy. Sau đó chúng đá tới tấp vào hông anh cho đến khi anh bất tỉnh lần nữa. Khi đã tỉnh lại, anh nghe lỏm được bốn tên  Đức nói về Vemork, về cách nhà máy đã bị nổ tung và những kẻ phá hoại vẫn chưa được tìm thấy. Một nụ cười thoáng ngang qua khuôn mặt Skogen trước khi một cú đá khác nhấc anh ra khỏi sàn nhà. Khi anh tỉnh dậy sau đó, anh thấy mình đã trở lại phòng giam.

Đêm đó, ngày 10 tháng 3, vẫn đang bị thương, một mắt nhắm nghiền, chân tay sưng tấy, anh nghe thấy tiếng bước chân quen thuộc. Những kẻ tra tấn anh nồng nặc mùi rượu. “Cho đến bây giờ mày đã bị tra tấn cấp độ một và cấp độ hai,” một tên nói với anh. Nếu mày không hợp tác, cấp độ thứ ba sẽ bắt đầu: xé móng tay và đập gãy xương. Tiếp tục kháng cự sẽ khiến anh bị treo cổ trên móc gắn trên tường cho đến khi nói ra hoặc chết, tùy điều kiện nào xảy ra trước. Skogen im lặng. “Mày không phù hợp để bị tẩm quất tối nay,” một tên khác nói. “Nhưng mày sẽ sớm khỏe lại thôi, và khi đó tụi tao sẽ đến thăm mày lần cuối.” Không bao giờ nói một lời.

*

“Chiến dịch được thực hiện thành công 100 phần trăm. Nhà máy nồng độ cao bị phá hủy hoàn toàn. Không phát súng nào được trao đổi vì người Đức không phát hiện xâm nhập, và dường như không biết cả nhóm đến từ đâu và biến mất ở đâu.”

Vào ngày 10 tháng 3, Tronstad nhận được báo cáo xác nhận được chờ đợi từ lâu từ Chim Én. Thêm tin Trạm Chính theo sau trong ngày: tin tức về cuộc thanh sát của Falkenhorst tại Vemork; vô số vụ bắt giữ ở Rjukan; thông tin rằng chỉ có ba người trong nhóm được nhìn thấy và chỉ có ba người đang bị truy lùng; và một lời nhắn từ Chim Én muốn có sự ủy quyền vững chắc để tiếp tục công việc kháng chiến của mình ở Na Uy, trong số đó có Haukelid.

Tronstad rất cảm động trước yêu cầu cuối cùng này. Đây là những người đã mạo hiểm rất nhiều và họ muốn ở lại và làm nhiều hơn nữa, bất chấp cuộc đàn áp không thể tránh khỏi sau Gunnerside. Ông ấy và Wilson đã gửi một tin nhắn của riêng mình: “Xin chúc mừng cách chân thành nhất vì đã hoàn thành xuất sắc công việc. Quyết định tiếp tục công việc của bạn đã được phê duyệt. Lời chào mừng từ và tới tất cả mọi người.” Hai ngày sau, ông gửi báo cáo  cho SOE tại Khu Chiltern. Ước tính tốt nhất của ông là khoảng sáu trăm đến bảy trăm kí nước nặng đã bị phá hủy (sản xuất trong bốn tháng) – và vì không có ném bom từ trên không nên không gây ra thiệt hại đáng kể ngoài dự kiến. Người Đức sẽ cần ít nhất sáu tháng để xây dựng các tế bào nồng độ cao  và thêm bốn đến sáu tháng để đưa sản xuất trở lại mức trước đó. Tổng cộng, điều này sẽ làm trì hoãn việc cung cấp nước nặng của Đức từ 10 đến 14 tháng.

Tronstad đã gửi báo cáo tương tự cho Eric Welsh tại SIS, viết trong một ghi chú đính kèm: “Có lý khi nói rằng người Đức đã phải chịu một thất bại rất nghiêm trọng trong dự án sử dụng năng lượng nguyên tử cho chiến tranh hoặc các mục đích khác.” Ngài John Anderson, nhóm của ông tại chương trình nguyên tử của Anh và Winston Churchill đều được thông báo về điều tương tự. Hoạt động này đã mang lại cho cả SOE và Đại đội Linge một chiến thắng lớn, tiếng tăm của họ nâng cao

Thành công này hoàn toàn trái ngược với vận rủi của Chiến dịch Carhampton. Tromøsund chưa bao giờ đến được Aberdeen. Odd Starheim trước đây đã thoát khỏi một số tình huống khó khăn, nhưng lần này Tronstad biết rằng có lẽ anh ta đã chết. RAF đã quét qua Biển Bắc nhưng không tìm thấy dấu hiệu nào của tàu hơi nước.

