Chiến tranh Nga- Ukraine (Bài 7)

SERHII PLOKHY

Trần Quang Nghĩa dịch

7 Cuộc Chiến của Putin

Vào mùa thu năm 2008, Vladimir Putin, khi đó là thủ tướng Nga, vừa rời nhiệm sở tổng thống, đã hỏi Aleksei Venediktov, tổng biên tập của đài phát thanh Echo of Moscow, một đài phát thanh theo đường lối tự do nhưng vẫn được chính quyền cho phép, rằng những khía cạnh nào trong hai nhiệm kỳ tổng thống của ông sẽ được đưa vào sách giáo khoa lịch sử ở trường học.

Venediktov, người đã bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là một giáo viên lịch sử, đã trả lời rằng đó chính là sáng kiến ​​của Putin dẫn đến việc tái thống nhất Tòa Thượng phụ Moscow với Giáo hội Chính thống giáo Nga ở nước ngoài – một tổ chức di cư vẫn chống Bolshevik và trung thành với triều đại Romanov sau Cách mạng năm 1917. Putin ngạc nhiên hỏi, “Và chỉ có bấy nhiêu thôi  à?” Vào năm 2015, bảy năm sau cuộc trò chuyện ban đầu của họ và một năm sau khi sáp nhập Crimea, Putin đã hỏi Venediktov câu hỏi tương tự. “Putin biết rất rõ”, Venediktov nhận xét trong một cuộc phỏng vấn, “sách lịch sử của cả trường học Nga và Ukraine sẽ nói rằng ‘Khrushchev đã trả lại Crimea, và Putin đã lấy lại nó.”

Putin đã so sánh mình không chỉ với các nhà lãnh đạo Liên Xô giống như Khrushchev mà còn với các hoàng đế Nga Peter I, Catherine II, và Alexander II. Tượng bán thân của họ và những bức chân dung đã tìm đường vào tiền phòng của Putin tại Điện Kremlin và thư ký báo chí của ông, Dmitrii Peskov, đã xác nhận cấp trên của mình rất quan tâm đến lịch sử. “Putin đọc mọi lúc,” Peskov thổ lộ vào một dịp nọ, “chủ yếu là về lịch sử nước Nga. Ông ấy đọc hồi ký, hồi ký của các nhân vật lịch sử của nhà nước Nga.” Việc đọc lịch sử của Putin rõ ràng đã tăng cường trong thời gian phong tỏa vì COVID năm 2020-21. Lần này, ông không chỉ đọc mà còn viết.

Vào tháng 7 năm 2021, Putin đã khiến những quan sát viên nước Nga trên toàn thế giới phải ngạc nhiên khi công bố một bài tiểu luận lịch sử dài, mà xét vẻ bề ngoài, ông đã tự viết, với một số hỗ trợ. Bài tiểu luận có tựa đề “Về tính thống nhất lịch sử của người Nga và người Ukraine”, phản ánh quan điểm đã được biết đến rộng rãi của ông, được trình bày chi tiết với một chuyến du ngoạn dài vào lịch sử.

Sau thất bại của dự án hội nhập Á-Âu của ông ở Kyiv và việc thực hiện kịch bản Đại Nga của ông bằng việc sáp nhập Crimea, Putin đã quay trở lại với tầm nhìn đế quốc về một nhà nước Đại Nga, một dự án toàn Nga được Aleksander Solzhenitsyn cùng nhiều nhân vật khác ủng hộ. “Tôi đã nói rằng người Nga và người Ukraine là một dân tộc – một tổng thể duy nhất”, Putin viết trong tuyên bố mở đầu của bài luận dài. “Những lời này không được thúc đẩy bởi một số cân nhắc ngắn hạn hoặc được xúi giục bởi bối cảnh chính trị đương thời. Đó là điều tôi đã nói nhiều lần và tôi tin chắc như vậy.”

Tiếp theo là một cuộc thảo luận kéo dài về lịch sử của Nga và Ukraine, những tiền đề cơ bản của chúng tuân theo đường lối được Bá tước Sergei Uvarov thiết lập vào thế kỷ 19, và nhà sử học yêu thích của ông, Nikolai Ustrialov, người mà ông đã giao nhiệm vụ viết sách giáo khoa về lịch sử Nga,. Giống như Ustrialov, Putin tập trung vào những gì ông coi là sự thống nhất căn nguyên của quốc gia Đại Nga, được thiết lập vào thời trung cổ, khi người dân Nga không chỉ được cai trị bởi cùng một ông hoàng và thuộc cùng một Giáo hội Chính thống giáo mà còn được cho là nói cùng một ngôn ngữ. Vương quốc Kyiv Rus thực tế là một chính thể đa sắc tộc có lãnh thổ trải dài hàng ngàn dặm. Nhưng Putin, giống như Ustrialov và nhiều người khác đi theo sự dẫn dắt của nhà sử học, đã quy kết việc đánh mất sự thống nhất giả định của Nga cho những nhà cai trị tồi và kẻ thù nước ngoài.

“Bức tường xuất hiện trong những năm gần đây giữa Nga và Ukraine, giữa các bộ phận về cơ bản là cùng một không gian lịch sử và tinh thần, theo tôi là nỗi bất hạnh và bi kịch chung lớn lao của chúng ta,” Putin viết. “Trước hết và trên hết, đây là hậu quả của những sai lầm của chính chúng ta đã mắc phải ở những thời kỳ khác nhau. Nhưng đây cũng là kết quả của những nỗ lực cố ý của những thế lực luôn tìm cách phá hoại sự thống nhất của chúng ta.” Khi nói đến “những sai lầm của chính chúng ta,” Putin trước hết và trên hết chỉ ra những sai lầm mà những người Bolshevik, đặc biệt là Vladimir Lenin, đã phạm phải. Danh sách những kẻ thù lịch sử của Nga rất dài, từ người Mông Cổ thế kỷ thứ 13 đến người Ba Lan vào thế kỷ 15 và 16, sau đó là người Áo-Hung và lại là người Ba Lan vào thế kỷ 19, cũng như người Đức vào thế kỷ 20.

Người Ba Lan đóng vai trò đặc biệt như một quốc gia chịu trách nhiệm cho sự tan rã của khối dân Nga thống nhất trong tất cả các câu chuyện về đế quốc Nga, và phiên bản của Putin không đi chệch khỏi truyền thống lâu đời đó. “Ý tưởng về người dân Ukraine như một quốc gia tách biệt với người Nga bắt đầu hình thành và giành được chỗ đứng trong giới tinh hoa Ba Lan và một phần của “Giới trí thức Malorussian [thuật ngữ đế quốc dành cho người Ukraine],” Putin viết, gần như tuân theo lập luận do chính quyền đế quốc đưa ra vào năm 1863 như là căn cứ để cấm các ấn phẩm tiếng Ukraine. Sau đó, ông cố gắng giải thích việc Đế quốc Nga truy tố các nhà lãnh đạo của phong trào Ukraine, và đặc biệt là lệnh cấm các ấn phẩm tiếng Ukraine, bằng cách đổ lỗi cho người Ba Lan một lần nữa. “Những quyết định này được đưa ra trong bối cảnh các sự kiện đầy bi kịch ở Ba Lan và mong muốn của các nhà lãnh đạo phong trào dân tộc Ba Lan nhằm khai thác ‘vấn đề Ukraine’ để mang lại lợi ích cho riêng họ”, Putin viết.

