Chiến tranh Nga- Ukraine (Bài 6)

SERHII PLOKHY

Trần Quang Nghĩa dịch

6 Sự trỗi dậy và sụp đổ của nước Nga mới

Vào ngày 18 tháng 3 năm 2014, Vladimir Putin đã đọc một trong những bài phát biểu quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình. Phát biểu tại phiên họp chung của hạ viện và thượng viện của quốc hội Nga – các đại biểu của Duma Quốc gia và các thành viên của Hội đồng Liên bang, cùng với các nhà lãnh đạo khu vực và đại diện của các tổ chức dân sự do Điện Kremlin kiểm soát – Putin đã yêu cầu các đại biểu thông qua luật sáp nhập Crimea của Ukraine và thành phố Sevastopol vào Liên bang Nga. Hai ngày sau cuộc trưng cầu dân ý, Putin đã chấm dứt nền độc lập ngắn ngủi của Crimea bằng cách sáp nhập bán đảo này – lần đầu tiên một quốc gia nước ngoài sáp nhập lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền ở châu Âu kể từ Thế chiến II.

Trong bài phát biểu của mình, Putin tuyên bố rằng các đơn vị tự vệ Crimea đã chủ động tiến hành thống nhất và người dân Crimea đã quyết định số phận của mình, ngăn không cho Sevastopol bị chiếm đóng để trở thành một căn cứ quân sự của NATO. Ông đã tận dụng cơ hội này để nhắc nhở NATO và phương Tây về tất cả những bất công mà họ được cho là đã gây ra đối với luật pháp quốc tế và Nga, từ vụ ném bom Serbia đến việc công nhận nền độc lập của Kosovo, như một sự biện minh cho hành động của Nga ở Crimea, và lên án “các cuộc cách mạng màu” là những cuộc đảo chính do phương Tây dàn dựng. Putin đã đưa ra lời kêu gọi chưa từng có đối với chủ nghĩa dân tộc Nga. Đây là một sự thay đổi đáng kể từ những tuyên bố và phát biểu trước đó của ông ta, trong đó thính giả chính và điểm tham chiếu của ông là quốc gia chính trị đa sắc tộc Nga được thể hiện bởi công dân của Liên bang Nga, được gọi là rossiiane thay vì dân tộc russkie. Bây giờ ông tuyên bố rằng Nga và người Nga là quốc gia bị phân chia nhất trên thế giới. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Putin nói, khi “Crimea trở thành một phần của một quốc gia khác … Nga nhận ra rằng nó không chỉ bị ăn trộm, mà còn bị cướp bóc”. “Trong suốt những năm qua”, ông tuyên bố, “công dân và nhiều nhân vật của công chúng đã quay lại vấn đề này, nói rằng Crimea là vùng đất Nga và Sevastopol là một thành phố Nga về phương diện lịch sử.”

Bài phát biểu cũng có những yếu tố kêu gọi sự thống nhất giữa Nga và Ukraine, bất chấp cuộc tấn công của Putin vào Ukraine và sáp nhập một phần lãnh thổ của nước này.

“Chính thống giáo”, Putin tuyên bố, “đã định trước nền tảng chung của văn hóa, văn minh và các giá trị nhân văn đoàn kết các dân tộc Nga, Ukraine và Belarus.” Ông thậm chí còn tuyên bố rằng Nga đang chiếm Crimea thay mặt cho cả người Nga và người Ukraine để ngăn chặn việc mất Crimea vào tay một bên thứ ba. “Crimea là di sản lịch sử chung của chúng ta và là một yếu tố rất quan trọng trong sự ổn định của khu vực”, Putin nói tiếp. “Và lãnh thổ chiến lược này phải là một phần của một chủ quyền vững mạnh và ổn định, mà ngày nay chỉ có thể là Nga. Nếu không, các bạn thân mến (tôi đang nói đến cả Ukraine và Nga), các bạn và chúng tôi – người Nga và người Ukraine – có thể mất Crimea hoàn toàn, và điều đó có thể xảy ra trong cận cảnh lịch sử gần đây”.

Putin đưa ra một lập luận lai ghép cho việc sáp nhập: kêu gọi lịch sử, lãnh thổ và bản sắc của Nga, ông đã viện dẫn di sản của đế chế để đòi lại Crimea dưới ngọn cờ của chủ nghĩa dân tộc Nga, trong khi vẫn xác nhận người Nga và người Ukraine là anh em cùng gốc Slav. Phát biểu sau có  chủ đích khai thác cảm nhận thống nhất Nga-Ukraine mà nhiều công dân Nga và Ukraine tán thành. Putin đảm bảo với người Ukraine rằng Crimea là một trường hợp độc nhất – một phần của Ukraine  mà về mặt lịch sử, văn hóa và dân tộc lại thuộc về Nga. Phần còn lại của Ukraine là an toàn. “Đừng tin những kẻ muốn bạn lo sợ Nga, hét toáng lên rằng các khu vực khác rồi sẽ theo chân Crimea”, Putin tuyên bố. “Chúng tôi không muốn chia cắt Ukraine; chúng tôi không cần điều đó.” Trên thực tế, việc chia cắt Ukraine chính xác là những gì Putin sẽ tiến hành trong nhiều tuần và nhiều tháng sau bài phát biểu về Crimea.

Cuối cùng, Putin yêu cầu các nghị sĩ Nga phê chuẩn hiệp ước và thành lập hai thực thể cấu thành mới trong Liên bang Nga, một cho Crimea, một cho thành phố Sevastopol. Quốc hội đã tuân thủ, và vào ngày 21 tháng 3, Putin đã ký luật sáp nhập Crimea và thành phố Sevastopol vào Liên bang Nga. Việc sáp nhập Crimea giờ đây đã là một sự kiện đã rồi, được thực hiện theo hiến pháp Nga nhưng vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế và các hiệp ước mà Nga đã ký, bao gồm Bản ghi nhớ Budapest năm 1994 và Hiệp định Hữu nghị Nga-Ukraine năm 1997.

Nước Nga mới

Việc sáp nhập Crimea đã biến chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa dân tộc trở thành những yếu tố then chốt và động lực thúc đẩy chính sách đối ngoại của Nga. Việc sáp nhập cho thấy Putin đã đưa ra dự án nước Nga vĩ đại – sáp nhập các vùng lãnh thổ được người sắc tộc Nga định cư hoặc được coi là Nga trên cơ sở lịch sử hoặc văn hóa – ưu tiên hơn các dự án thống nhất Nga-Ukraine và hội nhập Á-Âu. Trên thực tế, ông ta đang cố gắng theo đuổi cả hai, hoặc thậm chí lợi dụng việc sáp nhập bán đảo để giữ phần còn lại của Ukraine trong quỹ đạo của Moscow. Làm sao có thể hoàn thành được điều đó?

