
Trần Thanh Ái
Về việc các nước Đông dương không bị chiếm làm thuộc địa trong suốt mấy thế kỷ từ khi các cường quốc phương Tây lần lượt tiến về phương Đông, nhà nghiên cứu người Pháp A. Cabaton từng có ghi nhận đáng chú ý như sau:
“Việc các nước Đông dương có thể giữ vững độc lập đến thế kỷ XIX trong khi Ấn Độ, quần đảo Mã Lai (Insulinde), Philippines rơi vào vòng đô hộ của người châu Âu đã khiến vùng đất này trở thành một điều kỳ thú, càng thú vị hơn nữa khi bán đảo xinh đẹp này từ lâu đã tránh khỏi mọi ách cai trị [của ngoại bang], lại lần lượt trở thành nỗi thèm khát của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh trước khi nó rơi vào tay người Pháp chúng ta” (Cabaton A. 1913, tr. 73).
Có thể có nhiều cách lý giải về điều “kỳ thú” này, tùy thuộc vào kiến văn của mỗi người. Những người chỉ dựa vào nguồn sử Việt thì hài lòng với cách đề cao tinh thần ngoan cường của dân tộc trong việc bảo vệ bờ cõi. Còn những ai có khuynh hướng đối chiếu lịch sử thì lại phát hiện ra rằng vận mệnh của dân tộc đã trải qua nhiều phen rất chông chênh trước những âm mưu bành trướng của các cường quốc phương Tây, mà người trong cuộc gần như không ý thức được mức độ đe dọa đã rình rập họ. Nếu muốn có cái nhìn toàn cảnh về các giai đoạn lịch sử nước nhà kể từ những năm đầu thế kỷ XVI, đặc biệt là khi tìm hiểu một số vấn đề trong giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh mà hiện nay nhiều người đang quan tâm, chúng tôi cho rằng việc mở rộng tầm nhìn ra khu vực và thế giới là điều hết sức cần thiết. Công việc này tuy rất khó khăn đối với những thế hệ các nhà nghiên cứu trước đây, nhưng ngày nay lại trở nên khá dễ dàng, bởi vì việc tiếp cận các kho tài liệu trên thế giới ngày càng thuận lợi nhờ mạng thông tin toàn cầu.
- Tham vọng của những người châu Âu đầu tiên đến Viễn Đông
“Age of Discovery” (Thời đại Khám phá), hoặc “Age of Exploration” (Thời đại Thám hiểm) là tên mà các nhà nghiên cứu phương Tây dùng để gọi giai đoạn lịch sử trước và sau khi Ch. Columbus phát hiện ra châu Mỹ, và Vasco da Gama tìm ra đường vòng qua mũi Hảo Vọng để đi về phương Đông. Về các mốc thời gian bắt đầu và kết thúc của giai đoạn này, người ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt rất lớn giữa những cách phân định của các tác giả(1). Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã chọn năm Bồ Đào Nha chiếm được cảng Ceuta (1415) làm mốc khởi đầu vì nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng, làm tiền đề cho các hoạt động khám phá và thám hiểm các khu vực mà người châu Âu thời bấy giờ chưa biết. Về ý nghĩa của sự kiện này, C.R. Boxer đã viết như sau:
“Việc chiếm đóng Ceuta đã giúp cho Bồ Đào Nha có được thông tin về các vùng đất của người da đen ở khu vực sông Niger Thượng và Senegal, là nguồn khai thác vàng. […] Họ nhận ra rằng họ có thể tiếp cận với các vùng đất ấy bằng đường biển, và do đó có thể đổi hướng dòng chảy của những bao vàng hàng hóa ra khỏi những đoàn lạc đà ở Tây Sudan và không phải qua tay trung gian của người Hồi giáo Bắc Phi” (Boxer C. R. 1969, tr. 19).
Sau khi chiếm được Ceuta, Bồ Đào Nha lần lượt tiến về bờ biển phía Nam châu Phi, và đến năm 1488 thì Bartholomeu Dias đặt chân tới mũi Hảo Vọng, rồi sau đó Vasco da Gama dùng tuyến hải hành này để đến Calicut Ấn Độ năm 1498. Đến năm 1511 người Bồ Đào Nha đã kiểm soát được nhiều vùng biển và duyên hải Ấn Độ dương kéo dài đến tận Malacca, làm bàn đạp cho việc khám phá, chinh phục và khai thác các vương quốc trong vùng.
1.1. Những tiền đề của làn sóng khám phá
Nhà kinh tế học người Anh thế kỷ XVIII Adam Smith đã chỉ ra sự vĩ đại của các phát hiện mà Columbus và Vasco da Gama thực hiện vào cuối thế kỷ XV bằng nhận xét như sau:
“Việc phát hiện ra châu Mỹ và tuyến hải trình vòng qua mũi Hảo Vọng để đi Đông Ấn là hai sự kiện vĩ đại nhất và quan trọng nhất được ghi nhận trong lịch sử nhân loại. Hệ quả của các phát hiện này đã rất to lớn, nhưng trong khoảng thời gian hai ba thế kỷ vừa qua kể từ các cuộc phát hiện ấy, chúng ta không thể thấy hết tầm quan trọng của chúng. Không có đầu óc thông thái nào có thể thấy trước được những lợi ích nào, hay tai họa nào sẽ đến với nhân loại từ những sự kiện vĩ đại ấy” (Smith A. 1776, tr. 235).