Đóng góp của Putin vào các lược đồ lịch sử của những người tiền nhiệm của mình là khái niệm về Ukraine như một quốc gia chống Nga hoặc, như ông mô tả, “là một rào cản giữa châu Âu và Nga, một bàn đạp chống lại Nga.” Nó được cho là một hỗn hợp của các thế lực phương Tây độc ác. “Không thể tránh khỏi, đã đến lúc khái niệm ‘Ukraine không phải là Nga’ không còn là một lựa chọn nữa”, Putin viết. “Đã tồn tại nhu cầu có một khái niệm ‘chống Nga’, mà chúng ta sẽ không bao giờ chấp nhận. Chủ sở hữu của dự án này đã lấy nền tảng cũ của các nhà tư tưởng Ba Lan-Áo để tạo ra một ‘nước Nga chống Moscow’. Putin cam kết hành động: “Chúng ta sẽ không bao giờ cho phép lãnh thổ lịch sử của chúng ta và những người dân gần gũi với chúng ta sống ở đó bị sử dụng để chống lại nước Nga.”

Putin rõ ràng đã bực tức  với nền dân chủ Ukraine, nơi liên tục tạo ra các nhà lãnh đạo chính trị cống hiến cho ý tưởng độc lập của Ukraine. Ông phàn nàn rằng “các tổng thống, thành viên quốc hội và bộ trưởng sẽ thay đổi, nhưng thái độ tách ra khỏi và thù địch với Nga sẽ vẫn còn.” Đó được cho là kết quả của hệ thống chính trị được thiết lập bởi “các tác giả phương Tây của dự án chống Nga.” Không nêu tên tổng thống mới của Ukraine Volodymyr Zelensky, Putin cáo buộc ông này nói dối cử tri của mình. “Đạt được hòa bình là khẩu hiệu bầu cử chính của tổng thống đương nhiệm”, Putin viết. “Ông ta lên nắm quyền bằng điều này. Nhưng những lời hứa hóa ra là dối trá. Không có gì thay đổi. Và theo một số cách, tình hình ở Ukraine và xung quanh Donbas thậm chí còn suy thoái.”

Đầy Tớ của Nhân Dân

Volodymyr Zelensky, một diễn viên hài, doanh nhân và nhân vật truyền hình 41 tuổi, đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Ukraine vào mùa xuân năm 2019. Vài năm trước đó, ông đã vào vai một tổng thống trung thực và quyết đoán trong một bộ phim truyền hình có tựa đề Đầy Tớ của Nhân Dân. Nhiều người thích nhân vật truyền hình do Zelensky thủ vai và ủng hộ nỗ lực tranh cử tổng thống của ông. Những người khác, đặc biệt là những cử tri trẻ tuổi, đã chán ngán nền chính trị và chính trị gia cũ và muốn có sự thay đổi.

Tổng thống đương nhiệm Petro Poroshenko đã vận động tranh cử với tư cách là ứng cử viên ủng hộ châu Âu và chống Nga, hy vọng rằng Zelensky sẽ được cử tri coi là người chiếm lĩnh vị trí ủng hộ Nga do các ứng cử viên trước đây như Yanukovych nắm giữ. Nhưng các nỗ lực chia rẽ cử tri thành các phe ủng hộ Nga và ủng hộ Ukraine không còn hiệu quả nữa. Ukraine hiện đã khá thống nhất, và Zelensky, người đã vận động tranh cử trên nền tảng chống tham nhũng, đã dễ dàng giành chiến thắng trước một ứng cử viên được đông đảo coi là đại diện của chế độ đầu sỏ kinh tế.

Zelensky đã giành được hơn 73 phần trăm số phiếu bầu trong vòng bầu cử thứ hai, giành được mọi khu vực bầu cử của Ukraine ngoại trừ một khu vực.

Xã hội Ukraine đã tập hợp xung quanh chính phủ để chấp nhận bản sắc ngôn ngữ và văn hóa mới của mình và thành lập một đội quân chuyên nghiệp, nhưng hầu hết công dân Ukraine không sẵn sàng chấp nhận tình trạng tham nhũng liên tục của chính phủ. Mặc dù đã được kiềm chế ở một mức độ nào đó dưới thời Tổng thống Poroshenko, nhưng tình trạng này vẫn là mối quan tâm lớn cả trong và ngoài nước. Bản thân Poroshenko minh họa cho sự thất bại của hệ thống không thể thoát khỏi ảnh hưởng của giới đầu sỏ. Là một tỷ phú vào năm 2012, ông đã mất đi địa vị đó khi chiến tranh bắt đầu nhưng đã giành lại được khi nhậm chức. Quan trọng hơn, các nhà hoạt động chống tham nhũng ở Ukraine coi Poroshenko là người quá tự mãn về các mưu mô tham nhũng đang diễn ra và mềm mỏng đối với các quan chức chính phủ biển thủ công quỹ.

Mối lo ngại của phe ủng hộ Poroshenko cho rằng Zelensky sẽ bán đứng Ukraine cho Nga hoặc tỏ ra không có khả năng chống lại Putin đã không thành hiện thực. Dưới sự lãnh đạo của Zelensky sẽ không có thay đổi nào trong quyết tâm gia nhập NATO của Ukraine, và các sáng kiến ​​xây dựng quốc gia và chính sách văn hóa do Poroshenko đưa ra vẫn được duy trì.

Là người giỏi đọc tâm trạng của quần chúng, Zelensky hiểu rằng chiến tranh đã thay đổi xã hội Ukraine. Ông sớm thành thạo không chỉ tiếng Ukraine mà còn cả nghệ thuật chính trị. Là một người Do Thái nói tiếng Nga đến từ miền đông Ukraine, ông đã giành được đa số phiếu bầu vững chắc trong số cử tri chủ yếu là người Ukraine và thường nói tiếng Ukraine, và vẫn được ưa chuộng lâu hơn bất kỳ người tiền nhiệm nào của mình trong chức vụ tổng thống.

Zelensky đã giành được chức tổng thống với lời hứa sẽ mang lại hòa bình lâu dài cho Ukraine. “Chúng tôi sẽ tiếp tục theo hướng đàm phán [hòa bình] Minsk và hướng tới việc ký kết lệnh ngừng bắn”, ông tuyên bố sau cuộc bầu cử. Zelensky đặt hy vọng về nền hòa bình của mình vào cuộc gặp mặt riêng với Putin.

Họ thực sự đã gặp nhau tại Paris vào tháng 12 năm 2019, cùng với Thủ tướng Đức Angela Merkel và người chủ trì cuộc đàm phán, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron. Họ đã nhất trí về một lệnh ngừng bắn mới để thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện tại: pháo kích qua ranh giới phân định ở Donbas đã diễn ra theo kiểu rời rạc trong nhiều năm, cũng như trao đổi tù binh. Nhưng không có tiến triển nào về câu hỏi cơ bản của thỏa thuận Minsk – liệu bầu cử địa phương ở Donbas hay việc rút quân của Nga, việc nào nên được ưu tiên trước.

“Cần phải đồng bộ hóa quá trình đạt được lệnh ngừng bắn với việc thực hiện các cải cách chính trị ở Ukraine, được nêu ra trong  Thỏa thuận Minsk”, Putin bình luận về kết quả của các cuộc đàm phán. Một số người Nga di cư có mối quan hệ tốt ở Moscow sau đó lập luận rằng Putin cảm thấy bị phản bội bởi các trợ lý của mình, đặc biệt là Vladislav Surkov, người đã hứa với ông rằng Zelensky sẽ chấp nhận các điều kiện của Nga. Người ta cho rằng sau cuộc họp ở Paris, Putin không chỉ sa thải Surkov mà còn bắt đầu nghĩ đến việc gây chiến với Ukraine.

