Bắc Triều Tiên và Triều Đại Kim (Bài 1)

BRADLEY K. MARTIN

Trần Quang Nghĩa dịch

MỘT : Đến thành phố của Con Trời

Đọc về nạn sùng bái cá nhân nhà lãnh đạo Triều Tiên đã không giúp tôi chuẩn bị đầy đủ cho những gì tôi tìm thấy khi đến Bình Nhưỡng vào tháng 4 năm 1979, với tư cách là thành viên của một phái đoàn lớn người Mỹ đầu tiên đến thăm kể từ Chiến tranh Triều Tiên. Vì tôi đang phải đối mặt với một nền kinh tế và xã hội gần như khác biệt một cách không thể tưởng tượng được với bất kỳ nền kinh tế và xã hội nào tôi từng biết, nên thời gian lưu trú gây nhiều bất ngờ. Nhưng bên cạnh sự lan tỏa khắp nơi của sự tôn sùng đáng kinh ngạc người lãnh đạo, những điều còn lại dường như chỉ là chi tiết.

Trong các phát biểu của mình, mọi người đều nhắc một cách nghiêm cẩn  đến “Lãnh đạo đáng kính và yêu quý của chúng tôi”, “Lãnh đạo vĩ đại của chúng tôi”, “Lãnh đạo Quốc phụ của chúng tôi”. Mọi người đều đeo một bức chân dung của Kim Il-sung có khuôn mặt tròn, không cười trên một huy hiệu tráng men, khung vàng gắn ở ngực trái. Những bức chân dung và tượng lớn hơn của Lãnh tụ có ở khắp mọi nơi.

Dần dần người ta thấy rõ rằng đây đúng là một tôn giáo. Đối với người dân Bắc Triều Tiên, Kim Il-sung không chỉ là một nhà lãnh đạo, ông đã tắm gội cho nhân dân mình bằng tình yêu của người cha. Nếu tôi có thể tin vào những gì tai mình đang nghe thì ông ấy thậm chí có thể là bất tử, có thể mang đến cho ai một lòng đi theo ông cuộc sống vĩnh cửu. Sự nhận thức này ngày càng lớn dần trong những ngày đầu tiên tôi ở Bình Nhưỡng. Nó kết tinh khi tôi ngồi trong Nhà hát Nghệ thuật Mansudae xem buổi biểu diễn Khúc Nhạc Thiên Đường, một vở nhạc kịch được dàn dựng xa hoa trên quy mô của một vở opera hoành tráng hoặc vở nhạc kịch Broadway.

Bức màn kéo lên để lộ khung cảnh ban đêm của trung tâm thành phố Bình Nhưỡng. Đám đông dự lễ tận hưởng dưới ánh đèn neon và pháo hoa thắp sáng thành phố đến đường chân trời đầy ấn tượng của các cao ốc và các đài tưởng niệm. Son-hui, một nhà báo do một giọng nữ cao đầy đặn đóng, sắp sửa khởi hành chuyến đi vòng quanh đất nước để thu thập tài liệu cho loạt bài viết về vinh quang của thiên đường của giai cấp công nhân. Cô ấy không hề biết rằng trong lúc đó, nhà lãnh tụ vĩ đại đã ủy quyền tìm kiếm đứa con gái mồ côi của một anh hùng trong chiến tranh Triều Tiên. Dàn đồng ca của đám đông, tràn ngập niềm vui trước những kỳ công xây dựng xã hội chủ nghĩa, cất cao bài hùng ca hùng hồn, bay bổng, dậy sóng không kém dàn hợp xướng  Mormon Tabernacle lừng lẫy: “Với Nhà Lãnh tụ đã mở ra thiên đường này, chúng ta sẽ sống đến muôn thế hệ mai sau.”

Thiên đường? Đối với những người lần đầu đến thăm, Triều Tiên dường như đang cung cấp cho người dân những nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Nhưng có rất ít dấu hiệu của sự sang trọng và tôi chưa bao giờ thấy ai thoải mái và có khoảng thời gian thực sự vui vẻ. Ngay cả trong ngày nghỉ lễ tháng năm, mọi người dường như đang đóng những vai diễn, đóng vai những hành khách vui vẻ đi tàu điện ngầm cho du khách nước ngoài xem. Một nhóm các cậu bé mặc đồng phục đội ngồi khoanh chân thành vòng tròn trên mặt đất trong công viên, đang chơi một trò chơi nào đó. Một vài giờ sau quay lại vẫn thấy chúng ngồi ở vị trí cũ, chơi cùng một trò chơi, gây thắc mắc cho khách quan sát thuộc thế giới bên ngoài vốn có hiểu biết tổng quát về mức độ tập trung của lứa trẻ 8 tuổi nếu không được giám sát.

Trong hệ thống tàu điện ngầm Bình Nhưỡng được đào sâu, sạch bóng, với những ngọn đèn chùm lấp lánh và những bức tranh tường hùng vĩ tôn vinh Kim Il-sung, tôi thấy “những hành khách” ra khỏi ga bằng thang cuốn rồi quay lại và để bắt lại một chuyến đi khác – một nhiệm vụ lặp đi lặp lại suốt cả ngày, tôi cho là như thế. Những chuyến tàu chỉ có hai toa, mỗi toa dừng lại vài phút ở mỗi ga, và đường ray đã rỉ sét đủ để cho thấy rằng việc gây ấn tượng với du khách là điều quan trọng hơn việc vận chuyển người dân trong một thành phố nơi xe buýt có thể lướt nhanh qua những con phố gần như vắng tanh.

Tuy nhiên, ai có đủ tư cách để mở ra một thiên đường hơn Kim Il-sung? Việc liệt kê một phần tài năng của ông có thể sẽ làm dấy lên sự ghen tị của Leonardo da Vinci hay Thomas Jefferson. Kim là tiểu thuyết gia, nhà sử học, triết gia, nhà giáo dục, nhà thiết kế, nhà phê bình văn học hàng đầu đất nước, kiến trúc sư, chuyên gia quản lý công nghiệp, tướng lĩnh, huấn luyện viên bóng bàn (người Mỹ đến đây để tham dự giải vô địch thế giới) – và nhà thí nghiệm nông học. “Lãnh đạo vĩ đại của chúng tôi,” thông dịch viên của tôi, Han Yong, được chính phủ bổ nhiệm, nói, “có một mảnh đất nhỏ tại nơi ở của ngài, nơi ngài thử nghiệm trồng cây trong một hoặc hai năm.”

