BẬT DẬY VÀ GIẾT LIỀN : Hồ Sơ Mật các Vụ Ám sát Có Mục Tiêu của Israel- Bài 18

Ronen Bergman

Trần Quang Nghĩa dịch

CHƯƠNG 18 :  RỒI MỘT TIA LỬA ĐẾN

  TẠI TRẠI KHÔNG XA TRỤ SỞ  PLO ở Hammam Chott, một thị trấn nghỉ mát của Tunisia, hai mươi tám du kích giỏi nhất của Abu Jihad đã được huấn luyện trong gần một năm cho một cuộc tấn công ngoạn mục.  Kế hoạch là đi thuyền mẹ từ Algiers đến vùng biển ngoài khơi Tel Aviv, sau đó đi xuồng cao su đến bãi biển ở Bat Yam, ngoại ô phía nam Tel Aviv.  Họ sẽ lên bờ ngay từ đầu, cướp một hoặc hai chiếc xe buýt, và buộc tài xế đưa họ đến trụ sở Bộ Tổng tham mưu IDF, trong khuôn viên chính phủ Kirya của Tel Aviv.  Họ sẽ xả súng vào lính gác ở cổng và xông vào khu nhà, xông thẳng vào văn phòng của tổng tham mưu trưởng và bộ trưởng quốc phòng, giết nhiều người trên đường đi.  Sau đó, họ sẽ chiếm một tòa nhà hoặc chặn lối ra vào một con đường của khu phức hợp nào đó và bắt giữ càng nhiều con tin càng tốt, đe dọa giết họ nếu yêu cầu của họ – giải phóng những kẻ khủng bố PLO khỏi nhà tù của Israel – không được đáp ứng. 

 Cuộc tấn công sẽ xảy ra vào ngày 20 tháng 4 năm 1985, hai ngày sau Lễ Tưởng Nhớ Holocaust và bốn ngày trước Lễ Tưởng Niệm, một trong những ngày quan trọng nhất trong lịch của Israel, khi tất cả công dân Israel đều đứng tập trung trong hai phút lúc còi báo động vang lên  trên khắp đất nước để tôn vinh những người lính đã ngã xuống và nạn nhân của khủng bố.  Abu Jihad muốn mang đến cho người Israel một điều gì đó mới để thương tiếc: “Chúng tôi muốn biến ánh sáng ban ngày thành đêm đen ở Tel Aviv,” Abu Jihad nói với các chiến binh của mình trong cuộc huấn thị cuối cùng trước khi họ lên đường.

 “Với sự giúp đỡ của Allah, ngày Sabát này sẽ là một ngày đen tối trong lịch sử của Tel Aviv, và Chủ nhật cũng vậy.  Vào ngày này, toàn bộ thành phố Tel Aviv sẽ đóng cửa, chứng kiến ​​những dòng sông đẫm máu, đổ nát và tàn phá ”.

 Abu Jihad đã trải ra một bản đồ bờ biển của Israel ở phía nam Tel Aviv, được đánh dấu bằng ba mũi tên chỉ ra địa điểm đổ bộ của ba chiếc xuồng: “Chúng tôi sẽ tấn công trụ sở của chúng, với sự giúp đỡ của Allah, và sau đó chúng tôi sẽ đóng cửa các đường phố.  Ví dụ, trên một con phố, chúng tôi sẽ cầm tù năm trăm người — năm trăm người cùng một lúc — và sau đó chúng tôi có thể sử dụng họ làm con bài thương lượng ”.

 Chỉ huy quân sự tối cao của người Palestine đã vạch ra một mục tiêu rõ ràng cho các chiến binh của mình: “Với sự giúp đỡ của Allah, ông ấy cũng sẽ gửi Sharon đến đó.  Chúng ta sẽ biết mặt mũi y sẽ trông như thế nào ”.

 Một trong những chiến sĩ cười khúc khích, “Y có cái bụng phệ.”

“Y có một cái bụng phệ,” Abu Jihad nói.  “Ai bắn giỏi sẽ có thể  sát thương y.  Cầu mong một quả bom rơi xuống đầu y, với sự giúp đỡ của Allah.  Ngài [Allah] có thể làm được, các bạn.  Không có gì mà Allah không thể làm được ”.

Abu Jihad hẳn đã biết rằng đây là một ước muốn vô ích.  Sharon đã bị cách chức Bộ trưởng Quốc phòng hai năm trước đó, và khả năng vào ngày đó ông ta có mặt tại Bộ mà mình đã bị đuổi ra khỏi một cách xấu hổ là rất ít.  Nhưng Sharon là hiện thân của cái ác trong mắt người Palestine, và Abu Jihad hẳn nghĩ rằng đây là cách tốt nhất để khuyến khích các chiến binh của mình.

 __

 HƠN HAI NĂM ĐÃ TRÔI QUA kể từ khi lệnh giết Abu Jihad. của Mossad đầu tiên được ban hành. Y định cư ở Tunis, thủ đô của Tunisia, sau khi PLO di tản khỏi Beirut vào mùa hè năm 1982. Y sống trong một biệt thự thuê không xa bãi biển, cách di tích thành phố cổ Carthage khoảng 25 dặm.  Tình báo Israel đã theo dõi y khi y đến Syria và Jordan và các nước khác ở Trung Đông, ra lệnh, tổ chức, cổ vũ quân đội của y và lên kế hoạch hoạt động chống lại Israel.

 Là chỉ huy quân sự của PLO, chỉ đứng sau Yasser Arafat, Abu Jihad chịu trách nhiệm về nhiều hành động khủng bố chống lại người Israel, nhiều hơn bất kỳ tác nhân Palestine nào khác.  Y vẫn thấm nhuần tinh thần cách mạng – chủ nghĩa dân tộc, giờ đây được củng cố bởi mong muốn chứng minh với Israel rằng PLO đã thất bại nhưng không hề mất và vẫn có thể tiếp tục tấn công  và gây thiệt hại nặng nề.  Để đạt được mục đích đó, y đã quyết định một lần nữa bắt đầu lên kế hoạch tấn công ở các nước phương Tây, đặc biệt là ở châu Âu, nơi ông và Arafat đã không hoạt động kể từ nửa đầu những năm 1970.  Y nhấn mạnh vào các hoạt động hàng hải — những hoạt động được thực hiện trên tàu, bằng tàu hoặc ở vùng lân cận các cảng.

 Để đạt được điều này, y đã triển khai Lực lượng 17, đơn vị đặc biệt được đào tạo bài bản gồm các vệ sĩ của Arafat, cùng với đội đặc nhiệm của riêng y, Khu Tây, và lực lượng hải quân của Fatah.

 Một kế hoạch của Israel nhằm tiêu diệt Abu Jihad ở Amman đã được phát triển vào năm 1983, nhưng  đã bị đình trệ một vài lần, thường là vì lý do kỹ thuật.  Tuy nhiên, Mossad đã lên kế hoạch cho các hoạt động nhắm vào cấp dưới của Abu Jihad.  Sau khi Fatah khởi động lại các hoạt động của mình ở châu Âu, Mossad cũng tiếp tục mở lại các chiến dịch tích cực chống PLO trên tiểu lục địa.

 Kể từ sau thảm họa Lillehammer, Caesarea bận rộn xây dựng lại Lưỡi Lê, đơn vị giết người có mục tiêu của nó.  Mike Harari, người đã thực hiện một số thay đổi đối với đơn vị trước khi nghỉ hưu vào năm 1980, cho biết: “Tôi thường gọi nó là ‘mài gươm'”. Trong Lưỡi Lê mới, những cựu bình từ thời Holocaust hoặc sát thủ từ thời hoạt động ngầm chống người Anh không còn đóng vai trò cầm đầu  nữa. Các ngôi sao giờ đây là những người xuất thân các đơn vị chiến đấu của IDF, với kinh nghiệm chiến đấu dày dạn, và trời phú tính gan dạ và nhiệt huyết có thừa, lúc nào cũng hăm hở bóp cò súng.

 Đứng đầu Lưỡi Lê mới là “Carlos,” một đặc nhiệm Caesarea đã đến Mossad thông qua nhiệm vụ chiến đấu trong Lữ đoàn lính dù của Ariel Sharon.  Các đồng đội của anh ta nói rằng Carlos đã thực hiện những vụ giết người một cách lạnh lùng và bài bản, đến nỗi trái tim anh ta không hề sai một nhịp.

 Vào tháng 8 năm 1983, Abu Jihad cử phó chỉ huy đơn vị hải quân của mình, Mamoun Meraish, đến Hy Lạp để mua một con tàu và vũ khí được sử dụng trong một cuộc tấn công khủng bố vào Haifa.  Khi hắn  đang trên đường hoàn tất giao dịch ở Athens, một chiếc mô tô đã lao tới cạnh xe của Meraish tại một cột đèn giao thông.  Carlos, ngồi sau chiếc mô tô, đã rút một khẩu súng lục giảm thanh và nã đạn vào Meraish cho đến khi anh ta chắc chắn rằng hắn ta đã chết.  Tất cả việc này xảy ra trước mắt ba đứa con của hắn, bốn, chín và mười ba tuổi, bắt đầu thét lên vì kinh hãi.

 Vào ngày 16 tháng 8 năm 1984, Zaki Hillo, một thành viên của PFLP (Mật trận Bình dân Giải phóng Palestine) của George Habash, đến Madrid trên một chuyến bay từ Beirut.  Mossad tin rằng anh ta cũng đang thực hiện một nhiệm vụ cho Abu Jihad, kẻ đã chiêu mộ anh ta cho một trong những hoạt động theo kế hoạch của hắn ở châu Âu.  Một ngày sau, khi Hillo đang đi bộ trên đường phố ở trung tâm Madrid, một chiếc mô tô chạy ngang qua anh ta và người đàn ông ngồi sau đã bắn anh ta nhiều phát.  Hillo sống sót sau cú tấn công nhưng không còn sử dụng đôi chân của mình được nữa.

 Munzer Abu Ghazala, chỉ huy lực lượng hải quân của Fatah, từng là đối tượng trong một số âm mưu giết người có mục tiêu bất thành của Lưỡi Lê. Đến ngày 21 tháng 10 năm 1986, khi y đỗ xe ở ngoại ô Athens, cho phép “Eli” đủ thời gian thực hiện công việc của mình.  Eli, một sát thủ có năng khiếu với các thiết bị nổ, trượt cơ thể vạm vỡ của mình xuống bên dưới gầm xe và gắn một chiếc “Eli-Ears (Tai Eli)”, một quả bom gây chết người do chính anh ta thiết kế.  Abu Ghazala bước vào xe, và Eli, lúc này đã đứng cách một khoảng an toàn, nhấn nút, chiếc xe và tài xế của nó nổ tung.

