
BRADLEY K. MARTIN
Trần Quang Nghĩa dịch
HAI: Chiến binh và người viết thánh thi
Việc dựng lên một huyền thoại xung quanh các bậc quốc phụ của đất nước hoàn toàn không phải là độc quyền của người Bắc Hàn. Nghĩ đến câu chuyện mà nhà viết tiểu sử George Washington đã hư cấu về việc ông, khi còn là thiếu niên, đã đốn ngã cây anh đào yêu quý mà cha mình mới trồng. Khi cha tập hợp tôi tớ để gặng hỏi ai là thủ phạm, bé Washington đã bước ra và thú nhận việc làm sai quấy của mình: “Con không thể nói dối.” Nhưng trong khi người Mỹ và người châu Âu vào nửa sau thế kỷ 20 đi theo hướng ngược lại, vui vẻ đốn ngã những điều phi thường hư cấu của những vĩ nhân của họ, thì các nhà viết tiểu sử lãnh tụ chính thức của Triều Tiên đã đưa nghệ thuật xây dựng nhà lãnh đạo lên những đỉnh cao chưa từng được biết đến trước đây.
Các nhà sử học phương Tây và Triều Tiên đã vô vọng trong việc tách biệt sự thật lịch sử khỏi vô số sự bóp méo và bịa đặt của chế độ Bình Nhưỡng về cuộc đời của Kim Il-sung, đặc biệt là thời thơ ấu và tuổi trẻ của ông. Thiếu những sự kiện có thể được kiểm chứng ngoài những điều cơ bản nhất, họ có xu hướng tóm lược hai thập kỷ đầu tiên của Kim bằng một vài đoạn văn thưa thớt trước khi nhanh chóng chuyển đến các sự kiện trong cuộc đời trưởng thành của ông – ít nhất, thời gian đó có những nguồn báo chí đương thời và hồ sơ của các chính phủ nước ngoài.
Tuy nhiên, trong những năm ngay trước khi ông qua đời vào năm 1994, Kim đã xuất bản một số tập hồi ký đưa ra những tường thuật có phần thẳng thắn hơn, thực tế hơn những gì mà các nhà văn tâng bốc của ông đã cung cấp trong các tiểu sử chính thức trước đó.
Chắc chắn là nhiều sự phóng đại và bóp méo vẫn còn tồn tại ngay cả trong các tập mới hơn. Chẳng hạn, một chút tin tưởng nào người đọc còn giữ lại sẽ dễ dàng sụp đổ với lời tường thuật về sự kiện bọn cướp bắt giữ cha Kim và hai người bạn đồng hành của ông. Kim viết, trong khi bọn cướp hút thuốc phiện trong trại của chúng, một tù nhân tìm cách tắt được đèn và giúp hai người còn lại trốn thoát trước khi “đánh tan bọn bất lương, tổng cộng khoảng mười tên, bằng kỹ năng võ thuật thượng thừa. Sau đó, ông rời khỏi hang ổ của bọn cướp. ” Kim hào hứng, đó là “một cảnh tượng thực sự đầy kịch tính, giống như một cảnh đánh nhau trong phim ảnh.”
Thực vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, đây là cảnh đánh nhau có trong ít nhất một trong vô số bộ phim của Triều Tiên nhằm tôn vinh Kim và gia đình ông. Hwang Jang Yop, một trí thức Triều Tiên hàng đầu đã đào tẩu sang Hàn Quốc năm 1997, cho biết rằng cuốn tự truyện của Kim “đã được thêu dệt bởi các nhà văn từng viết kịch bản cho các tiểu thuyết và phim truyện cách mạng. Vì vậy, tự truyện đọc rất hấp dẫn. Khi Phần I được xuất bản, nó là một thành công lớn. Điều này là tự nhiên, vì nội dung của truyện là những cảnh lấy thẳng từ các bộ phim đã được thực hiện cho cùng mục đích và cốt truyện của nó hấp dẫn như bất kỳ cuốn tiểu thuyết hay bộ phim nào.” Hwang gọi các loạt sự kiện này là một “kiệt tác của bịa đặt lịch sử.”
Nhưng cũng có ít vàng trong số rác rưởi của hồi ký. Một số đoạn văn có thể được kiểm tra dựa trên hồi ức của những người đương thời và những đoạn văn đó được cho là đưa ra những miêu tả chân thực hơn những gì chúng ta quen nhận được từ Bình Nhưỡng. Tất nhiên điều đó không cung cấp việc xác minh khó nắm bắt cho những đoạn văn đề cập đến các giai đoạn khác trong tuổi trẻ của Kim. Nhưng ít nhất điều đó cho thấy rằng Kim, khi làm việc với đội ngũ viết lách của mình để soạn ra những cuốn hồi ký đó vào những năm 70, đã có ý tưởng nào đó về việc giải quyết thẳng thắn câu chuyện của đời mình trong thời gian còn lại của ông.
Kết hợp những gì đã biết trước đây về những năm tháng trưởng thành của Kim với việc đọc kỹ các cuốn hồi ký, loại bỏ những điều phi lý, ngập ngừng chấp nhận những điều có thể tin được trong khi bằng trực giác chấp nhận những sự cường điệu, thêm vào những lời khai của người đương thời nếu có, giờ đây ta có thể nhìn thấy được một bức tranh khá phức tạp và đáng tin cậy.
Các phần của bức tranh này cho thấy Kim giống như chế độ đã phác họa ông – nhưng ở quy mô nhân văn hơn. Giảm bớt sắc độ của một số tuyên bố chính thức đã khiến bức tranh thêm đáng tin. Vì vậy, chúng ta có thể thấy ở Kim Il-sung một thanh niên thực sự say mê chủ nghĩa yêu nước chống thực dân, khi còn ở tuổi thiếu niên đã coi chủ nghĩa cộng sản là chìa khóa dẫn đến độc lập và công lý cho người Triều Tiên.
Các phần khác của bức tranh chỉ mới được phát hiện gần đây. Chẳng hạn, ai có thể ngờ được rằng người đàn ông trong chế độ cai trị của mình ở Bắc Triều Tiên đã xóa bỏ gần như mọi dấu vết tôn giáo – ngoại trừ việc tôn thờ bản thân mình – cho đến tận cuối tuổi thanh thiếu niên, không chỉ là người đi nhà thờ đều đặn mà, hơn nữa, lại là người chơi đàn organ nhà thờ? Chàng trai Kim là cả hai. Kinh nghiệm trong các hoạt động liên quan đến nhà thờ đóng một vai trò đáng kể trong việc đào tạo một trong những nhà lãnh đạo quần chúng và nhà tuyên truyền thành công nhất trong lịch sử thế giới, chưa kể đến việc cung cấp một hình mẫu cho việc nâng cao địa vị thần thánh của chính ông ta.
Vị lãnh tụ vĩ đại tương lai sinh ra là Kim Song-ju vào ngày 15 tháng 4 năm 1912, tại nhà ông ngoại ở làng Chilgol. Ngôi nhà gần đó của ông bà nội ông ở Mangyongdae, nơi ông đã trải qua nhiều năm tuổi thơ, chính là ngôi nhà được công nhận của gia đình ông. Mangyongdae kể từ đó đã được sáp nhập vào Bình Nhưỡng gần đó, thủ phủ của tỉnh đã trở thành thủ đô của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên của Kim.
Chế độ Kim coi trang trại Mangyongdae có tường bùn, mái tranh như câu trả lời của Triều Tiên cho máng cỏ ở Bethlehem hay căn nhà gỗ của Abe Lincoln. Tôi đến thăm nơi đó vào năm 1979 và thấy bãi đậu xe cũng như lối đi dành cho người đi bộ chật kín hàng nghìn du khách, chủ yếu là người Triều Tiên. Một hướng dẫn viên cho biết tổ tiên của Kim đã sống ở Mangyongdae từ thời ông cố của ông, một tá điền nghèo làm nghề trông mộ cho địa chủ. Cái tên Mangyongdae có nghĩa là một nơi được thiên nhiên ưu đãi với vô số cảnh đẹp. Như Kim đã viết trong hồi ký của mình, “Người giàu có và quan chức chính phủ tranh nhau mua những khu đất trên đồi ở Mangyongdae làm nơi chôn cất vì họ bị thu hút bởi vẻ đẹp của cảnh quan”.
Sông Taedong chảy qua Mangyongdae. Gần nửa thế kỷ trước khi Kim ra đời, dòng sông đó đã là một chứng tích của một sự kiện xấu xa tượng trưng cho sự khởi đầu không mấy tốt đẹp của mối quan hệ Mỹ-Triều. Trong bối cảnh bọn người Mỹ tự cao và trịch thượng trong thời kỳ đó thúc đẩy các quốc gia “ngoại giáo” xa xôi phải mở cửa cho họ truyền đạo và buôn bán, một tàu buôn có vũ trang vào năm 1866 đã xâm nhập vào vùng sông nước cấm của Taedong. Con tàu mang tên Tướng Sherman, một vị chỉ huy Nội chiến Hoa Kỳ, người đã tàn phá phần lớn Georgia, đi ngược dòng tới Bình Nhưỡng, nổ súng thị uy, bắt giữ một quan chức Triều Tiên địa phương và dừng lại để cho phép một nhà truyền giáo – đang có mặt trên tàu với tư cách là thông dịch viên của đoàn thám hiểm – rao truyền đơn. và phân phát tờ rơi.
