Bắc Triều Tiên và Triều Đại Kim (Bài 6)

BRADLEY K. MARTIN

Trần Quang Nghĩa dịch

SÁU Với lãnh tụ đã mở cửa thiên đường

 

Trong suốt sự nghiệp của mình, bắt đầu với những vở kịch ngắn do ông soạn ở Kilin với tư cách là một người tổ chức sinh hoạt cho học sinh, Kim Il-sung đã thể hiện năng khiếu của một nghệ sĩ biểu diễn. Vì vậy, khi các quan chức của Đảng Lao động tập trung tại Bình Nhưỡng để tham dự phiên họp toàn thể của Ủy ban Trung ương vào ngày 5 tháng 8 năm 1953, họ đã gặp nhau trong một hội trường được trang bị để chứa một ngàn người. Làm sao điều đó có thể xảy ra, chỉ vài ngày sau khi hiệp định đình chiến được ký kết, ở một thành phố mà cuộc ném bom của Mỹ đã san phẳng gần như mọi tòa nhà? Chuyện kể rằng Kim đã ra lệnh xây dựng móng và tường của tòa nhà ngay cả trước khi đình chiến – dựa trên lý thuyết rằng các bức tường có nhiều khả năng hơn mái nhà trong việc chống chọi với bất kỳ cuộc tấn công ném bom nào của Liên Hiệp Quốc. Cấu trúc tòa nhà không có mái thực sự đã tồn tại. Ngay sau khi hiệp định đình chiến được ký kết, Kim đã ra lệnh nỗ lực hết sức để lợp mái tòa nhà và hoàn thiện nội thất cho kịp thời gian cuộc họp.

Kim coi thời kỳ hậu Chiến tranh Triều Tiên không phải là thời gian để thư giãn sau nỗi khủng khiếp của chiến tranh mà để hai hệ thống đối lập sẽ lao mình vào vị trí cạnh tranh khốc liệt hơn nữa. Miền Bắc phải xây dựng một nền kinh tế mạnh mẽ và hấp dẫn – không chỉ cho người dân mà còn để hỗ trợ nỗ lực không ngừng đưa miền Nam nằm dưới sự cai trị của cộng sản. Hội trường họp ngay lập tức được coi là biểu tượng sống động cho quyết tâm của ông. Bài phát biểu của ông dành cho các quan chức đảng tụ tập ở đó có tựa đề “Tất cả để phục hồi và phát triển nền kinh tế quốc gia sau chiến tranh.”

Trong vài năm đình chiến, Triều Tiên đã xây dựng lại nền kinh tế tan vỡ của mình với rất nhiều sự giúp đỡ từ bạn bè. Đất nước này – đặc biệt là thủ đô Bình Nhưỡng – đã trở thành một nơi phô trương xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, Kim củng cố quyền lực thông qua các cuộc thanh trừng liên tục chống lại các đối thủ trong nước. Mối quan tâm của ông nhằm hạn chế sự phụ thuộc của đất nước vào các nước láng giềng cộng sản lớn hơn đã truyền cảm hứng cho ông phát triển một thương hiệu tự lực tự cường của nền kinh tế cộng sản.

 

Mặc dù Kim không thừa nhận sự thất bại của cuộc chiến, nhưng đất nước đang bị tàn phá và ai đó phải chịu một trách nhiệm nào đó. Ông chuyển sang xoa dịu tình hình bằng cách đổ lỗi cho các quan chức cấp trung và cấp thấp về những sai phạm. Tuy nhiên, điều đó vẫn chưa đủ và ông đã hy sinh một số người trong giới lãnh đạo.

Ngay cả khi chiến tranh Triều Tiên vừa nổ ra, Kim đã đổ lỗi cho các quan chức cấp cao. Ngày 21 tháng 12 năm 1950, ông phát biểu tại một cuộc họp của ủy ban trung ương Đảng Lao động của mình, tấn công những cá nhân được nêu tên vì những sai lầm. Một số lỗi trong đó là lỗi gieo hoang mang nghiêm trọng, nhưng những lỗi khác chỉ là “tư tưởng chủ bại” và các vấn đề về thái độ lập trường khác. Một quan chức cấp cao bị mất tất cả các chức vụ chính thức vì đã nhận xét rằng sẽ khó chiến đấu nếu không có thêm máy bay – một nhận xét rõ ràng nói lên sự thật khi xét tới sự tàn phá gây ra khi người Mỹ tung ra sức mạnh không quân của họ.

Kim kêu gọi thanh trừng đảng, khẳng định rằng chiến tranh đã làm lộ diện một số đảng viên không trung thành. Cách tiến hành của ông là loại bỏ từng kẻ thù tiềm năng, từng nhóm một, trước khi họ có thể xây dựng đủ hậu thuẫn chính trị để lợi dụng thất bại của ông trong cuộc chiến để đẩy ông ra ngoài. Bị loại khỏi các vị trí chính thức và trong đảng sau một loạt các cuộc thanh trừng kéo dài – và trong nhiều trường hợp bị lưu đày, bỏ tù lao động khổ sai hoặc bị giết – hầu hết là các thành viên của các phe phái đối địch cộng với một số đồng đội cũ từ Mãn Châu thuộc phe của chính ông ta. Số người bị thanh trừng cuối cùng lên đến một tỷ lệ cao đáng kinh ngạc các vị tướng ΚΡΑ đã từng tham gia chiến tranh – khoảng chín trên mười, theo Yu Song-chol.

Có thể thấy thủ đoạn tàn khốc, chia để trị của Kim trong cuộc thanh trừng Ho Ka-i. Là phó chủ tịch Trung ương đảng và phó thủ tướng, Ho cũng là lãnh đạo khối công dân Liên Xô gốc Triều Tiên trong đó có Yu Song-chol, người đã gia nhập quân đội chiếm đóng của Liên Xô. Ho và Kim xung đột về việc nên biến Đảng Lao động thành một tổ chức tinh hoa như ở Liên Xô hay đảng quần chúng mà Kim mong muốn. Yu kể rằng một người Liên Xô gốc Hàn Quốc khác, Pak Chang-ok, một ngày nọ đưa cho Ho một bản sao của một tài liệu dự thảo của đảng đầy những lời ca ngợi hoa mỹ đối với Kim Il-sung – một kiểu ca tụng đã trở nên bắt buộc. Ho chỉ trích ngôn ngữ quá đà nên Pak đã đề nghị ông chỉnh sửa tài liệu dùm. Cắn mồi, Ho không nghi ngờ gì đã gạch chân những đoạn vi phạm cần phải sửa bằng mực đỏ. Pak liền đưa thẳng tài liệu đã đánh dấu cho Kim. Sau đó Ho đến thăm văn phòng thủ tướng. Bây giờ đã có bằng chứng về lòng bất trung của Ho, Kim “rút bản thảo ra khỏi ngăn kéo, mặt đỏ bừng”.

Tại cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 1 tháng 11 năm 1951, đồng chí bè cánh trước đây của Ho là Pak Chang-ok đã chủ trì một phiên họp chỉ trích nhằm vạch hết ra những việc  được cho là khuyết điểm. Ho mất chức vụ và tư cách đảng viên. Ông vẫn được giữ chức vụ phó thủ tướng một thời gian. Kim giao cho ông nhiệm vụ lấy công chuộc tội, trong một thời hạn nhất định, là phải phục hồi một con đập đã bị phá hủy trong Chiến tranh Triều Tiên. Yu nói rằng đó là một nhiệm vụ mà Ho chắc chắn sẽ thất bại. Năm 1953, người ta phát hiện Ho đã chết vì vết thương súng lục được cho là tự mình gây ra. Yu cho rằng đó thực sự là viên đạn của tên sát thủ đã ám sát ông.

Năm 1952, chính quyền Triều Tiên đã bí mật bắt giữ 12 người cộng sản từng hoạt động trong Đảng Lao động Hàn Quốc trước khi trốn sang miền Bắc. Theo cáo buộc chống lại họ, “nhận lệnh của đế quốc Mỹ”, họ đã lên kế hoạch một cuộc đảo chính thay thế Kim bằng thủ lĩnh phe phái miền Nam của họ, Pak Hon-yong. Họ cũng bị cáo buộc đã tiêu diệt “lực lượng dân chủ” ở miền Nam và làm gián điệp cho Hoa Kỳ. Một băng đảng gián điệp liên kết với họ, trong một “tội phản cách mạng hèn hạ,” được cho là đã phớt lờ mệnh lệnh của Kim nhằm tăng cường phòng thủ bờ biển phía tây, đặc biệt là khu vực Inchon-Seoul, vào tháng 7 năm 1950 – và dẫn đến việc Triều Tiên không thể đẩy lùi cuộc đổ bộ lên Inchon của bọn đế quốc Mỹ.

Trên thực tế, nhóm này đúng là đã thách thức quyền lãnh đạo thời chiến của Kim và tìm cách lật đổ ông ta, nhưng những cáo buộc quy kết các thành viên này với kẻ thù Mỹ gần như chắc chắn là bịa đặt. Mười hai người này bị đưa ra xét xử vào tháng 8 năm 1953, ngay sau khi tuyên bố đình chiến. Mười người nhận án tử hình trong khi hai người còn lại bị kết án tù hàng chục năm. Chính quyền đã biệt giam Pak Hon-yong, tháng 2 năm 1953, và kết án tử hình ông vào tháng 12 năm 1955.

Bên cạnh việc loại bỏ đối thủ nguy hiểm nhất của mình, Kim còn sử dụng các phiên tòa để củng cố quan điểm cho rằng chính hành động xâm lược của Mỹ và Hàn Quốc đã gây ra chiến tranh. Quan trọng hơn, ông đổ lỗi cho sự thất bại của cuộc chiến là do các đối thủ bị cáo buộc thông đồng với Hoa Kỳ. Như một người viết tiểu sử chính thức viết một cách say sưa: “Đã chiến đấu thắng lợi với chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ thù hùng mạnh nhất, trong khi những bè lũ gián điệp độc ác như vậy lại len lỏi vào Đảng nhằm thực hiện những âm mưu đen tối của chúng! Đồng chí Kim Il-sung vĩ đại biết bao!” Kim đã học cách loại bỏ các thách thức đối với quyền cai trị của mình bằng cách cuộn mình trong lá cờ. 

Yu Song-chol mô tả cách thức Kim Il-sung “phô diễn những chiến thuật chính trị sắc sảo bằng cách gieo rắc sự bất đồng giữa các nhóm phe phái khác nhau. Ở cấp độ cá nhân, Kim sẽ đưa ra những thăng tiến và nhiệm vụ đặc biệt để lấy lòng đối thủ. Sau đó, vào thời điểm họ trở nên bất cẩn hoặc thiếu cảnh giác, ông sẽ thanh lọc hoặc loại bỏ họ như một tia sét bất ngờ.”

Một nhóm nòng cốt gồm những người trung thành với Kim Il-sung đã thực hiện mệnh lệnh của ông trong những cuộc thanh trừng đó. Yu đếm được khoảng 25 cựu du kích đã từng đi theo Kim ở Mãn Châu và tại trại Lữ đoàn 88, sau đó theo ông về Bắc Triều Tiên. Hầu hết trong số họ Yu mô tả gần như mù chữ, một số thậm chí chưa học hết 4 năm tiểu học. Trong thời kỳ mà các thành viên của các nhóm khác đang nghiến răng trước tình trạng  quá độ ngày càng tăng của thói sùng bái cá nhân Kim, thì bọn ủng hộ ông rất vui mừng khi thấy lãnh tụ của mình được ngưỡng mộ như vậy. “Không có sự bất hòa về ý thức hệ giữa họ và Kim Il-sung,” Yu nói về phe du kích. Vì xuất thân hạn chế nên “họ không thể trở thành thế lực có thể thách thức ông ta, và không ai trong số họ có thể tự mình tồn tại trong trường hợp ly khai với ông.”

Kim so sánh “các phần tử bè phái” mà mình thanh trừng như lũ chuột cần phải tiêu diệt hoàn toàn: “Nếu chúng ta không bắt chuột, chúng sẽ sinh con đẻ cái. Chúng sẽ gặm nhấm đục lỗ xuyên qua tường và cuối cùng phá hoại cả ngôi nhà.”

