Bí ẩn hai nhóm dân bản địa châu Âu thời Đồ Đá Mới

1

Hình: “Vòng tròn đá ở Orkney là hình mẫu cho các vòng tròn đá trên đảo quốc Anh”. Những tấm đá dựng đứng Stenness ở Orkney, khoảng 3.100 BC, Scotland.

Lê Quỳnh Ba biên tập.

Vào thời kỳ xa xưa, con người dựng lên những cột đá tại một số nơi trên thế giới. Những cột đá bí ẩn này đến từ đâu, và dùng để làm gì.

PHẦN 1

Nhiều di tích thời tiền sử nằm sâu dưới đất từ hàng nghìn năm qua, chúng được đem chôn vùi 1 cách có ý bởi người xây dựng. Một số bị lộ ra ngoài do gió và sóng. Từ đó những công trình vô giá này mới được chúng ta biết đến. Công trình cự thạch là những công trình đá được dựng lên do con người trước Kim Tự tháp rất lâu. Đó là kỹ thuật biểu tượng cho sự vĩnh cửu. Chúng ta tìm thấy rất nhiều cự thạch tại nhiều nơi trên thế giới. Rất nhiều nơi được cho là có ý nghĩa như nhau. Ở Malta biểu tượng được xây dựng như 1 đền thờ. “Vị trí địa lý đặc biệt và đặc tính đồ sộ của những cấu trúc này cho thấy nó dựng lên không phải vì mục đích sinh hoạt bình thường mà là với mục đích văn hóa”. Ở phía Bắc Scotland còn có những cự thạch cổ đại hơn vòng đá Stonehenge nổi tiếng ở Anh. “Sự đặc biệt của vùng đất chôn giấu nhiều di tích khảo cổ. Chúng tôi đều có phát hiện mỗi hàng năm nhất là trong lúc đào đất”. Dần dần các cuộc khai quật đã phát hiện ở đó một thứ quan trọng của lịch sử của nhân loại.

Người săn bắn hái lượm chuyển sang sống nông nghiệp định cư ở Tiểu Á:

Châu Âu đã có những người săn bắn hái lượm định cư từ 1 cuộc cách mạng nổ ra cách đây 12.000 năm. Hermann Parzinger, Nhà Tiền Sử học, Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Phổ: “Chặng đường từ khi con người còn săn bắn hái lượm cho đến xã hội nông nghiệp định cư là 1 cuộc cách mạng sâu sắc đối với nhân loại. Con người đã sống bằng săn bắn hái lượm trong suốt hàng triệu năm và họ đã thay đổi cách sống đột ngột. Đó là 1 sự thay đổi sâu sắc hơn là sự chuyển sang kỷ nguyên Kỹ thuật số hay kỷ nguyên Công nghiệp”.

2

Hình: Khu vực của vùng Lưỡi liềm Màu mỡ, khoảng năm 7.500 BC, với các địa điểm chính. Göbekli Tepe là một trong những địa điểm quan trọng của thời kỳ đồ đá trước thời đồ gốm. Khu vực Mesopotamia thuận lợi chưa được con người định cư.

Ngọn đồi ở Anatolia, nam Thổ Nhĩ Kỳ, nhà khảo cổ học người Đức Klaus Schmidt là người đầu tiên khai quật ở đây vào năm 1994. Ngọn đồi này chứa đựng rất nhiều vòng tròn bằng đá khối, những cột đá nặng đến 20 tấn và được trang trí bằng những hình nổi tuyệt vời. Nhà khảo cổ học người Áo Barbara Horejs đã tham gia vào cuộc khai quật ở Göbekli Tepe. Barbara Horejs, Học viện Khoa học Áo: “Những kiến trúc mang tính biểu tượng là những khám phá khảo cổ to lớn, nó có thể là khám phá quan trọng của thế giới, nó cũng tượng trưng cho giai đoạn đầu thời kỳ Đồ đá Mới”. Toàn bộ kiến trúc ở Göbekli Tepe được xây dựng bởi người săn bắn hái lượm trước khi con người định cư. Những phát hiện này làm đảo lộn sự hiểu biết. Barbara Horejs: “Ở Göbekli Tepe  người ta phát hiện ra 1 nền văn minh, 1 xã hội mà ta chưa biết gì cả, đó là 1 xã hội rất cổ xưa. Bức điêu khắc hình con sư sử đang nhảy biểu hiện sự đe dọa và đó cũng là thông điệp mà những ngừơi xây dựng ở Göbekli Tepe  muốn gởi gắm từ cách đây 12.000 năm”. Vào thời tiền sử, các hiện tượng siêu nhiên luôn đi kèm với sinh hoạt hàng ngày. Nhưng ngày nay, tầm mắt của con người đã thay đổi rất nhiều. Sếu có thể là biểu tượng của không khí nối liền mặt đất và bầu trời. Bọ cánh cứng và rắn cũng xuất hiện rất nhiều trong những câu chuyện thần thoại. Người tiền sử sống trong thế giới của các loài vật tràn đầy năng lượng. Họ không có khái niệm gì về thế giới đang sống và thế giới bên kia, hơn nữa hệ tư tưởng của họ vẫn còn là 1 bí ẩn. Quan niệm về giới tính cũng rất phức tạp ở Göbekli Tepe, họ chỉ dựa vào quy ước. Có nhiều hình ảnh đại diện cho phái nữ chỉ được gửi ra sau đó. Barbara Horejs: “Người ta suy diễn rằng phụ nữ không đóng vai trò trung tâm trong mối quan hệ tương hỗ này”.

 Nhóm khảo cổ khai quật ngọn đồi này chỉ làm lộ ra một phần của Thánh địa này nhưng họ biết chắc chắn rằng làm thế nào mà chúng được chôn xuống dưới mặt đất. Thế hệ con người định cư đầu tiên đã chôn xuống đất rất nhiều cấu trúc, nhưng họ phủ đất lên và che dấu chúng hoàn toàn. Barbara Horejs: “Bằng cách đó họ cấm dùng những vật liệu này nhưng họ muốn gìn giữ kỷ niệm đó trong thời gian rất dài và như thế không phải mà ngẫu nhiên ngọn đồi này bị bỏ hoang trong suốt hàng nghìn năm”. Thế hệ con người định cư đầu tiên đã chôn những cột đá lớn mang ý nghĩa rằng họ muốn đưa ra tư tưởng của những người đi trước. Con người đã định cư vào địa điểm này đã mất đi ý nghĩa ban đầu của nó.

Thời Đồ Đá Mới ở Áo:

Bảo tàng Tiền sử Halle ở Đức (Vnserer Vorzeit) dành cho thời kỳ này. Đối với Giám đốc Viện Bảo tàng Harald Meller, sự định cư là giai đoạn quyết định trong lịch sử loài người. Giám Đốc Harald Meller, Bảo tàng Tiền sử tỉnh Halle (The Halle State Museum of Prehistory): “Cuộc Cách mạng Đồ Đá Mới là bước ngoặc quan trọng trong lịch sử nhân loại. Chúng ta có thể thấy ở đây hàng nghìn chiếc rìu bằng đá được làm từ thời Đồ Đá Mới. Chính xác là 3.800 chiếc rìu”. Những chiếc rìu này dùng để làm gì. Dụng cụ này dùng để phá rừng và trồng trọt trên đất. Rìu cũng dùng để chẻ gỗ và đặc biệt dùng để xây dựng nơi ở phức tạp bởi lúc này con người đã định cư. Người săn bắt hái lượm có thể ở lại trong nhiều năm tại cùng 1 nơi nếu như nguồn thức ăn còn dồi dào. Nhưng người ta cũng chưa thể nói đó thực sự là định cư. Cuộc định cư thời Đồ Đá Mới là 1 việc khác.

Giám Đốc Harald Meller: “Việc định cư con người chủ yếu do nguồn thức ăn, con người sống bằng săn bắt hái lượm kéo dài trong hàng nghìn năm. Cách sống này phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn thức ăn tự nhiên. Họ có rất ít con cái, bởi phụ nữ rất khó thụ thai khi họ di chuyển nhiều. Sự phát minh hay sự xuất hiện sản xuất nông nghiệp đã dẫn đến sự thay đổi tận gốc cung cấp nguồn lương thực cho con người”. Ngũ cốc cung cấp nguồn tinh bột dồi dào, trong khi đó đàn gia súc cung cấp mỡ và thịt. “Nhờ có lựơng mỡ dự trữ từ nguồn thức ăn, phụ nữ có thể sinh sản mỗi năm và dân số phát triển bùng nổ. Và quả bom dân số chính là phát minh của thời Đồ Đá Mới. Sau đó cứ tiếp diễn dẫn đến vấn đề lớn ngày nay với cấp độ nhanh”. Con người ngày càng đông đòi hỏi phải phân chia không gian sống, họ tập trung trong những khu dân cư cộng đồng hay trong những ngôi làng.

Các nhà khảo cổ thử dùng cách để tái hiện cuộc sống của tổ tiên 1 cách chân thực để nghiên cứu về kiến trúc và nghề thủ công của họ. Wolfgang Lobisser và Macco L., Khảo cổ học thực nghiệm, Đại học Viên,  giới thiệu với chúng ta công trình của họ. Macco mặc trang phục giống như thời tiền sử, 1 lọai vải lanh được phủ tới tận gót chân, và cố định bằng dây thắt lưng. Người ta giả định rằng người thời Đồ Đá Mới ăn mặc theo kiểu này. Áo dài như chúng ta đã biết xuất hiện 500 BC. Người ta cũng tưởng tượng ra đôi giày đơn giản bằng da thú và có thể vừa ngồi vừa mang vào chân. Hoàn hảo. Áo choàng của người thời Đồ Đá Mới được làm từ lông cừu chế biến thành len. Lấy lông 8 con để làm nên áo choàng của họ. Với trang phục này có thể bảo đảm sức khỏe của họ trong mùa đông, rất tiện lợi khi trời lạnh, cho phép bạn ở ngoài trời. Người thời Đồ Đá Mới biết dùng màu sắc để tô vẽ cho nơi ở và thực hiện các họa tiết trên cơ thể.

