Về vị trí hai trận thủy chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng, dựa vào địa hình đáy sông và thủy triều hiện tại

  Nguyễn Triệu Đồng

Tôi đã sử dụng địa hình hiện tại của đáy sông Bạch Đằng và thủy triều đo đạc ở trạm Hòn Dấu (Đồ Sơn) để tính dòng chẩy trong sông Đá Bạc, Bạch Đằng, và sự lên xuống của mặt nước trong sông, khi thủy triều lên xuống ở cửa sông.

Từ những tính toán thủy lực này, và từ những tài liệu lịch sử, tôi đã đưa ra giả thuyết về vị trí của hai bãi cọc trong hai trận thủy chiến: trận năm 1288 với Trần Hưng Đạo và trận năm 938 với Ngô Quyền.

Địa hình đáy sông và bờ sông Đá Bạc, Bạch Đằng. Đoạn sông này dài khoảng 20 km, rất rộng (800 m), có đoạn chẩy thẳng theo hướng Bắc Nam, nên ở đầu sông nhìn xuôi sẽ thấy cảnh nước trời mênh mang:

                ‘ Bát ngát sóng kình muôn dặm,

                Thướt tha đuôi trĩ một màu,

                Nước trời một sắc, phong cảnh ba thu ‘[1]

 

Tôi đã dưa theo bản đồ của NGA [A] để tạo lại địa hình đáy sông Đá Bạc, Bạch Đằng (Hình 1). Còn địa hình đôi bờ tả hữu ngạn sông, thì được xây dựng theo đo đạc bởi chương trình SRTM năm 2000 [B]. 

Đáy sông này có nhửng đặc điểm sau: một rãnh dài khoảng 4 km, rộng 400m, sâu 10 m, bên bờ phải, ở hai đầu vào của hai hợp lưu: sông Giá và sông Thái. Trong rãnh lại có hai hố sâu khoảng 15 m. Song song với rãnh này, bên bờ trái, độ sâu chỉ khoảng 5m, cho đến sông Chanh. Sau phân lưu sông Chanh, sông Bạch Đằng bị thu hẹp bởi Ghềnh Cốc (chiều rộng chỉ còn khoảng 400 m), khiến ghe thuyền ra biển phải dạt sang bờ phải. Sau Ghềnh Cốc, sông có một đoạn dài khoảng 4 km, với chiều sâu 5m, tiếp nối bởi một đoạn dài 5 km, sâu tới 10 m, trước khi tới biển ở cửa Bạch Đằng. Trong đoạn này cũng có những hố sâu tới 15 m.

Luận về vị trí các bãi cọc.

Theo địa thế đáy sông, thì những chỗ có thể đóng cọc phải là những nơi có chiều sâu khoảng 5m. Còn những chỗ sông sâu tới 10 m, thì không thể đóng cọc với phương tiện thủ công trong những thế kỷ 10 – 13. Như vậy những bãi cọc bắt buộc phải là ở bờ trái sông trước Ghềnh Cốc. Hay sau Ghềnh Cốc phải là đoạn sông dài 4 km từ Ghềnh Cốc cho đến hợp lưu của một nhánh sông Cấm (coi Hình 2).

 

Về trận thủy chiến năm 1288

Sau khi xâm lược Đại Việt từ tháng 12 năm 1287, quân Nguyên Mông, tin tưởng vào sức mạnh áp đảo của mình, ra sức truy đuổi quân Việt để tiêu diệt đối thủ nhưng không thành công. Tuy đã rút kinh nghiệm của lần xâm lược trước (từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1285), khi quân Việt bị vây hãm thì rút xuống thuyền lẩn tránh vào những sông ngòi của đồng bằng sông Hồng, lần này trong hàng ngũ Nguyên Mông có cả một đội chiến thuyền hùng hậu, dưới sự chỉ huy của Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi. Khi đoàn thuyền này đi vào hải phận Đại Việt, thì bị chiến thuyền của Trần Khánh Dư chặn đánh. Trong trận mở màn này, chiến thuyền Nguyên Mông đã thắng trận ròn rã, thuyền Đại Việt bị đánh chìm một số, số còn lại tan hàng bỏ chạy