 

Một tiểu sử chính thức tuyên bố rằng ngay cả khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Kim vẫn để mắt tới sự phát triển kinh tế thời hậu chiến: “Chẳng lẽ ông không thể tạo ra những trang trại rộng lớn trên cao nguyên chưa được khám phá ở phía bắc sao? Chẳng lẽ ông không thể cải tạo vùng đất ngập mặn từ Biển Tây sao? Xây dựng ở đâu một cơ sở luyện kim đồ sộ và cơ sở cho các ngành công nghiệp nhẹ? Các căn hộ ở thành phố và nhà ở nông thôn sẽ được xây dựng như thế nào và ở đâu? Đây là những câu hỏi mà ông ấy đã nghĩ đi nghĩ lại nhiều lần khi xem xét tương lai xa xôi.” Trong những ngày đen tối của năm 1951, Kim được cho là đã nghĩ ra tầm nhìn về Bình Nhưỡng được tái xây dựng và mời một kiến ​​trúc sư đến để thảo luận về ý tưởng này khi xung quanh máy bay vo ve trên đầu và súng phòng không nổ vang chung quanh. “Mắt ông ấy đã nhìn thấy vẻ lộng lẫy, mạng lưới những con đường tráng lệ kéo dài nối tiếp nhau, những công viên xinh đẹp nơi trẻ em vui đùa và những nhà văn hóa bằng đá cẩm thạch và đá granit”

Khi đến lúc biến tầm nhìn thành hiện thực, Kim đã biến việc tái thiết thủ đô thành một “trận chiến” toàn quốc theo mô hình Stakhanovite của Liên Xô, với các sinh viên đại học và nhân viên văn phòng bị ép phải phục vụ để giữ cho các công trường xây dựng hoạt động tốt cả ngày lẫn đêm. Các “trận chiến” khác xảy ra sau đó nhằm xây dựng lại các nhà máy và phương tiện vận tải khi Bình Nhưỡng quốc hữu hóa hoàn toàn ngành công nghiệp đất nước. Dọn dẹp tro tàn và tàn tích của chiến tranh, người dân Triều Tiên đã đặt nền móng ấn tượng cho phát triển kinh tế. Từ năm 1954 đến năm 1958, Bình Nhưỡng báo cáo rằng tổng sản lượng khai thác, sản xuất và truyền tải điện đã tăng hơn gấp ba lần. Vai trò của công nghiệp trong việc tạo ra thu nhập quốc dân nhanh chóng vượt xa vai trò của nông nghiệp – một dấu hiệu quan trọng của sự phát triển công nghiệp. Từ năm 1947 đến năm 1967, thu nhập bình quân đầu người được cho là đã tăng với tốc độ trung bình 13,1% một năm.

Các nước cộng sản khác đã giúp đỡ, nhưng vẫn còn tranh cãi liệu sự giúp đỡ đó đến dưới hình thức viện trợ từ thiện nước ngoài hay đơn thuần là thương mại và đầu tư. Theo một tính toán, từ năm 1946 đến năm 1960, Triều Tiên đã nhận được viện trợ nước ngoài tương đương khoảng 125 USD/người (xấp xỉ số tiền trên đầu người mà Hàn Quốc nhận được từ các nhà tài trợ phương Tây). Viện trợ đến từ Liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu và thậm chí cả Mông Cổ. Tuy nhiên, các thông báo về viện trợ cho Triều Tiên rõ ràng là không có trong hồ sơ của Liên Xô thời kỳ đó. Đó là lý do chính đáng để nghĩ rằng không có khoản tài trợ nào, vì Moscow trong các trường hợp khác không bao giờ ngần ngại nhận công lao cho hoạt động từ thiện. Những chuyến hàng đáng kể về nguyên liệu thô, thiết bị công nghiệp và nhiên liệu của Liên Xô cực kỳ hữu ích cho Triều Tiên đang phát triển kinh tế – nhưng có thể là tín dụng, được hoàn trả bằng sản phẩm của Bắc Triều Tiên.

Nhận được sự giúp đỡ từ nước ngoài là một chuyện, sử dụng tốt nó lại là một chuyện khác. Nhiều quốc gia nhận viện trợ có thành tích ảm đạm, nhưng các nhà phân tích nước ngoài rất ấn tượng trước việc Triều Tiên đã tận dụng những gì mình có để thúc đẩy nỗ lực công nghiệp hóa. Bình Nhưỡng đã tận dụng hiệu quả mức độ tập trung cao độ của đất nước, nền kinh tế nhỏ gọn và thiếu vắng nạn tham nhũng và tình trạng quản lý yếu kém một cách bất thường. Thành công của nó “làm cho hình mẫu Triều Tiên là duy nhất trong số nhiều quốc gia trên thế giới mong muốn phát triển nhờ nhận viện trợ,” một nghiên cứu được công bố bởi một tổ chức nghiên cứu bảo thủ của Mỹ cho biết.

Những gì Kim hứa với người dân Triều Tiên được diễn đạt bằng những thuật ngữ truyền thống để mô tả cuộc sống tốt đẹp. Người dân sẽ “sống trong nhà ngói, mặc y phục lụa, ăn cơm canh thịt. Mặc dù “mục tiêu đó vẫn khó nắm bắt nhưng nền kinh tế đã đạt được nhiều thành công ban đầu đến mức có lẽ Kim đã bắt đầu tin vào những tuyên bố ”thiên tài“ mà cấp dưới đang gán cho mình. Nghe điệp khúc ca tụng điều gì ông đã làm rồi, Kim Il-sung cảm thấy niềm tin dâng trào vào tương lai. Năm 1958, ông thậm chí còn khoe rằng Triều Tiên có khả năng “bắt kịp Nhật Bản trong ngành công nghiệp máy móc”.

 

Đằng sau mọi chính sách của ông là quyết tâm kiên định thống nhất đất nước. Ông tìm kiếm những cách thức tinh tế hơn để người Mỹ rút lực lượng bảo vệ chính quyền Seoul về nước. Tâm trí ông còn xa vời ý niệm cho rằng miền Nam tư bản và miền Bắc xã hội chủ nghĩa có thể cùng tồn tại hòa bình. Trong nguyên nhân tối hậu của việc thống nhất đất nước, nhiệm vụ hàng đầu của các nhà cách mạng Triều Tiên vẫn là đánh đổ “thế lực xâm lược Mỹ” đế quốc và giải phóng nhân dân miền Nam. CHDCND Triều Tiên phải xây dựng nền kinh tế của mình để đóng vai trò là “cơ sở chiến lược của Cách mạng Triều Tiên.”

Trong khi giảm bớt sự liều lĩnh đã đẩy ông vào cuộc xâm lược năm 1950, Kim không hề từ bỏ quyết tâm của mình. Ngay cả sự thù địch mà quân đội của ông đã gây ra trong thời gian họ chiếm đóng miền Nam cũng không ngăn cản được ông. Tuy nhiên, có một yếu tố khác đã đè nặng lên các tính toán của Kim: Nhờ hiệp ước an ninh chung Mỹ-Hàn mới, giờ đây rõ ràng là người miền Nam không đứng một mình. Trong những thập kỷ sau đó, miền Bắc sống trong mối hiểm họa rằng Hoa Kỳ sẽ tái tham gia Chiến tranh Triều Tiên – có lẽ lần này không ngần ngại xắn tay sử dụng khả năng hạt nhân của mình – nếu Kim tiếp tục nỗ lực thống nhất thông qua xâm lược.

Tuyên truyền của chế độ nhấn mạnh quyết tâm sẵn sàng đối đầu với Hoa Kỳ một lần nữa. Hơn nữa, nó sử dụng người Mỹ như những kẻ gây rối để truyền cảm hứng cho những nỗ lực đầy nhiệt huyết để xây dựng lại đất nước – như khi các công nhân tại nhà máy thép Hwanghae được cho là đã cam kết với Kim: “Bây giờ chúng tôi sẽ xây những lò sưởi lộ thiên và lò đốt cao và chắc chắn sẽ thiêu rụi đế quốc Mỹ, kẻ thù, trong ngọn lửa!”

Nhưng Kim muốn tránh đối đầu trực tiếp với người Mỹ trừ khi họ quá bận rộn với các cuộc chiến ở nơi khác nhờ đó ông có thể nhìn thấy cơ hội chiến thắng. Thống nhất mạnh mẽ sẽ là một lựa chọn trong trường hợp chiến tranh toàn cầu bùng nổ, ông nói vào năm 1955. “Sẽ khá khó khăn cho chúng ta khi chiến đấu một mình chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, trong điều kiện họ phải phân tán lực lượng trên quy mô toàn cầu, chúng ta sẽ tương đối dễ dàng đánh bại họ.”

Bên cạnh việc chuẩn bị cho cơ hội thống nhất thông qua chiến tranh, Kim còn phát triển một chính sách can thiệp khác nhằm đưa miền Nam dưới sự cai trị của cộng sản ngay cả trong thời bình. Chiến lược đó dựa trên mưu đồ lật đổ. Nó thể hiện sự quay trở lại với cách tiếp cận vào cuối những năm 1940, trước khi Bình Nhưỡng chuyển sang lập kế hoạch cho cuộc xâm lược năm 1950. Trong khi vận động để các lực lượng Mỹ rút khỏi miền Nam và ra khỏi tầm ảnh hưởng, Triều Tiên sẽ phá vỡ tinh thần chống cộng của người dân Hàn Quốc và kích động họ nổi dậy chống lại giới lãnh đạo của họ. Để làm được điều này, Bình Nhưỡng sẽ đào tạo các đặc vụ và đưa họ vào miền Nam. Cuộc cách mạng sẽ cộng sản hóa miền Nam và cho phép thống nhất dưới một hệ thống duy nhất.

Kim vẫn coi mình là Hồ Chí Minh của Triều Tiên. Nai nịt khả năng phòng thủ quân sự của mình, miền Bắc sẽ trở thành bệ phóng – và là nơi trú ẩn kiên cố, bất khả xâm phạm – cho các lực lượng tiến hành chiến tranh du kích hoặc các hoạt động quân sự hỗ trợ cho một cuộc cách mạng miền Nam.

Mặc dù Kim gọi đây là quá trình “thống nhất hoà bình” chế độ Bình Nhưỡng nhanh chóng bắt đầu chuẩn bị một cách tiếp cận bạo lực tiềm năng theo phong cách “chiến tranh nhân dân của Mao. Và đúng là bạo lực như nó đã từng là. Trong số những báo cáo thương vong là một phụ nữ Hàn Quốc tên Park Bu-ryon, vợ một ngư dân cá cơm trên đảo Koje, Kim Hong-jo. Hai dân địa phương miền Nam bị cáo buộc hoạt động cho Bình Nhưỡng đã đột nhập vào nhà bà vào năm 1960. Khi phát hiện ra họ bà hét lên để cầu cứu, chúng đã giết bà và cướp một chiếc thuyền tìm cách trốn thoát. Để tang bà là người con trai cả của nạn nhân: một chính trị gia trẻ đầy tham vọng tên là Kim Young-sam, sau này trở thành tổng thống Hàn Quốc.

Sau chiến tranh miền Bắc có một lực lượng quân sự hùng mạnh – ước tính khoảng 600.000 người. Nhưng Kim cần chuyển càng nhiều nhân lực và của cải càng tốt cho phát triển kinh tế, và việc cố gắng làm suy yếu khả năng phòng thủ quân sự của miền Nam cũng có lợi cho ông. Vì vậy, ông đã phát triển một “lực lượng dân quân” khổng lồ, do quân nhân đã giải ngũ làm việc trong kinh tế dân sự và được trang bị vũ khí tự động và xe bọc thép. Trong khi đó, ông đề nghị với Hàn Quốc hai bên cắt giảm lực lượng tại ngũ của mỗi nước xuống quân số ít hơn 100.000 người. Mặc dù đề xuất giải trừ vũ khí đó không đi đến đâu, Bình Nhưỡng đã đơn phương giảm thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự đối với những người nhập ngũ và bắt đầu giải ngũ dần dần – gửi nhiều binh sĩ giải ngũ cũng như những học sinh mới tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông đến làm việc tại các trang trại. Ngân sách quân sự của nhà nước giảm từ 15,2% năm 1953 xuống 4,8% năm 1958.

 

Mặc dù có nhiều tuyên bố rằng chiến tranh đã khiến hầu hết người miền Nam có lập trường chống cộng, nhưng rõ ràng là miền Nam nghèo khó, bị chiến tranh tàn phá vẫn dễ bị cộng sản xâm nhập và lật đổ. Một vài tuần trước khi hiệp định đình chiến được ký kết, khi các nhà hoạch định chính sách của Washington cân nhắc liệu có nên thúc đẩy lựa chọn một Triều Tiên trung lập và thống nhất hay không, một quan chức đã lớn tiếng lo lắng rằng việc trung lập hóa có thể mở cửa  cho quá trình cộng sản hóa nhanh chóng cho người Hàn Quốc. Ngày hôm sau, 17 tháng 6 năm 1953, thủ tướng của Rhee gặp Ngoại trưởng Dulles để tranh luận về việc đình chiến. Thủ tướng Paek Tu-chin cho rằng đã đến lúc phải “đuổi những người cộng sản ra khỏi Triều Tiên, đoàn kết đất nước và giải phóng người dân Triều Tiên”. Nếu không, ông cảnh báo, “những người cộng sản sẽ xây dựng lại các sân bay của họ, tạo ra lực lượng quân sự hùng mạnh và sớm xâm nhập vào Hàn Quốc”. Chính phủ và người dân Hàn Quốc “rất lo sợ” sự xâm nhập và tấn công của cộng sản, Paek nói.

Cố gắng thuyết phục một hiệp định đình chiến, Dulles lập luận (có tính tiên tri, nhưng sớm hơn hàng thập kỷ) rằng chủ nghĩa cộng sản là một thế lực đang suy tàn: Ông nói, có thể trong 5 hoặc 10 năm tới, quyền lực của Nga sẽ “trở lại các ranh giới lịch sử” và sự phân chia thời Chiến tranh Lạnh của Đức và Triều Tiên sẽ chấm dứt. Để giúp đẩy nhanh quá trình này, Dulles thúc giục, “sự xâm nhập nên diễn ra theo chiều ngược lại – tức là từ Nam ra Bắc,” và “nền kinh tế của Hàn Quốc cần được xây dựng nhanh chóng để Hàn Quốc sẽ sớm trở thành một sức hút mạnh mẽ” đối với miền Bắc. Dulles cũng nói để bảo vệ Hàn Quốc một hiệp ước an ninh với Hoa Kỳ sẽ được ký kết, cộng thêm “Bản Tuyên bố Trừng phạt Mạnh mẽ hơn bao gồm cam kết của các thành viên của lực lượng Liên hiêp quốc. “Những người cộng sản” – trong đó có Moscow và Bắc Kinh – cần lưu ý rằng cả hai cam kết này “có nghĩa là sự đáp trả ngay lập tức nếu họ một lần nữa tấn công Triều Tiên, và họ nên biết rằng hành động đáp trả này có thể có nghĩa là các cuộc tấn công nguyên tử vào Vladivostok và Cảng Arthur.” Như vậy, “người cộng sản có thể miễn cưỡng sử dụng những nguồn lực mà họ có, tương đối ít ỏi, để xây dựng lại vị thế quân sự của họ ở Triều Tiên và có nguy cơ khiến quyền lực của Hàn Quốc và Mỹ trên bán đảo tiếp tục mở rộng.”

