Phương Đông trong cơn lốc “Khám phá” của phương Tây (Phần 2)

Trần Thanh Ái

  1. Người Bồ Đào Nha trên đất Trung Hoa

Ngay từ trước khi chiếm Malacca, vua Manuel của Bồ Đào Nha đã hối thúc các đời phó vương nhanh chân tiến xa về phương Đông: ngày 13 tháng 2 năm 1508, ông chỉ thị cho Diego Lopes de Sequeira thu thập càng nhiều càng tốt thông tin về Trung Hoa, từ vị trí địa lý, tôn giáo, đến hoạt động kinh tế của nước này, cũng như lộ trình đi lại và hàng hóa mà họ đem bán và mua về, v.v.(1) Điều đó không phải là vô cớ: ông đã cảm nhận được sức ép của người Tây Ban Nha trong cuộc chạy đua tranh giành quyền khai thác đất mới qua việc họ không ngừng tìm đường tiến về châu Á. Thật vậy, chẳng bao lâu sau khi đặt chân đến châu Mỹ, người Tây Ban Nha nhận ra rằng đó không phải là Trung Hoa hay Ấn Độ như ban đầu họ lầm tưởng, mà là một lục địa chắn ngang đường đi của họ, và thế là họ lại tìm đường đi vòng qua châu Mỹ để tiếp tục cuộc hành trình đi Ấn Độ.

Cũng trong tinh thần khẩn trương đó mà khi được tin A. d’Albuquerque chiếm được Malacca, ngày 6 tháng 6 năm 1513 vua Manuel đã viết thư cho giáo hoàng Leon X để báo tin chiến thắng như đã nói bên trên. Để tưởng thưởng, giáo hoàng đã ban hành sắc chỉ Praecelsae Devotionis đề ngày 3 tháng 11 năm 1514, vừa tái khẳng định việc nhìn nhận quyền hành của Bồ Đào Nha trên những lãnh thổ đã và sẽ chinh phục giống như các sắc chỉ của hai giáo hoàng Nicolas V (1454) và Sixte IV (1481), giáo hoàng Leon X còn ban thêm cho vua Bồ Đào Nha nhiều biệt đãi như để thưởng công cho những chiến thắng (Cordier H. 1911, tr. 512). Theo đánh giá của J. E. Wills, việc người Bồ Đào Nha xâm nhập vào vùng biển Ấn Độ dương đã gây ra nhiều thảm họa trong vùng không kém gì người Tây Ban Nha ở vùng biển Caribean, Mexico và Peru (Wills J. E. 2008, tr. 335).

Chính sử Trung Hoa lần đầu nhắc đến người Bồ Đào Nha trong bộ Minh thực lục, trong đó có đoạn nói về việc họ xuất hiện trong vùng như sau:

“Chính Đức thứ 15, tháng 12 ngày 5 [nhằm ngày 13 tháng 1 năm 1521]: Nước ngoài Phật lãng ki [佛朗機] trước đây không có thông thương với Trung Hoa. Gần đây họ thôn tính Malacca, sau đó quốc vương nước này phái sứ giả đến xin phép về kinh đô mang triều cống và thỉnh phong chiếu chỉ triều đình. Những người ở lại Hoài Viễn Dịch bèn âm mưu mua người và bắt cóc, lập trại định ở lại lâu dài” (Wade G. P. 1994b, tr. 1973).

Hoài Viễn Dịch [懷遠驛], mà G. P. Wade phiên chuyển ra tiếng Anh là “Huai-yuan postal relay station”, là trạm tiếp đón sứ giả nước ngoài tạm trú để chờ lệnh trên, và để học nghi thức nếu phải triều kiến hoàng đế Trung Hoa. Về việc thôn tính Malacca, Minh sử nói rõ hơn:

“…người Franks(2) kéo quân đến và đánh chiếm xứ này; vua Sultan Mamat(3) chạy trốn và cử sứ giả đi báo tin cho thiên triều về tai họa ập đến. Lúc ấy hoàng đế Thế Tông(4) đã lên ngôi; ông ban hành một chỉ dụ quở trách người Franks, bảo họ trở về bản xứ và ra lệnh cho vua xứ Xiêm và các vua trong vùng giúp đỡ người láng giềng của họ. Tuy nhiên không nước nào vâng lời và vì thế Malacca bị tàn phá” (Groeneveldt W. P. 1876, tr. 133).

Được biết, khi những người Bồ Đào Nha đầu tiên cập bến Quảng Châu, các quan chức địa phương lẫn trung ương tới tấp gửi tin báo về triều đình, về những hành vi ngang ngược của người Bồ Đào Nha, như cập bến mà không xin phép, không chịu đóng thuế hải quan, lăng mạ và ngược đãi quan chức được cử ra thuyền họ thu thuế, xông vào tàu thuyền của nhiều nước khác và trấn lột tiền bạc, xây chiến lũy và lắp đặt nhiều đại bác, v.v. Ngoài ra, họ còn tỏ thái độ bất kính đối với nghi thức phải tuân theo khi diện kiến triều đình (Cordier H. 1911, tr. 521).