Sau đó thuyền trưởng Mỹ của tàu Tướng Sherman mắc sai lầm khiến nó mắc cạn. Một đám đông người dân địa phương phẫn nộ đã xuống tàu, đập nát nó và chặt chém bọn ngoại bang xâm nhập ra từng mảnh. Kim Il-sung sau khi lên nắm quyền đã tuyên bố rằng ông cố của ông là thủ lĩnh của nhóm người tấn công con tàu. Dù đúng hay sai, không thể phủ nhận rằng sự kiện tàu Sherman vẫn sống mãi trong ký ức của Triều Tiên. Mặc dù giới học thuật Triều Tiên cho rằng chuyến thám hiểm Sherman là một hành động ăn cướp của bọn cướp mộ nổi tiếng, vụ việc đã kích hoạt một cuộc xâm lược vũ trang mạnh mẽ hơn vào năm 1871, trong đó bọn Mỹ đã tàn sát khoảng 250 người Triều Tiên. Đến năm 1882, các nhà cai trị Triều Tiên thấy rằng tốt hơn là nên tham gia một hiệp ước với Hoa Kỳ, do Trung Quốc sắp xếp, nhằm xóa bỏ sự cô lập hàng thế kỷ của “vương quốc ẩn danh”.
Cha của Kim Il-sung, Kim Hyong-jik, đã xoay sở và phấn đấu vươn lên thoát ra khỏi giai cấp nông dân nơi ông ta sinh ra. Ông vào cấp hai – nhưng chưa tốt nghiệp và kết hôn với con gái của một hiệu trưởng. Đầu tiên ông làm giáo viên tiểu học và sau đó là y sĩ chữa bệnh bằng thảo dược cổ truyền. Mặc dù những thành tích đó được chuyển thành một số dấu ấn xã hội, nhưng quả là họ chỉ kiếm đủ tiền để sinh nhai. Rõ ràng gia đình đó chưa bao giờ giàu có.
Kim Hyong-jik kết hôn lúc 15 tuổi với cô dâu Kang Pan-sok, lớn hơn ông hai tuổi. Gia đình Chilgol Kang là những người có học thức bao gồm các giáo sĩ Thiên chúa giáo và các trưởng lão trong nhà thờ cùng với các giáo viên và hiệu trưởng. Theo Kang Myong-do, người đã đào thoát sang miền Nam năm 1994 và tự nhận mình là thành viên của gia tộc Chilgol Kang, gia đình Kang cảm thấy cuộc hôn nhân này không môn đăng hộ đối vì cha chú rể làm nghề coi mộ và thực tế là ông chỉ sở hữu hơn hai mẫu đất nông nghiệp khai hoang một chút. Nhưng có một điểm chung giữa các gia đình này là họ đều theo đạo Thiên Chúa.
Kim Hyong-jik vào lại cấp hai năm 16 tuổi và là cha của nhà Lãnh tụ vĩ đại tương lai ở tuổi 17, vẫn sống ở nhà bố mẹ. Cả gia đình phải đi làm thêm để trả học phí cho cậu thiếu niên. Mẹ của Hyong-jik – bà nội của Kim Il-sung – dậy trước bình minh để làm bữa sáng bảo đảm con trai bà sẽ không đến lớp muộn. Chủ tịch Triều Tiên viết trong hồi ký của mình rằng bà của ông đôi khi thức dậy quá sớm. Chuẩn bị bữa ăn vào lúc nửa đêm, bà nhìn hàng giờ ra ngoài cửa sổ phía đông của ngôi nhà, chờ đợi dấu hiệu mặt trời mọc để biết khi nào nên đánh thức cậu con trai và tiễn anh ta đi. Lúc đó đồng hồ là một thứ xa xỉ; gia đình Kim không có nhưng gia đình hàng xóm phía sau nhà họ lại có. Bà thỉnh thoảng sai cô con dâu nhỏ là mẹ Kim sang nhà hàng xóm xem giờ. Kang Pan-sok “sẽ ngồi xổm bên ngoài hàng rào chờ đồng hồ điểm giờ. Sau đó, mẹ sẽ quay lại và báo giờ cho bà nội.”
Kim nhớ lại, bất chấp sự làm việc chăm chỉ không ngừng nghỉ của gia đình, “những thứ như trái cây và thịt đều vượt quá khả năng của chúng tôi. Có lần tôi đau họng, và bà kiếm được một ít thịt lợn cho tôi. Tôi đã ăn nó và cổ họng tôi đã đỡ hơn. Sau đó, bất cứ khi nào tôi muốn ăn thịt lợn, tôi lại ước mình bị đau họng lần nữa.” Ông nhớ chú của mình, Hyong-gwon, lúc đó mới mười một hoặc mười hai tuổi, thường nổi giận vì thức ăn quá tệ. Hyong-gwon không thể kiềm chế được nỗi ghê tởm của chú với món cháo thô làm từ hạt kê và lúa miến không sạch, đó là món ăn thường ngày của gia đình Kim. Chú đập đầu vào bát, khiến đầu chảy máu và chiếc bát bay ngang qua phòng. Cháo luôn có vị rất tệ và, để tăng thêm sự sỉ nhục, lớp vỏ thô của ngũ cốc châm chích cổ họng khi nuốt chúng xuống.
Gia cảnh nghèo khó của gia đình không ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành tư tưởng của Kim Il-sung so với thời điểm ông ra đời, chưa đầy hai năm sau khi Triều Tiên bị Nhật Bản sáp nhập. Là những người thừa kế một nền văn minh đáng tự hào, người Triều Tiên trong nhiều thế kỷ đã coi Nhật Bản như một nền văn hóa sinh sau đẻ muộn. Nhật Bản vay mượn từ Triều Tiên nhiều thứ từ gốm sứ, kiến trúc đến tôn giáo. Những người Triều Tiên yêu nước sau năm 1910 coi ngày 29 tháng 8, ngày Nhật chiếm đóng, là Ngày Quốc Nhục.
Giành độc lập khỏi Nhật Bản là mong muốn mãnh liệt của hầu hết người dân Triều Tiên thời đó. Kim nhớ lại rằng đó là niềm đam mê cháy bỏng của các thành viên trong gia đình ông. Cha và hai người chú của ông đều bị bỏ tù vào những thời điểm khác nhau vì các hoạt động ủng hộ độc lập. Bản thân Kim là một người yêu nước từ rất lâu trước khi trở thành người cộng sản. Ông giải thích: “Không có cảm giác nào trên thế giới vĩ đại hơn, cao quý hơn và thiêng liêng hơn lòng yêu nước”. Đối với gia đình ông cũng như những người Triều Tiên, lòng yêu nước có nghĩa là lòng căm thù Nhật Bản không thể nguôi ngoai. Kim nhớ lại rằng ý thức yêu nước của ông đã bùng cháy trước sinh nhật lần thứ bảy của ông, trong thời điểm quan trọng ngày 1 tháng 3 năm 1919, cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của Nhật Bản. Tham gia cùng gia đình, giữa hàng chục nghìn người biểu tình đổ về Bình Nhưỡng với niềm tin sai lầm rằng Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson sẽ bảo vệ chính nghĩa của họ, “Tôi kiễng chân hét lên đòi độc lập giữa những người lớn.” Từ đó trở đi, quyết tâm một ngày nào đó sẽ chống lại những kẻ ngoại bang xâm lược chi phối tâm trí ngay cả trong khi chơi đùa, theo lời kể của Kim. Lời khẳng định đã được ghi trong truyền thuyết chính thức. Khi tôi đến thăm Mangyongdae, hướng dẫn viên đã chỉ vào một đống cát được bao quanh bởi hàng rào được chạm trổ cẩn thận là nơi mà vị Lãnh tụ vĩ đại tương lai đã vật lộn với những đứa trẻ lớn hơn để luyện tập cho sự nghiệp cả đời của mình.
Lòng yêu nước của các thành viên trong gia đình Kim, giống như của nhiều người Triều Tiên khác, gắn liền với Cơ đốc giáo. Tin lành và ở mức độ thấp hơn là các nhà thờ Thiên Chúa giáo phát triển mạnh mẽ trong các cộng đồng người Triều Tiên sau hiệp ước năm 1882 với Hoa Kỳ. Đặc biệt, Bình Nhưỡng là mảnh đất màu mỡ cho công tác truyền giáo của Mỹ đến mức thành phố này được mệnh danh là Jerusalem của Triều Tiên.
