Đức Phật- Bài Cuối

Karen Armstrong

Trần Quang Nghĩa dịch

Chương 6 – Nhập Bát-Niết-Bàn

VÀO MỘT CHIỀU, bốn mươi lăm năm sau ngày Đức Phật thành đạo, vua Ba-tư-nặc bất ngờ đến thăm Ngài tại thị trấn Medumpa ở Sakka.  Bấy giờ nhà vua đã già, và gần đây ông đã tâm sự với Đức Phật rằng đời sống chính trị ngày càng trở nên bạo lực hơn.  Các vị vua “say mê quyền lực”, “bị ám ảnh bởi lòng tham” và thường xuyên tham gia vào “các trận chiến sử dụng voi, ngựa, xe và bộ binh”.  Lưu vực sông Hằng dường như bốc cháy với chủ nghĩa vị kỷ hủy diệt.  Trong nhiều năm, Kosala đã chống lại quân đội Ma-kiệt-đà, lực lượng đang nỗ lực giành quyền bá chủ độc tôn trong khu vực.  Và bản thân Ba-tư-nặc cũng đang sống neo đơn. Người vợ yêu quý của ông vừa qua đời, và ông rơi vào tình trạng trầm cảm nặng nề.  Đây là điều xảy ra khi người bạn quá yêu thương sắp lìa đời. Dù ở bất cứ đâu trên thế gian Ba-tư-nặc cũng cảm thấy bơ vơ;  và bắt chước các nhà sư xuất gia lang thang, nhà vua nhiều lần rời khỏi cung điện  và đánh xe hàng dặm đường  cùng với đội cận vệ của mình, đi không mục đích từ nơi này đến nơi khác.  Trong một chuyến đi không mục đích như thế này đến Sakka thì nghe tin Đức Phật đang ở trong vùng lân cận.  Ngay lập tức nhà vua cảm thấy rất khao khát được ở bên cạnh Thế Tôn.  Ngài nhắc ông liên tưởng đến một cổ thụ khổng lồ: Ngài an tĩnh, xa cách, vượt lên trên những xáo trộn nhỏ nhặt của thế gian, nhưng bạn có thể ăn trú ở đó trong cơn khủng hoảng.  Ngay lập tức, ông đánh xe đến Medalumpa, và khi con đường trở nên không thể đi được, ông xuống xe, để lại thanh kiếm và khăn xếp hoàng gia cùng với vị tướng của mình, Digha Karayana, và đi bộ đến túp lều của Đức Phật.  Khi Đức Phật mở cửa, Ba-tư-nặc hôn chân Ngài.  “Tại sao ngài lại ban vinh dự cho cơ thể già tội nghiệp này?”  Đức Phật hỏi.  Nhà vua đáp:  bởi vì sự yên bình của Tăng đoàn rất khác với sự ích kỷ, bạo lực và tham lam trong triều đình của ông ta.  Nhưng trên hết, Ba-tư-nặc kết luận: “Đức Thế Tôn đã tám mươi và ta cũng tám mươi.”  Là hai ông lão với nhau, họ nên bày tỏ tình cảm với nhau trong thế giới đen tối này.

Khi Ba-tư-nặc rời túp lều và quay trở lại chỗ ông bỏ lại  Digha Karayana, ông thấy vị tướng đã bỏ đi và mang theo phù hiệu hoàng gia.  Ông ta vội vã đến nơi đóng quân thì thấy nơi đó vắng vẻ;  chỉ còn một thị nữ ở lại, với một con ngựa và một thanh kiếm.  Digha Karayana đã trở lại Xá Vệ, cô nói với nhà vua, và đang tổ chức một cuộc đảo chính để đưa Thái tử Vidudabha, người thừa kế của Ba-tư-nặc, lên ngôi.  Ba-tư-nặc  không nên trở lại Xá Vệ nếu ông còn quý mạng sống của mình.  Vị vua già quyết định đến Ma-kiệt-đà , vì ông có quan hệ hôn nhân với hoàng gia ở đó.  Nhưng đó là một cuộc hành trình dài, và trên đường đi, Ba-tư-nặc  phải ăn thức ăn đạm bạc hơn thường ngày nhiều và uống cả nước bẫn.  Khi đến Thành Vương Xá, cổng thành đã đóng, và Ba-tư-nặc  buộc phải ngủ qua đêm trong một nhà trọ rẻ tiền.  Đêm đó, ông bị bệnh kiết lỵ hành hạ dữ dội và qua đời trước bình minh.  Người thị nữ đã hết lòng vì vị vua già bắt đầu khuấy động cả kinh thành: “Hoàng thượng của tôi, đức vua xứ Kosala, người trị vì hai vương quốc, đã chết một cách khốn khổ và hiện đang nằm trong một nhà an dưỡng dành cho người bần cùng bên ngoài một thành phố xa lạ!”

 Đức Phật luôn xem tuổi già là biểu tượng của khổ đau dành cho tất cả chúng sinh.  Như Ba-tư-nặc  đã nhận xét, bản thân Ngài nay đã già.  A-nan, người không còn trẻ nữa, gần đây đã mất tinh thần trước sự thay đổi của chủ nhân.  Da Ngài nhăn nheo, tay chân mềm nhão, lưng hơi khòm và các giác quan dường như không còn linh hoạt nữa.  “Đúng vậy, đúng vậy, A-nan,” Đức Phật đồng ý.  Tuổi già thực sự tàn nhẫn.  Nhưng câu chuyện về những năm cuối đời của Đức Phật ít chú ý vào thảm họa sắc vóc của tuổi già hơn là về tính dễ bị tổn thương của tuổi già.  Những thanh niên đầy tham vọng nổi lên chống lại những bậc trường thương của họ, con trai giết cha ruột của mình.  Trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời Đức Phật, các bản văn đề cập đến nỗi kinh hoàng của một thế giới nơi mọi cảm giác thiêng liêng bị mất đi.  Chủ nghĩa vị kỷ ngự trị tối cao;  đố kỵ, hận thù, tham lam và tham vọng lấn át lòng trắc ẩn và từ bị.  Bất kỳ ai cản trở lửa tham ái của một người đều bị loại trừ một cách tàn nhẫn.  Tất cả lòng tử tế và tôn trọng đã biến mất.  Bằng cách nhấn mạnh những mối nguy hiểm mà Đức Phật đã cố gắng chống lại trong gần năm mươi năm, kinh điển buộc chúng ta phải đối mặt với sự tàn nhẫn và bạo lực của xã hội mà Ngài đã phát động chiến dịch vị tha và từ bi chống lại. Ngay cả Tăng đoàn cũng không tránh khỏi tại họa báng bổ này.  Tám năm trước, Tăng đoàn lại một lần nữa bị đe dọa bởi sự chia rẽ và dính líu vào một âm mưu giết vua Tần-bà-sa-la , một ông lão khác, người luôn là môn đệ tận tụy của Đức Phật trong ba mươi bảy năm. 