Trước những tố cáo ấy, hoàng đế Chính Đức bình thản trả lời: “Những người này không biết tập tục của nước ta; dần dần họ sẽ học thôi” (Ferguson D. 1902, tr. 105-106). Nhưng các đại thần không chấp nhận thái độ ngang ngược ấy; trong số đó có quan ngự sử tên là Khâu Đạo Long 邱道隆 đã lên tiếng can gián vua: Malacca là thuộc quốc, vậy mà người Feringis(5) dám xâm chiếm lãnh thổ, nay lại mang triều cống xin ban cho họ quyền được cai trị. Vì vậy phải ra lệnh họ trả lại lãnh thổ mà họ đã chiếm giữ cho Malacca; chỉ khi nào việc đó đã thực hiện thì chúng ta mới chấp thuận cho họ sang triều cống. Nếu họ khăng khăng bám lấy ảo tưởng, thì chúng ta sẽ tuyên cáo cho mọi người biết về những tội ác của họ, và sẽ đưa quân chinh phạt họ (Chang T.-T. 1934, tr. 51).

Giám sát ngự sử Hà Ngao 何 cho biết thêm một số chi tiết liên quan đến hành vi của người Bồ Đào Nha trong báo cáo của mình: Người Phật Lang ki rất tàn ác lại xảo quyệt. Họ nghênh ngang bất tuân luật pháp sở tại. Vũ khí của họ hơn hẳn vũ khí của các di bang trong vùng. Mấy năm trước họ bất thần đến thành phố Quảng Châu, và họ bắn súng đại bác gây ra tiếng nổ làm rung chuyển mặt đất. Vì thế để tránh di hại lâu dài, ông đề nghị không cho họ đến mua bán ở Quảng Châu (Wade G. P. 1994b, tr. 1973-5). Tuy nhiên, Bố chánh sứ ty Quảng Đông Wu T’ing-chu (吳廷 Ngô Đình Cử) lại cần họ cung cấp hương liệu cho triều đình, nên không thể thực hiện triệt để việc cấm họ tới lui buôn bán được.

Người Bồ Đào Nha đến Quảng Châu (Tranh vẽ đầu thế kỷ XVI, Corbis Historical / Getty) Sổ tay của Tomé Pires, Đại sứ đầu tiên của Bồ Đào Nha ở Trung Hoa, được in thành sách với tựa là Suma Oriental

 

Trong một tập tài liệu do Cố Ưng Tường 顧應祥 (1483-1565) biên soạn về súng đại bác của người Bồ Đào Nha(6) có đoạn ông nói về những việc liên quan đến sự xuất hiện của sứ giả nước này ở Quảng Châu khi ông đang hành chức tại đó:

“Phật Lang ki là tên của một quốc gia, không phải là một loại đại bác. Vào năm Đinh Sửu, năm Chính Đức (1517), lúc ấy tôi đang là án sát thiêm sự (按察僉事) phụ trách Hải đạo ở Quảng Đông. Hai chiếc tàu biển to thình lình xuất hiện và đi thẳng đến Hoài Viễn Dịch ở Quảng Châu. Họ yêu cầu được mang triều cống của nước Phật Lang ki. Viên chỉ huy đội tàu tên là Chia-pi-tan 加必丹(7), thuộc hạ thì ai cũng mũi cao, và hố mắt sâu. Họ trùm đầu bằng vải trắng giống trang phục của người hồi giáo” (Bryant D. 2008, tr. 546).

Bên cạnh những tin tức truyền đi trong hệ thống thông tin chính thức, còn có nhiều tin đồn lan truyền khắp nơi, nói rằng người Bồ Đào Nha mua và bắt cóc trẻ con để ăn thịt. Chang T.-T. cho biết, quyển Nguyệt Sơn tùng đàm của Lý Văn Phượng cung cấp nhiều chi tiết sinh động về việc mua trẻ con với giá 100 quan [100 cash] mỗi đứa và về cách thức làm thịt chúng như thế nào (Chang T.-T. 1934, tr. 48). Những tin ấy cũng được nhiều người ghi chép thành sách, khiến hình ảnh người Bồ Đào Nha trong mắt người Trung Hoa vô cùng tệ hại. P. Pelliot cho biết, sách Shuyu zhouzi lu 殊域周咨錄 (Thù vực châu tư lục) của Yan Congjian 嚴從簡 (Nghiêm Tùng Giản) được biên soạn xong vào năm 1574 có đoạn viết:

“Những người này thích ăn thịt trẻ con. Tuy nhiên chỉ có người đứng đầu vương quốc [kouo-tchou 國主 Quốc chủ] mới được ăn, còn các quan dưới quyền cũng không thể ăn […]. Cách chế biến như sau: nấu nước sôi trong một cái nồi lớn, khi nước sôi, họ bỏ một đứa bé vào trong một cái lồng sắt và đặt lồng lên trên nồi và xông nó trong hơi nước sôi để cho nó để mồ hôi tuôn ra hết, rồi dùng bàn chải sắt chà sạch lớp da bong ra. Lúc này đứa bé vẫn còn sống; thế là họ giết cho chết, rồi mổ bụng, moi nội tạng bỏ đi và chưng hấp phần còn lại để ăn” (Pelliot P. 1948, tr. 93).

Những thông tin này xuất phát từ sự ngộ nhận vào thời bấy giờ về danh xưng của các quốc gia: tác giả Nghiêm Tùng Giản không hề biết rằng vương quốc Bồ Đào Nha nằm ở tận châu Âu, một khái niệm địa lý mà họ chưa từng nghe đến, hoàn toàn khác với các nhà nước sơ khai ở ven biển của vùng Sumatra và Malacca, nơi mà d’Albuquerque vừa chiếm. Vì thế, tác giả đã nhầm lẫn người Bồ Đào Nha với cư dân bản địa ven bờ eo biển Malacca: cũng trong sách Thù vực châu tư lục, khi nói về xứ sở của người Phật lang ki, tác giả viết:

“Còn có một nước man di khác tên là Folanji, không có giao thương với các vương triều Trung Hoa trước đây. Một số người nói rằng đó là tên mới của vương quốc Nanboli 喃勃利 [Nam Bột Lợi](8). Thuở xa xưa, có một quốc gia Langxu ghosts 狼徐鬼國 [Lang Từ Quỷ quốc], bao gồm hai vùng đất, và cư dân trên hai vùng đất ấy là bộ tộc ăn thịt người. Người cổ trên đảo Java ăn thịt người. Nhà nước Folangji nằm đối diện với đảo Java và dân chúng ở đây cũng có xu hướng ăn thịt trẻ con. Nhưng chỉ có tù trưởng mới có quyền ăn thịt trẻ con, và các đại thần cũng như các quan dưới không có quyền đó (Qiong Zhang 2015, tr. 270).