Các phát hiện ấy là kết quả của nhiều yếu tố tạo ra, từ kinh tế, chính trị, tôn giáo đến thành tựu khoa học liên quan trực tiếp đến ngành hàng hải. Những yếu tố ấy tạo thành động lực thúc đẩy các nhà lãnh đạo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tổ chức các chuyến hàng hải vượt đại dương. C. R. Boxer đã nêu ra những động lực dẫn đến các cuộc khám phá của người Bồ Đào Nha như sau:
“Bốn động lực chính thúc đẩy các giới có chức trách Bồ Đào Nha (dù là vua chúa, hoàng thân, quý tộc, hay thương gia) được sắp xếp theo thứ tự thời gian (có thể có chồng lấn) và theo mức độ khác nhau như sau: (i) nhiệt huyết thánh chiến chống người Hồi giáo, (ii) mong muốn tìm ra vàng ở Guinea, (iii) đi tìm nhà truyền giáo John, và (iv) đi tìm hương liệu phương Đông” (Boxer C. R. 1969, tr. 18).
Nỗi khát khao tìm vàng ở Guinea là động lực trực tiếp thúc đẩy người Bồ Đào Nha tiến về bờ biển phía Nam của châu Phi. Nhưng khi đã kiểm soát được vùng nguyên liệu này thì họ lại bị thôi thúc bởi cuộc chạy đua với Tây Ban Nha trong việc mở rộng vùng ảnh hưởng. Chính vì thế mà chẳng bao lâu sau khi Ch. Columbus phát hiện ra châu Mỹ thì Bồ Đào Nha đã tìm ra con đường đến Đông Ấn bằng cách đi vòng qua mũi Hảo Vọng. Sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động thương mại ở châu Âu thời bấy giờ, vì nó mở ra con đường tiếp cận trực tiếp nguồn cung cấp hương liệu phương Đông, mặt hàng này từ trước đến giờ chỉ đến được châu Âu bằng tuyến đường xuyên Địa Trung Hải nằm trong sự chi phối của đế quốc Ottoman và các thương gia Ai Cập và Ý Đại Lợi.
Khi tìm hiểu những tiền đề của cuộc khám phá, C. R. Boxer không phải vô cớ khi đặt vai trò tôn giáo lên hàng đầu trong số các yếu tố góp phần vào cuộc Đông tiến của người Bồ Đào Nha. Thật vậy, bên cạnh các động lực kinh tế – chính trị, trên hết là sự hỗ trợ của Giáo hội La Mã, được thể hiện qua nhiều sắc chỉ của Giáo hoàng: đó chính là cơ sở “danh chính ngôn thuận” đã chấp cánh cho người Bồ Đào Nha đi về phương Đông. C. R. Boxer đã phân tích các sắc chỉ Dum diversas, Romanus Pontifex (do Giáo hoàng Nicholas V lần lượt ban hành ngày 18 tháng 6 năm 1452, và ngày 8 tháng 1 năm 1455) và sắc chỉ Inter caetera (do Giáo hoàng Calixtus III ban hành ngày 13 tháng 3 năm 1456) mà ông cho là quan trọng nhất(2). Ông cho rằng ba sắc chỉ này “đã phản ánh rõ ràng tinh thần của Thời đại Khám phá, và cũng bởi vì chúng tạo thành chỉ nam dẫn đường cho hành vi (hay những hành xử thô bạo) của người châu Âu ở các xứ nhiệt đới” (Boxer C. R. 1969, tr. 23).
Thật vậy, sắc chỉ Dum diversas đã ban cho Bồ Đào Nha quyền được “tấn công, truy lùng, bắt giữ và thu phục tất cả người Hồi giáo, người ngoại đạo các loại và những kẻ thù địch với Đấng Jesus, dù họ ở bất cứ nơi nào, cũng như vương quốc, lãnh địa, thái ấp và các tài sản khác mà họ chiếm giữ, và bắt các gia nhân của họ làm nô lệ vĩnh viễn” (Charles M. & Soong-Chan Rah 2019, tr. 15). Quyền này còn được nhắc lại và nói cụ thể hơn trong sắc chỉ Romanus Pontifex được ban hành sau đó mấy năm, và nhấn mạnh “vua Alfonso V của Bồ Đào Nha hoặc hoàng thúc Henry đã và đang chiếm hữu một cách chính đáng và hợp pháp những quần đảo, đất đai, bến cảng và vùng biển, và nó thuộc về vua Alfonso và những người kế vị của ông” (Davenport F. G. 1917, tr. 23).
Giáo hoàng Calixtus III lên thay đã ban hành sắc chỉ Inter caetera ngày 13 tháng 3 năm 1456(3) trong đó tiếp tục khẳng định các điều khoản của sắc chỉ Romanus Pontifex và theo yêu cầu của vua Alfonso V và Hoàng thúc Henry, đã trao quyền cai quản phần hồn ở những vùng đã và sẽ bị Bồ Đào Nha chinh phục, cho dòng Chúa Ki-tô mà hoàng thúc Henry làm người quản lý, “từ các mũi Bojador và Nun [thuộc Maroc], về hướng Guinea và xa hơn, về phương Nam đến vùng Ấn Độ” (Boxer C. R. 1969, tr. 22-23).