Một “huyền thoại” chính thức được tuyên truyền về những ngày Kim Il-sung còn là một chiến sĩ du kích chống Nhật trong những năm 1930 và 40 đã mô tả ông là một vị tướng dũng mãnh cưỡi ngựa trắng, “mang một thanh kiếm khổng lồ, chém cây lớn đổ xuống như thể đang cắt tàu hũ.” Một người khác bảo ông đi như bay trên mặt nước: “Đồng chí vĩ đại Kim Il-sung biến quả thông thành đạn và cát thành gạo, cưỡi trên lá rụng băng qua sông lớn.” Nghe người Bắc Triều Tiên tán chuyện, Kim hẳn đã tự coi mình là người thừa kế bí mật vượt thời gian và không gian của các pháp sư Đạo giáo cổ đại.

Giờ đây, ông đã phải trả giá nhiều hơn ngoài lời nói suông để theo đuổi mục tiêu sống còn với người dân của mình “cho các thế hệ mai sau”. Kim vào năm 1979 đã chuẩn bị gồng mình cho xác suất sống thêm một năm nữa của mình. Ông ta đã tổ chức hoành tráng sinh nhật thứ 67 của mình vào ngày 15 tháng 4 năm đó. Trong hơn ba thập kỷ nắm quyền lãnh đạo đất nước, ông đã tập trung những khả năng đáng kể và sức mạnh to lớn của mình vào việc đảm bảo mình sẽ sống sót lâu hơn các đối thủ của mình bằng cách này hay cách khác.

Chủ tịch hút thuốc rất nhiều và một khối u lớn nếu không phải ác tính nhô ra khỏi cổ, cả hai đều là dấu hiệu tiêu cực đối với những người tìm kiếm sự bất tử. Tuy nhiên, với một chút phô trương (nhiều năm sau tôi mới biết điều này), chính phủ của ông đã thành lập một viện nghiên cứu về tuổi thọ vào năm 1972  nhân dịp sinh nhật lần thứ sáu mươi của ông. Các nhà nghiên cứu ở đó đã làm việc chăm chỉ để đảm bảo rằng Kim sẽ đón được sinh nhật lần thứ bảy mươi và lần thứ tám mươi của mình.

Son-hui cùng các nữ nhân công nhà máy đang vui chơi trong công viên Bình Nhưỡng vào ngày nghỉ. Họ hát về “cuộc sống hạnh phúc của chúng tôi, luôn mang không khí lễ hội.” Mẹ nuôi của vai nữ chính, người đứng đầu một tổ lao động ở một trang trại, đến công viên và ca ngợi lòng biết ơn của bà đối với Lãnh tụ Quốc phụ, người đã nuôi dạy đứa trẻ  mồ côi Son-hui trở thành một phóng viên. Hai người song ca bài hát “Dưới sự chăm sóc yêu thương của người cha lãnh tụ”.

Sự quan tâm đến những đứa trẻ mồ côi trong chiến tranh là một khía cạnh quan trọng trong hình ảnh của ông mà Kim thể hiện. Một phần tư trong dân số 10 triệu của Triều Tiên năm 1950 đã chết trong Chiến tranh Triều Tiên. Sau đó, Bình Nhưỡng nói, nhà nước đã nuôi dạy những đứa trẻ mồ côi cha mẹ, dạy chúng coi Kim Il-sung như cha mình, bản thân họ như con của ông. Một số người trong đó, như nhân vật Son-hui hư cấu, đã lớn lên và trở thành thành viên trong đội ngũ quan chức và trí thức ưu tú.

Trong chuyến tàu đêm đến thành phố Kaesong, tôi đã chia sẻ một chai rượu whisky với một người đàn ông, tự giới thiệu mình là Bai Song-chul, một quan chức của Hiệp hội Quan hệ Văn hóa với Nước ngoài. Trong khi những người Bắc Triều Tiên khác mà tôi gặp có vẻ như đã được luyện tập hoàn toàn thì Bai nói một cách tự nhiên và trực tiếp qua đôi môi mỏng thường mím lại thành một nét do dự hoặc thành một nụ cười mỉa mai. Có ánh thông minh trong đôi mắt anh, dường như đang cố nhìn qua cặp kính gọng đen của mình. Mái tóc dày (tất nhiên là màu đen) làm nổi bật vầng trán cao và khuôn mặt trái xoan nhưng quai hàm rắn chắc. Ở tuổi ba mươi chín, rõ ràng anh là một thành viên đầy triển vọng của giới thượng lưu.

Không cao lắm, anh ta có vẻ gì đó giống như một kẻ vênh váo, tính thẳng thắn thể hiện sự tự tin sinh ra từ vị trí và khả năng tiếp cận các cấp độ cao. Khi cuộc trò chuyện diễn ra, tôi cảm thấy mạnh dạn hơn khi nói thẳng với anh ấy rằng tôi không thể không thấy việc sùng bái Kim Il-sung thật lố bịch. Bai cau mày và trả lời rằng phản ứng như vậy từ một người Mỹ mới đến đất nước của anh ấy không làm anh ấy ngạc nhiên – “nhưng chúng tôi cảm thấy rất tiếc khi bạn nói như vậy.”