Câu trả lời được đưa ra trong một đề xuất xuất hiện trên trang web của Bộ Ngoại giao Nga vào ngày 17 tháng 3 năm 2014, một ngày sau cuộc trưng cầu dân ý ở Crimea và một ngày trước bài phát biểu của Putin về Crimea. Người ta cho rằng văn bản này đã được chuyển đến Hoa Kỳ và các cường quốc châu Âu một tuần trước đó. Đề xuất này kêu gọi Yanukovych trở lại làm tổng thống Ukraine, thành lập theo sắc lệnh của quốc hội Ukraine một Hội đồng Lập hiến đại diện cho “tất cả các vùng của Ukraine” và hội đồng này sẽ thông qua một hiến pháp mới biến Ukraine thành một quốc gia “liên bang” sẽ tuyên bố sự trung lập “về chính trị và quân sự”. Tiếng Nga sẽ trở thành ngôn ngữ chính thức thứ hai của Ukraine. Các vùng sẽ tự quản lý kinh tế, các vấn đề văn hóa và giáo  dục và thiết lập “mối quan hệ xuyên khu vực ra bên ngoài”, phá vỡ sự độc quyền của trung tâm trong việc xây dựng và thực hiện chính sách đối ngoại.

Mặc dù đề xuất này đề cập đến việc liên bang hóa, nhưng trên thực tế nó sẽ biến Ukraine thành một liên bang các khu vực bán độc lập có quyền đưa ra chính sách về các vấn đề quốc tế. Ukraine sẽ không còn tồn tại như một quốc gia có chủ quyền, khiến chính quyền trung ương ở Kyiv không có khả năng đàm phán một thỏa thuận liên kết với Liên minh châu Âu – yêu sách chính của những người biểu tình Maidan. Chính phủ Ukraine mới tại Kyiv đã bác bỏ các khái niệm về việc thông qua một hiến pháp mới hoặc liên bang hóa đất nước. Tuy nhiên, họ đã chuẩn bị để cải cách chính quyền địa phương và sửa đổi hiến pháp Ukraine cho phù hợp – một sự nhượng bộ được đưa ra vào tháng 4 tại các cuộc đàm phán với Nga, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu tại Geneva. Có thể đoán trước được, Nga đã không hài lòng, và chẳng mấy chốc sự thể đã rõ rằng nếu Kyiv từ chối biến Ukraine thành một nhà nước hầu như không thể kiểm soát được mở cửa cho Nga mặc tình thao túng, thì Moscow đã có một giải pháp khác cho “vấn đề Ukraine”  – phân chia nó.

Vào nửa cuối tháng 3, ngay sau khi Nga sáp nhập Crimea, chính phủ Ba Lan, Romania và Hungary đã nhận được một đề xuất có chữ ký của Vladimir Zhirinovsky, lãnh đạo Đảng Dân chủ Tự do theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan và là người đứng đầu phe của đảng này tại quốc hội Nga.

Zhirinovsky đã mời chính phủ các nước đã kiểm soát hoặc chiếm đóng một số vùng của Ukraine trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới và Thế chiến thứ II tiến hành trưng cầu dân ý về “việc trở lại” của những vùng lãnh thổ đó. Ông đề nghị tái lập biên giới châu Âu đã tồn tại trước khi ký Hiệp ước Molotov-Ribbentrop giữa Đức Quốc xã và Liên Xô năm 1939. “Không bao giờ là quá muộn để sửa chữa những sai lầm lịch sử”, bức thư viết. Không rõ liệu Zhirinovsky có viết thay mặt cho Điện Kremlin hay không.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ba Lan đã bác bỏ bức thư của Zhirinovsky là “hoàn toàn lạ lùng”, trong khi cấp trên của ông, Radosław Sikorski, tiết lộ vài tháng sau đó rằng mình cũng đã nghe đề xuất tương tự từ ​​chính Putin. Đề xuất này đã được đưa ra trong chuyến thăm của một phái đoàn chính thức Ba Lan tới Moscow vào tháng 2 năm 2008, ngay khi Ukraine đang nộp đơn xin Kế hoạch Hành động Thành viên NATO. Cả Ba Lan và mọi quốc gia Trung Âu khác đều không quan tâm đến đề xuất của Nga. Nhưng điều gì hẳn đã xảy ra nếu họ sẵn sàng chịu xem xét nó?

Vào khoảng thời gian Putin đưa ra đề xuất của mình cho phái đoàn Ba Lan, “một số khu vực không hoàn toàn mang tính học thuật ở Moscow” – theo trích dẫn nguồn tin của báo cáo đó, nhà khoa học chính trị người Nga Dmitri Trenin, đã thảo luận về ý tưởng tạo ra một quốc gia đệm được gọi là “Nước Nga Mới” lấy từ các vùng phía nam Ukraine và Moldova. Tên “Nước Nga Mới” được mượn từ tên của tỉnh đế quốc do Catherine II thành lập ở vùng phía bắc Biển Đen vào những thập kỷ cuối của thế kỷ thứ 18.

Trong các cuộc thảo luận ở Moscow năm 2008, người ta đã đề xuất rằng Transnistria, một vùng đất ly khai của Moldova, sẽ trở thành một phần của nhà nước mới, nhưng đến mùa xuân năm 2014, địa lý của khu vực tưởng tượng này đã thay đổi. Vào đầu tháng 4, một phóng viên người Anh đã nghe nhóm biểu tình chống Kiev ở thành phố Donetsk, cách xa tỉnh lỵ lịch sử của Catherine II, hô vang khẩu hiệu “Nước Nga Mới”. Vào giữa tháng 4, Putin đã tự mình xác định phạm vi địa lý của khu vực mà ông gọi là “Nước Nga Mới”. Trả lời các câu hỏi trực tuyến trên truyền hình, Putin đã định nghĩa “Nước Nga Mới” là các tỉnh Kharkiv, Luhansk, Donetsk, Kherson, Mykolaiv và Odesa của Ukraine – tức  toàn bộ phía đông và phía nam của Ukraine. “Đây là tất cả các vùng lãnh thổ đã được Liên Xô chuyển giao cho chính quyền Ukraine vào những năm 1920. Tại sao họ làm vậy, chỉ có Chúa mới biết. Tất cả điều này xảy ra sau những chiến thắng tương ứng của Potemkin và Catherine II trong các cuộc chiến nổi tiếng tập trung ở Novorossiysk. Từ đó mới có tên Novorossiia [Tiếng Nga, nghĩa là “Nước Nga mới”]. Sau đó, vì nhiều lý do, những vùng lãnh thổ này đã rời khỏi nước Nga Xô Viết, nhưng người dân vẫn ở lại đó.”