Chưa đầy ba tuần sau, vào ngày 7 tháng 7 năm 1953, Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đã thông qua một tuyên bố chính sách tuyệt mật đề cập đến giai đoạn từ khi ký kết hiệp định đình chiến đến khi đàm phán một hiệp ước hòa bình – một giai đoạn “tạm thời” thậm chí đến nửa thế kỷ sau vẫn chưa kết thúc, theo định nghĩa đó. Trong số các biện pháp khác, Hoa Kỳ phải “tiếp tục một chương trình hoạt động bí mật được thiết kế để hỗ trợ đạt được các mục tiêu của Hoa Kỳ đối với Trung Cộng và Triều Tiên.” Những mục tiêu đó có thể là gì, một báo cáo tối mật khác của  đồng An ninh Quốc gia đã đưa ra. cùng ngày hôm đó nói rằng Washington có thể chọn một trong hai mục tiêu loại trừ lẫn nhau ở Triều Tiên. Một là tiếp tục chia cắt đất nước, với việc Hàn Quốc được đưa vào hệ thống an ninh của Hoa Kỳ với tư cách là một đồng minh quân sự. Lựa chọn còn lại là đảm bảo rằng Triều Tiên thống nhất sẽ trung lập nhưng được quản lý bởi chế độ đã có ở miền Nam. Tất nhiên, lựa chọn thứ hai chỉ khả dụng nếu Bắc và Nam có thể thống nhất. Các nhà hoạch định chính sách đã quyết định sau khi tranh luận kỹ lưỡng rằng một Triều Tiên thống nhất và trung lập nhưng không theo chủ nghĩa cộng sản là lựa chọn được ưu tiên hơn. Tuy nhiên, một hội nghị quốc tế sau đó tại Geneva đã không đạt được thỏa thuận về một hiệp ước hòa bình – chứ đừng nói đến phương án thống nhất-với-trung lập.

 

Như chúng ta đã thấy, một phần của chiến lược lật đổ miền Nam của Kim Il-sung là khôi phục nền kinh tế Triều Tiên trước chiến tranh và dựa vào đó để chứng minh tính ưu việt của hệ thống xã hội chủ nghĩa – hình ảnh phản chiếu những gì Dulles đã hình dung cho miền Nam. Sự khác biệt là Kim đã thể hiện được một số thành tựu nhanh chóng trong khi chế độ Rhee ở Seoul lại chao đảo về mặt chính trị và có thành tích ảm đạm về kinh tế

Bình Nhưỡng đảm bảo những thành quả của mình được loan truyền. Các cơ quan tuyên truyền của nó miêu tả miền Bắc như một thiên đường dành cho mọi người. Những thành tựu của Kim cho phép ông đạt được mục tiêu đàn áp tâm lý chống lại Hàn Quốc, đưa ra các đề nghị công khai bốc phét sẽ gửi viện trợ lương thực, thuê mướn những thợ thất nghiệp ở miền Nam và chăm sóc trẻ mồ côi miền Nam.

Một chỉ dấu mạnh mẽ cho sức thu hút mạnh mẽ của xã hội mà Kim đang xây dựng: người Hàn Quốc ở nước ngoài với số lượng đáng kể bắt đầu di cư sang miền Bắc. Kim đã viết trong hồi ký của mình về chuyến trở về quê hương năm 1960 của những thành viên còn sống của gia đình Jo, những người đã che chở và chăm sóc ông qua cơn sốt năm 1935. Ông nói, gia đình này đã sống ở Mãn Châu từ đầu thế kỷ, và người ta có thể tưởng tượng cảm xúc của họ “trước cảnh quê hương độc lập, một đất nước tự do và đang trỗi dậy huy hoàng trên đống đổ nát, dưới ngọn cờ tự lực cánh sinh.”

Một minh chứng có ý nghĩa hơn là trường hợp những công dân Hàn Quốc đã sống và làm việc ở Nhật Bản như một nhóm thiểu số bị áp bức kể từ thời kỳ Nhật Bản đô hộ Triều Tiên. Năm 1955, theo chỉ thị của Kim rằng “phong trào công dân hải ngoại phải đóng góp cho cách mạng Triều Tiên”, những người dân Hàn Quốc ủng hộ Bình Nhưỡng đã tập hợp lại để thành lập. Chongryon, Tổng Hiệp hội Cư dân Hàn Quốc tại Nhật Bản. Hầu hết các thành viên thực sự đến từ phần phía nam của bán đảo; cảm tình của họ với miền Bắc nhiều hơn vớic miền Nam phản ánh tình cảm khuynh tả cũng như nhận thức rộng rãi rằng miền Bắc đang hoạt động tốt hơn miền Nam về mặt kinh tế. Bắt đầu từ cuối năm 1959, khoảng 75.000 cư dân Hàn Quốc đã tham gia cuộc di cư đến Miền Đất Hứa của Kim. Đó là một phong trào tương tự như chủ nghĩa Phục quốc Do Thái ở một số khía cạnh. Những người trở về xuống tàu từ bến cảng Niigata trên Biển Nhật Bản giữa những lời cổ vũ hùng hồn của các nhà lãnh đạo thường trú Hàn Quốc và sinh viên cánh tả Nhật Bản.

Chong Ki-hae, mười bảy tuổi và vừa tốt nghiệp trường trung học Hàn Quốc do Chongryon điều hành ở Nhật khi anh và cha mẹ hồi hương về Bắc Triều Tiên vào năm 1960. Cha mẹ của Chong, sinh ra ở Hàn Quốc, đã đến Nhật Bản vào những năm 1920 và sống lang thang khắp đất nước làm những công việc lặt vặt. Cuộc sống của gia đình cuối cùng đã được cải thiện – đến mức bản thân Chong muốn ở lại Nhật Bản hơn. Nhưng trải nghiệm của cha mẹ anh về sự phân biệt đối xử khắc nghiệt trước chiến tranh đối với người dân tộc Hàn Quốc đã khiến họ thù ghét Nhật Bản và khao khát trở về Tổ quốc Triều Tiên. Một người anh họ, cũng sống ở Nhật Bản, đã từng đến thăm miền Nam, báo với họ rằng người dân ở đó sống không khá hơn những người Triều Tiên cộng sản – và rằng miền Bắc, không giống như miền Nam, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục miễn phí. Trên cơ sở đó, bố mẹ Chong quyết định chọn miền Bắc. Gia đình lên một con tàu ở Niigata, mang theo 500.000 Yên Nhật, một chiếc sedan Toyota, một chiếc xe tải và một chiếc xe máy. Biết rằng Bắc Triều Tiên vẫn chưa phát triển hoàn toàn, họ cũng dự phòng chở theo nguồn cung cấp giày dép và quần áo dùng trong 10 năm cũng như một kho hàng hóa để trao đổi bao gồm 20 chiếc đồng hồ Thụy Sĩ bằng vàng và 200 mét vải vest màu đen.

 

Để kiểm tra thực tế lời khoe khoang của Kim Il-sung rằng đất nước của ông sẽ nhanh chóng bắt kịp Nhật Bản, hãy xem xét một Triều Tiên vẫn còn tương đối nguyên sơ mà gia đình Chong đang nhận ra. Các quan chức đã phân loại các thành viên trong gia đình và phát hiện ra rằng cậu bé Chong là người lao động khỏe mạnh duy nhất vì cha mẹ cậu đã đến tuổi nghỉ hưu. Gia đình được chở đến huyện Chongju ở tỉnh Bắc Pyongan, nơi họ được cho vào đơn vị lao động của mình: một xưởng sản xuất máy may trong một cộng đồng khoảng 4.000 người. Gia đình Chong đã tặng chiếc xe tải của họ cho nhà máy và chàng trai trẻ Chong đã đăng ký lái chiếc xe đó trong các chuyến giao hàng. Cậu đã làm điều đó trong ba năm cho đến khi cậu bắt đầu lo lắng về triển vọng tương lai của mình. Sau đó cậu bắt đầu học tập và rèn luyện để làm việc như một thợ máy, một nghề mà cậu đã theo đuổi cho đến khi đào thoát sang Hàn Quốc vào năm 1994.

Triều Tiên còn cách xa  thiên đường, gia đình nhanh chóng nhận ra. Sống trong một nhà trại với những bức tường bằng bùn phơi khô như bao người khác, nhưng vẫn sở hữu chiếc Toyota màu đen, gia đình Chong là trung tâm của sự chú ý trong huyện. Khái niệm sở hữu tư nhân không chỉ trở nên xa lạ, đặc biệt là trong giới trẻ lớn lên dưới chế độ cộng sản. Ngoài ra còn có vấn đề là ô tô tư nhân gần như chưa từng được biết tới. Có những chiếc sedan của nhà nước, nhưng những chiếc màu đen được dành cho các quan chức thực sự cấp cao. Mặc dù không có ai trực tiếp gây áp lực nhưng gia đình Chong ngày càng cảm thấy khó chịu về chiếc xe của mình. Bất cứ khi nào một nhân vật quan trọng đến thị trấn, các quan chức địa phương sẽ hỏi mượn nó để chở ông ta trong thời gian ông ở lại. Cuối cùng, sau một năm, nhà Chong đã bán chiếc xe này cho nhà nước để sử dụng ở Bình Nhưỡng, quê hương của hầu hết các quan chức xứng tầm xe màu đen.

Những món đồ khác mà gia đình Chong mang theo từ Nhật Bản hóa ra đã nói lên sự khác biệt giữa mức độ khá thoải mái của dân Nhật và sự nghèo đói đặc trưng của cuộc sống người dân Bắc Triều Tiên bình thường cho dù đã đạt tiến bộ không thể phủ nhận trong vài năm trước. Lấy quần áo so sánh chẳng hạn. Người Triều Tiên mặc quần áo làm từ vải lau sậy và bột gỗ, được sản xuất trong nước. Quần dễ bị rách và thường xuyên phải vá víu, đặc biệt là trên đáy quần. Mọi người nhìn thấy hai miếng vá hình tròn sẽ nói: “Tôi thấy bạn đang đeo kính ở mông.”

Sau đó là nguồn cung cấp thực phẩm. Bắt đầu từ năm 1954, Triều Tiên đã chuyển đất nông nghiệp từ cá nhân sang hợp tác xã. Từ năm 1958, Bước Đại Nhảy vọt của Trung Quốc đã truyền cảm hứng cho Kim Il-sung thúc đẩy tập thể hóa trang trại hơn nữa. Ông đã phát động phong trào Chollima của riêng mình, được đặt theo tên một con ngựa thần thoại có cánh có thể nhảy 1.000 ri (khoảng 250 km hoặc 150 dặm). Sử dụng Chollima để tượng trưng cho “tốc độ xây dựng không ngừng nghỉ của tinh thần xã hội chủ nghĩa và cách mạng của Triều Tiên ”, Kim đặt mục tiêu tái tạo thiên nhiên, cải cách xã hội và hồi sinh con người. Có lẽ đã quên rằng những động thái tập thể hóa cực kỳ nhanh chóng ở Mãn Châu vào những năm 1930 đã để lại mùi vị khó chịu trong miệng, ông đã nhanh chóng ném sự thận trọng cho gió cuốn đi vào cuối những năm 1950. Đó là thời kỳ phấn khích khi những người cấp cao ở Triều Tiên, như Mao Trạch Đông và thần dân của ông ở Trung Quốc, bị cuốn theo niềm tin gần như thần bí rằng giai đoạn chủ nghĩa cộng sản thực sự đã đến.

Kim đã nhóm các hợp tác xã ban đầu lại với nhau thành các đơn vị thậm chí còn lớn hơn, dưới sự kiểm soát của nhà nước, có chức năng là cấp chính quyền địa phương thấp nhất. Vẫn được gọi là hợp tác xã, thực tế chúng giống với các công xã mới của Trung Quốc và trang trại tập thể của Liên Xô. Thúc đẩy sản xuất (theo lý thuyết càng lớn thì càng tốt) chỉ là một phần của mục tiêu. Ít nhất điều quan trọng không kém là biến những người nông dân, những người mà vị thế tài sản khiến họ dễ mang đặc điểm tư bản tiểu tư sản, trở thành những thành viên tốt của giai cấp công nhân – và do đó, những người cộng sản đầy triển vọng. Hãy nhớ rằng chỉ một thập kỷ trước, đất đai đã được phân chia lại từ địa chủ cho dân cày. Nhà nước trước cho; giờ nhà nước lấy lại. Tuyên truyền chính thức tuyên bố rằng nông dân “tìm thấy hạnh phúc trong lao động hợp tác và tươi cười rạng rỡ.” Nông dân trước kia “ngồi một mình trên bờ ruộng phân chia những cánh đồng lúa… không thể di chuyển được đống đá”. Giờ đây, phát hiện ra nền kinh tế quy mô, họ “đóng góp sức mạnh và trí tuệ của mình, xây dựng các tuyến thủy lợi xuyên qua các ngọn đồi và canh tác đất đai bằng các phương pháp mới, tạm biệt những phương pháp lỗi thời.”