Bai cho biết tất cả người dân Triều Tiên đều có những trải nghiệm cá nhân khiến họ tôn trọng và yêu quý Lãnh tụ vĩ đại. Bản thân Bai đã từng mồ côi trong Chiến tranh Triều Tiên, anh ấy nói với tôi. “Kim Il-sung đến làng chúng tôi và hỏi có bao nhiêu trẻ mồ côi. Ông ấy gọi chúng tôi lại và nói: ‘Các cháu có thể ở lại đây hoặc các cháu có thể đến trường dành cho trẻ mồ côi. Điều đó tùy các cháu’. Chúng tôi đến trường trẻ mồ côi. Vào dịp năm mới, Kim Il-sung đến và nói với chúng tôi: ‘Các cháu không có cha mẹ, nên hãy coi ta như cha của các cháu.’ Bai kể lại câu chuyện của mình bằng sức mạnh và cảm xúc. Nó dường như xuất phát từ trái tim, và tôi thấy không có lý do gì để nghi ngờ rằng lòng hiếu thảo mà ông dành cho Kim Il-sung là chân thành.

Phóng viên Son-hui đến thăm một vườn cây ăn trái, gợi lại lời dạy của Lãnh tụ vĩ đại năm 1958 rằng cây ăn quả nên được trồng trên sườn đồi. Cô hát: “Bất cứ nơi nào bạn đến trên quê hương tôi, những bông hoa tình yêu vĩ đại của Ngài đang nở rộ. Chúng ta sẽ sống mãi trên vùng đất hạnh phúc này, với tình yêu và sự quan tâm của Ngài trong trái tim chúng ta.” Những người phụ nữ nông dân nhảy múa theo chủ đề và hát: “Hãy gieo rắc phấn hoa tình yêu . . . Những bông hoa rực nở dưới ánh nắng của Người lãnh tụ”. ..

Ở Bắc Triều Tiên, không chỉ những giai điệu và điệp khúc trong Khúc Hát Thiên Đường  mà gần như tất cả những bài hát chúng tôi nghe đều nói về Kim Il-sung. Các ca sĩ luôn luôn hát về ông một cách dịu dàng, với cảm xúc hân hoan như đang dò dẫm một cách khao khát tinh tế hướng đến điều không thể diễn tả được, mang dấu ấn của truyền thống âm nhạc đại thánh đường Cơ đốc giáo. Phim tài liệu truyền hình chiếu cảnh chủ tịch xuất hiện giữa người dân, bạn bố “lời chỉ dẫn tại chỗ” cho nông dân. Nhạc hòa tấu trầm buồn, ngọt ngào bắt đầu vang lên khi khuôn mặt ông hiện rõ. Một chương trình tin tức truyền hình chiếu cảnh một vị khách nước ngoài đang đưa tay lấy một cuốn sách trên kệ trưng bày. Máy quay chuyển sang cận cảnh của bộ sách, đây là một trong nhiều tác phẩm của Vị Lãnh tụ đáng kính và kính yêu. Nhạc ngọt ngào, trầm buồn được phát ra khi hình ảnh ông còn đọng lại trên màn hình.

Mọi người, ít nhất là những người được phép nói chuyện với du khách nước ngoài, đã nói về vị Lãnh tụ giống như cách họ hát về ông: trang trọng nhưng đầy yêu thương. Ánh mắt của họ thể hiện sự chân thành, với vẻ ngoài không hề có dấu hiệu giễu cợt.

Phó giám đốc trang trại trái cây nhớ lại những ngày ông chiến đấu bên cạnh một người anh hùng trong Chiến tranh Triều Tiên sắp chết – chiến sĩ này có cô con gái mồ côi mà Kim Il-sung hiện đang cho người tiến hành tìm kiếm. Khi khung cảnh chuyển sang một hoạt cảnh  trận chiến ngày xưa trông rất thực tế, người trưởng trang trại và các cựu chiến binh khác hát: “Trong ba năm và ba tháng tôi cầm súng trong tay. Bài hát của tôi vang vọng về nhà từ chiến hào tôi đang chiến đấu để đập tan giặc Mỹ xâm lược đang tìm cách cướp đi hạnh phúc của chúng tôi.”

Trái ngược với sự hiểu biết của hầu hết phần còn lại của thế giới, người Triều Tiên thường tin rằng người Hàn Quốc đã xâm chiếm miền Bắc để bắt đầu Chiến tranh Triều Tiên và sau đó Triều Tiên đã giành chiến thắng trong cuộc chiến. Họ tin đó là một tín điều vì Kim Il-sung đã nói với họ như vậy. Chế độ này đã thành công trong việc duy trì lòng căm thù của người dân đối với quân xâm lược Mỹ và Hàn Quốc và đế quốc Nhật Bản. Những kẻ bên ngoài đó, được mô tả là luôn ấp ủ những kế hoạch mới nhằm phá hoại và tấn công miền Bắc, phải gánh chịu trách nhiệm về bất kỳ vấn đề nào ở quê nhà. Vì vậy, thần dân của Kim thậm chí không cần phải cân nhắc đến suy nghĩ bị chụp mũ phản động rằng Lãnh tụ vĩ đại và hệ thống của ông ta có thể liên quan gì đó đến các vấn đề tồi tệ của họ.

Son-hui và những người phụ nữ làng chài chào đón ngư dân trở về sau chuyến đi đánh cá. Các ngư dân hát: “Chúng ta hãy nâng cao danh dự của mình với tư cách là những ngư dân đáng tự hào của Lãnh tụ của chúng ta”. “Chúng ta hãy làm vui mừng Lãnh tụ của chúng ta, Người Cha Lãnh tụ của chúng ta. Ôi đại dương duyên dáng, dưới sự chăm sóc yêu thương của Ngài, ngươi hãy mãi mãi vỗ về những con sóng tao nhã! Biển Triều Tiên  vui tươi thịnh vượng, hãy hát ca ngợi lòng nhân ái của Lãnh tụ chúng ta”.