Sau các vụ tấn công này, cũng như các hoạt động khác của PLO ở châu Âu bị cản trở do Mossad mật báo cho cảnh sát địa phương, Abu Jihad đi đến kết luận rằng Israel có gài các điệp viên trong mạng lưới châu Âu của hắn.  Sau đó, hắn quyết định hướng về hoạt động hải quân được điều hành hoàn toàn từ bên trong trụ sở của mình ở Tunis và một căn cứ huấn luyện ở Algeria, trong tình trạng bí mật nghiêm ngặt.  Chiến dịch này trở thành kế hoạch đánh chiếm tòa nhà Bộ Tổng tham mưu và bắt càng nhiều con tin càng tốt.

 Vào mùa xuân năm 1985, lực lượng Abu Jihad đã lên một con tàu chở hàng thuê mang cờ Panama, chạy bằng dầu diesel 498 tấn có tên là Attaviros.  Abu Jihad đã lên kế hoạch cho một cuộc hành trình kéo dài chở các biệt kích của mình, từ cảng Oran, ở Algeria, đi về phía tây vào Đại Tây Dương, chạy quanh Mũi Hảo Vọng, lên bờ biển phía đông của châu Phi, qua eo biển Bab al-Mandeb và tới Biển Đỏ.  Từ đó, họ hy vọng có thể lẻn qua Kênh đào Suez không ai chú ý trong một đoàn tàu buôn cho đến khi họ ở trong vùng biển của Israel.

 Nhưng Abu Jihad không hề hay biết, Đơn vị 504 của AMAN có một mạng lưới điệp viên nằm trong bộ phận Khu Tây, thuộc cánh quân sự của Abu Jihad.  Trong gần một năm, Israel đã nghe tin một cuộc tấn công nào đó đã được lên kế hoạch vào khoảng Ngày Lễ Tưởng niệm;  ngày 24 tháng 4, một lực lượng đặc nhiệm gồm bốn tàu tên lửa và đội biệt kích Đội tàu 13 đã đi 1.800 dặm và làm nổ chiếc tàu thứ hai được thuê cho hoạt động, Moonlight, khi nó đang trống rỗng và đỗ tại cảng Algeria.  Và khi tàu Attaviros đến Địa Trung Hải vào ngày 20 tháng 4, hai tàu tuần dương tên lửa của Israel và các đơn vị biệt kích hải quân thuộc Đội tàu 13 đã chờ sẵn, cách Port Said 30 dặm.

 Các đặc nhiệm PLO trên tàu đã từ chối lời kêu gọi đầu hàng của Israel và nổ súng vào một trong các tàu của Israel.  Đáp lại, lực lượng Israel đã đánh chìm tàu ​​của người Palestine, khiến 20 người trên tàu thiệt mạng.

 Tám người khác bị bắt và đưa đến cơ sở thẩm vấn dưới lòng đất của Đơn vị 504, được gọi là “Trại 1391”, phía bắc Tel Aviv.  Địa điểm này không được đánh dấu trên bản đồ và luật pháp Israel cấm công bố vị trí của nó.

 Các tù nhân bị lột trần và trùm đầu, sau đó bị cột vào tường.  Tiếng nhạc ồn ào vang lên trong phòng giam của họ, khiến họ không thể ngủ được, và thỉnh thoảng bị đánh đập.

 Sau bốn ngày, các tù nhân thú nhận chi tiết kế hoạch của Abu Jihad.  Chúng mô tả cách chúng dự định chiếm trụ sở Bộ Tổng tham mưu và bắt bộ trưởng quốc phòng và tổng tham mưu trưởng làm con tin.  Nếu không có thông tin tình báo chính xác của AMAN, thì đó sẽ là “một thảm họa ở quy mô mà chúng tôi chưa biết đến”, Oded Raz, một sĩ quan AMAN cấp cao cho biết.

 Chỉ dựa vào thông tin tình báo để ngăn chặn các cuộc tấn công đã và đang diễn ra không còn là một lựa chọn có thể chấp nhận được nữa.

__

 NGAY LẬP TỨC SAU thông tin mà các nhân viên thẩm vấn của Đơn vị 504 trích xuất, Bộ trưởng Quốc phòng Yitzhak Rabin đã ra lệnh cho IDF lập kế hoạch hai chiến dịch đột kích căn cứ của Abu Jihad ở Tunis.  Rabin, một trong những mục tiêu chính của cuộc đột kích thất bại của Abu Jihad, muốn có hai phương án để lựa chọn, cả hai đều sẽ lớn và ồn ào.  Một là cuộc tấn công trên bộ quy mô lớn có sự tham gia của các lực lượng từ Đội tàu 13, Sayeret Matkal và Shaldag (đơn vị biệt kích tinh nhuệ của không quân).  Tổng cộng, sẽ có khoảng một trăm chiến binh dưới sự chỉ huy của Chuẩn tướng Yitzhak Mordechai, người mà cuộc sống gần như bị hủy hoại bởi âm mưu gài bẫy hãm hại của Shin Bet.  Tất cả sẽ đổ bộ vào bờ biển Tunisia bằng những chiếc xuồng được phóng từ các tàu hải quân, tấn công khu liên hợp PLO, và giết Abu Jihad và đồng bọn của hắn.

 Khả năng còn lại là một trận ném bom do máy bay Israel thực hiện.  Cả Mordechai và lực lượng không quân đã bắt đầu huấn luyện, trong khi chờ nội các phê duyệt.

 Có những vấn đề chiến thuật và chiến lược với cả hai lựa chọn.  Tunisia cách Israel một chặng đường dài — 1.280 dặm, xa hơn hầu hết các hoạt động của IDF trước đây.  Đối với một cuộc tấn công trên bộ phức tạp, có tính phối hợp ở xa Israel, điều đó có nghĩa là sẽ có rất ít khả năng trích xuất lực lượng nếu tình hình diễn biến xấu.  Lặn lội qua một thành phố lớn cũng có nghĩa là nguy cơ thương vong cho các chiến binh của Israel sẽ rất cao.

 Mặt khác, gửi máy bay ném bom cũng rất rủi ro.  Israel gặp phải tình trạng khan hiếm thông tin tình báo về lực lượng phòng không ở cả Tunisia và nước láng giềng Libya.

Vì trụ sở PLO đã chuyển đến Bắc Phi hai năm trước đó, Israel đã yêu cầu Hoa Kỳ cung cấp thông tin cần thiết về các cơ sở ra đa cũng như việc triển khai quân sự và hải quân của hai nước, nhưng bị từ chối.  Người Mỹ lo lắng chính đáng về hậu quả của một cuộc tấn công của Israel bên ngoài khu vực lân cận của nó.

 Vì không thể có được thông tin tình báo một cách hợp pháp, Israel chỉ đơn giản là đánh cắp nó.  Jonathan Pollard, một người Mỹ gốc Do Thái với giấc mơ ảo tưởng trở thành một điệp viên và có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử, đã cố gắng gia nhập CIA nhưng bị từ chối vì “cảm xúc bất ổn đáng kể”.  Tuy nhiên, cơ quan này không chia sẻ đánh giá của mình với các chi nhánh khác của tình báo Hoa Kỳ và Pollard được Hải quân Hoa Kỳ thuê, nơi ông được coi là một nhà phân tích xuất sắc và một nhân viên ngoại hạng.

Pollard sau này tuyên bố rằng anh ta đã chứng kiến ​​“thái độ chống Israel của các đồng nghiệp” và “sự hỗ trợ của tình báo Mỹ đối với Israel là không đầy đủ”, vì vậy anh ta đã cố gắng nhờ cả Ủy ban Công vụ về Israel của Mỹ và Mossad tuyển dụng anh ta làm gián điệp.  Anh ta đã bị cả hai tổ chức từ chối kiên quyết nhưng sau đó được Lakam, cánh tay gián điệp của Bộ Quốc phòng, tuyển dụng.  Lakam là từ viết tắt trong tiếng Do Thái có nghĩa “Cục Quan hệ Khoa học”, cơ quan bí mật này, chỉ được biết đến với một số ít người, do Rafi Eitan đứng đầu, vốn vẫn còn cay đắng vì chưa được cử làm người đứng đầu Mossad.  “Thông tin mà Pollard đưa ra quá tốt khiến tôi không thể cưỡng lại được sự cám dỗ,” Eitan nói.  Ông nói rằng cấp trên của ông, thủ tướng và bộ trưởng quốc phòng, biết về tình hình nhưng nhắm mắt làm ngơ khi đối mặt với đại dương thông tin mà Pollard cung cấp cho họ.

 Ngay từ khi được tuyển dụng, Pollard bắt đầu lén lút lấy một lượng lớn tài liệu ra khỏi nơi làm việc và đem đi photo tại một ngôi nhà an toàn ở Washington, sau đó trả lại.  Những tài liệu này, có mật danh là “Green Material (Tư liệu Xanh)”, sau đó được gửi đến Israel và được cất giữ trong các két sắt lớn tại Phòng nghiên cứu của AMAN và tại lực lượng tình báo không quân.

 Vào tháng 6 năm 1985, Yossi Yagur, người điều hành Pollard tại Lakam, đã yêu cầu điệp viên này cung cấp tất cả thông tin có sẵn về trụ sở PLO bên ngoài Tunis, cũng như về phòng không Libya và Tunisia.  Pollard đã đến cơ quan lưu trữ của Tình báo Hải quân và mượn tất cả các thông tin cần thiết, rồi chuyển đến Israel trong vòng vài ngày. Yagur đã chuyển đến Pollard lời tri ân từ “các cấp cao nhất của Chính phủ Israel” vì sự hỗ trợ tình báo xuất sắc của anh ấy cho cuộc đột kích sắp tới.

 Mặc dù bây giờ họ đã có thông tin tình báo cần thiết, Shimon Peres và Yitzhak Shamir, những người được luân phiên làm thủ tướng, vẫn do dự trong việc bật đèn xanh cho chiến dịch, cũng như Bộ trưởng Quốc phòng Rabin.  Mordechai đã cố gắng thuyết phục Rabin ủng hộ đề xuất trên biển vì “có sự khác biệt giữa một cuộc không kích và hiệu ứng mà bạn có được khi bạn tấn công một ai đó với một khẩu súng dí vào đầu anh ta”.  Nhưng Rabin sợ rằng có điều gì đó không mong muốn sẽ xảy ra, “còn tôi không thể hứa với ông ấy rằng điều đó sẽ không xảy ra, ”Mordechai nói.

Ngược lại, một cuộc không kích sẽ gây ra ít nguy hiểm cho các phi công, đặc biệt là với thông tin chất lượng cao mà Pollard đã cung cấp, nhưng Israel chia sẻ mối quan tâm chiến lược của người Mỹ.  Tunisia không có biên giới với Israel và hiện nay không có xung đột.  Xâm lược một quốc gia có vẻ trung lập, bằng đường hàng không hoặc đường bộ, có thể gây ra những hậu quả quốc tế nghiêm trọng.