Sau khi sáp nhập Triều Tiên, chính quyền Nhật Bản không tin tưởng vào những người theo đạo Cơ đốc. Có một số trớ trêu trong điều này, vì các nhà truyền giáo thường sẵn sàng phục tùng Caesar và phớt lờ chính trị nếu họ có thể tiếp tục các hoạt động tôn giáo của mình. Chính phủ của các nhà truyền giáo Mỹ đã thông đồng với việc người Nhật tiến vào Triều Tiên để đổi lấy việc Nhật Bản công nhận lợi ích của Mỹ ở Philippines. Nhưng chính quyền Nhật Bản đã đàn áp các tín đồ Cơ đốc giáo Triều Tiên, lãng phí những gì lẽ ra có thể là một lợi thế. Một số Cơ đốc nhân đã đồng cảm với phong trào độc lập. Những người theo đạo Cơ đốc đã tham gia vào việc lên kế hoạch cho cuộc nổi dậy ngày 1 tháng 3.
Quá trình đào tạo và nền tảng tôn giáo của chính Kim Il-sung đại diện cho một khía cạnh trong cuộc sống ban đầu của ông mà ông đã miễn cưỡng nhớ lại – và cuối cùng chỉ thừa nhận trong hồi ký của mình với sự rào đón đáng kể. Ví dụ, mặc dù cả hai cha mẹ mình là những người năng đi nhà thờ, Kim lại cố tình giao cho họ vai trò gia đình thần thánh vô thần của cuộc cách mạng Triều Tiên. Ông nhấn mạnh rằng cả hai đều là những người không có đức tin. Trong khi một số nguồn tin mô tả mẹ ông là một phụ nữ sùng đạo và từng làm nữ phó tế, con trai bà lại khẳng định bà đến nhà thờ chỉ để thư giãn sau một ngày làm việc mệt mỏi, và hay ngủ gật trong thời gian làm lễ.
Cha của Kim theo học tại trường trung học cơ sở Sungsil, được thành lập năm 1900 bởi các nhà truyền giáo của Giáo hội Trưởng lão Mỹ ở Bình Nhưỡng. Nhưng Kim lại nói bố mình đã đăng ký học ở đó chỉ vì mong muốn có được một “nền giáo dục hiện đại” ở một ngôi trường nơi ông ta không bị yêu cầu phải ghi nhớ Tứ Thư Ngũ Kinh rất khó nuốt, được dạy ở các trường theo Nho giáo kiểu cũ. Kim mô tả cha mình là một thanh niên nung nấu lòng yêu nước đã khuyến khích các bạn cùng trường: “Hãy tin vào một vị thần Triều Tiên, nếu các bạn muốn tin vào một vị thần!” Sau khi gia đình chuyển đến Mãn Châu, cha ông đã tham dự mọi buổi lễ tại một nhà nguyện địa phương và đôi khi chỉ huy đội thánh ca và chơi đàn organ, dạy con trai mình cũng học chơi đàn. Nhưng điều này, Kim nhấn mạnh, chỉ là một cơ hội để chỉ đạo hoạt động tuyên truyền chống Nhật. Thừa nhận mình tiếp xúc với Cơ đốc giáo, Kim cho biết ông đã bác bỏ các học thuyết của đạo này ngay khi còn trẻ. Ông viết: “Một số người khốn khổ nghĩ rằng họ sẽ lên ‘Thiên đường’ sau khi chết nếu họ tin vào Chúa Giêsu Kitô”. Lúc đầu “tôi cũng quan tâm đến nhà thờ.” Tuy nhiên, sau đó, “tôi cảm thấy mệt mỏi với những nghi lễ tôn giáo tẻ nhạt và những lời thuyết giảng đơn điệu của mục sư nên tôi hiếm khi đi tiếp.” Kim khẳng định rằng ông “không bị ảnh hưởng bởi tôn giáo” mặc dù tuổi trẻ của ông có mối quan hệ với nhà thờ. Tuy nhiên, “Tôi đã nhận được rất nhiều sự trợ giúp nhân đạo từ những người theo đạo Cơ đốc, và đổi lại tôi tạo ảnh hưởng về mặt ý thức hệ đối với họ.”
Năm bảy tuổi, Kim cùng gia đình di chuyển qua biên giới Trung Quốc đến Mãn Châu. Một bước đi đau đớn đối với chàng trai trẻ, trong bức tranh lớn hơn, là một phần của cuộc di cư mà cuối cùng đã đưa các cộng đồng người Triều Tiên ra khắp thế giới, từ Tashkent, Osaka đến Los Angeles. Cộng đồng người Triều Tiên gần như sánh ngang với cộng đồng người Do Thái và người Hoa hải ngoại.
Kể từ nửa sau thế kỷ 19, làn sóng người Triều Tiên di cư để tìm kiếm cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhiều người đã đến Hawaii và Bắc Mỹ. Ở đó, Kim nói, “họ bị đối xử như những kẻ man rợ và được thuê làm người hầu trong các nhà hàng và gia đình các nhà giàu có hoặc làm việc chăm chỉ trên các đồn điền dưới cái nắng như thiêu đốt.” Những người khác đã đến những vùng biên giới tương đối rộng mở của Tỉnh Primorky Nga. và Mãn Châu do Trung Quốc cai trị. Sự áp bức của các nhà cai trị Triều Tiên thời đó đã thúc đẩy làn sóng di cư đầu tiên đến những nơi đó, vào khoảng năm 1860. Một nạn đói ở miền bắc Triều Tiên một thập kỷ sau đó đã đẩy nhanh xu hướng này. Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, động thái của Nhật Bản nhằm thôn tính Triều Tiên như một phần của việc bành trướng đế quốc Đông Bắc Á đã gây ra một làn sóng di cư khác.
Mãn Châu từng được coi là quê hương có dân cư thưa thớt của triều đại hoàng gia cuối cùng của Trung Quốc và các thị tộc Mãn Châu du mục. Tuy nhiên, khi triều đại suy yếu và áp lực di cư gia tăng, Trung Quốc đã mở cửa vùng rộng lớn của khu vực cho người định cư. Người Triều Tiên chỉ có thể nhiều nhất là trở thành tá điền ở Mãn Châu. Tuy nhiên, người Nhật vào năm 1909 – một năm trước khi họ hoàn thành cuộc chinh phục Triều Tiên – đã ép chính phủ Trung Quốc sau cái chết của chính phủ này ký một hiệp ước rất có lợi. Trong số những điều khoản khác, có điều khoản cho phép người Triều Tiên sở hữu đất ở Kiến Đảo Mãn Châu, ngay sát biên giới Triều Tiên. Hàng trăm nghìn người Triều Tiên đã chuyển đến Mãn Châu trước cả gia đình Kim. Phần lớn đi đến Kiến Đảo, nơi dân định cư Triều Tiên đông hơn người Trung Quốc. Sự cải thiện tình hình kinh tế là một động lực quan trọng đối với những người di cư đầu thế kỷ XX. Xem xét các điều kiện ở Mangyongdae, đó có thể là một yếu tố đã lôi kéo cha của Kim đến Mãn Châu. Tuy nhiên, giống như những năm 1860, có người định cư chạy trốn qua biên giới vì có động cơ chính trị. Với hy vọng tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại sự cai trị áp bức của Nhật Bản, một số người yêu nước Triều Tiên quyết tâm đã tìm nơi trú ẩn ở Mãn Châu, đặc biệt là ở các khu vực miền núi trong vùng, những nơi tương đối vô pháp và tự do. Các lãnh chúa Trung Quốc, các chiến binh giành độc lập của Triều Tiên, các đặc vụ của chế độ Xô Viết mới ở Moscow và đủ loại đầu trộm đuôi cướp đều tranh giành chiến lợi phẩm và ảnh hưởng chống lại quân Nhật xâm lược. Kim mô tả gia đình ông là một trong những người lưu vong chính trị bị đuổi khỏi quê hương và trôi dạt “như những chiếc lá rụng đến vùng hoang vu của Mãn Châu.”
Cha của Kim đã trở thành một y sĩ bằng cách đọc “một vài cuốn sách về y học” và có được bằng cấp tốt nghiệp từ một người bạn ở Bình Nhưỡng. Trong khi làm việc cho phong trào độc lập ở Mãn Châu, ông Kim đã hỗ trợ gia đình bằng cách chữa trị cho bệnh nhân bằng thảo dược cổ truyền. Kim cho biết ông thường chạy việc vặt cho cha mình – nhưng không liên quan nhiều đến công việc y tế mà liên quan nhiều đến các hoạt động đấu tranh độc lập. Ông viết rằng có lần mình đã mang thức ăn và quần áo đến cho một số người Triều Tiên yêu nước đang bị bỏ tù; và thường xuyên đến bưu điện để lấy báo, tạp chí từ Triều Tiên cho bố.