Liệt Truyện của Tầu viết như sau:

Phàn Tiếp cùng Tham chính Ô Mã Nhi đưa thuỷ quân ra biển, gặp thuyền giặc tại cửa khẩu An Bang [vùng cửa sông Bạch Đằng, Thị xã Quảng Yên], Tiếp đánh thắng, chém hơn 4.000 thủ cấp, bắt sống trên 100 người, tịch thu hơn 100 chiếc thuyền, vũ khí không tính hết; rồi đến núi Vạn Kiếp, hợp với quân của Trấn nam vương

Lúc này, Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi đã lấy một quyết định sai lầm chiến lược: chắc chắn là không còn lực lượng chống đối, họ đã ra lệnh cho chiến thuyền đi nhanh vào sông Bạch Đằng để kịp hội quân với Thoát Hoan ở Vạn Kiếp, bỏ lại đoàn thuyền chở lương thực của Trương Văn Hổ đi sau, không có lực lượng hộ tống. Vì quân ta là loại ‘thua trận mà không chịu thua cuộc’: Trần Khánh Dư đã xin sứ giả của Triều Đình đến triệu về kinh để chịu tội thua trận cho hoãn vài ngày để ‘lập công chuộc tội’ [2, a]. Với một số chiến thuyền được tập trung lại, Khánh Dư đã đánh tan tác đoàn thuyền lương  của Văn Hổ, buộc Văn Hổ phải lên thuyền nhỏ chạy về Tầu. Ở Tầu, Văn Hổ  lại được giao nhiệm vụ chỉ huy một đoàn thuyền lương thứ hai sang Đại Việt, với lời hứa là sẽ có thuyền chiến của Ô Mã Nhi ra tận biển để tiếp đón và bảo vệ. Có lẽ vì đoàn thuyền này đã đến điểm hẹn quá sớm, lại phải vào gần bờ ở cửa Đại Bàng [2, b] để tránh bão, nên bị quân dân ta phát hiện và tiêu diệt. Văn Hổ lại một lần nữa xuống thuyền nhỏ bỏ chạy thoát thân !

Khi Ô Mã Nhi ra tới biển để tiếp đón Văn Hổ không thành công, trên đường trở về trên sông Bạch Đằng, y đã đánh phá một số làng mạc ở Yên Hưng [2, c] để cướp lương thực. Sau khi hai lần đoàn thuyền lương bị tiêu diệt, quân Nguyên Mông rơi vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng: việc cướp bóc lương thực tại chỗ cũng không giải quyết được vấn đề, vì dân chúng Đại Việt khi bỏ chạy để tránh giặc đă đốt cháy nhà cửa, lương thảo. Việc truy đuổi và tiêu diệt quân Đại Việt cũng thất bại, nên Thoát Hoan và Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi đành quyết định rút quân về nước: đường bộ thì do Thoát Hoan chỉ huy di chuyển về phía Lạng Sơn, còn đường thủy thì do Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy sẽ theo sông Bạch Đằng ra biển rồi men theo bờ biển mà về Tầu (Coi hình 7 trong [4]).

Trước khi rút quân theo đường thủy, ngày 8 tháng 4 năm 1288, Ô Mã Nhi đã cho thăm dò đường hành quân như sau: theo sông Kinh Thầy đi xuống sông Giá , rồi theo sông Giá ra đến sông Bạch Đằng rồi mới theo Bạch Đằng ra biển. (Coi hình 2 trong [4]) Cũng có thể quân Nguyên Mông đã phát hiện những hoạt động khả nghi ở cánh đồng đầu sông Đá Bạc (khảo cổ VN đã phát hiện ra một bãi cọc ở xã Liên Khê, huyên Thủy Nguyên năm 2019). Nhưng lộ trình này sẽ khiến chiến thuyền địch đi đến sau lưng trận địa mai phục của ta! Nên đội thăm dò đã bị quân ta chặn đánh quyết liệt ở Trúc Động [3, a], khiến ngày hôm sau, chiến thuyền Nguyên Mông phải đi vào Đá Bạc để tới Bạch Đằng, tức là đi vào trận địa mai phục của quân ta.