Định nghĩa địa lý của Putin về “Nước Nga Mới” là phi lịch sử, vì tỉnh lỵ vào thế kỷ 18 bị giới hạn ở thảo nguyên Pontic phía bắc Biển Đen và không mở rộng đến Kharkiv, Luhansk hoặc Donetsk. Nhưng định nghĩa đó tương ứng với danh sách của Solzhenitsyn về các vùng đất Nga về mặt lịch sử và ngôn ngữ đã được đưa vào Ukraine nhưng không thực sự thuộc về nước này. Chuyến du ngoạn lịch sử của Solzhenitsyn cũng sai đường như của Putin: sau Cách mạng Bolshevik, người Nga chỉ chiếm 17 phần trăm dân số tại các vùng đất mà Catherine II đã chỉ định là một tỉnh, mà giờ đây Putin đang tuyên bố, vịn vào lý do lịch sử, là tỉnh “Nước Nga Mới” của Liên bang Nga. Phần lớn dân cư ở các khu vực đó là người Ukraine, và đó là lý do tại sao chúng được phân bổ cho Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraine vào những năm 1920. Về phần mình, Putin hiện đang nhắc đến việc đế quốc Nga sáp nhập Crimea và miền nam Ukraine vào cuối thế kỷ 18 để đưa ra không chỉ một yêu sách lịch sử mà còn là một yêu sách sắc tộc đối với một khu vực rộng lớn hơn nhiều.

Vị trí của Novorossiia (Nước Nga Mới)

Vào thời điểm Putin mô tả phạm vi địa lý của “Nước Nga mới”, khu vực đó đã trở thành bối cảnh của các cuộc biểu tình và bạo loạn do Liên bang Nga truyền cảm hứng, dàn dựng và tài trợ. Vào ngày 7 tháng 4, đám đông những người theo chủ nghĩa dân tộc do Nga tổ chức đã di chuyển đến lục địa Ukraine từ Crimea sau khi chiến dịch quân sự ở đó kết thúc, đã tuyên bố thành lập Cộng hòa Nhân dân Donetsk, tập trung vào thành phố Donetsk. Trước khi kết thúc tháng, Cộng hòa Nhân dân Luhansk đã được tuyên bố tại một trung tâm khác của Donbas, thành phố Luhansk.

Điều tương tự cũng xảy ra ở Kharkiv, nơi những kẻ bạo loạn đã chiếm các tòa nhà chính phủ. Lực lượng Ukraine đã đẩy lùi, bảo vệ trung tâm chính quyền Kharkiv. Vào ngày 2 tháng 5, các cuộc đụng độ giữa các nhà hoạt động ủng hộ Kiev và ủng hộ Nga đã diễn ra tại Odessa – trái tim của nước Nga Mới lịch sử. Cuộc đối đầu kết thúc trong một thảm kịch: 42 nhà hoạt động chống Kyiv đã chết trong một vụ hỏa hoạn tại một tòa nhà mà họ đã rút lui cố thủ sau một cuộc đối đầu với lực lượng ủng hộ Ukraine. Vào đầu tháng 5, chính quyền Kyiv, được các nhà hoạt động và lãnh đạo doanh nghiệp địa phương hậu thuẫn, đã xoay xở để dập tắt các cuộc nổi loạn do Nga truyền cảm hứng và tài trợ ở Kharkiv, Odesa, Zaporizhia, Dnipropetrovsk và các trung tâm khác ở đông nam Ukraine – khu vực được Putin mô tả vào giữa tháng 4 là “Nước Nga Mới”. Nhưng Kyiv đã mất quyền kiểm soát hầu hết vùng công nghiệp Donbas – khu vực Donetsk và Luhansk. Việc lính đánh thuê Nga, được lực lượng ly khai địa phương hỗ trợ, có thể dễ dàng bắt giữ làm con tin các cư dân Donbas của Ukraine, hầu hết trong số họ muốn ở lại Ukraine, có thể được giải thích như sau.

Vùng nam và đông Ukraine

Một là sự yếu kém của chính quyền lâm thời ở Kyiv và sự bất lực của chính quyền này trong việc  nắm được lòng trung thành của lực lượng an ninh: các đơn vị cảnh sát liên kết với phe chính trị chống Maidan trong cuộc Cách mạng Nhân phẩm vốn không tin tưởng vào chính phủ mới. Donbas cũng là căn cứ của Tổng thống bị lật đổ Viktor Yanukovych, và cả giới tinh hoa địa phương và dân chúng nói chung đều coi mình là kẻ thua cuộc trong cuộc cách mạng Maidan thân châu Âu thắng lợi ở Kyiv. Các nhà quản lý ngành chế tạo máy đặc biệt lo ngại về tương lai các doanh nghiệp của mình theo thỏa thuận mới với Liên minh châu Âu và trông cậy vào thị trường Nga cho các sản phẩm của họ. Donbas, có xuất thân là trung tâm công nghiệp của Ukraine và Liên Xô nói chung, đã quay trở lại thời kỳ bùng nổ luyện kim và khai khoáng vào cuối thế kỷ 19, không hề đổi mới để trở thành trung tâm của nền kinh tế hậu công nghiệp và thoái hóa thành một vành đai gỉ sét cổ điển, không tạo cơ hội kinh tế cho cư dân.

Mức sống ở các tỉnh Donetsk và Luhansk là một trong những mức thấp nhất cả nước, và người dân địa phương đã bị các chính trị gia thao túng trong nhiều năm để khơi dậy lòng phẫn nộ đối với người nói tiếng Ukraine ở miền tây Ukraine trong số các cử tri nói tiếng Nga nhằm giành được số phiếu bầu. Thành phần sắc tộc của khu vực – người Nga chiếm 48 phần trăm dân số của Donetsk, thành phố lớn nhất của khu vực – đã giúp cho hoạt động tuyên truyền như vậy có hiệu quả. Vào tháng 4 năm 2014, 30 phần trăm những người được thăm dò ý kiến ​​ở các vùng Donbas của Ukraine ủng hộ việc hợp nhất với Nga – dù không phải là đa số theo bất kỳ nghĩa nào, nhưng đủ để thu hút sự ủng hộ cho các nhóm lính đánh thuê và những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga di chuyển vào khu vực này.