Phong trào tập thể hóa đã mang lại một số vụ thu hoạch lớn hơn – nhưng nó không “giải quyết được vấn đề lương thực” – mục tiêu đầy tham vọng của Kim khi ông đề ra kế hoạch 5 năm vào năm 1956. Rất nhanh chóng, vào năm 1959, ông nhận ra rằng nên lùi lại một chút từ tập thể hóa. Ông đã khôi phục cho các gia đình nông dân những mảnh vườn bếp cá nhân và được quyền sử dụng để nuôi gà, lợn, vịt, thỏ để bán. Chế độ kêu gọi họ dùng tiền để xây nhà mới.

Mặc dù sản lượng thu hoạch đã tăng nhưng mức tăng này không đạt được mục tiêu của các nhà quy hoạch. Chế độ khẩu phần – dấu hiệu chắc chắn nhất của sự khan hiếm – vẫn tiếp tục.

Những kết quả đáng thất vọng có lẽ giải thích cho việc Triều Tiên không công bố kết quả nông nghiệp sau khi hoàn thành kế hoạch 7 năm “kéo dài” có hiệu lực vào khoảng thời gian gia đình Chong hồi hương. Bản thân chế độ này đã báo cáo rằng những nông dân giàu có, cùng với những người có tình trạng thu nhập trung bình trước cải cách ruộng đất, có xu hướng phản đối tập thể hóa. Có lẽ sự suy giảm động lực cá nhân của nông dân đã đóng một vai trò trong việc hạn chế thu hoạch, cùng với hạn hán thường xuyên và đợt rét đậm kéo dài.

Thức ăn mà gia đình Chong nhận được cứ 15 ngày một lần trong khẩu phần chính thức của họ khiến họ không hài lòng, mặc dù lúc đầu họ luôn nhận được khẩu phần ngũ cốc đầy đủ (700 gam một ngày cho công nhân, ít hơn cho trẻ em, người về hưu và thành phần khác). Ngoại trừ đậu nành, thỉnh thoảng được phân phối, các khẩu phần ăn không bao gồm rau hoặc thịt. Vào thời điểm đó vấn đề với ngũ cốc không phải về số lượng mà phần lớn về chất lượng. Những gì mọi người cảm thấy bất mãn là khẩu phần ăn đó thường bao gồm 90 phần trăm “ngũ cốc hỗn hợp”- chủ yếu là ngô và chỉ 10 phần trăm gạo. Giống như hầu hết người Đông Á ở thời điểm đó, gia đình Chong muốn ăn cơm trong mỗi bữa ăn. Ưu tiên cơm hơn ngô là một vấn đề phong tục, tất nhiên – nhưng nó cũng phản ánh nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể vì ngô chứa ít protein và niacin hơn gạo nhiều. Khi các nhân viên y tế công cộng phát hiện ra ở các khu vực nghèo khó ở miền Nam Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20, việc duy trì chế độ ăn chủ yếu là ngô và ít thịt tươi là điều kiện dễ nhiễm bệnh pellagra, một căn bệnh nghiêm trọng có triệu chứng bao gồm thay đổi da, rối loạn chức năng thần kinh nghiêm trọng và bệnh tiêu chảy.

Không giống như Chong và các công nhân nhà máy khác, các thành viên của hợp tác xã nông nghiệp nhận được toàn bộ khẩu phần ngũ cốc là gạo. Mặc dù nhà nước cấm buôn bán ngũ cốc nhưng một số nông dân vẫn sẵn sàng bán gạo của họ trên thị trường chợ đen với giá 1,5 won/kg.

Với mức giá đó, chàng trai trẻ Chong, với mức lương hàng tháng khoảng 45 won, không đủ khả năng cung cấp đủ gạo cho bản thân và cha mẹ không đi làm nếu chỉ bằng số tiền trong phong bì lương của mình. Vì vậy anh phải trao đổi hàng hóa như đồng hồ và vải vóc mà gia đình mang từ Nhật để lấy gạo

Tại các chợ nông sản, nông dân được phép bán gia súc, giỏ đan và các hàng hóa khác, nhưng nếu bị bắt bán ngũ cốc, họ sẽ bị tống vào tù. Trước khi Chong có thể mua ngũ cốc từ nông dân, anh phải tiếp cận họ một cách tế nhị. “Ở chợ nông sản, tôi mua một số gia súc và những thứ khác mà tôi không cần và yêu cầu giao chúng đến nhà tôi. Sau đó, khi người nông dân mang hàng đến, chúng tôi sẽ bàn việc mua thực phẩm. Sau lần đầu tiên đó, tôi có thể giải quyết việc đó bất cứ lúc nào.” Chong nói với tôi rằng những người nhớ đến nền kinh tế thời Nhật Bản cai trị đều hiểu giá trị của những giao dịch như vậy. Tuy nhiên, Đảng Lao động “đối xử rất khắc nghiệt với việc trao đổi hàng hóa.” Đảng chỉ trích hành động này là tàn dư của chủ nghĩa tư bản. Những người Triều Tiên quen biết Chong và gia đình anh ấy có thể thấy ngay nhóm người hồi hương sống tốt hơn những người khác. “Về cơ bản mọi người rất ghen tị với chúng tôi.”

Ngay cả quan chức viết tiểu sử của Kim Il-sung  thừa nhận tình trạng bất mãn với điều kiện sống trong giai đoạn đó – giá như chỉ trong số “những người mang tư tưởng tiểu tư sản lỗi thời.” Cuộc điều tra chính thức tiết lộ rằng những kẻ như vậy “toàn là những người trước đây sống tốt. Những người này nắm bắt mọi cơ hội để phàn nàn và dễ dàng dao động trước các khó khăn nhỏ nhất.”

Tuy nhiên, hầu hết người dân Triều Tiên bình thường không có kiến ​​thức trực tiếp về Nhật Bản và các nước bên ngoài khác, và họ chỉ biết rằng mức sống của họ đã được cải thiện sau khi chế độ cộng sản ra đời. Vì vậy, Chong nói với tôi, họ có xu hướng tin vào lời khoe khoang của Kim Il-sung đã mở cửa thiên đường.

 

Những đối chiếu của các nhà phân tích bên ngoài trong thời gian đó đã củng cố tuyên bố của Kim. Một nghiên cứu cho thấy Bắc và Nam vào thời điểm đình chiến năm 1953 sánh vai nhau, với tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người lần lượt là 56 USD và 55 USD. Đến năm 1960, miền Nam ở mức 60 đô la hầu như không tăng, trong khi con số của miền Bắc đã tăng gần gấp bốn lần lên 208 đô la – một mức tăng ấn tượng về mặt thống kê, ngay cả khi chỉ một phần của mức tăng đó chuyển thành những cải thiện trong cuộc sống hàng ngày của người dân.

Như anh họ của Chong Ki-hae đã báo cáo trước khi cha mẹ Chong quyết định chọn Bắc Triều Tiên là điểm đến của họ, mức sống ở miền Bắc ít nhất cũng cao như ở miền Nam. Và miền Bắc đã đi trước rất xa về phát triển công nghiệp, đặc biệt là máy móc hạng nặng. Điều đó không nhất thiết góp phần nâng cao mức sống ngay lập tức, nhưng ít nhất nó dường như cũng hướng tới một tương lai tươi sáng hơn.

Một cuộc nổi dậy do sinh viên lãnh đạo ở miền Nam năm 1960 đã lật đổ Rhee và thành lập một chính phủ dân cử một cách dân chủ. Nhưng điều đó không thể thay đổi được cán cân, vì chính phủ mới của Thủ tướng Hàn Quốc Chang Myon tỏ ra yếu kém và tham nhũng. Vào tháng 4 năm 1961 – bảy năm sau khi Dulles nói về việc làm cho miền Nam trở nên hấp dẫn thông qua việc xây dựng kinh tế – đại sứ Hoa Kỳ ở Seoul đã gửi một thông tin mật đến Washington. Trong đó, ông than thở rằng “những sự thật ảm đạm, rõ ràng của đời sống kinh tế”, cùng với nổi thất vọng về việc bán đảo tiếp tục bị chia cắt, người miền Nam đứng sau “cảm giác tuyệt vọng lan rộng.” Thêm vào đó là “việc tiếp tục tố cáo lẫn nhau giữa các phe phái Hàn Quốc,” đại sứ viết, “và tất cả những điều này tạo ra một bầu không khí rộng mở cho những thế lực thù địch của một Hàn Quốc tự do.” Các nhà bình luận thân thiện với Bình Nhưỡng đã nắm bắt những khác biệt thực sự và phóng đại chúng. “Miền Nam thực sự là một vùng đất hoang vắng,” một người Đông Đức đến thăm Triều Tiên vào đầu những năm 1960 đã viết và so sánh. “Chỉ có mũ sắt của lính Mỹ là sáng chói. Còn ở phía bắc của đường phân giới xa nhất có thể nhìn thấy những cánh đồng lúa vàng.” Bài báo năm 1965 của một học giả phương Tây có tựa đề “Phép mầu của Triều Tiên” không đề cập đến Hàn Quốc mà là nền kinh tế Bắc Triều Tiên.

 

Sự sùng bái cá nhân của Kim Il-sung đang ngày càng phát triển. Học thuyết, trước đó đã được vạch ra ở Liên Xô áp dụng cho Stalin, là nhân dân, được học thuyết cộng sản xác định là toàn năng tuy nhiên không thể hành động thích đáng nếu không tập hợp dưới sự lãnh đạo của một con người cao cấp hơn, một con người ưu việt không có khuyết điểm gây đau khổ cho người khác. . Vì vậy, một người viết tiểu sử chính thức sẽ viết ngay rằng Kim Il-sung từ thời giải phóng đã là một lãnh tụ thực sự và hiển nhiên của đất nước:

Nhưng đó không phải là món quà mà ai cũng có, khả năng có cái nhìn sâu sắc đúng đắn về một tình huống phức tạp, có tầm nhìn xa về tương lai để vạch ra đường lối đúng đắn duy nhất cho cuộc cách mạng Triều Tiên. Phía trước cuộc cách mạng Triều Tiên trên con đường giải phóng còn vô vàn vấn đề phức tạp, trong đó có tính trạng lạc hậu cố hữu của nhân dân do lịch sử, những phức hợp đan xen. lực lượng chính trị và các mối quan hệ xã hội, đế quốc Mỹ chiếm đóng miền Nam và sự chia cắt Triều Tiên thành hai miền Bắc và Nam.

Phân tích chính xác tất cả những vấn đề này và vạch ra con đường đúng đắn cho cách mạng – đây là nhiệm vụ mà chỉ có đồng chí Kim Il-sung mới làm được, Lãnh tụ cách mạng xuất sắc như ông là người đã có được kinh nghiệm độc đáo và phong phú qua các cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài của mình, đồng thời là người luôn cháy bỏng lòng yêu nước và được trang bị bằng niềm tin chủ nghĩa Mác-Lê Chính vì vậy ngay sau giải phóng, nhân dân Triều Tiên đã trông cậy vào đồng chí Kim Nhật Thành lãnh đạo cách mạng càng nhanh càng tốt, để vượt qua sự lúng túng. Các nhà lãnh đạo chính trị của cả Bắc và Nam Triều Tiên cũng nhận ra những hạn chế của mình nên tha thiết mong muốn ông dẫn dắt họ thực hiện được mong muốn ấp ủ từ lâu của người dân càng sớm càng tốt.”

Kim Il-sung và đảng “đã trở thành khối óc, trái tim, trí tuệ và lương tâm của toàn thể người dân Triều Tiên.” Trong khi các nhà lãnh đạo cấp cao khác phải đợi sau khi mình chết đi mới mong có bất cứ công trình gì đặt theo tên họ, thì Quảng trường Kim Il-sung khổng lồ đã là một trong những công trình đầu tiên được hoàn thành ở Bình Nhưỡng mới.

 

Các cuộc thanh trừng của Kim vẫn tiếp tục khi ông tiến tới củng cố quyền cai trị của mình. Chẳng bao lâu sau, đến lượt phe Diên An, nhóm người Triều Tiên trở về từ Trung Quốc, từng chiến đấu chống lại Nhật với tư cách là thành viên lực lượng cộng sản của Mao Trạch Đông. Họ đã cho thấy tiềm năng thách thức Kim trong những năm qua sau cái chết của Stalin năm 1953. Tại một cuộc họp năm 1956 ở Moscow, Khrushchev đã chỉ trích sự sùng bái cá nhân Stalin và đề xuất sự lãnh đạo tập thể ở Liên Xô để thay thế chế độ cai trị độc tài của nhà lãnh đạo đã chết. Rõ ràng, các nước cộng sản khác được mong đợi sẽ đi theo sự dẫn dắt đó.