Zelensky liên tục nhắc lại rằng ông sẽ không đổi lãnh thổ Ukraine lấy hòa bình. Nhưng ông do dự về vấn đề thực hiện các cải cách hiến pháp mà Putin hình dung. Các cải cách sẽ mang lại quy chế đặc biệt cho Donbas và biến nó thành một vùng đất Nga nếu người Nga được phép nắm quyền kiểm soát cuộc bầu cử. Poroshenko đã từng cố gắng thông qua các dự luật đó tại quốc hội Ukraine, chỉ để kích động các cuộc biểu tình quần chúng bùng phát. Zelensky cũng  đối mặt với những khó khăn tương tự khi vào tháng 10 năm 2019, ông đồng ý với công thức được Nga, Đức và Pháp ủng hộ để tái hòa nhập Donbas. Gần như ngay lập tức, các cuộc biểu tình quần chúng nổ ra trên khắp Ukraine dưới khẩu hiệu “Nói không với đầu hàng”. Tìm cách thoát khỏi tình hình khó khăn, Zelensky đã nói “không” với Putin ở Paris. Bây giờ ông ta không còn nơi nào để đi đến ngoài phương Tây và không còn cánh cửa nào để gõ ngoài cánh cửa NATO.

Vào tháng 12 năm 2019, tháng mà Zelensky gặp Putin tại Paris, quốc hội Ukraine do đảng Đầy Tớ của Nhân Dân của Zelensky thống trị đã thông qua một nghị quyết tái khẳng định lộ trình của Ukraine hướng tới tư cách thành viên NATO. Zelensky đã tuân thủ cam kết hiến pháp để đưa Ukraine trở thành thành viên của liên minh Bắc Đại Tây Dương và thực hiện một số biện pháp, bao gồm việc thông qua Chiến lược An ninh Quốc gia mới, để xích lại gần hơn với Liên minh.

Vào tháng 12 năm 2020, khi xung đột ở Donbas không có dấu hiệu lắng xuống, Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine, Andrii Taran, đã nêu vấn đề về Kế hoạch Hành động Thành viên NATO (MAP) trong bài phát biểu của mình trước các đại sứ và tùy viên quân sự của các nước NATO tại Kyiv. “Xin hãy thông báo với các thủ đô của các bạn rằng chúng tôi trông cậy vào sự ủng hộ chính trị và quân sự toàn diện của các bạn cho một quyết định như vậy [cấp cho Ukraine một MAP] tại hội nghị thượng đỉnh NATO tiếp theo vào năm 2021. Đây sẽ là một bước đi thiết thực và là minh chứng cho cam kết đối với các quyết định của Hội nghị Thượng đỉnh Bucharest năm 2008,” Bộ trưởng yêu cầu.

Bực tức vì Nga liên tục can thiệp vào công việc nội bộ của Ukraine thông qua các kênh truyền hình do Moscow hậu thuẫn, Zelensky đã sớm mở một mặt trận khác chống lại Nga, trấn áp các kênh do Nga tài trợ và chủ sở hữu thực tế của chúng, Viktor Medvedchuk. Là một chính trị gia và doanh nhân người Ukraine thân cận với Putin, Medvedchuk cũng từng là trung gian hậu thuẫn cho Tổng thống Poroshenko trong các giao dịch của ông với Điện Kremlin. Vào tháng 2 năm 2021, Zelensky đã sử dụng quyền hạn của Hội đồng An ninh và Quốc phòng đóng cửa một số kênh truyền hình do Medvedchuk kiểm soát. “Ukraine ủng hộ mạnh mẽ quyền tự do ngôn luận”, Zelensky đã tweet cho những người theo dõi mình. “Không phải tuyên truyền được tài trợ bởi quốc gia xâm lược đang phá hoại Ukraine trên con đường hội nhập EU và Euro-Atlantic. Cuộc chiến đấu giành độc lập là cuộc chiến đấu trong chiến tranh thông tin vì sự thật và các giá trị châu Âu.”

Hoa Kỳ ủng hộ động thái của Zelensky, nhưng Putin không hài lòng: Nga đang mất đi sự hiện diện trong không gian công cộng của Ukraine, hạn chế khả năng ảnh hưởng đến công chúng Ukraine và hù dọa giới tinh hoa chính trị Ukraine. Như thường lệ, Putin nhìn thấy ảnh hưởng của phương Tây đằng sau động thái của Kyiv. “Hãy nhìn xem, ở Ukraine, họ đã chọn ba kênh chính và đóng cửa chúng! Chỉ bằng một nét bút. Và mọi người đều im lặng! Và một số thậm chí còn vỗ lưng họ tán thành9. Người ta có thể nói gì về điều đó? Không có gì, ngoại trừ việc sử dụng những công cụ đó cho mục đích địa chính trị của riêng mình”, tổng thống Nga tuyên bố vào tháng 2 năm 2021, một vài tuần sau hành động của Zelensky và Hội đồng An ninh và Quốc phòng của ông.

Vài tuần sau, vào tháng 4 năm 2021, Nga đã điều động một số lượng quân lớn chưa từng có đến biên giới Ukraine – đợt triển khai quân và vũ khí lớn nhất kể từ cuộc chiến tranh nóng bỏng năm 2014-15. Những hồi chuông báo động vang lên ở các thủ đô phương Tây, trong khi Zelensky kêu gọi NATO xem xét lại yêu cầu gia nhập liên minh của Ukraine. Nga không đưa ra lý do cho sự leo thang đột ngột này, cũng không đưa ra lý do rõ ràng ngay lập tức. Một nhà phân tích Ukraine cho rằng đợt triển khai này đã bị kích động bởi các yêu cầu từ chính quyền Zelensky về một MAP cho Ukraine và rằng nó có ý nghĩa như một lời cảnh báo cho tổng thống Mỹ mới đắc cử, Joe Biden, người mà những câu hỏi đó cuối cùng muốn nhắm tới.

Lo ngại về sự gia tăng đột ngột, Zelensky một lần nữa kêu gọi NATO đẩy nhanh việc gia nhập liên minh của nước ông. Biden đã gọi điện để đảm bảo với ông về sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với chủ quyền của Ukraine, và Hoa Kỳ đã thảo luận về tình hình với các đồng minh NATO của mình. Bầu không khí khủng hoảng tháng 4 năm 2021 đã tan biến khi Moscow đột ngột di chuyển hầu hết quân đội của họ rời khỏi biên giới Ukraine vào tháng 5, nhưng một số cơ sở hạ tầng và một số thiết bị của họ vẫn còn ở lại khu vực này – một dấu hiệu rõ ràng cho thấy họ có thể sẽ quay trở lại.

Cuộc Khủng Hoảng Quốc Tế

Các cơ quan tình báo Mỹ và Anh, làm việc cùng nhau, bắt đầu nhận thấy sự chuẩn bị cho một cuộc xâm lược Ukraine có thể xảy ra vào mùa xuân năm 2021, khi hình ảnh vệ tinh cho thấy sự tập trung của quân đội Nga ở biên giới Ukraine. Tổng thống Biden đã gặp Vladimir Putin tại Geneva vào tháng 6 năm 2021 và đạt được một số tiến triển về các vấn đề an ninh mạng – một vấn đề gây khó chịu lớn trong quan hệ Hoa Kỳ-Nga do các cuộc tấn công bằng mã độc tống tiền vào doanh nghiệp Hoa Kỳ mà Hoa Kỳ quy cho Nga, cũng như một cuộc tấn công mạng vào các cơ quan chính phủ Mỹ. Ukraine đã có trong chương trình nghị sự, nhưng không có tiến triển nào được thực hiện để giải quyết cuộc khủng hoảng đang diễn ra ở Donbas.