  1. Pelliot cho biết thêm là hai đoạn trên đây đều được trích từ quyển Nguyệt Sơn tùng đàm của Lý Văn Phượng, một tác phẩm đã thất truyền, nhưng nhiều đoạn trích còn được tìm thấy ở quyển 天下郡國利病書Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư của 顧炎武 (Cố Viêm Vũ).

Tác giả người Nhật Kazunori Fukuda tìm được trong sách Guangdong Tongzhi (Quảng Đông thông chí), xuất bản năm 1602 có đoạn trích dẫn lời hai quan ngự sử Khâu Đạo Long [丘 道 隆] và Hà Ngao [何] nói về hành vi của người Bồ Đào Nha khi xuất hiện ở Quảng Đông: “Người Bồ Đào Nha phái Huo Ze Ya San [火者亞三] (Hỏa Giả Á Tam) đến Trung Hoa giả danh là sứ thần của Malacca, họ do thám lãnh thổ chúng ta, họ mua trẻ con, xẻ thịt và nướng chúng để ăn” (Fukuda Kazunori 2002, tr. 102).

Tin đồn cứ thế được truyền từ người này sang người khác, và cũng được sao chép từ tài liệu này sang tài liệu khác. Thật ra, môtip ăn thịt người, nhất là thịt trẻ con đã xuất hiện trong sử sách cũng như truyện truyền khẩu ở Trung Hoa từ xa xưa, chớ không phải chỉ từ khi người Bồ Đào Nha đặt chân lên đất Trung Hoa. Tác giả R. Des Rotours đã khảo sát tài liệu Trung Hoa từ xa xưa và đã chỉ ra 5 nguyên nhân dẫn đến việc ăn thịt người ở Trung Hoa: vì nạn đói kém tràn lan, vì tình huống bị bao vây, vì sở thích ăn uống, vì thù hận và vì cho là thịt người có thể chữa một số bệnh (Des Rotours 1968, tr. 22). Tuy nhiên, về những hành vi bạo ngược, thậm chí mua thiếu niên làm nô lệ của người Bồ Đào Nha thì có lẽ không còn gì phải nghi ngờ, vì ngay cả J. de Barros, người được mệnh danh là Titus của Bồ Đào Nha, tác giả bộ sách Décadas da Ásia bắt đầu xuất bản từ năm 1552, đã viết: “Simão d’Andrade không muốn cho phép các thương nhân các nước khác bốc hàng lên bờ trước khi người Bồ Đào Nha bán được hàng hóa. Thậm chí họ còn bị khép tội là đã cướp bóc hành khách và tàu thuyền của nhiều nước khác” (Chang T.-T. 1934, tr. 48). Cũng theo J. de Barros, “điều làm cho người dân Quảng Châu phẫn nộ nhất, đó là việc Simão d’Andrade, và người của ông ta trong hạm đội đã mua nhiều thiếu nhi nam và nữ trong nhiều gia đình quyền quý ở Quảng Châu, mà không nghĩ rằng họ đã xúc phạm đến ai trong thành phố” (Pelliot P. 1948, tr. 94).

Một thuyền trưởng Bồ Đào Nha tên là Diogo Calvo, người trở về từ Trung Hoa, đã có nói đến cách ứng xử của những đồng hương đầu tiên của mình trên đất Trung Hoa. Ông cho biết “họ không có nhã ý làm theo lệnh của vua Trung Hoa, và chỉ muốn gây chiến, giết chóc và cướp phá” (Ferguson D. 1902, tr. 28). Nhà truyền giáo Gaspar da Cruz là người đầu tiên viết một quyển sách rất chi tiết về Trung Hoa: quyển Tractado em que se contam muito por extenso as cousas da China(9) xuất bản tại Evora (Bồ Đào Nha) năm 1569 ghi lại rằng người Trung Hoa gọi người Bồ Đào Nha là fãcui và fãgin, được ông giải thích là homẽs do diabo (người quỷ), và gente doutra costa (người bên kia bờ biển) (Cruz, 1569, chương 23, sách không số trang). Chắc hẳn rằng đó là hai từ được Gaspar da Cruz ghi âm của các chữ 番鬼 (phiên quỷ) và 番人 (phiên nhân), là cách mà người Trung Hoa thời ấy thường dùng để chỉ những người nước ngoài với thái độ miệt thị. Thật vậy, ngoài hai từ này, trong một thời gian dài người Trung Hoa đã dùng nhiều từ ngữ mang tính miệt thị để gọi người Bồ Đào Nha như 西洋鬼 Xiyanggui (Tây dương quỷ), hoặc 澳夷 Ao yi (Áo Môn di, tức người man di ở Ma Cao) như đã ghi trong Minh Thực lục (Wade G. P. 1994a, tr. 280). Và mãi đến những thập niên đầu thế kỷ XIX, họ vẫn còn gọi các nước châu Âu là manyi 蠻夷 (man di), người Anh là hongmao yi 紅毛夷 (Hồng mao di) hoặc hongmao fan 紅毛番 (Hồng mao phiên), cho đến khi các cường quốc xâu xé Trung Hoa thì họ mới thay đổi cách gọi bằng từ trung lập bangguo 邦國 (bang quốc) (Ma Rong 2022, tr. 284).