Sau khi xem cách Khrushchev đối xử với Stalin, một số quan chức Bắc Triều Tiên (hầu hết là thành viên của phe Diên An, mặc dù một số người Liên Xô gốc Triều Tiên cũng tham gia) đã tỏ ra táo bạo hơn, đặt ra các câu hỏi về nạn  sùng bái cá nhân Kim, phong cách quản lý và chính sách kinh tế. Họ âm mưu lật đổ ông. Học giả Andrei N. Lankov chứng minh sự khác biệt sâu sắc của họ với Kim bằng cách trích dẫn bản ghi nhớ các cuộc trò chuyện giữa các quan chức Liên Xô và những kẻ âm mưu, những tài liệu mà ông tìm thấy trong kho lưu trữ của Liên Xô vào những năm 1990. “Tôi ngày càng tin rằng Kim Il-sung không hiểu hành vi của mình có hại như thế nào,” một kẻ âm mưu phàn nàn với một quan chức Đại sứ quán Liên Xô. “Ông làm tê liệt sáng kiến ​​của các thành viên Ban Thường vụ và các cán bộ lãnh đạo khác của Đảng và nhà nước. Ông ta đe dọa mọi người. Không ai có thể đưa ra ý kiến ​​về bất kỳ vấn đề nào. Mọi người phải chịu sự đàn áp vì những lời chỉ trích nhỏ nhất. Ông ấy đã tập hợp xung quanh mình những kẻ xu nịnh và tầm thường.” Một người khác mổ xẻ các chính sách kinh tế của Kim: “Nông dân chiếm 80% dân số… Sau Giải phóng, họ được trao cơ hội tốt để có một cuộc sống tốt hơn nhưng họ vẫn rất nghèo. Chính sách thuế của chính phủ không đúng. Thay vì đánh thuế 25 đến 27 phần trăm, họ lấy hơn 50 phần trăm từ thu hoạch của nông dân. Chính sách như vậy vẫn tiếp tục đến hôm nay. Không cần thiết phải kể lại những phương pháp thu thuế được sử dụng vào những năm 1954-1955. Việc thu thuế đi kèm với đánh đập, giết người và bắt giữ. Hoạt động của đảng dựa trên bạo lực chứ không phải thuyết phục. Phong trào hợp tác [nông nghiệp] dựa trên bạo lực.” Phải làm gì? “Một nhóm giám đốc điều hành cho rằng cần phải thực hiện một số hành động nhất định chống lại Kim Il-sung và các cộng sự thân cận nhất của ông trong thời gian sớm nhất có thể. Nhóm tự đặt ra nhiệm vụ đưa những người mới phụ trách Ủy ban Trung ương [Đảng Lao động Triều Tiên] và chính phủ.”

Tại một cuộc họp của Ủy ban Trung ương, nơi họ hy vọng giành được sự ủng hộ cho việc lật đổ ông, Kim đã sẵn sàng đối phó với họ. Theo Yu Song-chol, những ai lên tiếng phản đối việc thần tượng hóa Kim đã bị “vùi dập bởi những lời lăng mạ và la hét bêu rếu”. Bầu không khí đe dọa đến mức 4 thành viên phe Diên An” phải trốn sang Trung Quốc ngay sau phiên họp buổi sáng vì lo sợ cho tính mạng của mình”. Những thăng trầm của phe Diên An tiếp tục cho đến khi bị xóa sổ. Lãnh đạo của nó, Kim Tu-bong, mất tư cách đảng viên vào năm 1958 và bị đưa đến một trang trại tập thể, tại đó ông qua đời. Các thành viên phe Diên An trong quân đội bị buộc tội âm mưu nổi dậy. Theo Yu, “kế hoạch nổi dậy quân sự” được sử dụng làm bằng chứng chống lại họ trên thực tế chỉ là một kế hoạch nhằm trấn áp các cuộc nổi dậy chống chính phủ, một kế hoạch mà họ được giao nhiệm vụ vạch ra.  Dù nhiều bằng chứng có thể là giả mạo, Kim đã trở nên toàn năng ở trong nước thông qua những thủ đoạn như vậy. Như ông đã viết rất lâu sau đó trong hồi ký của mình, “Trong khi tôi có nhiều bạn bè và đồng chí trên con đường đấu tranh, nhưng cũng có rất nhiều kẻ đã cản đường tôi”. Nhìn thấy những đối thủ tiềm tàng, ông không ngần ngại chặt chém họ nhằm củng cố quyền lực của mình.

 

Trong khi lời khen ngợi của Kim dành cho hình mẫu của ông, Stalin, phần lớn là chân thành, thì Khrushchev lại hoàn toàn khác. Chủ nghĩa bài trừ biểu tượng của nhà lãnh đạo mới của Liên Xô và mối quan tâm của ông ta trong việc hạn chế cuộc đấu tranh chống đế quốc giữ ở mức cạnh tranh hòa bình là điềm xấu cho thủ tướng Bắc Triều Tiên. Vị trí của Kim phụ thuộc vào việc tiếp tục sử dụng các mối đe dọa thực tế hoặc tưởng tượng từ bên ngoài để duy trì chế độ độc tài, theo chủ nghĩa Stalin trực tiếp của ông. May mắn thay cho Kim, những nỗ lực của Moscow nhằm xuất khẩu lập trường phi Stalin hóa đã sớm tỏ ra nguy hiểm đối với lợi ích của Liên Xô, truyền cảm hứng cho người Hungary đứng lên chống lại sự kiểm soát của Liên Xô vào tháng 10 năm 1956. Khrushchev sau đó đã lùi bước, tuyên bố chính sách không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước cộng sản khác.

Giờ đây, với ít nguy hiểm sợ Moscow trả đũa hơn, Kim Il-sung đã tiến hành một cuộc tấn công toàn diện chống lại phe Liên Xô, phe vẫn giữ ảnh hưởng ở Bình Nhưỡng ngay cả sau cuộc thanh trừng Ho Ka-i. Một phần của vấn đề với những người Liên Xô gốc Triều Tiên, theo quan điểm của Kim, là do thực tế họ đã lớn lên ở Liên Xô và có hai quốc tịch Liên Xô và Bắc Triều Tiên – cũng như lòng trung thành bị chia rẽ. Có báo cáo cho rằng nhiều người trong số họ không tin tưởng Kim và nhóm du kích của ông ta và coi họ là những loại người ngu dốt, sống ở vùng hẻo lánh – coi mình là người Bolshevik chân chính.

Kim ngày càng phản kháng trước những nỗ lực của Liên Xô nhằm tác động đến chính sách của ông. Ông gần như đã là Số Một ngay từ những ngày đầu ở Bình Nhưỡng sau Giải phóng, phần lớn là nhờ sự hỗ trợ của Liên Xô. Nhưng ông phải chia sẻ một số quá trình đưa ra quyết định, và ông vẫn chưa cảm thấy đủ an toàn để được thoải mái. Các cuộc tấn công nhằm vào “những kẻ phù phiếm”, những người coi mọi thứ của Nga đều cao cấp, những thứ của Triều Tiên là thấp kém, đã trở thành một chủ đề phát biểu chính của ông  trong thời kỳ hậu- chiến tranh Triều Tiên Có thể nói không ngoa rằng bản thân Kim đã mệt mỏi vì phải chiều theo người Nga.

Một thời gian sau giải phóng, các nhà lãnh đạo và giới truyền thông Triều Tiên đều ghi nhận sự hỗ trợ và tấm gương của Liên Xô. Bản thân Kim đã lưu ý trong một bài phát biểu ngay sau khi đến Bình Nhưỡng rằng Liên Xô (và Hoa Kỳ – sự thừa nhận sau thực sự là hiếm hoi) đã giải phóng Triều Tiên.  Trong bài phát biểu tháng 2 năm 1947, Kim ca ngợi Liên Xô là “nhà nước dân chủ tiên tiến nhất” và cho rằng cấu trúc của nó đáng để sao chép. Đến tận năm 1950, khi Kim đang tìm kiếm sự giúp đỡ để tiến hành cuộc chiến chống Mỹ, tờ báo của đảng vẫn thừa nhận rằng Triều Tiên đã được giải phóng “bởi sức mạnh vũ trang của Liên Xô”. Nhưng không lâu sau đó Kim đã quyết định rằng người ta đã ca tụng Liên Xô quá mức đến nỗi biến thành lệ thuộc và vọng ngoại. Ông muốn những lời có cánh quay lại và hướng đến những ân nhân Triều Tiên- hóa ra chủ yếu là quay lại với chính mình.

Kim sau đó phàn nàn trong hồi ký của mình rằng các nhà tuyên truyền của chế độ sau giải phóng chưa tuyên truyền đầy đủ về phong trào du kích chống Nhật. “Cơn sốt sáo rỗng do những người này lan truyền đã phát triển đến mức ngay sau khi giải phóng, nhân dân ta thậm chí còn không biết rằng đã xảy ra một trận đánh ác liệt để bảo vệ Xiaowangqing trong cuộc chiến chống Nhật – mặc dù họ đã biết tất cả về trận Stalingrad.”

Ông ấy đã có lý. Ngoài ảnh hưởng sâu rộng về chính trị, quân sự và kinh tế, Liên Xô còn thâm nhập sâu vào việc  hình thành thái độ phổ biến của người dân Bắc Triều Tiên. Được tổ chức ở cấp làng và đường phố, “Hiệp hội Quan hệ Văn hóa với Liên Xô” đã quảng bá văn hóa Liên Xô bằng cách chiếu phim, duy trì thư viện và hội trường, tài trợ cho các bài giảng, sự kiện sân khấu và triển lãm. Một tỷ lệ lớn dân số đã tham gia. Đường phố các thành phố Bắc Triều Tiên được trang trí bằng các áp phích tuyên truyền của Liên Xô và chân dung của Lenin và Stalin, ngoài Kim Il-sung. Trong hoàn cảnh như vậy sẽ không có gì đáng ngạc nhiên nếu, như Kim Il-sung buộc tội, một số quan chức Triều Tiên đã quá đà khi nhìn thế giới qua con mắt của người Nga.

Như đã lưu ý, bản thân Kim đã từng là một người tham gia nhiệt tình vào việc xu nịnh Liên Xô. Hơn nữa, việc ông tìm chốn nương náu ở Liên Xô cho đến năm 1945 có thể đã mở đường cho việc cáo buộc ông nhờ cậy vào một siêu cường mà mình đã lên án chống người khác. Thực ra, trong thời kỳ đó  ông là người cộng sản quốc tế, nhận sự giúp đỡ nơi đâu có thể, chủ nghĩa dân tộc của ông chỉ hướng đến công cuộc chống Nhật. Thương hiệu của chủ nghĩa dân tộc mà ông ấy bắt đầu tìm kiếm nó vì lợi ích muốn nâng cao vị thế, tuy nhiên, quá miễn trừ các ảnh hưởng phi Triều Tiên đến nỗi trở nên bài ngoại. Các “sử gia” của chế độ đã đặt để ông vào vùng Mãn Châu giáp biên giới Triều Tiên – và đôi khi ngay cả ở chính Triều Tiên – cho tận đến năm 1945, tiếp tục cuộc chiến du kích cho đến khi ông lãnh đạo “Quân đội Cách mạng Nhân dân Triều Tiên” của mình giành thắng lợi trước quân Nhật.  Sự hợp tác của người Nga với sự lừa dối này có những giới hạn nhất định. Tuy nhiên, đừng bận tâm đến những sự thật khó chịu như vậy, vì bộ phận tuyên truyền của chính Kim sẽ sớm trông coi sự kiện ông ta đã bị quân Nhật đánh bại tại cuộc chiến tranh Triều Tiên đầu những năm 1940 và phải bay tới Liên Xô bị biến mất khỏi lịch sử để người dân Triều Tiên không thể đọc được nó. Hwang Jang-yop, sau khi đào tẩu sang Hàn Quốc năm 1997, đã báo cáo rằng từ năm 1958 – năm đầu tiên ông giữ chức vụ bí thư đảng ủy phụ trách hệ tư tưởng của Kim – nhiệm vụ của chính ông và các đồng sự là phải viết lại Tuyển tập các tác phẩm của Kim, phá hủy mọi hồ sơ trong những báo cáo và bài phát biểu của người cai trị “tạo ấn tượng tôn thờ Liên Xô.” Độc giả sẽ không tìm thấy câu trích dẫn “Stalin muôn năm” trong các tập sách tái bản.

Bình Nhưỡng trở nên keo kiệt hơn trong việc khen ngợi vai trò giải phóng của Liên Xô, và không đề cập đến Liên Xô vào cuối những năm 1960. (Tất nhiên, vai trò của Hoa Kỳ và các nước đồng minh khác đã biến mất từ ​​lâu trước đó). Nhiều người dân Bắc Triều Tiên năm 1945 đã tận mắt chứng kiến các lực lượng giải phóng Liên Xô. Tuy nhiên, đối với các thế hệ học sinh tiếp nối đọc “lịch sử” đất nước, Kim Il-sung sẽ trở thành người giải phóng mà ông ước gì mình thực sự trở thành.Mặc dù người Liên Xô (và người Mỹ) có thể đánh giá ông là kẻ vô ơn, nhưng trong cung cách này, ông sẽ thể hiện rằng mình không phải là tay sai hay con rối.

Tương tự như vậy, sẽ là bất tiện khi thừa nhận rằng Kim trong những ngày du kích đã nhận lệnh từ Quốc tế Cộng sản, Đảng Cộng sản Trung Quốc và các chỉ huy Trung Quốc trong Quân đoàn Thống nhất chống Nhật vùng Đông Bắc. Vì vinh quang lớn hơn của mình, Bình Nhưỡng đã hạ cấp hoặc xóa bỏ vai trò của không chỉ người Nga tham gia vào cuộc đấu tranh mà cuối cùng là cả người Trung Quốc. Để có biện pháp tốt, họ đã xem nhẹ những nỗ lực ngay cả của những người cộng sản Triều Tiên từng chống lại người Nhật trong thời kỳ chiến tranh tại quê hương hoặc ở các đơn vị đóng tại Trung Quốc ngoài đơn vị của Kim.