Còn một yếu tố bên ngoài khác gây ra sự chậm trễ.  Các vụ giết người có mục tiêu, đặc biệt là những vụ liên quan đến các mục tiêu cao cấp như Abu Jihad, không chỉ đơn thuần là hoạt động quân sự hoặc tình báo.  Chúng cũng là công cụ chính trị, và do đó chúng thường bị thúc đẩy bởi các mối quan tâm chính trị, một phương pháp hữu ích để trấn an hoặc tập hợp dư luận.  Ví dụ, vào năm 1981, các cuộc thăm dò đã dự đoán đa số đẹp cho Đảng Lao động cánh tả trong một cuộc bầu cử sắp tới cho đến khi Thủ tướng Begin, từ cánh hữu Likud, ra lệnh ném bom lò phản ứng hạt nhân gần Baghdad, nơi Saddam Hussein đang cố gắng phát triển vũ khí hạt nhân. Điều này đủ để tạo ra sự cân bằng có lợi cho Likud.

 Tuy nhiên, hiện tại, tình hình chính trị trong nước ổn định.  Không có chiến dịch bầu cử nào đòi hỏi phải khuấy động công chúng bằng chủ nghĩa quân phiệt hào nhoáng, cũng như không có bất kỳ yêu cầu nào từ công chúng về sự báo thù ngay lập tức.  Do đó, việc trì hoãn kéo dài vô thời hạn dường như là lựa chọn hiển nhiên, vì rủi ro chiến thuật và ngoại giao của chiến dịch là quá cao, và cơ hội thành tựu không quá chắc chắn.

 Nhưng tất cả điều đó sẽ thay đổi chỉ vài tháng sau đó.

__

TRONG SUỐT GIAI ĐOẠN NÀY, cả PLO và Israel đều đặc biệt tích cực hoạt động ở Síp, và ở vùng biển giữa hòn đảo đó và Lebanon.  Abu Jihad sử dụng Síp làm tuyến đường chính để chuyển các chiến binh của mình trở lại Lebanon và làm căn cứ hậu cần cho toàn bộ khu vực Địa Trung Hải.  Hòn đảo nhỏ trở thành một ổ của hoạt động khủng bố, buôn lậu, gián điệp, và sau đó, tất nhiên là các vụ giết người có mục tiêu.

 Mossad đã lợi dụng cuộc binh biến, do một số phần tử Fatah tuyên bố, những người nhận được sự ủng hộ từ Syria để chống lại Arafat và quyền lãnh đạo của ông ta. Mossad  bắt đầu thực hiện một chiến dịch tấn công nhức nhối khôn ngoan, trong đó một đặc nhiệm sẽ đóng giả là người Palestine muốn  trả thù Arafat và cung cấp dịch vụ của mình cho tình báo Syria.  Đặc vụ Mossad này  đã cung cấp cho trạm tình báo Syria ở Larnaca, Cyprus, thông tin về việc các chiến binh Palestine trở về Lebanon.  “Người Syria, lúc đó đang kiểm soát vùng biển và sân bay của đất nước, đợi người Palestine đến, đón họ, và sau đó họ không bao giờ được nhìn thấy lần nữa,” Yoni Koren, một sĩ quan AMAN vào thời điểm đó cho biết.  “Đó là một chiến dịch thành công đáng kể.  Người Syria hài lòng đến mức họ bắt đầu trả tiền cho chúng tôi tính theo số đầu người.  Chúng tôi xoay sở đã loại được khoảng 150 người của PLO ”.

 Một số tàu đi từ Cyprus đến Lebanon đã bị chính người Israel chặn lại.  Vào ngày 9 tháng 9 năm 1985, thông tin tình báo cho biết một nhóm người Palestine cấp cao sẽ khởi hành từ Limassol đến Lebanon vào ngày hôm sau, trên một con tàu có tên là Cơ hội.  Con tàu này chở theo một người mà Israel muốn loại bỏ từ lâu: chỉ huy phó Lực lượng 17, Faisal Abu Sharah.  Hắn đã tham gia vào một số vụ tấn công khủng bố, trong đó nghiêm trọng nhất, nếu nó thành hiện thực, sẽ xảy ra vào tháng 11 năm 1979. Lực lượng 17 đã có kế hoạch sử dụng một côngtenơ vận chuyển khởi hành từ cảng Piraeus, Hy Lạp, đến Haifa,  mang theo vài tấn nho khô, để cung cấp một lượng lớn chất nổ sẽ phát nổ khi côngtenơ được dỡ xuống.  Abu Sharah đã cử một trong những phụ tá hàng đầu của mình, Samir al-Asmar, phụ trách chiến dịch.  Nhưng đội Junction của Mossad  đã nắm được thông tin và xác định vị trí của côngtenơ và nhóm Palestine.  Một đội Lưỡi Lê đã đến Piraeus và giết al-Asmar.  Một tháng sau, vào ngày 15 tháng 12, Lưỡi Lê đã trừ khử một thành viên khác của nhóm,  Ibrahim Abdul Aziz, sau khi y đến Síp, và một thành viên của phái đoàn ngoại giao PLO ở đó,  đang chiêu đãi y, Samir Toukan.  Abu Sharah lẽ ra đã ở cùng họ, nhưng hắn còn cao số nhờ lịch trình cuộc họp hôm đó thay đổi phút chót, và hắn tiếp tục hoạt động thêm 5 năm nữa, cho đến khi người Israel tìm thấy hắn trong con tàu Cơ hội.

 Biệt kích Đội tàu13 đã lên con tàu ngoài khơi bờ biển Lebanon và bắt giữ Abu Sharah cùng ba nhân vật cấp cao khác của Lực lượng 17.  Sau đó, họ đưa các tù nhân đến Cơ sở 1391 của  Đơn vị 504. “Họ bắt tôi đứng gác tay lên đầu, giật tóc tôi, đập đầu tôi vào tường,” Abu Sharah kể lại sau đó.  “Họ bắt tôi bò lên sàn, cởi truồng gần như hoàn toàn và liếm sàn.  Tôi vẫn khỏa thân và họ dội nước lạnh lên người, đánh vào tinh hoàn và dùng dây cao su quất vào người tôi ”.  Theo các tài liệu y tế được nộp cho tòa án, những cú đánh và đá mà hắn ta phải chịu đựng quá mạnh đến mức bìu dái của hắn đã vỡ ra.

 Arafat muốn trả thù cho việc bắt giữ Abu Sharah và người của hắn, vì vậy ông ta đáp trả một cách tương xứng. Hai tuần sau, vào ngày 25 tháng 9 năm 1985, một đội thuộc Lực lượng 17 đã đột kích vào một du thuyền của Israel đang đậu trong bến ở Larnaca (Síp), bắt ba thường dân và yêu cầu trao đổi với các đồng chí Palestine bị giam giữ của chúng.  Nhưng sau đó, thay vì chờ đợi trả lời yêu cầu, không biết lý do rõ ràng, chúng đã sát hại ba con tin và đầu hàng chính quyền Síp.

 “Những kẻ khốn nạn đã giết chết ba người Israel trong máu lạnh, bắn vào gáy họ,” một cựu bộ trưởng nội các nói.  “Tất nhiên, dư luận Israel sẽ không khoan nhượng nếu chúng tôi ngồi đó khoanh tay”.

 Một cuộc họp khẩn cấp của nội các Israel đã được triệu tập.  Theo sự thúc giục của Bộ trưởng Quốc phòng Rabin, Chiến dịch Chân gỗ (Wooden Leg) vụ ám sát Abu Jihad và chỉ huy Lực lượng 17 Abu Tayeb, và cuộc bắn phá các trụ sở của Khu Tây và Lực lượng 17 ở Tunis — đã được chấp thuận.

 Mục tiêu, như Rabin đã nói, là làm rõ rằng “không có sự miễn trừ nào đối với bất kỳ yếu tố PLO nào ở bất kỳ đâu trên thế giới.  Cánh tay dài của IDF có thể tiếp cận và trừng phạt chúng.  Israel sẽ quyết định cách thức chiến đấu và địa điểm tấn công, hoàn toàn phù hợp với những cân nhắc của riêng mình”.

Chỉ có Ezer Weizman, bộ trưởng không giữ bộ nào trong nội các và là cựu tư lệnh Không quân Israel, người sau này sẽ là tổng thống nhà nước, là phản đối.  Vào thời điểm đó, ông đang tiến hành các cuộc đàm phán bí mật không được ủy quyền với PLO.  “Vua Hussein của [Jordan] và Tổng thống Hosni Mubarak của [Ai Cập] hiện đang ở Hoa Kỳ,” ông nói tại cuộc họp nội các.  “Có một nỗ lực đang được tiến hành để thúc đẩy tiến trình hòa bình.  Chọn sai thời điểm ”.

 Peres đáp lại bằng sự mỉa mai: “Và trong thời gian một tuần hoặc hai tuần nữa, liệu thời điểm có phù hợp không?”

 Công tác chuẩn bị cho cuộc tấn công bắt đầu ngay lập tức, và vào ngày 1 tháng 10, mười máy bay chiến đấu F-15 đã bay đến Tunis, được trang bị bom dẫn đường GBU-15.  Trên không còn có hai máy bay chở dầu Boeing 707, sẽ tiếp nhiên liệu cho các máy bay chiến đấu hai lần.  Một chiếc Boeing khác đóng vai trò chỉ huy, kiểm soát và liên lạc trên không.  Hai máy bay do thám Hawkeye được giao nhiệm vụ gây nhiễu các cơ sở lắp đặt ra đa ở Tunisia, Libya và Algeria.

 Các máy bay F-15 thả bom, sau đó quay trở lại Israel.  Tất cả các mục tiêu đều bị đánh trúng, bao gồm các mục tiêu chính: văn phòng của Khu Tây và Lực lượng 17. Hơn sáu mươi nhân viên PLO và công nhân địa phương Tunisia thiệt mạng, và bảy mươi người bị thương.

 Một trong những phi công cho biết: “Khi chúng tôi quay đầu lại, có một cảm giác tuyệt vời như được thả lỏng. Tôi gầm lên một tiếng rất lớn trong cabin, để giảm bớt căng thẳng.  Chuyến bay về nhà có ý nghĩa hơn nhiều so với bình thường.  Tôi nhìn ngắm bờ biển Israel với đôi mắt khác, lòng tràn ngập niềm phấn khởi mà tôi chưa hề cảm thấy trước đây. “

 Thủ tướng Peres, phát biểu tại một trường trung học ở miền nam Israel sau khi các báo cáo ban đầu về cuộc đột kích được công bố, cho biết: “Các trụ sở của khủng bố không được miễn trừ.  Chúng ta có quyền tấn công họ.  Những kẻ sát nhân máu lạnh không thể được phép thoát tội. Mọi hành động của họ đều có bàn tay điều động và tổ chức ”.

