Sử ký – Đông Việt liệt truyện

ban-do-nam-viet.jpg

Sử ký Tư Mã Thiên, Tập 2, Liệt Truyện, Phần Hạ.

Dịch giả Phạm Văn Ánh.

NXB Văn Học và Nhã Nam

Mân Việt vương Vô Chư cùng Việt Đông Hải vương Dao, tiên tổ đều là hậu duệ của Việt vương Câu Tiễn, họ Trâu. Sau khi Tần thôn tính được thiên hạ, đều bị phế làm đầu lĩnh, lấy đất của họ lập quận Mân Trung. Đến khi chư hầu phản Tần, Vô Chư và Dao thống lãnh nước Việt theo Huyện lệnh Bà Dương là Ngô Nhuế, tức Bà quân, theo chư hầu diệt Tần. Bấy giờ Hạng Tịch là người ra hiệu lệnh, không phong cho làm vương, vì thế không theo Sở. Hán đánh Hạng Tịch, Vô Chư và Dao thống lãnh người Việt giúp Hán. Nhà Hán năm thứ năm, lại lập Vô Chư làm Mân Việt vương, làm vua ở đất cũ Mân Trung, đóng đô ở Đông Dã. Hiếu Huệ đế năm thứ ba, đề cử công của nước Việt thời Cao đế, cho rằng quân trưởng đất Mân là Dao có nhiều công lao, dân chúng thuận lòng quy phụ, bèn lập Dao làm Đông Hải vương, đóng đô ở Đông Âu, thế tục gọi là Đông Âu vương.

Mấy đời sau, đến Cảnh đế năm thứ ba, Ngô vương Tị làm phản, định lôi kéo Mân Việt, nhưng Mân Việt không chịu, chỉ riêng Đông Âu theo Ngô. Đến khi Ngô bị phá, Đông Việt nhận tiền của nhà Hán, liền giết Ngô vương Đan Đồ, vì thế đều không bị giết, cho về nước.

Con của Ngô vương là Tử Câu trốn đến Mân Việt, oán Đông Âu giết cha mình, thường xúi Mân Việt đánh Đông Âu. Đến năm Kiến Nguyên thứ ba, Mân Việt phát binh bao vây Đông Âu. Đông Âu hết lương, nguy khốn, sắp hàng, bèn sai người cáo cấp với thiên tử. Thiên tử hỏi Thái úy Điền Phần, Phần đáp rằng: “Người Việt đánh lẫn nhau, đó là chuyện thường, lại nhiều lần phản phúc, không đủ để phiền Trung nguyên phải đến cứu. Từ thời Tần đã bỏ rơi họ, không xem là đất nội thuộc.” Trung đại phu Trang Trợ liền vặn hỏi Phần rằng: “Chỉ lo sức không thể cứu, đức không đủ để che chở; nếu có thể, sao lại bỏ rơi? Vả lại nhà Tần, ngay Hàm Dương còn bỏ, nói gì nước Việt! Nay nước nhỏ vì khốn cùng mà đến cấp báo thiên tử, thiên tử không giúp, kẻ kia biết cấp báo với ai? Sao có thể bảo vệ cho muôn nước được?” Hoàng thượng nói: “Không thể tính kế với Thái úy được. Ta mới lên ngôi, không muốn đem hổ phù để phát động quân đội các quận trong nước.” Bèn sai Trang Trợ đem phù tiết phát động quân ở Cối Kê. Thái thú Cối Kê định chống lệnh, không phát binh, Trợ liền chém một viên Tư mã, tuyên dụ ý chỉ, rồi phát binh theo đường biển đến cứu Đông Âu. Chưa đến nơi, Mân Việt đã dẫn quân về. Đông Âu xin đem cả nước dời vào Trung nguyên, bèn đưa hết dân chúng đi, đến ở tại vùng Giang, Hoài.