Nghe tin những ngư dân trở về từ biển sâu, Lãnh tụ vĩ đại đã chỉ thị cho họ và gia đình được đưa đi nghỉ dưỡng tại ngọn núi Kumgang tuyệt đẹp. Màn trình diễn khiến ngư dân rơi nước mắt và khán giả vỗ tay. “Ôi, đây là tình yêu nhân hậu, một tình yêu sâu sắc hơn nhiều so với biển cả sâu rộng nhất,” dàn đồng ca của ngư dân cất tiếng hát. “Trái tim chúng tôi rộn ràng cảm xúc sâu sắc khi Người ôm chúng tôi mình còn ướt đẫm nước biển. Trước tình thương của Người Cha Lãnh tụ chúng ta.  . . đến cả nước biển cũng dâng trào cảm xúc và lay động. Chúng ta cống hiến tuổi trẻ của mình để đền đáp lòng nhân từ của Người. Tình thương vô bờ bến của Lãnh tụ chúng ta sẽ trường tồn mãi như biển cả”.

Mọi người liên tục kể cho tôi nghe những câu chuyện về lòng nhân từ của Kim Il-sung. Ví dụ, ông được cho là đã cử một nhóm bác sĩ mang theo thuốc “đáng giá bằng một nhà máy nhỏ” lên máy bay cá nhân của mình khi nghe tin một cư dân vùng núi bị bệnh nặng. Cho dù loại bỏ 99% yếu tố tuyên truyền, điều đó vẫn chứng tỏ rõ ràng rằng Kim sở hữu thiên tài chính trị đáng kể. Với khả năng khiến cho người dân miền Bắc cảm thấy gần gũi với ông và mang ơn cá nhân ông, Kim điều hành giống như một ông chủ thành công ở một thành phố Mỹ  lớn thời xưa. Bất cứ thứ gì người ta nhận được đều đứng tên Kim, như một “món quà”. Thay vì Giáng sinh, người dân Triều Tiên tổ chức sinh nhật cho Kim – và ông đã gửi quà cho từng đứa trẻ, giống như ông già Noel. Vị lãnh tụ vĩ đại dường như ra khỏi thủ đô rất nhiều, đưa ra lời “chỉ đạo tại chỗ” và để mọi người nhìn thấy ông. Bai Song-chul nói với tôi rằng Kim đã quen với việc dành rất ít thời gian ở Bình Nhưỡng. Vì vậy, nhiều người trên khắp đất nước đã có dịp gặp mặt ông ấy.

Bai nói rằng mọi người Triều Tiên đều tự nguyện đeo huy hiệu có hình ông Kim. Ngay cả khi ai đó tình cờ không đeo huy hiệu vào một ngày cụ thể, điều đó không có nghĩa là người đó không tôn trọng Lãnh tụ vĩ đại. Đơn giản là người đó có lẽ đã quên cởi huy hiệu khi thay áo.

Son-hui khởi hành đến Núi Kumgang tuyệt đẹp, nơi những người lao động đi nghỉ đang chiêm ngưỡng khung cảnh hùng vĩ của ngọn Thác Cửu Long. Họ ca ngợi đất nước của mình, những ngọn núi đẹp đẽ và những dòng suối trong vắt. Họ ca ngợi lãnh tụ của họ. Họ hát: “Chúng ta sẽ sống với Ngài mãi mãi. Khu vườn hạnh phúc nở hoa trong ánh nắng của Ngài.” Son-hui cùng những người đi nghỉ mát hát: “Hạnh phúc của chúng ta nở rộ trong sự chăm sóc của Lãnh tụ của chúng ta. Thật vinh quang biết bao khi được sống trong thiên đường xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Chúng ta hãy hát về đất nước xã hội chủ nghĩa của chúng ta, về thiên đường trần thế của chúng ta không bị áp bức.”

Các thầy giáo nghỉ phép khen ngợi hệ thống trường học: “Ngay khi bạn được sinh ra bạn được nhận vào nhà trẻ, sau đó được dẫn qua một cánh cổng đầy hoa đến một nền giáo dục mười một năm.”

Quả thực, các quan chức đã nói với tôi, các bà mẹ được hưởng 77 ngày nghỉ thai sản trước khi chuyển con của họ đến các nhà trẻ công cộng, hoặc trong một số trường hợp là các nhà trẻ toàn thời gian. Kim Il-sung đã nói trong bài phát biểu năm 1968: “Giáo dục tại nhà có ý nghĩa quan trọng trong một xã hội nơi quyền sở hữu tư nhân đối với phương tiện sản xuất chiếm ưu thế. Nhưng nó không có ý nghĩa quan trọng trong một xã hội xã hội chủ nghĩa khác.” Nhà nước, đảm nhận phần lớn vai trò làm cha mẹ, đã đào tạo một thế hệ thanh thiếu niên tôn thờ Kim. “Lãnh tụ vĩ đại của chúng ta là Lãnh tụ tối cao của cách mạng, là trái tim và là trung tâm duy nhất của cách mạng,” Một chính sách chính thức nêu rõ. “Chúng ta phải khắc sâu vào các thế hệ tương lai của mình quyền lực tuyệt đối của Nhà lãnh tụ, những tư tưởng và lời dạy không thể chối cãi của Nhà Lãnh tụ, để họ có thể chấp nhận chúng như đức tin và luật pháp của đất nước.”

Sách giáo khoa miêu tả Kim trong những vai anh hùng. Hình minh họa trong sách là những bức vẽ tương tự như phong cách văn học Kinh thánh dành cho trẻ em ở Hoa Kỳ. Một số người hình dung ra những chiến công của Kim, dù là có thật hay tưởng tượng, khi còn nhỏ và lúc là một chỉ huy du kích trẻ tuổi. Những người khác miêu tả một Kim trưởng thành, đôi khi được vây quanh bởi những đứa trẻ trong hoạt cảnh gợi nhớ đến những bức tranh trong trường đạo Chúa Nhật minh họa lời Chúa Giêsu: “Hãy mang các trẻ nhỏ đến cùng ta”. Một loại hào quang hay vầng hào quang được gắn trên đầu của Lãnh tụ vĩ đại trong những bức tranh đó.

Việc đào tạo và áp lực từ bạn bè củng cố những hình ảnh đó đã tăng lên trong những năm qua. Vì vậy, những người trẻ mà tôi gặp  tôi thấy có vẻ cuồng tín hơn những người Bắc Triều Tiên từ bốn mươi tuổi trở lên, những người mà sức mạnh truyền bá chưa được thấu đáo bằng.