Chúng ta chỉ có thể tìm thấy tường thuật đầy đủ về cuộc nổi loạn này trong Luật tạng.  Nó có thể không hoàn toàn mang tính lịch sử, nhưng nó đưa ra một lời cảnh báo: ngay cả những nguyên tắc của Tăng đoàn cũng có thể bị lật đổ và gây chết người.  Theo Luật tạng, thủ phạm là Đề-bà-đạt-đa, em họ của Đức Phật, người đã gia nhập Tăng đoàn sau chuyến thăm nhà đầu tiên của Đức Phật  ở Ka-tỳ-la-vệ.  Các bài bình luận sau này cho chúng ta biết rằng Đề-bà-đạt-đa  đã độc ác từ khi còn trẻ và luôn là kẻ thù không đội trời chung của Cồ-đàm khi cả hai lớn lên cùng nhau.  Tuy nhiên, các văn bản tiếng Pali không biết gì về điều này và trình bày Đề-bà-đạt-đa  như một nhà sư sùng đạo phi thường.  Ông ấy dường như là một nhà hùng biện xuất sắc, và khi Đức Phật già yếu, Đề-bà-đạt-đa  trở nên phẫn nộ vì Ngài vẫn thống lĩnh Tăng đoàn.  Y quyết định xây dựng cơ sở quyền lực của riêng mình.  Đề-bà-đạt-đa  đã mất hết ý thức về đời sống tôn giáo, và bắt đầu tự đề cao mình một cách không khoan nhượng.  Tầm nhìn của y  bị thu hẹp lại: thay vì vươn ra khắp bốn phương trời trong tình thương, y chỉ tập trung vào vun đắp sự nghiệp và để mặc cho lòng thù hận và đố kỵ thiêu cháy.  Đầu tiên, y tiếp cận Thái tử A-xà-thế (Ajatasatta), con trai và là người thừa kế của Vua Tần-bà-sa-la  và là tổng tư lệnh của quân đội Ma-kiệt-đà. Y đã gây ấn tượng với Thái tử bằng những màn thể hiện thần thông hào nhoáng, một dấu hiệu chắc chắn cho thấy y đang xúc phạm năng lực du già của mình. Và Thái tử trở thành người bảo trợ của Đề-bà-đạt-đa : mỗi ngày, gã gửi năm trăm cỗ xe đến Đề-bà-đạt-đa  trong Tịnh xá ở Đỉnh Linh Thứu, ngay bên ngoài thành Vương Xá, chở hàng đống thức ăn không phù hợp cho các Tỳ kheo.  Đề-bà-đạt-đa  trở thành một nhà sư được triều đình sủng ái;  sự tâng bốc đầu độc y và y quyết định giành quyền thống lĩnh Tăng đoàn.  Nhưng khi Đức Phật được cảnh báo về các hoạt động của người em họ, Ngài không hề bối rối.  Hành vi vụng về ở mức độ này chỉ có thể đưa Đề-bà-đạt-đa  đến một kết cục tồi tệ.

 Đề Bà Đạt Đa ra tay lần đầu tiên khi Đức Phật đang ở Tịnh xá Trúc Lâm bên ngoài thành Vương Xá.  Trước sự chứng kiến ​​đông đảo của chư tỳ kheo, Đề-bà-đạt-đa  chính thức yêu cầu Đức Phật từ chức và giao Tăng đoàn lại cho mình.  “Đức Thế Tôn nay đã già, tuổi già, gánh nặng năm tháng.  , .  và đã đi đến giai đoạn cuối cùng của cuộc đời,” y nói một cách vụng về.  “Bây giờ hãy để ông ấy nghỉ ngơi.”  Đức Phật kiên quyết từ chối: Ngài thậm chí còn không giao Tăng đoàn cho Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, hai đệ tử lỗi lạc nhất của mình.  Tại sao Ngài lại bổ nhiệm một linh hồn lạc lối như Đề-bà-đạt-đa  vào vị trí này?  Nhục nhã và tức giận, Đề-bà-đạt-đa  rời khỏi tịnh xá và thề sẽ trả thù.  Đức Phật không quan tâm nhiều đến việc lãnh đạo Tăng Đoàn. Ngài luôn khẳng định rằng Tăng đoàn không cần một nhân vật có thẩm quyền trung ương, vì mỗi nhà sư tự chịu trách nhiệm.

 Nhưng bất kỳ nỗ lực nào nhằm gieo rắc bất đồng, như Đề-bà-đạt-đa  đã làm, đều bị lên án.  Một bầu không khí ích kỷ, tham vọng, thù địch và tình trạng tranh chấp hoàn toàn không tương thích với đời sống tâm linh và sẽ phủ nhận lý do tồn tại của Tăng đoàn.  Do đó, Đức Phật đã công khai tách mình và Tăng đoàn khỏi Đề-bà-đạt-đa  và bảo Xá-lợi-phất tố cáo y ở Thành Vương Xá.  “Trước đây,” Ngài giải thích, “Đề-bà-đạt-đa  có một bản chất;  bây giờ ông ta có một bản chất khác.”  Nhưng thiệt hại đã xảy ra rồi.  Một số người dân thị trấn tin rằng Đức Phật ghen tị vì Đề-bà-đạt-đa giành  được sự ưu ái của Thế tử;  tuy nhiên, những ai khôn ngoan hơn không vội phán xét.

 Trong khi đó, Đề-bà-đạt-đa  đến gặp Thái tử A-xà-thế với một lời đề nghị.  Y nói, người ngày xưa sống lâu hơn chúng ta bây giờ.  Vua Tần-bà-sa-la sẽ  còn nán lại lâu, và có lẽ A-xà-thế sẽ không bao giờ được ngồi trên ngai vàng.  Tại sao anh ta không giết cha mình, còn y, Đề-bà-đạt-đa,  sẽ giết Đức Phật?  Tại sao hai ông già này lại cản đường họ?  Cùng nhau, Đề-bà-đạt-đa  và A-xà-thế sẽ tạo thành một cặp tuyệt vời và đạt được những điều kỳ diệu. Thái tử thích ý tưởng này, nhưng khi anh ta cố gắng lẻn vào nội điện của nhà vua với một con dao găm buộc vào đùi, anh ta đã bị bắt và thú nhận tất cả.  Một số sĩ quan của quân đội muốn tàn sát cả Tăng đoàn khi họ nghe tin về vai trò của Đề-bà-đạt-đa  trong vụ ám sát, nhưng Tần-bà-sa-la chỉ ra rằng Đức Phật đã loại bỏ Đề-bà-đạt-đa  và do đó không thể chịu trách nhiệm về việc làm của tên khốn này.  Khi A-xà-thế được dẫn đến trước mặt ông, nhà vua buồn bã hỏi tại sao anh ta muốn giết ông.  “Tâu bệ hạ, tôi muốn vương quốc,” A-xà-thế trả lời với vẻ thẳng thắn đến đáng sợ.

 Tần-bà-sa-la đã là môn đệ lâu năm của Đức Phật nên cũng học hỏi được ít nhiều. “Nếu ngươi muốn vương quốc, Thái tử,” nhà vua nói đơn giản, “thì nó là của con đấy.”  Giống như Ba-tư-nặc , có lẽ ông ý thức được những đam mê hung hăng và tàn ác cần có trong chính trị, và có lẽ ông cũng muốn dành những năm cuối đời cho đời sống tâm linh.  Tuy nhiên, việc thoái vị của ông không mang lại lợi ích gì cho mình.  Với sự hỗ trợ của quân đội, A-xà-thế đã bắt cha mình và bỏ đói cho đến chết.

 Vị vua mới sau đó ủng hộ kế hoạch giết Đức Phật của Đề-bà-đạt-đa , cung cấp cho y những sát thủ được huấn luyện từ quân đội.  Nhưng ngay khi tên sát thủ đầu tiên đến gần Đức Phật với cung tên, hắn đã khiếp sợ và đứng chôn chân tại chỗ.  “Ngươi hãy đến đây,” Đức Phật dịu dàng nói.  “Đừng sợ.”  Vì hắn đã nhìn ra lỗi lầm của mình, tội ác của hắn được tha thứ.  Sau đó, Đức Phật ban cho tên sát thủ lời giáo huấn thích hợp đối với một Phật tử và trong một thời gian rất ngắn, kẻ sát nhân sám hối đã trở thành đệ tử Đức Phật. Sau đó, từng người một, những kẻ sát thủ tiếp theo cũng theo gương hắn.  Vì vậy, Đề-bà-đạt-đa  buộc lòng phải tự mình giải quyết vấn đề.  Đầu tiên, y đẩy một tảng đá khổng lồ xuống vách đá với hy vọng sẽ nghiền nát Đức Phật khi Ngài đi qua hẻm núi, nhưng tảng đá chỉ sượt qua chân Đức Phật.  Tiếp theo, y cho thả một con voi nổi tiếng hung dữ tên là Naligiri, tấn công Đức Phật.  Nhưng ngay khi Naligiri nhìn thấy nạn nhân của mình, nó đã bị khuất phục trước làn sóng tình thương phát ra từ Đức Phật ; nó hạ vòi xuống và đứng yên trong khi Đức Phật vuốt trán nó, giải thích cho nó rằng bạo lực sẽ không giúp ích gì nó trong kiếp sau.  Naligiri lấy vòi hút bụi từ chân Đức Phật, rắc lên trán mình, rồi lui về phía sau, nhìn Đức Phật một cách trìu mến cho đến khi Ngài khuất dạng.  Rồi nó ung dung trở lại chuồng, một con thú đã được cải tạo từ ngày đó trở đi.

