
Kỳ Thanh
Ngựa thần hý lộng đón xuân sang
Rắn tiễn năm tàn hạnh hổ mang
Vui tết đào hồng khoe sắc thắm
Đón xuân mai, cúc, trổ hoa vàng …Vũ Lang
*
Chữ NGỌ 午 (Hán) là chữ tượng hình, có nguồn gốc từ hình ảnh cây sào (一) cắm xuống đất (十) vào giữa trưa, biểu thị thời điểm buổi trưa (11 giờ đến 13 giờ), là giờ Ngọ trong Địa chi (Âm lịch), và cũng dùng để chỉ giữa trưa (中午).
Phân tích chiết tự:
一 (nhất): Tượng trưng cho mặt trời hoặc một cái cây sào (cọc) cắm xuống đất.
丿(phiệt): (nét sổ xiên qua trái) chỉ sự (việc).
十 (thập): Tượng trưng cho mặt đất.
Kết hợp: Hình ảnh một cây sào cắm trên mặt đất vào chính giữa ngày, khi mặt trời ở đỉnh đầu, bóng đổ ngắn nhất, đó chính là giờ Ngọ.
Buổi trưa: Dùng trong các từ như:
午餐: Bữa trưa, cơm trưa.
中午: Buổi trưa, giữa trưa.
午休: Giờ nghỉ trưa.
Ngọ 午 là một chữ biểu thị thời gian, được hình thành từ hình ảnh mặt trời đứng bóng vào giữa trưa (ngày). Đi liền là chữ THỊ是: đúng, sự tình [với chữ 日 (mặt trời) và chữ chính 正 (đúng)]; đúng giữa trưa là mốc thời gian (giờ Ngọ中午), thời điểm để người tiền sử trong bộ tộc họp mặt trao đổi thông tin, hoặc hoán đổi vật dụng với nhau…Khi nhu cầu phát triển, sầm uất; về sau, hình thành các sạp các lều có mái che nắng, mưa và thời gian nhóm họp để mua bán kéo dài ra, gọi là 市thị (chợ: chỗ để mua bán). Đơn vị hành chánh cho khu vực (hiện nay).
*
Khái quát: Ngọ = ngựa = mã chỉ khác cách gọi tên: thuần Việt hay là Hán Việt. Theo cách tính của lịch Đông Á, năm được đặt tên theo một trong mười can (thập can: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỹ, canh, tân, nhâm, quí); và một trong mười hai chi (thập nhi chi) hay là 12 con giáp: tý, sữu, dần, mão, thìn, tỵ, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi. Và theo thứ tự của mười hai chi thì mỗi mười hai năm mới có một năm ngọ. Mẫu số chung của 10 và 12 là 60. Vậy phải sáu mươi năm sau (2086) mới có một năm “bính ngọ” nữa. Hoặc đi ngược lại sáu mươi năm trước là năm bính ngọ (1966).
Tháng năm (5) âm lịch còn gọi là tháng Ngọ: “ăn Tết đoan ngọ trở về tháng năm” (ca dao). Còn ngày Ngọ thì sao? Dĩ nhiên cũng có ngày Ngọ và cũng có chu kỳ là 60 ngày.
Đối ngược (lại) với giờ ngọ là giờ tý từ 11 giờ khuya đến 1 giờ (khuya) sáng.
Năm Ngọ là năm (con) ngựa, chỉ có tháng ngọ, giờ ngọ (hiếm khi nói: giờ, tháng ngựa?); còn “ngọ môn午門” tức cửa chánh vào thành dành cho vua chúa (ngó về hướng nam) thì không dính gì đến ngựa cả!
Từ ngàn xưa, người ta đã biết đem ngựa hoang về huấn luyện để giúp sức cho người trong các việc nặng nhọc, việc chuyên chở. Ngựa là một trong sáu con vật được gọi là gia súc. Sáu con vật đó là: bò, ngựa, lợn, dê, gà, chó. Ở Việt Nam (VN), năm trong sáu con vật trên đều bị người làm thịt để ăn, tùy lúc, tùy nơi; chỉ riêng có ngựa, hiếm khi thấy dân Việt đem làm thực phẩm?
Ở miền đông Hoa Kỳ nghe nói có bán thịt ngựa. Dân Pháp cũng ưa ăn thịt ngựa, và có những tiệm chuyên bán thịt ngựa (boucherie chevaline).