Các nhà khảo cổ đang cố gắng tái hiện các mảnh ghép cuộc sống thời tiền sử từ những di tích mà người ta phát hiện. Các nhà khảo cổ mê mẩn với các bức họa, những đồ gốm mang đậm dấu ấn của xã hội mà người ta đặt tên là nền văn minh hoàn chỉnh hay những trang trí trên đồ gốm của họ. Ví dụ như văn hóa Ruy băng, là những người sản xuất đồ gốm trên đó trang trí những dãi Ruy băng. Họ là xã hội nông nghiệp đầu tiên tại châu Âu, mộ phần của họ cũng chứa hàng nghìn thông tin đối với các nhà khảo cổ. Nó chứa đựng những vật dụng mai táng, nhưng nhiều nhất là những hài cốt của con người. Một chuyên gia sẽ lấy thông tin từ bộ xương, và sẽ nhận biết đâu là hài cốt được mai táng, đâu là mảnh xương bị thú vật gặm nhấm. Maria Tescher Nicola đã điều hành Khoa Nhân chủng học, Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên học Viên. Bà xem những bộ xương giống như người ta đọc sách. Maria Tescher Nicola: “Chúng tôi có thể phân biệt được những người bị thiếu vitamin hay bị stress điều đó giúp cho chúng tôi tái hiện điều kiện sống cũng như nguồn thực phẩm của người thời tiền sử. Chúng ta có thể nhận thấy triệu chứng thiếu máu trên hộp sọ hay dấu hiệu thiếu vitamin C trên vài hộp sọ hay xương hàm. Nếu chúng ta khảo sát có hệ thống trên toàn bộ dân cư chứ không phải trên 1 bộ xương riêng rẽ, chúng tôi có thể tái hiện cuộc sống và công việc người tiền sử”.

Cư dân ở Tây Bắc Tiểu Á là tổ tiên của toàn bộ người Thời kỳ Đồ Đá Mới khắp châu Âu:

Niên đại của các di tích này thuộc vào giai đoạn quan trọng, xét nghiệm đồng vị C14 cho phép những bước tiến lớn, và từ 20 năm qua việc phân tích gen đã làm thay đổi ngành khảo cổ. Ngày nay người ta có thể phân tích các mẫu ADN người hay động vật có từ hàng nghìn năm trước. Nghiên cứu về ADN của gia súc cũng cung cấp những thông số về sự phân bổ các trang trại của con người Thời kỳ Đồ Đá Mới. Joachim Burger là chuyên gia sinh học phân tử. Joachim Burger, Nhà Di truyền học Dân số và Nhân chủng học, Đại học Johannes Gutenberg, Mainz: “Những phân tích đầu tiên về ADN của động vật được thuần dưỡng cho thấy những con bò sữa Iran chính là tổ tiên của toàn bộ bò sữa châu Âu. Các giống vật nuôi mà chúng ta nhìn thấy ngày nay ở Thụy Sĩ là thế hệ sau của các giống vật nuôi ở vùng Tiểu Á hay vùng Cận Đông. Những con bò sữa cũng di cư cùng các loài động vật khác. Người ta đặt câu hỏi con người không di cư có phải không? Khoảng 10 năm trở lại đây, người ta mới đưa ra kết luận rằng cư dân ở Tây Bắc Tiểu Á tức phía Tây Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay là tổ tiên của toàn bộ người Thời kỳ Đồ Đá Mới khắp châu Âu”.

Xương sọ là nguồn AND chính đối với các nhà nhân chủng học, nhưng người ta có ít vật liệu chứa gen còn lưu trữ sau hàng nghìn năm. Một mặt xượng sọ bị phân hủy rất nhanh tại những nơi có nhiệt độ cao, mặt khác chúng thường bị nhiễm bẩn bởi các mẫu vật có niên đại gần hơn, làm cho kết quả sai lệch. Mặc dù vậy, ngành di truyền học cũng mang lại những bước tiến quan trọng. Joachim Burger: “Khi phân tích bộ gen trong xương phát hiện ở Tây Bắc Thổ Nhĩ Kỳ phía nam Istanbul cho thấy người Thời kỳ Đồ Đá Mới ở Tây Ban Nha và ở Đức đều là hậu duệ của tộc người đến từ vùng Tiểu Á. Tuy nhiên 2 hậu duệ này đều không có mối liên hệ gì với nhau. Điều đó có nghĩa rằng vào thời kỳ Đồ Đá Mới xuất hiện 2 luồng di cư, một đi về Địa Trung Hải và một đi về vùng Balkan”. Và 2 luồng này phân bổ trên toàn châu Âu trong nhiều thế kỷ theo từng đợt nối tiếp nhau.

Trung tâm nghiên cứu Tuner ở Áo sở hữu nhiều từ phòng thí nghiệm phân tích. Maria Tescher Nicola đến đây để cộng tác với nhà hóa học Thomas Voska. Bà tìm cách tái hiện lại cuộc di cư của người Thời kỳ Đồ Đá Mới. Maria Tescher Nicola: “Ngày nay chúng tôi áp dụng nhiều biện pháp phân tích hiệu quả hơn so với cách đây 20 năm. Trong ngành khảo cổ người ta áp dụng phương pháp xét nghiệm đồng vị từ 15 năm qua để tái hiện lại sự thay đổi nơi ở, sự di chuyển của cư dân thời tiền sử”. Nhà hóa học phân tích 1 chiếc răng có niên đại 5.000 năm, thành phần men răng không thay đổi từ khi còn nhỏ, nó có thể cho những thông tin về khu vực sống của chủ thể. Người ta cũng sử dụng phương pháp này để kiểm tra thức ăn để xác định nguồn gốc của chúng, ví dụ như phân tích đồng vị cho phép xác định nguồn gốc hay xuất xứ của tất cả sinh vật sống như động vật hay thực vật kể cả con người. Maria Tescher Nicola: “Kết quả phân tích khẳng định đã có 1 sự di cư và không đơn giản chỉ là giao tiếp về văn hóa truyền bá tư tưởng và sau đó những người di cư này định cư tại châu Âu. Người ta tìm thấy rất ít dấu vết người săn bắn hái lượm sinh sống ở châu Âu trong hàng nghìn năm trước sự định cư của người Thời Đồ Đá Mới. Chắc chắn họ đã bị xua đuổi hoặc đồng hóa bởi nhóm người mới đến hay nói cách khác cư dân chính thống của châu Âu đã biến mất khi dòng người di cư đến từ vùng Cận Đông”.

Nguyên nhân của dòng di cư Thời Đồ Đá Mới:

Nhưng gì đã thu hút những người Cận Đông tìm tới phương Tây? Hermann Parzinger, Nhà Tiền Sử học: “Nguyên nhân thúc đẩy con người rời khỏi vùng đất của mình thường rất mơ hồ. Tôi không nghĩ rằng nó có liên quan đến vấn đề dân số, bởi trong thời kỳ lạc hậu đó, mật độ dân số vẫn còn ở mức rất thấp so với ngày nay. Có nghĩa là họ muốn khai phá vùng đất mới mà người ta nghe nói vào thời kỳ đó. Có thể đã có những sự tiếp xúc bởi nhóm người tách biệt đã đi về phương Tây và sau đó quay trở lại. Đó chỉ là sự suy đoán, nhưng trong đó chắc chắn có liên quan đến bản chất tò mò của con người”.

 

Người săn bắt hái lượm vượt biển vào thời đó cũng giống như ta đi trên đất liền. Một số người ở khu vực Tiểu Á tìm cách đi về phương Tây bằng tàu thuyền, họ có dùng buồm hay không thì rất khó nói nhưng thuyền có mái chèo thì rất dễ vận hành. Những người thám hiểm dần dần tràn sang Địa Trung Hải, một số dừng chân tại Malta.

Những ngôi đền ở đảo Malta:

3

Hình: Toàn cảnh đền thời Đồ Đá Hagar Qim, khoảng 3.200 BC, đảo Malta.

Nằm cách đảo Sizil 80 km, quần đảo Malta ngày nay bao gồm 3 đảo có người sinh sống. Đó là Malta, Gozo và Comino. Vào ngày trời trong người ta có thể nhìn Sizil từ bờ biển, vì thế người ta đặt giả thiết rằng cư dân Sizil cảm thấy tò mò vùng đất mà họ nhìn thấy từ chân trời. Timmy Gambin, Nhà Khảo cổ học, Đại Học Malta: “Thật khó để hiểu rằng tại sao họ rời bỏ vùng đất phì nhiêu hơn như Sizil để tìm đến nơi xa xôi như thế”.

Người dân vùng Tiểu Á đi thành từng nhóm tiên phong, trinh sát và sau đó là cả bộ tộc đi theo. Những ngôi đền cự thạch xây dựng khoảng 2.000 năm sau khi người đầu tiên đến định cư. Ngày nay những công trình xây dựng đồ sộ này, đặt ra nhiều câu hỏi không có lời giải. Những khối đá to lớn nặng đến 20 tấn này có khả năng biến thành bụi bặm trước khi bí ẩn được làm sáng tỏ. Timmy Gambin cố gắng chụp lại hình ảnh của chúng để cứu vãn những gì còn có thể. Trên màn hình máy tính, ông là hồ sơ hình ảnh những ngôi đền Malta bằng hình ảnh 3D để lưu giữ những dấu vết dù nhỏ nhất. Những đó là cuộc chạy đua với thời gian. Thật khó tưởng tượng được là có sự xuất hiện của xói mòn diễn ra nhanh chóng trong 70 năm qua lại bằng cả thời gian của 45 thế kỷ trước. Timmy Gambin: “Đó không chỉ là những ngôi đền này bị đưa ra ánh sáng mà còn do những cơn mưa acid, nồng độ CO2 tăng lên. Vấn đề ô nhiễm của thời đại làm tăng nhanh quá trình xói mòn”. Ở quần đảo Malta, các di tích của ngôi đền Hagar Qim thu hút rất nhiều khách đến tham quan. Người ta dựng lên những tấm bạt bảo vệ chúng khỏi tác động của mặt trời, nước mưa và gió. Timmy Gambin: “Ngôi đền này có sự pha trộn với các vòng tròn bằng đá ở Stonhenge. Điều đó rất quan trọng với Malta, vùng đất từng là thuộc địa của Anh. Bởi vì, điều đó có nghĩa là thời kỳ Đồ Đá Mới có trước khoảng 1.000 năm so với thời kỳ các thế lực thống trị châu Âu. Và theo 1 cách thức nào đó thì những công trình lớn cũng mang tầm vóc chính trị”.