Ông kể về việc đã từng là thủ lĩnh của một nhóm trẻ em tinh nghịch ở thị trấn Badaogou của Mãn Châu. Một người bạn cùng chơi thuộc một gia đình “thương nhân yêu nước”. Nhà kho của gia đình cậu bạn chứa đầy vũ khí và quần áo đang chờ vận chuyển đến nhóm đấu tranh giành độc lập cho Triều Tiên. Một ngày nọ, cậu bạn bị thương khi một kíp nổ phát nổ khi cậu đang nghịch với nó. Anh trai của nạn nhân quấn cậu trong chăn và đưa đến phòng khám tại nhà của bố Kim để điều trị, Kim nhớ lại.
Một thử thách mà Kim coi như một nghi thức trưởng thành đã xảy ra ngay trước sinh nhật lần thứ 11 của ông. Ông kể bố đã bảo ông từ Mãn Châu trở lại Triều Tiên một mình. Ông đã theo học tại các trường học tiếng Trung ở địa phương và học tiếng Hoa là ngôn ngữ được nói ở Mãn Châu. Tuy nhiên, giờ đây, bố Kim đã dạy ông rằng “một người đàn ông sinh ra ở Triều Tiên phải có kiến thức tốt về Triều Tiên”. Kim đi tàu trong nhiều đoạn của hành trình nhưng phải đi bộ phần lớn quãng đường 250 dặm, mang theo bản đồ mà cha ông đã vẽ với danh sách các địa điểm dừng qua đêm, ông nhớ lại.
Cha ông đã thực hiện một số biện pháp phòng ngừa, gọi điện cho những chủ quán trọ quen biết, báo cho họ biết rằng cậu bé sẽ đến. Kim mô tả những người chủ quán trọ đó “được cha tôi hướng dẫn và gây ảnh hưởng” – một tuyên bố phù hợp với những gì các nhà viết tiểu sử nước ngoài mô tả là một nỗ lực to lớn nhằm miêu tả Kim Hyong-jik như một nguồn sáng dẫn đầu của phong trào độc lập chứ không phải chỉ là một nhân vật phụ mà họ tin rằng ông thực sự là như vậy. Dù tầm quan trọng của người cha trong phong trào ra sao, có vẻ như ông ấy có nhiều bạn bè. Kim Il-sung cho biết ông đã học được từ cha mình “đạo lý của tình đồng chí”. Có vẻ như khi sự nghiệp của mình thăng tiến, ông đã tận dụng cả những mối quan hệ gia đình và tấm gương vun đắp tình bạn của thân phụ.
Những hồi ức mang tính giai thoại của Kim về “cuộc hành trình học tập thiên lý [250 dặm]” của ông, có thể hiểu được, nằm trên đôi chân đau buốt và những chủ quán trọ tốt bụng. Dưới chân núi Oga, “Tôi may mắn gặp được một ông lão đã chữa lành vết phồng rộp của tôi bằng cách đốt chúng bằng diêm”. Một quán trọ ở Kaechon cho thuê một tấm nệm và hai chiếc chăn với giá 50 chon một đêm. Đêm rất lạnh nhưng để tiết kiệm tiền Kim chỉ xin một cái chăn; nhưng người chủ quán tốt bụng cũng đưa cho ông hai cái chăn. Tại Kanggye, Kim được cha dặn đánh dây thép về nhà. Phí điện báo tăng lên nếu vượt sáu từ đầu tiên, nên ông chỉ gửi tin nhắn cho bố đúng sáu từ: “kang gye mu sa do chak” – “Đã đến Kanggye an toàn.”
Trở về quê nhà ở Triều Tiên sau chuyến hành trình kéo dài hai tuần, Kim ở với ông bà ngoại, dòng họ Kang. Một người con trai của họ, Kang Jin-sok, phải ngồi tù vì hoạt động chống Nhật. (Cuối cùng ông ấy chết ở đó sau mười ba năm bị giam cầm.) Sự giám sát của cảnh sát đối với gia đình Kang rất nghiêm ngặt và nặng nề, Kim nhớ lại. Cậu bé theo học trường Changdok, nơi ông nội cậu là hiệu trưởng. Ký ức về những ngày đó là ông nội Kang đã dạy ông một bài thơ của một chiến binh Triều Tiên, người đã vang danh vì chống quân xâm lược và thống lĩnh quân đội ở tuổi hai mươi:
Mài kiếm báu, đá núi Paektu phải mòn;
Chiến mã uống nước, nước sông Đồ Môn khô cạn.
Đã hai mươi tuổi đầu mà đất nước chưa thu phục,
Năm tháng sau này còn ai gọi ta là bậc anh hùng?
Thầy của Kim là một người họ hàng khác, Kang Ryang-uk, một mục sư Giám lý hội. Trong những năm sau đó, Kang Ryang-uk đứng đầu Đảng Dân chủ Bắc Triều Tiên mang danh “đối lập” và giữ chức phó chủ tịch bù nhìn của đất nước dưới thời Kim. Giáo viên này là một người theo chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ, đã dạy học trò của mình các bài hát yêu nước. Kim cho biết ông nhớ các bài hát đó và hát chúng sau này khi chiến đấu với quân Nhật.
Giống như các trường Triều Tiên khác vào thời điểm đó, Trường Changdok dạy tiếng Nhật nhưng không dạy tiếng Hàn. Chính quyền đang cố gắng sáp nhập thuộc địa Triều Tiên vào Đại Nhật Bản. Để đạt được mục tiêu đó, họ tìm cách đưa tiếng Hàn trở thành phương ngữ khu vực và thay thế nó bằng tiếng Nhật, thứ mà họ gọi là “ngôn ngữ quốc gia” hay “tiếng mẹ đẻ”. Sau này, họ thậm chí còn yêu cầu người Triều Tiên sử dụng tiếng Nhật để đặt tên. Như Kim sẽ kể lại sau này, ông đã bị sốc khi được ông nội đưa cho mình những cuốn sách giáo khoa lớp năm. “Tôi hỏi ông nội tại sao cuốn sách tiếng Nhật lại có tựa đề là Tập đọc Tiếng Mẹ Đẻ, ông nội chỉ thở dài.” Kim kể rằng sau đó ông đã lấy một con dao bỏ túi, kiên quyết gạch bỏ chữ “tiếng mẹ đẻ” khỏi tựa đề cuốn sách và viết “tiếng Nhật” để thay thế, tạo thành tựa đề Tập đọc tiếng Nhật. Giai thoại này nghe có vẻ hơi quá hay để có thể là sự thật, nhưng giống như nhiều tuyên bố của Kim – không có nhân chứng nào còn sống để bác bỏ lời kể của ông ta.
Gia đình Kang có rất ít thứ để chia sẻ với đứa cháu trai đã đến sống cùng họ. Họ nghèo đến mức một trong những người chú của ông phải làm nghề đánh xe ngựa nhằm trang trải cuộc sống. Nhưng giống như nhiều gia đình Triều Tiên gia đình Kang kết hợp niềm tự hào với sự tôn trọng vô tận đối với nền giáo dục chính quy. Gia đình “không hề bộc lộ bất kỳ dấu hiệu nghèo khó nào khi có mặt tôi và hết lòng hỗ trợ tôi trong thời gian tôi đi học”, Kim nhớ lại. “Họ cung cấp cho tôi một căn phòng riêng có trang bị đèn dầu và thảm trải sàn cao cấp.” Sự nghèo khó của họ chỉ là điển hình mà hầu hết người Triều Tiên phải trải qua trong thời kỳ đó. Ông Kim nói, ngay cả trong số 100.000 cư dân Bình Nhưỡng, “chỉ có một số ít người Nhật và Mỹ sống tốt”. Người Triều Tiên phải định cư ở “những khu ổ chuột với cửa đệm nệm rơm và lợp ván.”
Nghe tin về trận động đất lớn năm 1923 trong khu vực Tokyo, Kim rất phẫn nộ trước những thông tin cho biết người Nhật đã giết hàng trăm cư dân Triều Tiên di cư. Tin đồn độc địa lan truyền ở Nhật Bản, cáo buộc cư dân Triều Tiên âm mưu nổi dậy và lợi dụng thiên tai bất hạnh của chủ nhà, thậm chí để đầu độc giếng nước. Kim nhận ra rằng người Nhật “khinh thường người Triều Tiên, đối xử với họ còn tệ hơn cả cầm thú”. Ông cho biết mình đã phản ứng bằng cách cắm đinh lên các tấm ván rồi đặt trên mặt đường với hy vọng chúng sẽ chọc thủng lốp xe đạp của cảnh sát khi cán qua.