Tôi nghi ngờ khái niệm về tính nhất trí hoàn toàn và đã nói như vậy với Bai. “Tất nhiên, chúng tôi cũng có bọn bất đồng chính kiến; đó là lý do tại sao chúng tôi có cảnh sát,” anh ta trả lời với sự thẳng thắn đặc trưng của mình – và với một chút gì đó khó chịu khi tôi đặt anh ta vào tình thế. Nhưng Bai nhấn mạnh rằng sự bất đồng đơn giản với chính sách không đồng nghĩa với việc bất đồng chính kiến đáng bị trừng phạt. Ví dụ, anh nói, khi các nhân viên văn phòng họp để quyết định nên giúp đỡ ở trang trại hay nhà máy, có thể nghe thấy những tiếng nói phản đối ý tưởng này – nhưng một khi cả nhóm quyết định tình nguyện, mọi người trong đơn vị phải nghe theo.

Tôi đã nghe nhiều lần trong thời gian lưu trú về các biện pháp đề phòng “các phần tử xấu.” Trên một chuyến lái xe đêm từ bờ biển phía đông, chẳng hạn, tài xế của tôi đã dừng lại tại một trạm gác được chiếu sáng rực rỡ. Khi tôi hỏi lính canh đang tìm kiếm ai, câu trả lời là “các phần tử xấu.” Không ai nói cho tôi biết các phần tử xấu là gì. “Ông biết mà,” một người Bắc Triều Tiên nói, nhìn tôi chăm chú như một giáo viên kỷ luật đang chờ tôi thú nhận tội lỗi của mình. “Ông biết họ là ai mà.” Thật ra tôi không biết. Khi tôi làm phiền đến Bai, anh ấy cuối cùng cũng mất kiên nhẫn đủ để phun ra một định nghĩa không màu mè. “Những phần tử xấu,” anh nói, “là bọn gián điệp, những tên đang ra sức phá hủy hệ thống. Chúng tôi xử bắn họ.” Như vậy, có vẻ như “các phần tử xấu” là đặc vụ Hàn Quốc hoặc Mỹ, bao gồm cả những kẻ phá hoại nên binh lính trang bị súng trường được bố trí tại các cầu đường cao tốc và đường sắt.

“Chúng ta không bị bóc lột”, những người đi nghỉ hạnh phúc hát cất tiếng hát, “không bị đánh thuế, hoàn toàn không còn lo lắng về lương thực hoặc quần áo. Hệ thống xã hội chủ nghĩa của chúng ta, mà Lãnh tụ vĩ đại của chúng ta đã xây dựng, là hệ thống tốt nhất trên thế giới.”

Mặc dù tình trạng thiếu lương thực khá nghiêm trọng đã ảnh hưởng tại một số vùng của đất nước kể từ giữa những năm 1970, người dân Triều Tiên rõ ràng đã tin rằng phần lớn những gì họ có thực sự là những thứ tốt nhất trên thế giới. Kim Il-sung đã nói với họ như vậy, và ít ai có cơ sở để so sánh. Hầu như không ai được đi du lịch nước ngoài, ngoài các quan chức đáng tin cậy. Tin tức nước ngoài mà người Triều Tiên nhận được đã được chắt lọc cẩn thận, rất ít từ các nước công nghiệp hóa phương Tây. Đài dân chúng được phép mua xài được chế tạo để chỉ có thể điều chỉnh theo tần số chính thức. “Báo chí” là những tờ tuyên truyền chứa đầy các bài phát biểu của Kim Il-sung. Bài viết kể về những người nước ngoài tụ tập trên xứ họ để ca ngợi sự sáng chói của Kim, “người đã tô điểm một cách tuyệt vời lịch sử thế kỷ 20” -và những ý tưởng của ông rõ ràng là câu trả lời cho những vấn đề của thế giới kém phát triển.

Son-hui và một nhiếp ảnh gia tham quan Núi Paektu, “ngọn núi thánh của cách mạng” và chiến trường đấu tranh chống Nhật của Kim Il-sung. Họ hát về chiến công của Kim trong việc “đẩy lui đội quân Nhật một triệu người. Mỗi cái cây, mỗi bông hoa dường như đều gắn liền với những ngày đấu tranh chống Nhật. Trong những cuộc hành quân dài xuyên qua bão tuyết Người đã lập bản đồ thiên đường ngày nay … vùng đất hạnh phúc của chúng ta. “

Hình ảnh Mangyongdae, ngôi nhà khiêm nhường của tổ tiên chủ tịch, xuất hiện ở phía sau. Mặt trời đỏ, một biểu tượng khác của Kim Il-sung, được chiếu lên màn hình. Khán giả Triều Tiên vỗ tay khi các nữ quân nhân trên sân khấu cởi mũ và cúi đầu chào bức tượng.

Kim Il-sung có thể khẳng định một cách hợp pháp rằng mình có nền tảng đấu tranh du kích thực sự. Ông đã chiến đấu kiên cường chống lại thực dân Nhật Bản. Điều đó đã mang lại cho ông những bằng chứng hoàn hảo về chủ nghĩa dân tộc ở một đất nước mà tình trạng quá phổ biến là những người có năng lực và tham vọng lại muốn phục vụ cho các ông chủ Nhật Bản. Với xuất phát điểm đó, các nhà báo của ông trong suốt nhiều thập kỷ trị vì của ông đã thổi phồng hình ảnh của ông. Người Bắc Triều Tiên không tin rằng việc quân Đồng minh do Hoa Kỳ lãnh đạo đã đánh bại quân Nhật ở Thái Bình Dương để giải phóng dân tộc của họ. Tất cả thanh niên Bắc Triều Tiên đều biết rằng chính Kim Il-sung và lực lượng du kích chống Nhật của ông ta (với sự giúp đỡ của Quân đội Liên Xô, trong một số phiên bản – nhưng trong các phiên bản khác không hề có sự giúp đỡ nào được thừa nhận) đã giải phóng Triều Tiên khỏi quân Nhật. Người Mỹ bị đổ lỗi vì đã làm hỏng cuộc giải phóng bằng cách chiếm miền Nam và chia cắt đất nước.