Sách Bullarium Patronatus Portugalliæ Regum… (1868) công bố nhiều sắc chỉ, thông tư của Giáo hoàng. |
![]() |
| Sắc chỉ Romanus Pontifex của Giáo hoàng Nicholas V ban hành ngày 8 tháng 1 năm 1455. |
Giải thích về vai trò của Giáo hoàng trong mối quan hệ giữa các quốc gia, nhất là trong các giao dịch với các nước Hồi giáo, F. G. Davenport cho biết:
“Với tư cách là người cha tinh thần của các dân tộc trên địa cầu, từ lâu các Giáo hoàng đã đóng vai trò điều phối các mối quan hệ – kể cả quan hệ thương mãi – giữa những người Ki-tô giáo và người không đức tin. Hội đồng Lateran năm 1179 đã cấm bán cho người Hồi giáo vũ khí, sắt, gỗ dùng trong xây dựng, và mọi thứ có thể sử dụng trong chiến tranh. Một số Giáo hoàng sau này còn cấm mọi giao thương với cả những người ngoại đạo” (Davenport F. G. 1917, tr. 11).
Khi tìm hiểu về các khía cạnh pháp lý của các cuộc khám phá, ngay từ thế kỷ XIX giáo sư quan hệ quốc tế H. Wheaton đã cho biết não trạng của người châu Âu thời bấy giờ về những cộng đồng không theo đạo Thiên Chúa, và về vai trò của Đức Giáo hoàng đối với các cường quốc đi khám phá và chinh phục như sau:
“Theo suy nghĩ của người châu Âu thời bấy giờ, những dân tộc ngoại đạo ở các khu vực khác trên thế giới là chiến lợi phẩm và là miếng mồi hợp pháp của những người văn minh đi chinh phục họ, và Giáo hoàng là trọng tài tối cao của các cuộc khiếu nại tranh chấp giữa các cường quốc Thiên chúa giáo với nhau” (Wheaton H. 1866, tr. 241).
Boxer còn cho thấy hệ quả tích lũy của các sắc chỉ này trong những ứng xử của người Bồ Đào Nha đối với người dân bản xứ – và đương nhiên là cả những người châu Âu khác nối gót họ – là họ ngầm hiểu được sự phê chuẩn của giáo quyền về việc họ có thái độ trịch thượng đối với tất cả chủng tộc nằm ngoài cương tỏa của cộng đồng Thiên Chúa giáo (Boxer C. R. 1969, tr. 23). Và cũng chính trong bối cảnh ấy mà năm 1499 vua Bồ Đào Nha đã tự phong cho mình những tước hiệu thật kêu như Chúa tể Hải hành, Chinh phục và Thương mại của các vương quốc Ethiopia, Á-rập, Ba Tư và Ấn Độ, với sự chuẩn thuận của Giáo hoàng (Whiteway R. S. 1899, tr. 90). Gần đây, báo cáo của Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hiệp Quốc năm 2010 nêu rõ:
“Sắc chỉ Romanus Pontifex – cùng với nhiều thứ khác như tài liệu của Vatican và hoàng gia – tạo nên chứng cứ cho học thuyết Khám phá, được các nhà nước Ki-tô giáo ở châu Âu và những người kế thừa ở châu Mỹ và nhiều nơi khác để phát động trên phạm vi toàn cầu một mô hình thống trị và sự cướp đất, lãnh thổ và tài nguyên của dân bản xứ, dưới vỏ bọc của các hoạt động được cho là chính đáng và hợp pháp” (Economic and Social Council – United Nations, 2010, tr. 9).
Và cũng có nhà nghiên cứu cho rằng các sắc chỉ này còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc Bồ Đào Nha buôn bán nô lệ từ Tây Phi và thuộc địa hóa lục địa châu Phi: “ông [Giáo hoàng Nicholas V] đã mở rộng cánh cổng cho việc buôn bán người da đen châu Phi, việc buôn bán này đã chiếm lĩnh toàn bộ nền thương mãi dọc bờ biển Đại Tây dương của Tây Phi” (Adiele P. O. 2017, tr. 308).
Trước những nhận xét gay gắt của các nhà nghiên cứu, ngày 30 tháng 3 năm 2023 Tòa Thánh La Mã đã ra thông cáo báo chí số N. 230330b gồm 9 mục, nhằm phản bác những lời buộc tội. Tuy nhiên, dường như bấy nhiêu đó vẫn chưa đủ sức thuyết phục để làm người ta quên đi những bạo lực mà người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã gây ra cho người bản xứ trong thời đại khám phá.