Báo chí Đức ca ngợi vụ đánh chìm tàu: “Hải quân Anh một thời đáng tự hào đã kiệt sức đến mức cần phải đánh cắp tàu hơi nước Na Uy nhỏ bé… nhưng ngay khi bọn cướp biển đang leng keng tiền vàng bất chính kiếm được trong túi, máy bay chiến đấu của Đức Quốc xã đã lao đến hiện trường và nhấn bọn côn đồ cùng con mồi của chúng xuống đáy đại dương.”

Trong nhật ký của mình, Tronstad đổ lỗi cho người Anh đã không cung cấp đủ lực lượng che chắn cho con tàu đang chạy trốn. Trong các mục khác, ông viết, “Chúng ta phải chấp nhận những mất mát này”, chúng thể hiện cuộc chiến dũng cảm do Na Uy tiến hành- “nghiệt ngã trong sự cô đơn của chúng ta” và rằng người Na Uy đã “hy sinh đủ trong một thời gian.” Ông bị ảnh hưởng nặng nề nhất trước việc mất mát Starheim và đã đặt một bức ảnh của anh ấy trên bệ lò sưởi, vai khoác lá cờ của đất nước mình

Nhưng trên hết, Tronstad biết rằng họ phải tiếp tục. Ông đã sắp xếp việc điều động một số đội đặc vụ Đại đội Linge bằng đường biển và đường hàng không để thiết lập mạng lưới kháng chiến với các đài phát thanh vô tuyến ở Oslo, Trondheim, Ålesund và những nơi khác – tất cả đều nhằm mong đợi một cuộc xâm lược của Đồng minh trong tương lai. Để đảm bảo an ninh cho họ, ông cũng đang tiến hành một cuộc chiến chính trị, thúc đẩy bộ chỉ huy cấp cao và SOE giữ cho các đơn vị kháng chiến này độc lập thay vì có một bộ chỉ huy Milorg trung ương sẽ gây nguy hiểm cho toàn bộ mạng lưới nếu nó bị xâm nhập.

Sử dụng thông tin tình báo từ các đơn vị do Tronstad điều hành cung cấp, RAF đã phá hủy các công trình quan trọng tại mỏ Knaben, nơi cung cấp molypden cho quân Đức, được sử dụng trong kỹ thuật mạ áo giáp. Chiến dịch Granard chứng kiến ​​vụ đánh chìm một con tàu chở hàng chứa pyrit. Và một nhiệm vụ tên là Mardonius đang được tiến hành với kế hoạch sử dụng mìn limbet để làm nổ tung quân địch và tàu chở hàng ở Oslojord.

Trong thời gian đó, Tronstad tiếp tục phát triển mạng lưới tình báo nguyên tử của mình. Vào ngày 15 tháng 3, anh và Eric Welsh đã ngồi lại với Victor Goldschmidt, một giáo sư gốc Thụy Sĩ nhưng được đào tạo ở Na Uy, người gần đây đã trốn khỏi Oslo để sang Anh. Goldschmidt đưa ra một số hiểu biết hạn chế về chương trình của Đức Quốc xã và kêu gọi đưa Niels Bohr, một người Do Thái, đến London càng sớm càng tốt. Là một trong những cha đẻ của vật lý nguyên tử, Bohr quá quan trọng nên không thể bỏ lại ở Đan Mạch bị chiếm đóng.

Trên thực tế, đề xuất của Goldschmidt đã bị chính Bohr bác bỏ, nhưng ông nhất quyết phải làm gì đó để thuyết phục Bohr.  Nhà vật lý người Đan Mạch, vốn tin rằng mình có thể phục vụ đất nước một cách tốt nhất bằng cách ở lại Copenhagen, cũng đã từ chối Welsh và Tronstad khi họ tiếp cận ông ấy vào đầu năm đó.