 Nhận thấy Đức Phật dường như chẳng hề hấn gì trước các vụ tấn công này, những kẻ chủ mưu đã thay đổi chiến thuật.  A-xà-thế, người đã thành công trong nỗ lực tranh giành quyền lực, đã bỏ Đề-bà-đạt-đa  và trở thành một môn đệ tại gia của Đức Phật.  Đề-bà-đạt-đa  bây giờ chỉ còn một mình, ra sức tranh thủ sự hỗ trợ trong Tăng đoàn. Y chiêu dụ được một số tu sĩ trẻ hơn và thiếu kinh nghiệm hơn ở Tỳ Xá Ly (Vesali), lập luận rằng Trung đạo của Đức Phật là một sự sai lệch không thể chấp nhận được so với truyền thống.  Phật tử nên quay trở lại với những lý tưởng nghiêm ngặt hơn của những nhà tu khổ hạnh truyền thống hơn.  Đề-bà-đạt-đa  đề xuất năm quy tắc mới: tất cả các thành viên của Tăng đoàn nên sống trong rừng thay vì ở tịnh xá trong mùa mưa;  họ chỉ được dựa vào  khất thực và không được ăn uống tại nhà cư sĩ dù được mời;  thay gì mặc y mới, họ chỉ mặc những mảnh giẻ rách nhặt ngoài đường;  họ phải ngủ ngoài trời thay vì trong lều;  và họ không bao giờ được ăn thịt của bất kỳ chúng sinh nào.  Năm quy tắc này có thể đại diện cho hạt nhân lịch sử trong câu chuyện ly khai của Đề-bà-đạt-đa.  Một số tỳ kheo bảo thủ hơn có thể lo ngại rằng các tiêu chuẩn hiện hành đang bị trượt dốc nên muốn tách khỏi Tăng đoàn chính.  Đề Bà Đạt Đa có thể đã liên kết với phong trào cải cách này, và những kẻ thù của y, những người ủng hộ Trung Đạo của Đức Phật, có thể đã bôi nhọ tên tuổi của Đề Bà Đạt Đa bằng cách bịa ra những truyền thuyết đầy kịch tính mà chúng ta tìm thấy trong Luật tạng.

Khi Đề-bà-đạt-đa  công bố năm giới luật mình đề xuất và yêu cầu Đức Phật biến chúng thành quy định bắt buộc đối với toàn thể Tăng đoàn, Đức Phật đã từ chối; Ngài chỉ ra rằng bất kỳ nhà sư nào muốn sống theo cách này hoàn toàn được tự do thực hiện điều đó, nhưng ép buộc trong những vấn đề này là chống lại  tinh thần của Giáo phái.  Các nhà sư phải tự quyết định và không bị buộc phải tuân theo chỉ dẫn của bất kỳ ai khác.  Đề-bà-đạt-đa  rất hớn hở.  Đức Phật đã từ chối các yêu cầu sùng đạo của y! 

Y đắc thắng tuyên bố với những người theo ông rằng Đức Phật đã bị khuất phục trước sự xa hoa và buông thả và rằng nhiệm vụ của họ là phải rút lui khỏi những người anh em đồi bại của mình.  Với năm trăm vị tỳ kheo trẻ tuổi, Đề-bà-đạt-đa  trốn đến đồi Gayasisa bên ngoài Thành Vương Xá, trong khi Đức Phật cử Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đi thu phục các tỳ kheo nổi loạn trở lại.  Khi Đề-bà-đạt-đa  thấy họ đến gần, y lập tức tưởng họ đã bỏ rơi Đức Phật và đến tham gia với y.  Phấn khởi, y triệu tập hội chúng và nói chuyện với các đệ tử của mình cho đến tận đêm khuya.  Sau đó, viện cớ lưng đang đau, y lui về giường nghỉ, nhường diễn đàn cho Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.  Khi hai vị trưởng lão trung thành này bắt đầu nói, chẳng bao lâu họ đã thuyết phục được các tỳ kheo trở về với Đức Phật, Đức Phật đã đón họ trở lại mà không hề quở phạt.  Một số văn bản cho chúng ta biết rằng Đề-bà-đạt-đa sau đó đã tự sát;  số khác cho rằng y đã chết trước khi hòa giải với Đức Phật.  Dù sự thật của những câu chuyện này là gì, chúng cũng nói lên nỗi đau khổ của tuổi già một cách đầy xúc động, và đưa ra một ý nghĩa có tính cảnh báo.  Ngay cả Tăng đoàn cũng không tránh khỏi sự ích kỷ, tham vọng và chia rẽ vốn tràn lan trong đời sống công cộng.

 Đức Phật đã suy nghĩ về tai họa này trong năm cuối cùng của cuộc đời mình.  Bây giờ  Ngài đã tám mươi tuổi.  Vua A-xà-thế lúc này đã vững vàng trên ngai vàng xứ Ma-kiệt-đà  và thường xuyên viếng thăm Đức Phật.  Ông ta đang lên kế hoạch tấn công các nước cộng hòa Malla,   6thisalsogood, Licchavi, Koliya và Vajji, tất cả đều nằm ở phía đông vương quốc của ông; họ đã thành lập một liên minh phòng thủ được gọi chung là “người Vajji”.  Nhà vua quyết tâm quét sạch chúng khỏi bản đồ và thôn tính chúng vào vương quốc của mình, nhưng trước khi phát động cuộc tấn công, ông đã cử đại thần Vassakara, một người Bà-la-môn, đến trình bày với Đức Phật những gì ông sắp làm và chăm chú lắng nghe những lời bình luận của Ngài. Đức Phật nói với ẩn ý. Ngài trình bày với Vassakara rằng chừng nào người Vajji còn trung thành với các truyền thống cộng hòa;  thường xuyên tổ chức “các cuộc họp có đông người tham dự”;  chung sống hòa thuận; tôn trọng những vị cao niên, lắng nghe cẩn thận lời khuyên của bậc trưởng thượng;  và tuân theo luật pháp và đạo lý của tổ tiên họ, Vua A-xà-thế sẽ không thể đánh bại họ.  Vassakara chăm chú lắng nghe và thưa với Đức Phật rằng, vì những người Vajji hiện nay đáp ứng tất cả những điều kiện này, nên thực tế họ là bất khả xâm phạm.  Ông trở về báo tin cho nhà vua.

 Tuy nhiên, truyền thống Phật giáo kể rằng ngay sau đó, Vua A-xà-thế đã xoay sở và đánh bại người Vajjian: ông đạt được thành tích này bằng cách gửi gián điệp vào các nước cộng hòa để gieo rắc bất hòa giữa các nhà lãnh đạo.  Vì vậy, có một sự thấm thía và khẩn thiết trong những lời tiếp theo của Đức Phật, sau khi cánh cửa đã đóng lại sau lưng Vassakara.  Ngài áp dụng các điều kiện tương tự cho Tăng đoàn: miễn là các thành viên tôn trọng các Tỳ kheo lớn tuổi, tổ chức các cuộc họp thường xuyên và tuyệt đối trung thành với Giáo pháp, thì Tăng đoàn sẽ tồn tại.