“Nước Nga Mới” của Putin và những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga hiện đã tìm thấy ranh giới địa lý mới của mình ở Donbas thuộc Ukraine. Tuyên truyền của Nga và bọn ly khai đã lợi dụng thảm kịch Odessa vào đầu tháng 5 để huy động phiếu bầu cho nền độc lập của các tỉnh Donetsk và Luhansk. Các cuộc trưng cầu dân ý diễn ra trong cùng tháng được tổ chức thậm chí còn vội vã hơn cuộc trưng cầu dân ý ở Crimea, và những người tổ chức đã tuyên bố chiến thắng cho phe ủng hộ độc lập như dự đoán. Những người tham gia trưng cầu dân ý đã bỏ phiếu cho nền độc lập không phải của “Nước Nga Mới” của Putin mà là của hai “nước cộng hòa nhân dân” riêng biệt là Donetsk và Luhansk. Ý tưởng về những nước cộng hòa như vậy gợi nhớ không phải đến thời đế quốc mà là thời kỳ đầu của Liên Xô, đặc biệt là chính thể Donets-Kryvyi Rih do những người Bolshevik kiểm soát tồn tại trong thời gian ngắn thời kỳ Cách mạng Nga. Thần thoại Liên Xô cộng hưởng với người dân địa phương mạnh mẽ hơn nhiều so với những ký ức xa xôi về đế quốc.

“Nước Nga Mới” nhanh chóng trở thành biểu tượng nhân dạng và lời kêu gọi chiến đấu cho nhiều nhóm người theo chủ nghĩa Á-Âu Nga, chủ nghĩa dân tộc Nga, chế độ quân chủ Chính thống giáo và chủ nghĩa phát xít mới đổ xô đến khu vực này với hy vọng xây dựng nền chính trị trong mơ của họ. Một trong những những người ủng hộ chính của “Nước Nga Mới”, nhà lãnh đạo của chủ nghĩa tân Á-Âu, Aleksandr Dugin, thậm chí đã điều chỉnh các lý thuyết của mình để cho phép sự tồn tại của một “Nước Đại Nga” như một phần của vùng Á-Âu, tạo ra một sự pha trộn kỳ lạ giữa các ý tưởng dân tộc chủ nghĩa Á-Âu và Nga. Được hỗ trợ bởi tiền của Nga và được hướng dẫn và chỉ đạo bởi các cơ quan tình báo Nga, những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga và Á-Âu đã sớm nắm quyền kiểm soát các nước cộng hòa mới được tuyên bố.

Nhà tư vấn chính trị người Nga Aleksandr Borodai đã có sự nghiệp ngoạn mục nhất trong tất cả những người mới đến trong khu vực, trở thành thủ tướng của Cộng hòa Nhân dân Donetsk mới được tuyên bố. Nhưng nhân vật nổi tiếng nhất trong số những người đến từ Moscow hiện đang điều hành Donbas của Ukraine là Igor Girkin, bí danh Strelkov, một cựu sĩ quan cơ quan an ninh Nga, y đã đảm nhiệm chức vụ bộ trưởng quốc phòng của nước cộng hòa này. Cả hai đều là những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga, Girkin là một người tận tụy theo chủ nghĩa quân chủ, với hồ sơ tham gia vào các cuộc xung đột khu vực trên khắp không gian hậu Xô Viết, từ Moldova đến Chechnya. Girkin cũng đã tham gia các cuộc chiến tranh Nam Tư.

Tầm quan trọng của các điệp viên Nga trong việc làm mất ổn định Donbas và biến nó thành một vùng đất ly khai là điều khó phủ nhận. Chẳng hạn, Girkin đã chỉ huy một nhóm lính đánh thuê người Nga chiếm giữ trung tâm giao thông quan trọng của Sloviansk ở vùng Donetsk. Y cũng bắt đầu một trận đánh ở Donbas bằng cách nổ súng vào các sĩ quan an ninh Ukraine và giết chết một trong số họ.

Các thỏa thuận Minsk

Việc Nga sáp nhập Crimea và tiếp quản Donbas trên thực tế đã xảy ra trong thời kỳ chuyển tiếp “giữa các triều đại” ở Ukraine – giai đoạn giữa thời kỳ Yanukovych bị lật đổ vào cuối tháng 2 và cuộc bầu cử tổng thống mới, Petro Poroshenko, vào cuối tháng 5 năm 2014. Theo lịch sử, thời kỳ giữa các triều đại là giai đoạn nguy hiểm nhất trong cuộc đời các quốc gia, kích động các hành động săn mồi của các quốc gia láng giềng, thường hay lợi dụng cơ hội do thiếu các quy tắc được công nhận chung để chiếm đoạt lãnh thổ của đối thủ. Đó là một câu chuyện quen thuộc với các nhà sử học thời Trung cổ và đầu thời hiện đại, nhưng nó đã được hồi sinh bởi các hành động của Moscow ở Donbas vào mùa xuân năm 2014.

Nhưng thời kỳ giữa các triều đại đã kết thúc, như lần này xảy ra ở Ukraine vào ngày 25 tháng 5, khi Petro Poroshenko được bầu làm tổng thống. Ông là một chính trị gia và doanh nhân từng là nạn nhân của cuộc chiến thương mại do Putin phát động chống lại Ukraine vào mùa hè năm 2013 để ngăn chặn việc ký kết thỏa thuận liên kết với EU. Tổng thống lâm thời, Oleksandr Turchynov, đã từ chức để đứng đầu Hội đồng An ninh và Quốc phòng Quốc gia dưới thời tổng thống mới. Trong chiến dịch tranh cử của mình, Poroshenko đã tuyên bố nhiều lần rằng mục tiêu của mình với tư cách là tổng thống sẽ khôi phục quyền kiểm soát của Kyiv đối với hai tỉnh Donbas.