Nhận thức ngày càng tăng của mình về “những nỗi lầm than” của người dân khiến ông khao khát một kiểu xã hội mới. Nó sẽ kết hợp giữa niềm tự hào và niềm vui sản xuất với tình cảm đặc trưng của người Triều Tiên được gọi là han—một sự kết hợp gai góc giữa tính tiêu cực, sự báo thù và tư tưởng bài ngoại đã phát triển qua nhiều thế kỷ, để đáp lại nỗi uất ức do thân phận của một đất nước bé nhỏ bị các nước láng giềng mạnh lớn hơn bắt nạt. Trong xã hội mới, Kim mơ ước “quần chúng lao động được sống hạnh phúc và nuôi lòng căm thù cay đắng đối với đế quốc xâm lược, địa chủ và tư bản Nhật Bản”.
Sau hai năm ở Triều Tiên, Kim trở lại Mãn Châu. Gia đình chuyển đến thị trấn Fusong. Ở đó, cha của Kim, sức khỏe vốn ốm yếu từ lâu, qua đời ở tuổi ba mươi hai. Bây giờ cậu bé đã 14 tuổi được đưa đến Hoa Điện, một thị trấn khác của Mãn Châu, nơi ông đăng ký vào một trường quân sự do những người theo chủ nghĩa dân tộc trong phong trào độc lập Triều Tiên thành lập.
Đến Hoa Điện, ông đến ăn tối ở nhà một người bạn của bố. Tại đây ông đã được mời uống ngụm rượu đầu tiên. “Có một chai rượu làm từ ngũ cốc ở một góc bàn tròn. Tôi nghĩ rằng Kim Si-u đã đặt nó ở đó để uống trong bữa ăn của mình. Nhưng bác ấy rót một ít vào ly và mời tôi, khiến tôi rất ngạc nhiên. Tôi cảm thấy lúng túng đến mức vỗ tay.” Kim cảm thấy vị rượu đầu tiên này mạnh mẽ như biểu tượng về tuổi trưởng thành của mình: “Mặc dù chiếc ly nhỏ đến mức có thể giấu được trong lòng bàn tay, nhưng nó lại chứa một sức mạnh không thể đo lường được. Tại chiếc bàn nơi Kim Si-u đối xử với tôi như một người trưởng thành, tôi trân trọng cảm thấy rằng mình nên cư xử như một người trưởng thành,” ông nhớ lại.
Mối quan hệ giữa những người cộng sản Triều Tiên bảo thủ và những người theo chủ nghĩa dân tộc, bao gồm cả những người Mãn Châu, xen kẽ giữa sự thù địch gay gắt và một liên minh cảnh giác chống lại kẻ thù chung. Giống như trường hợp người cộng sản và người quốc gia ở Trung Quốc, cả hai phe đã đồng ý không gì hơn ngoài mục tiêu giành độc lập khỏi tay Nhật Bản.
Theo lời kể của ông, Kim đã phát triển khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Ông đã đọc một số cuốn sách nhỏ và nghe tin đồn về những diễn biến ở Liên Xô kể từ Cách mạng Tháng Mười cách đó chưa đầy một thập kỷ. Nhưng ông vẫn chưa trở thành một người cộng sản thực sự tận tâm, vì vậy lúc đầu ông không thấy có gì mâu thuẫn khi theo học trường Hoa Điện theo chủ nghĩa dân tộc. Trở nên cực đoan hơn khi biết thêm về chủ nghĩa cộng sản, Kim chỉ trích việc nhà trường cấm đọc sách Mác-Lênin. Lập luận của ông, như sau này ông nhớ lại: “Nếu một người không đọc được những cuốn sách anh ta muốn vì anh ta bị cấm làm như vậy thì làm sao anh ta có thể thực hiện được một hoài bão lớn lao?”
Cuối cùng, Kim cho biết, ông hoàn toàn không hài lòng với trường quân sự dân tộc chủ nghĩa và phong trào tư sản mà trường này đang đào tạo binh lính. Ông kể lại, những người lính tình nguyện của phong trào mặc áo choàng truyền thống cồng kềnh và đội mũ rộng vành. Họ chỉ được trang bị kiếm, giáo và súng hỏa mai bắn đá lửa. Tâm trí họ chứa đầy những quan niệm cổ hủ mà họ đã tiếp thu từ “đạo đức của giới quý tộc và giới luật của Phật giáo”, họ không thể sánh được với quân đội Nhật Bản được huấn luyện bài bản, được trang bị súng đại bác và súng máy hiện đại. Ngoài ra, Kim còn phản đối khi lưu ý rằng “một số học sinh trẻ ở trường vẫn tin vào sự cai trị của triều đại.” Theo quan điểm của ông, hoàng gia Triều Tiên trước đây đã “hút máu người dân và chặt đầu hoặc trục xuất những thần dân trung thành dám nói ra sự thật.”
Trong một cuộc tranh luận giữa sinh viên, Kim hỏi Triều Tiên nên xây dựng kiểu xã hội nào sau khi giành được độc lập của mình. Một sinh viên khác trả lời: “Chúng tôi đã làm mất đất nước vào tay người Nhật vì triều đình cai trị phong kiến của chúng tôi chỉ dành thời gian rảnh rỗi để đọc thơ trong khi các nước khác tiến lên theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chúng ta nên xây dựng một xã hội tư bản chủ nghĩa và nhờ đó tránh lặp lại quá khứ.” Kim nhớ lại việc mình đã đưa ra lời phản đối mạnh mẽ đối với các xã hội tư bản và phong kiến, nơi “bọn có tiền sống cuộc sống xa hoa nhờ vào việc bóc lột người lao động.”
Chàng trai trẻ Kim và nhóm bạn cùng chí hướng của mình đã phẫn nộ khi các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc và thậm chí cả những khóa sinh sĩ quan đồng hương ở trường cư xử giống như những nhà cai trị phong kiến trước đó, ép dân Triều Tiên địa phương “đóng góp” rồi sau đó sử dụng vào việc riêng. Một chỉ huy đã sử dụng tiền đóng góp để tài trợ cho đám cưới của chính mình. Anh ta “tiêu tiền như nước để chiêu đãi đồ ăn thức uống cho hàng xóm trong nhiều ngày”, Kim nói. “Trong xã hội tươi sáng như chúng ta có hiện nay, quân đội và nhân dân hẳn đã tập hợp sự ủng hộ của công chúng và đưa hắn ta ra tòa hoặc nội bộ xét xử lẫn nhau để buộc hắn ta từ bỏ thói xấu này”.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, người lớn đã không ngăn chặn được hành vi lạm dụng. Kim cho biết ông và một số bạn học đã thành lập một tổ chức có tên là Liên minh Đả đảo Chủ nghĩa Đế quốc, và nhóm này đã lưu hành một truyền đơn phản đối hành động của cặp vợ chồng mới cưới đó.
Kim cho biết, chỉ sau sáu tháng theo học tại trường dân tộc chủ nghĩa, ông đã xin nghỉ và chuyển đến Jilin, thủ phủ của tỉnh Jilin ở Mãn Châu. Gần Jiandao với dân số chủ yếu là người Triều Tiên, “Jilin là nơi lui tới của nhiều chiến binh và người cộng sản Triều Tiên giành độc lập đang chạy trốn Quân đội và cảnh sát Nhật Bản,” ông đã viết trong hồi ký của mình. Điều này khiến thành phố trở thành “một vũ đài là trung tâm chính trị hoạt động dành cho người Triều Tiên.” Nhưng mặc dù người Nhật không có toàn quyền kiểm soát thành phố, nhưng sự hiện diện của họ rất mạnh mẽ. Các đặc vụ Nhật, tuyên bố có quyền đối với các công dân Triều Tiên trên thuộc địa của họ, có thể gây ảnh hưởng đến các lãnh chúa Trung Quốc và cảnh sát của lãnh chúa. Một người bạn của bố ông đã dắt chàng trai trẻ mới đến gặp gỡ các nhà hoạt động chống Nhật tụ tập ở Khách sạn Sanfeng nằm cách lãnh sự quán Nhật Bản khoảng 100m. Vì lãnh sự quán là trụ sở mật của các đặc vụ cảnh sát Nhật Bản ở Jilin nên việc sử dụng khách sạn làm nơi tập trung những người đấu tranh giành độc lập có vẻ rất mạo hiểm. “Nhưng họ vẫn đến đó vì cho rằng ‘Nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất.” Thật vậy, Kim báo cáo, không có vụ bắt giữ nào xảy ra ở đó.
Kim nói, một điều về Jilin khiến ông thích thú là sự xung đột gay gắt về ý kiến được bày tỏ công khai tại Công viên Beishan của thành phố. Ở địa điểm tương đương với Hyde Park của London, “những nhà đấu tranh khai sáng từ các ngành nghề khác nhau đến từ nhiều nơi, vừa vung nắm đấm, vừa đưa ra những bài phát biểu nhiệt thành về lòng yêu nước, đạo đức, bảo vệ pháp luật, tính thẩm mỹ, nạn thất nghiệp, việc rèn luyện thể chất, vệ sinh và các chủ đề khác. Đây là một cảnh tượng phi thường, không nhìn thấy ở nơi nào khác.”