Nói tóm lại, trong những thập niên đầu thế kỷ XVI, người Bồ Đào Nha vừa là đối tượng bị khinh ghét nhưng lại là mối đe dọa thường xuyên đối với người Trung Hoa và cả những nước khác trong vùng, bởi vì họ sở hữu nhiều công cụ kỹ thuật tiên tiến vượt trội so với mặt bằng chung trong khu vực, nhất là về trang bị vũ khí.

  1. Tham vọng của người Tây Ban Nha trong vùng Á Đông

Khi nhận ra rằng vùng đất mà Columbus và những người nối gót ông đã tìm ra không phải là Trung Hoa cũng chẳng phải là Ấn Độ, người Tây Ban Nha liền gấp rút tìm đường đi vòng qua châu Mỹ để đến quần đảo hương liệu ở vùng biển Đông Nam Á. Mục tiêu này đã được đoàn của Magellan thực hiện trong chuyến đi 1519-1521, với thành quả là việc “khám phá” ra Philippines và một con tàu chở đầy hương liệu từ quần đảo Moluccas về châu Âu. Nhưng giá trị của chuyến đi này không chỉ có thế: họ đã ký kết với Bồ Đào Nha hiệp ước phân định vùng khai thác thuộc địa ngày 22 tháng 4 năm 1529 tại Zaragoza sau nhiều cuộc đụng độ trong thập niên 1520, và cuối cùng thì Philippines thuộc về người Tây Ban Nha. Năm 1543 trước khi lên đường đi xây dựng guồng máy cai trị ở đây, nhà thám hiểm Ruy López de Villalobos đã lấy tên vua Felipe II đặt tên cho quần đảo này là Las Islas Filipinas. Tuy nhiên, mãi đến năm 1565, Miguel López de Legazpi mới chính thức áp đặt được quyền cai trị lên quần đảo này.

Năm 1941, chính quyền thuộc địa dựng bia ở đảo Mactan tưởng niệm ngày Magellan bị quân lính của Lapulapu giết (27 tháng 4 năm 1521) Năm 1951, Elpidio Quirino, Tổng thống nước Cộng hòa Philippines cho dựng bia ghi nhận Lapulapu là người đầu tiên đánh đuổi quân xâm lược Tây Ban Nha

Ngay khi vừa thành lập thuộc địa Philippines, các quan chức thực dân đã nghĩ đến việc chinh phục nước Trung Hoa và các vương quốc lân cận, không thèm đếm xỉa tới thỏa thuận với Bồ Đào Nha năm 1529: trong một thư đề ngày 8 tháng 6 năm 1569 gửi vua Tây Ban Nha Felipe II, một sĩ quan tên là Andres de Mirandaola đã viết:

“Tất cả chúng thần là tôi tớ và chư hầu của Bệ hạ hoàn toàn tin chắc rằng trong thời gian trị vì của Bệ hạ, Trung Hoa sẽ là thần dân của Bệ hạ, và rằng tôn giáo của đấng Christ sẽ được lan tỏa và thăng hoa trên phần đất này, và vương quyền của Bệ hạ sẽ được mở rộng; tất cả những điều đó sẽ được thực hiện trong một thời gian rất ngắn” (Blair E. H. & Robertson J. A. 1903a, tr. 42).

Đó không phải là ý tưởng bốc đồng nhất thời của một cá nhân, vì mấy năm sau đó, viên toàn quyền Philippines cho soạn thảo hẳn một kế hoạch chinh phục Trung Hoa để dâng lên nhà vua Tây Ban Nha: trong bản tường trình đề ngày 7 tháng 6 năm 1576, toàn quyền Francisco de Sande đã viết như sau:

“Cuộc chiến với đất nước ấy [Trung Hoa] rất chính đáng, vì nó đem lại tự do cho người nghèo khốn khổ đang bị giết hại; con cái của họ thì bị người lạ bắt đi, còn quan lại, vua chúa đối xử với họ bạo ngược chưa từng thấy. Người này nói xấu người kia; và hầu hết họ đều là cướp biển khi có cơ hội, đến độ mà không ai còn trung thành với nhà vua. Hơn nữa, cần phải có một cuộc chiến chống lại nước này, vì họ cấm mọi người vào vương quốc họ. Ngoài ra, hạ thần không biết và cũng không nghe nói có thứ ác độc nào mà họ không làm; vì họ là bọn người thờ ngẫu tượng, đạo đức bại hoại, trộm cắp, cướp bóc trên biển lẫn trên đất liền” (Blair E. H. & Robertson J. A. 1903b, tr. 59).