 Yasser Arafat, người đã đi tham quan các tòa nhà đổ nát vào cuối buổi chiều hôm đó, đã tận dụng cơ hội để thổi phồng truyền thuyết rằng mạng sống của mình luôn được cứu rỗi bằng phép màu.  “Tôi đã được cứu sống khỏi cái chết bởi một phép màu nào đó,” ông ta tuyên bố, theo điệu bộ diễn tuồng của mình.  “Tôi đang trên đường đến văn phòng của mình tại trụ sở chính ở Hammam Chott, cách đó một phần tư giờ đi xe.  Tôi bảo người lái xe rẽ đường và đi đến trụ sở khác, và chính ở đó tôi đã nghe tin về cuộc đột kích.  Tôi nhấc máy và gọi cho Cairo và Amman.  Tôi nói mình không bị trúng bom và đang tiếp tục chỉ đạo đấu tranh ”.

 Trên thực tế, thông tin mà Israel sở hữu cho thấy rằng ông ta không được cho là có mặt tại địa điểm trong thời gian diễn ra cuộc đột kích.  “Chúng tôi biết nơi cư trú của Arafat, nhưng chúng tôi quyết định ông ta không phải là mục tiêu và chúng tôi không đề xuất điều đó với chính phủ,” Yoni Koren, của AMAN cho biết.

Tuy nhiên, cảm giác vui mừng chung ở Israel xen lẫn chút thất vọng chua chát.  Không ai trong số các chỉ huy của PLO đã ở trong văn phòng của họ khi rốc két tấn công.  Abu Iyad, chỉ huy Tháng Chín Đen và là người khởi xướng chiến dịch khủng bố Israel tại Olympic Munich, người đứng tên rất cao trong danh sách thứ bậc của Israel, thậm chí còn tháp tùng Arafat trong chuyến thăm của ông ta đến địa điểm đánh bon này, như thể để sỉ nhục người Israel nhiều hơn nữa.

Chỉ có một quan chức cấp cao, Nur Ali, bị giết, và ông ta được coi là rất ôn hòa.  Trên thực tế, ông ta đã thực sự giữ vai trò liên lạc với các quan chức Israel trong các cuộc đàm phán bí mật về trao đổi tù nhân và là một trong những quan chức PLO đã tổ chức các cuộc tiếp xúc bí mật với Bộ trưởng Quốc phòng Weizman.  Về phần Abu Jihad, hắn đang họp tại nhà của mình, cách đó không xa, và đã nghe thấy tiếng bom nổ.

 Việc không thể loại bỏ thêm thành viên lãnh đạo PLO đã khiến Mossad bắt đầu theo đuổi các hoạt động chính xác của riêng mình.  Họ bắt đầu lên kế hoạch cho các “xử lý âm tính” – một mỹ từ chỉ các vụ giết người có mục tiêu thường được Mossad sử dụng vào thời điểm đó – sẽ được thực hiện ở Tunis cho Abu Jihad.  Trong hơn một năm rưỡi, Caesarea đã lên nhiều kế hoạch và ý tưởng khác nhau, bao gồm nhắm mục tiêu vào nhà của y bằng tên lửa điều khiển từ xa, bán một chiếc limousine được gài mìn cho anh ta thông qua một điệp viên hai mang, và bố trí một tay súng bắn tỉa ở trung tâm Tunis để  bắn y trên đường đi làm.

 Tất cả những ý tưởng này đã bị loại bỏ, vì nguy cơ cao là dân thường vô tội bị giết trong cuộc tấn công hoặc vì rủi ro cho chính các đặc nhiệm.  Tunisia được coi là “quốc gia mục tiêu”, quốc gia này đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa an toàn nghiêm ngặt nhất cho các nhân viên của Caesarea hoạt động ở đó, có nghĩa là sau các vụ giết người có mục tiêu, việc giải thoát các điệp viên có liên quan sẽ không dễ dàng.

 Bộ chỉ huy Caesarea cuối cùng kết luận rằng mình phải cần hỏa lực và khả năng vận chuyển của IDF.  Mossad đã yêu cầu sự hỗ trợ từ Sayeret Matkal và lực lượng biệt kích hải quân, giống như đã thực hiện trong Chiến dịch Mùa xuân Tuổi trẻ, ở Beirut năm 1973. Mossad quay sang người đứng đầu AMAN, Thiếu tướng Amnon Lipkin-Shahak, người phụ trách  Sayeret.  Bản thân ông đã chỉ huy một trong những lực lượng Mùa xuân Tuổi trẻvà sau đó trở thành sĩ quan cấp cao, nổi tiếng với tính kiềm chế và cẩn trọng. Ông kiên quyết phản đối việc Sayeret tham gia vào sứ mệnh.  Ông tin  Mossad có thể và nên tự mình  thực hiện sứ mệnh và “không cần phải gây nguy hiểm cho quá nhiều binh sĩ.”  Trong một cuộc phỏng vấn vài tháng trước khi ông qua đời, vào năm 2013, Lipkin-Shahak nói, “Đối với tôi rõ ràng là chúng tôi có thể làm được, nhưng tôi nghĩ rằng một lực lượng Mossad nhỏ sẽ không để lại dấu vết trong khi một cuộc đột kích của biệt kích sẽ tố cáo việc Israel đã đứng sau nó. “

Các kế hoạch ám sát Abu Jihad và câu hỏi kéo dài về việc liệu quân đội có nên tham gia hay không đã gây ra căng thẳng đáng kể giữa IDF và Mossad.  Quyết định cuối cùng chỉ có thể được đưa ra bởi các chính trị gia, nhưng vào lúc này, Thủ tướng Shamir và Bộ trưởng Quốc phòng Rabin không can thiệp.

 Và sau đó toàn bộ mô hình thay đổi.

__

 KHOẢNG  2,5 TRIỆU NGƯỜI Palestine (không có cuộc tổng điều tra dân số nào được tiến hành trong thời kỳ đó) sống ở Bờ Tây và Dải Gaza, dưới sự cai trị của Israel từ năm 1967. Sự thất vọng và cay đắng của họ đã tăng đều đặn năm này qua năm khác.  Israel đã mở cửa cho công nhân Palestine và khoảng 40% lực lượng lao động vượt biên hàng ngày để làm việc tại Israel, nhưng chỉ có những công việc tầm thường, với mức lương bóc lột và trong điều kiện khó khăn.  Các công nhân xây dựng và thợ rửa bát người Palestine phẫn nộ nhìn người Israel phất lên và đạt mức thịnh vượng kinh tế gần như Tây Âu.

 Trong chính các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, thất nghiệp ngày càng tăng và có rất ít việc làm cho những người có trình độ học vấn cao.  Các thành phố đã quá đông đúc đến mức không thể chấp nhận được, và chính quyền Israel không làm gì để cải thiện các dịch vụ của thành phố, cũng như không cung cấp đất để xây dựng và làm nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của một dân số Palestine đang gia tăng.

 Tuy nhiên, Israel đã tịch thu các vùng đất của người Palestine và định cư ngày càng nhiều công dân của chính họ ở đó, một hành vi vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế.  Nhiều người định cư này bị tiêm nhiễm về mặt ý thức hệ, tin vào ý tưởng “Israel vĩ đại hơn” thuộc về người Do Thái.  Còn những người khác chỉ đơn giản là tìm kiếm một mức sống tốt hơn và tận dụng lợi thế nhà ở được trợ cấp nhiều.

 Sau khi phải chịu đựng những tình trạng tồi tệ, điều kiện tồi tệ và những bất công sờ sờ trong nhiều năm, Bờ Tây và Dải Gaza đang trên đà bùng nổ.  Nhưng đây là điều mà tình báo Israel không thể thấy hoặc không muốn thấy.  Tập trung lâu năm vào cuộc chiến chính xác chống lại PLO và các nhà lãnh đạo của tổ chức này đã che giấu cơn thịnh nộ của người dân Palestine khỏi cộng đồng tình báo của Israel và các chính trị gia của tổ chức này.  Những thành tựu chiến thuật của Israel và khả năng xác định vị trí và loại bỏ các thủ lĩnh và chiến binh PLO gần như ở bất kỳ đâu trên thế giới đã cho họ cảm giác rằng Israel có thể vĩnh viễn áp đặt quyền thống trị của mình đối với hàng triệu người Palestine trong các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng mà không có hậu quả gì.

 Tình báo Israel cũng đã bỏ qua một bước phát triển mạnh mẽ khác: Một tầng lớp lãnh đạo trẻ, sôi nổi và lôi cuốn đã phát triển ở “Palestine bị chiếm đóng” và đang hoạt động độc lập và tách biệt với Arafat, Abu Jihad, và bộ chỉ huy PLO.  Phần lớn ở Bờ Tây và Gaza ủng hộ các hành động khủng bố ngoạn mục của PLO, nhưng nhiều người cũng nhận thấy những màn bạo lực sân khấu đó ngày càng ít liên quan đến các vấn đề hàng ngày của họ.  Arafat vẫn được coi là cha đẻ của dân tộc, nhưng những hành động của ông, đặc biệt là những hành động hiện đang được thực hiện từ Tunis xa xôi, dường như không sớm mang lại nền độc lập như ông đã hứa.

 Sau đó là một tia lửa.

 Vào ngày 4 tháng 10 năm 1987, 5 kẻ khủng bố nguy hiểm thuộc tổ chức Thánh chiến Hồi giáo Palestine (PIJ) đã trốn thoát khỏi nhà tù Gaza của IDF.  Hai ngày sau, Shin Bet, với sự giúp đỡ của các đặc vụ địa phương đang điều hành ở Gaza, đã xác định được những kẻ khủng bố trong một căn hộ ẩn náu ở khu phố Sejayieh.  Một đội từ đơn vị Chim của cơ quan, cải trang thành người Ả Rập, giữ căn hộ trong tầm quan sát.  Gần đó, lực lượng đặc biệt của YAMAM, đơn vị chống khủng bố của cảnh sát, chuẩn bị hành động, dưới sự chỉ huy của David Tzur.  “Các anh chàng Shin Bet đã nhìn thấy họ lên hai chiếc xe Peugeot 404, một chiếc màu trắng, chiếc còn lại màu xanh nhạt, được trang bị vũ khí nặng và phóng đi.  Chúng tôi đuổi theo họ, và ngay khi họ phát hiện ra chúng tôi, họ đã nổ súng.  Cạnh sân bóng, chúng tôi đuổi kịp ”.  Bốn tên khủng bố trong bọn đã bị giết bởi một tràng đạn bắn từ YAMAM.  Tên thứ năm, người trốn thoát khỏi xe, đã bị bắn sau đó.  Một đặc nhiệm Chim, Victor Arzuan, cũng bị giết trong cuộc trao đổi hỏa lực.