Giữa công việc này, Tronstad hy vọng mỗi ngày đều có thể nghe được tin tức về Rønneberg và người của anh – nghe được “nhịp tim” của họ qua mạng vô tuyến khi họ đến Thụy Điển. Với cuộc săn lùng nhóm phá hoại đang diễn ra, họ cần phải nhanh lên, cũng như những người ở lại cần phải tránh xa tầm mắt địch.

Vào ngày 13 tháng 3, ngày thứ mười của chuyến đi, Rønneberg và người của anh đã ở ngay phía bắc của Lillehammer, vẫn còn cách biên giới Thụy Điển khoảng một trăm dặm. Mặc dù đi trung bình hai mươi dặm một ngày, họ di chuyển chậm hơn Rønneberg dự đoán. Tuyết, chỉ di chuyển vào ban đêm, khó khăn khi băng qua thung lũng và lội sông đều đã làm giảm tốc độ của họ. Họ đang phải vật lộn để duy trì dinh dưỡng, lấy trộm thực phẩm từ các cabin dọc đường để bổ sung cho nguồn cung cấp khẩu phần ăn trong 10 ngày mà họ đã mang theo cho cuộc hành trình.

Cơ bắp của họ kiệt quệ vì căng thẳng dai dẳng, và làn da của họ bị phồng giộp  vì ẩm ướt liên tục. Bây giờ họ phải đối mặt với Thung lũng Gudbrandsdalen nhiều xe cộ qua lại nằm giữa họ và biên giới Thụy Điển. Họ khởi hành trước bình minh để tránh gặp bất kỳ người trượt tuyết cuối tuần nào có thể lưu trú tại một trong nhiều khách sạn trong khu vực. Khi bầu trời dần sáng, hai chiếc Junker của Đức lao qua trên đầu. Những đặc công hy vọng chúng chỉ là những chiếc máy bay đưa thư đi giữa Oslo và Trondheim. Nhưng họ không thể chắc chắn được. Vài giờ sau, họ ngồi trong túi ngủ, chưa ra khỏi thung lũng và thay phiên nhau canh gác.

Tối hôm đó, khi họ đang chuẩn bị đi một lần nữa, Idland yêu cầu được nói riêng với Rønneberg. Idland đã gặp khó khăn khi đi theo đội, và thực sự đã có một số đoạn đường có địa hình gồ ghề mà họ có thể đi bằng ván trượt nếu Idland cũng có kỹ năng như những đồng đội khác. “Các bạn hãy tăng tốc và nhanh tới Thụy Điển,” Idland nói. “Còn tôi sẽ theo sau.” Rønneberg, vốn cảm thấy thái độ cần cù chịu khó đủ đền bù cho bất kỳ yếu kém nào trong năng lực vận động, bác bỏ ngay ý tưởng của Idland. “Dừng ý nghĩ đó lại ngay,” Rønneberg nói. “Cậu cứ vẽ chuyệnl.” Idland cố gắng phản kháng nhưng Rønneberg ngắt lời anh. Họ sẽ cùng nhau đến Thụy Điển.

Dưới ánh trăng, họ tiến tới Gudbrandsdalen. Đường đi phủ đầy băng nên họ phải đi vào cánh đồng, có ít gió nhưng rất lạnh. Quai ba lô mỏng cắt vào vai họ, chân họ đau nhức sau khi leo lên thung lũng. Sau nửa đêm, Rønneberg ra hiệu cho họ dừng lại, và họ chuẩn bị giường trong rừng, đặt lá thông và cây thạch nam lên trên tuyết. Sau đó, họ lách mình vào trong các chiếc túi ngủ, tỏ ra là những phao cứu sinh.