Kim đăng ký vào trường trung học Yuwen, một trường tư thục Trung Quốc được mô tả là “tiến bộ” nhất thành phố. Tôi đến thăm trường vào năm 1982 và tìm thấy một bức tượng lớn của Kim ở sân trong. Một khẩu hiệu viết trên tòa nhà trường học tuyên bố: “Tình hữu nghị Trung-Triều muôn năm”. Điều kỳ lạ là tấm bia cẩm thạch trên tượng Kim lại trống rỗng. Tôi tự hỏi liệu người Trung Quốc đã xóa bỏ chúng hay không – có lẽ trong Cách mạng Văn hóa những năm 1960 và 70, khi Hồng vệ binh chỉ trích Kim gay gắt, hay trong phong trào sau đó do Đặng Tiểu Bình và những nhà cải cách khác lãnh đạo nhằm dập tắt những dấu hiệu của việc sùng bái cá nhân làm mất uy tín chủ nghĩa cộng sản, được dàn dựng xung quanh Mao Trạch Đông của chính Trung Quốc. Hoặc có thể là người Bắc Triều Tiên đã chọn để trống các tấm bia – vì lúc đó việc quảng cáo rằng Kim đã được giáo dục bằng tiếng nước ngoài không được coi là có tính chính trị, theo quan điểm của chủ nghĩa dân tộc Triều Tiên. Khi ông ấy chọn một trường học Trung Quốc sau khi rời khỏi Trường Hoa Điện Triều Tiên, ông chắc chắn đã có một lựa chọn, vì ở Jilin cũng có các trường học Triều Tiên.
Đơn giản là chỉ cần tiếp tục việc học của mình là một cuộc đấu tranh kinh tế đối với Kim. Mẹ của ông vẫn ở Mãn Châu cùng với hai người con trai khác sau cái chết của chồng bà. Khi Kim theo học tại trường trung học Yuwen, bà đã gửi học phí từ số tiền dành dụm ít ỏi của mình khi làm thợ giặt và thợ may, ông nhớ lại sau này. Cảnh nghèo khó của ông đã được các nhân chứng xác nhận hỗ trợ cho lời kể của ông. Một người bạn trẻ thời đó, trong lá thư viết cho tôi khi ông đã ngoài tám mươi và đang sống ở Mỹ, nhớ lại Kim: “Mặc dù anh ấy mặc bộ đồng phục học sinh gọn gàng ngăn nắp nhưng tôi có thể thấy gia đình anh ấy không hề khá giả chút nào vì anh ấy ở trọ tại ký túc xá của Nhà thờ Giám lý hội. Ký túc xá đó tính phí thấp hơn những ký túc xá khác.” Kim viết rằng ông thường đi chân trần để tiết kiệm đôi giày vải duy nhất của mình dành mang đi học. Jilin “toả ra mùi hôi thối của một xã hội có giai cấp”, ông phàn nàn trong hồi ký của mình. Ông và các bạn “tự hỏi tại sao có kẻ ngồi xe kéo trong khi có người phải kéo xe, và tại sao có kẻ sống xa hoa trong những biệt thự nguy nga trong khi có người phải lang thang ăn mày trên phố.”
Tiền eo hẹp đến mức ông không đủ khả năng mua sách ngoài sách giáo khoa. Ông thuyết phục bạn bè giàu có mua những cuốn sách mà ông muốn đọc, như sau này ông tuyên bố như vậy. (Tôi chưa thấy nhiều bằng chứng độc lập cho thấy Kim thực sự là một con mọt sách, và cuộc sống sau này của ông không gợi ý chút nào rằng ông là một nhà trí thức. Nhưng đối với các nhà hoạt động chính trị thời đó và nơi đó sách là vũ khí, nên có lẽ có điều gì đó trong câu chuyện này.) Theo hồi ức của Kim, ông cùng nhóm bạn bè tổ chức một hội bạn đọc sách và một thư viện một phòng trong một ngôi nhà cho thuê. Thư viện của họ trưng bày những tiểu thuyết lãng mạn để thu hút người trẻ mới nhưng chủ yếu tập trung vào các tác phẩm cách mạng bày ở “một kệ bí mật.” Một người bạn lớn tuổi mê sách đang đọc Das Kapital bằng tiếng Nhật đã giải thích những suy nghĩ của Marx cho ông, và sau này Kim nói rằng đây là giai đoạn “tôi bắt đầu nhận ra lập trường giai cấp của mình”.
Kim lao mình vào công việc tổ chức giữa các sinh viên và những người trẻ tuổi khác ở Jilin, giúp thành lập Hiệp hội Trẻ em Triều Tiên và cực đoan hóa một nhóm sinh viên Triều Tiên hiện có. Những hoạt động như vậy, đặc biệt là khi ông làm việc với trẻ nhỏ, cho phép ông thể hiện và phát triển các phẩm chất lãnh đạo đáng kể của mình
Người bạn trẻ của Kim mà tôi đã trích dẫn ở trên, một cựu thành viên của Hiệp hội Trẻ em Triều Tiên ở Jilin, kể lại rằng nhóm đã dành thời gian cho các buổi liên hoan ca khúc yêu nước, tranh luận, thảo luận và phát biểu về cách giành lại độc lập cho Triều Tiên . Những trò tiêu khiển năng động hơn của họ bao gồm thể thao, tìm kiếm tinh thể thạch anh ở Công viên Bắc Sơn, trò chơi trốn tìm và trò chơi yêu nước để chuẩn bị cho việc lật đổ đế quốc Nhật Bản. “Chúng tôi thường chơi các trò chơi chiến tranh,” người bạn đó nhớ lại. “Một đội chơi bên ngoài hàng rào và đội kia vẫn ở bên trong hàng rào. Đội bên ngoài tấn công, đội bên trong bảo vệ thành trì của mình.”
Một giáo viên cộng sản tại trường trung học Yuwen đã trở thành cố vấn cho nhà lãnh đạo tương lai của Triều Tiên. Shang Yue, 26 tuổi, tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc và là tiểu thuyết gia đầy tham vọng, đến dạy văn học và tiếng Trung ngay trước sinh nhật lần thứ 16 của Kim vào năm 1928. Nghe cậu trai nói hăng say về quyết tâm chống lại đế quốc Nhật Bản, Shang đã mở thư viện rộng lớn cho ông đện đọc. Kim, trong hồi ký của mình, nhớ lại một cách ngây ngất những cuộc thảo luận thường xuyên với Shang, trong và ngoài lớp học, tập trung vào các cuốn sách từ Hồng Lâu Mộng cổ điển của Trung Quốc đến các tác giả Nga như Gorky cho đến những lời dạy của Lênin và hồi ký của một người sáng lập Đảng cộng sản Trung Quốc. Bị loại khỏi chức vụ giảng dạy chỉ sau sáu tháng vì quan điểm của mình, Shang tiếp tục trở thành một trong những nhà sử học hàng đầu Trung Quốc trước khi qua đời vào năm 1982. Con gái của vị thầy này đã nói với một người phỏng vấn hãng tin Reuters vào năm 1994 rằng người cha quá cố của cô đã nhớ đến Kim như một học sinh ngôi sao ở Jilin, “siêng năng, đặt những câu hỏi hay cả trong và ngoài lớp”.
Dù mối quan tâm của ông đối với chủ nghĩa cộng sản ngày càng lớn nhưng lòng yêu nước vẫn chiếm vị trí hàng đầu trong trái tim Kim, như ông đã minh họa trong một giai thoại. Giáo viên tiếng Anh tại trường trung học Yuwen “tôn thờ phương Tây” và phát biểu khinh thường phong tục Á Đông, trong đó có thói quen húp mì xì xụp . Học sinh một hôm chuẩn bị mì cho tất cả các giáo viên. “Hội trường ồn ào tiếng húp mì. Thầy dạy tiếng Anh cũng đang húp mì xì xụp. Học sinh cười ồ lên với thầy.”
Kim kể lại rằng ông và những người bạn theo chủ nghĩa cộng sản đã tranh cãi rất nhiều về vấn đề ưu tiên. Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, như ông hiểu, đã dạy rằng sự giải phóng của giai cấp công nhân phải đến trước sự giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa. Nhưng chẳng phải sẽ tốt hơn nếu người Triều Tiên vứt bỏ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản trước khi đến giai đoạn đấu tranh giai cấp? Kim cho biết ông cảm thấy khó chịu trước câu trả lời “khoa học” rằng cuộc cách mạng Triều Tiên phải chờ đợi cuộc cách mạng ở cường quốc thực dân Nhật Bản. Trên thực tế, Lênin đã sửa đổi học thuyết đó từ lâu, đặt ưu tiên hàng đầu cho việc giải phóng dân tộc cho người Triều Tiên ngay từ năm 1920, khi Kim mới 8 tuổi. Như ví dụ này cho thấy, có những giới hạn nhất định đối với mức độ nghiên cứu nghiêm túc của Kim về chủ nghĩa Mác-Lê thời còn đi học, khi, theo lời ông kể, ông vẫn tự mình dẫn dắt các học sinh nhỏ tuổi hơn trong trò chơi lính trên bờ sông.