Vào thời điểm diễn ra cuộc họp Biden-Putin, các cơ quan tình báo Hoa Kỳ và Anh đã nhận được báo cáo đầu tiên cho biết rằng các nhà chiến lược quân sự Nga đã bắt đầu lên kế hoạch cho một cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraine. Đến tháng 10, các cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã đưa ra gợi ý rằng Putin đã quyết tâm xâm lược và chiếm đóng hầu hết Ukraine. “Chúng tôi đánh giá rằng họ có kế hoạch tiến hành một cuộc tấn công chiến lược đáng kể vào Ukraine từ nhiều hướng cùng một lúc”, Tướng Mark A. Milley, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, nói với Tổng thống Biden, đồng thời nói thêm: “Phiên bản ‘gây sốc và kinh hoảng’ của họ”. Cuộc tấn công, được lên kế hoạch vào mùa đông, bao gồm cả việc “loại bỏ” Tổng thống Zelensky.

Nhà Trắng đã quyết định họ không thể chỉ ngồi yên trên số dữ liệu ngày càng tăng chỉ ra một cuộc xâm lược sắp đến. Trong một động thái chưa từng có, có thể gây nguy cơ bại lộ nguồn tin và phương pháp thu thập thông tin tình báo, hai chính phủ bắt đầu chia sẻ thông tin với các đồng minh để xây dựng một liên minh có thể ngăn chặn Putin. Vào đầu tháng 11, giám đốc CIA, William Burns, đã bay đến Moscow để nói với các đối thủ của mỉnh rằng kế hoạch của họ không còn gì bí mật nữa. Putin không đặt câu hỏi về tình báo Hoa Kỳ. Thay vào đó, ông phàn nàn về sự bành trướng của NATO. Trong đầu tháng 12, báo cáo về kế hoạch xâm lược liên quan đến 175.000 quân Nga đã xuất hiện trên tờ Washington Post.

Vào ngày 17 tháng 12 năm 2021, khi thế giới bắt đầu tuần cuối cùng trước kỳ nghỉ Giáng sinh, chính quyền Nga đã đưa ra tối hậu thư bất ngờ cho các đối thủ phương Tây. Danh sách các yêu cầu khá dài và bao gồm một cam kết bằng văn bản từ NATO về việc dừng mọi sự mở rộng liên minh, rút ​​quân NATO đa quốc gia khỏi Ba Lan và các quốc gia vùng Baltic, và thậm chí rút vũ khí hạt nhân của Mỹ ra khỏi châu Âu. Yêu cầu quan trọng nhất là cam kết chính thức của NATO rằng Ukraine không bao giờ được phép tham gia liên minh.

Bối cảnh đưa ra những yêu cầu này, đặc biệt là việc tập trung gần 200.000 quân Nga trong phạm vi tấn công biên giới Ukraine, cho thấy nếu phương Tây không tuân thủ, Nga sẽ tiến hành một cuộc tấn công quân sự lớn vào Ukraine, làm bùng phát lại cuộc chiến đã bắt đầu vào năm 2014.

Nhiệm vụ chính mà Biden và các cố vấn của ông đang cố gắng giải quyết đã được Tướng Milley tóm tắt theo cách sau: “Làm thế nào để bạn bảo lãnh và thực thi trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” chống lại một quốc gia có khả năng hạt nhân phi thường, “mà không cần phải tham gia Thế chiến thứ III?” Câu trả lời của ông ghi lại trong các thẻ ghi chú như sau: “1: ‘Không có xung đột động lực giữa quân đội Hoa Kỳ và NATO với Nga.’ 2: ‘Kiềm chế chiến tranh bên trong phạm vi ranh giới địa lý của Ukraine.’ 3: ‘Tăng cường và duy trì tính đoàn kết của NATO.’ 4: ‘Hỗ trợ cho Ukraine và cung cấp cho họ phương tiện để chiến đấu.”

Trong những tháng và tuần trước cuộc xâm lược, Tổng thống Biden đã áp dụng chính sách hai hướng liên quan đến một cuộc tấn công có thể xảy ra của Nga. Một mặt, tổng thống và chính quyền của ông liên tục cảnh báo thế giới về ý định và kế hoạch hung hăng của Putin, chia sẻ thông tin tình báo với bất kỳ ai sẵn sàng lắng nghe về số lượng quân đội Nga đang tiến đến biên giới Ukraine. Thông tin tình báo đó bao gồm cả ngày có thể xảy ra một cuộc xâm lược. Mặt khác, người Mỹ không bao giờ mệt mỏi khi nhắc lại rằng cả họ và các đối tác NATO của họ sẽ không chiến đấu ở Ukraine, do đó lựa chọn đưa quân đội vào là miễn bàn, và trấn an Putin rằng bất kể ông ta có thể làm gì ở Ukraine, sẽ không có phản ứng quân sự nào.

Hoa Kỳ sẽ không gửi quân đến Ukraine thậm chí để giải cứu công dân Mỹ, Biden tuyên bố. Nhiều người tin rằng việc loại bỏ mối đe dọa can thiệp quân sự là một sai lầm, vì nó trao cho Putin toàn quyền xâm lược mà không sợ chạm trán với các lực lượng vượt trội. Nhưng Biden rõ ràng muốn trấn an cả người dân của mình và công chúng phương Tây nói chung rằng sự phản đối của Hoa Kỳ đối với Nga về cuộc chiến tranh mới có thể xảy ra với Ukraine sẽ không dẫn đến một cuộc xung đột toàn cầu và có khả năng là xung đột hạt nhân. Để ngăn cản Putin xâm lược phương Tây chỉ biết đe dọa rằng phương Tây đoàn kết sẽ áp đặt các lệnh trừng phạt cá nhân và theo ngành đối với nền kinh tế Nga. Một chiến dịch truyền thông phương Tây đã bắt đầu nhằm làm mất đi lợi thế của tính bất ngờ đối với Putin, thậm chí có thể để khiến ông ta xấu hổ mà hủy bỏ hoặc trì hoãn cuộc xâm lược của mình.

Nếu tất cả những điều đó thất bại, Hoa Kỳ đã đe dọa Putin bằng cách hỗ trợ một cuộc nổi dậy tiềm tàng của lực lượng kháng chiến Ukraine chống lại lực lượng chiếm đóng Nga, vì không ai ở Washington, London hoặc các thủ đô phương Tây khác dự kiến ​​lực lượng vũ trang Ukraine sẽ có thể trụ được hơn vài ngày. Do đó, Hoa Kỳ không có kế hoạch gửi vũ khí đến Ukraine với số lượng lớn vì lo ngại là chúng sẽ rơi vào tay quân Nga sớm hay muộn. Các loại vũ khí do Hoa Kỳ và các đồng minh gửi đến với số lượng hạn chế bao gồm Javelin và Stingers, tên lửa chống tăng và phòng không mạnh mẽ có thể được các lực lượng du kích nhỏ sử dụng để gây thương vong cho một quân đội chiếm đóng, như lực lượng kháng chiến Afghanistan đã làm với Stingers vào cuối Chiến tranh Lạnh.

Khi Nga đưa ra tối hậu thư cho NATO vào tháng 12 năm 2021, yêu cầu các đường biên giới của liên minh phải được di chuyển trở lại vị trí năm 1997, Biden và Putin đã tổ chức một cuộc họp trực tuyến  vào ngày 30 tháng 12. Nhưng không có bất kỳ tiến triển nào, mặc dù họ vẫn đồng ý tiếp tục đàm phán. Người Nga ngoài mặt quan tâm đến việc đàm phán, nhưng không thực sự quân tâm đến tiến triển. Các cuộc đàm phán tiếp theo có sự tham gia của Hoa Kỳ, Nga, các đại diện của NATO và Ukraine với tư cách là thành viên của Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu cũng không đưa ra kết quả nào.