Cho tới thập niên 1940 – 1950 ở VN vẫn còn dùng “xe ngựa”. Chỗ ngồi của hành khách rất cao ở phía sau. Loại xe ngựa nầy có mui giống như mui xe “xích lô đạp” nhưng chiều ngang lớn hơn nhiều. Hiện thời kiểu xe ngựa nầy, trang hoàng đẹp mắt, dùng trong việc chở khách du lịch ở một số điểm tham quan…
Trong thập niên 1950, VN có chế thêm một loại “thùng xe” khác cho ngựa kéo gọi là xe “thổ mộ”. Thùng xe nầy vuông dài, bên trên có mui cong bằng gỗ; (xe nầy còn có tên là xe hộp quẹt vì hình dáng của thùng xe), nhưng tên “xe thổ mộ” thông dụng hơn. Đây là loại xe chuyên chở hành khách rất thông dụng khắp nơi ở VN thời đó cho đến khi bị “xe hơi”, hoặc xe Lambretta thay thế. Bác “tài” điều khiển xe thổ mộ có tên đặc biệt: “anh xà ích”. Theo ông Bình Nguyên Lộc (trong quyển Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc VN) thì chữ xà ích là tiếng Phi Luật Tân được Việt hóa.
NGỰA trong thần thoại và lịch sử Đông Tây
Thánh Giống
Theo truyền thuyết ở nước ta: ngày xưa đời Hùng Vương thứ sáu có giặc Ân đánh phá nước Việt. Vua cho đi tìm người giỏi để dẹp giặc. Ở một làng nọ, có một em bé xin đi tòng quân. Em bé xin vua đúc cho em một thanh kiếm và một con ngựa bằng sắt. Vua cho làm theo lời cậu bé. Cậu bé đã dùng kiếm và ngựa sắt dẹp tan được giặc. Với công trạng ấy, cậu bé được phong là Phù Đổng Thiên Vương. Hiện nay, ở làng Bắc Sơn có đền thờ ông “Thánh Gióng” tức Phù Đổng Thiên-Vương.
Long mã,
Theo truyền thuyết Trung Hoa, có một con vật được gọi là “long mã” thường xuất hiện ở khu vực vùng trung lưu sông Hoàng Hà thời Phục Hy. Con vật nầy có mình rồng đầu ngựa. Là nguồn gốc để hình thành nên Kinh Dịch – một quyển sách nổi tiếng của Đông Á.
Trong sử Tàu còn có nhiều con ngựa rất nổi danh. Một trong những con đó là con Xích Thố của “Quan Công” tức Quan Vân Trường. Con xích thố nầy chỉ nổi danh khi nó đã thuộc về tay “Ông” mà thôi. Khi nó còn ở với hai chủ trước của nó là Lữ Bố và Tào Tháo thì nó không có nổi danh gì.
Ở Mông Cổ, Thành Cát Tư Hản đã chiếm nước Trung Hoa, và sau đó đánh về hướng tây, thiết lập một giang sơn từ Á sang Âu là nhờ đoàn kỵ mã với những con ngựa chạy xa không mệt và những chiến sĩ tài ba. Nhưng đoàn quân ấy đã bị thảm bại ở Việt Nam (đời Trần).
Con ngựa thành Troy
Ở miền Tiểu Á, theo thần thoại có con ngựa nổi danh: “Con ngựa Thành Troy”. Truyền rằng người Hy Lạp khi muốn tấn công thành Troy, đoàn quân Hy Lạp đã dùng một con ngựa cây khổng lồ và cho quân lính núp bên trong nhờ phần rỗng trong mình ngựa. Ngựa cây được đẩy tới cạnh cửa thành. Xong quân lính đẩy ngựa cây và đoàn quân đi theo giả thua bỏ chạy. Binh sĩ trong thành mắc kế, mở cửa thành để đánh đuổi và chiếm lấy ngựa cây đẩy vào thành. Họ làm tiệc ăn mừng chiến thắng. Quân lính Hy Lạp trong mình ngựa cây ào ra bất ngờ, mở cửa thành cho quân lính của họ tràn vào và nhờ đó chiếm được thành Troy. Tướng giữ thành là Hector bị tử thương. Kịch gia ngưòi Pháp tên Racine vào thế kỷ XVII đã dùng truyền thuyết “Ngựa Thành Troy” để viết vở kịch nổi danh mang tên “Andromaque”.