Chất chứa lòng căm thù người Nhật của Kim là những câu chuyện như câu chuyện mà ông nói rằng một chiến sĩ đấu tranh vì độc lập lớn tuổi đã kể cho ông nghe, một câu chuyện có thể nằm ngay trong danh sách những lời phàn nàn của những diều hâu thương mại Mỹ đả kích Nhật Bản trong những năm 1980. Một nhà máy thuộc sở hữu của Triều Tiên sản xuất diêm mang nhãn hiệu “Con Khỉ”, được ưa chuộng đến mức một nhà máy Nhật Bản không thể cạnh tranh được. Vì thế đối thủ Nhật Bản đã mua lại hàng chục nghìn hộp diêm Con Khỉ, đem đi ngâm nước, phơi khô rồi đem ra chợ bán. Khi đánh diêm không cháy, khách hàng chuyển sang mua diêm Nhật đang cạnh tranh; nhà máy diêm của Triều Tiên bị phá sản. Kim cho biết câu chuyện này không thể được kiểm chứng sau nhiều thập kỷ khi ông đang viết hồi ký, nhưng “nó rất có giá trị trong việc tìm hiểu chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản.”
Kim đã cùng các sinh viên chủ yếu là người Hoa và cánh tả của mình tham gia các cuộc biểu tình chống lại sự xâm lược của quân đội Nhật Bản tại Trung Quốc vào năm 1928. Ông nói: “Các giáo viên phản động dán nhãn hoạt động của chúng tôi là tuyên truyền của cộng sản và do đó tạo ra cái cớ để đàn áp”. Các giáo viên đi khắp thư viện thu thập các quyển sách “tiến bộ”. Sự kiểm duyệt đó đã gây ra một cuộc đình công của sinh viên và đã thành công trong việc đuổi các giáo viên vi phạm khỏi trường.
Ngoài các giáo viên cánh hữu Trung Quốc và những người ủng hộ lãnh chúa của họ, Kim nhớ lại việc mình đã tìm ra lỗi lầm của những người theo chủ nghĩa cải cách ôn hòa của Triều Tiên , những người cho rằng Triều Tiên cần thời gian để phát triển sức mạnh kinh tế và “hoàn thiện bản sắc dân tộc”. Chỉ khi đó thuộc địa mới sẵn sàng để giành độc lập. Một bài báo của một nhà cải cách có ảnh hưởng đã khiến Kim tức giận, bởi vì “tác giả coi dân tộc Triều Tiên là thấp kém”. Kim thừa nhận Triều Tiên đã trở nên lạc hậu – nhưng nhìn chung lịch sử của nó quá huy hoàng đến mức bất kỳ ý niệm nào về sự thấp kém là điều dối trá. Ông lưu ý: “Người Triều Tiên đã hình thành một quốc gia văn minh và tháo vát, là quốc gia đầu tiên đóng tàu bọc thép và sản xuất tàu sắt”.
An Chang-ho, một nhà cải cách nổi tiếng, đã thuyết trình ở Jilin khi Kim chưa tròn mười lăm tuổi. Chàng trai trẻ lên tiếng, gay gắt đặt câu hỏi về quan điểm của nhân vật nổi tiếng cho rằng người Triều Tiên đang ở trình độ thấp về “tu dưỡng tinh thần” và chỉ có thể khôi phục lại độc lập, chủ quyền sau khi rèn luyện bản thân ngang bằng với người Anh hoặc người Mỹ. Khi An Chang-ho kết thúc bài giảng và chuẩn bị rời khỏi hội trường, cảnh sát ập vào và bắt giữ ông cùng hàng trăm người đến nghe ông nói chuyện. Việc bắt giữ không liên quan gì đến những câu hỏi mà Kim đã đặt ra nhưng dù sao ông cũng cảm thấy mình có lỗi.
Thậm chí còn hơn cả trường hợp trước khi Kim chuyển đến Jilin, thế hệ lớn tuổi của những “chiến binh” giành độc lập theo chủ nghĩa dân tộc Triều Tiên đã khiến ông thất vọng và thậm chí chán ghét. Thay vì đoàn kết để đánh bại kẻ thù trong trận chiến, họ lại tiến hành các cuộc đấu tranh phe phái với nhau. Các phe phái khác nhau tụ tập uống rượu, chơi cờ và âm mưu chống lại nhau trong khách sạn Sanfeng, nơi họ “qua đêm trong cơn say điên cuồng, chỉ thức dậy vào buổi trưa ngày hôm sau.” Thay vì ra đi chiến đấu với quân Nhật, những người được coi là chỉ huy của cuộc kháng chiến “thu thập vũ khí và giấu chúng trong một kho vũ khí; sau đó họ dành thời gian không làm gì cả. Khi chúng tôi đến thăm, họ giả vờ đang làm một số công việc với thứ gì đó giống với cuốn sổ ghi chép mở ra trước mặt. Họ làm vậy vì họ không thích xuất hiện trước mặt giới trẻ như những kẻ lười biếng. Đôi khi họ dùng những ngôn từ cực kỳ thô tục với nhau trong khi đập bàn bằng nắm đấm hoặc bằng gối gỗ.”
Một nhân vật đến Jilin là một người được bổ nhiệm làm “bộ trưởng tài chính” của “chính phủ lâm thời lưu vong” Triều Tiên có trụ sở tại Thượng Hải. Khi một số bạn trẻ chỉ trích nhóm của ông ta gồm phần đông những kẻ bè phái và ăn bám, vị này nổi cơn thịnh nộ. Trong cơn giận dữ của mình, nhà dân tộc chủ nghĩa lỗi lạc đã cởi quần áo và dọa khỏa thân lao ra đường. “Các cậu đang chống lại tôi à?” Ông ta hét lên. “Được rồi, hãy để tất cả chúng ta, tôi và các cậu, mang lại sự ô nhục cho chính mình!” Lo sợ rằng ông ta thực sự sẽ mang lại sự xấu hổ cho phong trào độc lập và người dân Triều Tiên nói chung, Kim và các thanh niên khác “đã cố gắng xoa dịu và mặc quần áo cho ông ta. Trên đường về nhà ngày hôm đó, chúng tôi quyết tâm không bao giờ đối mặt với những con người như vậy nữa.”
Nhưng người mà Kim lại rất vui được tiếp xúc là Mục sư Sohn Jong-do, một giáo sĩ Giám lý hội và nhà hoạt động vì độc lập của Triều Tiên. Trước đây là mục sư của Nhà thờ Giám lý Jongdong ở Seoul, ông đã được bầu làm chủ tịch hội đồng Chính phủ lâm thời Thượng Hải trước khi đến Jilin. Sohn hơn cha Kim khoảng mười tuổi nhưng biết Kim Hyong-jik với tư cách là một cựu học sinh trường trung học Sungsil và là người đấu tranh cho độc lập. Tại Jilin, mục sư đã giúp trả học phí cho Kim và đóng vai trò là người bảo hộ. Vào những ngày nghỉ, bà Sohn mời chàng trai đến chơi, và thưởng thức những món ngon Triều Tiên như đậu phụ và thỏ hầm và bánh gạo thảo mộc.
Con trai út của Sohn, Wontai, người sau này trở thành một nhà nghiên cứu bệnh học đang hành nghề ở Omaha, Nebraska, nhớ lại vị khách thường xuyên đến thăm gia đình mình là một chàng trai cao lớn và hay cười. Tiến sĩ Sohn nhớ lại rằng Kim “nói rất ít về những điều không cần thiết và tầm phào”, nhưng “anh ấy rất nhiệt tình về các vấn đề chính trị và xã hội.” Won-tai, nhỏ nhắn, mảnh khảnh và trẻ hơn Kim hai tuổi, đi theo Kim như anh trai. “Mặc dù anh ấy không lớn hơn chúng tôi nhiều nhưng anh ấy luôn trông rất nổi bật,” Tiến sĩ Sohn viết trong một lá thư gửi cho tôi năm 1995. “Với tầm vóc to lớn, anh ấy có những nét cân đối. Anh ta đẹp trai, quyến rũ với lúm đồng tiền ở má trái. Là một nhà lãnh đạo tương lai, anh ấy đã có khả năng lãnh đạo vào thời điểm đó. Vì vậy, mỗi khi ở giữa bọn trẻ chúng tôi, anh nổi bật như “con sếu trong đàn gà lôi”
Kim thường xuyên lui tới nhà nguyện, giám sát các buổi diễn tập tiểu phẩm của nhóm mà sau này ông gọi là đoàn tuyên truyền. Tiến sĩ Sohn cho biết anh ấy chơi đàn organ của nhà thờ “rất giỏi”.