Theo tính toán của viên toàn quyền, chỉ cần 4.000 đến 6.000 quân lính trang bị lao, súng hỏa mai và tàu thuyền có trang bị pháo binh và quân nhu cần thiết cũng đủ để tiến hành cuộc chinh phục nước Trung Hoa (Blair E. H. & Robertson J. A. 1903b, tr. 58-59). Men chiến thắng trong các cuộc chinh phục thuộc địa châu Mỹ, cộng thêm sự mù tịt về đất nước và con người vùng đất này đã khiến viên toàn quyền nói trên đã trù liệu quá sơ sài. Có người nghi ngờ sự sốt sắng này chỉ nhằm muốn làm vui lòng nhà vua Tây Ban Nha mà thôi. Nhà nghiên cứu O. B. Frenkel còn có nhận xét rằng khi nhận ra thuộc địa mới Philippines không trù phú như họ đã từng nghĩ cũng góp phần thôi thúc họ vạch kế hoạch chinh phục Trung Hoa (Frenkel O. B. 2017, tr. 136). Dù cho xuất phát từ động cơ nào, kế hoạch của Francisco de Sande đã phơi bày não trạng chiếm đất của những nhà thực dân Tây Ban Nha thời bấy giờ, như họ đã từng làm ở châu Mỹ. Tuy nhiên, vua Felipe II có biệt danh là “Người Thận trọng” đã để ngoài tai các đề nghị tới tấp gửi về từ Philippines, và ra lệnh giữ hòa bình và hữu nghị với người Trung Hoa. Hơn nữa, ông tuyệt đối cấm toàn quyền Sande hợp tác với bọn cướp biển thù nghịch với nhà Minh, bởi vì ông không muốn gây ra sự phẫn nộ chính đáng cho người Trung Hoa chống lại người Tây Ban Nha (Blair E. H. & Robertson J. A. 1903b, tr. 94).

Sau khi vương triều Bồ Đào Nha được đặt vào tay vương triều Felipe II của Tây Ban Nha, các quan chức thuộc địa càng táo bạo hơn trong việc xây dựng nhiều kế hoạch chinh phục các vương quốc trong vùng lục địa Đông Nam Á rộng lớn, bao gồm Aceh, Johor, Patani, Siam, Pegu, Cambodia, Champa, Đàng Trong, thậm chí cả Trung Hoa và Nhật Bản (Borschberg P. 2003, tr. 56). Để có thể thực hiện tham vọng ấy, người Tây Ban Nha thỏa thuận ngừng bắn với Thổ Nhĩ Kỳ năm 1581, và sau đó ký kết hòa bình với thuộc địa Hà Lan, khiến họ khá rảnh tay để vạch kế hoạch phát triển thuộc địa. Năm 1586, một cuộc họp gồm 50 nhân vật cao cấp ở Philippines, đứng đầu là viên toàn quyền Santiago de Vera và Giám mục Manila Domingo de Salazar cùng ký tên vào bản kế hoạch tiến quân vào Trung Hoa, được soạn thảo rất công phu, đặc biệt là đã vạch ra nhiều viễn cảnh huy hoàng, nhằm thuyết phục vua Tây Ban Nha, chẳng hạn như:

“Khi Bệ Hạ là chúa tể Trung Hoa, ngay lập tức Bệ Hạ sẽ trở thành chúa tể của tất cả các quốc gia lân cận nằm dọc theo bờ biển vùng này, bao gồm Đàng Trong, Campuchia, Xiêm, Patan, và kể cả các xứ xa hơn như Malacca; và lúc ấy sẽ rất dễ dàng để chinh phục các quần đảo Sumatra, Java, Borneo, Maluku, v.v.” (Blair E. H. & Robertson J. A. 1903c, tr. 226).

Sự hăng hái ấy còn thể hiện tầm nhìn nhạy bén của họ về địa chiến lược trong khu vực và trên thế giới: họ trù liệu cho viễn cảnh các cường quốc khác như Pháp, Anh và các nước “dị giáo khác” ở Bắc Âu sẽ đổ xô vào vùng biển này (Blair E. H. & Robertson J. A. 1903c, tr. 226). Nhà truyền giáo dòng Tên Alonso Sánchez được giao trọng trách mang hồ sơ về trình cho nhà vua Tây Ban Nha. Cuối năm 1587, kế hoạch này đã đến tay nhà vua, theo đó Bồ Đào Nha và các giáo sĩ dòng Tên sẽ cùng phối hợp với Tây Ban Nha, với một lực lượng hỗn hợp từ 10.000 đến 12.000 lính Tây Ban Nha, 5.000 đến 6.000 quân bản xứ tuyển mộ ở vùng Visayas (Philippines) và 6.000 lính Nhật (Blair E. H. & Robertson J. A. 1903c, tr. 200). Thật ra ý tưởng hợp tác giữa các lực lượng vùng Viễn Đông của hai cường quốc biển này đã được đưa ra trước khi hai vương quyền sáp nhập làm một vào năm 1580, nhưng không có ai ủng hộ, ngoại trừ giám mục Dom João Ribeiro Gaio người luôn cổ xúy cho sự hợp tác ấy (Boxer C. R. 1969, tr. 126). Tuy nhiên, trận đại bại của hạm đội Tây Ban Nha Armada năm 1588 trước hải quân Anh trên Đại Tây Dương đã khiến kế hoạch chinh phục nói trên bị hủy bỏ (Iaccarino U. 2017, tr. 96).