Đầu người mình ngựa
Theo thần thoại Hy Lạp, ngựa đã từ dưới nước nổi lên vì ngựa do thần nước tạo nên; bắt nguồn từ sự xuất hiện của những quân lính đến chinh phục Hy Lạp. Họ đã đi đến bằng tàu và đã cỡi ngựa đổ bộ lên bãi biển. Ngựa lội giỏi và chở lính vào bờ. Có lẽ cũng chính hình ảnh nầy nên phát sinh ra thần thoại con vật “đầu người mình ngựa”. Con vật nầy có đầu và một phần thân thể giống người; nhưng phần thân thể chánh là thân con ngựa. Ngoài ra, thần thoại Hy Lạp còn có con ngựa bay nổi danh khác, đó là con ngựa có cánh tên là Pegasus.
Âm vang của Ngựa trong âm nhạc:
Trước hết, phải nhắc tới bài dân ca “lý ngựa ô”. Kế đó là bản “Vết thù trên lưng ngựa hoang”. Và bản nhạc “Ngựa phi đường xa” do ban Thăng Long hát bản nầy…
Những thành ngữ liên quan đến ngựa
“Đầu trâu mặt ngựa” để chỉ những người không lương thiện bắt nguồn từ truyện Kiều:
Người nách thước kẻ tay dao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi.
“Làm thân trâu ngựa” để đáp đền ơn sâu cũng ở trong truyện Kiều mà ra:
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.
Con ngựa nổi danh không phải là con ngựa thật ngoài đời, mà là con ngựa trong bài “Đánh cờ người” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Bà tả chuyện cặp vợ chồng, đêm khuya trằn trọc không ngủ được nên:
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thủy không ai được biết…
Thoạt mới đầu chàng liền nhảy ngựa
Thiếp vội vàng vén phứa tượng lên…
*
Ngày xưa, hình ảnh hào hùng của người chiến sĩ gắn liền với hình ảnh của con ngựa. Cỡi ngựa ra trận, nếu có bị tử trận thì “chết trên mình ngựa” là một cái chết oai hùng. Câu “da ngựa bọc thây” cũng dùng để chỉ cái chết vinh quang “đền nợ nước” của người lính trận. Thành ngữ “da ngựa bọc thây” cũng tương đương như câu “quan tài được phủ lá quốc kỳ”, một nghi thức danh dự “tổ quốc ghi công” dùng trong đám tang của các chiến sĩ cận đại và hiện đại.
Thỉnh thoảng có nghe nói “đau như bị ngựa đá” Không biết trong cuộc sống thật của những người có liên hệ trực tiếp với ngựa, như phu xe ngựa, nài cỡi ngựa đua, những người săn sóc cho cuộc sống của ngựa… có bao nhiêu người bị ngựa đá, và nếu bị đá chắc chắn là đau lắm! Vì người nuôi ngựa thường đóng vào móng ngựa một miếng sắt hình vành cung để bảo vệ móng ngựa thật. Miếng sắt nầy cũng được gọi là móng ngựa (mã đề 馬蹄 ).
“Vành móng ngựa” có nghĩa là tòa án vì cái bàn – chỗ vị thẩm phán (hay còn gọi là “quan tòa”) ngồi để phân xử , tuy bàn nầy rất to, lại có hình giống cái móng ngựa. Theo quan niệm xưa của dân Đông Á, ra tòa hay ra trước “vành móng ngựa” là một điều kém may mắn, hay một điều vô phúc…
“Một con ngựa đau, cả tàu nhịn cỏ” diễn tả sự tương thân tương trợ của những người cùng chung một nhóm, hay cùng một chí hướng. Thành ngữ nầy có lẽ hợp với lối sống tương trợ của dân ta chăng?
Để chỉ lời nói có uy tín, đã nói ra thời giữ lời, người ta thường dùng thành ngữ:
“Một lời nói ra bốn ngựa khó theo” (quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy君子一言,驷马难追 ).