Các nước cộng hòa bộ tộc đã bị diệt vong.  Chúng thuộc về quá khứ và chẳng bao lâu nữa sẽ bị quét sạch bởi các chế độ quân chủ hiếu chiến mới trỗi dậy.  Con trai của Vua Ba-tư-nặc  sẽ sớm đánh bại và tàn sát người dòng Thích Ca, dân tộc của Đức Phật.  Nhưng Tăng đoàn của Đức Phật là một phiên bản mới mẻ, cách tân và thiện xảo về mặt tâm linh của các chính phủ cộng hòa cũ.  Nó duy trì   các giá trị mà các chế độ quân chủ bạo lực và áp bức hơn có nguy cơ lãng quên.  Nhưng đây là một thế giới nguy hiểm.  Tăng đoàn không thể tồn tại trước sự chia rẽ nội bộ, bất kính với bậc cao niên, thiếu từ bi và tính hời hợt nổi lên trong vụ bê bối Đề-bà-đạt-đa .  Các tỳ kheo và tỳ kheo ni phải chánh niệm, tỉnh táo, tinh tấn và trung thành với các giới luật thiền định mà chỉ như thế mới có thể đưa họ đến giác ngộ.  Tăng đoàn sẽ không suy yếu miễn là các tu sĩ tránh những theo đuổi bất thiện như “tầm phào, lêu lổng và giao du;  miễn là họ không có những người bạn vô kỷ luật và tránh rơi vào bùa mê của những người như vậy;  miễn là họ không dừng lại giữa chừng trong cuộc tìm kiếm của mình và hài lòng với mức độ tâm linh tầm thường.”  Nếu họ thất bại trong việc này, Tăng đoàn sẽ trở nên không thể phân biệt được với bất kỳ tổ chức thế tục nào;  nó sẽ trở thành con mồi cho những tệ nạn của các chế độ quân chủ và trở nên thối nát một cách vô vọng.

 Sau cuộc gặp gỡ với Vassakara, Đức Phật quyết định rời Thành Vương Xá và đi về phía bắc để nhập thất an cư ở Vesall.  Như thể việc vua A-xà-thế tiết lộ kế hoạch “phá hủy và tận diệt” người Vajji trong phút chốc đã khiến Ngài ghê tởm và nhận thức được mối đồng cảm đối với các nước cộng hòa đang bị bao vây.  Ngài đã trải qua phần lớn cuộc đời hoằng pháp tại Kosala và Ma-kiệt-đà và đã hoàn thành nhiệm vụ quan trọng ở đó.  Nhưng bây giờ, là một ông già vốn đã từng phải chịu đựng sự hung hãn đã đốt cháy đời sống chính trị của  các vương quốc này, Ngài phải lui về những vùng biên địa của lưu vực sông Hằng.

 Chầm chậm, cùng với một đoàn tùy tùng đông đảo các nhà sư, Đức Phật đã hành trình qua lãnh thổ Ma-kiệt-đà, đầu tiên đến Nalanda và sau đó đến Pataligama (Patna ngày nay), sau này là kinh đô của vị vua Phật giáo vĩ đại Asoka (c. 269-232 TCN), người sẽ tạo ra  một chế độ quân chủ tránh xa bạo lực và cố gắng thể hiện đạo đức từ bi của Phật pháp.  Đức Phật chú ý đến những pháo đài vĩ đại đang được xây dựng bởi các quan đại thần Ma-kiệt-đà để chuẩn bị cho cuộc chiến sắp tới với người Vajji, và tiên tri về sự vĩ đại trong tương lai của thành phố.  Tại đó, một phái đoàn tín đồ và cư sĩ sắp xếp nhà nghỉ cho Đức Phật tùy ý sử dụng, trải thảm và treo một ngọn đèn dầu lớn, và Đức Phật thức suốt đêm để thuyết giảng phiên bản Giáo pháp đã được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của cư sĩ.

 Ngài chỉ ra rằng sự thận trọng của hành vi thiện xảo có thể mang lại lợi lạc cho các Phật tử nam nữ đức hạnh ngay cả trong thế gian này, và sẽ đảm bảo rằng trong những kiếp sau họ sẽ tiến xa hơn trên con đường dẫn đến giác ngộ.

 Cuối cùng, Đức Phật đến Ty-xá-ly.  Lúc đầu, mọi thứ dường như vẫn luôn như cũ  Ngài tá túc trong khu vườn xoài của Ambapali, một kỹ nữ hàng đầu của thị trấn.  Cô ra đón Đức Phật với một đoàn xe ngựa long trọng, ngồi dưới chân Ngài để nghe Pháp và mời Ngài dùng bữa.  Được sự đồng ý của Ngài, các thành viên của bộ tộc Licchavi đang sống ở Ty-xá-ly xông ra nghênh đón Đức Phật; họ diễu hành trên các cỗ xe  lộng lẫy, màu sắc rực rỡ.  Đó là một cảnh tượng kỳ diệu, và Đức Phật đã mỉm cười khi nhìn thấy cảnh tượng đó, nói với các Tỳ kheo  rằng bây giờ họ đã có một số ý niệm về sự tráng lệ của các vị thần trên cung trời.  Người Licchavi ngồi xung quanh Đức Phật, và Ngài đã “cổ vũ, truyền cảm hứng và khuyến khích” họ bằng một bài thuyết pháp.  Vào cuối bài giảng,  người Licchavi mời Ngài dùng bữa tối, và khi Đức Phật nói với họ rằng Ngài đã chấp nhận ăn tối theo lời mời của Ambapali, họ đã không mất đi tính hài hước mà còn búng ngón tay và kêu lên: “Ôi!  cô gái vườn xoài đã đánh bại chúng tôi, cô gái vườn xoài đã mưu trí hơn chúng tôi!” Đêm hôm đó, trong bữa ăn tối, cô kỹ nữ đã tặng khu vườn xoài cho Tăng đoàn, và Đức Phật ở lại đó một lúc, thuyết pháp cho các Tỳ kheo.  Có sự nhộn nhịp, hào hứng và phấn khích thường lệ xung quanh Đức Phật, và cốt lõi cũng là lời khuyến khích không ngừng về một đời sống nội tâm mãnh liệt của chánh niệm và thiền định.

 Nhưng sau đó bức tranh bắt đầu tối đi.  Đức Phật rời Ty-xá-ly cùng với các tu sĩ của mình và đến cư trú tại ngôi làng Beluvagamaka gần đó.

 Sau khi họ ở đó một thời gian, đột nhiên Ngài giải tán các tu sĩ: họ nên quay trở lại Tỳ-xá-ly và chuẩn bị cho kỳ an cư kiết hạ bất cứ nơi nào có thể.  Ngài và A-nan sẽ ở lại Beluvagamaka.  Một tình trạng cô độc mới đã bước vào cuộc đời của Đức Phật, và từ thời điểm này, dường như Ngài xa lánh các thành phố và thị trấn lớn và tìm đến những địa điểm ngày càng ít người biết đến hơn.  Như thể Ngài đã bắt đầu rời bỏ thế gian.  Sau khi các Tỳ kheo ra đi, Đức Phật bị bệnh nặng, nhưng với sự tự chủ tuyệt vời, Ngài đã kìm nén cơn đau và vượt qua cơn bệnh. Ngài chưa thể diệt độ và nhập Niết Bàn Tối Thượng (parinibbana) để hoàn tất quá trình giác ngộ mà Ngài đã đạt được dưới cội cây bồ đề. Ngài còn phải chào tạm biệt Tăng đoàn.  Do đó, Đức Phật đã hồi phục, rời khỏi phòng bệnh và đến ngồi với A-nan ở mái hiên.  Căn bệnh của Ngài đã khiến A-nan lo sợ đến tận cùng.  “Con đã quen nhìn thấy Đức Thế Tôn khỏe mạnh và cường tráng,” ông run rẩy nói với Đức Phật khi ngồi xuống bên cạnh Ngài.  Lần đầu tiên ông nhận ra rằng vị Đạo sư của mình có thể chết.  “Tôi cảm thấy cơ thể mình cứng nhắc,” ông nói, “Tôi không thể nhìn thẳng, đầu óc tôi rối bời.”  Nhưng ông đã tìm thấy niềm an ủi trong ý nghĩ: Đức Phật sẽ không nhập diệt cho đến khi Ngài thực hiện một số sắp đặt thiết thực về sự kế vị và việc điều hành Tăng đoàn, những điều này sẽ phải thay đổi một khi vị thầy ra đi.  Đức Phật thở dài.  “Tăng đoàn mong đợi điều gì ở ta, A-nan?”  Ngài kiên nhẫn hỏi.  Tất cả các Tỳ kheo đều biết mọi điều Ngài đã dạy họ.  Không có học thuyết bí mật nào dành cho một số người lãnh đạo được chọn.