Trong bảy mươi hai giờ tiếp theo, họ đi bộ theo hướng đông nam, xuyên qua rừng và cánh đồng, thường xuyên phải vật lộn với tuyết và gió bất chợt. Họ băng qua một số đường trượt tuyết, bằng chứng cho thấy có rất nhiều người di chuyển trong khu vực, có thể là người Đức. Họ thường gặp khó khăn trong việc định hướng, không thể tìm được những điểm ở xa hoặc trong bóng tối để định hướng trên bản đồ của mình. Vào những thời điểm này, Rønneberg tiến bộ theo bản năng, được hỗ trợ bởi kinh nghiệm định hướng của mình và nhiều tháng nghiên cứu cách trốn thoát của họ. Khẩu phần ăn thấp đến mức nguy hiểm, đôi khi họ cũng cố tình mạo hiểm đi chệch hướng, cố gắng tìm những cabin có dự trữ thực phẩm. Thường thì họ tìm thấy rất ít hoặc không tìm thấy gì.

Cuối ngày 16 tháng 3, sau khi đi nhầm xuống thung lũng, họ đã đến được Glomma, con sông lớn nhất ở Na Uy. Trước sự ngạc nhiên của họ, nó không có băng. Rønneberg cử Storhaug, một người dân trong vùng, đi tìm một chiếc thuyền. Những người còn lại trong đội nấp trong một nhà kho cỏ khô chờ đợi.

Sau vài giờ, Storhaug quay lại: anh đã tìm được chiếc thuyền mà họ có thể đánh cắp. Trong những giờ sáng sớm còn tối vào  ngày mười bảy, họ chèo thuyền qua sông Glomma, rồi cho thuyền trôi xuôi dòng. Sau đó là một cuộc nghỉ ngơi khổ sở, đầy sương giá trong túi ngủ của họ. Vào buổi sáng, họ tiếp tục cuộc hành trình, tránh xa  một nhóm thợ rừng, sau đó băng qua một mớ bòng bong rừng, đường và suối hàng giờ khiến họ lúng túng không thể xác định được vị trí của mình. Tuyết rơi dày đặc khiến mỗi bước chân trở nên nặng nề.

Họ đột nhập vào cabin của một người mà Storhaug biết là một  cảm tình viên của Đức Quốc xã, tin rằng mình sẽ có nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào. Anh ấy đã sai; cabin không có thực phẩm  nào. Một lần nữa, họ ngủ bên ngoài trong túi ngủ ẩm ướt và quần áo đẫm mồ hôi, nhưng họ đã quá kiệt sức và đói nên không còn quan tâm nữa. Rønneberg mơ thấy những chiếc bàn rên rỉ dưới sức nặng của các đĩa thức ăn.

Họ thức dậy trong màn sương mù dày đặc. Đã mười lăm ngày kể từ khi họ khởi hành từ Hồ Skrykken, và họ chỉ còn cách biên giới Thụy Điển chưa đầy hai mươi dặm. Một lúc sau, họ đến gần một con đường cắt ngang một cánh đồng rộng và dài. Vượt qua nó bây giờ sẽ phơi mình trước thanh thiên bách nhật. Lẽ ra họ có thể đợi cho đến khi trời tối, nhưng họ có quá ít khẩu phần ăn và đã rất gần Thụy Điển và an toàn. Rønneberg hướng dẫn đồng đội cúi thấp và di chuyển nhanh chóng. Rồi, “Được rồi, đi thôi.”

Cả đội trượt nhanh hết mức có thể để đưa họ băng qua cánh đồng, cảm giác như đang ở giữa một cuộc tấn công, mắt đảo qua trái và phải, đề phòng bất kỳ xe tải hoặc ô tô nào. Họ ra đến đường, hơi thở nặng nề. Sau khi kiểm tra rằng không có ai đến từ cả hai hướng, họ băng qua. Sau đo họ vội vã băng qua phía bên kia cánh đồng, lưng lộ ra cả hai mặt đường. Trong vòng vài phút, tim đập thình thịch trong lồng ngực, họ đã đi vào rừng và có thể giảm tốc độ khi đi qua một đầm lầy gần như đóng băng.

Vào giữa buổi chiều, khi mặt trời lặn, cuối cùng họ cũng được nghỉ ngơi một lúc lâu. Họ trút bỏ áo sơ mi và ủng, trải túi ngủ ra để phơi khô và ăn những gì còn sót lại của thức ăn.

“Các cậu này,” Idland nói. “Khi chúng ta tới London, tôi không muốn nhìn thấy khuôn mặt chết bầm của các cậu trong mười bốn ngày. Tôi hoàn toàn ngán ngẩm các cậu rồi.” Những đồng đội phá lên cười,  lần đầu tiên cảm thấy thoải mái sau nhiều tuần. Bây giờ họ đã ở rất gần nơi an toàn.