Từ “ngựa bền” chỉ ngựa có sức đi lâu và đi xa. Loài ngựa hay và chạy nhanh nổi tiếng như ngựa “bắc thảo” (ngựa vùng thảo nguyên phương Bắc của Trung Hoa). “Ngựa bết” là ngựa đã đi xa và đã mệt mỏi. “Ngựa bỡ” chỉ ngựa mau mệt mặc dầu chưa đi được xa.
“Ngựa cất” là ngựa đưa cao hai chân trước lên và chân co lại, do đó đầu ngựa cũng cất lên cao. Thường khi ngựa đang chạy nhanh mà bị gò cương để đứng lại một cách bất ngờ, ngựa sẽ “cất” hai chân trước lên và có thể phát ra tiếng (ngựa hí).
“Ngựa kiệu” là một cách đi lúp xúp (chậm và đều) của ngựa với tốc độ chậm; cách đi nầy ngược với “ngựa phi” tức ngựa chạy nhanh. Ngựa phi trong lúc phóng những bước thật dài còn gọi là “ngựa sải”. Ngoài ra còn có từ “ngựa tế” tức ngựa chạy nhanh nhưng chạy với một tốc độ đều đặn.
Ngựa không nghe theo lệnh người cỡi, hay nhảy chồm hoặc nhảy dựng lên gọi là “ngựa chứng”. Khi ngựa đang chạy, mà vì lý do nào đó chân sau lại đạp nhằm chân trước thì gọi là ngựa “đạp đề”. Ngựa chuyên môn được dùng trong việc “ăn thua” ở trường đua (đua ngựa) là “ngựa đua”.
Một số thành ngữ không tốt về ngựa
“Ngựa truy phong” có nghĩa đen là ngựa hay, chạy nhanh hơn gió; nhưng có nghĩa bóng là chạy trốn, từ đó có thành ngữ “quất ngựa truy phong” để chỉ hành động chạy trốn của một người nào đó sau khi làm một việc không đúng. Thường được dùng để chỉ hành động của một người đàn ông bỏ rơi một phụ nữ.
“Ngựa về ngược”. Thành ngữ nầy theo nghĩa đen thì trong cuộc đua, có một con ngựa dỡ lại thắng cuộc. Nhưng theo nghĩa bóng, trong bất cứ một cuộc tranh tài nào, phe có nhiều hy vọng hay được nhiều người nghĩ là sẽ thắng, lại thua cuộc. Trong đời sống chánh trị, nghe nói ông nào ra ứng cử mà bị ngựa về ngược thì cảm thấy một nỗi ê ẩm đúng là “đau như bị ngựa đá”. Ngoài ra còn có thành ngữ “ngựa con háu đá”. Dùng để chỉ sự khoe khoang hay hành động kém suy nghĩ của những người ít kinh nghiệm.
“Ngựa quen đường cũ” chỉ sự trở lại của một thói quen (không được như ý) mà một người đã làm trong thời gian dài (đã gián đoạn).
“Con đĩ ngựa” hoặc “đồ đĩ chó”. Không hiểu tại sao chỉ có hai con vật: chó và ngựa, bị người gán cho từ đĩ? Nói về chữ đĩ thì ca dao có câu:
Đùng đùng ngựa chạy qua truông,
Mảng mê con đĩ luông tuồng bỏ con.
Do ảnh hưởng tiêu cực, bất công của xã hội “trọng nam khinh nữ”. Ngày xưa, chữ “ngựa” khi dùng để ám chỉ hành vi của một người (thường là phái nữ) thì nghĩa của nó đã được dùng với dụng ý xấu. Khi nói con nhỏ đó “ngựa” lắm, tức ám chỉ cô đó có vẻ chưng diện, khoe khoang, làm cho phe nam chú ý, và tất cả những gì liên quan đến sự chú ý đó, thường hàm chỉ không được tốt lắm. Từ “ngựa bà” hay “đĩ ngựa” là từ dùng để gọi người đàn bà lẳng lơ, không đứng đắn…
Những chữ ngựa khác
“Bộ ngựa” tức bộ ván, giống như một cái giường, nhưng gồm nhiều miếng gỗ (hay miếng ván) ghép lại và được đặt trên hai ghế dài bằng cây gọi là hai “chân ngựa”. Các nhà giàu ngày xưa hay sắm bộ ngựa gõ có độ dầy từ 8 đến 10 cm. Gõ là một loại cây quí, giá cao hơn các loại cây khác.