Năm Kiến Nguyên thứ sáu, Mân Việt đánh Nam Việt. Nam Việt tuân theo ước định với thiên tử, không dám tự ý phát binh đánh lại, mà báo lên triều đình. Hoàng thượng sai quan Đại hành Vương Khôi đem quân ra Dự Chương, quan Đại nông Hàn An Quốc đem quân ra Cối Kê, đều làm tướng quân. Quân chưa vượt núi, Mân Việt vương là Dĩnh đã phát binh chiếm chỗ hiểm chống trả. Em của Dĩnh là Dư Thiện cùng Thừa tướng và tông tộc bàn mưu rằng: “Vương tự ý phát binh đánh Nam Việt, không thỉnh mệnh, cho nên thiên tử đem quân đến hỏi tội. Nay quân Hán đông mạnh, nếu may mắn thắng được, sau càng đến đông hơn, rốt cuộc diệt quốc mới thôi. Nay giết vương để tạ tội với thiên tử. Thiên tử chấp nhận, sẽ bãi binh, cố nhiên cả nước vẹn nguyên; nếu không chấp nhận, bèn ra sức đánh; không thắng thì trốn hết ra biển.” Thảy đều nói: “Phải.” Bèn đâm chết quốc vương, sai sứ đem đầu đến dâng Đại hành Vương Khôi. Đại hành nói: “Sở dĩ kéo quân đến là để giết quốc vương. Nay đầu quốc vương đã đến, tỏ ý tạ tội, không đánh mà diệt được, còn gì lợi hơn nữa.” Bèn tự ý án binh rồi báo với quân của Đại nông Hàn An Quốc, sai sứ mang đầu Mân Việt vương phi ngựa về báo thiên tử. [Thiên tử] xuống chiếu cho hai tướng bãi binh, nói: “Bọn Dĩnh đầu xỏ tội ác, chỉ riêng cháu nội Vô Chư là Diêu quân tên Sửu không dự mưu đó thôi.” Bèn sai Lang trung tướng lập Sửu làm Việt Diêu vương, phụng thờ tế tự tiên tổ Mân Việt.

Dư Thiện sau khi giết Dĩnh, uy chấn cả nước, dân trong nước phần nhiều theo về, trộm tự lập làm vương. Diêu vương không thể uốn nắm được dân chúng. Thiên tử nghe tin, cho là Dư Thiện không đáng để dấy binh, nói: “Dư Thiện nhiều lần cùng Dĩnh âm mưu làm loạn, nhưng sau là người đầu tiên giết Dĩnh, quân triều đình không phải vất vả.” Nhân đó lập Dư Thiện làm Đông Việt vương, ở chung với Diêu vương.

Đến năm Nguyên Đỉnh thứ năm, Nam Việt làm phản, Đông Việt vương Dư Thiện dâng thư, xin đem tám nghìn quân theo Lâu thuyền tướng quân đánh bọn Lã Gia. Quân đến Yết Dương, lấy cớ biển gió to sóng lớn, không đi nữa, tính nước đôi, ngầm sai sứ tới Nam Việt. Đến khi nhà Hán phá được Phiên Ngung, vẫn không tới. Bấy giờ Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc sai sứ dâng thư, xin được tùy ý dẫn quân đánh Đông Việt. Hoàng thượng nói sĩ tốt vất vả mỏi mệt, không cho, rồi bãi binh, hạ lệnh các Hiệu úy đóng đồn ở Mai Lĩnh thuộc Dự Chương đợi lệnh.

Mùa thu năm Nguyên Đỉnh thứ sáu, Dư Thiện nghe tin Lâu thuyền tướng quân xin thảo phạt mình, quân Hán đến biên cảnh, sắp sang, liền làm phản, phát binh chặn đường tiến của quân Hán. Kêu gọi bọn tướng quân Trâu Lực hãy “nuốt tướng quân Hán”, tấn công vào Bạch Sa, Vũ Lâm, Mai Lĩnh, giết ba viên Hiệu úy nhà Hán. Bấy giờ nhà Hán sai Đại nông Trương Thành và Sơn Châu hầu trước đây là Xỉ làm tướng đóng đồn, không dám đánh, rút đến chỗ thuận tiện, đều mắc tội sợ địch, bị giết.

Dư Thiện khắc ngọc tỉ hai chữ “Vũ đế”, tự lập làm Hoàng đế, gạt dân mình, nói lời giả dối. Thiên tử sai Hoành hải tướng quân Hàn Duyệt ra Câu Chương, vượt biển từ phía đông tiến đến; Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc đem quân ra Vũ Lâm; Trung úy Vương Ôn Thư đem quân ra Mai Lĩnh; Việt hầu làm Qua thuyền [tướng quân], Hạ lại tướng quân, đem quân ra Nhược Da và Bạc Sa. Mùa đông niên hiệu Nguyên Phong năm thứ nhất, kéo vào Đông Việt. Đông Việt vốn đã phát binh giữ chỗ hiểm để chống trả, sai Tuẫn bắc tướng quân giữ Vũ Lâm, đánh bại mấy Hiệu úy của Lâu thuyền tướng quân, giết trưởng lại. Lâu thuyền tướng quân thống lãnh Viên Chung Cổ người ở Tiền Đường chém Tuẫn bắc tướng quân, được phong làm Ngự Nhi hầu. Quân do Lâu thuyền tướng quân thống lãnh chưa đến.