Khi màn đêm buông xuống, họ di chuyển qua một vùng đất thấp nào đó có nhiều khe núi, bụi rậm và những cây xương xẩu, vặn vẹo. Việc đi lại thật khó khăn và việc định hướng cũng khó khăn, nhưng không có người Đức nào trong tầm mắt. Đến 20h15 ngày 18/3, cuối cùng họ cũng vượt qua Cột mốc biên giới số 106 vào Thụy Điển. Sau đó, họ đốt một đống lửa, ngồi xung quanh và đốt tấm bản đồ cuối cùng. Rồi họ chui vào túi ngủ, thở phào nhẹ nhõm và kiệt sức.

Vào buổi sáng, họ chôn cất mọi thứ đánh dấu họ là lính, kể cả súng. Mặc quần áo dân sự, họ phải đi bộ 12 dặm qua biên giới trước khi tìm thấy một đội tuần tra để đầu hàng. Câu chuyện che đậy của họ là họ đã trốn thoát khỏi một nhà tù ở Đức, nơi họ bị giam giữ vì hoạt động ngầm. Nếu người Thụy Điển tin vào câu chuyện của họ, năm người sẽ được đưa đến một trại tị nạn, từ đó họ có thể liên hệ với những quan chức Na Uy có liên hệ với SOE.

Cuộc trốn thoát của Gunnerside vào Thụy Điển 28/2 đến 18/3 năm 1943

*

Khi Knut Haukelid còn là một cậu bé, anh tin rằng có những con quỷ lùn sống ở vùng nông thôn Na Uy, tránh xa những cặp mắt tò mò của con người. Giờ đây, chỉ cách những ngọn núi và hồ nước nơi anh đã trải qua phần lớn thời tuổi trẻ chỉ một ngày hành trình, anh và Kjelstrup cũng giống như những con quỷ khổng lồ đó, ẩn náu trên vùng cao không cây cối  trong một túp lều có vách mỏng.

Nhưng đó không phải là một cuộc sống vô tư. Sự thật là họ đang đói. Họ không chỉ phải chịu đựng những cơn đói mà còn là sự thiếu thốn khiến cơ thể trở nên yếu đuối và tâm trí trống rỗng. Họ biết rằng họ cần phải đi săn nhưng cũng biết rằng cố gắng, nếu không thành công, sẽ tiêu hao chút sức lực còn lại. Một đêm nọ, cào đĩa chỉ còn lại các vụn bánh mì sau một bữa ăn còm cõi khác, Kjelstrup nói: “Khi cuộc chiến này kết thúc, tôi sẽ tiêu hết tiền vào đồ ăn.” Haukelid nhìn đôi má hóp lại dưới bộ râu đỏ của người bạn. Suy yếu nghiêm trọng sau nhiều tháng ở Vidda, Kjelstrup đang ở trong tình trạng tồi tệ.

Đã hơn hai tuần trôi qua kể từ khi họ rời Skårbu. Họ đã lê bước về phía tây qua năm mươi dặm, kéo theo một chiếc xe trượt tuyết chở đầy vũ khí, thiết bị vô tuyến và các thiết bị khác, cho đến khi họ đến một căn nhà gỗ ven hồ trong khuôn viên bao quanh nhà nghỉ trên núi Haukeliseteri . Những anh em họ của Haukelid sống cách đó ba giờ đồng hồ trong ngôi làng nông nghiệp nhỏ Vågslid, và họ đã dự trữ cho nơi đây thực phẩm đóng hộp và yến mạch. Từ đó, Haukelid và Kjelstrup lên kế hoạch thành lập một tổ kháng chiến ngầm trong khu vực.