Đám tang của 5 người Palestine đã biến thành một cuộc biểu tình bão táp.  Những người biểu tình la hét trên đường phố rằng 5 người đã bị sát hại.  Cuộc bạo động diễn ra dữ dội hơn bất cứ điều gì mà IDF đã chứng kiến ​​ở các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng cho đến nay.

 “Từ quan điểm hoạt động,” Tzur, người sau này trở thành phó ủy viên cảnh sát Israel và là cảnh sát trưởng khu vực Tel Aviv, cho biết vị trí và việc thanh lý năm tên khủng bố “là một thành công rõ ràng của YAMAM.”  Nhưng Tzur cũng thừa nhận rằng thành tựu chiến thuật này và những thành tựu tương tự khác trong nhiều năm qua, đã khiến tình báo Israel không nhìn thấy bức tranh toàn cảnh và khiến họ “bỏ lỡ sự phát triển mạnh mẽ sắp diễn ra”.  Ngay cả những đám tang bạo lực cũng  được coi là không hơn các cơn tức giận bộc phát cục bộ.

 Sau đó, vào ngày 8/12, một xe tăng IDF đã mất lái và đâm vào dòng xe ô tô chở người Palestine trên đường trở về Dải Gaza từ nơi làm việc ở Israel.  Bốn người thiệt mạng và bảy người bị thương.  Tin đồn nguỵ tạo nhanh chóng lan truyền rằng vụ tai nạn thực sự là một hành động cố ý của Israel để trả thù cho vụ đâm chết một người Israel hai ngày trước đó.  Đám tang của những công nhân thiệt mạng một lần nữa trở thành cuộc biểu tình rầm rộ.

 Một làn sóng biểu tình tràn qua Bờ Tây và Gaza vào tháng 12 năm 1987, đánh dấu sự khởi đầu của cuộc nổi dậy Palestine chống lại sự cai trị của Israel, phong trào Intifada.  Shin Bet, IDF và chính phủ đã rất sửng sốt và “trong nhiều tuần không nắm được tầm quan trọng của các cuộc biểu tình, đến nỗi thậm chí  Bộ trưởng Quốc phòng Rabin không hiểu tại sao mình nên rút ngắn chuyến đi nước ngoài  và quay trở lại Israel khi các cuộc biểu tình  bùng phát,” thư ký quân sự của Thủ tướng, Tướng Nevo nói.

 IDF đã tin tưởng trong nhiều năm rằng họ có thể kiểm soát người Palestine với lực lượng tối thiểu.  Nhưng khi đám đông bạo loạn ném đá vào các phân đội nhỏ binh lính, những người không có thiết bị giải tán đám đông hoặc đồ bảo hộ, những người lính đã đáp trả bằng tiếng súng.  Hơn một nghìn người Palestine đã thiệt mạng, nhiều người khác bị thương, và vị thế quốc tế của Israel giảm dần.  Mỗi buổi tối, thế giới lại thấy trên TV cách quân đội Israel mạnh tay đàn áp hàng loạt người Palestine đòi độc lập chính trị và chấm dứt chiếm đóng.  Cán cân của bên bị thua thiệt  đã đảo ngược hoàn toàn: Israel bây giờ là Goliath, và người Ả Rập Palestine, trong mắt cộng đồng quốc tế, giờ là David, với súng cao su và những viên đá của mình.  “Intifada,” khi đó – giám đốc Mossad, Nahum Admoni, cho biết “đã gây ra cho chúng tôi nhiều tổn hại về mặt chính trị, thiệt hại đến hình ảnh của chúng tôi, hơn tất cả những gì PLO đã thành tựu trong suốt thời gian tồn tại của họ”.

Thiếu phản ứng phù hợp với cuộc nổi dậy và không hiểu rõ nguyên nhân của nó, Israel một lần nữa quay sang sử dụng loại vũ khí mà họ đã quá quen thuộc, và thứ mà nhiều người tin rằng có thể thay đổi tiến trình lịch sử: những vụ giết người có mục tiêu.  Abu Jihad, người đã sống sót sau những nỗ lực lặp đi lặp lại của Israel nhằm lấy mạng mình, một lần nữa trở thành mục tiêu chính.  Một phần là do sự khoe khoang của bản thân ông ta.  Trong một cuộc phỏng vấn trên Đài Monte Carlo vào tháng 1 năm 1988, ông tuyên bố mình đã ra lệnh khởi phát Intifada.  PLO đã nhắc lại điều này trong một số ấn phẩm của mình.  Thế giới Ả Rập vỗ tay hoan nghênh.  Ban lãnh đạo chính trị của Israel đã chấp nhận những tuyên bố của ông là sự thật tuyệt đối.  Những người đứng đầu cộng đồng tình báo thừa nhận, hoặc ít nhất là không phủ nhận tính xác thực của chúng.

 Nhưng Abu Jihad đã nói dối.  Cả ông và Arafat đều không đưa ra bất kỳ mệnh lệnh nào cho việc tiến hành Intifada.  Nó đã làm họ ngạc nhiên cũng như nó đã làm cho tình báo Israel ngạc nhiên.  Trên thực tế, đó là một cuộc nổi dậy phổ biến, và chính những người trẻ ở độ tuổi trên dưới hai mươi, hành động độc lập với giới lãnh đạo ở Tunis, những người đã châm ngòi cho ngọn lửa.  Nhưng sự thật của vấn đề không khiến những người đứng đầu PLO, các phương tiện truyền thông Ả Rập hay tình báo Israel quan tâm.

Hơn nữa, “sự thật” được chấp nhận một cách thái quá đó, dù bị hiểu sai, là một điều hấp dẫn đối với người Israel.  Nếu cuộc nổi dậy gây ra bởi sự bất mãn trong cộng đồng người Palestine trong các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng trong nhiều năm dài do quân đội độc đoán cai trị và sự xâm phạm của Israel trên đất của họ, thì nguyên nhân gốc rễ của nó sẽ phải được giải quyết.  Còn nếu tất cả chỉ là một âm mưu của PLO, thì nó có thể kết thúc  đơn giản chỉ  bằng cách giết chết kẻ đứng sau nó.

 Sau khi phong trào Intifada nổ ra, Bộ trưởng Quốc phòng Rabin ra lệnh cho IDF cung cấp cho Mossad tất cả sự hỗ trợ cần thiết để lập kế hoạch ám sát Abu Jihad.  Giám đốc AMAN Lipkin-Shahak “vẫn không tin rằng một hoạt động lớn và phức tạp như vậy là cần thiết”, nhưng ông hiểu rằng tình hình chính trị đã thay đổi và ông đã rút lại sự phản đối của mình, ít nhất là trong giai đoạn lập kế hoạch và huấn luyện.

 Trong khi đó, Abu Jihad và Arafat cố gắng chèo lái làn sóng đồng tình quốc tế mà cuộc nổi dậy tạo ra.  Trong khi các hoạt động chuẩn bị bí mật cho cuộc đột kích vào nhà của Abu Jihad ở Tunis đang được tiến hành, ông ta và Arafat đã bắt đầu hoạt động bí mật của riêng họ, một thực tập khôn khéo về quan hệ công chúng.  Họ gọi đó là hoạt động “Con tàu trở về”.  Ý tưởng là đi một con tàu đến Haifa chở 135 người Palestine bị trục xuất từ các khu vực do Israel kiểm soát, và nhiều nhà báo và đội quay phim cũng sẽ chấp nhận lời mời để đưa tin về chuyến đi và kết thúc đầy kịch tính của nó.  Các nhà lãnh đạo PLO muốn chuyến đi của “Con tàu trở về” trông giống như chuyến đi của tàu Exodus, tàu hơi nước nổi tiếng chuyên chở người Do Thái nhập cư trái phép đến Palestine Ủy thác thuộc Anh vào năm 1947. Fatah đã cố gắng giữ bí mật về kế hoạch cho đến phút cuối cùng nhưng không thành công, và Mossad nhận được thông báo theo thời gian thực.  Người Palestine đã thuê một con tàu ở Piraeus, nhưng chủ tàu đã hủy bỏ sau khi Israel cảnh báo rằng nếu họ để dự án tiếp tục, tàu của họ sẽ không bao giờ được phép cập cảng Israel nữa.  Thay vào đó, PLO đã mua một con tàu phà do Nhật Bản chế tạo tên là Sol Phryne ở Síp với giá 600.000 USD.

 Một cuộc họp khẩn cấp của nội các Israel đã được triệu tập để thảo luận về chủ đề này, và họ đã thông qua một hoạt động bí mật chung của IDF-Mossad để chặn tàu Sol Phryne, “ngay cả trước khi nó có thể ra khơi từ cảng Limassol.”  Hy vọng rằng việc ngăn cản kế hoạch và giết những người tham gia của nó “sẽ tạo ra cảm giác tuyệt vọng trong giới lãnh đạo Palestine, giảm mức độ phủ sóng của các phương tiện truyền thông ở các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng và giáng một đòn vào động lực tiếp tục Intifada”, một trong số  các bộ trưởng đã tham gia cuộc họp nói.

Vào sáng ngày 15 tháng 2 năm 1988, ba trong số các nhà hoạt động PLO được Abu Jihad cử đến Síp để tổ chức chuyến hành trình Con tàu trở về đã lên xe, không xa khách sạn nơi họ ở.  “Rover,” cảnh sát trưởng Lưỡi Lê, và Eli đang ngồi trong một chiếc xe khác, theo dõi họ sau nhiều giờ căng thẳng, trong đó cảnh sát địa phương gần như tóm được người Israel.  Khi ba người Palestine lên xe và khởi động nó, Eli nhấn nút, cho nổ một quả bom khác của anh ta.  Ba người Palestine đã thiệt mạng.

 Mười tám giờ sau, lính biệt kích hải quân lặn xuống tàu Sol Phryne và gắn một quả mìn nhỏ vào thân tàu.  Nó làm thủng một lỗ ở thành tàu, và tàu bắt đầu chìm xuống.  Chuyến đi của Con tàu trở về —cuộc di cư của người Palestine — đã kết thúc trước khi nó có thể bắt đầu.  “Nghe này, lịch sử bày những trò chơi kỳ lạ, ” Yoav Galant, chỉ huy đội biệt kích hải quân, nói khi anh leo lên con thuyền tên lửa Israel đang đợi, mình mẫy ướt sũng nước từ Biển Đen lúc 3 giờ sáng,.  Anh ấy đang nhắc về  chuyến đi của mẹ mình, Fruma, trong chiến dịch Exodus ban đầu nhiều năm trước đó.