Trong dụng cụ âm nhạc có “con ngựa đờn” hay “ngựa đàn”, là miếng gỗ nhỏ làm chỗ tựa cho hai sợi dây đờn của đờn nhị (hay đờn cò). Thời Pháp thuộc, ở vài vùng nông thôn gọi chiếc xe đạp (xe máy) là con “ngựa sắt” vì xe đạp được chế tạo bằng kim loại (có thể bằng sắt hoặc bằng một thứ kim loại khác) và có công dụng chuyên chở như ngựa.
Con “ngựa trời” thuộc loài sâu bọ, có chân thật dài, mình thon, đầu to có vẻ giống con châu chấu, có màu xanh lá cây. Có một động vật khác tuy giống con trâu hơn, chậm chạp và nặng nề hơn, sống ở các sông rạch ở Phi Châu. Loại nầy tuy có vẻ hiền lành nhưng nếu nó tấn công ghe hay tàu nhỏ trên sông thì là đại nạn, không chết cũng bị thương. Nó gọi là con hà mã 河馬.
Cần phân biệt: con cá ngựa (seahorses – tiếng Trung gọi là hải mã海馬) là loài cá thường sống thành đàn ở đại dương. Và con Moóc (Walrus) còn gọi là hải mã (tiếng Trung gọi là hải tượng 海象tức voi biển). Là động vật to lớn thường sống ở vùng biển lạnh.
Có hai con ngựa, không phải ngựa thật, nhưng chỉ có chữ mã (ngựa) được viết bằng chữ Hán, lại rất nổi danh trong việc giải trí của người Việt. Đó là con ngựa trong cờ tướng và con ngựa trong bài tứ sắc. Hai trò giải trí nầy đều dùng một số từ gồm có: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, ngựa và chốt (hay tốt). Cái đặc biệt của hai trò giải trí nầy, là một số người tham dự lại dốt đặc, không biết một chữ Hán. Họ chỉ cần “nhớ mặt” các quân bài trên là được; trong dân gian còn dùng “ngựa giả” trong việc tiêu khiển (như đổ cá ngựa…)
Hiện nay, ở nhiều nơi trên thế giới, trò giải trí cỡi ngựa và đua ngựa là một ngành có doanh thu khá lớn.
*
Ngựa đen được gọi là ngựa ô. Ngựa trắng hay ngựa bạch. Ngựa màu trắng ngà hay xám tro gọi là ngựa hạc. Nếu lông ngựa có màu bạc lóng lánh thì gọi là ngựa kim. Ngoài ra còn có ngựa kim than tức ngựa kim có pha lông màu đen. Trong thực tế khi nói đến ngựa vàng thực ra phải nói là ngựa nâu nhạt hoặc ngựa nâu đỏ mới đúng.
Bên Phi Châu có hai loại ngựa đặc biệt. Đó là loài ngựa cao cổ và loại ngựa lùn, nhỏ con hơn ngựa bình thường. Cả hai loại đều có màu trắng và đen. Màu sắc của chúng là một mối tranh cãi của các nhà khảo cứu động vật vì không biết chúng là ngựa trắng có sọc đen hay ngược lại. Nhưng dân Việt ta khỏi phải tranh cãi với ai cả, vì chúng ta gọi chúng là “ngựa rằn”.
Mã 馬 là tên gốc Hán dùng để chỉ ngựa:
Có nhiều từ mã (dấu ngã) cùng âm nhưng không có nghĩa ngựa. Đầu tiên, từ mã chỉ lông non của con gà trống. Gà mới trổ mã tức là gà mới lớn.
Từ “trổ mã” lại thường được dùng để chỉ thanh niên, thiếu nữ bắt đầu phát triển về thể chất và thường có ý khen hơn là chê.
Nhưng trong từ ngữ “tốt mã rã đám” thì chắc chắn là chê rồi vì từ ngữ đó có nghĩa là dáng dấp coi tốt nhưng chẳng làm gì nên chuyện.