Những người ở thời kỳ Đồ Đá Mới xây nên những công trình đồ sộ với mong ước điều gì? Chắc chắn họ muốn có đời sống đầy đủ hơn, tránh xa nạn đói và bệnh tật. Timmy Gambin: “Để đạt được thế họ phải tôn trọng các vị thần. Và 1 trong những cách đó là phải xây dựng những đền đài”. Vì thế các ngôi đền như Hagar Qim  không chỉ là công trình xây dựng đơn thuần, người ta có thể mô tả những ngôi đền và tái tạo lại chúng. Nhưng người ta vẫn còn mơ hồ về chức năng của chúng và về những nghi lễ có thể diễn ra sau đó. Có những điều đã được công nhận và có những điều còn chưa rõ ràng.

PHẦN 2

Những người làm nông trại ở Tiểu Á lên đường sang châu Âu, không phải tất cả đều dừng lại ở Malta, một số tiếp tục lên đường đến bán đảo Iberia và định cư ở Anh. Bờ biển với viền đá hàng trăm km cung cấp cho họ hàng tấn vật liệu xây dựng. Vì ấn tượng với các loại đá lớn ở đây họ đã xây dựng nên 1 nền văn minh mang 1 trong những bí ẩn nhất của thời kỳ Đồ Đá Mới.

Những ngôi đền bằng cự thạch ở Malta là duy nhất trên thế giới, nhưng những đường cự thạch thẳng ở Carnac mới là di tích đặc biệt hơn cả. Nước Anh cũng sở hữu nhiều cự thạch đến nỗi người dân ở Breton đã sáng tạo ra những từ ngữ để gọi chúng. Menhir có nghĩa là đá dài, dolmen là mộ đá. Dolmen là công trình lăng mộ bao 1 tấm đá đặt nằm trên những cột đá. Rất nhiều nhà khảo cổ ấn tượng với những di tích kỳ lạ này (các hàng đá) của thời tiền sử. Serge Cassen, Nhà Khảo cổ học, Đại học Nantes là 1 trong số họ. Serge Cassen: “Sự thật thì vẻ bề ngoài của các di tích đó đặc biệt ấn tượng khi viếng thăm Carnac. Du khách tò mò về sự thông minh đáng kinh ngạc của các nhà kiến trúc. Họ áp đặt trí tưởng tượng của mình vào công trình dù rằng đó là những chi tiết nhỏ nhất”. Những hàng đá ở Carnac ngày hôm nay vẫn còn trãi dài 3 km, ngày xưa chúng bao phủ 1 diện tích lớn hơn nhiều. Những tảng đá hoàn toàn khác nhau và chứa đựng 1 bí mật riêng. Cự thạch ở Carnac có phải là sự biểu dương sức mạnh hay không? Dấu ấn của thế lực siêu nhiên hay đơn giản chỉ là bia mộ. Giả thiết có rất nhiều. Serge Cassen: “Đó không phải là kiến trúc mảng hay kiến trúc trong nhà. Người ta chưa xác định được chức năng thực sự của nó nhưng có 1 điều khẳng định rằng nó mang yếu tố của kiến trúc”.

Các hàng đá xuất phát từ bờ biển và đi sâu vào đất liền, điều đó có biểu thị 1 trực tuyến, 1 con đừơng, nếu đúng thì nó dẫn đến đâu? Hermann Parzinger: “Carnac đã cho chúng ta dáng vẻ của tất cả công trình cự thạch. Đó là cấu trúc và bố trí không gian giúp ta nhìn thấy rõ những tảng đá được xếp đặt theo những đường thẳng trong không gian với mục đích tôn giáo”.

Chúng ta tìm thấy cự thạch trên nhiều hòn đảo của Địa Trung Hải, dọc theo bờ Đại Tây Dương cho đến tận các hòn đảo của nước Anh. Chúng ta cũng tìm thấy chúng trên bờ biển Bắc và bờ biển Baltic, nhưng không có phiên bản cự thạch nào ở Hungari, ở Áo hay ở miền nam Đức, những nơi mà người di cư có thể đến bằng đường bộ. Tại sao lại thế? Joachim Burger: “Ngay khi người dân thời kỳ Đồ Đá Mới rời vùng Tiểu Á, thì sự đa dạng văn hóa đã giảm đi đáng kể, những người đến châu Âu theo đường Balkan là những người làm trang trại, họ là những người có chuyên môn và năng lực cao. Nhưng đó không phải là tầng lớp giàu có nhất”. Barbara Horejs: “Nếu chúng ta khoanh vùng những khu vực tùy theo niên đại giữa Croat và Áo có 1 khoảng thời gian chênh lệch 5.000 năm”.

Diện tích băng đã thu hẹp kể từ cuối kỷ Băng hà để lại những sườn núi đầy đá và những tảng đá trôi dạt nhiều nơi ở châu Âu. Những khu vực tương ứng miền đông nước Áo hiện nay, những người di cư tìm thấy vùng đất phì nhiêu nhưng không có đá. Họ phải sử dụng vật liệu khác để xây dựng. Trong những năm 1980 đã tiết lộ những điều bất thường của vòng đất hình tròn ở vùng châu thổ sông Danube. Wolfgang Neubauer, nhà Khảo cổ học, Viện Ludwig Boltzmann, Viên: “Những bức ảnh lần đầu tiên từ không gian khám phá ra rằng đó là những công trình cổ có niên đại 6.500 năm. Người ta chưa biết nguyên nhân vì sao chúng không còn được sử dụng. Có rất nhiều tranh cãi về vấn đề này vào những năm 1980, một số người tưởng tượng đó là kiến trúc, 1 điểm tập trung. Số khác cho đó là đền đài hay nơi lưu giữ súc vật”.

Wolfgang Neubauer sử dụng radar để quét các lớp dưới đất. Ông có thể khai quật các di tích dưới lòng đất trên 1 diện tích trãi rộng mà không cần phải thử bất kỳ nhát cuốc nào. Trên châu thổ sông Danube cuộc khảo sát cho thấy sự hiện diện của những cái hố rộng và hàng rào. Wolfgang Neubauer đã đi khắp thế giới với cái máy của mình. Ở Stonhenge ông đã phát hiện bên cạnh những vòng tròn đá một kiểu kiến trúc mới. Những vòng tròn thời tiền sử ở Áo chỉ có thể thấy từ bầu trời vào 1 số mùa trong năm và có nguy cơ bị xói mòn. Wolfgang Neubauer đã phát hiện khoảng 40 chiếc hố hình tròn ở Tây Bắc nước Áo. Trong đó có 1 các hố ở vùng phụ cận Idenburg.

Wolfgang Neubauer: “Khi chúng tối tiến đến gần lối vào vòng tròn, hố được đào sâu 4 m, đó là cái hố ấn tượng nhất mà chúng tôi có thể đi vào. Vòng tròn này không những có thể thấy từ trên cao và máy quét trên cao radar mà có thể nhìn thấy từ mặt đất. Những người xây dựng vòng tròn này với mục đích nhằm che chắn tầm nhìn từ bên ngoài, những gì diễn ra bên trong không thể bị nhìn thấy từ bên ngoài. Sự dẫn âm cũng rất đặc biệt, dọc theo tường rào từ bên ngoài người ta có thể nghe hết âm thanh từ bên trong”. Những nơi đặc biệt này có nhiều chức năng như xây dựng cho các công trình tập thể gắn kết cộng đồng.

Vào năm 2005, Wolfgang Lobisser và nhóm nghiên cứu đã tái tạo 1 chiếc hố hình tròn gần Idenburg. Họ chỉ sử dụng đá và các vật liệu sẵn có của thời tiền sử như gỗ, nước và dây thừng làm từ thực vật. Họ xây dựng 1 ngôi làng cho khoảng 200 dân cư, trong đó trang bị 1 chiếc hố hình tròn. Cần phải có khoảng có 30 nhân công làm việc trong vòng 2 – 3 năm, cộng với công việc đồng áng. Thêm vào đó là công trình dự bị mất nhiều thời gian vì phải chế tạo từng dụng cụ. Wolfgang Lobisser: “Chúng tôi phải chế ra chiếc rìu giống như những chiếc mà chúng tôi khai quật trong vùng. Các kiến thức khảo cổ cho thấy, dụng cụ này dùng để thao tác trên gỗ. Dụng cụ này có cán làm bằng gỗ hay nhánh cây, lưỡi rìu được cố định bằng sợi dây cuốn làm từ vỏ cây”. Vào thời tiền sử 1 vài nhiệm vụ được thực hiện bởi những người có chuyên môn nhưng khi đó vẫn chưa có nghề nghiệp theo kiểu hiện đại. Các kiến thức được truyền miệng từ đời này sang đời khác. Wolfgang Lobisser: “Các công cụ thời kỳ Đồ Đá Mới không cho phép thao tác trên gỗ khô, người ta chỉ thao tác trên gỗ tươi vừa mới chặt về. Cây sồi trên 1 năm tuổi là không sử dụng được”. Các nhà khảo cổ đã xây dựng nơi ở theo sơ đồ được nhìn thấy trên ảnh radar.