Ngày 09/04/1288, đai quân Nguyên Mông đã bắt đầu rút quân: một đoàn theo đường bộ di chuyển về phía Lạng Sơn, dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan. Một đoàn theo đường thủy di chuyển ra biển theo sông Đá Bạc, Bạch Đằng rồi men theo bờ biển để về Tầu. Vì đã nhiều lần di chuyển nhiều lần trên tuyến thủy này, và có trong tay hàng trăm chiến thuyền, với hàng vạn binh sĩ, nên Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi chắc chắn là sẽ sớm về tới đích. Quân Nguyên Mông phải rút về không phải vì thua trận, mà chỉ vì thiếu lương thực: tinh thần quân sĩ vẫn cao. Có lẽ còn có phần tức giận là quân Đại Viết đã không chịu đối đầu mà chỉ lẩn tránh rồi quay lại đánh lén và đánh úp. Nên khi ở đầu sông Bạch Đằng một toán thuyền nhỏ của Đại Việt bơi ra chặn đường, thì quân Nguyên Mông hăm hở xung trận:

                Đương khi:

        Muôn đội thuyền bày, rừng cờ phấp phới,

        Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói

        Thắng bại chửa phân, Bắc Nam lũy đối.[1]

Khi thuyền Việt yếu thế, rút chạy về hạ lưu sông Bạch Đằng, thì cả đoàn chiến thuyền Nguyên Mông (khoảng 400 chiếc) hò reo đuổi theo. Dòng nước chẩy xuôi, cộng với sức đẩy của 20 tay chèo trên mỗi thuyền,nên đoàn thuyền đã sớm đi tới bãi cọc, ở bờ trái, trước cửa sông Chanh (coi hình 3 và hình 4).

Vị trí bãi cọc này gần bãi cọc dự kiến trong sách Lịch Sử VN [3, b]. Ở vị trí này, sông Bạch Đằng có độ sâu gần 5 m. Trong bài viết [4], tác giả cũng đã chọn vị trí này là vị trí bãi cọc.

Theo ý kiến riêng, thì với một đội thuyền hùng mạnh cả trăm chiếc, binh sĩ cả vạn người, thì dù có bãi cọc (nhưng chỉ là chướng ngại vật bên bờ trái), quân Nguyên Mông cũng đủ sức để chọc thủng vòng vây của đoàn thuyền Đại Việt. Nếu họ chọn cách vừa chống đỡ vừa rút lui, thì chắc chắn một số thuyền của họ sẽ ra tới biển để trở về Tầu. Nhưng sau thắng lợi vang dội mở màn trước thủy quân Trần Khánh Dư ở Vân Đồn, nhưng lại thất bại trong việc truy đuổi quân ta trên sông ngòi đất Nam, và nhất là ý đồ của chủ tướng Thoát Hoan là đốt hết thuyền bè để tất cả đại quân theo đường bộ rút về Tầu, nên đây sẽ là cơ hội bằng vàng để gây lại danh tiếng của mình. Và Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi đã lệnh cho toàn đội thuyền Nguyên Mông lao vào một trận tranh hùng ‘phân thắng bại’.