Cuối cùng, cuộc thanh trừng người Liên Xô gốc Triều Tiên cũng đã tìm đến Yu Song-chol. Yu tin rằng có yếu tố cá nhân được thêm vào trong trường hợp của mình. “Kim có khía cạnh không khoan dung, khiến ông nhớ đến bất cứ ai gây cho ông trải nghiệm tiêu cực và cuối cùng tìm cách trả thù mà không hề thất bại,” ông nói. Khi làm thông dịch viên cho Kim ở Liên Xô, Yu đã vượt mặt sếp của mình. Ông đã từ chối làm việc vặt cho Kim, viện dẫn quy định của Quân đội Liên Xô cấm sử dụng quân nhân nhập ngũ vào những dịch vụ như thế. Theo thời gian trôi qua, Yu đã quên về việc đó và quên tương tự một dịp khác có những lời lẽ đã đến tai Kim. Yu đã sống để phải hối tiếc cả hai. Một thập kỷ rưỡi sau đó, khi Yu đã lên tới cấp bậc trung tướng, một người bạn đã cảnh báo ông rằng Kim vẫn mang trong lòng hiềm khích với ông về hai sự việc đó. Yu nhận ra rằng mối hận thù cũ có liên quan gì đó với mình bị thanh lọc muộn hơn một chút.

Những hồi ức của Yu về sự rớt đài của cá nhân ông cho ta cái nhìn bên trong của trải nghiệm bị thanh trừng – tại đoạn cuối bên dưới của đường cong khiếp đảm, vì ông không bị giết.

Người Triều Tiên nói chung là người khắt khe về hình thức và “thể diện”. Trở về Bình Nhưỡng vào năm 1958 sau hai năm học ở Liên Xô, Yu biết có điều gì đó không ổn khi không có ai đến sân bay đón ông – một vị tướng ba sao, ít nhất trên danh nghĩa là trưởng phòng tác chiến của Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Ba ngày sau khi trở về, Yu được triệu tập tới một cuộc họp của “Ủy ban Kiểm tra Tư tưởng” của Bộ Quốc phòng. Người chủ trì cuộc họp chỉ vào ông và nói: ” Đồng chí đã phạm bốn sai lầm. Hãy tự kiểm điểm.” Các cáo buộc chống lại Yu bao gồm việc mô tả “lòng trung thành” của người dân đối với Kim Il-sung là một sự sùng bái cá nhân; phát biểu như thể Kim là người khởi xướng Chiến tranh Triều Tiên; và làm gián điệp cho Liên Xô. Ông thừa nhận rằng ông đã nói, trong một cuộc trò chuyện với hai sĩ quan cấp cao khác, rằng nỗ lực thống nhất hòa bình sẽ tốt hơn là bắt đầu Chiến tranh Triều Tiên. Ông phủ nhận các cáo buộc khác. Ông cho rằng tội nghiêm trọng nhất là tội gián điệp đã bị dựng lên như một cách để Kim chứng tỏ rằng mình bị xúc phạm bởi mối quan hệ của Yu với các quan chức Liên Xô: các cố vấn quân sự Liên Xô vài lần can thiệp vào việc phân công Yu từ năm 1945.

Bị sa thải, Yu phải dành cả ngày trong một căn phòng trống rỗng để viết những tờ “tự kiểm điểm”.  Vào ban đêm, ông trở lại các phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Tư tưởng, họp từ 7 giờ tối đến nửa đêm hoặc 1 giờ sáng  Các thành viên trong ủy ban đã quấy rối và mắng mỏ ông cho đến khi ông tiến hành tự kiểm điểm cho họ hài lòng.  Mỗi khi ông mở miệng nói họ hét lên chửi rủa. “Sau vài ngày, tôi đồng ý với mọi lời chỉ trích của họ vì cảm thấy tuyệt vọng. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục hành hạ tôi hàng đêm, lặp đi lặp lại cùng một luận điệu”. Như thế đã là quá nhiều đối với Yu. Ông cầu xin một cấp dưới cũ, lúc đó đang ngồi trong Ủy ban Kiểm tra Tư tưởng, hãy giết mình – “thay vì làm tôi chảy máu từ từ như thế này.” Tuy nhiên, cuối cùng, phiên họp kết thúc với việc các thành viên Ủy ban Kiểm tra Tư tưởng lột bỏ cấp bậc của Yu. Bị trục xuất khỏi Quân đội Nhân dân và đảng, ông trở thành một người không ra người. “Khi tin đồn về việc tôi trải qua một cuộc kiểm tra lan truyền, người thân không còn đến thăm và thậm chí cả bạn bè cũ cũng tẩy chay tôi”.

Lo lắng không biết bữa ăn tiếp theo của họ sẽ đến từ đâu và bị đuổi khỏi nhà, ông và gia đình vào tháng 1 lạnh giá năm 1959 chuyển đến một chuồng ngựa cũ. Ngay sau đó họ được lệnh rời khỏi nơi trú ẩn đó. Cuối cùng, Yu được biết rằng mình thuộc loại thứ ba trong danh sách mục tiêu thanh trừng của Kim – tức những người không cần phải giết hoặc cho lao động khổ sai nhưng có thể đơn giản rời khỏi đất nước nếu họ muốn. Nguyền rủa Kim Il-sung, Yu đã rời đi vào tháng 12 năm 1959 – một trong khoảng 400 quan chức và thành viên gia đình họ bị cuộc thanh trừng của Kim đẩy sang sống lưu vong ở Liên Xô.

Trên thực tế, “tội ác” của Yu chắc hẳn không quá khủng khiếp – xét đến thực tế là vào năm 1990, chế độ Bình Nhưỡng, tìm cách bỏ qua chuyện cũ, đã mời ông và một số người lưu vong khác ở Liên Xô đến thăm Triều Tiên. Đây là lần đầu tiên Yu trở lại kể từ khi ông buộc phải ra đi ba thập kỷ trước. Khi đến Bình Nhưỡng, ông bàng hoàng nhận thấy trong “Bảo tàng Chiến tranh Giải phóng Tổ quốc” không có hồ sơ nào về những nỗ lực trong Chiến tranh Triều Tiên của chính ông và các cán bộ cấp cao khác đã bị thanh trừng. Ngay cả tên của ông cũng bị thiếu trong danh sách các chỉ huy Cục Tác chiến. Thêm vào đó là sự xúc phạm, một chủ nhà Bắc Triều Tiên (như đã có thông lệ từ lâu với du khách) “yêu cầu tôi viết vài lời ca ngợi Kim Il-sung.”

 

Khi cáo buộc các đối thủ trong nước của mình là kẻ theo đuổi ngoại bang, Kim Il-sung cũng ca ngợi phẩm chất hoặc trạng thái tinh thần trái ngược mà ông đặt tên là juche – thường được dịch đơn giản là tính tự lực quốc gia nhưng ý nghĩa của nó rộng hơn là đặt Triều Tiên lên hàng đầu. Juche là liều thuốc giải độc cho xu hướng của người Triều Tiên, giống như công dân của các quốc gia cộng sản nhỏ khác, là tuân phục ý muốn của Moscow hoặc Bắc Kinh. “Chúng ta đang làm gì?” Kim hỏi khi xuất hiện trước những thành viên tuyên truyền và vận động của đảng vào năm 1955. “Chúng ta không tham gia vào cuộc cách mạng của một quốc gia khác mà tham gia vào cuộc cách mạng Triều Tiên của chúng ta.”

Mặc dù chính trong bài phát biểu năm 1955 đó, Kim đã lên tiếng cho lập luận của mình về juche, nhưng ông đã nói theo những dòng tương tự ngay từ năm 1948. Ông nói, sẽ tốt hơn nếu sản xuất hàng hóa thành phẩm trong nước và nền kinh tế phát triển độc lập thay vì gửi nguyên liệu thô đi chế biến ở nước ngoài. Chủ đề này trở nên quan trọng trong cuộc tranh luận về những gì cần nhấn mạnh trong quá trình tái thiết nền kinh tế hậu Chiến tranh Triều Tiên. Ông Kim đã chọn dốc toàn lực đầu tư vào xây dựng ngành công nghiệp nặng, bao gồm cả vũ khí. Điều đó có nghĩa là phải trì hoãn những cải thiện lớn về mức sống của người dân.

Những lời chỉ trích các chính sách kinh tế của Kim đến từ “bọn bè phái và giáo điều” Triều Tiên, như Kim đã gọi họ. Bên cạnh việc đặt câu hỏi về ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, họ còn phàn nàn rằng quá trình tập thể hóa nông nghiệp đang diễn ra quá nhanh. Và một số người tin rằng ông nên khuyến khích các nhà tư bản và thương nhân còn lại của đất nước thông qua kiểu chủ nghĩa tư bản nhà nước mà các nước xã hội chủ nghĩa khác đã áp dụng ở giai đoạn tương đối sớm.

Theo một nghĩa nào đó, những lời chỉ trích như vậy đã được Kim lợi dụng. Ông luôn cần có kẻ thù trong và ngoài nước, hoặc cả hai, để tận dụng tối đa các kỹ năng của mình ở các động cơ tiêu cực. Nếu “những người theo chủ nghĩa bè phái và giáo điều” không xuất hiện thì có lẽ ông phải bịa ra họ (tất nhiên ông đã từng làm vậy, đến mức đã dựng lên những tình huống chống lại họ). Đến thăm khu liên hiệp nhà máy thép Kangson vào năm 1956, ông nói với các công nhân và quản lý rằng đất nước đang phải đối mặt với tình trạng “người dân ở một quốc gia nào đó cố gắng áp đặt chủ nghĩa bè phái của họ lên chúng ta. Người dân ở một quốc gia khác cố gắng giành quyền kiểm soát chúng ta bằng cách hợp tác với những người đó. Những người theo chủ nghĩa bè phái ở nước ta lệ thuộc vào sự hỗ trợ của các ông chủ của chúng.” Trong khi đó, Rhee của Hàn Quốc “cố gắng tấn công chúng ta, với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ. Vậy thì chúng ta sẽ tin ai? Không có ai khác ngoài bạn là người mà chúng tôi có thể tin tưởng.”

Kim đã phát động một “cuộc đấu tranh ý thức hệ toàn đảng” để loại bỏ tận gốc những lời chỉ trích nội bộ và ý đồ lật đổ của họ. Người viết tiểu sử chính thức của ông khẳng định: “Bất cứ nơi nào ông đi, đồng chí Kim Il-sung đều hiểu rõ rằng toàn đảng và nhân dân có nhiệt huyết cách mạng mạnh mẽ đang dâng cao và tràn đầy tinh thần đấu tranh mãnh liệt chống lại kẻ thù bên trong lẫn bên ngoài”. Ông đã không mất thời gian biến niềm đam mê và sức lực của họ thành hành động…. để tạo ra bước đại nhảy vọt trong cách mạng và xây dựng xã hội chủ nghĩa, từ đó áp đảo hoàn toàn bọn phe phái.”

Trên thực tế, cuộc đấu tranh đó liên quan đến việc di dời dân cư trên diện rộng. Shin Myung-chul, cựu thành viên của bộ máy cảnh sát mật thuộc  An ninh Nhà nước đào tẩu sang miền Nam, kể với tôi rằng gia đình ông đã chuyển nơi ở vào năm 1956, bốn năm trước khi ông sinh ra, từ thành phố lớn Hamhung đến một thành phố nhỏ, Cheongdan-eup. Cha mẹ anh là những người theo chủ nghĩa xã hội những người đam mê, và việc tái định cư của họ là một phần trong kế hoạch của Kim Il-sung nhằm tái định cư những thành viên gương mẫu như vậy, nơi họ có thể dạy những người kém tiến bộ hơn về mặt tư tưởng. Ahn Choong-hak, một thợ khai thác gỗ đào tẩu vào miền Nam, kể với tôi rằng gia đình anh vào năm 1961, năm anh lên ba, đã tham gia vào cuộc di dời hàng loạt các hộ gia đình có “nền tảng gia đình tốt” về thủ đô cũ Kaesong. Hãy nhớ lại rằng Kaesong, bên dưới vĩ tuyến 38, đã bị miền Bắc chiếm trong Chiến tranh Triều Tiên và sáp nhập vào lãnh thổ của nước này sau hiệp định đình chiến. Tính đúng đắn về mặt ý thức hệ của nhiều dân địa phương ở lại còn nhiều điều đáng lo ngại.

Bằng cách tiến lên “mười bước khi người khác chỉ đi một bước,” Kim hô hào, đất nước sẽ sớm chuyển từ chủ nghĩa xã hội sang một xã hội cộng sản rốt ráo. Khi đó mọi người sẽ tự nguyện làm việc theo năng lực  và nhận của cải theo nhu cầu chứ không phải theo nỗ lực như trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa. “Tôi sẽ đưa các bạn đến với xã hội cộng sản,” ông tuyên bố trong chuyến thăm năm 1959 tới các công nhân – trước đây là thợ thủ công độc lập – trong Hợp tác xã Sản xuất Đồ sắt Wonsan. “Tôi sẽ đưa tất cả con trai của các đồng chí vào xã hội cộng sản.” Một người viết tiểu sử chính thức báo cáo rằng “sự thống nhất về ý thức hệ và ý chí” đã phát triển từ chiến dịch. “Tất cả các viên chức và người dân lao động đều hồ hởi giữ lập trường Juche vững chắc là không biết tư tưởng nào khác ngoài tư tưởng cách mạng của đồng chí Kim . . . ”

Nhưng những cuộc tấn công vào các chính sách của Kim không chỉ đến từ trong nước mà còn đến từ những người cộng sản ở nước ngoài. Một nhân vật không ai khác ngoài nhà lãnh đạo tương lai của Liên Xô Leonid Brezhnev, với tư cách là đại biểu tham dự hội nghị đảng năm 1956, đã thúc giục chủ nhà Triều Tiên nhập khẩu hàng tiêu dùng của Liên Xô thay vì máy móc. Những bất đồng như vậy tiếp tục vào những năm 1960 khi Kim chỉ trích quan điểm do Liên Xô hậu thuẫn cho rằng các nước xã hội chủ nghĩa nên hình thành một nền kinh tế “tích hợp”, mỗi nước chuyên môn hóa hơn là cố gắng sản xuất đủ loại sản phẩm trong nước. Chiến dịch phi Stalin hóa đang diễn ra ở Liên Xô – có những tác động rất nguy hiểm đối với bản thân Kim Il-sung – là một yếu tố quan trọng khiến ông ngần ngại đặt niềm tin hoàn toàn vào sự hướng dẫn của Moscow trong các vấn đề khác.