__

 VÀO NGÀY 14/3, NỘI CÁC an ninh Israel dưới thời Thủ tướng Shamir đã họp lại để thảo luận về việc tiêu diệt Abu Jihad. Quyết định loại bỏ ông ta của các đời thủ tướng trước, bao gồm Levi Eshkol, Golda Meir, và Yitzhak Rabin, không có hiệu lực với một thủ tướng khác.  Và ngay cả khi cùng một người đứng đầu chính phủ, các lực lượng an ninh vẫn sẽ phải tìm kiếm sự chấp thuận mới nếu nhiều thời gian đã trôi qua, bởi vì có thể hoàn cảnh chính trị đã thay đổi hoặc thủ tướng đã thay đổi quyết định.  Sự chấp thuận phải được đưa ra ngay lập tức trước khi tiến hành một cuộc tiêu diệt có mục tiêu, thời điểm đã sẵn sàng hoạt động, ngay cả khi nó đã được bật đèn xanh trước đó một thời gian.

 Nevo nói: “Shamir có thể làm theo lệnh của riêng mình để tiêu diệt Abu Jihad.  Tuy nhiên, Shamir biết rằng Abu Jihad không phải là mục tiêu bình thường, và phản ứng khi đánh ông ta có thể khác thường.  Ông quyết định không chịu trách nhiệm duy nhất và thay vào đó đưa vấn đề lên nội các an ninh để được phê duyệt. Đảng Likud và Lao động có năm bộ trưởng trong ban hội thẩm.  Shimon Peres, người đứng đầu Đảng Lao động và sau đó giữ chức ngoại trưởng, tuyên bố rằng ông kiên quyết phản đối vụ ám sát.  “Thông tin của tôi là Abu Jihad là một người ôn hòa,” ông nói.  “Tôi nghĩ sẽ không khôn ngoan nếu giết ông ta.”  Bốn thành viên Lao động khác – bao gồm Rabin, người đã chấp thuận giết Abu Jihad trước đó – bày tỏ sự lo lắng về việc lên án của quốc tế sẽ được khuấy động chống Israel, cũng như mối nguy hiểm đối với binh lính Israel và các đặc nhiệm Mossad, và họ đã cùng với Peres chống lại  hoạt động.  Shamir và bốn đại diện của Likud đã bỏ phiếu thuận.  Số phiếu hòa có nghĩa là sẽ không có hoạt động.

 Bộ trưởng Tài chính Moshe Nissim của Likud quyết định thử thuyết phục.  Ông ấy đã yêu cầu Rabin về phe mình bên ngoài phòng họp.  “Hãy xem Intifada đang làm gì với chúng ta,” ông nói.  “Tâm trạng của công chúng rất thất vọng.  Trong quá khứ, IDF đã thực hiện các hành động với sự tháo vát và tư duy sáng tạo tuyệt vời, nhưng điều đó đã không xảy ra trong một thời gian dài.  Chúng ta phải đổi mới ý thức trên thế giới, trong cộng đồng quốc tế – nhưng trước hết và quan trọng nhất, giữa các công dân Israel – rằng IDF chính là IDF đã làm được những điều kỳ diệu trong những năm qua.  Chúng ta phải thực hiện sứ mệnh này vì tinh thần quốc gia”.  Chính trị, nhuệ khí quốc gia héo mòn, đòi hỏi một sự hy sinh xương máu.  Giết Abu Jihad, ít nhất là theo cách Moshe Nissim thấy, là một hành động mang tính biểu tượng hơn là thực tế.

 Rabin đã bị thuyết phục.  Ông quay trở lại phòng nội các với Nissim và thông báo rằng ông ta sẽ thay đổi phiếu bầu của mình.  Với tỷ lệ phiếu từ 6 đến 4, Bài học Đề xuất  Hoạt động đã được bật đèn xanh.

 Nissim, con trai của một giáo sĩ Do Thái cao cấp của Israel, không bao giờ hối hận vì đã thuyết phục Rabin.  “Trên toàn thế giới,” ông nói, “không có quân đội nào khác tỉ mỉ như IDF về các giá trị và chuẩn mực ứng xử và đảm bảo rằng những người vô tội không bị thương.  Nhưng có một giới luật trong Kinh Talmud: “Nếu một người đến để giết bạn, hãy bật dậy và giết y liền.”

__

NHÀ CỦA ABU JIHAD Ở Tunisia, các đặc nhiệm tình báo Israel tin rằng, là nơi hoàn hảo để giết ông ta.  Nó tọa lạc trên một trong những góc đẹp nhất của khu biệt thự riêng tư dành riêng được chăm sóc cẩn thận và những con đường rộng rãi, sạch sẽ, chỉ cách bãi biển vài nghìn thước, cho phép một nhóm sát thủ tiếp cận tương đối dễ dàng.  Phải tránh khỏi hoặc làm xao nhãng các cuộc tuần tra của cảnh sát Tunisia, ngoài việc đó ra, Abu Jihad chỉ được bảo vệ bởi hai cận vệ.  Nahum Lev, chỉ huy phó Sayeret Matkal, cho biết: “Đó là một địa điểm tương đối biệt lập, chỉ được bảo vệ nhẹ nhàng.  “Hơn nữa, Abu Jihad trở lại đó mỗi đêm khi ông ta ở trong nước.  Đó là một nơi tuyệt vời để bố trí một cuộc phục kích.  Abu Jihad chỉ đơn giản là không bao giờ tin rằng có ai đó sẽ tiếp cận ông ta ở đó.  Mossad đã hoạt động ở Beirut hoặc Syria hoặc châu Âu, nhưng chưa bao giờ ở Tunisia.  Vì vậy, Abu Jihad cảm thấy tương đối an toàn ”.

 Việc giết Abu Jihad tại nhà riêng của hắn, tình báo Israel tin rằng, cũng sẽ là hành động đe dọa phù hợp, gợi ý cho người Palestine rằng không ai được an toàn ở bất cứ đâu, kể cả trong phòng ngủ của hắn.

 Kế hoạch ám sát Abu Jihad ở Tunisia đã được Caesarea phát triển trong năm trước.  Ba đặc nhiệm Caesarea cải trang thành các doanh nhân Ả Rập đã dò tìm các tuyến đường từ bãi biển và lập bản đồ chi tiết về khu vực lân cận.  Các đơn vị 504 và 8200 của Mossad và AMAN đã theo dõi hành tung của Abu Jihad, lập biểu đồ các chuyến đi của ông ta, ghi nhận thói quen mua vé trên nhiều chuyến bay của ông ta để gây khó khăn khi muốn biết lúc nào ông ta sẽ đi và đi đến đâu.  Đường dây điện thoại nhà và văn phòng của ông ta đã bị theo dõi.  Oded Raz, khi đó là một sĩ quan thuộc Bộ phận nghiên cứu chống khủng bố của AMAN, nói rằng, “khi theo dõi Abu Jihad, tôi đã biết và tôn trọng người đàn ông mà chúng tôi đang đối đầu.  Đúng, ông ta là một kẻ khủng bố, nhưng cũng là một người đàn ông gia đình kiểu mẫu và một nhà lãnh đạo đích thực, người luôn nghĩ đến lợi ích quốc gia của mình ”.

 Tuy nhiên, giới lãnh đạo chính trị và tình báo Israel vẫn muốn giết ông ta.  Theo suy nghĩ của họ, lợi ích của đất nước Palestine là mối đe dọa trực tiếp đối với lợi ích của đất nước họ.  Như họ đã thấy, Abu Jihad là – và điều này không có gì phải bàn cãi – kẻ đứng sau cái chết của hàng trăm người Do Thái.

 Bộ trưởng Quốc phòng Rabin, một nhà quân sự tài giỏi, lo ngại về nhiều chi tiết của tuyến đường rút lui và sự an toàn của quân đội.  Không kém phần quan trọng, ông ấy muốn biết điều gì sẽ xảy ra nếu, “một khi chúng ta đến Tunis với toàn bộ lực lượng này, và chúng ta đột nhập vào nhà, và rồi sau đó ‘bệnh nhân ’của chúng tôi không có ở đó?”  Người Mossad giải thích kế hoạch của họ để đảm bảo rằng Abu Jihad sẽ ở nhà trước khi phát tín hiệu bắt đầu cuộc đột kích.  Rabin hài lòng, và với các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng chìm  trong hỗn loạn mà Abu Jihad, dù đúng hay sai, đã tuyên bố nhìn nhận mình là đạo diễn, Bài học Đề xuất Hoạt động cuối cùng đã được cho phép.

 Phó tổng tham mưu trưởng IDF Ehud Barak là người chỉ huy toàn bộ chiến dịch, và một thời gian ngắn trước khi dự kiến ​​bắt đầu, ông đã chủ trì một cuộc họp lập kế hoạch tại trụ sở Bộ Tổng tham mưu, ở Tel Aviv.  Các sĩ quan AMAN đã cho ông ta xem mô hình quy mô của họ về khu vực lân cận của Abu Jihad.  Barak đột ngột chỉ vào ngôi nhà bên kia đường đối diện ngôi nhà Abu Jihad.

 “Ai sống ở đó?”  Barak hỏi.

 “Abu al-Hol,” một trong những sĩ quan AMAN trả lời.  “Giám đốc an ninh nội bộ của PLO.”

 “Và ai sống ở đây?”  Barak hỏi, chỉ vào một ngôi nhà gần đó nhưng không phải cạnh nhà của Abu Jihad.

 “Mahmoud Abbas — Abu Mazen,” một đặc nhiệm của Mossad trả lời, sử dụng tên thật và bí danh của một quan chức PLO hàng đầu khác.

 “Nó khá gần,” Barak trầm ngâm.  “Tại sao chúng ta không nên đến thăm ông ấy luôn thể?  Với toàn bộ đội quân khổng lồ sẽ đến Tunisia, tại sao không một viên đá ném hai con chim.”

 “Ehud,” một quan chức cấp cao của Mossad xen vào, “bỏ việc đó đi.  Nó sẽ chỉ làm phức tạp thêm một chiến dịch đã vốn dĩ đã thực sự phức tạp ”.  Sau đó là một cuộc thảo luận ngắn – một cuộc tranh luận.  Barak khăng khăng sử dụng cơ hội để hạ gục hai mục tiêu.  Theo ông, một cuộc tấn công như vậy sẽ khiến tinh thần PLO lao dốc và có thể gây ra tác động đáng mong đợi đối với làn sóng bất ổn ở các vùng lãnh thổ.  Các đại diện của Mossad và AMAN đã phản đối kịch liệt.  Họ lập luận: “Chúng tôi không thể đảm bảo rằng cả hai mục tiêu sẽ có mặt ở nhà cùng một lúc.  “Ngài là tư lệnh, nhưng chúng tôi khuyên ngài chỉ nên nhắm đến một mình Abu Jihad.  Chỉ cần chúng ta cho ông ta những gì ông ta xứng đáng là đủ. ”

 Cuối cùng, Barak đã nhượng bộ. Vì vậy, quyết định giữ lại sinh mạng của Mahmoud Abbas, người sẽ kế nhiệm Arafat với tư cách là người đứng đầu Chính quyền Palestine và Barak, trong số những người khác, trong tương lai sẽ coi ông ta là một đối tác mạnh mẽ trong các nỗ lực hòa bình.