Mặc dù kế hoạch quy mô đánh chiếm Trung Hoa và các nước lân cận chết từ trong trứng nước, nhưng không vì thế mà tham vọng của các quan chức ở Philippines tan biến. Năm 1596, họ đã đem quân đi trên 3 thuyền tiến đến kinh đô Cambodia nhưng bị chống trả quyết liệt, đành phải đi ra Hội An để trở về Philippines(10). Một năm sau, đích thân cựu toàn quyền Luis Pérez Dasmariñas chỉ huy chiến dịch chinh phạt Cambodia, nhưng lần này lại thất bại vì bão đã cuốn tàu thuyền ngược lên phía Bắc, và đánh chìm tại bờ biển Quảng Đông. C. R. Boxer cho biết trong thời gian chờ đợi được cứu, Luis Pérez Dasmariñas đã vạch ra kế hoạch đánh chiếm Xiêm và vùng Đông dương (Boxer C. R. 1969, tr. 133). Hernando de los Rios Coronel, người được xem như là bộ óc của Philippines lúc bấy giờ, đã nhiệt tình cộng tác với Luis Pérez Dasmariñas; ông ta cho rằng trước tiên cần phải chiếm Đài Loan vừa để ra tay trước khi người Nhật hành động, đồng thời cũng để làm tiền đề cho việc đặt chân lên lục địa châu Á. Họ ước tính rằng chỉ cần một ngàn lính là có thể chiếm được Xiêm, 300 lính để chiếm Champa và 1.500 lính để chiếm Đàng Trong (Boxer C. R. 1969, tr. 132). Sự sốt sắng của các quan chức này không phải vô cớ: nhà nghiên cứu người Pháp A. Cabaton cho thấy lúc bấy giờ không ít đối thủ châu Âu bắt đầu tham gia vào cuộc chạy đua đến vùng Viễn Đông qua nhận xét sau đây:

“Khi liên minh hai vương triều vùng Iberia sáp nhập dưới quyền Felipe II đã giúp Tây Ban Nha rảnh tay không phải lo việc cạnh tranh của Bồ Đào Nha thì Tây Ban Nha bị thôi thúc bởi yêu cầu chinh phục quần đảo Moluccas và bán đảo Đông dương. Họ muốn thực hiện cả hai việc này trước khi người Hà Lan và người Anh có thể đánh chiếm các vùng đất này, vì hai cường quốc này đã xuất hiện trên Ấn Độ dương: quần đảo Moluccas thì cực kỳ giàu có, còn Campuchia có vẻ như đã chín muồi” (Cabaton A. 1913, tr. 74).

Tuy nhiên, thực lực của Bồ Đào Nha lúc bấy giờ không đủ mạnh để có thể ngăn chận bước tiến của các cường quốc châu Âu khác đánh chiếm Đông Nam Á. Viên toàn quyền Philippines và cả giám mục Malacca là João Ribeiro Gaio thấy rõ điều đó. Vì vậy, để chinh phục Xiêm và các nước lân cận, họ chủ trương thành lập đội quân viễn chinh ở Manila, và tranh thủ sự hỗ trợ của Miến Điện và Campuchia, hai nước này đã từng chịu nhiều đau khổ dưới bàn tay của vị “Hắc Vương” vương quốc Xiêm (Boxer C. R. 1969, tr.  129).

Về phía người Bồ Đào Nha, mặc dù đặt chân đến Viễn Đông đầu tiên, nhưng có vẻ như họ ít bị thôi thúc bởi tư tưởng chiếm thuộc địa như người Tây Ban Nha, một phần vì trong những thập niên đầu của thế kỷ XVI, họ gần như không có đối thủ châu Âu cạnh tranh, vì mọi thông tin về các vùng đất mới được khám phá đều bị giấu kín, nhưng mặt khác, vì lực lượng của họ quá ít, nên chỉ tập trung vào việc khai thác các vùng sản xuất hương liệu ở quần đảo Maluku để củng cố thế độc quyền chi phối thị trường châu Âu. Sự thận trọng này đã làm sốt ruột những ai muốn nhanh chóng mở rộng thuộc địa: trong bộ tài liệu viết tay Boxer Codex cuối thế kỷ XVI có tập hồ sơ do Giám mục Bồ Đào Nha João Ribeiro Gaio của Malacca biên soạn năm 1584 gởi Vua Felip II có đoạn:

“Xiêm có nhiều đá quý và hồng ngọc, cánh kiến trắng, tơ lụa, gỗ vang, và nhiều thứ khác được kể ra trong quyển nhật ký hải hành đã nói. Quần đảo Maluku có nhiều đinh hương; còn Banda thì có nhiều nhục đậu khấu và giả chủng bì (mace, aril). Trung Hoa có tất cả các loại hàng hóa, thực phẩm, và các loại tài sản khác. Brunei có nhiều vàng và rùa; Sunda có nhiều hồ tiêu; Timor có nhiều gỗ đàn hương; và quần đảo Java có nhiều thực phẩm và vô số tàu thuyền; Nhật có nhiều mỏ bạc, và từ Quanzhou (Tuyền Châu) có tất cả các loại thực phẩm cùng loại đến từ Trung Hoa, mặc dù số lượng ít hơn. Xứ Đàng Trong có gỗ trầm hương, kỳ nam và rùa” (Souza G. B. & Turley J. S. 2016, tr. 477-479).

Sau khi liệt kê ra những thông tin về tài nguyên thiên nhiên của nhiều địa điểm trong vùng mà tác giả đã thu thập được, vị giám mục hiếu chiến Dom João Ribeiro Gaio đã khuyến cáo rằng sau khi chinh phục Sumatra và Malaya, cần phải tiếp tục chinh phục các vương quốc Xiêm, Campuchia, xứ Đàng Trong và Trung Hoa (Boxer C. R. 1969, tr. 123). Ông vạch ra viễn cảnh như sau:

“Vùng Bengal sẽ được bình định, là vùng trù phú với nhiều vải vóc tinh xảo, thực phẩm và đường […]. Và xa đến tận Cochin, Bệ hạ sẽ trở thành chúa tể và nhà chinh phục trên các phần lãnh thổ của Trung Hoa, Xiêm, Campuchia, Đàng Trong, và cũng sẽ thành chúa tể và sẽ bình định bờ biển Malabar, Chaul, Bassein, Daman và Diu…” (Souza G. B. & Turley J. S. 2016, tr. 481-482).