Bắt đầu từ cuối những năm 1950, sự cạnh tranh gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô đã trở thành một yếu tố lớn đối với chính sách đối ngoại của Triều Tiên. Bình Nhưỡng lúc đầu tìm cách tránh bị cuốn vào cuộc đấu tranh giữa hai nước chủ chốt hậu thuẫn mình. Kết quả là nhu cầu giữ khoảng cách chính trị với cả hai nước của Kim đã củng cố chính sách độc lập và tự chủ về kinh tế của ông. Juche đã trở thành một thành công lớn trong hoạt động tuyên truyền trong nước, lợi dụng niềm kiêu hãnh mạnh mẽ nhưng bị tổn thương của người Triều Tiên và chủ nghĩa bài ngoại đã trở thành đặc điểm của họ trong một lịch sử lâu dài thường bị hoen ố bởi các cuộc xâm lược của nước ngoài.

 

Hoa Kỳ đã rút phần lớn quân đội của mình sau năm 1953, nhưng vẫn giữ lại đủ quân để phục vụ như một “dây bẫy”. Trong trường hợp miền Bắc xâm chiếm lần nữa, binh sĩ Mỹ sẽ đổ máu và Hoa Kỳ sẽ lại lâm chiến  – một cách tự động. Người Mỹ phục vụ với vai trò chỉ huy Liên Hiệp Quốc cũng có quyền “kiểm soát hoạt động” của quân đội Hàn Quốc, điều đó có nghĩa là trong thời gian chiến tranh, những đội quân đó sẽ phục vụ dưới cơ cấu chỉ huy chung.

Người Triều Tiên nói mình khinh thường người Mỹ,  nhưng thực tế sự hiện diện của GI (bộ binh Mỹ) là một trở ngại nghiêm trọng. Chiến tranh Triều Tiên đã dạy Kim Il-sung phải thận trọng. Hơn nữa, sau chiến tranh, Washington đã áp dụng chính sách mà Dulles gọi là “trả đũa ồ ạt”  trong trường hợp đình chiến thất bại. Một Bản Ghi nhớ ngày 17 tháng 4 năm 1954 đã được phân loại trước đây  bởi thư ký của bộ Tham mưu trưởng liên quân nêu rõ: “Nếu bọn Trung Quốc tấn công lần nữa, yểm trợ hoạt động của không quân Mỹ sẽ được tiến hành bao gồm cả việc sử dụng vũ khí nguyên tử để giáng sự hủy diệt tối đa cho lực lượng kẻ thù.”

Do đó, Washington đã giương ra che chở Hàn Quốc cái được gọi là “chiếc ô hạt nhân”: khả năng Mỹ trả đũa bằng hạt nhân ngay cả đối với một cuộc tấn công quy ước. Từ cuối những năm 1950, Kim đã theo dõi việc Hoa Kỳ đưa vào Hàn Quốc vũ khí hạt nhân chiến thuật, dưới sự kiểm soát của lực lượng Hoa Kỳ.

Tài liệu giải mật của Mỹ tiết lộ Washington từng kỳ vọng các vũ khí mới này sẽ giúp lãnh đạo miền Nam cảm thấy đủ an toàn để cắt giảm quân số lực lượng quân sự phình to của họ (lên tới 677.000 quân) khoảng 1/10. Bằng cách hỗ trợ quân đội Hàn Quốc thông qua các khoản viện trợ dựa trên quân số, Washington xem việc thay thế binh lính bằng vũ khí hạt nhân như một biện pháp tiết kiệm ngân sách. Quan chức Mỹ cũng không muốn miền Nam chi tiêu thêm quỹ viện trợ ít ỏi vào quốc phòng. Họ tỏ ra quan ngại vì chi tiêu quốc phòng chiếm 71% toàn bộ ngân sách Hàn Quốc. Họ hy vọng rằng tỷ lệ phần trăm sẽ giảm xuống để dành chi tiêu vào các sáng kiến ​​phát triển kinh tế đang cần kíp. Quan chức thành công trong việc đàm phán cắt giảm quân số nhưng phải mất nhiều tháng mới vượt qua được sự phản đối ngoan cố của Tổng thống Rhee, lúc đó đã già nhưng vẫn kiên trì bám lấy quyền lực.

Trong khi chuẩn bị tiến hành vào đầu năm 1958 việc chuyển giao một đơn vị tên lửa có khả năng hạt nhân cho Hàn Quốc, Bình Nhưỡng đã đưa ra những đề xuất tương tự như những đề xuất mà họ đã đưa ra tại hội nghị Geneva thất bại năm 1954. Chúng bao gồm việc rút đồng thời tất cả quân đội nước ngoài khỏi bán đảo, sau đó là một “cuộc bầu cử tự do, toàn Triều Tiên dưới sự giám sát của quốc gia trung lập” với quyền dân chủ và quyền tự do hoạt động được đảm bảo cho tất cả các đảng chính trị và tổ chức xã hội.” Miền Bắc và miền Nam sẽ đàm phán về các điều khoản của cuộc bầu cử cũng như “các mối liên hệ kinh tế và văn hóa, cũng như quyền tự do đi lại.” Lực lượng vũ trang của hai miền Triều Tiên sẽ giảm “đến mức tối thiểu.”

Người Trung Quốc tán thành các đề xuất. Cả Bắc Kinh và Bình Nhưỡng đều chỉ ra việc Mỹ đưa vũ khí hạt nhân vào cho thấy họ mới chính là bên đấu tranh cho sự thống nhất hòa bình, còn người Hàn Quốc và Mỹ chống lại điều đó. Trung Quốc tuyên bố Hoa Kỳ là kẻ xâm lược trong Chiến tranh Triều Tiên. Bắc Triều Tiên lặp lại rằng việc quân đội Hoa Kỳ “chiếm đóng” Hàn Quốc là “lý do cơ bản” tại sao sự thống nhất chưa đến được. Vài tuần sau, vào ngày 28 tháng 2 năm 1958, Kim Il-sung và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai cùng tuyên bố rằng Quân “tình nguyện” Trung Quốc, vốn ở lại để bảo vệ Triều Tiên trước cuộc xâm lược của Mỹ-Hàn, sẽ rút khỏi Triều Tiên vào cuối năm nay. Liên Xô nhanh chóng tán thành động thái này – và thêm lời kêu gọi phi hạt nhân hóa bán đảo Đài Loan. Hàn Quốc Nhật Bản và Hoa Kỳ coi loạt thông báo của cộng sản phần nào là một mưu đồ tuyên truyền tinh vi, được thiết kế để gây áp lực buộc Mỹ phải rút quân hoàn toàn. Suy cho cùng, quân đội Trung Quốc không cần phải ở lại vì không có mối đe dọa xâm lược ngay lập tức từ Hàn Quốc. Nếu cần, họ có thể nhanh chóng đến từ bên kia biên giới phía đông bắc Trung Quốc như đã làm vào năm 1950.

Chính sách chính thức của Mỹ đối mặt với việc Trung Quốc rút quân là “chúng ta phải duy trì lực lượng của mình ở Hàn Quốc cho đến khi đạt được giải pháp thỏa đáng.” Một giải pháp như vậy sẽ là một kế hoạch thống nhất dẫn đến một chính phủ trên toàn Triều Tiên thân thiện với Hoa Kỳ – nghĩa là không cộng sản.

Tất nhiên, trong trường hợp Triều Tiên xâm lược miền Nam, việc huy động đủ lực lượng Mỹ từ bên ngoài sẽ tốn nhiều thời gian. Quan trọng hơn, Washington coi sự hiện diện vũ trang của Mỹ có tác dụng ngăn chặn kiểu tấn công của miền Bắc diễn ra một năm sau khi Mỹ rút quân khỏi Hàn Quốc sau Thế chiến. Suy nghĩ của Bộ Ngoại giao vào thời điểm này rõ ràng đã đi đến kết luận rằng cuộc rút quân năm 1949 là yếu tố then chốt đã truyền cảm hứng cho cuộc xâm lược của Bắc Triều Tiên.

Các quan chức Mỹ có thêm lý do để muốn ở lại. Họ tin rằng việc duy trì cơ sở quân sự của họ ở Hàn Quốc sẽ giúp ngăn chặn sự lật đổ của cộng sản. Và họ nghĩ rằng mình cần phải duy trì quyền kiểm soát hoạt động đối với quân đội Hàn Quốc để đảm bảo  Rhee sẽ không vô cơ xâm lược miền Bắc. Có lẽ lý do khác để ở lại là niềm hy vọng lâu dài – bị thách thức hàng ngày bởi những thực tế khó chịu của cuộc sống dưới chế độ Rhee – rằng Hàn Quốc sẽ đạt được một nền kinh tế thị trường thịnh vượng và dân chủ chính trị.

Washington tiếp tục coi Triều Tiên là vệ tinh của Liên Xô, cũng chịu ảnh hưởng của Trung Quốc và khó có thể là một chủ thể độc lập. Vẫn duy trì nhận thức về chủ nghĩa cộng sản như một lực lượng nguyên khối. Sự chia rẽ Trung-Xô và các xung đột khác giữa các nước cộng sản, đại diện cho những lợi ích cơ bản khác nhau, vẫn chưa được công khai hoàn toàn. Trên thực tế, ngay cả khi các quan chức Mỹ đi đến khẳng định coi Triều Tiên về cơ bản đang hành động đơn độc thì sẽ rất miễn cưỡng nếu để Hàn Quốc nằm dưới quyền sinh sát của miền Bắc  sau tất cả máu xương và của cải mà người Mỹ đã đổ ra trong Chiến tranh Triều Tiên.

Ngoài ra, có lẽ lý do lớn nhất để coi Hàn Quốc là quan trọng đối với lợi ích của Hoa Kỳ là kỳ vọng rằng một nước Triều Tiên cộng sản do Kim Il-sung cai trị sẽ thù địch với Nhật Bản tư bản – nước đang bắt đầu thực hiện lời hứa của mình như một động cơ tăng trưởng kinh tế cho thế giới không cộng sản. Không chỉ có quan chức Mỹ cảm thấy chắc chắn rằng quá trình cộng sản hóa Hàn Quốc sẽ làm rung chuyển Nhật Bản. Niềm tin rằng một Hàn Quốc cộng sản sẽ gây ra mối hiểm họa nghiêm trọng cũng đã và vẫn là niềm tin mạnh mẽ của các nhân vật chính quyền và những người khác ở Nhật Bản. Mãi hai thập kỷ sau, trong một cuộc trò chuyện ở Tokyo với một người trong Đảng Dân chủ Tự do cầm quyền, tôi đã nghe được lời dự đoán thực tế rằng việc cộng sản tiếp quản Hàn Quốc sẽ phá vỡ nền dân chủ mong manh của Nhật Bản, tạo cảm hứng cho việc nhanh chóng quay trở lại chế độ độc tài.

Năm 1958, khi những người cộng sản đưa ra đề xuất thống nhất, Washington coi đó là một phần trong nỗ lực nhằm tạo ra sự chia rẽ giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ. Tại một cuộc họp giữa các quan chức cấp cao của Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao, cuộc thảo luận chuyển sang phản ứng của Nhật Bản trước việc Trung Quốc rút quân và đề xuất phi hạt nhân hóa. Mặc dù các động thái của cộng sản được tính toán để kêu gọi chủ nghĩa hòa bình vốn được ghi trong hiến pháp Nhật Bản thời hậu chiến, chính quyền Tokyo vẫn cảm thấy khó chịu trước giọng điệu hiếu chiến trong những đề cập của Triều Tiên tới Nhật Bản và Hoa Kỳ. “Kể từ đó, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã lo lắng về đánh giá của chúng ta đối với lý do khiến Trung Quốc đưa ra những đề xuất và đặc biệt là liệu chúng ta có ý định rút quân khỏi Triều Tiên hay không,” một bản ghi nhớ của cuộc họp cho biết, “Nếu vậy, Bộ Ngoại giao Nhật sẽ rất buồn phiền”

Cần phản ứng bằng cách nào đó đối với sáng kiến ​​của cộng sản, người Mỹ đã triệu tập một cuộc họp gồm 16 quốc gia đã đóng góp lực lượng cho phía Liên hiêp quốc trong Chiến tranh Triều Tiên. Mười sáu thành viên đã gửi cho người Trung Quốc và Bắc Triều Tiên một bức thư yêu cầu “Cho dù khi chính quyền Triều Tiên nói về một ‘tổ chức các quốc gia trung lập’ để giám sát các cuộc bầu cử, họ có chịu chấp nhận rằng những cuộc bầu cử này phải được tổ chức dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc hay không.” Trung Quốc phản ứng bằng cách cáo buộc nhóm Liên Hiêp Quốc đang cố gắng chuyển trọng tâm của vấn đề. Với việc lực lượng Trung Quốc rút đi, triển vọng bầu cử tự do và thống nhất hòa bình phụ thuộc vào việc rút quân tương ứng của lực lượng Liên hiêp quốc. Sau đó vào năm 1958, Trung Quốc bác bỏ quan điểm tổ chức các cuộc bầu cử dưới sự giám sát của Liên Hiệp quốc. Họ buộc tội – không phải không có logic – rằng Liên Hiêp Quốc, “dưới sự thống trị của Hoa Kỳ, đã trở thành một bên tham chiến trong Chiến tranh Triều Tiên và đã mất hết năng lực cũng như thẩm quyền đạo đức để giải quyết một cách công bằng và hợp lý vấn đề Triều Tiên.”