1.2. Những tai tiếng về người Bồ Đào Nha ở Nam Á
Chính trong bối cảnh và tâm thế đó mà Bồ Đào Nha đã ứng xử với các dân tộc bản địa mà họ đã gặp trên đường đến vùng Viễn Đông. Câu trả lời đầu tiên của Vasco da Gama cho người Ấn Độ khi vừa đặt chân đến Calicut tuy ngắn gọn nhưng hàm chứa tinh thần của sứ mệnh mà họ đã được ủy thác: “Chúng tôi đến đây để tìm tín đồ Thiên Chúa giáo và hương liệu” (Ames J. G. 2009, tr. 71). Người Bồ Đào Nha tiến về châu Á vừa với tư cách là những người đi thám hiểm vùng đất mới, vừa thôi thúc bởi việc tìm kiếm nguồn hương liệu được dân châu Âu ưa chuộng, lại vừa ấp ủ tinh thần thánh chiến chống lại người Hồi giáo đã được phát động từ mấy thế kỷ trước, và được các sắc chỉ của Giáo hoàng tái khẳng định. Năm 1497 vua Manuel đã lệnh cho Vasco da Gama tìm kiếm và hợp tác với các lực lượng giáo dân Ki tô giáo ở phương Đông, mà nhiều người châu Âu tin rằng vương quốc Thiên Chúa giáo của giáo sĩ John theo truyền thuyết nằm ở Ấn Độ. Cũng như nhiều người châu Âu thời bấy giờ, vua Manuel cho rằng ông ta “thừa kế một nghĩa vụ thiêng liêng […], một mệnh trời chống lại người Hồi giáo, và tiến hành cuộc thập tự chinh cuối cùng để chiếm lại Jerusalem (Cliff N., 2012, tr. 160-161). Trong một bức thư gửi Vasco da Gama trước khi ông này lên đường lần thứ nhất (ngày 8 tháng 7 năm 1497), vua Manuel viết:
“Như đã thường tranh luận với khanh, Trẫm đã quyết định là đối với vương quốc của trẫm không có gì thích hợp hơn là đi tìm Ấn Độ và các vùng đất ở phương Đông. Ở đó, mặc dù rất xa Giáo hội La Mã, nhưng trẫm hy vọng là với lòng nhân từ của Thượng đế, không chỉ đức tin của Chúa Jesus được truyền bá và đón nhận thông qua nỗ lực của chúng ta, và chúng ta còn có thể có danh tiếng và được ngợi ca như là sự thưởng công cho chúng ta, và chúng ta sẽ giành lấy bằng vũ lực những vương quốc mới, những nhà nước mới và của cải ngập tràn từ tay của những kẻ ngoại đạo(4)” (Cliff N. 2012, tr. 166).
Để thực hiện tâm nguyện ấy, vua Manuel tập trung mọi điều kiện vật chất và tinh thần cho đoàn thám hiểm của Vasco da Gama:
“Nhiệm vụ của ông ấy không chỉ là đến Ấn Độ thôi; một khi đến đó, ông ấy phải thương lượng để thành lập các liên minh có thể trục xuất người Hồi giáo và củng cố lực lượng Bồ Đào Nha thành một thế lực phương Đông – và làm tất cả những thứ đó trước khi người Tây Ban Nha đến. Ông ấy có thể cần phải gây cảm tình, vỗ về và đe dọa, và nếu dùng lý lẽ không hiệu quả, ông ấy có thể thuyết phục bằng họng súng. Tóm lại, điều cần có là một thuyền trưởng có khả năng chỉ huy được thuyền viên, một sứ thần có khả năng hội đàm với các vì vua, và một người lính thập tự chinh mang ngọn cờ của đấng Jesus” (Cliff N. 2011, tr. 161).
![]() |
![]() |
| Vasco da Gama đến Calicut năm 1498 (tranh của Roque Gameiro 1990 tại Thư viện Quốc gia Bồ Đào Nha, https://purl.pt/6941) | Người Bồ Đào Nha thường dựng “bia khám phá” đánh dấu những nơi họ đến. Ảnh: bia ở Jakarta (Viện Bảo tàng Quốc gia Indonesia). |
Và đội quân của “cuộc thánh chiến cuối cùng”, theo cách nói của N. Cliff (2011), đã làm rất tốt ý nguyện của vua Manuel, đến nỗi họ đã gây ra nhiều cuộc giết hại kinh hoàng còn truyền lại đến ngày nay, trên khắp những nẻo đường mà họ đặt chân đến, từ Ấn Độ cho tới Malacca.
“Trong những vùng bị chiếm đóng, người Bồ Đào Nha đối xử với dân chúng địa phương như thể họ thuộc loài hạ đẳng. Thái độ này càng trầm trọng hơn khi họ nung nấu mối hiềm khích với người theo đạo Hồi. Thế là trước khi lên đường đi Ấn Độ vào năm 1500, viên chỉ huy hạm đội Bồ Đào Nha Pedro Cabral đã nhận được chỉ thị là thông báo cho các lãnh chúa các nơi về mối hiềm khích xa xưa giữa những người theo đạo Thiên Chúa và người Hồi giáo, và do đó họ có nhiệm vụ là tuyên chiến với kẻ thù của đức tin (Sarvepalli Gopal, 2008, tr. 169).
Trong một bức thư gửi vua Castile (một trong những vương quốc sau đó hợp lại thành Tây Ban Nha) được công bố rộng rãi năm 1505, vua Manuel thông báo tiến độ “khám phá” Ấn Độ của Vasco da Gama, trong đó có tóm lược cuộc tấn công thành phố Calicut (Ấn Độ) như sau:
“Khi biết nhà vua Zamorin không có liên quan trong vụ tấn công thương trạm, viên hạm trưởng [Vasco da Gama] ra lệnh bắt giữ mười chiếc thuyền to đang có mặt ở đó, và khi bốc giở hàng hóa đi, họ tìm thấy ba con voi mà sau đó họ giết thịt bởi vì thiếu thức ăn. Thuyền trưởng tàn sát phần lớn dân chúng, và số còn lại bị bắt làm tù binh thì ông ta ra lệnh thiêu sống trước sự chứng kiến của cả thành phố. Đêm tiếp theo, ông cho kéo tất cả tàu thuyền neo sát bờ, và đến hừng sáng, ông bắt đầu bắn phá thành phố thành bình địa, không còn một bức tường nào đứng vững, đến độ nhà vua buộc lòng rời bỏ tất cả cung điện. Sau đó, họ lui thuyền về cảng Fundarane đã nói ở trên, và giết thêm nhiều người nữa bằng đại bác. Họ quyết định đến vương quốc Cochin cách đó 40 dặm lớn. Trên đường đi, họ gặp hai con thuyền của vua Calicut bèn bắt giữ và phóng hỏa” (King Manuel 1955, tr. 9).