Từ những phân tích mặt đất cho thấy những loại cây thường mọc trong vùng. Về kỹ thuật xây dựng, Wolfgang Lobisser học theo cách thức xây dựng ngày nay của dân du mục. Wolfgang Lobisser: “Để xây dựng nơi ở theo kiểu này cần phải có 12.000 – 16.000 mét dây thừng. Để có được số đó chúng tôi phải gom nhặt trong lúc chặt gỗ. Theo tính toán thì 1 gia đình phải mất 3 – 4 mùa đông làm ra đủ số lượng dây thừng từ vỏ cây. Tôi cũng bỏ ra 1 ngày để chế tạo ra 1 ngày để chế tạo dây thừng theo kiểu này. Hôm sau tôi cảm thấy ngón tay tê mỏi và kết quả chỉ làm làm 26 mét dây mà thôi”.

Một ngày giới khảo cổ giới thiệu với công chúng nghề thủ công của dân thời kỳ Đồ Đá Mới trong ngôi làng nhỏ ở Idenburg. Những ngôi nhà này được thiết kế để có thể sử dụng lâu dài. Wolfgang Lobisser: “Chúng tôi đánh giá ngôi nhà có thể sử dụng trong thời gian 50 năm. Điều đó phù hợp với những dữ liệu chúng tôi nhận được”. May mắn là trong những khu vực khác, người thợ thời kỳ Đồ Đá Mới đã để lại nhiều công trình đá hé lộ nhiều thông tin. Bắt đầu bằng nơi có người sinh sống.

Mộ cự thạch ở Đan Mạch và phía bắc Đức:

Có rất nhiều mộ phần ở Đan Mạch và phía bắc Đức, có đến 500 ngôi mộ. Chúng ta sẽ nghiên cứu chúng dần dần. Những kiến trúc bằng đá này trãi qua thời gian rất dài và được sử dụng rất nhiều trong hàng thế kỷ. Các ngôi mộ làm bằng cự thạch là nơi có thể danh tính, con người tìm cách khẳng định chính mình, theo kiểu này con người tạo dấu ấn riêng đối với những người cùng thời. Chính xác những ngôi mộ hé lộ nhiều thông tin về xã hội và sự liên kết của nó. “Những ngôi mộ bằng cự thạch nằm trong khu mộ tập thể mở rộng, nơi ngừơi ta chôn cất nhiều người nhưng cũng lưu giữ danh tính từng người chết”. Vào đầu thời kỳ Đồ Đá Mới người ta thường bỏ qua cá nhân, những người tôn kính nhất có quyền phân phối của cải. Theo dòng thời gian các sản phẩm gốm sứ được hoàn thiện tinh tế hơn, cái chén sứ này được khai quật trong ngôi mộ ở Luderson, bắc Đức. Các lễ vật và đồ dùng trong tang lễ không chỉ cho chúng ta biết về xã hội thời kỳ Đồ Đá Mới  và quan niệm của họ về cái chết mà còn mối quan niệm với giới tính. Harald Meller: “Trong các ngôi mộ đồ dùng và lễ vật cho phụ nữ thì nhiều hơn và tốt hơn so với đàn ông”. Nhưng các vật dụng trong tang lễ chưa hé lộ hoàn toàn về vai trò chuyển giao của người phụ nữ trong thời Đồ Đá Mới. Những ngôi mộ có khả năng thách thức với thời gian và lưu giữ mãi mãi kỷ vật của người chết. Hermann Parzinger: “Đá là vật liệu đầu tiên người ta dùng để kiến thiết tốt nhất cho đền đài cũng như những ngôi mộ. Những công trình không làm bằng đá mà bằng gỗ, không lưu giữ nhiều di tích, và chúng ta không thể hình dung sự hoành tráng của công trình, nhưng với đá người ta thấy ấn tượng về các công trình nhất là các công trình bằng cự thạch”.

Cự thạch trên đảo Orkney, Bắc Scotland

4

Hình: Phân bố “menhir” ở châu Âu.

Ở phía Bắc Scotland người ta phát hiện trên đảo Orkney những di tích cự thạch rất phong phú. Nick Card điều hành công trình khai quật mở vào 2002. Nick Card, Nhà Khảo cổ học, Đại học Cao nguyên và Đảo Scotland: “Chúng ta chỉ thấy được phần nổi của tảng băng trôi tồn tại cách đây 5.000 năm. Chúng ta bị hấp dẫn bởi những công trình dựng thẳng đứng, nhưng trong 10 năm qua Trường Đại học Cao nguyên và Đảo và chính quyền đã tổ chức công trình nghiên cứu rộng lớn về địa vật lý và người ta phát hiện những khu vực ngày xưa tập trung nhiều công trình xây dựng”. Người ta phát hiện những khu thánh địa, những khu dân cư và những ngôi mộ và vô số di tích thời Đồ Đá Mới ở Orkney, duy nhất trên thế giới. Cao quý nhất trong số đó là những ngôi mộ ở Latcow.

Xa hơn về phía Tây là những tấm đá dựng Stenness là những vòng tròn đá cổ xưa nhất trên Đảo quốc sương mù. Xa hơn 150 m là ngôi làng Barnhorse. Watch stone là tên 1 phiến đá cao hơn 5 m đứng chắn lối vào của bán đảo. Và cuối cùng thì nơi bán đảo này vươn ra là những đền thờ lớn nhất thời Đồ Đá Mới được biết đến cho đến nay. Một địa điểm quan trọng của thời Đồ Đá Mới khác cũng được phát hiện gần đó trên bờ Đại Tây dương. Đó là ngôi làng Skara Brae. Phần lớn của địa điểm này được bao bọc lại để chống xói mòn tự nhiên, và lối vào của nó bị cấm trừ các nhà khảo cổ. Nick Card: “Người thời Đồ Đá Mới không khác chúng ta họ có những vật dụng mà chúng ta tìm thấy trong ngôi nhà hiện đại, ngoại trừ điện và nước. Bếp núc, giường chõng, các giá đỡ. Những ngôi nhà nhỏ đầy đủ vật dụng và thoáng gió, mái nhà bằng cây cỏ chống được cái lạnh”. Cuộc sống người thời Đồ Đá Mới ở Orkney có lẽ từng rất tốt đẹp, các nhà khảo cổ cho đến giờ chưa tìm thấy bất cứ dấu vết nào của chiến tranh hay thiên tai. Những hòn đảo nhiều cây cối nhất ngày nay được hưởng khí hậu đặc biệt ôn hòa nhờ vào dòng hải lưu Gulf Stream. Khí hậu nơi này từng rất tuyệt vời cho nông nghiệp và ngư nghiệp. Nick Card: “Vào thời Đồ Đá Mới Orkney đóng vai trò quyết định đối với nhiều khu vực khác, một mặt nó tìm các vật liệu chuyển về từ Anh, mặc khác nó có vẻ là nơi khởi nguồn các ý tưởng quan trọng của thời tiền sử trên đảo quốc Anh”. Vòng tròn đá ở Orkney là hình mẫu cho các vòng tròn đá trên đảo quốc Anh.

Con đường di cư thời tiền sử

Ngày nay người ta có thể vẽ lại con đường di cư. Một vài mẫu răng hay xương mang ADN còn nguyên vẹn cho phép thiết lập mối quan hệ họ hàng trong suốt hàng nghìn năm. Người ta cũng thiết lập được cư dân thời Đồ Đá Mới ở châu Âu là hậu duệ của dân tộc Tiểu Á cổ xưa, nhưng đó chưa phải là tất cả. Joachim Burger: “Trong giai đoạn thứ 2 chúng tôi đã phân tích gen của người Iran sinh sống giữa vùng Bán nguyệt màu mỡ, và chúng tôi nhận thấy rằng mắt xích di cư đã bị cắt đứt ở đó bởi phần đất giữa Tây Tiểu Á và Tây Iran được định cư bởi 2 tộc người hoàn toàn khác nhau. Chúng tôi tính toán được rằng họ bị tách biệt trong suốt 50 – 70.000 năm tức thời gian mà người Hiện đại rời khỏi châu Phi. Hai nhóm người này đã tham gia vào cuộc cách mạng thời Đồ Đá Mới  đó là sự kết hợp giữa định cư và làm nông nghiệp, xây dựng nơi ở nhưng theo cách thức hoàn toàn khác nhau. Đến bây giờ người ta nghĩ rằng nhóm đầu tiên lên đường sang châu Âu, trong khi nhóm thứ 2 định cư tại Nam Á đặc biệt là tại Afganistan, Ấn Độ”.

Cuộc cách mạng thời Đồ Đá Mới  truyền theo 2 con đường vừa có sự tương đồng nhưng cũng có sự khác biệt, 1 hướng về phương Tây, 1 hướng về phương Đông. Người ta tìm thấy công trình xây dựng bằng cự thạch trên toàn châu Á đặc biệt là tại bán đảo Triều Tiên. Tại đây các thiên thể đóng vai trò chủ đạo trong các câu chuyện thần thoại và con người đã khắc sâu các chòm sao vào cự thạch cho đến thời đại ngày nay. Không may là việc xác định niên đại gặp nhiều khó khăn bởi nhiều thời kỳ cùng hiện hữu trên 1 tảng đá. Khắp nơi người thời Đồ Đá Mới  sống trong hạnh phúc và hòa bình đánh dấu bằng những công trình xây dựng bằng gỗ, nhất là bằng đá. Dấu vết chiến tranh đầu tiên chỉ được nhìn thấy sau này. Mối quan hệ của con người thay đổi kể từ thời Đồ Đồng, con người ngày càng chú trọng đến lợi ích và quyền sở hữu vật chất, và thứ bậc xã hội cũng xuất hiện từ đó. Người ta tìm thấy những ngôi làng bị tàn phá hoàn toàn bởi nạn cướp bóc. Vào cuối thời thời Đồ Đá Mới bạo loạn bùng phát khắp nơi, con người trở thành những kẻ giết chóc. Harald Meller: “Phải biết rằng người săn bắt hái lượm không phải là những chiến binh, họ không bao giờ bị chết trong chiến tranh và không bao giờ có chiến tranh trong xã hội săn bắt hái lượm, chỉ có sự gây hấn mà thôi”. Người săn bắt hái lượm chỉ đấu tay đôi với nhau, không phải dân tộc với dân tộc. Hermann Parzinger: “Con người hầu như khi nào cũng có tính hung hăng khi nhóm người bên ngoài gặp nhóm người Đồ Đá Cũ bên trong, tôi không tin rằng họ nói chuyện 1 cách hữu hiệu với nhau, nhưng đó chỉ là giả thuyết, không có gì chính xác”.