Washington coi những yêu cầu của Nga là không khả thi và tất cả các thành viên NATO đều không thể chấp nhận được –  một trường hợp hiếm hoi về sự nhất trí trong một liên minh thường căng thẳng vì bất đồng quan điểm về Nga. Tất cả các quốc gia thành viên đều đồng ý rằng không có thế lực bên ngoài nào có thể quyết định quốc gia nào có thể tham gia liên minh.

Sự thất bại của các cuộc đàm phán đóng vai trò như một khúc dạo đầu cho một cuộc tấn công của tin tặc vào các trang web chính thức của Ukraine, mà chính phủ Ukraine đổ lỗi cho Nga. Quốc hội Hoa Kỳ bắt đầu xem xét các dự luật áp đặt các lệnh trừng phạt lớn đối với khu vực tài chính và các quan chức cấp cao của Nga, bao gồm cả chính Tổng thống Putin. Khi người Nga đe dọa Hoa Kỳ và NATO bằng một “phản ứng bất đối xứng”, những tin đồn bắt đầu lan truyền khắp Washington cho rằng tên lửa có vũ trang hạt nhân có thể được lắp đặt gần bờ biển Hoa Kỳ. Sau khi các quan chức Nga đề xuất gửi quân đến Cuba và Venezuela, mối lo ngại ngày càng tăng, tin rằng những tên lửa như vậy có thể không chỉ được lắp đặt trên tàu ngầm mà còn có thể được bố trí trên đất liền. Những lời đe dọa của Putin trong vài tháng trước về việc lặp lại cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 đột nhiên có ý nghĩa và tính cấp bách mới.

Bây giờ đến lượt phương Tây tìm vào sách lịch sử và rút ra bài học, nếu không muốn nói là cảm hứng, từ quá khứ. Người ta đã rút ra những điểm tương đồng giữa căng thẳng gia tăng về Ukraine và cách các nền dân chủ phương Tây đối phó với nước Đức của Hitler về Tiệp Khắc vào năm 1938. Câu hỏi trong đầu mọi người là liệu có hay không một Munich khác – một thái độ vỗ về của phương Tây trước sức mạnh hung hãn của Nga. Vào tháng 1, bộ phim Đức/Anh Munich—The Edge of War (Munich – Bờ Vực Chiến Tranh), do Netflix phát hành, đã thu hút sự chú ý trên toàn thế giới. Tờ New York Times mô tả bộ phim là một nỗ lực nhằm tôn vinh Neville Chamberlain, thủ tướng Anh đã tham gia vào chiến lược ngoại giao xoa dịu gây nhiều tranh cãi trong thời gian chuẩn bị cho Thế chiến II.

Bất kể có thể nói gì về Pháp và Đức, thì không có thái độ vỗ về nào từ phía Hoa Kỳ. Ngoại trưởng  Antony Blinken lần đầu tiên thông báo cho Tổng thống Zelensky tin tức tình báo Hoa Kỳ về cuộc chiến sắp tới vào đầu tháng 11. Vài tuần sau, một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao đã nói với Ngoại trưởng Ukraine đang có chuyến thăm, Dmytro Kuleba, rằng “hãy đào chiến hào”. Giám đốc CIA William Burns, đến thăm Kyiv vào ngày 12 tháng 1 năm 2022, đã thông báo cho Tổng thống Zelensky về kế hoạch của Nga nhằm đánh chiếm Kyiv bằng cách đổ bộ tại sân bay Hostomel gần thủ đô Ukraine. Ông cũng nói với tổng thống hãy coi trọng vấn đề an ninh cá nhân và gia đình mình. Thêm lời cảnh báo đến từ Antony Blinken khi ông đến thăm Kyiv vài ngày sau đó và được Zelensky cho biết rằng ông sẽ không rời khỏi thủ đô.

Zelensky dường như không mấy ấn tượng với những cảnh báo của Mỹ. Sau này ông giải thích thái độ của mình vào thời điểm đó như sau: “Bạn có thể nói hàng triệu lần, ‘Nghe này, có thể sẽ có một cuộc xâm lược.’ Được rồi, có thể sẽ có một cuộc xâm lược – bạn sẽ cung cấp cho chúng tôi máy bay chứ? Bạn sẽ cung cấp cho chúng tôi hệ thống phòng không chứ? ‘Nhưng bạn không phải là thành viên của NATO.’ Ồ,được rồi, vậy thì chúng ta đang nói về điều gì?” Khi Tổng thống Biden gọi Zelensky vào cuối tháng 1 để báo cho cuộc tấn công của Nga gần như chắc chắn sẽ diễn ra vào tháng tới, Zelensky đã yêu cầu người đồng cấp Mỹ của mình “hãy làm dịu đi thông điệp”. Sau đó, ông nói với các phóng viên rằng những tín hiệu liên tục về “cuộc chiến ngày mai” đang gây ra “sự hoảng loạn trên thị trường và trong lĩnh vực tài chính”. Ông ước tính thiệt hại của Ukraine từ các tuyên bố công khai về cuộc chiến sắp tới là 15,5 tỷ đô la Mỹ.

Với những cảnh báo liên tiếp của Mỹ, những tổn thất kinh tế và không có dấu hiệu nào cho thấy phương Tây có thể can thiệp quân sự vào cuộc xung đột đang đến gần, người Ukraine tăng cường đàm phán với Nga. Chánh văn phòng của tổng thống Zelensky, Andrii Yermak, đã gặp đồng minh đáng tin cậy của Putin là Dmitrii Kozak, người bản xứ Ukraine và là phó văn phòng chính quyền tổng thống Putin, để đàm phán giải pháp cho cuộc xung đột Donbas. Các phương tiện truyền thông đưa tin về các cuộc đàm phán thất bại của họ, nhưng các cuộc tham vấn không chính thức vẫn tiếp tục, dẫn đến một dự thảo thỏa thuận theo đó Ukraine sẽ ngăn chặn hành động xâm lược có thể xảy ra của Nga bằng cách đảm bảo với Điện Kremlin rằng nước này sẽ không gia nhập NATO.

Trong khi đó, người Ukraine vẫn giữ được vẻ mặt can đảm, dường như hoàn toàn phủ nhận tình hình ngày càng nghiêm trọng. Vào cuối tháng 1, với việc các đại sứ quán Mỹ và phương Tây khác rời khỏi Kyiv và những cảnh báo liên tục từ Washington và London về một cuộc tấn công sắp xảy ra của Nga, Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine, Oleksii Reznikov, đã trấn an quốc hội và công chúng Ukraine, nói rằng: “Cho đến hôm nay, không có căn cứ nào để tin rằng Nga sẽ xâm lược”, và “Đừng lo lắng, hãy ngủ ngon. Không cần phải đóng gói hành lý”. Nhưng đằng sau hậu trường, chính quyền Ukraine đã yêu cầu bạn bè cung cấp vũ khí. Thư ký Hội đồng An ninh và Quốc phòng, Oleksii Danilov, đã gửi một thông điệp đến các đồng minh phương Tây: “Đừng la hét về điều này quá nhiều. Các bạn có thấy mối đe dọa không? Hãy cho chúng tôi 10 máy bay một ngày. Không phải một, mà là mười, và mối đe dọa sẽ biến mất.”