Vào đầu tháng 6, khi Poroshenko nhậm chức, cú sốc từ việc Nga sáp nhập Crimea và sự mất mát thực tế của Donbas đã nhường chỗ cho quyết tâm chiến đấu ở Kyiv. Các tiểu đoàn tình nguyện đầu tiên, bao gồm các nhà hoạt động của Cách mạng Nhân phẩm, được Bộ Nội vụ thành lập và được các nhà tài phiệt Ukraine tài trợ. Đáng chú ý trong vấn đề này là nhà tài phiệt Igor Kolomoisky, người cũng trở thành thống đốc của tỉnh Dnipropetrovsk, giáp ranh với Donbas. Các tiểu đoàn tình nguyện cho thấy lính đánh thuê Nga và những bọn ủng hộ chúng có thể bị đẩy lùi: vào tháng 5, họ đã kiểm soát một số vùng nông thôn của Donbas. Quân đội, vốn bị suy sụp tinh thần sau nhiều năm bị bỏ bê – một số đơn vị không biết cách phản ứng với các cuộc biểu tình do lực lượng ly khai tổ chức và đã giao nộp vũ khí vào tháng 4 năm 2014 – cuối cùng đã sẵn sàng chiến đấu. Doanh nghiệp Ukraine đã giúp nuôi dưỡng và cung cấp không chỉ cho các tiểu đoàn tình nguyện mà còn cho chính quân đội, và hàng chục nghìn tình nguyện viên háo hức cung cấp tất cả những gì có thể cho tiền tuyến.

Từ giữa tháng 4, chính quyền Kyiv đã chống lại cuộc nổi loạn ly khai dưới ngọn cờ của Chiến dịch Chống Khủng bố – trớ trêu thay, với cùng một bộ luật mà Yanukovych đã sử dụng trong các cuộc biểu tình Maidan để chống lại các nhà hoạt động của Cách mạng phẩm giá. Nhưng giờ đây, chiến dịch đã chuyển từ phòng thủ sang tấn công. Chiến thắng đầu tiên của lực lượng chính quyền đến ngay sau cuộc bầu cử của Poroshenko vào ngày 26 tháng 5, khi các đơn vị Vệ binh quốc gia Ukraine, được không quân yểm trợ, đã tấn công các lực lượng dân quân ly khai chiếm đóng sân bay Donetsk và giành lại trung tâm giao thông quan trọng đó. Phe ly khai đã chịu tổn thất lớn, với hàng chục tên thiệt mạng; hầu hết chúng hóa ra là lính đánh thuê từ Nga. Thành công lớn hơn nhiều đến vào giữa tháng 6, khi tiểu đoàn tình nguyện Azov, cùng với lực lượng của bộ nội vụ, đã chiến đấu trong trận chiến kéo dài sáu giờ để giành lại thành phố Mariupol, một trung tâm công nghiệp và cảng lớn trên Biển Azov.

Một diễn biến quan trọng trong cuộc phản công của Ukraine ở Donbas diễn ra vào ngày 5 tháng 7, khi Igor Girkin, người tự nhận là Bộ trưởng quốc phòng của Cộng hòa Nhân dân Donetsk tự xưng, đã bỏ chạy khỏi thành trì Sloviansk của mình và, khi bị lực lượng Ukraine tấn công, đã chạy trốn cùng quân đội của mình đến Donetsk. Các trang web tuyên truyền xuất xứ từ Điện Kremlin đã chỉ trích Girkin vì đã từ bỏ Sloviansk. Nhưng Moscow cũng nhận ra rằng vũ khí hạng nhẹ và tên lửa vác vai mà họ cung cấp cho các đơn vị ly khai là không đủ để ngăn chặn cuộc tấn công của Ukraine. Để tồn tại, các nước cộng hòa ly khai cần pháo hạng nặng, bệ phóng tên lửa tự hành, tên lửa đất đối không, và có thể là cả lính bộ binh Nga. Nga đã sẵn sàng cung cấp tất cả những thứ đó nhưng cần một cái cớ.

Vào ngày 13 tháng 7, phương tiện truyền thông Nga tuyên bố rằng một quả đạn pháo của Ukraine đã bắn trúng một thành phố ở phía biên giới Nga. Phản ứng, ngay cùng ngày, là một cuộc tấn công lớn bằng các bệ phóng tên lửa Tornado của Nga vào các vị trí của Ukraine.

Sau đó, cuộc chiến bước vào giai đoạn mới. Vào ngày 14 tháng 7, một máy bay của Ukraine đã bị tên lửa đất đối không bắn hạ. Bốn ngày sau, vào ngày 17 tháng 7, hệ thống giám sát vô tuyến của Ukraine đã chặn được cuộc trò chuyện giữa hai chỉ huy ly khai về việc bắn hạ một máy bay Ukraine khác. Hóa ra đó là Chuyến bay MH 17 của Malaysia Airlines, đang trên đường từ Amsterdam đến Kuala Lumpur, bay ở độ cao 10.000 mét. Một bệ phóng tên lửa đất đối không tự hành Buk TELAR của Nga đã bắn một quả tên lửa hạ gục máy bay, giết chết 283 hành khách và 15 thành viên phi hành đoàn. Sau đó, người ta chứng minh được rằng bệ phóng và đội xạ thủ của nó đến từ Nga và thuộc Lữ đoàn tên lửa phòng không số 53 đóng tại thành phố Kursk của Nga, gần biên giới Ukraine. Thảm kịch của những người thiệt mạng trên chuyến bay của hãng hàng không Malaysia đã đánh thức thế giới về cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine, vốn đã chuyển từ Crimea sang đất liền từ lâu.

Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và các đồng minh phương Tây đã đáp trả bằng các lệnh trừng phạt. Họ không đủ mạnh để tác động đến hành vi của Nga trong dài hạn và theo định nghĩa, không thể làm gì nhiều để tác động đến hành vi trong ngắn hạn. Moscow phủ nhận mọi cáo buộc  liên quan đến vụ tấn công máy bay Malaysia, đổ lỗi cho Ukraine. Họ đã cố gắng tránh lặp lại các cuộc tấn công vào dân thường và sau đó né tránh trách nhiệm trực tiếp đối với hành vi chiến tranh bằng cách triệu hồi Aleksandr Borodai khỏi chức vụ thủ tướng và Igor Girkin khỏi chức vụ bộ trưởng quốc phòng của nước cộng hòa tự xưng, thay thế bằng các nhân vật địa phương.