Vào thời tiền sử thì mật độ dân số không thể so sánh với thời đại chúng ta ngày nay. Cự thạch biến mất vào thời đồ đồng, nên những công trình thời Đồ Đá Mới  còn giữ lại trong thời gian rất dài với nhiều chức năng. Rất nhiều di tích thời tiền sử còn được đem ra làm biểu tượng của nhà thờ. Đá cũng là vật liệu xây dựng tuyệt vời. Ngày nay các nhà thờ Thiên Giáo, nhà thờ Hồi giáo hay giáo đường Do Thái đã thay thế các ngôi đền của tổ tiên, con người sống tập trung theo tế bào gia đình nhỏ trong những ngôi làng lớn, sau đó trở thành thành phố, nhưng ngành nông nghiệp vẫn là ngành cơ bản cung cấp thức ăn cho họ.

PHẦN 3

Từ rất xa xưa con người đã xây dựng những công trình bằng đá khổng lồ. Vậy nguồn gốc của những công trình bằng đá này là gì? Chúng được dùng vào mục đích gì? Và con người đã di chuyển những tảng đá khổng lồ này như thế nào?

Khoảng 10.000 năm trước con người đã ít di chuyển chổ ở và bắt đầu cuộc sống trồng trọt và chăn nuôi. Nick Card, Nhà Khảo cổ học, Đại học Cao nguyên và Đảo Scotland: “Con người thời Đồ Đá Mới không khác gì chúng ta ngày nay. Họ xem trọng những gì tốt đẹp trong cuộc sống. Có thể nói đó là tính thẩm mỹ của con người lúc bấy giờ”. Marion Benz, Nhà Khảo cổ học, Đại học Freiburg: “Những di sản về thời kỳ thời Đồ Đá Mới vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Con người thời Đồ Đá Mới bắt đầu phụ thuộc rất nhiều vào vật chất không khác gì chúng ta ngày nay”. Hermann Parzinger, Nhà Tiền Sử học, Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Phổ: “Sự giao tiếp là cách thức con người hướng dẫn cho nhau để thu hoạch mùa vụ. Song đó là điều bí ẩn mà chúng ta chưa biết về thời kỳ này, nếu không có những khám phá khảo cổ học”. Phần lớn bằng chứng khảo cổ học đã bị chôn vùi, chẳng hạn tổ tiên chúng ta từng được chôn cất trong những ngôi mộ cự thạch. Ngày nay những địa điểm này không khác gì 1 ngọn đồi bình thường trên 1 cao nguyên. Song đây lại là bằng chứng được tồn tại vĩnh hằng. Bằng chứng lâu đời nhất về văn hóa ít di cư của con người đã được phát hiện ở Jordani, Xyri, Palestin, Bắc Iraq và miền Nam Anatolia ngày nay.

Khu vực định cư ở Baja, Jordani

Cách đây khoảng 9.000 năm khu vực này ẩm ướt và rậm rạp hơn so với bây giờ. Các nhà khảo cổ đã phát hiện ra 1 số khu định cư thời tiền sử gần tàn tích thành phố cổ Petra, phía Tây nam Jordani. Khu vực Baja cách Wadi Musa khoảng 10 km là thung lũng của các loài thực vật. Phát hiện này cực kỳ quan trọng đối với các nhà khảo cổ học. Đây là lần đầu tiên nhà khảo cổ Marion Benz và các cộng sự khám phá khu vực này trong mùa Đông. Địa điểm này nằm trên 1 cao nguyên cao 1.200 mét so với mực nước biển. Để đến khu vực này phải đi bộ qua 1 hẻm núi. Đôi khi đường qua hẻm núi bị nước mưa hoặc tuyết chặn lại. Nhưng hôm nay thời tiết khá tốt. Bà Benz là thành viên của Hiệp Hội nghiên cứu về X liên kết với Đại học Harvard. Khu vực này được phát hiện cách đây hơn 20 năm bởi nhà khảo cổ học người Đức Hermann Parzinger. Ông là giám đốc của dự án khai quật khu vực này, Chủ tịch Hiệp hội nghiên cứu về X. Tại nơi này, nhóm bà Benz đã khai quật 6 địa điểm khác nhau của Baja và lấy các mẫu đất đá về phân tích.

Toàn bộ khu đất rộng 1,5 ha này là bằng chứng cho thấy con người từng trồng trọt ở đây. Marion Benz, Nhà Khảo cổ học, Đại học Freiburg: “Một trong những câu hỏi lớn đối với chúng tôi là tại sao con người muốn định cư. Có thể là để họ tự bảo vệ, cũng có thể để họ gần gũi nhau dễ dàng hơn. Song có thể khu vực xung quanh đã trở nên quá đông người, vì vậy những người này đã chuyển đến vùng cao nguyên. Đó là 1 xã hội nông nghiệp và con người đã nuôi gia súc cừu và dê. Họ đã phát triển cách thức chuyên canh và chăn nuôi. Lúc bấy giờ đã có hệ thống phân cấp nhất định, nhưng chúng ta chưa thể xác định sự khác biệt về địa vị của con ngừơi thời ấy”. Những ngôi nhà có cùng kích thước và điều đó chỉ ra rằng, đây là 1 xã hội bình đẳng. Có lẽ họ đã xây dựng những ngôi nhà gần nhau không có chổ cho những lối đi giữa những căn nhà này. Những gian phòng của từng gian nhà rất nhỏ. Con người thời đó dường như đã dành rất nhiều thời gian ở trên mái nhà. Những gian phòng nhỏ hơn được dùng để chứa thức ăn và nhốt gia súc. Marion Benz: “Nơi này đã được lên kế hoạch rất cẩn thận khi xây dựng, chẳng hạn chúng tôi có thể xác định được cả 3 lối đi này đều có cùng chiều cao. Những công trình bằng đá được xếp gọn gàng ở đây. Vì vậy có khả năng nơi đây là những địa điểm mà ngày đầu con người ở khi bắt đầu quyết định định cư. Mặt khác họ không biết gì về việc sử dụng dầm đỡ hỗ trợ trong việc xây dựng các bức tường đá này. Vì vậy con người thời bấy giờ đã giữ cho các bức tường đá không rơi xuống bằng cách sắp xếp cẩn thận và tỉ mỉ như chúng ta nhìn thấy ở đây”.

Những người định cư Baja đã xây dựng khu nhà ở này bằng cách sắp xếp lại các tảng đá, nhưng những cấu trúc này không cho chúng ta biết gì về cuộc sống của họ ở đây và chúng ta cũng không biết gì về suy nghĩ hay tín ngưỡng của con người thời bấy giờ. Song những ngôi mộ cự thạch lại là những manh mối tốt nhất để chúng ta tìm hiểu về tín ngưỡng con người thời Đồ Đá Mới. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra những ngôi mộ thời Đồ Đá Mới ở đây vào mùa hè năm 2016. Marion Benz: “Chúng tôi đã phát hiện 1 gian phòng có 3 ngôi khác nhau. Đây là ngôi mộ tập thể, nơi người lớn và trẻ em được chôn cất cùng nhau. Đây cũng là ví dụ tuyệt vời về chổ ở hoặc chôn cất của ai đó có dùng vài vật phẩm khác nhau. Chúng tôi cũng phát hiện 1 ngôi mộ trong đó có 2 đứa trẻ trong độ tuổi khoảng 3 -5 tuổi cùng với 1 đứa bé sơ sinh”. Phương pháp gen di truyền có thể xác định mối quan hệ giữa những người đã chết, nhưng vẫn chưa rõ liệu những mẫu xương còn sót lại có cung cấp đủ ADN hay không? Các nhà khảo cổ đã dành nhiều thời gian để phân tích các mẫu vật mà họ đã thu thập được. Mục tiêu chính là có thể tái hiện lại trạng thái ban đầu của khu vực khảo cổ này 1 cách chính xác nhất có thể.

Công việc khảo cổ tại Baja cho biết đây là 1 khu vực định cư mà hệ thống phân cấp xã hội lúc bấy giờ vẫn chưa rõ ràng. Nếu được như mong muốn thì đây sẽ là thành tích đáng nể của các nhà khảo cổ Đức. Marion Benz: “Chỉ cần tưởng tượng 1 khu định cư của hơn 1.000 người từng tồn tại kéo dài hơn 500 năm trong 1 khu vực nhỏ được bao quanh bởi các hẻm núi sâu có thể thấy con người thời bấy giờ sống trong 1 không gian rất chật hẹp và họ đã làm được như vậy, chứng tỏ thời kỳ đó chưa có xung đột lớn. Đó là 1 thành tựu xã hội lớn trong thời kỳ mà loài người bắt đầu cuộc sống định cư, không di chuyển từ nơi này đến nơi khác nữa”. Song chúng ta vẫn chưa rõ tại sao khu định cư này sau đó đã bị bỏ hoang và chúng ta vẫn không có bằng chứng cho thấy xung đột của những người từng sống ở đây. Có thể lúc bấy giờ con người đã tận dụng cạn kiệt các khu vực quanh đây và những bãi chăn thả không còn để nuôi gia súc nữa, hoặc những khu vực này từng hứng chịu hạn hán khủng khiếp. Có nhiều cách để các nhà nghiên cứu giải thích về vấn đề này.