 Những ý nghĩ như “Tôi phải cai quản Tăng đoàn” hay “Tăng đoàn phụ thuộc vào tôi” đã không xảy ra với một người giác ngộ.  “Ta là một ông già, A-nan, tám mươi tuổi,” Đức Phật tiếp tục một cách kiên quyết.  “Cơ thể ta chỉ có thể di chuyển nhờ sự trợ giúp của những thứ tạm bợ, giống như một chiếc xe đẩy cũ, rệu rã.” Ngài chỉ cảm thấy sảng khoái khi thiền định, đưa Ngài đến sự an lạc và giải thoát của Niết Bàn.  Và nó phải như vậy đối với từng tỳ kheo và tỳ kheo ni.  “Mỗi người trong số các ngươi phải biến mình thành hải đảo tự thân, biến chính mình chứ không phải ai khác thành nơi an trú của mình.”  Không Phật tử nào có thể phụ thuộc vào người khác và cần một người trong số họ để lãnh đạo Giáo phái.  “Pháp—và chỉ Pháp—là nơi nương tựa của vị ấy.”  Làm sao các tỳ kheo có thể tự chủ được?  Họ đã biết câu trả lời rồi: bằng thiền định, tập trung, chánh niệm và một sự tách biệt có kỷ luật với thế gian.  Tăng đoàn không cần ai điều hành, không cần trung tâm thẩm quyền.  Toàn bộ quan điểm của lối sống Phật giáo là đạt được một nguồn lực bên trong khiến cho sự phụ thuộc như vậy trở nên khá buồn cười.

 Nhưng A-nan chưa đạt cảnh giới giác ngộ. Ông ta không phải là một hành giả du già lão luyện và đã không thể đạt được mức độ tự lực này.  Cá nhân ông gắn bó với vị đạo sư của mình và sẽ trở thành hình mẫu cho những Phật tử chưa sẵn sàng cho chủ nghĩa anh hùng du già như vậy, và còn cần một lòng sùng kính đối với Đức Phật để nâng đỡ mình.

 A-nan đã bị sốc một vài ngày sau đó, khi một sa di mang đến cho họ tin tức về cái chết của Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên ở Nalanda.  Tuy nhiên, một lần nữa, Đức Phật tỏ vẻ không vui khi thấy  A-nan khổ sở.  Ông ta mong đợi điều gì?  Chẳng phải bản chất của Giáo pháp là không có gì tồn tại mãi mãi và luôn luôn có sự buông bỏ mọi thứ và mọi người mà chúng ta yêu thương hay sao?  A-nan có cho rằng Xá-lợi-phất đã mang theo mình các luật lệ và hiểu biết sâu sắc mà các Phật tử theo đó mà tu hành, hoặc có phải giới luật đạo đức và kiến ​​thức thiền định cũng đã rời xa Tăng đoàn hay không?  “Không, thưa Thế Tôn,” A-nan bất hạnh chống chế.  Chỉ là ông không thể không nhớ đến Xá-lợi-phất đã hào phóng như thế nào đối với tất cả họ, ông đã giúp đỡ họ như thế nào bằng cách trình bày Giáo pháp một cách phong phú và không biết mệt mỏi.  Thật đau lòng khi nhìn thấy bình bát và y phục của Xá-lợi-phất mà sa di đã mang đến cho Đức Phật khi báo tin buồn   “Này A-nan,” Đức Phật lại nói, “mỗi người trong các ngươi nên tự biến mình thành hải đảo tự thân, tự mình chứ không phải ai khác làm nơi nương tựa cho mình;  mỗi người trong các ngươi phải biến Pháp thành hải đảo của mình, Pháp chứ không gì khác là nơi nương tựa của mình.”

 Không hề đau buồn về cái chết của hai đệ tử thân cận nhất của mình, Đức Phật vô cùng vui mừng vì họ đã đạt được Niết bàn, sự giải thoát cuối cùng của họ khỏi những mong manh của kiếp người.  Ngài rất vui khi có được hai đệ tử như vậy, những người được toàn thể tăng thân yêu quý!  Làm sao Ngài có thể đau buồn và than thở, khi họ đã đạt được mục tiêu cuối cùng của nhiệm vụ?  Tuy nhiên, đối với những người chưa giác ngộ, có một sự cay đắng và buồn bã trong việc ra đi của Đức Phật.  Không ai trong số các tỳ kheo thân cận nhất của Đức Phật còn tại thế ngoại trừ A-nan.  Các văn bản cố gắng che đậy điều đó, nhưng quả không còn những đám đông phấn khích và các bữa ăn tối đầy màu sắc với thiện nam tín nữ.  Thay vào đó, Đức Phật và A-nan, hai ông lão, phải xoay sở một mình, trải qua nỗi nhọc nhằn của sự sống còn và sự ra đi của những người bạn đồng hành, điều tạo nên bi kịch thực sự của tuổi già.  Việc ngay cả Đức Phật cũng có thể có một số dự cảm về điều này và cảm thấy bị mất mát được gợi ý bởi sự xuất hiện cuối cùng của Ma vương, đại diện cho cái bóng của bản ngã Ngài, trong cuộc đời của Ngài.  Ngài và A-nan vừa trải qua một ngày với nhau tại một đền thờ ở Tỳ-xá-ly, và Đức Phật lưu ý rằng đối với một người giác ngộ hoàn toàn như Ngài,  nếu muốn, có thể sống hết phần còn lại của giai đoạn lịch sử này.  Các văn bản cho chúng ta biết, Ngài đã  gợi ý cho A-nan,  nếu ông  ta cầu xin Ngài ở lại thế gian, vì lòng từ bi đối với chư thiên và loài người cần được Ngài hướng dẫn thêm, thì Đức Phật có đủ sức mạnh để tiếp tục sống.  Nhưng, một lần nữa, A-nan tội nghiệp chỉ đơn giản là bỏ lỡ cơ hội, hoặc không hiểu, và do đó, đã không yêu cầu Đức Phật ở lại với Tăng đoàn cho đến cuối kỷ nguyên lịch sử này.  Đó là một thiếu sót mà một số thành viên của Tăng đoàn thời kỳ đầu đã đổ lỗi cho A-nan – một phần thưởng quá đỗi bất công cho những năm tháng tận tụy phục vụ vị Tôn sư của mình.  Nhưng khi Đức Phật đưa ra lời gợi ý, A-nan không thấy ý nghĩa của nó, nên đã đáp lại một cách lịch sự và vu vơ, rồi đi đến ngồi dưới gốc cây gần đó.