Đó là lập trường của Zelensky vào ngày 19 tháng 2, ba ngày trước cuộc xâm lược, khi ông khiến mọi người ngạc nhiên khi rời Kyiv để tham dự Hội nghị An ninh Munich. “Dù có chuyện gì xảy ra, chúng tôi sẽ bảo vệ vùng đất tuyệt vời của mình, cho dù có 50.000, 150.000 hay một triệu quân lính của bất kỳ quân đội nào trên biên giới của chúng ta”, Zelensky tuyên bố. “Để thực sự giúp đỡ Ukraine, không cần phải nói chúng có bao nhiêu người –  lính và thiết bị. Điều cần nói là chứng ta có bao nhiêu người. Để thực sự giúp đỡ Ukraine, không cần phải tiếp tục nói về ngày có thể xảy ra cuộc xâm lược. Chúng ta sẽ bảo vệ đất nước của mình cho dù đó là ngày 16 tháng 2, ngày 1 tháng 3 hay ngày 31 tháng 12. Điều chúng ta cần nhiều hơn nữa là những ngày khác nhau. Và mọi người đều hiểu rõ những ngày nào”. Ông đang ám chỉ đến việc giao vũ khí.

Zelensky cũng nhắc nhở những người tham dự hội nghị về trách nhiệm mà các cường quốc đã đảm nhận khi ký Bản Ghi nhớ Budapest năm 1994 và loại bỏ vũ khí hạt nhân khỏi Ukraine. “Ukraine đã nhận được bảo đảm an ninh khi từ bỏ năng lực hạt nhân lớn thứ ba thế giới”, Zelensky tuyên bố. “Giờ chúng tôi không có vũ khí đó. Chúng tôi cũng không có bảo đảm an ninh đói. Chúng tôi cũng đánh mất phần lãnh thổ có diện tích lớn hơn Thụy Sĩ, Hà Lan hoặc Bỉ. Và quan trọng nhất là chúng tôi đánh mất hàng triệu công dân. Chúng tôi không có tất cả những thứ đó. Do đó, chúng tôi phải có một thứ gì đó. Quyền yêu cầu chuyển từ chính sách xoa dịu sang đảm bảo an ninh và hòa bình.”

Theo một thành viên của phái đoàn Ukraine tại hội nghị Munich, một số nhà lãnh đạo phương Tây đã khuyên Zelensky không nên trở về Ukraine vì sắp có cuộc xâm lược và thay vào đó hãy thành lập một chính quyền lưu vong. London hoặc Warsaw, thủ đô của hai đồng minh trung thành nhất của Ukraine ở châu Âu, đã được đề xuất. Zelensky được cho là đã từ chối. “Tôi đã ăn sáng ở Ukraine và tôi sẽ ăn tối ở Ukraine,” tổng thống Ukraine trả lời. Ít ai ngờ được một câu trả lời như vậy từ một cựu diễn viên hài, người không có kinh nghiệm chính trị trước đó, đã đảm nhiệm chức tổng thống của một quốc gia đang gặp lâm nguy và hứa sẽ chấm dứt cuộc xung đột đang diễn ra với Nga càng sớm càng tốt.

Tuyên bố Chiến tranh

Vào cuối năm 2021, khi những tin đồn về tình hình sức khỏe yếu kém của Putin bắt đầu lan truyền với cường độ mới ở Nga và nước ngoài, các nhà quan sát bắt đầu nhận thấy những thay đổi trong ngoại hình của Putin, bao gồm cả bộ mặt sưng húp – có thể là một hiệu ứng của thuốc. Và không thể phớt lờ mức độ Putin quan tâm đến việc bảo vệ bản thân trong dịch COVID-19 hoặc các bệnh nhiễm trùng khi ông xếp chỗ ngồi cho các quan khách nước ngoài đến gặp mình ở đầu đối diện của một chiếc bàn dài một cách lố bịch. Điều này khiến các nhà bình luận chính trị Nga quan tâm đến vấn đề di sản của Putin, trong đó Crimea và Ukraine là những vấn đề nổi bật. Nhà tư vấn chính trị và chuyên gia về Ukraine Sergei Markov, người gần gũi với Điện Kremlin, cho rằng “Putin không thể từ chức bỏ lại Ukraine bị chiếm đóng, với người Nga ở đó đang bị biến thành những người chống Nga bằng các phương tiện khủng bố.” Rồi ông giải thích suy nghĩ của mình theo hướng dự án toàn Nga: “Bởi vì Ukraine thực chất là một bộ phận của nước Nga.”

Putin lần đầu tiên công khai ủng hộ ý tưởng đế quốc về một nhà nước Đại Nga và tuyên bố rằng người Nga và người Ukraine là một và là cùng một dân tộc trong chuyến thăm Kyiv của ông vào mùa hè năm 2013. Ông đã đến đó cùng với Thượng phụ Kirill của Giáo hội Chính thống giáo Nga để đánh dấu được cho là lần thứ 1.025. lễ rửa tội của Kyiv Rus’. “Chúng tôi hiểu thực tế ngày nay”, Putin tuyên bố, trước đám khán giả thân thiện tham dự buổi lễ trong một bài phát biểu có tiêu đề thích hợp là “Các Giá trị Slavơ Chính thống: Cơ sở Lựa chọn Văn minh của Ukraine”. “Chúng ta có người dân Ukraine và người dân Belarus và các dân tộc khác, và chúng ta tôn trọng toàn bộ di sản đó, nhưng nền tảng nằm ở đó, không còn nghi ngờ gì nữa, các giá trị tinh thần chung của chúng ta, khiến chúng ta trở thành một dân tộc”.

Putin sẽ lặp lại câu thần chú về người Nga và người Ukraine là một và cùng một dân tộc lặp đi lặp lại, nhưng bây giờ Markov lập luận rằng đã đến lúc Putin biến lời nói của mình thành hành động. Nhưng cũng có những người trong phe dân tộc chủ nghĩa Nga không tin rằng cuộc chiến giữa người Nga và người Ukraine là một ý tưởng hay.

Người đứng đầu Hội đồng Sĩ quan toàn Nga, Đại tá tướng Leonid Ivashov, đã công bố một bức thư ngỏ gửi Putin phản đối cuộc chiến trên cơ sở lợi ích quốc gia của Nga và sự thống nhất của người Slav. “Sử dụng vũ lực quân sự chống lại Ukraine, thứ nhất, sẽ đặt ra câu hỏi về sự tồn tại của chính nước Nga với tư cách là một nhà nước”, Ivashov viết. “Thứ hai, nó sẽ khiến người Nga và người Ukraine mãi mãi trở thành kẻ thù không đội trời chung. Thứ ba, hàng ngàn (hàng chục ngàn) thanh niên khỏe mạnh sẽ thiệt mạng ở cả hai bên, và điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tình hình nhân khẩu học trong tương lai ở các quốc gia của chúng ta, đang trên đà suy kiệt “

Vladimir Putin đã dành nhiều tuần, nhiều tháng và nhiều ngày trước khi chiến tranh nổ ra để công khai phủ nhận ý định bắt đầu cuộc chiến. Ông đã lên tiếng vào ngày 12 tháng 2, chưa đầy hai tuần trước cuộc xâm lược, phủ nhận mọi kế hoạch phát động cuộc xâm lược, mặc dù có báo cáo liên tục của Hoa Kỳ rằng quân đội Nga vẫn tiếp tục tập trung ở biên giới Ukraine, đạt tổng số 100.000 và sau đó là 150.000 người. Tổng cộng, theo ước tính của Hoa Kỳ, vào thời điểm cuộc xâm lược, Điện Kremlin đã huy động 120 tiểu đoàn các nhóm chiến thuật với tổng quân số từ 150.000 đến 190.000 người. “Sự thật là người Mỹ đang cố tình kích động sự cuồng loạn xung quanh một kế hoạch xâm lược được cho là của Nga, thậm chí còn cung cấp ngày tháng một cuộc xâm lược như vậy”, tổng thống Nga tuyên bố. 