Ngay sau khi đến nơi, họ nghe nói rằng quan tòa địa phương đang truy lùng những kẻ phá hoại Vemork, với sự hỗ trợ của một số đội tuần tra Đức, vì vậy họ đi về phía tây nam đến một túp lều trên núi ở khu vực lân cận để ẩn mình. Họ tiêu thụ hết khẩu phần ăn của mình một cách nhanh chóng và những cuộc săn tuần lộc ban đầu của họ đã không thành công. Với cây gậy trượt tuyết của mình, Haukelid đã xiên một con sóc gầy gò mắc kẹt trong đống tuyết, nhưng việc lột da và nấu nướng cũng tốn nhiều công sức như việc cung cấp chất dinh dưỡng. Họ ăn sống bất kỳ động vật nhỏ nào họ bẫy hoặc bắn được. Khi họ không mơ thấy đồ ăn thì họ mơ thấy củi. Thứ tốt nhất họ có thể tìm thấy là những bụi cây bách xù bị chôn vùi trong tuyết hoặc những cây bạch dương nhỏ, phải mất nửa ngày để thu thập và mang trở lại túp lều của họ.

Vào tuần cuối cùng của tháng 3, Haukelid và Kjelstrup đang trong tình trạng tồi tệ và biết rằng họ phải quay lại Vågslid để lấy thức ăn. Sau đó, họ sẽ đi tiếp đến Hồ Møs. Sau khi rời Skårbu, Skinnarland và Haugland có ý định chuyển đến Nilsbu. Ở đó, Haugland lên kế hoạch dạy Skinnarland cách mã hóa và truyền tin nhắn vô tuyến để anh có thể vận hành điện đài của riêng mình trong khu vực.

Haukelid và Kjelstrup đi Vågslid vào một buổi sáng đầy sương mù xám xịt. Họ trượt xuống từ túp lều của mình rồi đi về phía đông qua những ngọn núi cho đến khi họ tới Đường Haukeli, vốn được đẽo từ đá thô bằng cuốc rìu vài thập kỷ trước.

Vào cuối buổi chiều, họ đến trang trại của người chú của Haukelid ở ngoại ô Vågslid. Haukelid đợi bên đường trong khi Kjelstrup đi lên lấy bánh mì và các đồ dùng khác. Haukelid quá nổi tiếng trong khu vực nên có thể gặp rủi ro. Trong khi chờ đợi, một cảm giác đáng lo ngại ập đến trong anh. Tin tưởng vào bản năng của mình, anh rút lui sau một cây bạch dương trên núi. Một lúc sau, hai người lính Đức mang súng trường vòng qua ngọn đồi và bước đi về phía vị trí của mình. Cúi thấp người, Haukelid nắm chặt báng súng nhét vào thắt lưng. Hai tên lính đi ngang qua anh trong vòng năm bộ, nhưng không phát hiện ra sự hiện diện của anh. Họ cũng không để ý đến vết trượt tuyết của anh trên đường.

Tại trang trại, Kjelstrup không nhận được sự chào đón nồng nhiệt. Anh họ của Haukelid đưa cho anh bốn ổ bánh mì và giục anh chạy đi. Một lượng lớn quân đội đã tràn xuống quận. “Ở trong làng không an toàn,” người anh họ nói. “Không được phép đi lại giữa các trang trại và quân Đức đang tuần tra trên đường mỗi giờ.” Kjelstrup rời đi và lướt xuống con đường trên ván trượt của mình. Khi vòng qua khúc cua, anh phát hiện một số người lính đang tuần tra. Anh phanh gấp và cúi xuống tuyết, hy vọng Haukelid đã khuất tầm nhìn. Họ đã vô tình rơi vào một cái bẫy.

*

Sau khi các báo cáo chỉ ra Hardangervidda là căn cứ của những kẻ phá hoại Vemork, một cuộc truy lùng đã được phát động vào ngày 24 tháng 3 và chính Fehlis đã thành lập trụ sở tạm thời ở phía nam Rjukan. Không tiếc công sức trong việc bố ráp những kẻ chịu trách nhiệm vụ tấn công và bất cứ ai ủng hộ họ. Fehlis đã cử một đội quân để hoàn thành nhiệm vụ: hàng nghìn bộ binh Wehrmacht, hàng trăm cảnh sát Đức và Na Uy, các tên điều tra Gestapo, quân xung kích SS, và cuối cùng là hàng chục trung đội Jagdkommando (lực lượng đặc nhiệm Áoq). Đây là những chiến sĩ tinh nhuệ chuyên tiêu diệt các nhóm du kích nơi họ sinh sống và hoạt động. Tổng cộng có gần tám nghìn người, quân đội của Fehlis được hỗ trợ bởi dân địa phương hiểu rõ vùng nông thôn và được hỗ trợ bởi các cuộc tuần tra lưu động. của máy bay trinh sát Fi-156 Storch.