 Liền đó, Ma vương, cái bóng của Ngài, xuất hiện.  “Hãy để Như Lai nhập niết bàn ngay bây giờ,” Mara thì thầm một cách quyến rũ.  Tại sao lại tiếp tục?  Ngài ấy xứng đáng được cuối cùng yên nghỉ;  đấu tranh hơn nữa để làm gì.  Lần cuối cùng, Đức Phật đẩy lùi Ma vương. Ngài sẽ không bước vào cảnh giới an lạc của Niết bàn cho đến khi nhiệm vụ của Ngài hoàn thành và chắc chắn rằng Tăng đoàn và đời sống thánh thiện đã được thành lập đúng cách.  Nhưng, Ngài nói thêm, điều đó sẽ rất sớm thôi: “Ba tháng nữa,” ngài nói với Mara, “Như Lai sẽ nhập Bát-niết-bàn.”  Kinh điển cho chúng ta biết chính lúc đó, tại điện thờ Capala ở Tỳ-xá-ly, Đức Phật đã “từ bỏ ý muốn tiếp tục sống” một cách có chủ ý và có ý thức.  Đó là một quyết định vang vọng khắp vũ trụ.  Thế giới loài người lập tức rung chuyển bởi một trận động đất, khiến ngay cả A-nan cũng nhận ra rằng một điều gì đó rất quan trọng đang diễn ra, và trên các tầng trời, tiếng trống trang nghiêm bắt đầu đánh.  Đã quá muộn, Đức Phật nói với A-nan giờ đã nhận ra và ăn năn tội của mình, khi người thị giả cuối cùng cầu xin Ngài tiếp tục sống.  Bây giờ Ngài phải nói chuyện với Tăng đoàn và chào tạm biệt các tỳ kheo của mình.  Trong đại sảnh của tịnh xá Tỳ-xá-ly Ngài nói cho tất cả các Tỳ kheo đang cư trú trong vùng lân cận.  Ngài không có gì mới để nói với họ.  Ta chỉ dạy cho các thầy những điều mà ta đã tự mình trải nghiệm trọn vẹn,” Ngài nói.  Ngài đã không nhận bất cứ điều gì chỉ bằng sự tin tưởng và họ cũng phải biến Giáo pháp thành hiện thực cho chính mình.  Họ phải học hỏi thấu đáo tất cả những sự thật mà Ngài đã truyền đạt, biến chúng thành kinh nghiệm sống động bằng phương tiện thiền định, để họ cũng thụ đắc chúng với “sự hiểu biết trực tiếp” của một hành giả yoga.  Trên tất cả, họ phải sống vì người khác.  Đời sống phạm hạnh không được tạo ra chỉ để làm lợi lạc cho người đã giác ngộ, và Niết Bàn không phải là một phần thưởng mà bất cứ vị tỳ kheo nào cũng có thể ích kỷ giữ cho riêng mình.  Họ phải sống theo Pháp “vì lợi ích của con người, vì lợi lạc và hạnh phúc của chúng sinh, vì lòng bi mẫn với toàn thế giới, và vì lợi ích và an lạc của chư thiên và loài người.”

 Sáng hôm sau, sau khi Đức Phật và A-nan đi khất thực trong thị trấn, Đức Phật quay lại và nhìn Tỳ-xá-ly một lúc lâu;  đó là lần cuối cùng Ngài nhìn thấy thành phố.  Sau đó, họ đi theo con đường đến làng Bhandagama.  Từ điểm này, hành trình của Đức Phật dường như chệch khỏi bản đồ thế giới văn minh.

 Sau khi ở lại Bhandagama một thời gian, hướng dẫn các tỳ kheo ở đó, Đức Phật cùng với A-nan đi chậm về phía bắc, qua các làng Hatthigama, Ambagama, Jambugama và Bhoganagama (tất cả đều đã biến mất không dấu vết theo thời gian) cho đến khi Ngài đến Pava, nơi Ngài dừng chân trong vạt rừng của một người tên Cunda, con trai của một thợ kim hoàn.  Cunda tỏ lòng tôn kính Đức Phật, chăm chú lắng nghe lời dạy của Ngài và sau đó mời Ngài dự một bữa tối thịnh soạn, trong đó có món sukaramaddava (“thịt heo nấu mềm”).  Không ai biết chắc chắn món ăn này thực sự là gì: một số bài bình luận nói rằng đó là thịt lợn ngon  bán ngoài chợ (Đức Phật không bao giờ ăn thịt của một con vật được giết riêng cho Ngài);  những người khác cho rằng đó là một dạng thịt lợn băm nhỏ hầm với một loại nấm.  Một số người cho rằng đó là một loại thần dược, mà Cunda,  sợ rằng Đức Phật sẽ mất và nhập Niết bàn vào ngày hôm đó, tin rằng nó sẽ kéo dài tuổi thọ của Ngài vô thời hạn.  Trong mọi trường hợp, Đức Phật nhất quyết ăn món sukaramaddava và bảo các tỳ kheo ăn thức ăn khác trên bàn.  Khi ăn xong, Ngài bảo Cunda hãy chôn những gì còn lại, vì không ai – kể cả thần thánh – có thể tiêu hóa được món đó.  Đây có thể chỉ đơn giản là một đánh giá bất lợi về kỹ năng nấu nướng của Cunda, nhưng một số học giả hiện đại cho rằng Đức Phật nhận ra rằng sukkaramaddava có chứa chất độc: họ coi sự cô đơn trong phần cuối đời của Đức Phật và địa điểm xa xôi là dấu hiệu giữa  Đức Phật và Tăng đoàn có khoảng cách và tin rằng, giống như hai vị vua cũ, Ngài cũng sẽ chết một cách dữ dội.

 Tuy nhiên, các văn bản Pali thậm chí không xét đến khả năng kinh khủng này.  Việc Đức Phật yêu cầu Cunda chôn thức ăn là điều lạ lùng, nhưng Ngài đã bị ốm một thời gian và dự kiến ​​sẽ chết trong thời gian ngắn.  Đêm đó Ngài bắt đầu nôn ra máu và trải qua một cơn đau dữ dội hành hạ, nhưng một lần nữa Ngài chế ngự được căn bệnh và cùng A-nan lên đường đến Kusinara.  Bây giờ Ngài đang ở nước cộng hòa Malla, nơi cư dân ở đó dường như không quan tâm đến những giáo pháp của Đức Phật.  Các bản văn cho chúng ta biết rằng Ngài chỉ được một nhóm tỳ kheo bình thường tháp tùng, ngoài A-nan, không có thành viên cấp cao nào của Tăng đoàn đi theo.  Trên đường đến Kusinara, Đức Phật cảm thấy mệt mỏi và xin một ít nước.  Mặc dù dòng nước đang tù đọng và đầy bùn, nhưng khi A-nan đến gần với cái bát của Đức Phật, thì nước trở nên trong vắt.  Kinh điển nhấn mạnh các sự kiện như vậy để giảm bớt sự ảm đạm của những ngày sau cùng này.  Chúng ta nghe nói rằng trong chặng cuối cùng của cuộc hành trình, Đức Phật đã cải hóa một người Malla đi ngang qua, người này, thật thích hợp, từng là đệ tử của vị thầy cũ của Ngài, Alara Kalama.

Người này rất ấn tượng trước phẩm chất định tâm của Đức Phật nên ông đã xin quy y Tam bảo ngay tại chỗ và tặng Đức Phật và A-nan hai chiếc y làm bằng vải vàng.  Nhưng khi Đức Phật khoác lên người, A-nan thốt lên rằng nó trông khá xỉn màu so với làn da sáng bóng của Thế Tôn: Đức Phật giải thích rằng đây là dấu hiệu cho thấy mình sẽ rất sớm – khi đến Kusinara – nhập Niết bàn Tối Thượng.  Một lúc sau, Ngài nói với A-nan rằng không ai được đổ lỗi cho Cunda về cái chết của mình: đó là một công đức to lớn khi cúng dường cho Đức Phật món khất thực cuối cùng trước khi Ngài nhập Bát-niết-bàn.

 Bát-niết-bàn này là gì?  Có phải nó chỉ đơn giản là một sự dập tắt?  Và nếu vậy, tại sao cái Không này lại được coi là một thành tựu vẻ vang như vậy? Niết bàn “tối hậu” này khác với sự an lạc mà Đức Phật đã đạt được dưới cội bồ đề như thế nào?  Từ nibbana, chúng ta nhớ lại có nghĩa là “nguội đi” hoặc “tắt đi,” giống như một ngọn lửa.  Thuật ngữ chỉ sự chứng đắc Niết-bàn trong đời này trong các Kinh điển là saupadi-sesa.  Một vị A-la-hán đã dập tắt ngọn lửa tham, sân và si, nhưng ông vẫn còn “dư” (sesa) “nhiên liệu” (upadi) chừng nào ông còn sống trong thân xác, sử dụng các giác quan và tâm trí của mình, và trải nghiệm các cảm xúc.  Có khả năng xảy ra một đám cháy lớn hơn nữa.  Nhưng khi một vị A-la-hán qua đời, những uẩn này không bao giờ có thể đốt cháy trở lại, và không thể thắp lên ngọn lửa của một kiếp sống mới.  Do đó, bậc A-la-hán đã thoát khỏi luân hồi và có thể hoàn toàn thể nhập an lạc và miễn nhiễm của Niết-bàn, được gọi là Vô Dư Niết-bàn.