Putin đã đưa ra quyết định chính thức về việc tham chiến tại cuộc họp ngày 21 tháng 2 của Hội đồng An ninh Nga, cuộc họp đã lên án các Hiệp định Minsk và ủng hộ đề xuất công nhận “sự độc lập” của hai quốc gia bù nhìn ở Donbas của Ukraine. Như Putin đã thừa nhận trước ống kính máy quay, ông chưa thảo luận về quyết định lên án các thỏa thuận và công nhận sự độc lập của các “nước cộng hòa” Donbas với các thành viên hội đồng trước đó. Điều ông muốn là lắng  nghe ý kiến ​​của họ. Đoạn phim truyền hình được biên tập kỹ lưỡng về cuộc họp rõ ràng cho thấy không mấy người có ý kiến ​​riêng. Phần lớn hết sức đưa ra các lập luận ủng hộ một quyết định đã được đưa ra, và người đứng đầu cơ quan tình báo nước ngoài, Sergei Naryshkin, thậm chí còn bị Putin khiển trách, đầu tiên là vì do dự công nhận hai “nước cộng hòa nhân dân” và sau đó lại quá trớn khi đề xuất hơi sớm sáp nhập chúng vào Nga.

Đoạn phim cho thấy mạnh mẽ quyết định gây chiến là quyết định riêng của Putin. Những người còn lại chỉ ngồi đó để lên tiếng ủng hộ. Trong số những người có mặt là Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov, người mà Putin, theo như nhà báo điều tra Christo Grozev, được cho là không bao giờ được tham khảo ý kiến ​​về vấn đề gây chiến tranh với Ukraine. Theo một giai thoại được chia sẻ bởi những người phương Tây theo dõi Nga, khi được hỏi ai là cố vấn của Putin , Lavrov được cho là đã trả lời: Peter Đại đế, Catherine Đại đế, và Alexander II – các hoàng đế Nga của thế kỷ thứ 18 và 19.

Sau khi truyền hình Nga công bố cảnh quay cuộc họp của Hội đồng Bảo an, họ đã phát sóng một bài phát biểu dài của Putin giải thích quyết định lên án Thỏa thuận Minsk năm 2015. Bài phát biểu cho thấy Putin sẽ không giới hạn mình ở Donbas, cho dù các bang này được tuyên bố chính thức độc lập hay sáp nhập hoàn toàn, như Naryshkin đã đề xuất. Putin muốn giành lại toàn bộ Ukraine. Ông quay trở lại chủ đề chính của các bài tiểu luận lịch sử của mình vào tháng 7 năm 2021 trong nỗ lực làm mất tính hợp pháp của sự tồn tại của Ukraine với tư cách là một nhà nước và một quốc gia. “Nước Ukraine hiện đại hoàn toàn do Nga tạo ra hoặc chính xác hơn là do những người Bolshevik của nước Nga Cộng sản”, tổng thống Nga tuyên bố. “Quá trình này bắt đầu thực tế ngay sau cuộc cách mạng năm 1917, và Lenin cùng những người cộng sự đã thực hiện theo một cách cực kỳ nghiệt ngã đối với nước Nga – bằng cách chia cắt, cắt đứt những gì về mặt lịch sử là đất nước Nga”. Chủ đề đó đã ăn sâu vào các tác phẩm của những người di cư Bạch vệ Nga như Tướng Anton Denikin và là một huyết mạch nổi bật trong tư duy và bài viết của Solzhenitsyn. Putin góp thêm sức nặng cho lập luận của mình bằng cách chỉ ra rằng ông đã nghiên cứu chủ đề này trên cơ sở các tài liệu lưu trữ.

Trên mạng xã hội Ukraine, phản ứng trước tuyên bố của Putin là sự chế giễu. Chỉ trong vài giờ, Facebook tràn ngập hình ảnh Vladimir Lenin ngạc nhiên khi biết rằng mình đã sáng lập ra Ukraine.

Một hình ảnh cắt ghép đã đưa Lenin vào tượng đài tưởng niệm những người sáng lập huyền thoại của đất nước Kyiv, anh em Kyi, Shchek và Khoryv và chị gái của họ, Lybid. Lenin đã thay thế Lybid ở mũi thuyền chở những người sáng lập thủ đô Ukraine. Tượng đài này thể hiện niềm tin phổ biến của người Ukraine cho rằng nguồn gốc của đất nước họ có từ thời Trung cổ. Putin không mấy quan tâm đến phản ứng của Ukraine – quyết định của ông đã được đưa ra.

Tượng đài gốc

Hình ảnh cắt ghép

Vào ngày 21 tháng 2, ngày họp của Hội đồng An ninh, Putin đã ghi lại một bài phát biểu khác, bài này sẽ được công bố vào sáng ngày Nga phát động cuộc xâm lược. Trong đó, ông biện minh cho hành động xâm lược là phản ứng đối với cái mà ông gọi là “hành động diệt chủng” do “các lực lượng dàn dựng cuộc đảo chính ở Ukraine năm 2014 thực hiện: chống lại hàng triệu cư dân của Donbas.” Ông lập luận rằng hành động của chính quyền Kyiv đã buộc Nga không còn lựa chọn nào khác trừ  phải hành động. “Trong hoàn cảnh này,” Putin tuyên bố, “chúng ta phải mạnh dạn và hành động ngay lập tức. Các nước cộng hòa nhân dân Donbas đã yêu cầu Nga giúp đỡ.” Yêu cầu này được đưa ra bởi lãnh đạo các quốc gia bù nhìn trong lãnh thổ Donbas do Nga chiếm đóng, mới được Moscow công nhận như một quốc gia độc lập. Lời yêu cầu của họ đã mang lại cho Putin một cái cớ chính thức để phát động cuộc chiến, xác lập mục tiêu tối thiểu của cuộc xâm lược của ông ta – chỉ tiếp quản toàn bộ Donbas và khiến phía Ukraine hiểu lầm rằng cuộc chiến chỉ có thể giới hạn ở Donbas.

Những phần khác của bài phát biểu hàm ý Donbas chỉ là cái cớ. Mặc dù Putin gọi cuộc xâm lược của mình là “hoạt động quân sự đặc biệt”, ông mô tả nó như một cuộc đấu tranh toàn cầu, theo truyền thống của Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại của Stalin, chống lại phương Tây thù địch và chủ nghĩa phát xít Ukraine mà phương Tây ủng hộ. “Tập trung vào mục tiêu riêng của mình, các nước NATO hàng đầu đang ủng hộ những người theo chủ nghĩa dân tộc cực hữu và tân Quốc xã ở Ukraine, những kẻ sẽ không bao giờ tha thứ cho người dân Crimea và Sevastopol đã tự do lựa chọn tái hợp với Nga”, Putin tuyên bố. “Họ chắc chắn sẽ ra sức mang chiến tranh đến Crimea giống như họ đã làm ở Donbas, giết hại những người vô tội giống như thành viên các đơn vị trừng phạt của bọn dân tộc chủ nghĩa Ukraine và đồng bọn của Hitler đã làm trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Họ cũng đã công khai tuyên bố chủ quyền đối với một số khu vực khác của Nga.”