Việt Diễn hầu trước đây là Ngô Dương khi trước ở Hán, Hán sai về hiểu dụ Dư Thiện, Dư Thiện không nghe. Đến khi Hoành hải tướng quân đến trước, Việt Diễn hầu Ngô Dương đem bảy trăm người trong ấp làm phản, tấn công quân Việt ở Hán Dương. Kiến Thành hầu là Ngao, cùng quân binh và Diêu vương Cư Cổ bàn mưu rằng: “Dư Thiện đứng đầu việc ác, kìm giữ bọn ta. Nay quân Hán đến, quân đông và mạnh, nếu tính kế giết Dư Thiện, tự động quy hàng tướng Hán, may ra được thoát tội.” Bèn cùng giết Dư Thiện, đem quân hàng Hoành hải tướng quân, nên nhà Hán phong Diêu vương Cư Cổ làm Đông Thành hầu, hưởng vạn hộ; phong Kiến Thành hầu là Ngao làm Khai Lăng hầu; phong Việt Diễn hầu Ngô Dương làm Bắc Thạch hầu; phong Hoành hải tướng quân là Duyệt làm Án Đạo hầu; phong Hiệu úy của Hoành hải tướng quân là Phúc làm Liêu Oanh hầu. Phúc là con của Thành Dương Cộng vương, vốn là Hải Thường hầu, phạm pháp nên mất tước hầu. Trước tòng quân nhưng không có công, nhờ tông tộc nên được phong hầu. Các tướng đều không có công, không ai được phong. Tướng Đông Việt là Đa Quân, khi quân Hán đến, bỏ quân xin hàng, được phong Vô Tích hầu.

Thế rồi thiên tử cho Đông Việt vừa hẹp vừa hiểm trở, Mân Việt hung hãn, nhiều lần phản phúc, hạ chiếu cho quân lại đều đem dân mình dời đến ở vùng Giang, Hoài. Đông Việt bèn thành đất không người.

 

Thái sử công bàn rằng: Việt tuy là đất man di, tiên tổ họ há từng có công đức lớn với dân chăng? Sao được lâu dài đến thế! Trải mấy đời thường làm quân vương, Câu Tiễn một phen xưng bá. Nhưng Dư Thiện đại nghịch bất đạo, diệt nước chuyển dân, hậu duệ của tổ tiên họ là bọn Diêu vương Cư Cổ còn được phong tước hầu, thực ấp vạn hộ, từ đó biết được nước Việt đời đời làm công hầu vậy. Ấy là nhờ huân nghiệp còn sót lại của Hạ Vũ vậy.

[1] Lưu Quý: tức Lưu Bang.

[2] Nhà Hán khi phong chức tước cho bề tôi thì dùng lệnh phù làm tín vật, chia làm hai, giao cho người được phong giữ một nửa để làm tin.

[3] Xe của Hoàng đế, dùng lụa vàng làm lọng che; dùng đuôi mao ngưu, một loài bò có đuôi dài trang trí trên cờ cắm bên trái xe.

[4] Ý nói Triệu Đà dùng xe cộ, xưng hiệu… giống như Hoàng đế nhà Hán.

[5] Ý nói các tộc người thiểu số. Người Trung Quốc xưa cho mình là Hoa, Hoa Hạ, cho các tộc người thiểu số vùng xa là Man, Di, Địch, Nhung, gọi chung là Tứ di.

[6] Trang Sâm: cũng phiên là Trang Tham.

[7] Ý nói đã theo hàng nhà Hán.

[8] Ý nói quân đội của Long Lự gặp nơi ẩm thấp, bệnh dịch nên phải dời đi chỗ khác.

[9] Đoạn này rất đáng chú ý, vì Thái sử công đánh giá bằng thơ, khác hẳn các phần khác. Phần thơ này phiên âm Hán – Việt như sau:

Úy Đà chi vương / Bản do Nhâm Hiêu.

Tao Hán sơ định / Liệt vi chư hầu.

Long Lự li thấp dịch / Đà đắc dĩ ích kiêu.

Âu Lạc tương công / Nam Việt động diêu.

Hán binh lâm cảnh / Anh Tề nhập triều.

Kỳ hậu vong quốc / Trưng tự Cù nữ.

Lã Gia tiểu trung / Linh Đà vô hậu.

Lâu thuyền túng dục / Đãi ngạo thất hoặc.

Phục ba khốn cùng / Trí lự dũ thực / Nhân họa vi phúc.

Thành bại chi chuyển / Thí nhược củ mặc.

—————–

 

One thought on “Sử ký – Đông Việt liệt truyện

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s