 “Thật khó để đánh giá những vấn đề như vậy khi nhìn lại,” Barak nói.  “Trong thời gian thực, từ quan điểm hoạt động, nó rất hấp dẫn.  Mặt khác, rõ ràng là một cuộc tấn công ở cấp độ đó nhằm vào các nhà lãnh đạo của họ sẽ thực sự hợp pháp hóa các cuộc tấn công của họ  nhằm vào các nhà lãnh đạo của chúng tôi.”

__

SÁU ĐẶC VỤ CAESAREA ĐÃ ĐẾN Tunis vào ngày 14 tháng 4, trên bốn chuyến bay khác nhau từ châu Âu.  Ba người trong số họ — hai người đàn ông và một phụ nữ, đi trên hộ chiếu Lebanon giả và nói tiếng Pháp hoàn hảo — đã trả tiền mặt để thuê hai chiếc vận tải Volkswagen  và một chiếc du lịch Peugeot 305, tất cả đều màu trắng và từ hai công ty riêng biệt.  Những chiếc xe đó sẽ được sử dụng để chở các nhân viên Sayeret Matkal từ bãi biển đến nhà của Abu Jihad và sau đó quay trở lại.  Ba đặc vụ còn lại là những cái bóng: Họ tìm thấy một lùm cây mà từ đó họ có thể theo dõi ngôi nhà và đảm bảo rằng Abu Jihad đang ở bên trong.  Các tài xế sẽ di tản bằng đường biển cùng với nhóm sát thủ, trong khi những bóng đen sẽ rời Tunis trên các hãng hàng không thương mại khi hoạt động kết thúc.

 Trong khi đó, 5 tàu tên lửa của Israel đang lao về phía Tunisia, mang theo nhóm đột kích, một bệnh viện di động và thiết bị liên lạc công suất lớn.  Một chiếc tàu lớn hơn, được trang bị như một tàu sân bay trực thăng nhưng được ngụy trang để trông giống như một chiếc tàu chở hàng thông thường, có một đơn vị Sayeret dự bị sẵn sàng được đưa vào, nếu có sự cố.

 Đoàn tàu vận tải dừng lại cách bờ biển Tunisia 25 dặm, vượt ra ngoài lãnh hải của đất nước, vào ngày 15 tháng 4. Dưới mặt nước, tàu ngầm Gal của Israel đã hộ tống vô hình.  Ở phía trên, một chiếc Boeing 707 của lực lượng không quân đóng vai trò như một trạm chuyển tiếp thông tin liên lạc, đồng thời giám sát các tần số của Tunisia nếu có bất kỳ sự cố nào.  Nó có khả năng gây nhiễu radar và đài kiểm soát trên không của Tunisia nếu cần.  Các máy bay F-15 của Israel cũng đang tuần tra ngoài khơi, sẵn sàng can thiệp nếu cần thiết.

 Mặt trời lặn xuống mặt nước ở phía tây khi những chiếc xuồng cao su được thả xuống mạn thuyền tên lửa.  Mỗi xuồng chở hai biệt kích hải quân và sáu chiến binh Sayeret Matkal.  Họ lặng lẽ chạy về phía bờ, hoàng hôn chuyển sang tối trong một đêm không trăng.  Cách bãi biển một phần ba dặm, bảy lính biệt kích của Đội tàu13 phóng khỏi xuồng và bơi dưới nước về phía bãi biển.  Người đầu tiên đặt chân lên đất Tunisia là chỉ huy lực lượng đột kích của Đội tàu13, Yoav Galant.  Bãi biển vắng tanh.  Các biệt kích đã thiết lập một vành đai hình bán nguyệt rộng để bảo vệ nó, đồng thời thiết lập liên lạc vô tuyến với các xuồng và với các đặc nhiệm Mossad đang đợi trên xe của họ.  Các lính biệt kích nói với các đặc nhiệm Mossad tiếp cận đường nước, sau đó nói với 26 chiến sĩ trên xuồng rằng đã an toàn vào bờ.  Những lính Sayeret hối hả chạy đến những ô tô Caesarea đang đợi. Họ thay quần áo khô và mang theo túi vải thô chống thấm nước.  Họ sẽ đột nhập vào khu dân cư của Abu Jihad đóng giả là dân thường – một số nam và một số nữ – sau đó đột nhập vào nhà  và giết ông ta.  Tuy nhiên, tất cả họ đều mang thẻ tù binh để chứng minh mình là quân nhân trong trường hợp bị bắt.

 Các toán biệt kích hải quân tỏa ra để giữ an ninh cho bãi biển cho đến khi biệt đội Sayeret quay trở lại.  Ba đặc nhiệm Caesarea có nhiệm vụ theo dõi ngôi nhà đã giám sát qua ống nhòm thật mạnh khi xe của Abu Jihad vừa tới sau nửa đêm.  Hai vệ sĩ, trong đó một người cũng là tài xế, đi vào trong cùng ông ta.  Người lái xe chỉ vào trong một lúc, sau đó quay trở lại xe và đánh giấc.  Người kia ngồi ở phòng khách một lát, rồi xuống tầng hầm ngủ thiếp đi.  Trong một phòng ngủ khác, bé trai của Abu Jihad, Nidal, ngủ trong cũi.  Vợ anh, Intisar, và con gái 16 tuổi, Hanan, đang đợi ông trong phòng ngủ.  Intisar nhớ lại cuộc trò chuyện của họ:

Tôi rất mệt.  Tôi hỏi anh ấy có mệt không, và anh ấy nói không.  Tôi bảo anh ấy vào trong ngủ, nhưng anh ấy nói rằng mình còn rất nhiều việc phải hoàn thành.  Anh ấy ngồi vào bàn trong phòng ngủ của chúng tôi và viết một lá thư cho ban lãnh đạo Intifada.  Hanan ở với chúng tôi trong phòng.  Anh hỏi con gái đã làm gì trong ngày hôm đó.  Cô bé nói rằng mình đã cưỡi ngựa.  Sau đó, cô nhớ rằng cô muốn kể với cha về một giấc mơ mà cô đã có vào đêm hôm trước.  Cô ấy mơ thấy mình đang ở Jerusalem với một vài người bạn.  Họ cầu nguyện tại một nhà thờ Hồi giáo, và sau đó đột nhiên binh lính Israel trục xuất họ và đuổi theo họ.  Cô chạy và chạy cho đến khi cô đi ra ngoài bức tường thành, và sau đó cô nhìn thấy cha mình.  Cô hỏi cha đi đâu, và Abu Jihad nói rằng mình sẽ đến Jerusalem.  Cô hỏi cha bằng cách nào cha có thể vào được Jerusalem, vì ở đó đầy lính Israel.  Cha nói rằng mình sẽ cưỡi một con ngựa trắng.

Sau khi cô kể cho cha giấc mơ xong, Abu Jihad tháo kính và nói: “Ồ, Hanan, vâng, vâng, cha đang trên đường đến Jerusalem.”

 Điện thoại trong biệt thự vang lên.  Abu Jihad nhặt nó lên.  Các đặc vụ Israel nghe lén khi người phụ trách sắp xếp việc đi lại của ông báo với ông có một chỗ trên chuyến bay đến Baghdad rời Tunis  sau 3 giờ sáng một chút.  Đây là một vấn đề đối với người Israel.  Họ dự định xông vào nhà của Abu Jihad vào khoảng 1:30 sáng để chắc chắn nhất có thể rằng mọi người sẽ ngủ.  Nhưng nếu họ đợi đến lúc đó, rất có thể mục tiêu của họ đã trên đường đến sân bay.

 Họ không thể đợi lâu như vậy.  Hành động phải tiến hành ngay lập tức.  Yiftach Reicher, người đứng đầu Cơ quan Điều hành Hoạt động Đặc biệt, đang ở trạm chỉ huy tại bờ biển, gọi chỉ huy Sayeret là Moshe Yaalon trên đài phát sóng.  Họ nói chuyện bằng mã và bằng tiếng Anh, phòng ngừa  trường hợp cuộc trao đổi bị chặn được.

 Reicher: “Bogart, đây là Richard.  Anh có thể rời khỏi nhà ga.  Anh có thể rời khỏi nhà ga.  Làm nhanh lên.  Tôi nói lại: Làm nhanh đi. ”

 Sau đó, Reicher nhận ra rằng, vì Abu Jihad đang chuẩn bị cho một chuyến bay, nên cả ông ta và cận vệ của ông ta có thể sẽ tỉnh táo.  “Bogart,” anh ta nói, “đây là Richard.  Bởi vì ông chủ sắp đi, tôi muốn nói với anh có những người không ngủ ở văn phòng. ”

 Yaalon: “Được rồi, Richard, tôi hiểu.”

 Reicher gọi một trong những đặc vụ của Caesarea đang quan sát ngôi nhà từ trên cây: “Willy, có gì mới gần văn phòng không, kể cả chiếc xe hơi màu đỏ?”

 Willy: “Không.”

 Reicher: “Bogart đang trên đường đến.  Trước khi vào văn phòng, anh ấy sẽ gọi cho bạn.  Nếu có bất kỳ thay đổi nào trong tình huống, hãy cho anh ấy biết, vì anh ấy cần sự đồng ý.  Không sao đâu. ”

 Hai xe ô tô đã chở 26 lính Sayeret Matkal, trang bị súng lục Micro Uzi và Ruger .22 có gắn bộ giảm thanh và đèn chỉ điểm laser, vào khu vực lân cận.  Hai đặc nhiệm của Caesarea, một nam một nữ, lái chiếc Peugeot đi trước một phần tư dặm để dò đường và đảm bảo rằng lực lượng chủ lực sẽ không gặp bất cứ điều gì bất ngờ.

 Cả ba xe dừng cách nhà chừng năm trăm thước.  Các toán biệt kích bắt đầu tiến về phía trước.  Nhưng cuối cùng, việc xác định mục tiêu phải được thực hiện.  Những người theo dõi đã nhìn thấy xe của Abu Jihad đến và nhìn thấy ông ta và các vệ sĩ đi vào nhà.  Nhưng theo giao thức mà Rabin đã ấn định, điều đó là chưa đủ.  Ba người nói tiếng Ả Rập thông thạo từ Đơn vị 8200, những người được chọn đồng hành cùng Mossad cho nhiệm vụ đã dành hàng trăm giờ để nghiên cứu giọng nói của Abu Jihad và những cách ăn nói kỳ quặc.  Đeo tai nghe, họ ngồi trong hầm chỉ huy ở Tel Aviv trong khi các kỹ thuật viên thiết lập một cuộc điện thoại tới dinh thự của al-Wazir thông qua một cuộc trao đổi ở Ý, cách mà ông ta thường liên lạc với các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng.