Trận này cũng không hẳn là một trận thủy chiến giữa các chiến thuyền, trong đó thuyền Nguyên Mông cao to hơn thuyền Đại Việt có ưu thế với cung nỏ từ trên bắn xuống, mà là một trận cận chiến, hỗn chiến với gươm đao trên các sàn thuyền. Theo ý kiến riêng (coi Hình 4 trong [4] cho biên độ thủy triều, tầm nước của thuyền Nguyên Mông và chiều cao của cọc), thì bãi cọc chỉ có thể làm vướng thuyền, chứ không có thể lật thuyền hoặc đâm thủng đáy thuyền. Nên cách duy nhất để kết thúc trận đánh là leo lên sàn thuyền địch và cận chiến. Theo sách Việt [5] thì Vũ Hải bị đâm tử thương:

tướng quân Vũ Hải đã nhẩy sang Lâu thuyền (thuyền chiến có lầu chỉ huy) trực tiếp giao chiến với Ô Mã NhiNhưng trong lúc đánh Ô Mã Nhi, ông cũng bị quân Nguyên đâm trộm từ phía sau vào lưng.

Còn theo sử Tầu, thì Phàn Tiếp bị tử trận như sau:

Tiếp và Ô Mã Nhi mang quân trở về; bị giặc chặn tại sông Bạch Đằng. Gặp lúc thuỷ triều rút, thuyền của Tiếp bị mắc cạn; thuyền giặc đến đông, tên bắn như mưa, từ giờ Mão [5-7 giờ sáng]  đến Dậu [15-17 giờ]. Tiếp bị thương, rơi xuống nước; giặc dùng câu liêm kéo lên giết chết ‘

Vào cuối ngày lịch sử ấy, việc phân định thắng bại đã rõ ràng. Toàn thắng thuộc về quân Nam : Thượng Hoàng sai dẫn (Ô Mã Nhi và Tích Cơ Ngọc) lên thuyền ngự, cùng ngồi nói chuyện với chúng và uống rượu vui vẻ [2, d].  

Vua Trần Minh Tông (1300-1357) đã có những cảm nghĩ sau khi đến Bạch Đằng [6]:

        ‘ Chạm mây gươm giáo, xanh von vót,

        Sóng bạc khi đầy, lúc lại vơi

        …………………………………………….

        Non sông kim cổ, hai lần dậy,

        Hồ Việt hơn thua, một thoáng thôi

        Chan chúa dòng sông, ngầu bóng xế,

        Ngỡ là máu giặc hãy còn tươi ’

Nhưng đâu chỉ có máu giặc. Mà có cả máu ta. Rất nhiều máu ta.

Trong trận đánh ngày lịch sử ấy, cả vạn sinh linh đã đổ máu. Máu chẩy thành sông. Vũng máu trôi xuôi đến Ghềnh Cốc thì bị vướng lại và dần dần phân hủy, và cảnh tượng mặt nước sông mênh mông đỏ ngầu dưới áng trời chiều rực đỏ đã để lại ấn tượng trong tiềm thức của nhiều thế hệ.

Hậu quả trong xã hội Đại Việt sau chiến tranh là trong mấy năm liền (1290 và 1291) bị đói kém : lúc đầu thì để có cái ăn phải bán nhà bán cửa, sau phải bán vườn bán ruộng. Và đường cùng phải bán con bán cái. Đói kém không phải vì hạn hán, không phải vì lũ lụt, mà vì chiến tranh. Vì đồng ruộng đã thiếu vắng những bàn tay cần cù cày sâu cuốc bẫm.

        ‘Sông chìm giáo gẫy : gò đầy xương khô,

Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu.

        Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,

        Mà nay dấu vết luống còn lưu ‘[1]

Cho mãi đến năm 1292 (Nhâm Thìn), mới có dấu hiệu hồi sức, hồi sinh. Các gia đình tìm cách chuộc lại con cái bán đi. Và vua Nhân Tông đã có chiếu cho phép chuộc lại con cái đã bán đi [2, e] và [4].