Putin đã hệ thống hóa mục tiêu của “chiến dịch quân sự đặc biệt” của mình như sau: “phi quân sự hóa và phi phát xít hóa Ukraine, cũng như đem ra xét xử những kẻ đã gây ra nhiều tội ác đẫm máu chống lại thường dân, bao gồm cả công dân của Liên bang Nga.” Ý nghĩa của phi quân sự hóa khá rõ ràng: Ukraine sẽ không còn khả năng tự vệ, nằm dưới sự thương xót của Moscow. Nhưng “phi phát xít hóa” có nghĩa là gì? Tuyên truyền của Putin đã dành nhiều năm để mô tả một số đội hình quân sự tình nguyện của Ukraine năm 2014 là Đức Quốc xã. Nhưng còn nhiều điều có nguy cơ hơn những tiểu đoàn đó. Vài ngày trước, Hoa Kỳ đã cảnh báo Liên Hiệp Quốc rằng các cơ quan tình báo Nga đang biên soạn danh sách những người “sẽ bị giết hoặc bị đưa đến trại tập trung.” Họ bao gồm “những người Nga và Belarus bất đồng chính kiến đang lưu vong ở Ukraine, các nhà báo và nhà hoạt động chống tham nhũng, và các nhóm dân số dễ bị tổn thương như các nhóm tôn giáo và dân tộc thiểu số và cộng đồng LGBTQI+ (cộng đồng những người có khuynh hướng tình dục khác biệt).” Cũng không có nhiều nghi ngờ rằng bất kỳ ai chống lại cuộc xâm lược sẽ bị giết hoặc bị đưa ra xét xử. Putin kêu gọi quân đội Ukraine “ngay lập tức hạ vũ khí và trở về nhà.”

Cuộc Xâm Lược

Bài phát biểu của Putin được phát sóng trên truyền hình Nga vào sáng sớm ngày 24 tháng 2, đúng ngày kỷ niệm 8 năm ngày Putin quyết định bắt đầu sáp nhập Crimea vào năm 2014. Ông mong đợi kết quả lần này sẽ nhanh chóng, dứt khoát và tích cực như sự kiện đó.

Putin kết thúc bài phát biểu bằng lời kêu gọi người dân Nga: “Tôi tin vào sự ủng hộ của các bạn và sức mạnh vô địch bắt nguồn từ tình yêu dành cho Tổ quốc”. Các chủ đề chính trong bài phát biểu của ông, bao gồm cả việc phi phát xít hóa Ukraine, sẽ được các phương tiện truyền thông Nga tiếp thu và phổ biến trong những ngày và tuần tiếp theo, mặc dù rất khó để thay đổi chiều hướng tuyên truyền ngay lập tức. Leonid Slutsky, người đứng đầu Ủy ban Đối ngoại Duma Quốc gia Nga, đã phủ nhận cuộc xâm lược ngay từ ngày đầu tiên. “Chúng tôi không có ý định gây ra bất kỳ cuộc chiến tranh nào. Chúng tôi sẽ không xâm lược Ukraine như đang bị cáo buộc ở chính Ukraine, và không chỉ ở đó”, ông nói với các nhà báo. Khi ông thốt ra những lời đó, các binh đoàn Nga đang ồ ạt tiến về thủ đô Ukraine.

Cuộc tấn công của Nga vào Ukraine bắt đầu ngay trước 4:00 sáng giờ Kyiv ngày 24 tháng 2 năm 2022, trên nhiều mặt trận. Người dân ở Kyiv, Kharkiv, Odesa, Zaporizhia, Zhytomyr, Mykolaiv và Kherson, chỉ mới liệt kê các trung tâm khu vực chính, bỗng thức dậy vì tiếng nổ – máy bay và tên lửa của Nga đang tấn công các sân bay và cơ sở quân sự trên khắp cả nước. Đài phát thanh và truyền hình đưa tin dựa trên các bài đăng trên phương tiện truyền thông xã hội từ khắp Ukraine. Cũng có báo cáo về cuộc đổ bộ của Nga vào Odessa trên Biển Đen và Mariupol trên Biển Azov. Những báo cáo đó sau đó hóa ra là sai.

Lực lượng vũ trang Nga đã bắn phá các trung tâm chỉ huy và kiểm soát Ukraine, cứ điểm phòng không và cơ sở hạ tầng quan trọng với hơn 100 tên lửa đạn đạo tầm ngắn được phóng từ trên không và từ biển. Từng đoàn xe tăng và xe chở quân của Nga bắt đầu vượt qua biên giới Ukraine từ Belarus về phía Kyiv, từ Nga về phía Kharkiv và từ Crimea bị chiếm đóng về phía Kherson và Nova Kakhovka ở phía nam. Hàng chục nghìn quân lính đột nhiên  di chuyển. Ukraine, nơi mà cả chính quyền lẫn người dân đều không tin vào khả năng xảy ra chiến tranh xâm lược quy mô lớn của Nga, bỗng đột ngột bị đánh thức.

Toàn bộ chiến dịch quân sự, được củng cố bởi niềm tin của Putin vào sự không tồn tại của quốc gia Ukraine và niềm mong muốn của người Ukraine được sống dưới sự cai trị của Nga, được mô phỏng theo cuộc tiếp quản Crimea của Nga. Trong đội hình đầu tiên của lực lượng bộ binh tiến về Kyiv liền ngay sau lính dù là các đơn vị cảnh sát chống bạo động, và trong những chiếc xe tăng và xe cộ bị cháy rụi, người Ukraine tìm thấy quân phục diễu hành của lính Nga chuẩn bị cho một cuộc diễu hành chiến thắng xuống đại lộ chính của thủ đô Kyiv, Khreshchatyk. Những lính Nga chỉ có khẩu phần ăn trong hai hoặc ba ngày, vì họ được hứa rằng hoạt động ở Ukraine sẽ không kéo dài lâu hơn. Vì cuộc xâm lược được coi là nhiệm vụ giải phóng, các sĩ quan và binh lính được lệnh không được thể hiện bất kỳ thái độ thù địch nào với người dân địa phương. Họ được cho biết chiến dịch quân sự được lệnh ngăn chặn việc lắp đặt các căn cứ của NATO ở Ukraine.

“Các lệnh đã được ban hành cho quân đội Nga không được tấn công các thành phố hoặc cư dân của chúng. Lãnh đạo của Bộ Quốc phòng Nga nhấn mạnh rằng người dân của quốc gia anh em không có gì phải sợ quân đội Nga”, cố vấn chính trị Sergei Markov tâm sự với một phóng viên vào ngày thứ hai của cuộc xâm lược, ngày 25 tháng 2 năm 2022. Về kế hoạch hành động tiếp theo, Markov đề xuất: “Tất cả các nhóm Lực lượng vũ trang Ukraine sẽ bị bao vây (chủ yếu từ trên không) và được đưa ra tối hậu thư. Họ sẽ phải giao nộp vũ khí. Nếu mọi thứ diễn ra bình thường, một quá trình giải trừ quân bị sẽ bắt đầu. Bất cứ nơi nào tình trạng bình thường không chiếm ưu thế, những nhóm đó sẽ bị tiêu diệt. Tôi nghĩ rằng hầu hết các đơn vị nhỏ của Lực lượng Vũ trang Ukraine sẽ buông súng đầu hàng. Một số sẽ tiếp tục kháng cự. Đó là các đơn vị quân sự tân phát xít.”

Đó không chỉ là kế hoạch của Markov mà còn là của Putin nữa. Trong bài phát biểu của mình khi bắt đầu cuộc chiến, Putin đã kêu gọi quân đội Ukraine hạ vũ khí. Nhưng quân đội Ukraine vẫn tiếp tục chiến đấu. Không một đơn vị nào đầu hàng, nói chi đến việc đổi phe. Putin và những kẻ tuyên truyền của ông như Markov bỗng nhận ra mình vừa bị đánh thức đột ngột khỏi một giấc mơ.

Bình luận về bài viết này