 Nhưng điều đó có nghĩa là gì?  Chúng ta đã thấy rằng Đức Phật luôn từ chối định nghĩa Niết Bàn, bởi vì chúng ta không có thuật ngữ nào thích hợp cho kinh nghiệm siêu việt vượt xa tầm với của các giác quan và tâm trí này.  Giống như những tín đồ theo giáo lí độc thần thích nói về Thượng đế bằng những từ ngữ tiêu cực, đôi khi Đức Phật thích giải thích điều gì không phải là Niết bàn. Đó là, Ngài nói với các môn đệ của mình, một trạng thái

 không có đất cũng như nước, không ánh sáng hay không khí;  không phải vô tận hay hạn hẹp;  không phải là vô tận của lý trí nhưng cũng không phải là một sự trống rỗng tuyệt đối … nó không phải là thế giới này hay thế giới khác;  nó vừa là mặt trời vừa là mặt trăng.

Điều đó không có nghĩa là nó thực sự “không có gì”;  chúng ta đã thấy rằng việc tuyên bố một vị A-la-hán không còn tồn tại ở Niết-bàn đã trở thành một dị giáo của đạo Phật.  Nhưng đó là một sự tồn tại vượt quá bản ngã và cực lạc vì không có tính vị kỷ.  Những ai trong chúng ta chưa giác ngộ và có tầm nhìn vẫn còn bị hạn chế bởi chủ nghĩa vị kỷ, không thể tưởng tượng được trạng thái này.  Nhưng những bậc đã đạt được cái chết của bản ngã biết rằng vô ngã không phải là một sự trống rỗng.  Khi Đức Phật cố gắng gợi ý cho các đệ tử của mình về vườn địa đàng thanh bình ngay trung tâm của tâm trí là như thế nào, Ngài đã trộn lẫn các thuật ngữ tiêu cực với tích cực.  Ngài nói, Niết bàn là “sự dập tắt của tham, sân và si”;  đó là Diệu Đế Thứ Ba;  đó là “Không ô nhiễm,” “Không suy yếu,” “Không hư hoại ,” “Bất khả xâm phạm,” “Không đau khổ,” “Không phiền não,” và “Không hận thù.”  Tất cả những danh hiệu này đều nhấn mạnh rằng Niết bàn đã loại bỏ mọi thứ mà chúng ta thấy khó chịu đựng được trong cuộc đời.  Đó không phải là một trạng thái hủy diệt: đó là “Vĩnh Cửu”.  Nhưng cũng có những điều tích cực có thể nói về Niết bàn: đó là “Chân lý”, “Điều vi tế”, “Bờ bên kia”, “Sự trường tồn”, “An lạc”, “Mục tiêu cao cả”,  “Thanh tịnh, Tự do, Độc lập, Hải đảo, Nơi an trú, Bến cảng, Bờ giác.”  Đó là điều tốt đẹp tối cao của con người cũng như của các vị thần, một cảnh giới Hòa bình không thể hiểu được, và một nơi an trú cực kì an toàn. Nhiều hình ảnh trong số này gợi nhớ đến những từ mà những người độc thần thường dùng để diễn tả Chúa Trời.

Thật vậy, Niết Bàn rất giống chính Đức Phật.  Những Phật tử sau này của trường phái Đại thừa tuyên bố rằng Ngài đã hoàn toàn thấm đẫm Niết bàn đến nỗi Ngài đồng nhất với nó.  Giống như những con chiên đạo Cơ đốc nhìn thấy Chúa khi họ chiêm ngưỡng con người Jesus, những tín đồ đạo Phật có thể coi Đức Phật là biểu hiện của con người thuộc trạng thái này.  Ngay cả trong cuộc sống của Ngài, mọi người đều cảm nhận được điều này.  Vị Bà-la-môn, người cho rằng không thể xếp loại Đức Phật, vì Ngài không phù hợp với bất kỳ phạm trù trần tục hay cõi trời nào, đã cảm nhận rằng, giống như Niết-bàn, Đức Phật là “Cái gì khác”.  Đức Phật đã nói với ông ta rằng mình là “người đã thức tỉnh”, một người đã rũ bỏ những hạn chế buồn tẻ, đau khổ của con người phàm tục và thành tựu điều gì đó Vượt Xa.  Vua Ba-tư-nặc  cũng đã xem Đức Phật là nơi nương tựa, một nơi an trú thanh tịnh.  Khi Ngài xuất gia, Ngài đã thử nghiệm bản chất con người cho đến khi khám phá ra vùng bình yên mới bên trong này.  Nhưng Ngài không phải là duy nhất. Bất kỳ ai nghiêm túc tu tập, trui rèn bản thân vào cuộc sống thánh thiện đều có thể tìm thấy sự thanh thản địa đàng này bên trong mình.  Đức Phật đã sống bốn mươi lăm năm như một con người không ích kỷ;  do đó, Ngài có thể sống với nỗi đau.  Nhưng bây giờ khi Ngài sắp qua đời, Ngài sắp trút bỏ những phiền não cuối cùng của tuổi tác;  khandha, “những bó củi nhóm lửa” đã nhen nhóm tham sân si thời trẻ, đã bị dập tắt từ lâu, giờ có thể vứt bỏ.  Ngài sắp đến được Bờ Bên Kia.  Vì vậy, Ngài bước đi một cách yếu ớt nhưng rất tự tin, về phía thị trấn nhỏ ít người biết đến, nơi Ngài sẽ đạt Bát-niết-bàn.

 Đức Phật và A-nan, hai ông già, băng qua sông Hirarinavati cùng với đoàn tỳ kheo, và rẽ vào một rừng cây sala trên con đường dẫn vào Kusinara.  Bấy giờ Đức Phật rất đau đớn.  Ngài nằm xuống và những cây sala ngay lập tức nở hoa và rơi những cánh hoa xuống người Ngài, mặc dù lúc đó không phải là mùa hoa nở.  Đức Phật nói rằng nơi đây đầy các chư thiên đã đến để chứng kiến ​​chiến thắng cuối cùng của Ngài.  Nhưng điều khiến Đức Phật được tôn vinh hơn nhiều là lòng trung thành của các đệ tử đối với Giáo pháp mà Ngài đã mang lại cho họ.

 Khi Ngài hấp hối, Đức Phật đưa ra lời chỉ dẫn về tang lễ của mình.  Tro cốt của Ngài được xử lý như tro cốt của bậc cakkavatti;  thi thể của Ngài nên được quấn trong một tấm vải và hỏa táng bằng gỗ thơm, và hài cốt được chôn ở ngã tư của một thành phố lớn.  Từ đầu đến cuối, Đức Phật luôn được liên kết với cakkavatti, và sau khi giác ngộ, Ngài đã cống hiến cho thế giới một giải pháp thay thế cho một quyền lực dựa trên sự hung hãn và đàn áp.

Việc sắp xếp tang lễ của Ngài  đã thu hút sự chú ý đến điểm đối lập mỉa mai này.  Các vị vua vĩ đại của khu vực, những người đã tỏ ra rất hùng mạnh khi chàng trai trẻ Cồ-đàm đến Ma-kiệt-đà  và Kosala, cả hai vị đều đã chết tốt.  Cái chết bạo lực và thê thảm của họ cho thấy các chế độ quân chủ được nuôi dưỡng bởi lòng ích kỷ, tham lam, tham vọng, đố kỵ, hận thù và hủy diệt. Chúng đã mang lại sự thịnh vượng và tiến bộ văn hóa; chúng mang lại lợi ích cho nhiều người.  Nhưng có một cách sống khác không cần phải áp đặt bạo lực, không nhằm cho việc tự phóng đại bản ngã, cũng khiến dân chúng hạnh phúc hơn và nhân đạo hơn.