Biến đổi khí hậu vào khoảng năm 6.200 BC

Song các nhà khoa học đã chứng minh từng có sự xuất hiện 1 hiện tượng khí hậu kỳ lạ làm thay đổi điều kiện sống trên khắp các khu vực Địa Trung Hải. Frank Sirocko, Nhà Địa chất học, Đại học Johannes Gutenburg, Mainz: “Vào khoảng năm 6.200 BC, một con đập băng ở Bắc Mỹ sụp đổ  và điều đó khiến 2 hồ lớn nước tràn nước vào Đại Tây Dương. Dòng nước lớn này đã làm gián đoạn dòng chảy hải lưu Gulf Stream trong hơn 1 thế kỷ. Sau đó dòng chảy lớn này khiến nhiệt độ Địa Trung Hải có lẽ lạnh hơn 1 hoặc 2 0C. Và thời kỳ đó còn có sự sụt giảm lớn về lượng mưa trong năm. Những hiện tượng này đặt ra mối đe dọa thực sự đối với cuộc sống con người thời Đồ Đá Mới”. Có lẽ vì khí hậu thay đổi thất thường nên con người phải từ bỏ khu vực Wadi Musa, thậm chí ngày nay Jordany bị thiếu nước và vào mùa hè nhiệt độ ở đây thường cao hơn 40 0C.

Vùng Britany, Pháp

Một sự cố biến đổi khí hậu xảy ra cách đây khoảng 8.000 năm đã để lại dấu vết trên khắp châu Âu, Trung Đông và Bắc Phi. Kể từ khi kết thúc kỷ băng hà vĩ đại cuối cùng, mực nước biển đã không ngừng tăng lên. Chỉ cách đây khoảng 4.500 năm  mực nước eo biển Manche và bán đảo Britany thấp hơn vài mét so với ngày nay. Theo thời gian biển đã di chuyển khoảng 500 m vào đất liền. Nhà khảo cổ học Pháp Serge Cassen cho rằng nhiều di tích thời Đồ Đá Mới đã bị biển bao phủ. Serge Cassen, Đại học Nantes: “Mực nước biển lên cao chắc chắn là do biến động của khí hậu, hiện tượng này xảy ra vào thời kỳ băng hà, và thời kỳ hậu băng hà. Mực nước biển dâng cao ở vùng Britany này bắt đầu từ khoảng cách đây hơn 60.000 năm, nhưng trong 1.000 năm qua cuộc sống săn bắt và hái lượm của con người đã thay đổi nhanh chóng. Chỉ trong khoảng hơn 100 năm ở đây, mà toàn bộ khu vực mà con người sống bằng săn bắt và thu lượm thực phẩm đã biến mất hoàn toàn”.

5

Hình: Nội thất mộ cự thạch “Table des Marchand” ở làng Locmariaquer, khoảng 3900 – 3800 BC, vịnh Morbihan, Brittany, Pháp.

Giữa những năm 4.500 và 3.000 BC các khối cự thạch tiên tiến đã được phát hiện dọc theo khu vực bờ biển Brittany. Có 3 cấu trúc cự thạch gần làng Locmariaquer. Đây là quần thể mộ cự thạch lớn và được gọi “Table des Marchand”. Trong khi đó tại quần đảo Marchand các nhà khảo cổ không phát hiện hài cốt hay vật tùy táng trong các ngôi mộ. Một số biểu tượng được chạm khắc trên trần ngôi mộ rất ấn tượng. Có hình chạm khắc biểu tượng riêng biệt. Có 1 cái rìu có tay cầm, chúng tôi còn thấy chút tay cầm rất nhỏ của rìu đó. Phần cuối tay cầm uốn cong giống hình con ốc sên. Ở trên chúng ta có thể thấy hình 1 cây gậy cong. Ngoài ra ở phần này chúng ta có thể thấy hình ảnh 1 con vật giống như ở đảo Gavrinis. Đảo Gavrinis nằm trong vịnh Morbihan của Pháp, về phía cư dân địa phương phải có thuyền để vận chuyển những tảng đá khổng lồ. Serge Cassen, Đại học Nantes: “Thời bấy giờ để đi từ làng Locmariaquer cho đến vịnh Morbihan người xưa phải dùng bè. Có lẽ họ dùng chiếc bè với một tay chèo, họ đã gắn những tấm ván chặt lại với nhau để làm bè. Những tấm đá ở đảo Gavrinis nặng hơn 20 tấn. Vì vậy chúng ta có thể tưởng tượng chiếc bè mà con người thời Đồ Đá Mới dùng để chở đá cực lớn”.

Khu lăng mộ cự thạch khổng lồ trên đảo Gavrinis là 1 công trình kiến trúc lớn hơn quần thể mộ ở làng Locmariaquer. Sau đó những cột đá lớn đã bị phá hủy nhưng một số tảng đá đã được sử dụng lại đã thể hiện tầm quan trọng của đồ đá đối với những công trình kiến trúc của con người và thời Đồ Đá Mới. Serge Cassen, Đại học Nantes: “Những mộ đá mà con người đã xây dựng ở đảo Gavrinis là ví dụ điển hình nhất về những công trình bằng đá lúc bấy giờ. Vài trăm năm sau khi những mộ đá này được dựng lên, chúng rơi xuống vỡ thành 4 mảnh, không ai biết chính xác cách làm thế nào hoặc tại sao điều này lại xảy ra”. Con người định cư ở khu vực này so với những nơi khác cao hơn 18 m, đối với những tảng đá thẳng đứng này được xây là những công trình cao nhất trên đảo.

 Barbara Horejs, Học viện Khoa học Áo: “Những cấu trúc bằng đá hoành tráng này đóng một vai trò quan trọng trong xã hội thời Đồ Đá Mới và những thế hệ tiếp sau đó vẫn sử dụng đá để xây dựng mộ dùng cho người chết, giai đoạn này có thể kéo dài 50 thế hệ sau đó. Song những thế hệ sau có thể liên kết những công trình bằng đá này với cái gì đó hoàn toàn khác”.

Chúng ta chỉ có thể suy đoán về sự hình thành và phát triển các dân tộc thời Đồ Đá Mới. Làm thế nào để chúng ta có thể tưởng tượng được cuộc sống của con người thời bấy giờ. Những hình khắc trên những tảng đá khổng lồ được phát hiện gần làng Locmariaquer có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin bổ ích về cuộc sống của con người thời Đồ Đá Mới. Thoạt nhìn thì những tảng đá này không có gì khác biệt, sau khi kiểm tra kỹ hơn chúng tôi có thể thấy mỗi tảng đá ẩn chứa 1 câu chuyện. Đây là một chiếc thuyền và đây là hình ảnh 1 chiếc thuyền khác, tiếp 1 chiếc thuyền khác nữa, rất giống 1 đoàn thuyền lớn. Chúng ta có thể tưởng tượng ra hình ảnh những chiếc thuyền, sóng nước và hình ảnh con cá voi trên tảng đá lớn này. Có thể con người thời Đồ Đá Mới đã bắt đầu phát triển văn hóa hàng hải. Đây là hình ảnh của 1 con cá voi. Đây là mình con cá, đây là cơ vây trông rất rõ ràng. Ở đằng kia và ở đây bạn có thể thấy cái mõm của con cá. Chúng ta không thể chắc chắn liệu cư dân ở đây có nghĩ rằng cá voi là động vật hoang dã nguy hiểm hay chỉ đơn thuần là biểu tượng về 1 sinh vật biển ở vịnh Morbihan. Người cổ đại thường vẽ hay chạm khắc hình ảnh về các loài động vật. Họ đã làm như vậy vì sự tôn trọng và ngưỡng mộ hay đơn giản là vì họ thích làm điều đó. Một số tác phẩm nghệ thuật gồm các bức tranh điêu khắc và những bức phù điêu rất đẹp.

Nhóm dân 30.000 năm và nhóm dân 7.500 năm

Những người trồng trọt và chăn gia súc đã di chuyển về phía Tây Tiểu Á không tiếp tục làm những việc này sau đó, và đó là 1 hiện tượng bất thường xảy ra trong vài ngàn năm. Joachim Burger: “Những người di cư thời Đồ Đá Mới lần đầu tiên gặp những người săn bắt hái lượm ở châu Âu cách đây 7.500 năm. Cư dân bản địa châu Âu trong hơn 40.000 năm, có lẽ là tổ tiên của người cổ xưa cũng giống như người Neanderthal đã trãi qua các thời kỳ băng hà. Những người săn bắt hái lượm  đã ở châu Âu trước và họ có sự khác biệt về mặt di truyền với những người nhập cư. Tổ tiên chung cuối cùng của người bản địa châu Âu có lẽ có từ trước đó 30.000 năm. Đây chắc chắn là thời gian đủ để người dân bản địa châu Âu phát triển ngôn ngữ và văn hóa riêng. Thậm chí giữa 2 nhóm người này có sự khác biệt về ngoại hình khá rõ ràng. Cư dân gốc châu Âu là những thợ săn. Những người di cư đến đó vào thời Đồ Đá Mới đã bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi trong nhiều thế hệ. Hiện có ít di chỉ khảo cổ học về người thợ săn thời Đồ Đá Mới. Sau đó họ có thể di cư đến khu vực có đất đai ít màu mỡ hơn, có lẽ là những khu vực mới không dân cư. Dọc theo bờ biển phía bắc châu Âu, họ tìm thấy các môi trường trù phú và quyết định định cư ở đó”.

Hành trình khám phá bí ẩn thời Đồ Đá Mới vẫn còn nhiều điều thú vị và hấp dẫn ….