Như đã nói, giám mục João Ribeiro Gaio là một trong số ít người Bồ Đào Nha toàn tâm toàn ý với chủ trương chinh phục phương Đông của Tây Ban Nha. Ông ủng hộ cuộc tấn công của quân đội Tây Ban Nha vào Xiêm và Patani, hai xứ nằm trong vùng bảo trợ của Bồ Đào Nha, nhưng phải tổ chức từ hướng Mexico và Manila; ông còn gợi ý là nên tổ chức cùng thời gian với cuộc tấn công của Bồ Đào Nha vào Aceh. Thậm chí ông còn đề nghị lấy Malacca và Manila làm căn cứ để tổ chức một cuộc tấn công của liên quân hai hạm đội Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vào lãnh thổ của Trung Hoa và Nhật Bản (Sousa Pinto P. J. 2012, tr. 71).

Tóm lại là trong suốt ba thập niên sau khi đã thiết lập guồng máy cai trị ở Philippines, nhiều giới chức từ nhà truyền giáo, thẩm phán đến giới quân sự đều nung nấu ý tưởng chinh phục Trung Hoa và các vương quốc trong vùng như Xiêm, Cambodia, Đàng Trong (Headley J. M. 1995, tr. 637).

Lời tạm kết

Từ xa xưa, các nền văn minh đã từng nhiều lần gặp nhau, dù với quy mô nhỏ hơn, chớ không chỉ xảy ra từ cuối thế kỷ XV; và sự gặp nhau là điều tất yếu trong sự phát triển của nhân loại. Dù cho động cơ là gì, duyên cớ như thế nào, và diễn ra ở châu lục nào chăng nữa thì sự tiếp xúc luôn luôn dẫn đến nhiều hệ quả tốt cũng như xấu, và đó cũng là điều không tránh khỏi.

Thời đại Khám phá là mở đầu cho các cuộc gặp nhau lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Nó thể hiện một bước nhảy vọt lớn lao về trình độ khoa học và kỹ thuật nói chung, và về kiến thức và kỹ năng hàng hải nói riêng của người châu Âu. Nó làm cho các dân tộc ở các châu lục khác đi từ kinh ngạc, bàng hoàng, ngưỡng mộ thành quả của người châu Âu, đến khiếp sợ, căm ghét và thù hận những vị khách không mời mà đến này vì đã gieo rắc biết bao là chết chóc và tàn phá kinh hoàng. Từ một thế kỷ nay, nhất là từ những thập niên gần đây, giới nghiên cứu phương Tây đã dần bớt đi những ca ngợi một chiều về việc các đoàn thám hiểm đem ánh sáng văn hóa châu Âu đến Đông Ấn và Tây Ấn, mà quan tâm nhiều đến mặt trái của làn sóng này. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận các giá trị phương Tây, mà trước hết đó là sự trưởng thành trong nhận thức của nhân loại, khi họ muốn có cái nhìn khách quan hơn, toàn diện hơn về những sự kiện lịch sử, để góp phần tìm ra những nguyên tắc ứng xử liên văn hóa, liên quốc gia, nhằm giảm bớt những khía cạnh tiêu cực của các cuộc tiếp xúc giữa các dân tộc. Và cũng chính trong nhãn quan đó mà chúng tôi muốn lấy bối cảnh tiếp xúc văn hóa Âu – Á làm tiền đề cho việc khảo sát những vấn đề của nước Đại Việt mà chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu sau.


Bài đã đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số tháng 3 năm 2026)

Tài liệu trích dẫn

Blair E. H. & Robertson J. A. 1903a. The Philippine Islands, Vol. III ­– 1569-1576. Cleveland, Ohio: The Arthur H. Clark Company.

Blair E. H. & Robertson J. A. 1903b. The Philippine Islands, Vol. IV – 1576-1582. Cleveland, Ohio: The Arthur H. Clark Company.

Blair E. H. & Robertson J. A. 1903c. The Philippine Islands, Vol. VI – 1583-1588. Cleveland, Ohio: The Arthur H. Clark Company.

Borschberg P. 2003. Portuguese, Spanish and Dutch Plans to Construct a Fort in the Straits of Singapore, ca. 1584-1625. Tạp chí Archipel, volume 65, 2003.

Boxer C. R. 1969. Portuguese and Spanish Projects for the Conquest of Southeast Asia, 1580-1600. Tạp chí Journal of Asian History, Vol. 3, No. 2.

Bryant D. 2008. The Great Recreation Ho Ching-ming (1483-1521) and His World. Leiden & Boston: Brill.

Cabaton A. 1913. L’Espagne en Indochine à la fin du XVIe siècle. Tạp chí Revue de l’Histoire des Colonies françaises, Première Année.

Chang, T.-T. 1934. Sino-Portuguese Trade from 1514-1644: A Synthesis of Portuguese and Chinese Sources. Leiden: Brill Ltd.

Cordier H. 1911. L’arrivée des Portugais en Chine. Tạp chí T’oung Pao, Second Series, Vol. 12, No. 4 (1911).

Cruz, Gaspar da 1569. Tractado em que se cõtam muito por estẽso as cousas da China, cõ suas particularidades, e assi do reyno dormuz. Impreſſo com Licença.

Des Rotours R. 1968. Encore quelques notes sur l’anthropophagie en Chine. Tạp chí T’oung Pao, Second Series, Vol. 54, Livr. 1/3.

Ferguson D. 1902. Letters from Portuguese captlves in Canton, written in 1534 and 1536. Bombay: Printed at the Education Society’s Steam Press.

Frenkel O. B. 2017. Conquistadores or Merchants? Spanish Plans for the Conquest of China, 1565–1586. Tạp chí Crossroads số 16 (Oct. 2017).