Vụ bắn phá trên được một thuyền viên người Hà Lan trong đoàn thám hiểm của Vasco da Gama ghi lại vào năm 1504 với các chi tiết tàn bạo như sau:
“Ngày 27 tháng 10, chúng tôi đến một vương quốc tên là Calcoen [Calicut], cách Cannaer [tức Cannanor, Kannur] 40 dặm, chúng tôi tập trung lực lượng trước thành phố, và chúng tôi tấn công họ trong suốt ba ngày, chúng tôi bắt rất nhiều người, treo cổ họ lên thanh ngang buồm, sau đó đem xác họ xuống, cắt tay, chân, và đầu ra, rồi ném chúng vào một chiếc thuyền của họ, và viết một bức thư rồi treo lên cây sào và đẩy thuyền vào bờ. Chúng tôi lấy một chiếc thuyền ở đó, và phóng hỏa, và thiêu sống nhiều thần dân của nhà vua” (Berjeau J. Ph. 1874, không số trang).
Nhưng trước cuộc tấn công Calicut khoảng một tháng, có một vụ thảm sát thuyền chở người đi hành hương ở Mecca, mà vua Manuel không nhắc tới, và sau này nhiều tài liệu cho biết đó là chiếc thuyền Merii(5) của một thương nhân giàu có ở Calicut. Thuyền viên người Hà Lan nói trên cũng đã ghi lại thảm cảnh ấy như sau:
“Ngày 11 tháng 9, chúng tôi đến một vương quốc tên là Cannaer, gần dãy núi Montebyl, và ở đó chúng tôi chờ các con thuyền của Mecca chở đầy hương liệu đi châu Âu để phá hủy chúng, để cho vua Bồ Đào Nha có thể độc quyền buôn bán hương liệu mang đến [châu Âu]. Nhưng chúng tôi không thể thực hiện được dự tính này. Tuy nhiên, lúc ấy chúng tôi bắt được một con thuyền của Mecca, chở 380 đàn ông và nhiều phụ nữ và trẻ con(6), và chúng tôi tịch thu hơn 12.000 đồng tiền vàng và hàng hóa trị giá ít nhất 10.000 đồng tiền vàng nữa. Ngày 1 tháng 10 chúng tôi đốt cả thuyền lẫn người bằng thuốc súng” (Berjeau J. Ph. 1874).
Và có lẽ không cần phải dẫn chứng thêm từ nguồn tài liệu của người bản địa cùng thời với rất nhiều chi tiết tàn khốc so với các tài liệu châu Âu (Xem: Shaykh Zainuddin Makhdum 2009, Panikkar K. M. 1929, Panikkar K. M. 1959, Kunhali V. 1999, Salahudheen, O. P. 2006). Để giải thích sự ngang ngược và tàn bạo của đội quân viễn chinh này, các nhà nghiên cứu phương Tây thường nói về sự thù hằn có nguyên cớ sâu xa của người Bồ Đào Nha đối với những người theo đạo Hồi. Và cũng chính vì thế mà vòng xoáy bạo lực cứ tiếp diễn, khiến cho tiếng xấu về họ dần dần lan truyền từ Tây Á và Nam Á đến miền Viễn Đông xa xôi, và được ghi chép dưới nhiều dạng văn bản khác nhau, từ tài liệu biên niên cho đến sáng tác văn học.
1.3. Những xung đột đầu tiên giữa người Bồ Đào Nha ở các nước Á Đông
Với ý đồ tiến nhanh về phương Đông để mở rộng vùng ảnh hưởng trước khi người Tây Ban Nha đến được Thái Bình dương từ hướng Tây, vua Manuel của Bồ Đào Nha ra lệnh phải chiếm Malacca để làm bàn đạp kiểm soát vùng Viễn Đông. Ý chí ấy được A. d’Albuquerque, phó vương Bồ Đào Nha ở Ấn Độ, phân tích cho các sĩ quan dưới quyền như sau: “Nếu chúng ta giành được việc buôn bán với Malacca từ tay họ, thì Cairo và Mecca sẽ hoàn toàn sụp đổ, và Venice sẽ không nhận được thùng hàng hương liệu nào, trừ những gì mà thương nhân của họ mua của Bồ Đào Nha” (d’Albuquerque A. 1880, tr. 118). Và thế là khi cơ hội đến, người Bồ Đào Nha liền ra tay: Biên niên sử Mã Lai ghi lại diễn tiến đợt tấn công thứ nhất:
“Khi đến Malacca, hạm đội [của người Frank, tức Bồ Đào Nha] liền khai hỏa bằng đại bác. Dân chúng hoang mang và vô cùng lo sợ vì tiếng gầm của đại bác, họ thắc mắc tiếng gì giống như là tiếng sấm vậy? Và khi loạt đạn lao tới ụp xuống đầu họ, một số người thì bị cứa bay đầu, một số khác cụt tay, cụt chân. Dân chúng càng lúc càng kinh hãi khi thấy lực lượng pháo binh này lợi hại như thế nào, và họ nghĩ: làm sao cái binh khí tròn như thế này lại đủ sắc bén để giết chúng ta?” (Brown C. C. 1952, tr. 158).