Liên quan tới thực vật thì có “mã đậu”, một loại cây mà hột được dùng làm thuốc chống bệnh táo bón vì hột có dầu chứa dược tính làm nhuận trường. “Mã vĩ tùng” là tên của một loại cây tùng. Cây “mã tiền” (cây Củ Chi) là một loài cây gỗ thường xanh bản địa Đông Nam Á, thành viên của họ Loganiaceae. Hạt và vỏ sau khi chế biến đem ngâm rượu, sẽ thành loại thuốc xoa bóp trị được bệnh đau lưng, nhức mỏi vô cùng công hiệu…
Thêm nữa, là mật mã (chữ hoặc số) là chữ bí mật dùng để người khác không thể đọc (mở khóa) được nếu không biết cách đọc.
Ngoài ra trong khoáng chất có “mã não”, một loại đá màu đỏ có ửng nhiều vân. Đá nầy dùng chế tạo đồ trang sức. Trong lúc đó “mã tấu” lại là một con dao lớn và dài. Từ “mã tà” ngày xưa dùng chỉ lính cảnh sát.
Từ “mã lực” có nghĩa đơn sơ là sức kéo của ngựa (nghĩa đen); đơn vị chỉ sức mạnh của máy xe (động cơ).
Thành ngữ, từ ngữ về mã
“Mã tầm mã, ngưu tầm ngưu”. Từ ngữ nầy chỉ những nhóm người cùng chung một chí hướng, nghề nghiệp, hoặc hoàn cảnh sinh sống v.v. tìm lại nhau để có những sinh hoạt xã hội, hay chánh trị.
“Ngưu đầu mã diện” nghĩa đen là “đầu trâu mặt ngựa”, dùng để chỉ nhóm người làm tay sai cho những kẻ có thế lực hay kẻ giàu có để bắt nạt, chèn ép người khác.
Người giữ ngựa hay mã phu; con roi ngựa (để đánh ngựa) là mã tiên; dây cương ngựa là mã lặc; đường ngựa chạy là mã lộ, trên lưng ngựa là mã thượng.
“anh hùng mã thượng” dùng để chỉ người anh hùng bụng dạ rộng rãi, không chấp cứ chuyện nhỏ mọn. “Ngã ngựa” dùng trong trường hợp của một người đã bị thất thế sa cơ. Thí dụ như nói không nên tấn công hay chỉ trích người đã ngã ngựa. Trong lãnh vực tài chánh, người ta dùng cụm từ “lạm phát phi mã” để chỉ tình trạng lạm phát quá nhanh (như ngựa phi). “Thượng mã phong 馬上风”. Nó chỉ tình trạng của một người đàn ông chết bất ngờ, (không phải trong lúc đang chiến đấu ngoài trận địa để được da ngựa bọc thây, lưu danh muôn thuở) mà là chết trong khi đang làm tình với phụ nữ, chết trong lúc đang sung sướng tê mê…
Phụ chú:
Trong sấm Trạng Trình có nhắc đến ngựa qua chữ Mã:
Mã đề dương cước anh hùng tận
Thân Dậu lai niên kiến thái bình.
馬蹄陽脚英雄盡
申酉來年見太平
Dịch nghĩa: Kẻ anh hùng hết thời ngựa (năm Ngọ – thuộc hành Dương), đến năm Thân, năm Dậu sẽ thấy thái bình.
Dự báo: Sự kết thúc của thời kỳ chiến tranh và sự an bình trở lại, gắn liền với các năm con giáp.
Ứng dụng lịch sử: Nhiều người tin rằng câu sấm này đã ứng nghiệm sau cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, khi nước ta bước vào giai đoạn hòa bình và phát triển hơn vào những năm Thân (1992, 2004, 2016) và Dậu (1993, 2005, 2017)…
Toàn cảnh: Giai đoạn loạn lạc, chiến tranh dưới thời các năm Ngọ (thế giới…1954, 1966, 1978, 1990, 2002, 2014) 2026 sắp chấm dứt?
Đến năm Thân (2028), năm Dậu (2029) cuộc sống (thế gian) sẽ được yên ổn, thái bình?
Đầu năm, cùng bói quẻ để xem tài tiên đoán của sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm linh nghiệm đến đâu? Tùy các bạn diễn giải…
Nguồn tham khảo:
- NGỌ, NGỰA, và MÃ – Ts Nguyễn Hữu Phước, suphamsaigon Wed Oct 31, 2018.
- https://vi.wikipedia.org/wiki/
- Thư pháp Lão Trọc.
Luôn nhớ, tri ân đến Cô LƯU THỊ PHƯƠNG.
Australia day, Kỳ Thanh.
***