Một thợ săn người Na Uy tên là Kristiansen, sau chuyến đi chơi trên cao nguyên, đã trở về làng của mình với sô cô la Anh và câu chuyện về những người lính được trang bị vũ khí tốt đã bắt anh làm con tin trên Vidda. Cảnh sát trưởng đã bắt giữ hắn ta và giao cho Gestapo để thẩm vấn. Đội tuần tra đã phát hiện ra bằng chứng để chứng thực lời kể của hắn. Theo cuộc thẩm vấn của họ, “Bảy người đàn ông được nhìn thấy trên ván trượt trên Hardangervidda, hướng tới Rjukan. Hai người mặc quần áo dân sự; năm mặc quân phục; và mang theo súng tiểu liên, cùng những thứ khác. Tất cả đều mặc quần áo ngụy trang màu trắng.” Các báo cáo cho biết một cabin trên Hồ Skrykken đã bị đột nhập và “dấu vết của 5 đôi ván trượt và một chiếc xe trượt tuyết được nhìn thấy chạy từ Rjukan và tránh các khu vực có người ở” sau cuộc tấn công.

Nếu biệt kích của đối phương và quân kháng chiến Na Uy tin tưởng rằng Vidda là căn cứ lý tưởng cho các hoạt động của họ, thì Fehlis có ý định chứng minh điều ngược lại. Quân của y bao quanh cao nguyên cằn cỗi như một chiếc thòng lọng, rồi mở cuộc đột kích. quân đội lùng sục khắp vùng nông thôn, lục soát mọi trang trại và căn nhà gỗ để tìm những kẻ đào tẩu hoặc những người ủng hộ chúng. Họ cũng đề phòng vũ khí, chất nổ, điện đài, báo và hàng lậu khác. Việc đi lại trong Vidda bị cấm và bất kỳ ai bị phát hiện lang thang trong khu vực sẽ bị bắt ngay lập tức. Bất kỳ ngôi nhà nào được sử dụng cho mục đích kháng chiến sẽ bị đốt cháy ngay lập tức. Trong mệnh lệnh hành quân của mình, Fehlis cảnh báo binh sĩ dưới quyền rằng các đặc vụ được trang bị vũ khí hạng nặng và sẽ dùng mọi cách để trốn thoát. Họ nên lục soát các tòa nhà bằng bạo lực và chuẩn bị cho các cuộc phục kích. Cần phải cố gắng hết sức bắt sống họ để  thẩm vấn, nhưng nếu họ không chịu đầu hàng thì họ sẽ bị tiêu diệt.

Mặc dù Vidda là mục tiêu chính của y, nhưng Fehlis biết rằng y không thể giới hạn việc tìm kiếm của mình ở cao nguyên. Ở Rjukan và các thị trấn xung quanh, các rào chắn đã được thiết lập. Việc đi lại, thậm chí là đi bộ, bị hạn chế đối với những người có thẻ. Lệnh giới nghiêm đã được áp đặt và các áp phích thông báo cho người dân rằng bất kỳ ai vi phạm các hạn chế mới “sẽ bị bắn hạ không cần cảnh báo.” Hơn nữa Fehlis ra lệnh truy lùng gắt gao các khu vực lân cận ở phía nam và phía tây Hồ Møs. Tình báo đã tiết lộ rằng những khu vực này là điểm nóng của sự kháng cự. Y ra lệnh cho quân của mình truy quét những kẻ ẩn náu trong núi để chúng bị mắc kẹt trên những con đường dễ tuần tra. Một lực lượng khác được điều động đến biên giới Thụy Điển đề phòng bọn đào tẩu tiến về hướng đó.

Phải mất nhiều tuần để tập hợp quân đội của mình, nhưng Fehlis đã sử dụng binh lính một cách hiệu quả. Sự phá hoại của Vemork và phong trào kháng chiến đang phát triển phải được giải quyết, và y là người đã đối phó với họ. Terboven và Falkenhorst đang chú ý, và Berlin chắc chắn đang chờ đợi tin tức về thành công của y.

Bình luận về bài viết này