Sau khi đã xóa bỏ các dấu vết rõ ràng nhất về việc Nga nhúng tay vào các quốc gia bù nhìn Donbas, Putin đã gửi các đơn vị Nga vào khu vực này, cố gắng giải cứu các vùng đất ly khai khỏi những đòn đánh nghiền nát của quân đội Ukraine. Đến đầu tháng 8, người Ukraine đã chia đôi các vùng lãnh thổ do phe ly khai nắm giữ, tiến đến biên giới Nga, nơi họ bị pháo binh Nga pháo kích.

Cuộc xâm lược trực tiếp của Nga vào miền Đông Ukraine bắt đầu vào ngày 24 tháng 8 năm 2014, Ngày Độc lập của Ukraine, chưa đầy 10 ngày sau khi Girkin bị cách chức bộ trưởng quốc phòng tự phong.

Hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, pháo binh, xe tải và hàng ngàn quân chính quy của Nga đã vượt qua biên giới Ukraine ở nhiều địa điểm. Đến ngày 26 tháng 8, người Ukraine đã có bằng chứng rằng các lực lượng chính quy Nga đã được triển khai trong cuộc tấn công: 10 lính dù Nga đã bị bắt làm tù binh và buộc diễu hành trước các máy quay truyền hình. Phía Nga tuyên bố rằng những người lính bị bắt cách biên giới Nga 20 km chỉ đơn giản là bị lạc đường. Cuộc tấn công vẫn tiếp tục.

Quân đội Nga tiến công bao vây các đơn vị Ukraine gần trung tâm đường sắt quan trọng của Ilovaisk. Khi một đơn vị Ukraine thừa nhận thất bại và đàm phán quyền đi lại an toàn, quân Nga đã nổ súng, tàn sát đoàn quân.

Lực lượng Ukraine chịu tổn thất chưa từng có: 366 người tử trận, 429 người bị thương và 128 người bị bắt làm tù binh. Thất bại này cho thấy sức mạnh của quân đội Nga và sự bất lực của lực lượng Ukraine trong việc ngăn chặn cuộc xâm lược mới.

Chiến dịch quân sự của Tổng thống Poroshenko nhằm giành lại Donbas đã kết thúc. Ông buộc phải đàm phán trong những điều kiện bất lợi nhất có thể. Vào ngày 5 tháng 9 năm 2014, Poroshenko đã đồng ý với các điều kiện của Nghị định thư Minsk, được ký kết vào ngày hôm đó tại thủ đô Belarus bởi các đại diện của Ukraine, Nga, Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu, và các nhà lãnh đạo của hai “nước cộng hòa” Donbas. Nghị định thư kêu gọi chấm dứt thù địch, rút ​​các đơn vị vũ trang bất hợp pháp và lính đánh thuê khỏi lãnh thổ Ukraine, và thành lập một phái bộ OSCE để giám sát hoạt động di chuyển qua biên giới Nga-Ukraine – một biện pháp được cho là để ngăn chặn dòng quân Nga mới tràn vào. Trên bề mặt, những điều kiện đó có lợi cho Ukraine, nhưng nghị định thư cũng công nhận sự tồn tại của các thực thể mới trên lãnh thổ Ukraine không do Kyiv kiểm soát. Chính phủ Ukraine đã cam kết thông qua sắc luật về quy chế đặc biệt cho các khu vực do phe ly khai chiếm giữ. Đó là một phần trong kế hoạch ban đầu của Nga nhằm “liên bang hóa” Ukraine. Chính phủ Ukraine, vốn trước đó đã đồng ý cải cách chính quyền địa phương, giờ đây không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận các điều kiện do Nga và các đại diện của họ đưa ra.

Các thỏa thuận Minsk đã bị Nga phá vỡ ngay sau khi chúng được ký kết, vì OSCE không thể giám sát biên giới hoặc các phái bộ báo cáo về sự đổ quân tiếp tục của Nga đã bị bỏ qua.

Vào tháng 1 năm 2015, Nga đã tiếp tục một chiến dịch quân sự quy mô lớn khi họ cố gắng cải thiện vị trí  những con rối của mình trên tuyến đầu và thực thi các điều kiện áp đặt cho Ukraine theo Nghị định thư Minsk. Tháng đó, quân ly khai đã chiếm được đống đổ nát của sân bay Donetsk, do người Ukraine nắm giữ. (Cuộc phòng thủ sân bay anh hùng kéo dài nhiều tháng của những chiến binh Ukraine, những người được biết đến rộng rãi với cái tên “Cyborgs”, đã cung cấp cho Ukraine một câu chuyện thần thoại chiến đấu quan trọng.)

Cùng tháng đó, 8.000 quân Nga, phần lớn là lính hợp đồng chuyên nghiệp được lực lượng ly khai địa phương do sĩ quan Nga tổ chức hỗ trợ, đã phát động một chiến dịch lớn chống lại thành phố Debaltseve do Ukraine nắm giữ, một nút giao thông quan trọng nằm giữa các vùng lãnh thổ do các nước cộng hòa ly khai Luhansk và Donetsk nắm giữ. Quân đội Nga tỏ ra không thể lặp lại vòng vây mà họ đã thực hiện tại Ilovaisk, và quân đội Ukraine đã rút lui khỏi khu vực này.

Vào giữa tháng 2 năm 2015, khi trận chiến giành Debaltseve tiếp tục trên những cánh đồng phủ đầy tuyết ở miền đông Ukraine, Vladimir Putin đã gặp người đồng cấp Ukraine, Petro Poroshenko, thủ tướng Đức, Angela Merkel và tổng thống Pháp, François Hollande, để đàm phán một thỏa thuận mới. Cuộc họp diễn ra tại Minsk, và các thỏa thuận mới sau đó được gọi là Minsk II. Người Ukraine vẫn tiếp tục chiến đấu rất lâu sau khi các cuộc đàm phán kết thúc, và Putin không còn  có đòn bẩy đối với Poroshenko như thảm họa Ilovaisk đã mang lại cho ông ta vào tháng 9 trước đó, nhưng ông ta vẫn trong thế tấn công và đã cải thiện được vị thế của mình. Ukraine không chỉ cam kết thông qua luật về tình trạng của các nước cộng hòa ly khai mà còn sửa đổi hiến pháp để phù hợp với luật đó.