PHẦN 4

Khu vực gò mỏ vỏ sò Tây Ailen

Ở khu vực bên bờ biển phía Tây Ailen, các nhà khoa học đang nghiên cứu giai đoạn chuyển tiếp quan trọng của con người thời kỳ Đồ Đá Mới. Michael Gibbons, Nhà Khảo cổ học: “Đây là những bằng chứng duy nhất về Đồ Đá Mới  còn sót lại ở khu vực bờ biển của Ailen, trãi dài suốt 30 dặm, nơi đây có những di chỉ đồ đá quan trọng cho ta biết nhiều hơn về cuộc sống của con người Đồ Đá Mới mà trước đây chúng tôi chưa từng biết đến. Chúng tôi phát hiện rất nhiều mỏ vỏ sò. Những gò mỏ vỏ sò này cho chúng tôi biết cuộc sống con người mỗi mùa trong năm thời bấy giờ. Chúng tôi phát hiện có nhiều mỏ sò khác nhau trên bờ biển này. Có những mỏ sò chỉ nằm sâu vài cm trong lòng đất. Nơi này không giống những bờ biển khác của Ailen. Khu di chỉ bằng đá này là gò vỏ sò có dạng hình tròn, chúng tôi hy vọng kịp thời có thể phát hiện những manh mối quan trọng về thời kỳ chuyển tiếp của con người từ săn bắt hái lượm sang trồng trọt chăn nuôi trong thời Đồ Đá Mới ở đây”. Các nhà khảo cổ còn phát hiện ra một số kho báu nhỏ ở đây. Michael Gibbons: “Đây là một vật dụng của một nhà bếp, có lẽ chổ nấu ăn này được xây dựng cách nay từ 6.000 – 8.000 năm. Khu vực này do những nông dân đầu tiên định cư ở đây xây dựng nên, họ là những người săn bắt hái lượm sống suốt dọc theo bờ vịnh Galway hoặc ven bờ biển Đại Tây Dương. Quần đảo Ailen phía sau lưng chúng ta là khu vực đá granit đỏ, đất đai cằn cỗi không thể trồng trọt được, vì vậy cá và động vật có vỏ là thực phẩm cực kỳ quan trọng đối với con người sống ở đây thời bấy giờ. Một số khu vực khảo cổ được phát hiện sớm nhất ở châu Âu đều có những gò đống vỏ sò như thế này. Những khu vực khảo cổ ít được nghiên cứu nhất ở châu Âu là các gò vỏ sò Bắc Đan Mạch. Sau những nghiên cứu trong hơn 200 năm qua, đã được thực hiện trên những gò đất với nhiều vỏ sò ven biển Ai len phần nào đã hé lộ cuộc sống của con người thời Đồ Đá Mới”.

Trong nhiều năm qua các chuyên gia không đồng thuận về nguồn gốc của gò vỏ sò này. Một số chuyên gia cho rằng những gò vỏ sò này do sóng biển cuốn vào bờ theo thời gian. Nhưng ngày nay, đa số các chuyên gia đều cho rằng do con người tạo ra. Michael Gibbons: “Chúng tôi nghi ngờ đó là một mớ hỗn độn trong thời kỳ chuyển tiếp của con người từ săn bắt hái lượm sang trồng trọt chăn nuôi, sự chuyển tiếp của cuộc sống con người trong thời Đồ Đá Mới đã trở thành vấn đề cần giải đáp đối với khảo cổ học châu Âu”.

Hermann Parzinger: “Một trong những câu hỏi lớn chưa được trả lời về thời Đồ Đá Mới là liệu những nông dân đầu tiên có di cư đến khu vực này hay không. Và liệu những người săn bắt hái lượm có chuyển sang làm nông nghiệp và ít di cư hơn không. Thật khó để nói chắc chắn về điều này. Nhưng trong nhiều trường hợp chúng tôi có thể xác định cả 2 trường hợp trên đều có thể xảy ra. Và những manh mối được phát hiện ở đây sẽ trả lời cho chúng ta về câu hỏi lớn này.”

Công trình bằng đá khổng lồ

Giữa những năm 3.800 và 2.800 năm BC, con người thời Đồ Đá Mới ở Bắc Âu đã xây một số công trình bằng đá khổng lồ. Nhà Khảo cổ học Đức Harald Meller đã phần nào giải thích được lý do tại sao con người thời bấy giờ làm như vậy. Harald Meller: “Trong kỷ Băng hà có rất nhiều tảng đá lớn trên đồng bằng khắp Bắc Đức và Bắc Trung Âu. Những tảng đá lớn này không ảnh hưởng đến cuộc sống săn bắt hái lượm, nhưng khi con người ít di cư, họ bắt đầu canh tác trên cánh đồng lớn thì những tảng đá này trở nên một vấn đề lớn”. Thời kỳ này con người đã tìm cách di chuyển những vật nặng như những tảng đá lớn, có thể nói đây là một bước phát triển lớn trong cuộc sống của con người. Khoảng năm 4000 BC con ngừơi đã phát hiện cách áp dụng lực kéo, đây là khoảng thời gian đầu tiên các cự thạch được tạo ra. Harald Meller: “Người ta có thể sử dụng con bò để kéo những tảng đá ra khỏi các cánh đồng, và họ đã sử dụng những tảng đá này để xây dựng các khu vực thờ cúng, hoặc lăng mộ hay những công trình bằng đá lớn phục vụ cho cuộc sống của con người. Vì vậy, thời bấy giờ con người đã sử dụng những tảng đá này cho cuộc sống thực tế. Nhờ vậy mà họ dọn sạch những đống đá lớn trên các cánh đồng để trồng trọt. Họ đã sử dụng những con bò để cày ruộng, để có vụ mùa đạt năng suất cao hơn nhiều so với các tộc người ở Nam Âu, lúc đó chưa dùng bò vào cày ruộng”. Thời thời Đồ Đá Mới, trồng trọt là công việc khó khăn, đặc biệt đối với những người chỉ có công cụ đơn giản để làm đất. Lúc bấy giờ, mọi người sống gần nhau hơn trong các không gian nhỏ hẹp, nên có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Song dân số bấy giờ tăng nhanh hơn so với cuộc sống săn bắt hái lượm, thường xuyên di chuyển trước đây.

Thời kỳ đó đã xuất hiện rất nhiều công trình bằng đá, những vòng tròn đá đầu tiên của con người thời Đồ Đá Mới đã được xây dựng. Những bãi đá vùi trong đất bắt đầu xuất hiện ở miền Bắc Đức và những cột đá khổng lồ được dựng lên ở Brittany, chẳng như quần thể cự thạch lớn hay còn gọi “Table de Marchand”. Quần thể cự thạch này cao 9,5m, và công trình đá phụ được xây dựng trãi dài gần 4 km. Tảng đá này cao 8 m, nặng khoảng 160 tấn, hơi nghiêng sang 1 bên vì nó được xây dựng trên 1 nền đất mềm. Tảng đá này và 2 tảng đá khác được cho là để bảo vệ đường xuống địa ngục.

Có hơn 3.000 tảng đá xung quanh khu vực Carnac. Vậy tại sao cư dân địa phương lại xây dựng những tảng đá này? Nhà khảo cổ học Serge Cassen làm việc tại ĐH Nantes  đã cố gắng trả lời câu hỏi đó trong nhiều năm qua. Serge Cassen: “Người dân ở đây đã đặt niềm tin vào những người có khả năng đảm bảo sự sống còn của họ, nên họ sẵn sàng làm việc, vì thế các tảng đá lớn này đã trở thành các công trình quan trọng trong các nghi lễ của con người thời bấy giờ. Mỗi tảng đá đặt 1 nơi khác nhau sẽ có một ý nghĩa riêng”. Đây là khu vực chuồng ngựa trong khu vực quần thể cự thạch ở phía Bắc Brittany. Đây là 1 trong những công trình bằng đá lâu đời nhất vào thời Đồ Đá Mới và được mở rộng trong suốt 1.000 năm.

Quần thể mộ cự thạch này có 11 mộ dolmen. Mỗi “dolmen” có ít nhất là 2 cự thạch đặt thẳng đứng với 1 tảng đá khác đặt ngang phía trên, và rất khó để phát hiện các dolman từ xa. Chúng là 1 phần của quần thể mộ cự thạch bị đất bao phủ qua năm tháng. Con người thời bấy giờ đã biết dùng động vật để kéo những tảng đá lớn trên mặt đất, bên cạnh đó họ còn làm những con đường đốc để di chuyển các tảng đá lớn dễ dàng hơn. Những tảng đá lớn như thế này có thể nặng tới 130 tấn. Phải cần rất nhiều người để di chuyển những tảng đá này chỉ vài centimét. Bạn có thể tưởng tượng khối lượng công việc phải làm để đặt 1 viên đá lớn trên đỉnh của 2 tảng đá khác đặt thẳng đứng. Những công trình này đòi hỏi phải có kế hoạch và tính toán kỹ lưỡng. Vậy thì tại sao người ta phải xây dựng những cấu trúc này. Hermann Parzinger: “Tôi nghĩ họ muốn xây dựng những ngôi mộ thật hoành tráng, hầu hết các tảng đá lớn được sử dụng để xây dựng những ngôi mộ này. Những ngôi mộ dolmen được xây dựng với mục đích đơn giản là để chôn cất người chết. Các thế hệ sau không biết đó là nơi chôn cất người chết. Và những cấu trúc bằng đá này đã tồn tại trong nhiều thế kỷ”.

Ness of Brodgar, Orkney

Nông dân đầu tiên thời Đồ Đá Mới không ngừng di cư khắp châu Âu, một số người trong số họ còn tìm đường đến miền bắc Scotland, có lẽ bằng đường biển. Ness of Brodgar là địa điểm khảo cổ về thời Đồ Đá Mới rộng 2,5 ha ở quần đảo Orkney, mũi đất xung quanh khu vực khảo cổ này đã được chỉ định là Di sản thế giới vào năm 1999. Nick Card: “Đây không phải là những công trình kiến trúc bình thường. Đây là công trình được xây dựng không những rất đẹp mà còn có sự xen kẻ lạ thường. Khu vực mộ cổ đặc biệt này tồn tại hơn 1.000 năm qua. Mũi đất này trông giống như những tòa nhà bằng đá phủ đầy than bùn”. Theo như chúng tôi biết đây không phải là những công trình dân cư. Giám đốc khai quật khu di chỉ khảo cổ này là ông Nick Card chỉ có thể làm việc ở đây 2 tháng trong 1 năm vì thời tiết xấu. Những tháng còn lại, người ta phải dùng tấm bạt để che phủ khu di chỉ này.