Hơn ba thế kỷ sau, vào năm 1639, dưới thời nhà Minh bên Tầu, và vua Lê Thần Tông bên ta, đoàn sứ giả Việt trong một buổi triều kiến đã được vua Minh ban cho câu đối sau :

        ‘ Đồng trụ chí kim đài dĩ lục ‘ (Đài cột đồng đến nay chắc đã đổi mầu xanh)

Chánh sứ Giang Văn Minh đã ứng khẩu đối lại như sau. Đây là một lời nói định mệnh :

        ‘ Bạch Đằng tự cổ huyết do hồng ’ (Sông Bạch Đằng từ xưa đã đỏ ngầu vì máu).

Vua Minh nổi giận, ra lệnh sát hại sứ thần ngay tại triều đình, bất chấp luật lệ phép tắc bang giao.

 

Về trận thủy chiến năm 938.

 

Sử Việt viết : Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, bảo các tướng tá rằng: Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại………Định kế rồi, bèn cho đóng cọc ở hai bên cửa biển [2, f].

Theo địa hình đáy sông từ Ghềnh Cốc đến cửa sông Bạch Đằng (Hình 5), thì ngay sau Ghềnh Cốc, ta có một đoạn rộng 500 m, dài khoảng 4 km, với chiều sâu trung bình 5 m. Theo [3, c], thì thuyền nhẹ Ngô Quyền khiêu chiến ở cửa sông, rồi vờ rút chạy vào sông Bach Đằng. Thuyền chiến Nam Hán đuổi theo, vượt qua trận địa ngầm của ta. (Hình 5) Thuyền Việt đã mai phục trước Ghềnh Cốc và trong một nhánh của sông Cấm đổ nước vào sông Bạch Đằng. Bên bờ trái Ngô Vương đã cho đóng một bãi cọc ngầm

Sau khi toàn đội thuyền Nam Hán đã vượt qua bãi cọc, thì quân ta phản công (Hình 6). Ở bên bờ phải sông, đội thuyền Việt từ Ghềnh Cốc đánh xuống, và toán mai phục trong một nhánh của sông Cấm từ dưới đánh lên. Mục đích là dồn toàn đội thuyền Nam Hán sang bờ trái, nơi có bãi cọc ngầm.  Khi thuyền Hán bị vướng mắc hỗn loạn trên bãi cọc, [2, f] ‘ Nước triều rút xuống rất gấp, thuyền đều mắc vào cọc mà lật úp… Quyền bắt được Hoằng Tháo giết đi. Vua Hán thương khóc, thu nhặt quân lính rút về.

Nhưng Trương Hán Siêu kể lại rằng :

                Bên sông các bô lão, hỏi ý ta sở cầu.

                Có kẻ gậy lê chống trước, có người thuyền nhẹ bơi sau.

                Vái ta mà thưa rằng :

                Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng, nơi Nhị Thánh bắt Ô Mã ;

                Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô Chúa phá Hoằng Tháo.

Nếu vậy, hai bãi cọc năm 938 và năm 1288 lại ở cùng một chỗ, tức là trước Ghềnh Cốc ! ! !

Lời kết.

Cả hai trận năm 938 và 1288 đều có kết quả là kết thúc ý đồ xâm lược Đại Việt của Nam Hán và của Nguyên Mông. Cả hai trận đã huy động cả trăm chiến thuyền, cả vạn tinh binh, trên sông rất rộng có thủy triều với trận địa có bãi cọc ngầm cả ngàn cây cọc. Bên cạnh trận địa, dưới đáy sông lại có những chỗ trũng rộng cả trăm mét, sâu khoảng 10 m. Trong chỗ trũng lại có những hố sâu tới 15 m. Nên có khả năng rất lớn là những chỗ trũng và hố sâu đó đã bẫy lại nhiều di tích của hai trận đánh.