Nghị định thư mới đề cập rõ ràng đến việc Ukraine tái lập quyền kiểm soát biên giới với Nga, nhưng quy định rằng trước hết Kyiv phải tiến hành bầu cử địa phương ở các vùng ly khai của Donbas, và chỉ sau đó mới giành được quyền kiểm soát biên giới. Điều khoản đó nêu rõ cuộc bầu cử sẽ được tổ chức dưới sự kiểm soát của Nga, để Ukraine làm việc với chính quyền do người Nga bổ nhiệm tại các khu vực có đủ quyền lực theo hiến pháp Ukraine được sửa đổi để ngăn chặn phong trào của đất nước hướng tới Liên minh châu Âu. Câu hỏi về việc điều gì sẽ đến trước, quyền kiểm soát biên giới của Ukraine (và do đó là chủ quyền của nước này) hay các cuộc bầu cử, sẽ trở thành một trở ngại đối với việc thực thi các thỏa thuận Minsk. Nhưng hiện tại, thỏa thuận đã mang đến cho Ukraine triển vọng hòa bình được mong đợi từ lâu. Cũng sẽ có giao tranh rời rạc và pháo kích qua biên giới trong những năm tới, làm tăng tổng số thương vong chiến tranh ở Donbas lên tới khoảng 14.000 người vào đầu năm 2022. Những con số đó sẽ bị lu mờ bởi số thương vong xảy ra sau khi chiến tranh tiếp diễn vào tháng 2 năm đó. 

Vào thời điểm các thỏa thuận Minsk được ký kết, “Nước Nga Mới” đã biến mất khỏi ngôn từ chính thức của Moscow – lần cuối cùng Putin nhắc đến nó là vào cuối tháng 8 năm 2014, khi trận chiến Ilovaisk đang diễn ra. Tổng thống Nga đã tạm dừng dự án Nước Nga Mới, thay thế bằng dự án “liên bang hóa” một phần Ukraine. Theo kế hoạch mới, hai nhà nước bù nhìn Donbas sẽ vẫn tách biệt, sau đó sẽ được tái hòa nhập vào Ukraine thông qua việc thực thi các thỏa thuận Minsk theo cách diễn giải của Nga. Người Ukraine lo ngại rằng một khi các bang Donetsk và Luhansk trở thành một phần của Ukraine, họ sẽ sử dụng quy chế đặc biệt của mình để ngăn chặn sự hội nhập chính trị và kinh tế của Ukraine vào các cấu trúc châu Âu và chấm dứt nguyện vọng gia nhập EU của Kyiv.

Việc sáp nhập Crimea và phát động cuộc chiến tranh của Nga ở Donbas đã bóc trần tính cơ hội và linh hoạt  trong tư duy địa chính trị và ý thức hệ của Putin. Không thể chiếm toàn bộ Ukraine cho Liên minh Á-Âu của mình, ông quyết định chiếm đóng một phần của nó, tạm hoãn phần còn lại của dự án tiếp quản. Các đồng minh theo chủ nghĩa dân tộc của Putin, những kẻ đã mất ảnh hưởng đối với các diễn biến ở Donbas sau khi Borodai và Girkin bị sa thải vào mùa hè năm 2014, cảm thấy bị phản bội.

Tuy nhiên, họ vẫn bám chặt vào viễn cảnh dân tộc chủ nghĩa tưởng tượng nhưng không bao giờ thành hiện thực của họ về Nước Nga Mới. Girkin sẽ đi khắp nơi bằng hộ chiếu do FSB (Tổng cục An ninh Liên bang Nga) cấp dưới tên Sergey Runov. Y cũng sẽ thực hiện các video trên YouTube về những diễn biến ở Ukraine dưới chiêu bài của nhà nước  Nga Mới không tồn tại cho đến tận cuộc chiến tranh mới của Nga, được phát động vào tháng 2 năm 2022.

Ukraine Mới

Tám năm chiến tranh hỗn hợp mà Nga đã tiến hành chống lại Ukraine ở Donbas, bị chia cắt bởi các thỏa thuận Minsk, đã biến Ukraine thành một quốc gia và xã hội khác so với năm 2014. Một quốc gia bị chia rẽ bởi các vấn đề về lịch sử, văn hóa và bản sắc khi Crimea bị sáp nhập giờ đây đã đoàn kết bởi mong muốn bảo vệ chủ quyền, trật tự dân chủ và lối sống của mình bằng mọi giá.

Cuộc chiến đã thay đổi bản đồ bầu cử của Ukraine. Cuộc bầu cử tổng thống thời chiến đầu tiên, được tổ chức vào tháng 5 năm 2014, đã mang lại những kết quả chưa từng có: Petro Poroshenko đã giành chiến thắng trong vòng đầu tiên với 55 phần trăm số phiếu bầu, lần đầu tiên điều này xảy ra kể từ năm 1991. Quan trọng hơn nữa, Poroshenko đã mang được 187 khu vực bỏ phiếu trong số 188 khu vực bỏ phiếu còn lại dưới quyền kiểm soát của Ukraine. Đường phân ranh của các cuộc bầu cử tổng thống trước đó, đã chia đôi Ukraine thành phe ứng cử viên ủng hộ châu Âu và phe ứng cử viên thân Nga, giờ đã không còn nữa. Cuộc chiến đã tạo ra một đất nước đồng nhất hơn nhiều.

Việc Nga sáp nhập Crimea và tiếp quản các phần đáng kể của Donbas của Ukraine đã loại bỏ các khu vực theo truyền thống ủng hộ Nga nhất, với số lượng người Nga và người nói tiếng Nga lớn nhất ở Ukraine, ra khỏi không gian chính trị và văn hóa của Ukraine. Những khu vực đó cũng từng là căn cứ cho các đảng phái chính trị thân Nga. Nga đã làm hết sức mình để ủng hộ các đồng minh cũ của tổng thống bị lật đổ, Viktor Yanukovych, nhưng họ đã chia rẽ và suy yếu sau khi mất đi một phần đáng kể cơ sở bầu cử của họ. Các lực lượng do doanh nhân và chính trị gia người Ukraine Viktor Medvedchuk, thân cận với Putin, lãnh đạo cũng vẫn yếu mặc dù có sự hỗ trợ của các kênh truyền hình và báo chí được Nga tài trợ.