Fukuda Kazunori 1994. The Relations Between China and Portugal in the Early Sixteenth Century Some Observations on the Yue Shan Cong Tan. Tạp chí Review of Culture, no. 1 (2002).

Groeneveldt, W. P. 1876. Notes on the Malay Archipelago and Malacca Compiled from Chinese Sources. Batavia: W. Bruining & The Hague: M. Nijhoff.

Headley J. M. 1995. Spain’s Asian Presence, 1565-1590: Structures and Aspirations. Tạp chí The Hispanic American Historical Review, Vol. 75, No. 4 (Nov., 1995).

Iaccarino U. 2017. Conquistadors of the Celestial Empire: Spanish Policy toward China at the End of the Sixteenth Century. Trong R. J. Antony & A. Schottenhammer (ed.) 2017. Beyond the Silk Roads. New Discourses on China’s Role in East Asian Maritime History. Wiesbaden: Harrassowitz Verlag.

Kammerer A. 1944, La Découverte de la Chine par les Portugais au XVIe siècle et la Cartographie des Portolans. Tạp chí T’oung Pao, Vol. 39, Supplément.

Ma Rong 2022. China under Western Aggression: Discourse Transformations, Identity Shifts, and National Reconstruction. Tạp chí Journal of Chinese Humanities, Vol. 8, Issue 3 (tháng 12/2022).

Pelliot P. 1948. Le Ḫōj̆a et le Sayyid Ḥusain de l’Histoire des Ming. Tạp chí T’oung Pao, Second Series, Vol. 38, Livr. 2/5 (1948).

Qiong Zhang 2015. Making the New World Their Own. Chinese Encounters with Jesuit Science in the Age of Discovery. Leiden & Boston: Brill.

Sousa Pinto P. J. 2012. The Portuguese and the Straits of Melaka 1575-1619. Singapore: National University of Singapore.

Souza G. B. & Turley J. S. 2016. The Boxer Codex Transcription and Translation of an Illustrated Late Sixteenth-Century Spanish Manuscript Concerning the Geography, Ethnography and History of the Pacific, South-East Asia and East Asia. Leiden & Boston: Brill.

Wade G. P. 1994a. The Ming Shi-lu (Veritable Records of the Ming Dynasty) as a Source for Southeast Asian History – 14th to 17th Centuries, Vol. 1/8. Luận án tiến sĩ, bảo vệ tại Đại học Hong Kong, tháng 4/1994.

Wade G. P. 1994b. The Ming Shi-lu (Veritable Records of the Ming Dynasty) as a Source for Southeast Asian History – 14th to 17th Centuries, Vol. 6/8. Luận án tiến sĩ, bảo vệ tại Đại học Hong Kong, tháng 4/1994.

Wills J. E. 2008. Relations with maritime Europeans, 1514-1662. Trong The Cambridge History of China, Vol. 8 Part 2. New York: Cambridge University Press.

Chú thích:

(1) Để có thêm nhiều chi tiết, xin đọc bài “Người Bồ Đào Nha đầu tiên đến Đại Việt” (Trần Thanh Ái) đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số tháng 4 và tháng 5 năm 2021.

(2) Nguyên văn trong Minh sử là 佛郎機 (Phật lang ki). W. P. Groeneveldt không chuyển âm thành Fo-lang-ji như nhiều tác giả khác, mà dùng từ nguyên Frank để dịch, với chú thích bên cạnh là Portuguese.

(3) W. P. Groeneveldt cho biết nguyên văn là 蘇 端 馬 末.

(4) Thế tông 世宗, là miếu hiệu của hoàng đế 嘉靖 Gia Tĩnh. Ông lên ngôi ngay sau khi vua Chính Đức mất năm 1521.

(5) Minh Sử viết là 佛郎機 nhưng trong tài liệu năm 1934 thì Cheng T. T. chuyển âm thành Feringis, còn trong tài liệu năm 1962 thì ông lại ghi theo bính âm là Fo-lang-chis. Cả hai cách viết đều phỏng âm từ chữ Frank.

(6) D. Bryant cho biết là tài liệu này được Cheng Jo-tseng 鄭若曾 in lại trong quyển Ch’ou-hai T’upien 籌海圖編 (Trù hải đồ biên) vào năm đầu thập niên 1560s, và năm 1621 được in lại trong Wu-pei Chih 武備志 (Vũ Bị chí). W.F. Mayers đã dịch tài liệu này sang tiếng Anh vào năm 1868, nhưng P. Pelliot cho biết là bản dịch ấy có nhiều sai sót (Kammerer A. 1944, tr. 19).

(7) Các viên chức hải quan Trung Hoa phiên âm chữ Capitão (thuyền trưởng) vì họ tưởng đó là tên riêng của viên chỉ huy tàu Bồ Đào Nha.

(8) Theo Qiong Zhang (2015, tr. 270), Nanboli ngày nay là Banda-Aceh, một thành phố cảng nằm ở mũi đất phía Tây Bắc của đảo Sumatra (Indonesia).

(9) Năm 1625, sách đã được dịch ra tiếng Anh với tựa là A Treatise of China and the adjoining regions, in trong quyển 3 của bộ Purchas His Pilgrimes, xuất bản tại London. Năm 1953, C. R. Boxer đã dịch lại và in trong quyển South China in the Sixteenth Century (1550-1575), do Hakluyt Society xuất bản tại London.

(10) Để biết thêm chi tiết, xem bài “Ngày đầu đến Đại Việt của người Tây Ban Nha” đăng trên tạp chí Xưa & Nay, số tháng 1 năm 2022.

Bình luận về bài viết này