 Việc tổ chức tang lễ là quá sức đối với A-nan.  Tình cảnh của ông trong những ngày cuối cùng này nhắc nhở chúng ta về vực thẳm ngăn cách người chưa giác ngộ với bậc A-la-hán.  A-nan biết tất cả về Phật giáo về mặt tri thức, nhưng kiến ​​thức này không thể thay thế cho “kiến thức trực tiếp” của hành giả.  Nó không thể giúp ích gì cho ông ta khi ông bắt đầu trải qua nỗi đau mất đi chủ nhân vĩ đại của mình.  Việc này còn tồi tệ hơn cái chết của Xá-lợi-phất.  Ông thấu hiểu Khổ Thánh Đế bằng lý trí trần tục, nhưng chưa thể lãnh hội được nó để nó hợp nhất với toàn thể con người mình. Ông không chấp nhận được sự thật rằng mọi thứ đều đến nhanh rồi sẽ qua đi.  Vì không phải là một bậc thiền định thiện xảo, ông không thể “thâm nhập” những giáo lý này và biến chúng thành hiện thực sống động.  Thay vì nhận thức lẽ vô thường, ông chỉ cảm thấy nỗi đau đớn nhức nhối. Sau khi lắng nghe những chỉ dẫn thản nhiên của Đức Phật về tro cốt của mình, A-nan rời khỏi giường của thầy mình và chạy đến một túp lều trong khu rừng.  Một lúc lâu, ông đứng khóc, gục đầu vào bậc cửa.  Ông cảm thấy mình hoàn toàn thất bại: “Tôi vẫn chỉ là người mới khởi đầu tu,” vị tỳ kheo già khóc.  “Tôi chưa đạt được mục tiêu của đời sống thánh thiện;  nhiệm vụ của tôi chưa được hoàn thành.”  Ông ta sống trong một cộng đồng gồm những người khổng lồ về tâm linh đã đạt đến Niết bàn.  Ai sẽ giúp ông ta bây giờ?  Ai thậm chí sẽ bận tâm với ông ta?  “Sư phụ của ta sắp đạt Bát-niết-bàn  – Sư phụ từ bi của ta, người luôn tử tế với ta.”

 Khi Đức Phật nghe tin A-nan đang khóc, Ngài cho vời ông đến.  “Đủ rồi, A-nan,” Ngài nói.  “Đừng khổ não;  chớ đau buồn.”  Chẳng phải Sư phụ đã giải thích đi giải thích lại rằng không có gì là vĩnh hằng mà sự chia ly là quy luật của cuộc sống?  “Và A-nan,” Đức Phật kết luận, “trong nhiều năm con đã phục dịch ta với tình yêu thương và lòng nhân từ không ngừng nghỉ. Con đã chăm sóc nhu cầu thể chất cho ta, và đã hỗ trợ ta trong mọi lời nói và suy nghĩ của mình.  Con đã làm tất cả những điều này để giúp đỡ ta, vui vẻ và bằng cả trái tim.  Con đã đạt được công đức, A-nan.  Hãy tiếp tục cố gắng, và con cũng sẽ sớm giác ngộ.”

 Nhưng A-nan vẫn cố gắng.  “Thưa Thế Tôn,” ông ta kêu lên, “đừng đi đến nơi an nghỉ cuối cùng trong thị trấn nhỏ bé buồn thảm này với những bức tường bùn đất này; với bọn ngoại đạo này, rừng rậm heo hút, vùng đất lạc hậu này.”  Đức Phật đã dành phần lớn cuộc đời làm việc của mình ở những thành phố lớn như Vương Xá, Kosambi, Xá Vệ và Varanasi (Ba-la-nại) Tại sao Ngài không thể quay trở lại một trong những thành phố này, và hoàn thành nhiệm vụ của mình giữa tất cả các môn đệ cao quý vây quanh, thay vì ra đi một mình ở đây, giữa những kẻ vô tín ngưỡng ngu dốt này?  Các bản văn cho thấy rằng Tăng đoàn thời kỳ đầu đã bối rối trước địa danh Kusinara mờ mịt và sự kiện Sư phụ của họ đã chết ở một nơi heo hút trong rừng.  Đức Phật đã cố gắng làm A-nan vui vẻ, chỉ ra rằng Kusinara đã từng là một thành phố thịnh vượng và là thủ đô vĩ đại của một cakkavatti.  Nhưng sự lựa chọn Kusinara của Đức Phật hầu như chắc chắn có một lý do sâu xa hơn.  Không một Phật tử nào có thể nghỉ ngơi trên những thành tựu trong quá khứ;  Tăng đoàn phải luôn tiến về phía trước để mang lại sự giúp đỡ cho thế giới rộng lớn hơn.  Và một vị Phật sẽ không nhìn một thị trấn nhỏ ảm đạm như Kusinara với con mắt của một người chưa giác ngộ.  Trong nhiều năm, Ngài đã huấn luyện tâm trí có ý thức và vô thức của mình để nhìn thực tế từ một góc độ hoàn toàn khác, thoát khỏi hào quang méo mó của chủ nghĩa vị kỷ che mờ khả năng phán đoán của hầu hết con người.  Ngài không cần uy tín bên ngoài mà nhiều người trong chúng ta dựa vào để chống đỡ ý thức về bản thân.  Là một Như Lai, tính vị kỷ của Ngài đã “biến mất”.  Một vị Phật không có thời gian để nghĩ về chính mình, ngay cả đến lúc lâm chung.  Cho đến phút cuối cùng, Ngài tiếp tục sống vì người khác, mời những người Malla ở Kusinara đến khu rừng để chia sẻ chiến thắng của mình.  Ngài cũng dành thời gian để hướng dẫn một vị khất sĩ đi ngang qua, người thuộc một giáo phái khác nhưng bị thu hút bởi lời dạy của Đức Phật, mặc dù A-nan phản đối vì Đức Phật ốm nặng và kiệt sức.

 Cuối cùng, Ngài quay sang A-nan, với sự đồng cảm quen thuộc của mình, Ngài có thể đọc được suy nghĩ của ông.  “Này A-nan, có thể ông đang nghĩ: ‘Lời nói của Bậc Đạo Sư nay đã là dĩ vãng;  bây giờ chúng ta không còn Thầy nữa.’ Nhưng đó không phải cách con nên nhìn nhận nó.  Hãy để Giáo pháp và Giới luật mà ta đã dạy cho con là Thầy của con khi ta ra đi.” Ngài đã luôn nói với các đệ tử của mình rằng đừng nhìn vào Ngài mà hãy nhìn vào Giáo pháp;  bản thân Ngài chưa bao giờ quan trọng.  Rồi Ngài quay sang đám đông các tỳ kheo đã đi cùng ngài trong cuộc hành trình cuối cùng, và nhắc nhở họ một lần nữa rằng “Mọi sự vật đều vô thường.  Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát.”

 Sau khi đưa ra lời khuyên cuối cùng cho các môn đệ, Đức Phật rơi vào trạng thái hôn mê.  Một số nhà sư cảm thấy có thể theo dõi hành trình của Ngài thông qua các trạng thái ý thức cao hơn mà Ngài đã đi qua rất nhiều lần trong khi thiền định.  Nhưng Ngài đã vượt xa bất kỳ trạng thái nào được biết đến bởi con người mà tâm trí vẫn còn bị chi phối bởi kinh nghiệm giác quan.  Trong khi các vị thần vui mừng, trái đất rung chuyển và những vị tỳ kheo chưa đạt được giác ngộ than khóc, thì Đức Phật đã trải qua một sự tận diệt, mà nghịch lý thay, lại là một trạng thái tồn tại tối cao và là mục tiêu cuối cùng của nhân loại:

 Như ngọn lửa bị gió thổi tắt Đi vào trạng thái yên nghỉ và không thể xác định được,

 Cũng như vậy, người giác ngộ giải thoát khỏi vị kỷ

Đi vào yên nghỉ và không thể xác định được.

Vượt qua mọi hình tướng—

 Vượt qua sức mạnh của mọi ngôn từ.

 

Dịch xong, ngày 23 tháng 6 năm 2023


Đức Phật- Bài 1

Đức Phật- Bài 2

Đức Phật- Bài 3

Đức Phật- Bài 4

Đức Phật- Bài 5

Đức Phật- Bài 6

Bình luận về bài viết này