Sự phát triển của bản sắc chính trị Ukraine bắt đầu bằng việc phủ định các biểu tượng của quá khứ Xô Viết. Các cuộc biểu tình Maidan năm 2014 đã gây ra làn sóng phá hủy các tượng đài của Vladimir Lenin, biểu tượng chính của chủ nghĩa cộng sản và, trong mắt của nhiều người, của sự thống trị Nga đối với Ukraine. Hơn 500 tượng đài như vậy đã bị các nhà hoạt động chống cộng phá hủy trong nửa đầu năm 2014, chủ yếu ở trung tâm đất nước. Phần còn lại, hơn 1.500 tượng đài vẫn còn ở các khu vực đông nam Ukraine do Kyiv kiểm soát, đã bị dỡ bỏ trong vài năm tiếp theo theo quyết định của quốc hội, thông qua cái gọi là “luật phi cộng sản” cấm trưng bày công khai các biểu tượng cộng sản.

Người dân Ukraine đã sống sót sau cuộc tấn công của Nga trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, 2014-15, bằng cách đoàn kết trên các ranh giới dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa. Bản thân cuộc chiến cũng thúc đẩy sự đồng nhất của dân chúng với ngôn ngữ và văn hóa Ukraine. Vì lý do chính thức của Putin khi xâm lược Ukraine là để bảo vệ những người nói tiếng Nga, nhiều người Ukraine và người Nga biết tiếng Ukraine nhưng sử dụng tiếng Nga làm ngôn ngữ ưa thích của họ đã bắt đầu chuyển sang tiếng Ukraine như một hành động thách thức. Số lượng những người tự báo cáo rằng họ sử dụng tiếng Ukraine ở nhà và tại nơi làm việc đã tăng vọt vào năm 2014-15. Con số đó đã trở lại mức bình thường trước đó sau khi mối đe dọa trước mắt của cuộc xâm lược toàn diện đã qua, nhưng việc sẵn sàng chấp nhận tiếng Ukraine là ngôn ngữ chính trong chính phủ và giáo dục vẫn còn.

Năm 2019, quốc hội đã thông qua một luật mới bắt buộc các viên chức chính phủ và nhân viên khu vực công phải sử dụng tiếng Ukraine. Bộ Ngoại giao Nga đã phản đối, tuyên bố rằng luật này sẽ làm sâu sắc thêm sự chia rẽ trong xã hội Ukraine. Nhưng lời nói đó đã không được chứng minh.

Các hiệu sách ở thành phố và làng mạc tràn ngập sách tiếng Ukraine, làm sách và các ấn phẩm tiếng Nga giảm xuống vị thế thứ cấp. Các tác phẩm về lịch sử và văn hóa Ukraine bắt đầu đứng đầu danh sách bán chạy nhất. Trước chiến tranh, chính phủ đã chi rất ít hoặc không chi tiền cho việc quảng bá văn hóa Ukraine ra nước ngoài; giờ đây, chính phủ đã thành lập một Viện Ukraine đặc biệt dưới sự bảo trợ của Bộ Ngoại giao. Nhiệm vụ của viện là noi gương Viện Goethe của Đức và các cơ quan tương tự ở các quốc gia khác, giúp các quốc gia nước ngoài làm quen với ngôn ngữ và văn hóa Ukraine. Trong nước, Quỹ Văn hóa Ukraine và Viện Sách Ukraine được giao nhiệm vụ hỗ trợ các sự kiện văn hóa và quảng bá các ấn phẩm của Ukraina.

Năm 2018, chính phủ đã hỗ trợ mạnh mẽ cho việc thống nhất hai nhánh của Giáo hội Chính thống giáo Ukraine độc ​​lập với Tòa Thượng phụ Moscow, vẫn còn thống trị Chính thống giáo ở Ukraine, đồng thời nỗ lực kiềm chế sự cạnh tranh giữa hai nhánh này. Tổng thống Poroshenko đã tham dự hội đồng thống nhất của hai giáo hội, được đặt dưới quyền tài phán của Thượng phụ Constantinople – một đòn giáng vào viễn cảnh tiếp tục làm bá quyền của Chính thống giáo Nga. Moscow phản đối và cắt đứt quan hệ với Thượng phụ Constantinople nhưng không thể làm gì hơn để duy trì vị thế của mình.

Giáo hội Chính thống giáo Ukraine (OCU) mới thống nhất đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, và, xét đến cuộc chiến đang diễn ra dù không tuyên chiến với Nga, nhiều người Chính thống giáo Ukraine thích một giáo hội độc lập với Moscow. Việc chuyển giao các giáo xứ từ Tòa Thượng phụ Moscow sang OCU đã bắt đầu vào những tháng đầu năm 2019.

Việc tham gia năng động của chính quyền năng động vào các vấn đề ngôn ngữ, chính trị ký ức và tôn giáo đã gặp phải sự chỉ trích đáng kể không chỉ từ các lực lượng chính trị theo truyền thống ủng hộ Nga mà còn từ một bộ phận của thiết chế tự do của đất nước. Tuy nhiên, nó đã được đa số người dân ủng hộ hoặc chấp nhận. Sau khi Nga vũ khí hóa các vấn đề văn hóa và lịch sử một cách hung hăng vào năm 2014-15, phần lớn người dân đồng ý rằng các luật và chính sách mới là những biện pháp cần thiết trong công cuộc xây dựng quốc gia, được thiết kế để ngăn chặn cuộc xâm lược hơn nữa của Nga.

Chính phủ mới của Ukraine đã thực hiện lời hứa của Cách mạng Nhân phẩm bằng cách tiến gần hơn đến Liên minh châu Âu và các tổ chức Âu-Đại Tây Dương, bao gồm cả NATO. Thỏa thuận liên kết đã gây ra các cuộc biểu tình Maidan năm 2014 đã được ký kết vào tháng 6 năm 2017. Vào tháng 3 năm 2017, Hội đồng Liên minh châu Âu đã cấp cho người Ukraine quyền đi lại miễn thị thực vào EU. Các quốc gia thành viên EU đã cung cấp hỗ trợ tài chính rất cần thiết, tổng cộng lên tới 14 tỷ đô la, để giúp Ukraine giải quyết tình trạng mất mát về lãnh thổ, dân số và tài sản kinh tế. Thêm 2,2 tỷ đô la đến từ Hoa Kỳ. Washington trở thành nhà tài trợ chính cho cải cách trong lĩnh vực an ninh của Ukraine, cung cấp 1,6 tỷ đô la chỉ cho mục đích đó. Ukraine đang nhanh chóng có được một đội quân chuyên nghiệp mới và chính phủ đã đưa tư cách thành viên NATO trở lại chương trình nghị sự của mình bằng cách đưa nó vào hiến pháp Ukraine.

Bình luận về bài viết này