Khảo cổ Nhật Bản đã tìm được một số di tích về một cuộc đổ bộ thất bại của Nguyên Mông ở bờ biển Nagasaki năm 1281 (chỉ 4 năm trước xâm lược Đai Việt lần 2, năm 1285) [4] cho phép ta ước tính kích thước của thuyền Nguyên Mông theo các mảnh xác thuyền, mỏ neo tìm lại được. Và cả một loại vũ khí mới được đưa vào sử dụng: lựu đạn vỏ sành sứ.

Trong cuộc xâm lược Đại Việt lần 3, năm 1287-1288, cũng có một trận thủy chiến ở bờ biển có khả năng lưu lại di tích như ở Nagasaki: đó là trận Đại Bàng ngày 10/02/1288, nay là bờ biển trước cửa sông Vân Úc (Xin coi Hình 1 của [7]).

Và chỉ những di tích tìm được gần nơi xẩy ra sự kiện mới là bằng chứng của vị trí của sự kiện.

                         

                        Tài liệu tham khảo   

[1] Bạch Đằng Giang Phú. Trương Hán Siêu. Thơ Văn Lý Trần, NXBKHXH, Hà Nội, 1989. Tập II, trg 737. Thơ chữ Hán, bản dịch của Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến và Bùi Văn Nguyên.

[2] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, NXBKHXH, Hà Nội 1993

     a.- Tập II, trg 60. Thượng Hoàng được tin, sai trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh.

     b.- Tập II, trg 61. quan quân hội chiến ngoài biển Đại Bàng, bắt được 300 chiếc thuyền giặc…     

     c.- Tập II, trg 61. Yên Hưng. Nay thuộc Quảng Ninh

     d.- Tập II, trg 62. Đỗ Hành bắt được Ô Mã Nhi và Tích lê Cơ Ngọc dâng lên Thượng Hoàng

     e.- Tập II, trg 68 ‘Những người mua dân lương thiện làm nô tỳ thì phải cho chuộc lại’.

    f.- Tập I, trg 203,204. Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, bảo các tướng tá rằng.

[3] Lịch Sử Việt Nam, NXBKHXH, Hà Nội 1971

        a.- Tập I, trg 211. Ngày 8/4/1288, một đội thuyền đi trước dò đường tiến theo sông Giá.

        b.- Tập I, trg 210. Hình Chiến thắng Bạch Đằng.

        c.- Tập I, trg 141. Ngô Quyền khéo léo dùng thuyền nhẹ ra đánh nhử quân Nam Hán,…..Hoằng Tháo mắc mưu.

[4] Nguyễn Triệu Đồng. Nghi vấn về một bãi cọc vừa được tìm thấy gần sông Bạch Đằng.

https://nghiencuulichsu.com/2020/11/23/nghi-van-ve-mot-bai-coc-vua-duoc-tim-thay-gan-song-bach-dang/

[5] Vũ Ngọc Phương. Vũ Hải, anh hùng chống Nguyên Mông.

https://nghiencuulichsu.com/2017/11/10/vu-hai-anh-hung-chong-nguyen-mong/

[6] Bạch Đằng Giang. Trần Minh Tông. Thơ Văn Lý Trần, NXBKHXH, Hà Nội,1989. Tập II, trg 797. Thơ chữ Hán, bản dịch Đoàn Phượng Bình-Nam Trân.

[7] Nguyễn Triệu Đồng. Khả năng còn di tích chiến thắng Bạch Đằng 1288.

https://nghiencuulichsu.com/2022/03/15/khả-nang-con-di-tich-chien-thang-bạch-dang-1288/

Số liệu địa hình, thủy văn.

A.- Bản đồ Sông Bạch Đằng của NGA (Chart 93626), 1996.

  • – Địa hình đo dạc bởi chương trình SRTM 2000, và lấy từ trang web: http://dwtkns.com/srtm30m/
  • -Thủy triều ở Hòn Dấu (20°41’N, 106°49’ E). Tổng Cục Khí Tượng Thủy Văn, Bảng Thủy Triều 2001. NXB Thống Kê. Hà Nội 1999.

 

 

Bình luận về bài viết này