Son-hui đến thăm Kangson, một trung tâm sắt thép và thu thập tài liệu báo cáo về “cuộc sống đáng tự hào của những thợ luyện kim, những người đang làm nên các điều kỳ diệu”. Người quản lý xưởng, do một giọng trầm hùng hồn thủ vai, đã hô hào các công nhân của mình: “Các đồng chí! Hãy hoàn thành chỉ tiêu trước thời hạn!”

Người hướng dẫn viên của tôi nói với tôi rằng “các điều kỳ diệu” ở khu phức hợp Kangson bắt đầu vào năm 1956. Năm đó Kim Nhật Thành đến thăm một nhà máy cán thép Kangson được coi là có công suất 60.000 tấn một năm. Đất nước cần thêm 10.000 tấn, Lãnh tụ vĩ đại nói. Các nhà quản lý trả lời rằng việc tăng như vậy sẽ là “rất khó”, mà theo thuật ngữ Triều Tiên, có nghĩa là gần như không thể. Kim đã trực tiếp kêu gọi các công nhân, họ đảm bảo với ông rằng không cần giới hạn  ở mức 10.000 tấn; họ sẽ sản xuất thêm 30.000 tấn để nâng tổng sản lượng lên 90.000 tấn vào năm sau. Quả thực, người hướng dẫn của tôi kể, các công nhân đã hưởng ứng rất nhiệt tình trước những lời khuyến khích của Kim đến nỗi sản lượng của họ đã tăng gấp đôi vào năm 1957 lên 120.000 tấn.

Son-hui nghe công nhân thép hát một bài hát sôi động gợi nhớ đến “Hợp xướng Anvil”: “Trong sự chăm sóc yêu thương nồng ấm của Người, chúng ta được ban phước. . . Chúng ta được nuôi dưỡng tốt đẹp  theo chính sách mới”.

Chế độ này đã sản xuất ra rất nhiều tác phẩm văn học, bảo tàng và nghệ thuật quần chúng, dựa theo chính sách rằng văn hóa Triều Tiên “không được rời xa đường lối của đảng và mục đích mang lại lợi ích cho cách mạng”, như Kim Il-sung đã chỉ thị cho một nhóm nghệ sĩ và nhà văn. Trên thực tế, điều đó có nghĩa là, chẳng hạn, đối với sách, người Bắc Triều Tiên có thể đọc bất cứ thứ gì họ muốn miễn là nó tôn vinh Kim Il-sung.

Nhiều bảo tàng không trưng bày gì ngoài những món quà mà Lãnh tụ Vĩ đại đã gửi đến để giáo dục quần chúng. Một số là những đồ vật lẽ ra nên được sử dụng thay vì trưng bày, chẳng hạn như máy chiếu slide và những dụng cụ gọt bút chì được giới thiệu một cách đầy tự hào với du khách trong căn phòng giống như một ngôi đền tại một trường tiểu học ở Bình Nhưỡng. Tuy nhiên, những thứ khác thực sự là những di vật – các thú nhồi và cá muối, chiến lợi phẩm từ các chuyến đi săn và câu cá của Lãnh tụ. Đại học Kim Il-sung khoe chú chó săn được Lãnh tụ kính yêu và tôn kính gửi tặng. Nó cũng được nhồi bông. Được biết, nó đã chết một cách tự nhiên.

Đối với tác phẩm nghệ thuật và điêu khắc được trưng bày công khai, hầu hết những gì tôi thấy đều mô tả Kim Il-sung. Một phóng viên Nhật Bản đến Bình Nhưỡng để đưa tin về giải đấu bóng bàn đã phải về nhà sớm sau khi anh ta đăng một bài báo đưa tin rằng lớp mạ vàng trên bức tượng đồng Lãnh tụ vĩ đại cao 65 foot (20 mét) đã bị gỡ bỏ. Bài báo của anh trích dẫn một tin đồn trong cư dân nước ngoài ở Bình Nhưỡng cho rằng Đặng Tiểu Bình, trong một chuyến thăm không lâu trước đó, đã gợi ý với Chủ tịch Kim rằng một bức tượng vàng có thể là một sự thể hiện hơi quá đáng đối với một nước xã hội chủ nghĩa đang tìm kiếm viện trợ kinh tế của Trung Quốc.

Son-hui đến ngôi làng, nơi cô đã trải qua thời thơ ấu sau khi được giải cứu khỏi một ngôi nhà đang cháy trong thời chiến. Cô vô cùng xúc động khi thấy ngôi làng giờ đây trở thành một trang trại hợp tác kiểu mẫu. Đã đến mùa thu hoạch, và “những đống lúa cao ngất núi”, người nông dân hát. “Chúng ta hãy khoe về vụ thu hoạch bội thu của mình với cả thế giới.” Những người nông dân biết ơn Lãnh tụ vĩ đại: “Trong nhiều dặm đường Người đã cho chúng ta nước và gửi cho chúng ta máy móc để giảm bớt công việc nặng nhọc. Chúng ta hãy hát, hãy nhảy, hãy hát về ân huệ của Lãnh tụ của chúng ta trong hàng ngàn năm.”

Cúi đầu thật sâu, những người nông dân hát: “Trời và đất vị Lãnh tụ Sáng suốt đã thuần hóa, đẩy lùi mặt trận giá lạnh và mang lại mùa màng bội thu”.

Dù bạn có tin hay không, sau vài tuần ở Triều Tiên, du khách có thể bắt đầu quen với những tán dương quá đáng như vậy. Những người quan sát bên ngoài từ lâu đã nhận xét xu hướng lãng mạn về tính thái quá của người Hàn Quốc, dù ở miền Bắc hay miền Nam. Ngoài ra, người ta có thể lý giải rằng sự tôn kính tột độ dành cho Kim Il-sung chắc chắn đã phản ánh lịch sử Triều Tiên. Giống như Trung Quốc, Triều Tiên đã thấm nhuần truyền thống Nho giáo – từ tính gia trưởng và độc đoán- đến chế độ độc tài Stalin-nit.