 Các kỹ thuật viên đã phát tiếng ồn của đám đông trong nền.  “Ya, Abu Jihad,” một trong những chuyên gia giọng nói hét vào ống nghe.  “Họ đã bắt giữ Abu Rahma!  Và bây giờ lũ chó đẻ muốn bắt cả gia đình vào tù!”  Anh ta thêm một lời nguyền bằng tiếng Ả Rập: “Inshallah yishrbu waridat al-nisa!”  (“Mong họ uống máu kinh nguyệt!”) Abu Jihad cố gắng trấn tĩnh người nói để anh ta có thể biết thêm chi tiết.  Trong khi đó, các kỹ thuật viên ở Tel Aviv vẫn tiếp tục cuộc trò chuyện cho đến khi cả ba chuyên gia giơ tay ra hiệu rằng họ đã xác định được giọng nói chắc chắn.

 “Bài học đề xuất, bạn đã được đèn xanh”, boongke chỉ huy ở Tel Aviv phát tin đến đài chỉ huy tiền phương trên biển.  Thông điệp đó ngay lập tức được chuyển tới lực lượng trên bộ.  Nahum Lev và một người lính khác mặc quần áo phụ nữ đi trước.  Lev tay cầm một chiếc hộp lớn, hình như là hộp kẹo, nhưng bên trong là một khẩu súng lục có giảm thanh.  Anh bước đến gần tên cận vệ ngồi trong chiếc xe hơi cạnh nhà, đưa cho hắn xem một tờ quảng cáo của khách sạn, và hỏi hắn làm thế nào để đến đó.  Trong khi tên cận vệ chăm chú đọc.  Lev bóp cò bắn vào đầu hắn.

 Lev ra hiệu cho những người còn lại trong đội.  Một nhóm nhỏ tiến tới trước sử dụng kích thủy lực để mở cửa.  Trong các buổi tập, cánh cửa đã mở ra êm ru.  Tuy nhiên, bây giờ, nó kêu cót két.  Các chiến binh căng thẳng.  Nhưng không có phản ứng nào từ bên trong ngôi nhà đang ngái ngủ.  Một người trong nhóm ra hiệu cho những người trên những chiếc xe khác rằng bờ biển đã quang đãng.  Các chiến binh còn lại chiếm các vị trí xung quanh ngôi nhà.  Một đội vòng ra sân sau.

Những chiến sĩ Sayeret Matkal xông qua cửa và đi xuống sảnh trước.  Một vài người lao xuống tầng hầm, nơi tên vệ sĩ thứ hai vừa mới tỉnh dậy.  Họ đã bắn hạ y trước khi y có thời gian điều khiển khẩu súng trường của mình.  Sau đó, họ nhìn thấy một người đàn ông khác đang ngủ—thợ làm vườn người Tunisia của gia đình, hôm nay bỗng quyết định nghỉ qua đêm.  Họ cũng phải bắn anh ta.  “Anh ấy thực sự không làm gì cả,” Lev nói.  “Nhưng trong một nhiệm vụ như thế này, không có lựa chọn nào khác.  Bạn phải đảm bảo rằng bất kỳ sự chống đối tiềm ẩn nào cũng được vô hiệu hóa ”.

 Ở tầng trên, vợ của Abu Jihad, Intisar, thức dậy vì tiếng la hét của những người đàn ông bên dưới.  Abu Jihad đang ngồi bên bàn làm việc.  Ông đẩy nó lại, nhanh chóng bậy dậy và lấy khẩu súng lục của mình trong tủ.

 “Chuyện gì xảy ra thế?”  Intisar hỏi ông ta.  “Chuyện gì xảy ra thế?”

 Một lính Sayeret Matkal, mặc đồ đen, bịt mặt, đi tới đầu cầu thang.  Lev, chỉ huy, theo sát phía sau.  Abu Jihad đẩy vợ vào phòng ngủ của họ.

 Người Israel đi đầu đã bắn ông.  Abu Jihad ngã xuống.  Sau đó, Lev bắn một tràng dài.  Abu Jihad đã chết.

 Intisar bò đến chỗ chồng, vòng tay ôm lấy ông.  Một lính biệt kích dí súng lục vào lưng bà, xô mạnh bà vào tường. Bà ấy ngỡ chắc chắn mình sẽ bị bắn.  Thay vào đó, bà đã được đẩy ra chỗ khác  để không hứng đan.

 Một lính biệt kích thứ ba đến và bắn Abu Jihad một lần nữa.  Anh ta đứng sang một bên, và  người Israel thứ tư bắn ông ta một lần nữa.

 Nidal, cậu bé, thức giấc và la hét.  Intisar tưởng rằng em cũng bị trúng đạn.  Một giọng nói ở tầng dưới hét lên, “Aleh!  Aleh!”- Nhanh lên!  Nhanh lên!

 Cuối cùng, Trung tá Yaalon đứng bên xác Abu Jihad và nổ súng, đó là người đàn ông thứ năm làm như vậy.

 “Bas!”  Intisar khóc.  Đủ rồi mà!

 Abu Jihad đã bị bắn năm mươi hai phát.  Hai mươi ba năm sau khi Golda Meir ký vào tờ giấy đỏ đầu tiên lấy mạng y, y đã chết.

 Nhớ lại vụ ám sát nhiều năm sau đó, vào năm 2013, Yaalon, lúc đó là bộ trưởng quốc phòng, nói, “Nghe này, đó chắc chắn không phải là một cảnh dễ chịu.  Người phụ nữ đang đứng đó, muốn lao về phía trước, và chỉ bởi vì một người đang chĩa súng vào bà ấy, nên bà không dám di chuyển, còn chúng tôi đang bắn liên tục vào chồng bà.  Không thể nói rằng nó không làm tôi áy náy hay cảm thấy rất khó chịu.  Mặt khác, tôi thấy rõ rằng việc đó phải được thực hiện, mặc dù  trước mặt vợ và con gái ”.

 Tuy nhiên, Yaalon không hối tiếc.  Ông gọi hoạt động này là “cú đánh hoàn hảo” và nói thêm, với thái độ giễu cợt đặc trưng, ​​“Tôi không hiểu tại sao họ nói chúng tôi, Israel, lại thua trong cuộc chiến tranh giành tâm trí.  Nếu tôi đặt một viên đạn vào giữa mắt Abu Jihad, ngay giữa tâm trí ông ta, điều đó không có nghĩa là tôi đã thắng sao? “

__

TẤT CẢ NGƯỜI ISRAEL ĐÃ CHẠY THOÁT khỏi Tunisia mà không hề hấn gì.  Cảnh sát địa phương đang bận rộn đối phó với nhiều báo cáo đánh lừa do các đặc nhiệm Caesarea trình báo về một đoàn xe đang chạy đua từ khu phố của Abu Jihad đến trung tâm thành phố Tunis — chính xác là hướng ngược lại với hướng bọn sát thủ rút lui.  Cảnh sát lập chốt chặn và khám xét hàng chục ô tô.  Ba giờ sau, họ tìm thấy những chiếc Volkswagen và Peugeot cho thuê bị bỏ lại trên bãi biển.

 Chiều hôm sau, Shamir được một phóng viên hỏi về sự tham gia của Israel trong vụ giết người có mục tiêu.  “Tôi đã nghe tin đó,” ông nói một cách khô khan, “trên đài phát thanh.”

 Abu Jihad được chôn cất vài ngày sau đó, với các vinh dự quân sự.  Ông được phong tặng là một thánh tử đạo.  Yasser Arafat đi sau quan tài cùng với góa phụ, Intisar, và con trai cả của bà, Jihad.

 Vào thời điểm đó, người Israel coi việc tiêu diệt Abu Jihad là một thành công to lớn.  “Sau đó Rabin cảm ơn tôi vì đã thuyết phục ông ấy,” Moshe Nissim nói.  “Bạn không thể đoán được mình đã đúng như thế nào,” ông ấy nói với tôi.  ‘Mọi người cổ vũ tôi, bắt tay tôi và ủng hộ tôi.  Thật là một niềm vui sướng cho dân tộc!  Thật là một nỗi phấn khích, điều đó thật đúng đắn biết bao cho lực lượng ngăn chặn của chúng tôi.’”

 Thật vậy, cái chết của Abu Jihad là một đòn giáng nặng nề đối với PLO.  Abu Jihad là một thủ lĩnh dày dạn và sắc sảo, và không có ông ta, Fatah chỉ thực hiện các cuộc tấn công thành công ít hơn nhiều nhằm vào Israel.

 Nhưng lý do sát sườn, được tuyên bố để giết ông ta là để làm nản lòng phong trào Intifada — thì về phương diện đó, vụ ám sát đã không đạt được mục đích.  Trên thực tế, việc giết người có mục tiêu chính xác đã có tác dụng ngược lại: Việc loại bỏ Abu Jihad đã làm suy yếu rất nhiều sự lãnh đạo của PLO nhưng đã hỗ trợ các Ủy ban Bình dân ở các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, vốn là những người lãnh đạo thực sự của cuộc nổi dậy.  Và Israel vẫn không có phản hồi trước làn sóng phản đối hay làn sóng lên án ngày càng tăng của quốc tế.

 Với lợi ích của nhận thức giờ đã muộn màng, nhiều người Israel đã tham gia vào chiến dịch này lấy làm hối tiếc.  Một số người tin rằng sự hiện diện mạnh mẽ của Abu Jihad có tác dụng kiềm chế và làm tỉnh táo Arafat và tiếng nói của ông ta sẽ rất có lợi sau khi Chính quyền Quốc gia Palestine được thành lập vào năm 1994. Nếu Abu Jihad lôi cuốn vốn được yêu mến còn sống, Hamas đã không thể củng cố được vị trí của mình và thống trị một bộ phận lớn công chúng Palestine.

 Amnon Lipkin-Shahak, người đứng đầu AMAN vào thời điểm xảy ra vụ ám sát, và sau này là Tổng tham mưu trưởng, nói rằng trong một tình huống lý tưởng, “nếu chúng tôi biết rằng một thời gian ngắn sau khi Abu Jihad bị tiêu diệt, PLO sẽ  theo đuổi lộ trình ngoại giao, thế thì có lẽ chúng tôi sẽ đột kích vào nhà của ông ta và trước hết hỏi chuyện ông về thái độ của ông  đối với một thỏa hiệp hòa bình với Israel, và chỉ sau đó mới quyết định có giết ông ta hay không.  Nhìn lại, sự vắng mặt của ông ấy thực sự có thể cảm nhận được ở một mức độ nhất định.  Ông ấy lẽ ra có thể đóng góp đáng kể vào tiến trình hòa bình ”.

Trong phòng chỉ huy cho vụ giết người với mục tiêu là  Abu Jihad: Ehud Barak (ngồi, bên trái) và Yiftach Reicher (ngồi, tay cầm điện thoại).

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s