Các bên chẳng đi đến đâu trong việc tạo ra một đất nước Triều Tiên dân chủ, thống nhất mà cả hai bên đều tuyên bố mong muốn.

 

Phơi mình trong những lời tán dương mà mình nghe từ mọi người trong và ngoài nước, và tin rằng mình đang lấn lướt kẻ thù bên kia DMZ, Kim đã nhận hết công lao cá nhân về những thành tựu của thời kỳ đó. Có vẻ như có nhiều lý do để biện minh cho điều đó. Đào thoát năm 1997 Hwang Jang-yop, người đã làm việc chặt chẽ với Kim với tư cách là bí thư tư tưởng đảng từ năm 1958 đến năm 1965, đã mô tả sự lãnh đạo của Kim bằng những ngôn từ tươi sáng.

 Kim Il-sung “có lương tâm, khôn ngoan và đàng hoàng,” Hwang viết. Tại cuộc họp của cơ quan chính trị đảng hàng tuần, được tổ chức tại phòng họp bên cạnh văn phòng ông, thủ tướng “sẽ đích thân thông báo cho những người tham dự về từng mục trong chương trình nghị sự và đề xuất các phương án thay thế. Ông dùng những từ ngữ dễ hiểu để đưa ra lời giải thích thấu đáo để không có chỗ cho sự hiểu lầm hoặc thắc mắc về một vấn đề. Tôi nghĩ bất cứ điều gì ông ấy nói đều hợp lý. Ông ấy đã trình bày đầy đủ ý kiến ​​của mình và sau đó hỏi ý kiến ​​của các quan chức còn lại.”

Để làm ví dụ về sự quyết tâm và khả năng thuyết phục của Kim sau khi đã quyết định, Hwang trích dẫn một kế hoạch bắt đầu từ năm 1958, trong đó Thủ tướng đã cố gắng giải quyết tình trạng thiếu hàng tiêu dùng bằng cách xây dựng các nhà máy nhỏ ở nông thôn. Yêu cầu họ sử dụng trong phạm vi được giao bất kỳ nguồn lực nào mà họ có thể cùng nhau khai thác, có thể còn sót lại từ ngành công nghiệp nặng đang được thúc đẩy mạnh mẽ. Trong hướng dẫn của mình, Kim “khuyến khích mạnh mẽ việc tuyển dụng phụ nữ trong các nhà máy này”.

Trong một xã hội phụ hệ, đó là điều mang tính cách mạng. Tại một cuộc họp, Hwang nhớ lại, các nhà quản lý nhà máy đã nói rằng thà thiếu nhân lực còn hơn tuyển dụng phụ nữ. Suy cho cùng, phụ nữ phải cần nghỉ thai sản có lương trong 90 ngày (sau này 150 ngày). Ngoài ra, các nhà quản lý còn phàn nàn, phụ nữ “đặt con cái lên trước công việc, nói quá nhiều và làm quá ít và có xu hướng nói xấu sau lưng cấp trên”.

Kim trả lời rằng việc đưa phụ nữ vào nơi làm việc không chỉ đơn giản là giải pháp cho tình trạng thiếu lao động của đất nước. “Nếu phụ nữ chúng ta, chiếm một nửa dân số, đều ở nhà phụ bếp thì sẽ tụt hậu so với nam giới về nhận thức xã hội. Đương nhiên, họ sẽ không hiểu được công việc của chồng mình và do đó, trở thành trở ngại cho sự nghiệp của chồng.” Kim nói, điều cần thiết là phải “giải phóng phụ nữ của chúng ta khỏi bếp núc và biến họ thành người làm chủ xã hội và đất nước.”

Từ đó trở đi, Hwang lưu ý, “các trung tâm chăm sóc trẻ em, nhà trẻ và phòng khám ngoại trú được thành lập khắp nơi để phụ nữ không cần phải lo lắng về con cái khi đi làm, và điều này dẫn đến làn sóng phụ nữ tham gia lực lượng lao động”.

Chính Kim là người đã chọn ngô làm mặt hàng nhập khẩu chính thay thế cho gạo khan hiếm và đắt đỏ. Sự lựa chọn mà ông dường như đưa ra không dựa trên phân tích dinh dưỡng mà dựa trên kinh nghiệm lâu năm của ông trong việc sử dụng các sản phẩm thay thế gạo trước năm 1945. Năm 1959, theo Hwang, “vấn đề nhập khẩu thực phẩm đã được thảo luận trong cuộc họp của văn phòng chính trị.” Kim lắng nghe cuộc thảo luận một lúc mới nói: “Trước đây tôi đã ăn nhiều loại ngũ cốc và tôi nghĩ ngô là ngon nhất. Thế việc nhập khẩu ngô thì sao?” Hwang nhớ mình “khá ấn tượng vì đó là nhận định mà chỉ những người đã trải qua thời kỳ khó khăn mới có thể đưa ra.”

Theo Hwang, Kim “đưa ra các quyết sách sau khi xem xét ý kiến ​​của cấp dưới”. Khi ông ấy bắt đầu một dự án mới,” ông ấy luôn tập hợp các quan chức đảng giải thích ý tưởng của mình đầu tiên. Các thư ký sau đó sẽ viết ra ý tưởng mang tính lý thuyết hơn  và gửi tài liệu xuống đến các tổ chức đảng. Và khi đưa ra chỉ dẫn, Kim Il-sung luôn triệu tập quan chức phụ trách hoặc gọi y trên điện thoại. Sau đó thiết lập hướng đi cho một nhiệm vụ, ông để lại chi tiết thực hiện các quyết định độc lập cho cấp dưới. Kim Il-sung thường xuyên đến kiểm tra hiện trường, từ đó ông ấy rút ra rất nhiều ý tưởng. Và khi biến một ý tưởng của mình thành hiện thực, ông ấy sẽ kiểm tra nó ở mức độ hạn chế để rút kinh nghiệm thêm trước biến nó thành chuẩn mực. Ông  không nhất thiết phải bắt chước các nước khác nhưng đã cố gắng điều chỉnh cho phù hợp với tình hình chúng tôi. Như vậy ông ta không bị ảnh hưởng tiêu cực của các nước khác”.

Hwang thừa nhận mình đã “học được rất nhiều từ Kim Il-sung.” Thủ tướng “thực sự quan tâm đến chúng tôi, những thư ký, và bảo chúng tôi đi cùng mình bất cứ khi nào ông đến kinh lý các nhà máy hoặc trang trại.” Khi các trợ lý đã sắp xếp thời gian sau khi đã giải quyết các áp lực của các nhiệm vụ khác để chấp nhận lời mời của ông ấy, họ thấy rằng “Kim Il-sung đã làm một công việc tốt khi ông đi đến những nơi xa xôi để đích thân hướng dẫn những người thợ. Ông chú ý đến ý kiến ​​của công nhân và nông dân, không hành động hống hách.”

Tuy nhiên, đối với Kim Il-sung, rõ ràng là một máy phát năng lượng trong những năm 1950, dường như không có chi tiết nào về công cuộc tái thiết đất nước là quá nhỏ để qua con mắt “chỉ đạo” của mình. Vào tháng 7 năm 1955, khi đến thăm nhà ga xe lửa mới xây ở Kanggye, ông phàn nàn rằng biển hiệu nhà ga quá nhỏ – và mảng cây xanh cũng vậy. Khinh thường những cây con nhỏ ông tìm thấy trồng xung quanh nhà ga, ông nói: “Các đồng chí đã trồng những cây nhỏ mặc dù có rất nhiều cây lớn tốt sẵn có. Sẽ còn rất lâu nữa những cây con như vậy mới đủ lớn để người già ngắm cảnh.” Sau đó ông chỉ đạo thay cây con bằng cây lớn hơn.

Trong một lần đắm mình khác vào những chi tiết thiết yếu của việc điều hành đất nước, vào tháng 1 năm 1958, Kim đã gặp các quan chức xây dựng để thúc đẩy việc tăng cường sản xuất nhà ở tiền chế. thông qua “Nếu các đồng chí giảm thời gian quay vòng trên mỗi đơn vị cần cẩu xuống còn tám, bảy phút, hoàn thiện việc trát vữa trong khi các khối đang được sản xuất tại nhà máy thay vì thực hiện tại công trường, bạn sẽ có thể xây nhà rẻ hơn và nhanh hơn”, ông được cho là đã khuyên họ. Những thợ xây dựng, “nghe theo lời dạy của ông,” đã cải tiến quy trình của minh đến mức họ có thể xây một căn hộ trong mười bốn phút – “tốc độ Bình Nhưỡng,” như người ta đặt biệt danh cho thành tích này.

Đến thăm một căn hộ mới, Kim đã yêu cầu một người dân đánh giá. Lúc đầu, người phụ nữ khen ngợi một cách công thức: “Chúng tôi đang sống rất tốt. không có gì phải lo lắng, trăm sự nhờ Nhà nước.” Nhưng Kim nhận thấy căn hộ không có sàn sưởi ấm. Tạo không khí cho người phụ nữ thư giãn, ông mới được cô manh dạn thừa nhận rằng cô sẽ thích hệ thống sưởi ấm truyền thống của Triều Tiên, được gọi là ondol. Kim nói với các quan chức xây dựng đi cùng ông hãy cố gắng kết hợp ondol trong các dự án căn hộ trong tương lai. Sau đó, dùng thước đo, thủ tướng chỉ trích tỷ lệ các phòng “Ông ấy đã dạy họ một cách chi tiết rằng tốt hơn hết họ nên phân chia căn hộ sao cho phù hợp để mang lại sự thuận tiện tkốt nhất cho người ở và hạ thấp trần nhà xuống một chút. Ông nói với những người quản lý tòa nhà rằng họ nên làm căn bếp rộng hơn để người vợ có thể làm việc thoải mái ở đó ngay cả khi đang cõng em bé trên lưng. ‘Thưa bà, bà còn muốn tôi làm gì nữa không?’ ông hỏi. “Dạ không cần gì khác,” người phụ nữ trả lời. Đó còn lâu mới là phần kết thúc của những câu chuyện về Kim Il-sung với tư cách là Người Xây dựng Vĩ đại. Ví dụ, kể về một khu chung cư mới hoàn thành ở Bình Nhưỡng vào khoảng năm 1960, Kim đã báo cáo rằng ông đã “tự tay chọn địa điểm xây dựng khu căn hộ này cho các nhà văn và cựu chiến binh cách mạng chống Nhật và đã xem xét kỹ lưỡng thiết kế của nó.”

Vào ngày 15 tháng 8 năm 1961, nhân kỷ niệm 16 năm giải phóng khỏi ách thống trị của Nhật Bản, Kim “nhìn quanh các đường phố của thủ đô, chìm đắm trong suy nghĩ,” ông viết trong hồi ký của mình. “Có một bầu không khí nghỉ lễ sôi động trên đường phố. Phố Sungri và Phố Quân đội Nhân dân, nơi phát động phong trào xây dựng 20.000 căn hộ, và tất cả các đường phố chính của Bình Nhưỡng đã được cải tạo bằng những tòa nhà công cộng tráng lệ và những khối căn hộ cao tầng. Trong 8 năm kể từ chiến tranh, hàng chục nghìn dân Bình Nhưỡng đã rời bỏ hầm trú ẩn và chuyển đến những khu chung cư mới xây, vốn là một trong những thành tựu tuyệt vời của công cuộc xây dựng thời hậu chiến”.

Để chắc chắn hơn, Kim nói thêm, “công việc xây dựng chỉ mới bắt đầu. Phần lớn người dân thủ đô vẫn đang sống trong những căn nhà đào tồi tàn và những ngôi nhà một gian kiểu cũ. Họ đã hy sinh gian khổ và chịu đựng những đau thương kinh khủng,” trải quá những thử thách cam go trong cuộc chiến chống Nhật và chống Mỹ, những thử thách mà không có dân tộc nào khác trên thế giới từng trải nghiệm. Không dân tộc nào trên thế giới đã đổ quá nhiều máu, đương đầu với gió lạnh và nhịn nhiều bữa ăn như người dân chúng ta. Đối với những người này chúng ta phải xây thêm nhiều ngôi nhà tốt, may nhiều quần áo đẹp hơn và xây dựng nhiều trường học tốt hơn, nhà nghỉ và bệnh viện. Và chúng ta phải mang về nhà nhiều đồng bào của chúng ta ở các vùng đất xa xôi, những người khao khát có một quê hương. Đây là những gì tôi phải làm trong cuộc đời tôi, vì lợi ích của nhân dân … Những suy nghĩ này làm tôi mất ngủ cả đêm.”

 

 

Bình luận về bài viết này