Trước năm 1910, các triều đại bản địa ít nhiều theo mô hình Trung Quốc cổ đại đã cai trị đất nước. Sau đó, trong thời kỳ thuộc địa 1910-1945, người Triều Tiên là thần dân của Nhật Bản, bị buộc phải thờ cúng hoàng đế ở Tokyo giống như người Triều Tiên sau này thờ phụng Lãnh tụ vĩ đại của họ. “Mansei!” (Vạn tuế!)- từ tiếng Hàn tương đương với từ “Banzai!” của Nhật Bản. – là tiếng kêu mà tôi nghe thấy phát ra từ cổ họng của hàng nghìn người Triều Tiên tập hợp vào Ngày tháng Năm, 1979, tại Quảng trường Kim Il-sung ở trung tâm thành phố Bình Nhưỡng, để ca ngợi Kim vì đã xây dựng một thiên đường cho người lao động.

Người hướng dẫn của tôi, Kim Yon-shik, tỏ ra hết sức chân thành khi giải thích với tôi rằng người dân đã phải chịu đựng quá lâu dưới “thân phận tôi đòi” – nghĩa là phải phục tùng các cường quốc xung quanh như Nhật Bản, Trung Quốc, Nga và Hoa Kỳ – rằng họ đã biết ơn Kim Il-sung vì đã đưa họ thoát khỏi tình trạng đó.

Đó có vẻ là một lời giải thích hợp lý về việc Kim Il-sung đã trở thành một vị thần như thế nào. Tuy nhiên, cũng vào lúc những lời giải thích như vậy bắt đầu dễ dàng hiện lên trong đầu tôi, thì có một giọng nói nhỏ nhẹ gợi ý rằng đã đến lúc phải kết thúc chuyến thăm – trước khi tôi có thể bắt đầu đọc lời tạ ơn Lãnh tụ vĩ đại vào đầu mỗi bữa ăn, như mọi người Bắc Triều Tiên được dạy dỗ phải làm từ thời  mẫu giáo. Bây giờ, bất cứ ngày nào tôi cũng có thể quên rằng đây là năm 1979, chỉ còn 5 năm nữa là đến năm kết thúc kế hoạch kinh tế 7 năm hiện tại – 1984.

Giọng nói thúc giục tôi chạy trốn trở nên đặc biệt mạnh mẽ vào ngày các phóng viên Mỹ được đưa đến Khu phi quân sự, được viết tắt là DMZ, chia cắt phía bắc với phía nam. Chúng tôi đến khu vực đỗ xe dành cho du khách cạnh làng đình chiến Bàn Môn Điếm. Khi bước ra khỏi chiếc xe đưa tôi từ thành phố Kaesong xuống, tôi cẩn thận lấy hộ chiếu ra khỏi ba lô và bỏ vào túi – đề phòng trường hợp tôi cảm thấy cần phải bỏ trốn. Bị một cơn điên loạn nhất thời đôi khi ám ảnh những vị khách phương Tây đến thăm Thiên đường trần gian, tôi thoáng hình dung cảnh tượng mình đang co giò phóng nhanh qua DMZ. Lúc này chúng tôi chưa nhìn thấy biên giới, nhưng tôi đã đến thăm Bàn Môn Điếm vài lần từ hướng Seoul và do đó tôi có trong đầu một bức tranh rõ ràng về cảnh trí. Tôi có thể hình dung ra những người lính Bắc Triều Tiên và Mỹ mang súng trường đối mặt nhau chỉ cách nhau vài bước chân. Tôi tưởng tượng rằng nếu tôi lao sang phía bên kia, lính Hàn quốc và Mỹ chắc chắn sẽ không khai hỏa vì nghĩ tôi là người vượt biên tìm tự do, còn lính Triều Tiên cũng chẳng bóp cò vì tôi đâu phải người Triều Tiên vượt biên, thế là tôi có thể xuất trình hộ chiếu làm tấm vé vào Thế giới Tự do dễ hơn nhiều

Tuy nhiên, khi đến làng đình chiến, tôi nhìn thấy những lính Mỹ to con, những người lính được tuyển chọn kỹ lưỡng vì khả năng thể hiện sự hiện diện đáng sợ của họ. Tôi thấy họ đang nhìn trừng trừng, với ánh mắt hung dữ không thể kiềm chế đối với tôi và các phóng viên phương Tây bên cạnh tôi. Tất nhiên, trông có vẻ đe dọa và không được chào đón là công việc của họ, nhưng họ đã làm rất tốt đến nỗi khoảnh khắc tưởng tượng điên rồ đó ngay lập tức tan biến và cùng với đó là ảo tưởng của tôi về việc rời khỏi Triều Tiên bằng những cách khác ngoài phương tiện chính thống.

Đoạn kết ở Bình Nhưỡng: Người dân nhảy múa, ca hát vui vẻ vì hạnh phúc của mình. Những người đi tìm kiếm được biết phóng viên Son-hui là con gái của người chiến sĩ anh hùng đã tử trận và cô nhận được huân chương anh dũng của cha mình từ vị Lãnh tụ vĩ đại. Cô ấy hòa vào đám đông, đối mặt với mặt trời đỏ để cất lên một bài ca mạnh mẽ, ngây ngất với những lời ca tụng và niềm tin sởn gai ốc: “Ôi, tình thương của Ngài là vô bờ bến. Chúng ta sẽ sống mãi trong sự chăm sóc nhân từ của Ngài. Tình yêu cao cả của Ngài đã ban cho chúng ta sự sống đời đời. Chúng ta sẽ kể lại tình yêu bất diệt của Ngài từ đời này sang đời khác. Ôi, chúng ta sẽ nguyện trung thành với Nguyên soái Kim Il-sung, Lãnh tụ của chúng ta, Lãnh tụ vĩ đại như người cha kính yêu của chúng ta.”