Sau khi bị đẩy lùi, ngày 25 tháng 7 năm 1511, người Bồ Đào Nha tổ chức đợt tấn công thứ hai. Cuối cùng thì Malacca cũng đã lọt vào tay người Bồ Đào Nha. E. Koek cho biết có đến 2.000 người bị giết (Koek E. 1887, tr. 137). Biên niên sử Mã Lai chỉ ghi ngắn gọn cảnh tượng Malacca thất thủ: “Lúc ấy người Franks tràn vào thành phố và bắt đầu cướp bóc, trong khi dân chúng chạy tứ tán khắp nơi” (Brown C. C. 1952, tr. 190). Về cảnh tượng cướp bóc này, Gaspar Correa, tác giả bộ Lendas da India nổi tiếng, lúc ấy là thư ký của A. d’Albuquerque, đã ghi lại cảnh quân lính vơ vét chiến lợi phẩm như sau:
“Ngay lúc đó các thuyền trưởng lên kế hoạch cướp phá thành phố, và họ ra lệnh cho quân lính và nô lệ của họ vào nhà dân chúng và mang đi bất cứ thứ gì mà họ tìm thấy và chất ra đường phố, nhiều đến độ đường phố chất đầy hàng hóa các loại, gồm nhiều cánh kiến trắng (benzoin), xạ hương (musk), gấm vóc (damask), lụa là, vải tơ (taffeta), long não (camphor), trầm hương (lign-aloes), nhiều đến độ họ chỉ mang về thuyền cánh kiến trắng, xạ hương đựng đầy trong nhiều chum lọ dưới dạng bột hay chất lỏng, gấm vóc, lụa là và đồ sứ đắt tiền. Những thứ rẻ tiền thì họ để vương vãi khắp đường phố, hoặc là họ bỏ luôn. Họ làm việc cật lực đến tận nửa đêm, và ra sức khuân xuống thuyền. Cũng có người tìm được những hũ đựng đầy vàng cám, vàng thỏi và ngọc trai đến từ Trung Hoa” (Bell A. 1924, tr. 41).
Will Durant cho biết là Afonse d’Albuquerque đã chuyển từ Malacca về Bồ Đào Nha một triệu ducat chiến lợi phẩm (Durant W. 1957, tr. 195). Tóm lại, như A.R. Dysney đã khái quát, những tường thuật về giai đoạn người Bồ Đào Nha đổ xô đến Châu Á trong thế kỷ XVI tràn ngập những vụ bạo lực: chiến trận, vây hãm, tàn sát, man rợ và chém giết khắp nơi dường như đồng loạt xuất hiện trên các trang giấy, giống như dàn đồng ca trong một vở ca nhạc kịch (Dysney A. R. 1995, tr. 11). Sau khi nhận được tin d’Albuquerque đã chiếm được Malacca, vua Manuel viết một bức thư đề ngày 6 tháng 6 năm 1513 gửi Giáo hoàng để “đánh dấu chủ quyền” với Giáo hội:
“Sau nhiều cuộc chiến đấu khốc liệt và đẫm máu, để bù lại những năm đã mất trước đây, Afonso d’Albuquerque đã dong buồm đến Malacca […], một thành phố rộng lớn, có chừng 25.000 ngôi nhà, cùng nhiều hương liệu, vàng, châu ngọc và đá quý. Sau hai lần tấn công và một cuộc tàn sát nhiều người theo đạo Hồi, thành phố này đã bị đánh chiếm, vơ vét và phóng hỏa. Nhà vua cưỡi voi ra trận, bị trọng thương và bỏ trốn. Bắt được nhiều tù binh và nhiều chiến lợi phẩm, trong đó có 7 con voi chiến và 2.000 súng đồng được chạm khắc tinh xảo. Ở cửa con sông chảy qua thành phố, d’Albuquerque đã cho xây một pháo đài bằng đá lấy từ đống đổ nát của các nhà thờ Hồi giáo” (Cordier H. 1911, tr. 508-509).
Những tin tức về người Bồ Đào Nha nhanh chóng lan đến Quảng Đông, lúc ấy đã là đầu cầu thương mại trong khu vực. Sử gia Bồ Đào Nha thế kỷ XVI João de Barros cho biết rằng sau sự kiện chiếm đóng Malacca 1511, triều đình nhà Minh nhận được nhiều báo cáo về việc xin cầu viện của vua Bintan, một chư hầu của nhà Minh, và một loạt báo cáo khác từ các quan chức Quảng Đông nói về những hành động ngang ngược của Simão de Andrade, một hạm đội phó đã ngang nhiên xây lũy trên bờ biển thuộc Quảng Châu, cản trở việc mua bán với các nước khác, và bắt người làm nô lệ. Cùng với các báo cáo ấy, một sai lầm của phái đoàn Bồ Đào Nha đã khiến triều đình nhà Minh nghi ngờ người Bồ Đào Nha đang âm mưu xâm chiếm Trung Hoa, nên họ đã ra quyết định trục xuất phái đoàn (Fujitani J. 2016, tr. 87).