Tại đây các nhà khảo cổ đã khai quật hàng trăm di tích được trang trí rất đẹp mắt. Mỗi đồ vật được phát hiện có thể làm sáng tỏ cuộc sống con người ở đây vào thời Đồ Đá Mới. Hiện tại các nhà khảo cổ đang cố gắng khai quật các chổ trống trong khu di chỉ này. Vậy thì những tấm đá này được trang trí để làm gì. Có những tảng đá trong số này được phủ màu khác lạ. Một lượng lớn xương động vật cũng được phát hiện ở khu di chỉ này. Điều này cho thấy con người ở đây từng tổ chức các bữa tiệc. Các chuyên gia tin rằng khu di chỉ “Ness of Brodgar” bị bỏ hoang và bị tháo dỡ 1 phần vào khoảng năm 2.200 BC. Song các nhà không thấy bằng chứng nào về văn hóa thời đại Đồ Đồng ở đây. Nick Card: “Màu sắc dường như rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của con người thời Đồ Đá Mới. Việc sử dụng các màu sắc khác nhau là cách để người ta thể hiện sự may mắn. Khu di chỉ này được bảo quản rất tốt. Chúng tôi đã phát hiện những bằng chứng cho thấy việc sử dụng màu sắc trên đồ gốm và trên các bức tường đá của những ngôi mộ”. Nhà khảo cổ học Nick Card và nhóm của ông đã phát hiện những bằng chứng về các bức tường phủ màu.

Màu trang trí và đá ngọc bích

Việc sử dụng màu trang trí hoặc thuốc nhuộm đã được xác nhận xuất hiện vào thời Đồ Đá Mới trên đảo Malta vùng biển Địa Trung Hải. Những ngôi đền lớn đầu tiên được xây dựng bằng đá ở đây vào khoảng 4.500 BC và tất cả đều được trang trí bằng nhiều màu sắc khác nhau. Timmy Gambin, Đại học Malta: “Màu đỏ là màu của máu, vì vậy chúng tôi cho rằng nghi lễ hiến tế động vật bằng cách lấy máu hoặc sử dụng máu dưới hình thức nào đó. Có thể con người thời Đồ Đá Mới tin rằng màu đỏ tượng trưng cho màu của máu, đại diện cho sự sống hoặc đại diện cho cái chết. Vì vậy chúng tôi tin rằng giữa màu sắc và nghi lễ có mối quan hệ mật thiết với nhau”.

6

Hình: Hình khắc ở Göbekli Tepe, Thổ Nhĩ Kỳ, khoảng 9.500 BC.

Những tác phẩm phù điêu tuyệt đẹp này được chạm khắc trên sa thạch cho thấy động vật rất quan trọng đối với con người thời bấy giờ. Vậy tại sao con người thời Đồ Đá Mới chọn những bức phù điêu này. Timmy Gambin: “Có 1 số giả thuyết cho rằng việc thờ phụng tự nhiên, tôn sùng khả năng sinh sản, quan niệm về nữ thần xuất phát từ việc phát hiện ra một số bức tượng làm cho ta tin rằng đó là những hình ảnh đại diện cho người phụ nữ khỏe mạnh. Họ quan niệm về nữ thần có lẽ xuất phát từ Mẹ Trái Đất. Những hình ảnh này cho thấy phụ nữ trong xã hội thời Đồ Đá Mới có 1 vị trí rất đặc biệt. Phụ nữ không chỉ đại diện cho khả năng sinh sản mà còn đại diện cho sức mạnh và quyền lực”.

Barbara Horejs: “Với mong mỏi vị nữ thần sẽ phù hộ sau đó nhưng cơ bản sẽ ổn định  ít nhất trong vài thiên niên kỷ của thời Đồ Đá Mới. Đó là thời đại mà quyền bình đẳng giới là chuẩn mực và đàn ông không thống trị phụ nữ.” Con người thời Đồ Đá Mới cũng quan tâm tới việc sở hữu những vật dụng có giá trị. Vào thời Đồ Đá Mới người ta bắt đầu khẳng định mình bằng việc sở hữu những vật có giá trị. Marion Benz: “Họ đã dành nhiều thời gian và công sức cho việc tạo ra những vật dụng có giá trị. Và đó là cũng là lần đầu tiên con người bắt đầu gắn giá trị kinh tế với hàng hóa. Lúc bấy giờ hàng có giá trị trở thành cơ sở cho việc trao đổi”. Khu vực Baja phía Tây Nam Jordani được bảo vệ bởi hẻm núi sa thạch đỏ rất đẹp. Cư dân ở đây đã sử dụng đá sa thạch đỏ để tạo ra những vật thủ công có hình bán nguyệt rất độc đáo. Marion Benz: “Ban đầu con người tạo ra những vật dụng có hình tròn như cái đĩa. Rồi tạo ra những vật phẩm khác với những phần còn sót lại. Họ mài mòn những vật dụng này cho đến khi chúng trở thành những chiếc vòng khá mỏng. Những chiếc vòng này có lẽ rất tinh tế và rất dễ vỡ. Có thể vì vậy mà những chiếc vòng này được sử dụng như đồng tiền để đổi lấy thực phẩm hoặc là các nguyên liệu thô khác”.

Có lẽ con người chọn Baja định cư vì mỏ đá khác lạ ở đây. Nhiều vật dụng màu đỏ đã được tìm thấy ở các khu vực khác nhau ở Baja, điều này cho thấy khu định cư Baja từng là nơi ở của những người làm ra vật trang trí bằng sừng động vật hoặc sợi thực vật. Việc sử dụng đầu rìu làm bằng ngọc khá phổ biến vào thời điểm con người bắt đầu có sự trao đổi hàng hóa.

7

Hình: Tái tạo Đồ dùng thời Đồ Đá Mới ở Áo.

Harald Meller: “Những vật dụng bằng ngọc bích đã được sử dụng rộng rãi và chúng vẫn giữ vẻ đẹp tự nhiên độc đáo cho đến ngày nay. Những mặt hàng bằng ngọc bích tinh tế, rất có giá trị, chúng đã được sử dụng cách đây 1.500 năm và không ngừng thay đổi theo thời gian. Một trong những đồng nghiệp của chúng tôi đã có thể xác định số ngọc này có nguồn gốc từ các nước phương Tây hiện nay. Chúng đã được khai quật ở đó và sau đó được trao đổi với những khu vực khác”. Một số mũi rìu bằng ngọc bích cũng được phát hiện ở bờ biển phía Nam Britany, gần khu di tích Carnac. Các nhà khảo cổ đã thu thập được 4 mũi rìu có niên đại cuối thời thời Đồ Đá Mới. Serge Cassen: “Những mũi rìu này có thể là công cụ làm việc tại một số khu vực khác nhau. Nhưng sau đó chúng được phát hiện sử dụng với nhiều mục đích với nhiều chức năng khác nhau. Các cư dân ở đây từng làm cho chúng sắc bén, làm sạch lưỡi rìu, đôi khi họ còn làm ra loại rìu có 2 lưỡi”. Vào mùa hè 2016, nhà khảo cổ học Pháp đã phát hiện mỏ ngọc bích. Những phát hiện này cho thấy mỏ ngọc bích này có niên đại cách đây 9.000 năm. Cùng với những phát hiện của nhà khảo cổ học ở Petra-kha, phần nào cung cấp manh mối về cuộc sống của con người thời Đồ Đá Mới.

Con người đã có thể tiến hành những trao đổi nhất định, chẳng hạn ngọc bích hoặc đá sa thạch trong giao dịch, thời bấy giờ người ta còn sử dụng các vỏ hàu gai rất đặc biệt. Trong khi đó bà Barbara Horejs, nhà khảo cổ học người Áo lại chứng minh được rằng con người thời Đồ Đá Mới sử dụng các công cụ làm đồ trang sức từ những chiếc vỏ sò. Những chiếc vỏ sò được phát hiện từ bờ biển Đen đến bờ biển Trung Âu. Con người thời Đồ Đá Mới đã đeo vòng tay và dùng dây buột lưng. Ngoài ra vỏ sò còn được dùng làm quà tặng.

Thời kỳ thời Đồ Đá Mới kéo dài vài ngàn năm, khoảng thời gian đó không dài đối với lịch sử hình thành loài người, nhưng tổ tiên xa xưa của chúng ta từng có những nhu cầu về vật chất và tinh thần không khác chúng ta ngày nay. Thời kỳ Đồ Đá Mới từng có những thay đổi cơ bản trong cuộc sống hàng ngày cũng như cách họ làm việc cùng nhau. Con người thời bấy giờ bắt đầu chôn cất người chết và tôn vinh người chết. Ngoài ra họ còn biết xây nhà, trồng trọt và chăn nuôi. Con người thời Đồ Đá Mới còn hợp sức cùng nhau xây dựng nên những công trình bằng đá khổng lồ, và một trong số những công trình đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Barbara Horejs: “Quá trình chuyển đổi nền văn minh tại châu Âu được bắt đầu với sự xuất hiện của những người di cư đến từ phương Đông. Sự di cư này đã hình thành nên nền văn minh sản xuất”. Con người sống bằng săn bắt bản địa đã sáp nhập cùng với những người di cư mới và chấp nhận văn hóa canh tác định cư, không quay lại thời kỳ săn bắt hái lượm như trước kia. Đó là 1 bước tiến lớn ở đảo Sicil. Hermann Parzinger: “Nền văn hóa định cư thời Đồ Đá Mới đã tạo cơ sở cho sự phát triển của các nền văn minh tiên tiến hơn sau này, nó cũng tạo ra một số thách thức nhưng loài người đã giải quyết thành công các thách thức đó”.

 Để hiểu hơn cuộc sống hiện tại, chúng ta cũng phải hiểu hơn về quá khứ. Tiêu dùng tăng trưởng cùng với sự gia tăng dân số nhanh chóng của các thành phố lớn là hiện tượng có nguồn gốc từ thời Đồ Đá Mới, thời kỳ mà cuộc sống định cư không di chuyển khắp nơi của loài người được hình thành./.

 

Nguồn: Phim tài liệu “Bí ẩn thời kỳ Đồ Đá”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s