Khi tôi hỏi đất nước sẽ làm gì sau cái chết của chủ tịch, một đảng viên trả lời: “Nếu ngài ấy chết – ý tôi là, khi ngài ấy chết – chúng tôi sẽ tìm một nhà lãnh đạo khác.” Kim Il-sung đã lựa chọn vài trò này cho con trai ông, Kim Jong-il, lúc đó 37 tuổi người mũm mĩm và đang điều hành ban bí thư của Đảng Lao động. Kim Jong-il  đã biến mất khỏi tầm nhìn của công chúng vào cuối những năm 1970. Có tin đồn rằng ông ta đã chết, hoặc bị thương trong một vụ va chạm ô tô và trở thành một “người thực vật”. Đến năm 1979, người ta biết rằng ông vẫn còn sống và khỏe mạnh, nhưng tên của ông vẫn hầu như không được nhắc đến một cách công khai. Đúng hơn, ông được gọi bằng mật danh “Trung tâm Đảng” hay thường là “Trung tâm Đảng Vinh quang”.

Nhiều người theo dõi Bình Nhưỡng cho rằng sự ẩn danh kỳ lạ của ông có liên quan đến nỗ lực câu giờ để loại bỏ những phần tử phản đối sự kế thừa cha truyền con nối như một hiện tượng phản động, chưa từng được biết đến ở những nơi khác trong thế giới cộng sản. Một phóng viên Liên Xô làm việc ở Bình Nhưỡng nói với tôi rằng đối thủ bao gồm cả giới quân nhân. Nhưng người Nga nói thêm rằng Kim Jong-il “có quyền lực trong đảng. Ông ấy là một con người mạnh mẽ, được chuẩn bị cho quyền lực và luôn muốn giành lấy quyền lực”.

Quả thực, những ngày tháng hoang dã về chính trị của Kim Con, nếu đúng là như vậy, dường như sắp kết thúc. Vào tháng 9 năm 1978, ông đã xuất hiện một lần rất nổi bật tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập nước Cộng hòa Bắc Triều Tiên, nơi ông đã tiếp các vị khách nước ngoài. Đến năm 1979, một du khách có thể nhìn thấy chân dung của ông cùng với chân dung Lãnh tụ được trang trí tại các cổng vào các tòa nhà. Một tối bật tivi, tôi xem được phim Kim Bố, đội mũ nỉ rộng vành, “chỉ đạo tại chỗ” cho nông dân và công nhân nhà máy. Trung tâm Đảng Vinh quang cũng ở đó và nhiều lần máy quay đã tập trung vào ông ta.

Màn nhung hạ xuống. Tràng pháo tay nhiệt liệt hoan nghênh. Hoa dành cho nữ diễn viên chính đóng vai Son-hui.

Người hướng dẫn của tôi, Kim Yon-shik, là một quan chức mà công việc thường xuyên của y là sắp xếp những chuyến tham gia của Bắc Triều Tiên vào các sự kiện thể thao quốc tế. Là một trong số ít người miền Bắc được phép đi du lịch ở nước ngoài, y đã ở Guyana vào mùa thu năm 1978 vào khoảng thời gian của vụ thảm sát khét tiếng Jonestown, trong đó các thành viên của một giáo phái Mỹ đã chết trong một cảnh tượng sát nhân-tự sát tập thể khủng khiếp. Kim Yon- Shik hỏi tôi dân Mỹ đã nghĩ gì về  sự cố đó. Tôi không thể cưỡng lại việc đóng khung câu trả lời của mình cho y theo thuật ngữ chạm rất gần đến xương tủy. “Hầu hết người dân Mỹ coi Jonestown là một trường hợp cuồng tín,” tôi nói với y một cách ôn tồn, “mọi người mù quáng đi theo một tên lãnh đạo.”

Kim Yon-shik ở độ tuổi bốn mươi, đủ tuổi để có thể không được nuôi dưỡng hoàn toàn trong hệ thống hiện tại và y thường thể hiện khiếu hài hước. Tuy nhiên, y lại không hề tỏ ra nhận thấy cái ám chỉ mỉa mai trong câu trả lời của tôi.

“Giáo phái Đền Thờ  Nhân Dân này còn tồn tại không?” y đã hỏi tôi.

“Thật khó,” tôi trả lời, “cho một giáo phái như thế tiếp tục tồn tại lâu dài sau khi kẻ lãnh đạo lôi cuốn của nó đã chết.”

Kim Yon-shik vẫn không hề tỏ ra nhận biết cái ngạnh móc trong câu đáp của tôi. “Anh không nghĩ CIA có liên quan đến vụ việc đó sao?” Y đã hỏi tôi.

CHÚ THÍCH: Giáo phái Đền Thờ  Nhân Dân là một tổ chức tôn giáo mới của Mỹ tồn tại từ năm 1955 đến năm 1978. Được thành lập bởi Jim Jones ở Indianapolis, Indiana, giáo phái truyền bá một thông điệp kết hợp các yếu tố của Cơ đốc giáo với hệ tư tưởng cộng sản và xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh vào bình đẳng chủng tộc. Sau khi Jones chuyển nhóm tín đồ  đến California vào những năm 1960 và thành lập một số địa điểm trên khắp tiểu bang, bao gồm cả trụ sở chính ở San Francisco, giáo phái Đền Thờ Nhân Dân đã thiết lập mối quan hệ với nhiều nhân vật chính trị cánh tả và tuyên bố có 20.000 tín đồ (mặc dù con số thực tế có lẽ là 3.000-5.000).

Giáo phái này bỗng nổi tiếng như cồn sau sự kiện ngày 18 tháng 11 năm 1978 ở Guyana, khi 909 người thiệt mạng trong một vụ tự sát tập thể và thảm sát hàng loạt tại khu định cư hẻo lánh của giáo phái, có tên là “Jonestown”. Do các vụ giết người ở Guyana, giáo phái này được các học giả và công chúng coi là một tà giáo hủy diệt.

Bình luận về bài viết này