Hiệp hội đã sử dụng nhà nguyện để tổ chức các cuộc họp. Hiệp hội cũng “tận dụng các nghi lễ tôn giáo được tổ chức ở đó.” Tiến sĩ Sohn cho biết Kim “đã cầu nguyện với nhiều thành viên của Hiệp hội Trẻ em của chúng tôi, những người tin vào tôn giáo”. “Vào thời gian đó, Kim nhấn mạnh rằng trẻ em chúng tôi không nên trở thành nạn nhân của tôn giáo với đức tin mù quáng mà hãy đấu tranh giành độc lập nhưng ngoài điều này ra, tôi nghĩ anh ấy không phản đối mạnh mẽ đức tin Cơ đốc.” Trong hai vở kịch mà Kim và một nhóm thanh niên liên kết với anh đã dàn dựng, Tiến sĩ Sohn nhớ lại, một vở là câu chuyện Giáng sinh và vở còn lại kể về những nhà ái quốc Triều Tiên đã bắt được một tên phản bội Triều Tiên và bắt đầu “cải tạo anh ta thành một người phụng sự ”.
Khi kể về những ngày đó, Kim tự mô tả mình là người có lập trường tôn giáo cứng rắn hơn so với những gì Sohn nhớ lại. Kim cho biết ông đã sử dụng nhà nguyện cho các hoạt động chính trị của mình mặc dù ông đã khước từ tôn giáo từ lâu. Trong một nỗ lực có thể là mong muốn nhằm điều chỉnh sự ngưỡng mộ của ông đối với Mục sư Sohn với cái nhìn mù mờ của mình về Cơ đốc giáo, ông cho rằng công việc tôn giáo của vị giáo sĩ này là nhằm mục đích ở một mức độ nào đó tạo một “loại ngụy trang” nhằm che đậy công việc đòi độc lập cho Triều Tiên. Con trai của Sohn không đồng ý, nhưng thừa nhận rằng cha ông đã dành nhiều thời gian cho phong trào độc lập hơn là cho công việc tôn giáo. Ông nhớ lại, vì có rất ít địa điểm khác dành cho các cuộc tụ họp, “nhiều người đấu tranh giành độc lập đã tận dụng các nhà thờ và nghi lễ tôn giáo.” Bản thân mục sư không phải là người cộng sản và ông không hoàn toàn nhận thức được khuynh hướng cộng sản của Kim, nhưng ông ủng hộ “bất kỳ tổ chức nào tích cực hoạt động vì độc lập”. Tiến sĩ Sohn cho biết cha ông sẵn sàng hỗ trợ Kim trong các hoạt động của anh vì chàng trai trẻ yêu nước này là con trai của bạn ông và – quan trọng hơn – Kim “được kỳ vọng với trí thông minh của mình sẽ gánh vác tương lai của Triều Tiên.”
Theo lời kể của ông, trong khi cố gắng cực đoan hóa những người trẻ tuổi ở Jilin, nhóm mà Kim lãnh đạo đã vận động chống lại niềm tin tôn giáo. Mục tiêu không phải là tiêu diệt tôn giáo mà là ngăn cản thái độ bất bạo động quay-má-bên-kia khiến thanh niên Triều Tiên “yếu đuối và kiệt quệ”. Cuộc cách mạng cần “những chiến sĩ hát về những trận chiến quyết định hơn những tín đồ tôn giáo hát thánh thi.”
Nhiều học sinh trong hiệp hội trẻ em xuất thân từ các gia đình theo đạo Thiên chúa. Kim cho biết ông đã rất nỗ lực để cố gắng xóa bỏ niềm tin tôn giáo của họ. Ông viết: “Cho dù chúng tôi có cố sức giải thích thế nào với chúng rằng thực sự là không có Chúa và thật vô lý khi tin vào một vị thần, nhưng điều đó vô ích vì chúng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cha mẹ”. Kim nói một giáo viên có cảm tình với phong trào dẫn học sinh của mình đến nhà thờ và bảo chúng cầu nguyện xin bánh gạo và bánh mì. Khi không thấy thức ăn xuất hiện, cô lại dẫn chúng ra cánh đồng lúa mì vừa mới thu hoạch. Chúng mót lúa và cô giáo đập lúa mót và làm bánh mì. Ăn bánh mì đó, các học sinh “học được rằng thà làm việc để kiếm bánh mì còn hơn là cầu nguyện với Chúa.”
Trong khi bác bỏ niềm tin Kitô giáo và đồng ý với Marx rằng tôn giáo là thuốc phiện đối với quần chúng, Kim rõ ràng vẫn giữ một mức độ tin tưởng nào đó hoặc thừa nhận về nghĩa vụ truyền thống của người Đông Á là xoa dịu linh hồn không siêu thoát của người chết. Đau buồn khi còn là một thiếu niên trước những cái chết của cha ông và Mục sư Sohn, người qua đời sau cha ông vài năm, ông “đã tự hứa sẽ giải phóng đất nước, dù có chuyện gì xảy ra, để bảo vệ linh hồn của họ và trả mối thù dân tộc. Tôi tin rằng việc giải phóng đất nước sẽ báo đáp công ơn các ân nhân của tôi, giải thoát họ khỏi đau khổ và phá bỏ gông cùm của nhân dân.” Và ông kết thúc lời tựa cho cuốn hồi ký của mình bằng những lời sau: “Cầu nguyện cho linh hồn các chiến sĩ cách mạng đã ra đi.”
Khi thập niên 1920 sắp kết thúc, Kim là thành viên sáng lập trẻ của một nhóm thanh niên cộng sản. Sau này ông viết rằng các thành viên của liên đoàn, họp bí mật trong hầm của một ngôi đền ở Công viên Beishan ở Jilin, đã “cùng nhau hát bài Quốc tế ca.” Trong thời gian đó, ông trực tiếp tham gia vào hoạt động thân Liên Xô. Các lãnh chúa Trung Quốc chống cộng đã chọc giận Moscow bằng cách chiếm giữ các tuyến đường sắt Mãn Châu do Liên Xô và Trung Quốc quản lý chung. Kim và bạn bè phát truyền đơn ủng hộ lập trường Liên Xô. Kim nhớ lại: “Một số thanh niên Trung Quốc thiếu hiểu biết về chính trị đã tránh xa chúng tôi, phỉ báng chúng tôi là những kẻ xấu xa đang giúp đỡ ‘những tên xâm phạm’. Tuy nhiên, đối với ông, điều tự nhiên là ông và những người bạn của mình coi hệ thống xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới như một “ngọn hải đăng hy vọng” và “coi đó là nghĩa vụ quốc tế trang nghiêm của mình với tư cách là những người cộng sản là phải chiến đấu để bảo vệ nó”.
Cảnh sát biết được nhóm thanh niên cộng sản nên đã bắt giữ và thẩm vấn các thành viên của nhóm, bao gồm cả Kim. Chính quyền dùng hình thức tra tấn bẻ ngón tay để cố gắng buộc họ phải khai ra tổ chức và hoạt động của nhóm trong thành phố cũng như về “những kẻ đứng sau hậu trường”, theo lời kể của Kim. Những người cộng sản trẻ tuổi kiên cường, khăng khăng rằng họ chẳng làm gì khác ngoài việc đọc một số sách cánh tả. Bị đưa đến nhà tù Jilin vào mùa thu năm 1929 để chờ giải quyết vụ án, Kim chiếm một phòng giam ở phía bắc không có ánh nắng, lạnh lẽo và mốc meo ngay cả trong mùa thu và lạnh đến mức khi mùa đông đến những bức tường trắng xóa vì sương giá.
Gia đình mục sư Sohn chăm sóc ông, quyên góp thực phẩm, quần áo và chăn ga gối đệm và gửi nó cho ông dưới sự chăm sóc của cô con gái Sohn Insil, một thành viên của Hiệp hội Trẻ em Triều Tiên ở Jilin Ngược lại, theo lời kể của mình, Kim đã sử dụng lòng tốt để thu phục những tên cai ngục và chúng đối xử tốt hơn với những nhà hoạt động bị bỏ tù – thậm chí còn nhờ bạn bè mình bên ngoài cung cấp những món đồ mà một người cai ngục nghèo khó cần có cho đám cưới của y. Vẫn chưa bị kết án về bất cứ tội danh nào nhưng trước nguy cơ chính quyền lãnh chúa sẽ giao họ cho quân Nhật, các tù nhân cộng sản trẻ tuổi cuối cùng đã tuyệt thực để đấu tranh đòi trả tự do cho họ. Mục sư Sohn bổ sung thêm sức thuyết phục của hành động này bằng cách đưa hối lộ cho chính quyền. Kim được trả tự do vào tháng 5 năm 1930, sau khoảng thời gian mà sau này ông nhớ lại là thời gian để suy nghĩ và lập kế hoạch. Ông bước qua cánh cổng vòm của nhà tù với một trái tim “đầy nhiệt huyết và tự tin ở tương lai”.