Tài liệu viết bằng chữ Hán sớm nhất lưu truyền sự xuất hiện của người Bồ Đào Nha ở Malacca, là Hải ngữ 海語 do Hoàng Trung 黄衷 viết xong năm 1537. Vì nhà ở gần Quảng Châu, là cửa ngõ giao thương với các nước trong khu vực thời bấy giờ, nên tác giả có nhiều dịp tiếp xúc với những người đi biển, và với cả một nhà sư trong phái đoàn triều cống của vương quốc Xiêm, và ông đã ghi lại trong sách Hải ngữ những điều nghe được từ họ, với những chi tiết như sau:
“Vào thời Chính Đức (1506-1522) một chiếc thuyền của người Phật Lãng Ki(7) đến buôn bán ở đây, một cuộc cãi vả nổ ra xung quanh việc sử dụng đồng tiền, vì thế mà nhà vua đã bắt viên thuyền trưởng giam vào tù. Người Phật Lãng Ki bỏ đi và tường trình cho thủ lĩnh của họ, ông ta quyết định giải cứu viên thuyền trưởng. Vì lý do này mà ông ta trang bị 8 chiếc thuyền to với một số quân tinh nhuệ đã một lần đến nơi ấy. Một năm trôi qua và lúc ấy dân chúng Malacca không hề chuẩn bị gì; vì thế một cuộc tàn sát đẫm máu đã diễn ra, và viên chỉ huy Phật Lãng Ki đã chiếm được cung điện. Nhà vua phải chạy về P’o-ti-li [陂 隄 里](8), còn dân chúng thì chạy tứ tán khắp nơi. Người Phật Lãng Ki muốn bán xứ này cho người Xiêm, nhưng bị từ chối. Do đó, họ thu quân lại, và chất [chiến lợi phẩm] đầy thuyền rồi bỏ đi” (Groeneveldt W. P. 1876, tr. 128).
Chắc chắn rằng câu chuyện được ghi chép trên đây không chính xác hoàn toàn, thậm chí có thể có không ít thêu dệt của người kể chuyện, nhưng nó cũng đã lan truyền khắp nơi, và đã len lõi vào các vương quốc sử dụng chữ Hán (Nhật, Cao Ly, Đại Việt(9)). Song song đó, qua con đường truyền miệng, những chuyện tương tự cũng đã tới tai các cư dân trong vùng, từ những thương nhân người Xiêm, người Mã Lai… tới lui buôn bán ở các hải cảng thời bấy giờ, trong đó có Đại Việt. Chính vì thế mà những ấn tượng xấu về người Bồ Đào Nha được khắc họa rất sớm trong các cộng đồng dân cư, từ đó rộ lên những tin đồn thổi vô căn cứ, mà chúng tôi sẽ đề cập tới trong phần sau.
(Còn nữa)
(Bài đã đăng trong tạp chí Xưa & Nay, số tháng 12 năm 2025)
Tài liệu tham khảo và trích dẫn
Adiele P. O. 2017. The Popes, the Catholic Church and the Transatlantic Enslavement of Black Africans 1418-1839. Hildesheim, Zürich & New York: Georg Olms Verlag.
Avalos H. 2014. Pope Alexander VI, Slavery and Voluntary Subjection. Trong tạp chí Journal of Ecclesiastical History, Vol. 65, No. 4, October 2014.
Ames J. G. 2009. Em nome de Deus: The Journal of the First Voyage of Vasco da Gama to India, 1497–1499. Leiden & Boston: Brill.
Bell A. 1924. Gaspar Correa. Oxford: Oxford University Press.
Berjeau J. Ph. 1874. Calcoen A Dutch Narrative of the Second Voyage of Vasco da Gama to Calicut Printed at Antwerp circa 1504. London: Basil Montagu Pickering.
Boxer C. R. 1969. The Portuguese Seaborne Empire, 1415-1825. London: Hutchinson & Co (Publishers) Ltd.
Brown C. C. 1952. The Malay Annals. Trong Journal of the Malayan Branch of the Royal Asiatic Society, Vol. 25, No. 2/3 (159), Sĕjarah Mĕlayu or ‘Malay Annals’ (October 1952).
Cabaton A. 1913. L’Espagne en Indochine à la fin du XVIe siècle. Tạp chí Revue de l’Histoire des Colonies françaises, Première Année.
Charles M. & Soong-Chan Rah 2019. Unsettling Truths: The Ongoing, Dehumanizing Legacy of the Doctrine of Discovery. Downers Grove, Illinois: InterVarsity Press.
Cliff N. 2011. The Last Crusade – The Epic Voyage of Vasco da Gama. New York: HarperCollins Publishers.
Cliff N. 2012. Holy War – How Vasco da Gama’s Epic Voyages Turned the Tide in a Centuries-old Clash of Civilizations. New York: HarperCollins Publishers.
Cordier H. 1911. L’arrivée des Portugais en Chine. Tạp chí T’oung Pao, Vol. 12, No 4.
D’Albuquerque A. 1880. The Commentaries of the Great Afonso Dalboquerque, Vol. 3 (Walter de Gray Birch dịch sang tiếng Anh). London: Hakluyt.
Davenport F. G. 1917. European Treaties bearing on the History of the United States and its Dependencies to 1648, Vol. 1. Washington D.C.: The Carnegie Institution of Washington.
Disney A.R. 1995. Vasco da Gama’s Reputation for Violence: The Alleged Atrocities at Calicut in 1502. Trong tạp chí Indica số 32(1), được in lại trong Disney A.R. 2009, The Portuguese in India and Other Studies, 1500-1700. London and New York: Routledge.
Durant W. 1957. The Story of Civilization – Part VI: The Reformation. New York: Simon and Schuster.
Economic and Social Council (United Nations) 2010. Preliminary study of the impact on indigenous peoples of the international legal construct known as the Doctrine of Discovery (Rapport 2010 E/C.19/2010/13). New York, 19-30 April 2010.
Fujitani J. 2016. The Ming Rejection of the Portuguese Embassy of 1517: A Reassessment. Tạp chí Journal of World History, Vol. 27, Num. 1, March 2016.
Groeneveldt W.P., 1876. Notes on the Malay Archipelago and Malacca compiled from Chinese Sources. Batavia: W. Bruining & The Hague: M. Nijhoff.
King Manuel 1955. Copy of a Letter of the King of Portugal Sent to the King of Castile Concerning the Voyage and Success of India (Translated by Sergio J. Pacifici). Minneapolis: The University of Minnesota Press.
Koek E. 1887. Portuguese History of Malacca. Tạp chí Journal of the Straits Branch of the Royal Asiatic Society, Volume 17.
Panikkar K. M. 1929. Malabar and the Portuguese. Bombay: D. B. Taraporevala Sons & Co.
Panikkar K. M. 1959. Asia and Western Dominance. London: George Allen & Unwin Ltd.
Salahudheen O. P. 2006. Anti-European Struggle by the Mappilas of Malabar 1498-1921 AD. Luận án tiến sĩ, bảo vệ tại Đại học Hồi giáo Aligarh (Ấn Độ).
Sarvepalli Gopal 2008. Les Européens dans les autres Parties de l’Asie. Trong Histoire de l’Humanité, Tome V, Paris: Editions UNESCO.
Shaykh Zainuddin Makhdum 2009. Tuhiat al-Mujahidin A Historical Epic of the Sixteenth Century, do S. Muhammad Husayn Nainar dịch từ tiếng Á-rập. Kuala Lumpur: Islamic Book Trust & Calicut: Other Books.
Smith A. 1776. An inquiry into the nature and causes of the wealth of nations, Vol. 2. London: Printed for W. Strahan and T. Cadell, in the Strand.
Wheaton H. 1866. Elements of International Law. Boston: Little, Brown, and Company.
Whiteway R. S. 1899. The Rise of Portuguese Power in India 1497-1550. Westminster: Archibald Constable & Co.
(1) Chỉ cần lướt qua tựa một số tài liệu phổ biến ở phương Tây cũng đủ thấy sự khác biệt này: The Age of Reconnaissance Discovery, Exploration and Settlement 1450-1650 (Parry J. H., 1963); The Age of Discovery 1400-1600 (Arnold D. 1983); Maritime Exploration in The Age of Discovery, 1415-1800 (Love R. S. 2006); The Portuguese in the Age of Discovery c. 1340-1665 (D. Nicoll 2012), “Age of Exploration, c. 1500-1650” (Andrien J. K. 2012).
(2) Bản tiếng la-tinh của ba sắc chỉ này được in trong Jordão L. M. (1868). Chúng tôi tham khảo sắc chỉ Dum diversas qua bản dịch và trích dịch của nhiều tác giả, trong đó có Charles M. & Soong-Chan Rah (2019), và hai sắc chỉ Romanus Pontifex và Inter caetera qua bản tiếng Anh của Davenport F. G. (1917).
(3) Gần 40 năm sau đó, ngày 4 tháng 5 năm 1493, giáo hoàng Alexander VI ban hành một sắc chỉ cùng tên để phân định vùng ảnh hưởng của hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
(4) Avalos H. (2014, tr. 749) lưu ý là nguyên văn tiếng Bồ Đào Nha của vua Manuel dùng là “barbaros” (man rợ), được N. Cliff dịch ra tiếng Anh một cách ôn hòa là “Infidels” (người ngoại đạo).
(5) L. Ph. Berjeau ghi là Merii, nhưng nhiều tài liệu khác ghi là Meri, hoặc Miri: đây chỉ là sự khác nhau trong cách phiên âm từ tiếng Á-rập mà thôi.
(6) Bản tiếng Pháp cũng của L. Ph. Berjeau (1881) ghi là 300 người. Tuy nhiên, bản tiếng Hà Lan in kèm theo bản tiếng Pháp lại ghi 380 người. Như vậy, sai sót có thể là do khâu in ấn bản tiếng Pháp.
(7) Sách Hải ngữ viết là 佛朗機, W. P. Groeneveldt chuyển sang tiếng Anh là “Franks”, và chú thích là “Portuguese” (người Bồ Đào Nha). Tuy nhiên, quyển 325 Minh Sử (明史) có tựa là 佛郎機傳 (Phật Lang Ki truyện).
(8) W. P. Groeneveldt cho biết là vào thời của ông (cuối thế kỷ XIX), địa danh chữ Hán này chưa được xác định ở đâu, nhưng ngày nay, nhiều tài liệu cho đó là Pedir, còn được gọi là Pidie (Aceh, Indonesia).
(9) Nguyễn Thông trong Việt sử thông giám cương mục khảo luận cũng đã tham khảo Hải ngữ khi viết về vương quốc Xiêm (2009, tr. 170).



